TÌM HIỂU VỀ VẦN TRONG TIẾNG VIỆT
I. NGUYÊN ÂM TRONG TIẾNG VIỆT
a. Nguyên âm cơ bản
Trong hệ thống tiếng Việt
ta có các nguyên âm sau: “A, Ă, Â, E, Ê, I, O, Ô, Ơ, U, Ư, Y”.
b. Nguyên âm kép
Trong số này có một vài chữ
có thể ghép với nhau để làm nguyên âm kép đó là các chữ: “AI, AO, AU;
ĂY; ÂU, ÂY; EO; ÊU; IA, IÊ, IU; OA, OĂ, OE, OI, OO; ÔI, ÔÔ; ƠI; UA,
UE, UÊ, UI, UÔ, UƠ, UY; ƯA, ƯI, ƯƠ, ƯU; YA, YU”.
c. Nguyên âm ghép bởi ba chữ
Ngoài ra còn có từ có ba
nguyên âm ghép lại như từ: “UỶU, UYA, IỀU, OAI, OAI ...” khuỷu,
khuya, nhiều, khoai, oai
II. PHỤ ÂM TRONG TIẾNG VIỆT
a. Phụ âm cơ bản
Trong hệ thống tiếng Việt
có một thành phần quan trọng cấu tạo lên các từ, thành phần này chiếm đại đa số
các chữ, đó chính là các phụ âm. Ngoài các phụ âm mới được cấu tạo thêm để tạo
các từ của nhiều nước châu âu và phương tây như chữ “W, Z, F, J”. Những từ còn
lại đều là các phụ âm gồm các chữ: “B, C, D, Đ, G, H, K, L, M, N, P, Q, R, S,
T, V, X”.
b. Phụ âm kép
Những phụ âm này khi thì đứng
đơn phương đằng trước, đằng sau nguyên âm và không ít các trường hợp chúng ghép
từ 1 đến 3 phụ âm để bao lấy nguyên âm của các từ như các cặp 2 phụ âm sau:
“CH, GH, KH, NG, NH, PH, TH, TR”.
c. Phụ âm ghép bởi ba chữ
Ngoài ra các phụ âm còn
liên kết 3 chữ với nhau như các cặp sau: “NGH”,
III. TỪ VÀ CÁC DẠNG THỨC CỦA TỪ
Từ trong tiếng Việt được cấu
tạo bởi nhiều chữ, nhiều thành phần ghép lại, trong đó gồm các phần chính như:
các phụ âm đầu (CPÂĐ), tiếp sau đó là các nguyên âm (CNÂ) phần sau là các phụ
âm cuối (CPÂC) và cuối cùng là dấu của các từ (D).
Các từ cũng có nhiều dạng
khác nhau, trong đó có từ không có phụ âm đầu, có từ không có phụ âm cuối, có từ
không có dấu và thậm chí có từ chỉ có một nguyên âm cũng đã biểu diễn được nội
dung một cách đầy đủ như “Ư” chỉ sự đồng ý; “Ứ” chỉ sự không đồng ý. Bên dưới
đây là các công thức chung của các từ trong tiếng Việt.
a. Từ hoàn chỉnh:
[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (CPÂC) + (D)]
- Không dấu:
[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (CPÂC)]
Ví dụ: nhưng/ nhương
- Có dấu:
[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (CPÂC) + (D)]
Ví dụ: những/ nhường
b. Từ không có các phụ âm đầu:
- Không dấu:
[(CNÂ) + (CPÂC)]
Ví dụ: anh/ oanh
- Có dấu:
[(CNÂ) + (CPÂC) + (D)]
Ví dụ: ánh/ oánh
c. Từ không có các phụ âm cuối:
- Không dấu:
[(CPÂĐ) + (CNÂ)]
Ví dụ: ngo/ ngoa
- Có dấu:
[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (D)]
Ví dụ: ngã/ ngoã
d. Từ chỉ có các nguyên âm:
- Không dấu:
(CNÂ) Ví dụ: oa /oai
- Có dấu:
(CNÂ) + (D) Ví dụ: ô/ ối/ oái
IV. SỰ LIÊN KẾT CỦA CÁC TỪ
1. Cách ghép vần
Ngay từ những ngày đầu đi học,
sau khi đã thành thạo phần nhận mặt chữ, các trò đều phải qua một thời gian học
ghép vần (có nơi gọi là đánh vần). Những buổi học ấy chủ yếu là đọc theo thầy,
cô giáo để biết được từng từ một.
Chỉ với từ ƯNG ta phải đọc
thành: “ư/ ngờ/ ưng”, còn với chữ CHO, thì ta phải đọc
thành: “o/ chờ, o, cho”; hay với từ NHẬN, ta phải đọc thành: “â, nờ,
ân/ nhờ, ân, nhân/ nặng, nhận”. Qua những ví dụ
trên ta thấy mỗi từ khi đánh vần đều phải bắt đầu từ các nguyên âm, sau đó là
các phụ âm cuối, rồi đến các phụ âm đầu và cuối cùng là dấu của từ.
2. Cấu trúc của vần
Sự ghép vần như trên nhằm
vào việc kết nối hai phần chính của từ, đó là sự ghép nối phần thứ nhất là các
phụ âm đầu của từ với phần thứ hai là các nguyên âm và các phụ âm cuối
của từ.
Điều ta cần tìm hiểu đó là
vần giữa từ này với từ khác. Vậy bộ phận nào làm cho các từ vần được với nhau?
Ta có thể khảng định tổ hợp các nguyên âm và các phụ âm cuối của từ là thành phần
cơ bản của vần. Đây cũng chính là bộ phận để đối chiếu xem từ này có vần với từ
khác hay không.
V. VẦN GIỮA CÁC TỪ
1. Vần đúng (chính vận)
a. Vần của từ hoàn chỉnh
Như trên đã viết từ này vần
với từ khác, nhất thiết phải có các bộ phận vần với nhau và bộ phận để các từ vần
với nhau chính là nguyên âm và phụ âm cuối của các từ ấy. Các từ có thể vần với
nhau khi bộ phận này của chúng giống nhau hoặc ít nhất là gần giống nhau.
Ví dụ:
Chùa làng vọng tiếng chuông ngân
Em về sắp áo đón xuân với
người
Từ NGÂN có thể
vần với từ XUÂN bởi chúng có bộ phận cuối của từ giống nhau, đó là
nguyên âm “” và phụ âm cuối “N” tạo thành vần “ÂN”giống hệt như nhau.
b. Vần của từ không có phụ âm cuối
Đối với các từ có cấu trúc:
[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (D)], chúng ta nhận thấy chúng có cấu trúc nguyên âm đứng cuối
của từ, do đó nguyên âm đó chính là vần của các từ:
Ví dụ:
Chiều nay thăm động Phong Nha
Nhớ em ở tận nước Nga xa
vời
Từ NHA và NGA chỉ có
nguyên âm “A” ở cuối từ, ta có thể nói rằng chúng vần với nhau bởi
có cùng nguyên âm “A”. Cũng có thể lấy thêm phụ âm đầu ghép lại đọc là “HA” và
“GA” và xác định hai từ được coi là vần với nhau bởi khi ta đọc, âm thanh “HA”
và “GA” giống nhau.
c. Vần của các từ không có phụ âm
đầu
Đối với các từ có cấu trúc
(NÂ) +(PÂC) +(D), nghĩa là từ chỉ có nguyên âm và phụ âm cuối. Bản thân chúng
đã là một từ, chúng có thể vần với nhau khi chúng gần giống hoặc giống hệt
nhau.
Ví dụ:
Muốn có kết
quả học ôn
Phải xa hẳn
những tiếng ồn ngoài kia.
Từ ÔN từ ỒN chỉ khác nhau
có cái dấu. Đó là những vần đúng cơ bản nhất của các từ.
2. Vần gần đúng (bàng vận)
Ngoài những vần đúng như đã
nói ở trên ta còn khá nhiều những vần gần đúng. Những vần gần đúng khi đọc lên
ta thấy chúng na ná nhau một chút tuy nhiên chúng vẫn được coi là vần. Dưới đây
là những vần gần đúng mà ta thường gặp.
a. Vần của từ cùng nguyên âm, phụ
âm cuối khác nhau:
Chúng ta gặp khá nhiều từ
có vần gần đúng ở dạng cùng nguyên âm nhưng phụ âm cuối khác nhau. Tuy nhiên ta
vẫn chấp nhận chúng vần với nhau như vài ví dụ dưới đây:
Ví dụ:
Người về, nhóm lửa cời than
Ngày mai bác mẹ xin sang bỏ
trầu
SAN và SANG có cùng nguyên
âm “A” những phụ âm cuối của AN là “N” còn của ANG là “NG” tuy có
khác nhau nhưng khi đọc vẫn thấy có vần.
b. Vần của từ nguyên âm khác nhau,
phụ âm cuối giống nhau
Chúng ta gặp khá nhiều từ
có vần gần đúng ở dạng nguyên âm khác nhưng phụ âm cuối giống nhau. Tuy nhiên
ta vẫn chấp nhận chúng vần với nhau như vài ví dụ dưới đây:
Ví dụ:
Hôm nào cấy chửa kín đồng
Thế mà nay đã chín vàng rạ
rơm
ĐỒNG có nguyên âm “Ô”, còn
VÀNG có nguyên âm “A” nhưng phụ âm cuối cùng đều là “NG” tuy có khác nhau nhưng
khi đọc vẫn thấy có vần.
c. Vần có một nguyên âm và vần có
nhiều nguyên âm
Chúng ta gặp khá nhiều từ
có vần gần đúng ở dạng từ này có 1 nguyên âm còn từ khác lại có nhiều nguyên
âm. Tuy nhiên ta vẫn chấp nhận chúng vần với nhau như vài ví dụ dưới đây:
Ví dụ:
Khăn này
em dệt qua đêm
Vải tơ trắng
nõn còn nguyên mùi hồ
THÊM có nguyên âm “Ê”, còn
NGUYÊN có 3 nguyên âm “UYÊ” phụ âm cuối khác nhau, tuy nhiên khi đọc vẫn thấy
có vần.
Qua những ví dụ trên ta hiểu
rằng khá nhiều từ có các cấu trúc vần khác nhau nhưng nếu “xếp đặt” tốt thì khi
đọc lên âm thanh vẫn dịu ngọt, mượt mà, đằm thắm.
Chủ Nhật, 19
tháng 12, 2010
XÚC CẢM MÙA ĐÔNG
(Bài xướng của Lê Trọng Hồng)
Chắc mùa đông lạnh sẽ qua
Viết đôi câu để làm quà sang xuân
Gió bấc chiều đông lạnh cả trời
Ngoài đường mưa bụi vẫn chưa vơi
Bến đò bữa ấy không còn khách
Chợ huyện hôm nay đã vắng người
Khóm quất bên vườn hoa chửa nở
Cây bàng trước ngõ lá đang rơi
Ngày mai dẫu biết xuân chưa tới
Vẫn gửi thơ mừng đến mọi nơi.
PHỐ BIỂN CHIỀU ĐÔNG
(Bài hoạ của Nguyễn Xuân Nghiệp)
Thuyền câu gác mái lững lờ
Đêm đông sóng đẩy vào bờ nước nông
Phố biển hoàng hôn đỏ sắc trời
Núi buồn lặng lẽ đứng chơi vơi
Thuyền câu chèo gác neo bờ vịnh
Bãi cát triều dâng vắng bóng người
Mặt nước lung linh làn khói phủ
Sương mờ bảng lảng ráng chiều rơi
Vầng trăng lạnh lẽo trong đêm vắng
Ánh bạc mơ màng trải khắp nơi
MÙA ĐÔNG
(Bài hoạ của Nguyên Đào)
Một mình một ngọn đèn chong
Thơ ơi! Xin gửi tấc lòng thiết tha
Cái rét tàn thu bởi tiết trời
Bao giờ nắng ấm lạnh dần vơi
Đường xưa bến mộng đang mong khách
Lối cũ đò mơ vẫn đợi người
Tán lá xạc xào cơn gió động
Bồn hoa lác đác hạt mưa rơi
Hương xuân gợi cảm hồn thi sĩ
Một áng thơ lòng trải mấy nơi
HOẠ BÀI CẢM XÚC MÙA ĐÔNG
(Bài hoạ của
Trần Phao)
Đông còn níu kéo bờ vai
Hồn thơ đã thấy một vài ý xuân
Mây xám giăng giăng tận cuối trời
Sương còn đan lạnh chẳng hề vơi
Chờ chiêm vụ cấy se lòng lúa
Mong tết chợ hoa quện mắt người
Ngày hội thuyền bè như mắc cửi
Đêm xuân đèn nến tựa sao rơi
Đông còn lưu luyến vương trên áo
Đã thấy thơ hồng trải khắp nơi.
Thứ Ba, 14
tháng 12, 2010
ĐỢI KHÁCH
Mở sách xem thơ dưới tán cây
Bâng khuâng muôn nỗi giữa vơi đầy
Bến xưa lấp lóa vầng trăng rụng
Lầu cũ tan nhòa dấu hạc bay
Vết tích qua rồi còn chát đắng
Dáng hình sắp tới có chua cay
Viết đôi câu chữ treo ngang cửa
Đợi khách đường xa ghé lại đây.
ĐỔI THAY
Trở lại Quất Lâm buổi sớm nay
Tưởng đâu xa cách mấy ngàn ngày
Ruộng vườn trải rộng vừa thu hái
Phường phố vươn cao mới dựng xây
Mặt biển bao la bên trắng cát
Bầu trời bát ngát giữa xanh mây
Quê ta từ độ sang trang mới
Quang cảnh dường như đã đổi thay
Thứ Tư, 8
tháng 12, 2010
Chiều qua có khách đến chơi
“Cưới con dâu mới em mời bác qua”
Ngày nào cưới mẹ cưới cha
Thoáng thôi giật thót…đã là cưới
con
Ngày nào má thắm môi son
Bâng khuâng tiếc nuối mất còn tuổi
xuân!
Thứ Ba, 30
tháng 11, 2010
Những gì đã trót đánh rơi
Nghĩa là thứ ấy đã rời khỏi ta
Những gì vĩnh viễn cách xa
Có rồi lại mất, thế là vô duyên
Những gì nhà cháy, đắm thuyền
Đâu tìm thấy nữa mà đền cho nhau
Thầm than, thầm trách, thầm đau
Một lần rơi vạn lần sau thấm buồn!
Thứ Tư, 17
tháng 11, 2010
(Nhân ngày giỗ thầy Chu Văn An)
Năm nay con đến giỗ thầy
Đền đài mới được dựng xây lại rồi.
Ngẫm xưa lều cỏ bên đồi
Cô đơn giữ đạo cho đời mà đau
Một ông vua chẳng dễ đâu
Dám theo thầy để đối đầu các quan
Huống gì tàn ác gian tham
Có cam tâm để ngài làm thế không.
Thương thầy dâng sớ mất công
Một thầy xin, một trò không nhận lời
Chắp tay con vái tạ Người
Mong thầy nghe thấu những lời cầu
xin
Cầu cho giữ trọn niềm tin
Cầu cho đạo học càng thêm sáng ngời
Cầu cho hạnh phúc muôn người
Cầu cho non nước đời đời bình
yên.
Văn
An 2008
Con đến nhà thầy giữa chiều cuối hạ
Cỏ cây xanh nắng bên đường.
Gốc đá ngổn ngang ai vừa xếp lại
Bâng khuâng, nền cũ ngôi trường
(!)
Sáu trăm năm khoảng cách chưa dài
Chuyện về Đầm Mực* còn đau
Sớ thất trảm, những dòng thẳng đứng
Hồn xưa, nay đi về đâu (?)
Ai chép lại những dòng thơ cũ
Mưa rơi trên sườn đá ngửa nghiêng
Câu chữ, tình đời vẫn còn nguyên
đó
Năm tháng qua rồi dễ đâu lãng
quên.
Hoang vắng ngày nào, giờ đây đã
khác
Đền mới vừa xây, hoa nở bên hè
Con cháu khắp vùng, nén hương ngày
giỗ
Phượng Hoàng** gọi nắng thu về.
Văn
An 2006
* Sự
tích về học trò của thầy là Thủy Thần lấy nước nghiên mực cầu
mưa giúp dân trái mệnh trời còn bỏ lại nơi trần thế
** Nơi
thầy Chu Văn An ở ẩn tại Văn An Chí Linh Hải Dương
Chiều nay con đến nhà thầy
Trơ vơ sỏi đá, cỏ cây rậm rì
Rẽ cây lấy lối con đi
Tìm xem Giếng Ngọc, Miết Trì* ở
đâu.
Trường xưa nền đá dãi dầu
Một ngôi nhà nhỏ nhạt màu khói
hương.
Phải vì Người giữ cương thường
Lấy điều giản dị nhún nhường vậy
sao.
Hay vì thầy đã cất cao
Lời trung liệt để chạm vào thần
oai
Sớ thầy động đến những ai
Mà nơi thờ cúng bỏ hoài gió sương.
Con xin thắp một tuần hương
Mong thầy đại xá thập phương còn
nghèo.
Mai sau non nước mạnh giầu
Đền thầy sẽ lại có lầu, có sân.
Mỗi năm con đến một lần
Dâng thầy một thẻ hương trầm lên
mây.
Thưa thầy con nguyện theo thầy
Cho dù lở đất long cây không rời
Bâng khuâng một cảnh, một người
Heo may lồng lộng thổi hoài chiều
đông.
Văn An 1983
* Những quần thể tại đền thờ
thầy CVA
Thứ Ba, 16
tháng 11, 2010
Mới thêm nữa một thằng cháu ngoại
Tám tháng thôi đã quyết đòi ra
Mắt lóng lánh, tay chân tròn lẳn
Rõ là khuôn nhà nội đây mà...
Đồ chơi mới chả thèm ngó tới
Bút sách của ông giật lấy để chơi
Cứ thấy giấy liền cho vào miệng
Không giữ là cháu chén ngay thôi.
Mười bốn tháng bắt đầu
chập chững
Gọi ông bà tiếng chửa rõ đâu
Nghe quảng cáo cho ăn thật dễ
Rủ đi chơi là đến rõ mau...
Đời từng trải thiếu nguồn tình cảm
Niềm vui riêng chẳng có nhiều đâu
Khi già lão ấy là các cháu
Phút giây mừng đặt bút viết đôi
câu.
Như đốm lửa thắp lên từ phía biển
Đại dương xanh rộng đến bao la
Hương hạnh phúc chính là các cháu
Chén vui này say chín cả hồn ta.
24/4/2009
Khi ném thẻ chém ba đời vị quan lớn
ấy
Có ai nhắc một lần về Sách bình
Ngô
Khi trố mắt nhìn dòng thơ rỏ máu
Có ai nhớ ngày xưa ngọn bút dựng
cơ đồ
“Giá áo túi cơm” dẫu ở đời nào
cũng có
“Tát nước theo mưa” nào ai đã nhận
ra
Nên cái vận, người hiền không
tránh nổi
Hiềm khích làm đau bao trang sử nước
nhà.
May có một người cất công tìm kiếm
Chút tâm từ trong giữa đám sương
sa
Hình sao ấy dù đã về chớp sáng
Còn có bao điều day dứt cuối trời
xa.
Rời Hà Nội từ chiều thu ấy
Phút chia xa không nói câu gì
Những kỷ niệm tháng năm tuổi trẻ
Cứ âm thầm theo với người đi.
Hà Nội trong ta, cánh đồng xanh
lúa
Nước sông Hồng đầy ắp lưng đê
Những con sóng trong mùa nước dữ
Bao lo toan từ miền ngược
đổ về.
Hà Nội trong ta, những xóm, những
làng
Hòn đất ngoại thành nóng sôi mùa vụ
Hết lúa lại ngô, nối nhau chín rộ
Rau, củ tươi non, chăm bón quanh
chiều.
Hà Nội trong ta, chất chứa bao điều
Có cái nhà quê của cha, của mẹ
Có dáng hình em dịu hiền, nhỏ nhẹ
Như hoa nở giữa đồng xanh.
Hà Nội trong ta, là xóm ngoại
thành
Cây trái, ruộng đồng, bờ tre, bến
nước
Phố rộng, nhà cao đâu có xa xôi
Cái riêng mình, chỉ một ngoại
thành thôi.
Xóm có đến mấy câu lạc bộ.
Những nhà thơ chưa biết cách làm
thơ*
Vẫn đầy khổ, đầy trang, đầy quyển
Mọi đúng sai, xin cứ làm ngơ.
Tranh thủ nghỉ ruộng vườn, mùa vụ
Chút thời gian buổi tối, buổi trưa
Đời kham khổ, một sương hai nắng
Vẫn âm thầm nuôi những nguồn thơ.
Thơ xóm, chẳng cầu kỳ vần
điệu
Chẳng cần gì niêm luật, nông sâu
Chỉ cần biết những điều thầm kín
Được một lần chia sẻ cùng nhau.
Thơ xóm cứ tự nhiên giản dị
Chẳng cần chi lưu dấu để đời
Chút tâm sự nói cùng con cháu
Một ngày kia theo đó làm người.
* Ghi theo lời một hội viên
CLB thơ ở PL
Thứ Hai, 15
tháng 11, 2010
Hãy cho ta
trở lại ngàn Nưa
Theo dòng Yên man mác xuôi về
Một Trung Chính, Trung Thành xanh thắm
Tím phù xa con nước đêm hè.
Hãy cho ta trở lại đền Mưng
Nghe Thần phả chép dòng bi tráng
Đầu uy dũng đâu thèm rơi xuống
Dấu ngựa phi vương máu anh hùng.
Hãy cho ta mùa lại tăng cao
Đồng khô nước tròn đôi vụ cấy
Từ nay hết những ngày no, đói
Thóc vàng thêm trong nắng xanh ngời.
Hãy cho ta nhìn lúc em cười
Để mơ tấm chân tình trong đó
Đôi tà áo khép hờ trong gió
Mắt nhìn sang như muốn trao lời.
Hãy cùng vui hò gọi canh khuya
Mùa trăng đến hẹn mùa cheo cưới
Mời cha mẹ mang trầu cau tới
Để tình ta vẹn với câu thề
Hãy cùng ta trở lại cầu Quan
Chiều xanh biếc giấu vào trong mắt
Trời Nông Cống khắc vào câu hát
Gió ngàn Nưa giục giã ta về.
Chủ Nhật, 14
tháng 11, 2010
Rời xa xứ Bắc từ lâu
Gửi câu Quan họ bên cầu gió đưa
Mảnh vườn thu của ngày xưa
Một mình mẹ với dư thừa đắng cay.
Đôi tàu lá chuối lót tay
Một nùn rơm chắn heo may lọt vào.
Ai mơ trời rộng mây cao
Ta mơ tìm thấy lối vào ngày xưa
Ai mơ khăn áo đón đưa
Ta mơ ngửi chút hơi thừa mẹ thôi.
Mơ vòng tay mẹ làm nôi
Để con lần nữa được ngồi vào
trong.
Chợ chiều ai đợi, ai mong
Một chim cơm nắm trong lòng bàn
tay
Tiền công dài suốt một ngày
Không ăn dành lại chút này cho
con.
Mấy mươi năm tưởng lớn khôn
Lạ sao vẫn cứ trẻ con thuở nào
Ai mơ muôn điệu thanh cao
Ta mơ tay mẹ vỗ vào sau lưng.
Đêm qua gác bút bên mành
Đợi trăng lên kể nỗi tình
bơ vơ.
Chợt đâu có cái non tơ
Quẩn quanh gạn hỏi về thơ,
về tình
(Hỏi sao gác mái buông mành
Để thuyền trôi đến chân
thành cổ xưa?
Vâng thì... toàn những gió
mưa
Trời chiều bàng bạc, trời
trưa chói loà.
Khi thì thương bởi cha già
Khi thì em bé thế là đành
thôi...
Đến khi trăng đã lặn rồi
Đâu còn thấy lối đi hồi
xuân xanh)
Đành xem thơ với ngắm tranh
Lấy hương thiên hạ, rắc
quanh sân nhà
Thế rồi thơ, thế rồi là...
Khát khao nhau giữa chiếu
hoa sân đình
Vâng thì... tuổi đã trưởng
thành
Còn thơ giờ vẫn chưa đành mối
thơ
Thương nhau gửi một đường
tơ
Để thưa rằng đã... ngày xưa
có... rồi (!)
Chỉ còn có biển trong tôi
Rặng phi lao với muôn lời mến
yêu
Chỉ còn mây trắng những chiều
Ánh trăng cùng với sáo diều
trong đêm.
Chỉ còn tiếng sóng ru êm
Vỏ sò kỷ niệm, con tim dạt
dào.
Chỉ còn những tháng, năm
nào
Dẫu xa xăm vẫn ngọt ngào
thiết tha.
Bây giờ tóc đã điểm hoa
Bây giờ mỗi cảnh, mỗi nhà,
mỗi nơi
Biển giờ cũng đã xa khơi
Ai ru trở lại cái thời xa
xưa(!)
Thứ Sáu, 11
tháng 3, 2011
TẾ NỮ QUAN
(26/1/Tân Mão)
Áo khăn đỏ thắm sân chùa
Làng vui vào hội giữa mùa cấy
chiêm
Nhẹ nhàng chân bước hai bên
Áo choàng kim tuyến tươi trên nắng
hồng
Cổ, chinh, bầu, trúc hoà đồng
Hài hoa, khăn đóng, áo rồng nhẹ
bay
Mắt ngời lóng lánh hương say
Nửa đông xướng để nửa tây đợi chờ
Khói hương lan toả xanh mờ
Giọng văn thánh thót, đèn thờ lung
linh
Tam tuần bái tạ phân minh
Càng sâu, càng nặng ân tình tổ
tiên.
(25/1/Tân Mão)
Ta về với hội chùa Như
Đông như đã tạnh, xuân như ấm dần
Ta về đây với người thân
Quê cha còn đó, dấu chân chưa mờ
Xôn xao kỷ niệm tuổi thơ
Một thời cha mẹ...bây giờ đã xa
Ta về nhớ cửa, nhớ nhà
Nhớ từ đồng trũng, nhớ ra đồng màu
Thương quê để bạc mái đầu
Để mờ mắt lệ, để sầu giọt tim
Mấy mươi năm vẫn dõi tìm
Dù trong chiến trận muôn nghìn hy
sinh.
Khi đang tiếp nối công trình
Công trường, nhà máy hết mình dựng
xây
Khi trong giông bão bủa vây
Một thân lúa trổ thấm đầy mồ hôi
Một tầng cao sáng màu vôi
Phố phường, đồng ruộng khác hồi xa
xưa
Trách chi bao cuộc gió mưa
Miếng cơm Ất Dậu đẩy đưa rời làng
Mảnh gai đầu chợ bẽ bàng
Bâng khuâng chân bước đi sang quê
người.
Bẩy mươi năm sắp qua rồi
Vẫn như đứa trẻ bồi hồi về quê.
Làng vui tình nghĩa tràn trề
Đồng Thông, Đồng Bái cận kề Đồng
Huy
Qua Đồng Bình đến Đồng Chi
Quê hương Tây Lạc thầm thì trong
ta
Tay đưa ấm ngọt hương trà
Người quê vẫn vậy thật thà hỏi han
Ai đi ra Bắc, vào Nam
Ai đang bận bịu gian nan quê nhà.
Còn đây con cháu ông bà
Nắm tay chào hỏi trẻ già thân
thương
Ngày mai trên mọi ngả đường
Bờ tre, đồng lúa, quê hương xa dần
Bâng khuâng hơi ấm người thân
Quê hương Tây Lạc mãi gần bên ta.
Thứ Bảy, 8
tháng 1, 2011
VIẾT CHO
MÙA LÚA CHÍN
Chín rồi cả cánh đồng vàng
Chín rồi em, giữa muộn màng tháng năm
Tưởng rằng trời tối không trăng
Tưởng rằng cây độc và rằng không hoa
Hôm qua thôi....chính hôm qua
Trái mùa, trái vụ đã ra khỏi vườn
Nửa vui, nửa giận, nửa hờn
Thả thơ xuống bến, kéo đờn ngang sông
Chín rồi em, giữa chợ đông
Gió e ấp thổi, má hồng, hồng thêm.
Con cò lộn cổ… từ lâu*
Cánh mày lúc đó để đâu hở cò?
Không bay thì chạy, thì bò
Cố kêu mấy tiếng để hò người qua.
Thương mày dốt nát…hóa ra
Thành đồ ăn để cho nhà họ xơi.
Dặn rằng: mày phải nhớ đời
Hễ mà lộn cổ kêu trời rõ to (!)
* Lấy ý từ ca dao
RU CUỘC ĐỜI CÒ
Tựa vào câu hát mẹ ru
Con đi suốt những mùa thu sang hè.
Tựa vào cánh võng bờ tre
Nghe câu ru mẹ, mà se cả lòng.
Dẫu rằng chết cũng nước trong
Thương con cò vẫn mỏi mong một đời.
Mẹ cho ta đến cõi người
Chỉ mong bén rễ để rồi tươi xanh
Dẫu không lớn gốc, rậm cành
Cũng là một hạt để dành mai sau.
Mẹ ta đi vắng đã lâu
Câu ru mẹ, mãi thấm sâu đời cò.
VIẾT CHO NHỮNG CUỘC TÌNH
Có còn chi giữa chợ đời
Khi xuân đã muộn, khi trời đã khuya
Khi lòng ta đã rẽ chia
Khi niềm tin với ai kia chẳng còn
Chỉ mong nước chảy đá mòn
Để bao thô ráp lại tròn như xưa
Để trời nắng lại ban trưa
Để xuân trở lại như vừa mới đây
Nước trong bát sứ lại đầy
Tình người trở lại như ngày đầu tiên.
HOA ĐÁ
Chẳng mua hoa cúc, hoa nhài
Mua bông hoa đá để ngoài hiên chơi
Chửa coi đã rụng đã rơi
Để cành trơ lại thế rồi không hoa
Xuân chưa hé đã vội già
Tình chưa bén đã rẽ ra đôi đường
Đành rằng thương vẫn cứ thương
Mà sao mọi sự dở dương vậy mà
Thương cây hoa đá trước nhà
Một cành trơ, giữa nhạt nhoà tình ai
THƯƠNG BAO
CÂU NÓI
Những gì đã trót nói ra
Cho dù xấu tốt cũng là mình thôi
Những gì đã trót nói rồi
Thì đành nín lặng để ngồi lại nghe
Bờ rào, vách nứa, phên tre
Gió từ trong sẽ theo khe ra ngoài
Mừng câu khôn tặng cho đời
Thương câu dại để lại rơi vào mình (!)
Thứ Hai, 28
tháng 3, 2011
Người Việt
chúng ta hầu hết đều là người giầu tình cảm, và có sự bẩm thụ văn chương. Ngay
từ khi mới chào đời đã tiếp nhận từ người thân những câu hát ru, những vần điệu
ca dao, dân ca tinh tế. Trong nhiều năm gần đây nhờ sự phổ cập văn hoá trong
nhân dân, văn tự và chữ viết là công cụ, là chìa khoá để diễn đạt và lưu giữ
nhiều văn bản nói lên những tâm sự, những cảm xúc của mỗi người. Qua những vần,
những điệu quen thuộc người ta hát lên, ngâm lên những câu chữ để mà hoà vào
không khí tươi vui của cộng đồng. Những dòng như thế, những bài như thế đã phần
nào mang dáng dấp của những bài văn vần. Những bài văn vần đó có cấu trúc rất gần
với một thể loại mà ta gọi là thơ, trong đó có thơ lục bát, thơ tự do và thơ
cách luật vv... Đã là thơ thì nó có cả một hệ thống lý luận rất rộng mà ta
không thể bàn trong tập sách nhỏ bé này. Với một phương châm như thế chúng ta sẽ
đi sâu vào một thể loại thật cụ thể đó là Thơ luật Đường[1] mà người Việt ta vẫn gọi là Thơ Đường
hoặc thơ Đường luật.
Thơ Đường luật
là thể thơ xuất xứ từ Trung Quốc, được luật hoá về vần, điệu và một số thủ pháp
riêng trong thời Đường. Đây cũng là thể loại thơ được tiếp thu, đưa vào đời sống
và khoa cử Việt Nam từ rất sớm. Thơ được đề cao là loại Thơ bác học
trong một thời kỳ khá dài và được hoàn thiện thêm cho phù hợp với văn tự và âm
thanh của người Việt. Công bằng mà nói thì với thời gian và thói quen ngôn ngữ,
thơ Đường luật đã được nhiều nhà thơ từ trước đến nay thay đổi đến mức có thể gọi
là thơ Luật Việt Nam cũng không có gì là quá đáng. Đây cũng là thể
thơ được nhiều người ưa thích vì sự biểu cảm sinh động và thâm sâu, rất đáng được
lưu giữ, phát triển duy trì sự phong phú trong vốn văn hoá của nước ta. Dưới
đây là một số nét về thể thơ Đường luật nói trên với tiêu chí vừa tìm hiểu và
cũng góp phần vào việc giúp những người bước đầu muốn hiểu và muốn làm thơ Đường
luật.
PHẦN 1: KẾT CẤU BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
I. CÂU TỪ TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Thơ Đường
luật có thể viết mỗi bài bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, mỗi bài tám câu gọi là
bát cú và những bài trên tám câu gọi là trường thiên. Trong mỗi câu có năm từ gọi
là ngũ ngôn, hoặc bẩy từ gọi là thất ngôn, ngoài ra còn có loại bài có một số
câu bị rút đi một từ còn sáu từ trong một vài trường hợp.
Những
bài thơ tứ tuyệt thường dùng thuật ngữ tóm tắt chỉ rõ chức năng mỗi câu và kết
cấu của bài, đó là cụm từ: Khai, thừa, chuyển, hợp. Về điểm này chúng ta có thể
đi sâu nghiên cứu với một văn bản dài hơi hơn trong một dịp khác.
Những
bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú cũng được đặc trưng bởi 4 phần khác nhau đó
là: Đề, thực, luận, kết. Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về các phần với
một gợi mở ngắn gọn nhất.
II. VẦN VÀ HIỆP VẦN THƠ ĐƯỜNG LUẬT.
Vần trong thơ
Đường (còn gọi là vận) dựa vào sự giống nhau của từ cuối mỗi câu. Các vần trong
bài tứ tuyệt được sắp xếp theo thứ tự là vần câu 1 hiệp vần với câu 2, câu 4;
trong bài bát cú vần câu 1 hiệp vần với câu 2, câu 4, câu 6, câu 8
II.1. Hiệp vần trong bài tứ tuyệt: có 3
vần
ĐOÁN BÃO
(Lê Trọng
Hồng)
Ráng đỏ đùn lên kín mé tây (1)
Trời xanh trốn biệt hết
trong mây (2)
Mấy ai biết được ngày mai tới
Giông bão điên
cuồng sẽ đến đây (3)
II.2. Hiệp vần trong bài bát cú: có 5
vần
KHAO THƠ
(Lê Trọng Hồng)
Gặp buổi thanh nhàn đến với nhau (1)
Cần chi nghèo khó với sang giầu (2)
Me chua mấy quả, sôi trong nước
Muối lạc đôi hòn, trộn dưới âu (3)
Chọn tứ tìm câu mời tiếp chén
Lựa vần sửa đối đợi thay bầu (4)
Thong dong cuối tháng
lương chưa tới
Vẫn hẹn khao thơ đãi một chầu (5)
II.3. Chính vần (Chính vận)
Ta gọi từ này
vần với từ kia hầu hết chỉ bao gồm phần ghép của nguyên âm với phụ âm cuối của
từ. Không kể sự biến thái âm do dấu, miễn chúng giống nhau thì đó là chính vần.
Người xưa gọi là chính vận.
Ví dụ 1:
Vườn ai
cháy sáng giữa heo may
Khóm cúc
vàng tươi nở đắm say
(Hoa
thu - Lê Trọng Hồng)
(Ay) trong may và say bài
Hoa thu là chính vận
Ví dụ 2:
...
Muối
lạc đôi hòn, trộn dưới âu
Chọn
tứ, tìm câu mời tiếp chén
Lựa
vần, sửa đối đợi thay bầu
(Khao
thơ - Lê Trọng Hồng)
(Âu) trong âu và bầu của
bài Khao thơ trên đây chỉ khác nhau một dấu huyền, đó là (âu) và (ầu) cũng
gọi là chính vận
II.4. Vần gần đúng (Bàng vận)
Không phải lúc nào vần
cũng giống nhau một cách tuyệt đối người ta có thể hiệp vần bằng một âm chỉ gần
giống nhau. Những vần chỉ gần giống nhau như thế gọi là vần gần đúng. Người xưa
gọi là bàng vận
Ví dụ 1:
...
Gặp
buổi thanh nhàn đến với nhau
Cần
chi nghèo khó với sang giầu
(Khao thơ - Lê Trọng Hồng)
Au và ầu trong hai câu trên đây, có sự gần giống
nhau. Đây chính là một trường hợp bàng vận
Ví dụ 2:
...
Nợ khắp muôn người thật rõ đông
Nợ mẹ, nợ cha miền dưỡng dục
Nợ chồng, nợ vợ cuộc đời chung...
(Nợ - Lê Trọng Hồng)
Ông và ung trong bài Nợ trên đây chỉ gần giống
nhau. Đây cũng chính là một dạng bàng vận
Vần trong thơ
Đường luật có thể ở thể bằng hoặc trắc. Trong tiếng Việt những thanh âm không
có dấu hoặc thanh âm mang dấu huyền đều được xếp vào thanh bằng. Các thanh âm
mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng đều được xếp vào thanh trắc. Từ đó ta cũng có được
các vần là vần bằng hoặc vần trắc
Ví dụ:
Mừng
xuân cất bút chào năm mới
Chúc một mùa thơ thật thắng lợi
Vần ới và ợi trong hai câu trên là những vần
trắc
Ví dụ:
Bên
trời vàng ủng ánh trăng suông
Từng đợt heo may gõ cửa buồng
Vần uông và uồng hai
câu trên là những vần bằng
II.6. Bớt vần (chiết vận)
Trong thơ Đường
luật, vần của toàn bài phải hiệp vần với câu đầu, nhưng đôi khi ta vẫn gặp những
bài có câu đầu không vần với câu 2 và toàn bài. Trường hợp này ta gọi là bớt vần
(chiết vận). Tuy nhiên những bài chiết vận thì câu 1 và 2 phải tạo thành một cặp
đối.
Ví dụ:
Vách thẳng sương giăng xanh tựa ngọc
Bãi chìm nước cuộn trắng như hơi
Một đời ngắn ngủi trong gang tấc
Gặp cảnh như vầy được mấy nơi.
(Đèo
Ngang - Lê Trọng Hồng)
Có một dạng
thơ thất ngôn được bỏ bớt từ ở câu đầu hoặc câu cuối thành ra câu có sáu từ.
Người xưa nói đây là thể thơ do Hàn Thuyên sáng tạo ra trên cơ sở của thơ Đường
luật, nhiều người đã gọi là thơ Hàn luật. Thể loại này có nhiều trong thơ Nguyễn
Trãi.
Ví dụ:
ĐOẠN
X (10)
(Nguyễn Trãi)
Lao xao chợ cá làng ngư phủ
Dặng dõi cầm ve lầu tịch dương
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân
giầu đủ khắp đòi phương
III.1. Khái niệm về luật thơ Đường luật
Luật trong
thơ Đường chỉ ra sự phân bố của các từ bằng và trắc trong một bài thơ. Luật quy
định các dạng thơ như: Luật bằng và Luật trắc.
Để nhận
biết bài thơ ở luật bằng hay luật trắc chỉ cần xem từ thứ hai của câu 1, nếu là
thanh bằng thì đó là bài thơ thuộc luật bằng và ngược lại là luật trắc. Khi đã
biết về luật chỉ cần chú ý từ cuối của câu 1, nếu đó là thanh bằng thì bài thơ
có vần bằng và ngược lại là vần trắc. Kết hợp về luật và vần ta có 4 dạng[2] thơ Đường luật, dưới đây là sơ đồ 4 dạng
của thơ Đường luật .
III.2. Sơ đồ
các dạng thơ Đường luật
A - Luật bằng vần bằng
C - Luật bằng vần trắc
|
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
|
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
|
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
|
|
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
|
|
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
|
|
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
|
|
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
|
|
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
|
|
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B - Luật trắc vần bằng
D - Luật trắc vần trắc
|
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
|
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
|
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
|
|
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
|
|
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
|
|
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
|
|
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
|
|
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B |
B |
T |
T |
T |
B |
B |
|
|
T |
T |
B |
B |
T |
T |
B |
T |
T |
B |
B |
B |
T |
T |
III.3. Các bài Đường luật theo sơ đồ
Dưới đây là một số bài thơ
làm ví dụ do tác giả viết để minh hoạ. Về nội dung chưa có thể gọi là tốt, mà
chỉ cố gắng theo đúng niêm luật.
THÔNG CẢM
(Luật
bằng vần bằng)
|
Từ |
lâu |
đã |
định |
sẽ |
thăm |
hoa |
|
Ngõ |
cũ |
chông |
chênh |
bạn |
vắng |
nhà |
|
Cánh |
cổng |
lầm |
lỳ |
kêu |
chẳng |
động |
|
Bờ |
tường |
ngất |
ngưởng |
gọi |
không |
qua |
|
Mười |
năm |
bận |
rộn |
phiền |
lòng |
trẻ |
|
Một |
buổi |
thong |
dong |
gắng |
sức |
già |
|
Lỡ |
hẹn |
vì |
thời |
đành |
chịu |
vậy |
|
Xin |
người |
bỏ |
quá |
hộ |
cho |
ta |
ĐỀN CHU VĂN
AN CẢM TÁC
(Luật
trắc vần bằng)
|
Núi |
phượng |
chiều |
nay |
thắm |
sắc |
cờ |
|
Đền |
đài |
mới |
dựng |
giữa |
hoang |
sơ |
|
Trường |
xưa |
mái |
đỏ |
trò |
đang |
đợi |
|
Điện |
mới |
hiên |
xanh |
khách |
vẫn |
chờ |
|
Sửa |
đức |
can |
người |
lo |
vận |
hội |
|
Khơi |
nguồn |
giúp |
trẻ |
tạo |
duyên |
cơ |
|
Bên |
tường |
vẫn |
đó |
dòng |
xuân |
cảm |
|
Đạo |
thánh |
gieo |
mầm |
vạn |
tứ |
thơ |
CHÚC
NĂM MỚI
(Luật bằng
vần trắc)
|
Mừng |
xuân |
cất |
bút |
chào |
năm |
mới |
|
Chúc |
một |
mùa |
thơ |
luôn |
thắng |
lợi |
|
Cấu |
tứ |
vui |
tươi |
thật |
sáng |
trong |
|
Vần |
câu |
sắc |
sảo |
không |
đen |
tối |
|
Mang |
nhiều |
cảnh |
đẹp |
đến |
muôn |
nơi |
|
Mở |
rộng |
tình |
yêu |
ra |
khắp |
lối |
|
Đón |
tết |
mua |
vui |
có |
mấy |
câu |
|
Hoà |
cùng |
bạn |
hữu |
sang |
năm |
tới |
THĂM
NHÀ BÁC SĨ
|
Bữa |
trước |
sang |
thăm |
nhà |
bác |
sĩ |
|
Chồng |
đầy |
tủ |
sách |
nghe |
hùng |
vĩ |
|
Ban |
thờ |
ngó |
đến |
chẳng |
còn |
gì |
|
Thúng |
gạo |
nhìn |
vào |
đã |
hết |
kỹ |
|
Chữa |
bệnh |
cho |
người |
suốt |
cả |
năm |
|
Mừng |
xuân |
khổ |
chủ |
không |
ngày |
nghỉ |
|
Đành |
rằng |
tất |
cả |
chỉ |
vì |
dân |
|
Với |
bác |
đừng |
nên |
quên |
để |
ý |
Trong 4 dạng trên đây, thường thì hay dùng 2 dạng Luật bằng
vần bằng vàLuật trắc vần bằng, còn hai dạng Luật bằng vần
trắc và Luật trắc vần trắc thì ít khi dùng
IV. NIÊM THƠ
Niêm trong thơ
Đường luật chỉ sự kết dính của các câu theo một quy tắc bắt buộc. Niêm xác định
bởi từ thứ 2 của các câu theo thể thức từng cặp giống nhau cùng bằng hoặc cùng
trắc.
- Trong thơ tứ tuyệt
niêm là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2 của các cặp
câu: 1- 4; 2-3.
- Trong thơ thất
ngôn bát cú niêm là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2
của các cặp câu: 1 - 8; 2 - 3; 4 - 5; 6 - 7.
Ví dụ:
SÁU MƯƠI
(Lê Trọng Hồng)
|
Sáu Thoắt Khúc Bài Vườn Ngõ Muôn Đôi |
mươi cái hát thơ xuân trúc sự dòng |
lặng lẽ bước đường xa thời gian đã đến già xông pha chưa kịp dứt chiêm nghiệm mới vừa ra cứ hẹn kêu đi tới khi cần đón lại qua ngoài đời không vướng bận thi phú một hồn ta. |
Cặp 1-8 cùng
bằng (mươi / dòng); cặp 2-3 cùng trắc (cái / hát); cặp 4-5 cùng bằng (thơ /
xuân); cặp 6-7 cùng trắc (trúc / sự)
V. NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Các câu thơ Đường luật có sự ngắt nhịp để phân cách các ý
nhỏ trong câu, nhân đó làm cho câu thơ có âm hưởng du dương trầm bổng. Ngắt nhịp
trong thơ Đường luật có kết cấu 2/2/3 hoặc 4/3
Bẩy mươi/ chẳng biết / trẻ hay già (2/2/3)
Cố viết vần thơ / tặng bạn xa (4/3)
Kết cấu này khác hẳn với ngắt nhịp của câu thất trong thể
thơ song thất lục bát đó là 3/4 hoặc 3/2/2
Mặt chinh phu / trăng dõi dõi soi
Như trên đã nói thơ Đường luật ngắt nhịp 2/2/3 hoặc 4/3,
điều này cho thấy từng bộ phận của câu thơ đã được tách ra, chính vì thế mà người
làm thơ ít dùng (thậm chí là không cần dùng) các loại dấu phân cách.
V. GIẢN HOÁ VỀ LUẬT
Nếu 4 sơ đồ
trên đều thực hiện đúng cả thì rất tốt. Tuy vậy trong thực hành chỉ cần giữ
đúng bằng trắc với các từ ở cột 2, 4, 6 là được (đương nhiên cột 7 là cột gieo
vần thì phải tuân thủ đúng). Với gợi ý này các cụ ta xưa nói: “Nhất, tam,
ngũ bất luận - Nhị, tứ, lục phân minh” là thế.
VI. KIỂM TRA NHANH NIÊM VÀ LUẬT
Khi đã quen thuộc với
thơ Đường luật thì ít khi người làm thơ bị sai về niêm, luật. Nhưng khi mới làm
thì không thể tránh được sự sai sót này. Để cho dễ nhớ chỉ cần chú
ý kiểm tra các điểm sau:
Từ thứ 2 và thứ
6 trong câu bao giờ cũng cùng bằng hoặc cùng trắc.
Từ thứ 4 trong câu ngược lại
với từ 2 và 6.
Từ thứ 2 của các câu trong
bài cùng bằng hoặc cùng trắc theo từng cặp một trong đó gồm: 1- 8; 2 - 3; 4 -
5; 6 - 7.
Người làm thơ Đường luật luôn cho rằng 28 từ trong bài
thơ tứ tuyệt hay 56 từ trong bài thất ngôn bát cú là những viên ngọc. Mỗi viên
có sắc thái của nó trong cái hộp ngọc ấy. Nếu vì một điều gì đó không cần thiết
mà phải lặp lại thì lấy làm tiếc cho sự thiếu vắng của viên ngọc đó. Vì thế nếu
không cần sự nhấn mạnh hoặc tôn vinh một điều gì thì không nên lặp lại các từ
trong bài.
Tuy nhiên việc
lặp lại nhiều lần một vài từ đôi khi xuất phát từ một chủ ý nào đó mà tác giả
muốn gửi đến độc giả. Dưới đây là một ví dụ lặp lại từ. Nếu tách 2 từ xuân ở
hai câu đề, còn lại có đến 13 từ xuân đối với 13 từ tết.
KHAI BÚT KHAI XUÂN
(Thơ mời hoạ)
Chào xuân khai
bút viết thơ xuân
Mời bạn gần xa hoạ mấy vần
Xuân đến, xuân sang, xuân gặp tết
Tết về, tết lại, tết tìm xuân
Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết
Tết tới một năm tết đợi xuân
Xuân! Tết! Xuân xuân! Xuân tết tết
Tết! Xuân! Tết tết! Tết xuân
xuân.
Những người làm thơ giỏi khuyên ta nên sử dụng biện pháp
tu từ và dùng cách tả thực hoặc diễn thực ý, lời để bài thơ sinh động, tránh
dùng những hư từ như thì, mà, là, cũng, đã, vì, với, vẫn vv... trong thơ. Tuy
nhiên nếu sử dụng hư từ khéo thì vẫn có hiệu quả đáng kể.
Ví dụ:
Tấm thân
xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá
khoa danh thế mới hời
(Vịnh tiến sĩ giấy - Nguyễn Khuyến)
Sao mà và thế mới trong Vịnh tiến sĩ giấy chính
là những hư từ, những hư từ trên đây dùng quả là khéo.
IX. VÀI DẠNG THƠ ĐƯỜNG LUẬT ĐẶC BIỆT
Ngoài những quy
tắc về luật và vần nói trên, những người chơi thơ Đường luật còn sáng tạo ra
khá nhiều kiểu đặc biệt. Đã có nhiều tác giả giới thiệu đến 99 cách chơi thơ Đường
luật. Dưới đây là một vài ví dụ để tham khảo.
Một trong những
cách đó là kiểu Thuận nghịch đọc, với kiểu bài này thì làm 1 mà hoá 2; thực chất
đây là 2 bài thơ riêng biệt. Ngoài đọc xuôi ta có thể đọc ngược từ dưới lên
Hoa đùa nắng sớm gió đưa hương
Nhớ bến cho tình chút vấn vương
Bước chân nghiêng nón bóng người thương
Giá lạnh thân cò cánh đợ sương
Tha thiết bến tình sông gợn sóng
Tà dương ánh ngả bóng lồng gương
2. THỦ NHẤT THANH
Thủ nhất thanh
là bài thơ có một từ duy nhất đứng đầu mỗi câu, như bài Nợ dưới đây. Những bài
này mang hình thức chơi thơ là chính.
NỢ
(Lê Trọng Hồng)
Nợ trời,
nợ đất, nợ non sông
Nợ khắp
muôn người thật rõ đông
Nợ mẹ,
nợ cha miền dưỡng dục
Nợ chồng,
nợ vợ cuộc đời chung
Nợ thầy,
nợ bạn ơn đào luyện
Nợ xóm,
nợ làng lúc góp công
Nợ cõi trần
gian ngày sống gửi
Nợ đời
chừng ấy biết hay không.
3. KHOÁN THỦ THI
Đây là dạng
thơ dùng các từ ở đề làm từ đứng đầu cho từng câu một của bài thơ
ĐƯỜNG THI THẮP SÁNG MỞ HỘI NÚI
SÔNG
(Lê Trọng
Hồng)
Đường luật
bung ra khắp mọi miền
Thi đàn dìu dặt
cuộc giao duyên
Thắp đèn
mơ đến miền kim cổ
Sáng bút
soi vào cõi thánh tiên
Mở lối
muôn nơi gieo tứ mới
Hội về mọi
ngả nối vần lên
Núi Nùng lưu dấu
nền văn hiến
Sông Nhị
khơi dòng toả rộng thêm
TIỆT HẠ
Đây là dạng thơ không nói hết ý của các câu nhưng thực tế khi đọc lên dường như
mọi người đều đã hiểu ý của tác giả.
HƯ DANH
(Lê Trọng Hồng)
Ngộ tý văn chương đã tưởng là...
Cố công học hỏi để cho ra...
Nào hay vừa đó người rằng sắp...
Biết vậy hôm xưa tớ chẳng thà...
Trót đã theo đòi nên cũng phải...
Thôi thì níu bám để cho qua...
Cũng vì sĩ diện xui nên cảnh...
Vì cái hư danh đến nỗi mà...
X. CÁCH
DÙNG TỪ NGỮ TRONG THƠ ĐƯỜNG
X.1. Chiết tự
Đây là
cách triết tự trong thơ chữ Hán. Ghép từng phần của chữ để chỉ sự việc)
Ví dụ:
Duyên thiên chưa
thấy nhô đầu trọc
Phận liễu sao
đà nảy nét ngang
Cái nghĩa trăm
năm chàng nhớ chửa
Mảnh tình một khối
thiếp xin mang...
(Không chồng
mà chửa - Hồ Xuân Hương)
Chữ Thiên (天) kéo dài đầu lên thành chữ (夫) Phu / chồng, đây chỉ sự chưa có
chồng. Chữ Liễu (了) nếu có nét ngang thành ra chữ (子) tử / con, đây chỉ sự đã có con.
Nhớ
chửa là câu hỏi nhưng lại chỉ người phụ nữ có chửa, xin mang là
câu chỉ sự chấp nhận nhưng lại chỉ sự mang thai .
Một số bài
thơ làm theo tiêu chí (nhị, tứ, lục phân minh) nhưng khi áp dụng (nhất, tam,
ngũ bất luận) lại để từ thứ 5 (ngũ) và thứ 7 (thất) cùng bằng hoặc cùng trắc
(nói rõ hơn là 3 từ cuối câu cùng bằng hoặc cùng trắc) dẫn đến câu thơ khi đọc
lên thấy cộc và không êm tai, những trường hợp này gọi là khổ độc cần chú ý
tránh phạm phải như ví dụ dưới đây.
Ví dụ 1:
Vui chân theo bạn về Thanh Mai
Mới thấy đường đi cũng chẳng dài
Từ thứ 5 (Về), từ thứ
7 (Mai) câu 1 trên đây đều cùng bằng (hoặc cả 3 từ cuối cùng bằng).
Khi ta thay Đến
(trắc) vào Về (bằng), ta có từ thứ 5 trắc và từ thứ 7 bằng, câu thơ đọc lên sẽ
êm hơn.
Vui chân theo bạn Đến Thanh
Mai
Mới thấy đường đi cũng chẳng
dài
Ví dụ 2:
Từ thứ 5 (gọi), từ thứ 7 (Động)
câu 1 dưới đây đều cùng trắc (hoặc cả 3 từ cuối cùng trắc)
Cánh
cổng lầm lỳ GỌI chẳng ĐỘNG
Bờ tường ngất ngưởng KÊU không QUA
Thay KÊU vào gọi của câu
thơ trên, ta có từ 5 bằng và từ 7 trắc. Thay từ Gọi vào KÊU của câu thơ dưới,
ta có từ 5 trắc và từ 7 bằng, đọc lên sẽ êm hơn.
Cánh
cổng lầm lỳ KÊU chẳng ĐỘNG
Bờ tường ngất ngưởng GỌI không QUA
Vấn đề
từ ngữ trong thơ Đường luật có rất nhiều kiến giả cho rằng cần phải lựa chọn kỹ,
đó là sự tất yếu, tuy nhiên nếu quá chú trọng, khuôn phép thường làm mất đi cái
giản dị, tự nhiên. Ngày nay đã thấy nhiều kiến giả cho rằng thơ Đường luật cũng
nên sử dụng từ ngữ dung dị trong đời sống để bài thơ đỡ khô cứng mở rộng sự tiếp
nhận của mọi tầng lớp trong xã hội.
XI. CẤU TRÚC CỦA BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Để tìm hiểu cấu trúc
của bài thơ Đường luật, dưới đây xin dẫn bài Thiếu nữ đi tu của
cụ Tú Xương cho nội dung tìm hiểu thơ Đường tiếp theo
XI.1.Tìm hiểu về đầu đề bài thơ
Thơ Đường
luật rất coi trọng đầu đề bài thơ; Đầu đề bài thơ chỉ rõ thực chất bài thơ nói
về cái gì, có như thế độc giả mới có thể hiểu được ý tứ bài thơ mình sẽ đọc. Đầu
đề bài thơ Đường luật của các cụ ta xưa luôn ngắn gọn và cô đọng. Sức biểu đạt
của đầu đề rất đặc trưng và không kém phần gợi cảm. Đầu đề bài thơ Thiếu
nữ đi tu của cụ Tú Xương chính là một ví dụ
XI.2. Tìm hiểu về hai câu đề
Trong thơ
thất ngôn bát cú hai câu đầu được xác định là một cặp đề. Câu 1 gọi là phá đề,
câu 2 gọi là thừa đề. Cặp đề có chức năng giới thiệu cho độc giả hiểu rõ thêm về
ý tứ của tác giả, từ đó người đọc thấu triệt toàn bộ bài thơ đang sắp hiện ra.
Câu 1 giới thiệu mở đầu, câu 2 sau đó làm sáng tỏ thêm.
Ví dụ:
Hai câu đề trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Con gái nhà ai dáng thị thành
Cớ sao nỡ phụ cái xuân xanh
Câu phá đề
cho ta biết đây là bài thơ nói về một cô gái thanh lịch như một cô gái ở thành
thị. Câu thừa đề chỉ ra đó là cô gái không biết trân trọng vốn quý
thanh xuân của chính mình
XI.3. Tìm hiểu về hai câu thực
Hai câu 3
và 4 là hai câu thực. Hai câu này nêu lên những hình ảnh, sự việc, trạng thái
đã có, đã nhìn, đã nghe hoặc cảm nhận được, làm chứng cớ cho những điều ta sẽ
bàn luận đến và rồi phổ vào đó cái nhận định, cái chủ ý mà ta muốn mọi người
cùng hiểu với ta. Hai câu thực phải có cấu trúc là một cặp đối chọi với nhau.
Ví dụ:
Hai câu thực trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Nhạt màu son phấn say màu đạo
Mở cánh từ bi khép cánh tình
Câu thực thứ nhất
nói về sự không chịu chăm sóc những nét đẹp vốn có mà say mê theo thứ đạo pháp
nào đó. Câu thứ hai kể rõ cô mở lòng đến với đạo phật (từ bi) và bỏ qua cái
tình vốn dĩ phải có ở mỗi người trong trách nhiệm làm người và cái tình ái của
người con gái. Hai câu này đối nhau rất chặt chẽ, nói về hành vi và tư duy của
cô gái nọ.
XI.4. Tìm hiểu về hai câu luận
Hai câu 5
và 6 là hai câu luận. Hai câu này nói rõ những nhận định của ta về cái mà 2 câu
đề và 2 câu thực của bài thơ vừa mới tạo ra. Hai câu luận cũng là một cặp đối
thứ 2 trong bài thơ. Luận là phần quan trọng trong cấu tứ bài thơ. Nếu bài thơ
không có luận thì người ta không biết bấu víu vào đâu để mà hiểu tác giả nữa.
Nói như vậy thì một số bài thơ Đường có ý trốn luận có lẽ không còn tứ nữa?
Hoàn toàn không phải như thế vì cho dù có trốn luận thì hai câu ấy vẫn hiện diện.
Nó có thể là hai câu thực nữa và cặp thực thứ hai này chồng chận lên cặp thực
trước nó. Như thế thì cái luận đã xuất hiện rồi, xuất hiện bằng sự nhấn mạnh vậy.
Tuy nhiên luận rõ, luận hay vẫn là điều không thể thiếu.
Ví dụ:
Hai câu luận trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Miệng đọc nam vô quên chín
chữ
Tay lần tràng hạt phụ ba
sinh
Hai từ
(quên) và (phụ) chính là ý kiến tác giả nói về cái sự đi tu của cô gái nọ. Đây
cũng là sự phán xét của tác giả về lỗi lầm của cô gái, đó là quên công lao của
cha mẹ trong sinh đẻ và nuôi dưỡng nên người. Hơn nữa đó là phụ rẫy cái “duyên
nợ ba kiếp” mà mỗi người phải trả theo thuyết luân hồi của nhà phật. Phần luận
trong bài rất rõ và rất cụ thể.
XI.5. Tìm hiểu về
hai câu kết
Gọi là kết có nghĩa
là cuối của một vấn đề. Tại thời điểm đó người ta chờ đợi một nhận định cụ thể
sau sự phô diễn của ba cặp đề, thực và luận trên kia. Kết hoàn toàn là sự khảng
định lại những gì mà ta đã bàn luận trước đó. Kết có thể nói sâu hơn sự nhận định
của tác giả và cái đích của bài thơ đã rõ.
Tuy nhiên một
số cặp kết của nhiều tác giả lại không tỏ quan điểm của tác giả mà chỉ là sự gợi
mở dành cho người đọc tự kết luận lấy. Những bài thơ có tầm vóc là những bài
cho đến cuối cùng tác giả vẫn còn để lại một khoảng để độc giả cùng suy ngẫm,
cùng tưởng tượng và cùng sáng tạo. Nghĩa là bài thơ có chủ đề tư tưởng thật rộng,
ai đọc nó cũng thấy có cái bản ngã trong đó. Bài thơ không còn của riêng ai và
cũng không còn là của tác giả nữa. Khái niệm sáng tác và tác giả mờ dần đi để sản
phẩm trở thành tài sản trí tuệ vô giá, tồn tại đến muôn đời.
Ví dụ:
Hai câu kết trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế
Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh
Câu kết chỉ nói cái sự tiếc
nuối cho người con gái về những hành vi của cô trái với lẽ tự nhiên và phàn nàn
rằng sao lại nỡ làm như vậy mà không bình phẩm gì hơn. Điều đó có thật đáng
trách hay không nhà thơ đã nhường lại cho độc giả phán xét.
XII. VỀ ĐỐI TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Đối trong thơ Đường
luật được thực hiện ở cặp thực và cặp luận. Đối còn có thể thực hiện ở cặp đề nếu
bài thơ trốn vận (nghĩa là câu đầu không vần với câu 2 và vần của toàn bài). Đối
cũng có thể thực hiện ở cả cặp kết của bài thơ.
Đối được chú
trọng cả về thanh và ý, thanh biểu hiện ở bằng đối với trắc, ý thì phải phù hợp
với quan niệm phổ biến trong cộng đồng về đối chọi và sự chuẩn xác không thể cốt
đối mà chẳng có ý nghĩa gì theo kiểu: Thần nông... đối với thánh sâu...[3]. Cũng cần tránh hiện tượng trùng phức, rõ
là hai câu nhưng lại chỉ có một ý, nói đơn giản là bệnh nứa bổ dùng ý câu trên
trùng lặp với ý câu dưới. Tóm lại đối là đặc trưng của thơ Đường luật. Nếu
không đối thì không thể gọi là thơ Đường luật, nhưng giữa thanh và ý thì thi
nhân nên hy sinh thanh để giữ ý. Dưới đây là một số phương pháp đối
XII.1. Công đối
Đối thật hoàn
chỉnh ta gọi là công đối, trường hợp này yêu cầu rất chặt chẽ, thậm chí từng từ
của vế dưới đối với từng từ của vế trên. Trong đối còn yêu cầu từ thuần Việt đối
với từ thuần Việt, từ Hán Việt đối với từ Hán Việt, thực từ đối với thực từ, hư
từ đối với hư từ, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối
với tính từ vv...
Theo Nguyễn Sĩ
Đại, trong Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường thì ngay danh
từ thôi cũng phải đối với danh từ thích hợp. Về thiên văn thì (nhật nguyệt đối
với phong vân); về địa lý thì (sơn thuỷ đối với giang hà); về cung
thất thì (lâu đài đối môn hộ); về văn cụ thì (bút đối với nghiên);
về nhân sự thì (đạo đức đối với tài tình); về văn học thì (thi và
phú); về thảo mộc thì (đào và lý); về ẩm thực thì (trà và tửu) vv...Theo
Hoài Yên trong Học nhanh luật thơ Đường nói về Phép đối ngẫu đời Đường thì có đến
16 cách đối, trong đó 8 cách đối về nội dung và 8 cách đối về hình thức... Quả
là hơi khó, nhưng có khó mới phải tìm hiểu. Dưới đây là một số cặp đối làm ví dụ
Hà Thành
xuân đến / còn phong kín
Văn Miếu
thơ về / chợt mở toang
(Cả
nước phang - Lê Trọng Hồng)
Vườn hồng / tráng nắng / hương còn nức
Lối
cỏ / mù sương / lệ vẫn đầm
(Nghe đàn - Lê Trọng Hồng)
Tiếng chim / sau núi / lưa thưa hót
Bông gạo / trên cành / lặng lẽ rơi
Ánh nắng / chiều vàng / đang tụ lại
Vầng trăng / đêm trắng / sắp chia phôi
(Cuối xuân cảm tác - Lê Trọng Hồng)
Một
duyên / hai nợ / âu đành phận
Năm
nắng / mười mưa / dám quản công
(Thương vợ - Trần Tế Xương)
Xuyên
hoa giáp điệp thâm thâm hiện
Điểm
thuỷ thanh đình khoản khoản phi
(Khúc giang nhị thủ - Đỗ Phủ)
Trong đối còn có nhiều cách
khác nữa, trong đó: gồm Tiểu đối, tá đối, lưu thuỷ đối vv...
XII.2. Tiểu đối (còn gọi là tự đối)
Ví dụ:
PHONG
KIỀU DẠ BẠC
(Trương Kế)
Nguyệt lạc/
ô đề / sương mãn thiên
Giang
phong / ngư hoả / đối sầu miên
Cô Tô
thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán
trung thanh đáo khách thuyền
HỒI
HƯƠNG NGẪU THƯ
(Hạ Tri Chương)
Thiếu tiểu
ly gia / lão đại hồi
Hương âm vô cải / mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến/ bất tương thức
Tiếu vấn
khách tòng / hà xứ lai
Tiểu đối là đối
ngay trong câu; ý sau đối với ý trước. Trong câu có thể có 2 hoặc 3 vế tự đối
như hai bài ví dụ trên.
Lưu thuỷ đối
biểu hiện ở câu trên nói chưa hết ý lập thành một vế đối, câu dưới tương phản
và chuyển tiếp ý lập thành một vế đối thứ
hai.
Ví dụ:
Vế trên nói về
một sự việc, còn vế dưới đối với vế trên, nhưng lại là sự chuyển tiếp ý của vế
trên.
Nhất
nhật tại tù
Thiên thu tại ngoại
(Nhật
ký trong tù -Thơ Nguyễn Ái Quốc)
Đã sinh ra ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông
(Thơ Nguyễn công Trứ)
Tá đối là dùng những từ có
nhiều nghĩa, khi biểu đạt thì dùng một nghĩa, khi đối thì dùng nghĩa khác của từ
đó để đối với nhau.
Ví dụ 1:
Cúc vàng rời khỏi
đồi Hoàng Cúc
Sen trắng
quay về bến Bạch Liên
Nắng hạ
mưa thu đành cách biệt
Người về
ta đến khó đoàn viên
(Biết
đâu số phận - Trọng Hồng)
Cũng có những bài thơ có
các cặp đối không chỉnh hoặc không đối, đó là những trường hợp ta gọi là khoan
đối. Khoan đối áp dụng cho những bài thơ có cấu tứ đặc sắc, tính tư tưởng, tính
nghệ thuật cao, làm cho số đông người đọc thấy xúc động. Vì vậy người làm thơ
hãy cứ để cho tâm hồn bay bổng, đừng vì chấp nhất về bất cứ điều gì làm cho bài
thơ khô cứng và nhàm chán.
Ví dụ:
Cánh sóng lăn tăn vờn cuối
bãi
Làn mây hờ hững níu tầng
không
(Về
quê - Lê Trọng Hồng)
Rõ
ràng lăn tăn chỉ sự chuyển động, còn hờ hững chỉ
tính cách. Cũng như trên từ cuối bãi đúng là chỉ vị trí cụ thể
còn tầng không thì không. Có vẻ như đối đấy nhưng chỉnh thì
chưa.
Tuy nhiên cũng đã có người dùng từ lăn tăn để nói về sự
phân vân theo cách nói lóng, như vậy thì nó cũng đã chỉ tính cách đấy chứ (?)
XIII. XƯỚNG HOẠ THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Xướng hoạ trong thơ Đường
luật là việc dựa vào một một bài thơ khởi đầu của một người nào đó gọi là bài
thơ xướng để viết một bài thơ khác hoạ lại bài thơ khởi đầu đó. Với cách làm
này, những người làm thơ có thể tiếp xúc, đồng cảm, gần gũi với nhau hơn. Những
bài hoạ có thể theo cùng chủ đề của bài xướng, nhưng cũng có thể theo một chủ đề
khác, như vậy gọi là hoạ nương vần (hoạ bộ vận), điều đó hoàn toàn có thể được.
Tuy nhiên nhất định không để từ thứ 6 của các câu bài hoạ lặp lại từ thứ 6 của
các câu bài xướng.
Về hình thức hoạ có thể dựa
hoàn toàn vào vần và trật tự các vần của bài xướng, hoặc chỉ dùng một số vần và
thay đổi trật tự của tất cả các vần như nhiều cách dưới đây. Về phía bài xướng
cần phải lưu ý đến sự thanh thoát, giầu xúc cảm về nội dung và hết sức
tránh các dạng bài có hình thức quá phức tạp cùng với các vần quá hiểm,
quá khó tìm thì mới mong có được nhiều bài hoạ của mọi người.
XIII.1. Hoạ nguyên vần
Hoạ nguyên vần là
bài hoạ phải theo sát chủ đề, giữ nguyên vần và xếp vần theo đúng thứ tự vần của
bài xướng.
Ví dụ:
Với các vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Phó thường dân dưới đây
PHÓ THƯỜNG DÂN
(Bài xướng)
Từ ngày trở lại phó thường dân
Sáng đến đôi trang tăng trí não
Chiều về mấy chưởng giúp rèn thân
Cơm rau dưa giá thanh mà ngọt
Phú quý mặc ai nơi huyện sở
Một mình vui cảnh phó thường dân
Với các
vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Với thường dân dưới đây
VỚI BÌNH DÂN
(Hoạ bài Phó thường dân)
Người nào chẳng ở chốn bình dân
Cố nhớ đừng quên mất gốc dần
Phú quý quen mùi chừng khó bỏ
Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân
Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp
Bình dị, thanh cao, tính
cũng thuần
Cái sự làm mình ra khác lạ
Sao bằng trở lại với bình dân
XIII.2. Hoạ ngược vần (nghịch vận)
Hoạ ngược vần là
bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng xếp vần theo thứ tự từ cuối ngược
lên đầu
Ví dụ:Với các vần: thơ, giờ,
sơ, chờ, thơ và ngược lại: thơ, chờ, sơ, giờ, thơ trong 2 bài thơ dưới đây
GẶP BẠN THƠ
(Bài xướng)
Bao năm mới gặp bạn yêu thơ
Cả nước về vui suốt mấy giờ
Chẳng kể trẻ già cùng lớn bé
Cần gì cũ mới với thân sơ
Chia tay ngày ấy đành xa cách
Họp mặt hôm nay luống đợi chờ
Mấy thuở cuộc đời ta được vậy
Nỗi niềm xúc cảm gửi vào thơ
CHIA CÁCH
(Hoạ bài Gặp bạn thơ)
Mấy dòng giã biệt chép thành thơ
Tặng lại cho ai vẫn đứng chờ
Tiếc bởi tiễn đưa đầy quý mến
Trách vì chào đón quá đơn sơ
Vui khi thân mật chiều nay vậy
Buồn lúc chưa quen buổi bấy giờ
Chia cách đã gần trong chốc lát
Mấy dòng giã biệt chép thành thơ
Hoạ đảo vần là
bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể đảo thứ tự trên xuống dưới hoặc
dưới lên trên một vài vần của bài xướng
THẮP LỬA XONG RỒI GẮNG CHỦ TRƯƠNG
(Hoạ thơ Nguyễn Văn Liêm)
Chẵn chục năm theo với luật Đường
Kinh Thầy bóng nước đã thơm hương
Ý tình nhã nhặn vang muôn nẻo
Cấu tứ thanh tao vọng bốn phương
Mỗi chữ chuốt chau chừng đã khéo
Từng câu giản dị vốn không thường
Nhân về dự hội đôi lời chúc
Thắp lửa xong rồi gắng chủ trương
GỬI VỀ NAM SÁCH VẠN YÊU THƯƠNG
(Hoạ thông, thơ Nguyễn Văn Liêm và
Trần Thế Mẫn)
Mười năm bền chí với thơ Đường
Bóng nước Kinh Thầy thắm sắc hương
Đạo cốt thanh tao lời thánh thiện
Ý tình nhuần nhã dáng phong sương
Nhân văn phẩm hạnh vừa khai mở
Trí lực tâm tư đã khác thường
Một áng thơ mừng đầy ngưỡng mộ
Gửi về Nam Sách vạn yêu thương.
-
Bài Thắp lửa xong rồi gắng chủ trương với các vần: Đường,
hương, phương, thường, trương.
- Bài Gửi về Nam Sách vạn yêu thương với các vần: Đường,
hương, sương, thường, thương.
Hai bài
trên được hoạ nguyên ý với các vần giống nhau: Đường, hương, thường cùng vị trí
và phương, trương, sương, thương ở các vị trí tuỳ ý.
Hoạ loạn vần là
bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể thay đổi tuỳ ý vị trí của tất
cả các vần. (xem ví dụ trên)
Hoạ lựa vần là
bài hoạ chỉ dùng một vài vần của bài xướng, các vần còn lại có thể thay đổi tuỳ
ý người hoạ (xem ví dụ trên)
Hoạ nối vần là
bài hoạ dùng cả câu cuối và vần của bài xướng làm câu đầu và vần của bài hoạ.
Ví
dụ:
GIAO THỪA
(Bài xướng)
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu
Kẻ đến dùng dằng mong nán lại
Người về tấp tểnh muốn qua mau
Ai giao ai nhận ai giao nhận
Ai đến ai về ai tiếp sau
Cái sự luân phiên không sở cứ
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
VỀ HƯU
(Hoạ bài Giao thừa)
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Đơn độc mình ta cạn chén sầu
Sáu chục mùa xuân sao thấy ngắn
Mấy mươi cái tết thật là mau
Về hưu đã hẳn ta qua trước
Ở lại đương nhiên bạn đến sau
Cõi thế xưa nay không chịu đổi
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Hai bài trên được hoạ nguyên vần, câu cuối bài Giao thừa là
câu đầu bài Về hưu.
PHÓ THƯỜNG DÂN
(Bài xướng)
Từ ngày trở lại phó thường dân
Sáng đến đôi trang, tăng trí não
Chiều về mấy chưởng, giúp rèn thân
Cơm rau, dưa, giá thanh mà ngọt
áo sợi, bông, tơ mát lại thuần
Phú quý mặc ai nơi huyện sở
Một mình vui cảnh phó thường dân
VỚI BÌNH DÂN
(Hoạ bài Phó thường dân)
Người nào chẳng ở chốn bình dân
Cố nhớ đừng quên mất gốc dần
Phú quý quen mùi chừng khó bỏ
Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân
Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp
Bình dị, thanh cao, tính cũng thuần
Cái sự làm mình ra khác lạ
Sao bằng trở lại với bình dân
SÁU MƯƠI
Sáu mươi lặng lẽ bước đường xa
Thoắt cái thời gian đã đến già
Khúc hát xông pha chưa kịp dứt
Bài thơ chiêm nghiệm mới vừa ra
Vườn xuân cứ hẹn kêu đi tới
Ngõ trúc khi cần đón lại qua
Muôn sự ngoài đời không vướng bận
Đôi dòng thi phú một hồn ta.
CẢ NƯỚC PHANG
(Hoạ bài Con chuột của Yên Thao)
Năm Hợi qua rồi năm Tý sang
Thời gian ngắn ngủi có vài gang
Hà Thành xuân đến còn phong kín
Văn Miếu thơ về chợt mở toang
Đạo chích gian tham cho xuống hố
Quan liêu mệnh lệnh nhét vào hang
Kẻ nào ngoan cố còn nằm đó
Gậy mới đang chờ cả nước phang
ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC
Núi Phượng chiều nay đỏ sắc
cờ
Đền đài mới dựng giữa hoang sơ
Trường xưa hoa nở trò đang đợi
Điện mới thông reo khách vẫn chờ
Sửa đức can người lo vận hội
Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ
Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm
Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ
NGHE ĐÀN
Gác nhỏ bên sông chợt ghé thăm
Đàn ai dìu dặt cất thanh âm
Vườn hồng tráng nắng hương còn nức
Lối cỏ mù sương lệ vẫn đầm
Vần vũ mây giăng chùa trước mặt
Nhạt nhoà khỏi phủ núi xa xăm
Rót hồn trên phím ai trăn trở
Dục khách qua đường nảy khúc ngâm
KHAO THƠ
Gặp buổi thanh nhàn đến với nhau
Cần chi nghèo khó với sang giầu
Me chua mấy quả, sôi trong nước
Muối lạc đôi hòn, trộn dưới âu
Chọn tứ, tìm câu mời tiếp chén
Lựa vần, sửa đối dục thay bầu
Thong dong cuối tháng lương chưa tới
Vẫn hẹn khao thơ đãi một chầu
XUÂN ĐẾN NHÀ
Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa
Mừng được đông vui đủ trẻ già
Trong bếp đàn con đang sắp cỗ
Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà
Nụ đào chúm chím hồng bên cửa
Cành lộc đu đưa biếc giữa nhà
Đôi khổ thơ xuân còn ướt mực
Một ly nước mới dậy hương trà.
HỘI XUÂN QUÊ
Một hội xuân quê mới mở ra
Chia vui khắp hết cả muôn nhà
Sân đu đầy chặt trai bên gái
Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già
Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn
Cuối thôn hể hả lúa thêm trà
Đất trời toả rộng hương no ấm
Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.
CUỐI XUÂN CẢM TÁC
Xuân đã dần qua cuối tiết rồi
Gốc đào trước cổng đứng đơn côi
Tiếng chim sau núi lưa thưa hót
Bông gạo trên cành lặng lẽ rơi
Ánh nắng chiều vàng đang tụ lại
Vầng trăng đêm trắng sắp chia phôi
Giật mình mới đó mười năm lẻ
Một áng thơ buồn tỏ khúc nhôi
THỨC
Xa cách từ khi ấy đến nay
Quê xưa vẫn mãi ở tim này
Ai mơ muôn dặm đầy sương tuyết
Ta mộng lối về xanh cỏ cây
Đầu sáng mỏi mòn xem bóng nắng
Nửa chiều da diết ngắm chân mây
Nào ai biết được nhiều đêm thức
Trong lúc bao người đã giấc say.
MỘNG VỀ QUÊ
Bao núi bao sông đã lội qua
Đêm nay chợt nhớ đến quê nhà
Đầu ghềnh nước cũ chao lườn sóng
Cuối bãi trăng xưa rọi luống cà
Mái lá liêu xiêu nền đất ướt
Sân rêu vắng lặng vết chân nhoà
Trăm năm chớp mắt trôi qua cửa
Để lại bên song bóng nguyệt tà
THƯƠNG QUÊ GẶP NẠN
Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà
Bão liền mấy trận thảy đều qua
Vuông tôm mới đắp không còn vết
Chạt muối chưa thu cũng chảy xoà
Sức vóc bao nhiêu đành mất cả
Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà
Đành rằng hoạn nạn đâu không thế
Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà
RỪNG CHIỀU
Từng bước theo mây đến
đỉnh đèo
Cúi mình ngó xuống giữa trong veo
Đôi dòng suối nhỏ dăng dăng chảy
Một vạt rừng non cuộn cuộn reo
Lấp loáng trên mây tung bọt trắng
Gập ghềnh dưới đá phủ xanh rêu
Hoang sơ cõi ấy kìa ai tạo
Để khách bâng khuâng giữa cảnh chiều
QUA BÃI KHÁCH XƯA
Mỗi ngày một trạm đã đi qua
Rừng rậm toàn cây chẳng có nhà
Võng vải treo lên đu bổng tít
Hoàng Cầm thắp đỏ khói luồn xa
Gió Lào thốc xuống ròn lưng áo
Sương muối trùm lên trắng mặt ga
Bãi cũ chiều nay không có khách
Lờ mờ dọc suối lối chân qua
GẶP ĐƯỜNG DÂY CŨ
Còn đây bãi khách buổi ban đầu
Rêu xưa cố bám bờ đen xám
Hiu hắt lều hoang đôi cột võng
Đường dây vẫn đó người không tới
Bên góc rừng thưa gợi khúc sầu
QUA BẾN ĐẠI THAN
Chỉ thấy đay xanh kín bãi bồi
Bình Than ẩn bóng mé sông đôi
Bến xưa trống trận rung bao nhịp
Đền mới chuông trưa điểm mấy hồi
Nào thuở gươm thề nung thép chảy
Đâu thời hịch gọi cháy dầu sôi
Con đò cắt sóng qua dòng Cái
Hào khí Đông A lộng gió trời.
GỖ KHẢM LIÊN HÀ
Lưu truyền vốn cổ tự ông cha
Khảm tỉa soi châm vẫn nếp nhà
Rồng cuốn hổ nằm thâm sắc gụ
Công xoè phượng múa đỏ vân hoa
Mắt thầy khéo tạo hình muông thú
Tay thợ quen đưa nét kỷ hà
Chợt thấy hồn thơ trong thớ gỗ
Lung linh huyền ảo xứ Liên Hà
TRỞ LẠI CỔ LOA
Mấy chục năm rồi mải đó đây
Xuân nay về lại với nơi này
Thành xưa chặn giặc đang còn dấu
Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy
Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín
Đền càng đầy chặt khói hương bay
Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất
Để những hòn tên rỉ bám đầy
VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH
Vạn lý non sông vạn lý thành
Vồng lên dốc xuống lượn vòng quanh
Chon von đỉnh núi làn mây trắng
Bát ngát chân trời thảm cỏ xanh
Thảng thốt lòng khe con nước chảy
Bâng khuâng bậc đá mái đồn canh
Mang mang khí trận dường chưa tạnh
Xe cá về kinh gió vẫn tanh
HOA THU
Vườn ai cháy sáng giữa heo may
Khóm cúc vàng tươi nở đắm say
Thấp thoáng bầy ong đu dưới lá
Chập chờn đàn bướm lượn trong cây
Hương buồn mới thả tan vào gió
Màu nhớ vừa pha quyện dưới mây
Gợi nỗi cô đơn chiều vắng lạnh
Hoa thu người gửi vẫn còn đây.
CẢM THU
(Hoạ bài buồn thu)
Chiều quê nhè nhẹ toả hương may
Đôi chén sầu đong lắc chẳng đầy
Mái lá đáy hồ thoi thóp ngủ
Mảnh đò trên bãi lặng yên say
Đất trời vẫn cứ còn nguyên thế
Gió cát nào đâu đã đổi thay
Chẳng biết hôm nao vàng trút sạch
Để mầm xanh mới nảy nơi đây
ĐÊM THU
Bên trời vàng ủng ánh trăng suông
Từng đợt heo may gõ cửa buồng
Loáng thoáng trại xa đôi tiếng gáy
Chập chờn chùa cũ một hồi chuông
Thương con vạc trắng còn chưa ngủ
Giận lũ chim non đã động chuồng
Năm tháng mải mê chừng đã mỏi
Đêm thu dài rộng trải trên giường.
HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG
(Bến Triều hè Đinh Hợi)
Hoàng hôn đã tắt cuối triền sông
Những chiếc sà lan chạy giữa dòng
Mấy khúc cuộn mình ôm sóng cả
Một đầu gầm rú vỡ thinh không
Giang sơn mấy độ qua chinh chiến
Đất nước từng phen đổ máu hồng
Muôn cuộc qua rồi không trở lại
Ngàn sau còn đó giữa mênh mông
BIẾT ĐÂU SỐ PHẬN
Nếu biết ta mình chẳng có duyên
Thì thôi đành vậy cố mà quên
Cúc vàng rời khỏi đồi Hoàng Cúc
Sen trắng quay về bến Bạch Liên
Buồn đó đợi qua kỳ cách biệt
Vui đây chờ đến lúc đoàn viên
Biết đâu số phận bày ra thử
Cố gắng kiên trì sự mới
nên
CẢM XÚC SAO ĐỎ
(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)
Thị trấn thanh xuân mới buổi nào
Thời gian thấm thoắt có là bao
Bước chân đi tới đường thêm rộng
Ánh mắt nhìn sang phố đã cao
Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy
Trường vui trẻ đến sóng sôi trào
Ba mươi năm ấy miền quê núi
Rực cháy huy hoàng một ánh sao.
Làm thơ vốn
là công việc cả đời của những người theo nghiệp văn chương. Cũng giống như cầy
cấy gieo trồng là công việc của người nông dân vậy. Cái sự làm thơ hay cầy cấy
cho dù tài giỏi đến đâu thì cũng phải tìm tòi, phải học mới làm tốt được. Những
ngưòi không hoàn toàn theo nghiệp văn chương nhưng lại yêu thơ và thích làm thơ
nhưng chưa có nhiều thời gian đi sâu tìm hiểu cách thức làm thơ thì đọc, viết
và tìm hiểu luôn cho những kết quả tốt đẹp. Khi ta đi sâu nghiên cứu mới thấy
nhiều cái ta còn nông cạn và thiếu hiểu biết dường bao.
Viết được
đôi điều trên ra giấy thực chất là sự cố gắng trong việc tìm đọc và xin vắng mặt
nhiều kiến thức của các tác giả đã viết ra trước đó trong giáo khoa và trong
các nghiên cứu đã được in thành sách. Trong đó còn có cả công sức của nhiều người
trong sự góp ý sửa chữa. Đáng quý hơn nữa là cho cả những sáng tác tâm huyết của
mình để làm mẫu. Xin được trân trọng cảm ơn tất cả và mong sự thể tình cho những
sai sót nếu có.
Về phần nội dung của sách, cũng xin bày tỏ rằng với tinh thần hiểu thế
nào thì viết thế ấy, ngõ hầu để các bậc thi huynh, thi hữu cùng tiếp tục góp ý.
Mong sao một ngày không xa nữa có một tài liệu đơn giản, dễ hiểu và tốt hơn
dùng cho mọi người
Viết xong tháng 6
năm 2002
Sửa
lại tháng 11/2008
Lê
Trọng Hồng
[1] Theo
Lý luận văn học /trang 328 NXB giáo dục
[2] Theo
lý luận văn học - NXB giaó dục
[3] Dân
gian bài bác những người luôn máy móc từ hai vế đối: “Thần nông giáo dân nghệ
ngũ cốc / Thánh sâu gươm vua gừng tam cò”
MỤC LỤC
PHẦN 1: KẾT CẤU BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
I. CÂU TỪ TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
II. VẦN VÀ HIỆP VẦN THƠ ĐƯỜNG LUẬT.
II.1. Hiệp vần trong bài tứ tuyệt: có 3 vần
II.2. Hiệp vần trong bài bát cú: có 5 vần
III.1. Khái niệm về luật thơ Đường luật
III.2. Sơ đồ các dạng thơ Đường luật
III.3. Các bài Đường luật theo sơ đồ
V. NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
VI. KIỂM TRA NHANH NIÊM VÀ LUẬT
IX. VÀI DẠNG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
ĐẶC BIỆT
X. CÁCH DÙNG TỪ NGỮ
TRONG THƠ ĐƯỜNG
XI. CẤU TRÚC CỦA BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
XI.1.Tìm hiểu về đầu đề bài thơ
XI.3. Tìm hiểu về hai câu thực
XI.4. Tìm hiểu về hai câu luận
XII. VỀ ĐỐI TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
XII.2. Tiểu đối (còn gọi là tự đối)
XIII. XƯỚNG HOẠ THƠ ĐƯỜNG LUẬT
XIII.2. Hoạ ngược vần (nghịch vận)
Thứ Sáu, 11
tháng 3, 2011
EM THEO VỀ HỘI
Bao mùa bận việc nơi xa
Gặp khi tết đến về nhà quê xưa
Dạo qua Đồng Cửa, Vườn Rừa
Nắng xanh Đồng Xác, khói mờ Đồng
Din
Ai đang lạ lẫm đứng nhìn
Người làng ta cả, em tin vậy mà
Mạ sân vừa đến độ già
Chỉ vài bữa nữa ruộng nhà cấy xong
Hội làng vừa đến độ đông
Em theo về hội, anh không phải chờ.
Thứ Hai, 28
tháng 3, 2011
TÌM
HIỂU VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT (PHẦN II)
b) Niêm
Niêm trong thơ Đường luật
chỉ sự kết dính của các câu theo một quy tắc bắt buộc. Niêm xác định bởi từ thứ
2 của các câu theo thể thức từng cặp giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc.
- Trong thơ tứ tuyệt niêm
là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2 của các cặp câu:
1-4; 2- .
- Trong thơ thất ngôn bát
cú niêm là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2 của các
cặp câu: 1-8; 2- ; 4-5; 6-7.
Ví
dụ:
Sáu
mươi
(Lê
Trọng Hồng)
|
Sáu |
mươi |
lặng lẽ bước đường xa |
|
Thoắt |
cái |
thời gian đã đến già |
|
Khúc |
hát |
xông pha chưa kịp dứt |
|
Bài |
thơ |
chiêm nghiệm mới vừa ra |
|
Vườn |
Xuân |
cứ hẹn kêu đi tới |
|
Ngõ |
Trúc |
khi cần đón lại qua |
|
Muôn |
sự |
ngoài đời không vướng bận |
|
Đôi |
dòng |
thi phú một hồn ta. |
Cặp
1-8 cùng bằng (mươi / dòng); cặp 2-3 cùng trắc (cái / hát); cặp 4-5 cùng bằng
(thơ / xuân); cặp 6-7 cùng trắc (trúc / sự)
c) Giản hoá về luật
Cả
4 sơ đồ trên nếu thực hiện đúng cả thì rất tốt. Tuy vậy trong thực hành chỉ cần
giữ đúng bằng trắc với các từ ở cột 2, 4, 6 là được (đương nhiên cột 7 là cột
gieo vần thì phải tuân thủ đúng). Với gợi ý này các cụ ta xưa nói: “Nhất,
tam, ngũ bất luận - Nhị, tứ, lục phân minh” là thế.
d) Kiểm tra nhanh Niêm và Luật của
bài thơ
Khi đã quen thuộc với thơ
Đường luật thì ít khi người làm thơ bị sai về niêm, luật. Nhưng khi mới làm thì
không thể tránh được sự sai sót này. Để cho dễ nhớ chỉ cần chú ý kiểm
tra các điểm sau:
1- Kiểm tra
về luật
- Từ thứ 2
và thứ 6 trong câu bao giờ cũng cùng bằng hoặc cùng trắc.
- Từ thứ 4 trong câu ngược lại với
từ 2 và 6.
2- Kiểm tra
về niêm
-
Từ thứ 2 của các câu trong bài cùng bằng hoặc cùng trắc theo từng cặp một trong
đó gồm: 1-8; 2-3; 4-5; 6-7.
đ- Về sự lặp
lại của các từ
Người làm
thơ Đường luật luôn cho rằng 28 từ trong bài thơ tứ tuyệt hay 56 từ trong bài
thất ngôn bát cú là những viên ngọc. Mỗi viên có sắc thái của nó trong cái hộp
ngọc ấy. Nếu vì một điều gì đó không cần thiết mà phải lặp lại thì lấy làm tiếc
cho sự thiếu vắng của viên ngọc đó. Vì thế nếu không cần sự nhấn mạnh hoặc tôn
vinh một điều gì thì không nên lặp lại các từ trong bài.
Tuy
nhiên việc lặp lại nhiều lần một vài từ đôi khi xuất phát từ một chủ ý nào đó
mà tác giả muốn gửi đến độc giả. Dưới đây là một ví dụ lặp lại từ. Nếu tách 2 từ
xuân ở hai câu đề, còn lại có đến 14 từ xuân đối với 14 từ tết.
Ví
dụ:
Khai bút khai
xuân
(Thơ mời
hoạ)
Chào xuân khai
bút viết thơ xuân
Mời bạn gần xa hoạ mấy vần
Xuân đến, xuân sang, xuân gặp tết
Tết về, tết lại, tết tìm xuân
Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết
Tết tới một năm tết đợi xuân
Xuân! Tết! Xuân xuân! Xuân tết tết
Tết! Xuân! Tết tết! Tết xuân
xuân.
Tuy nhiên trong một bài ta
cũng nên có 28 từ bằng và 28 từ trắc. Nếu có khoan hoãn thì cũng giữ lấy tỉ lệ
27/29 thì bài thơ sẽ hay hơn.
e- Về việc sử dụng hư từ
Những người
làm thơ giỏi khuyên ta nên sử dụng biện pháp tu từ và dùng cách tả thực hoặc diễn
thực ý, lời để bài thơ sinh động, tránh dùng những hư từ như thì, mà, là, cũng,
đã, vì, với, vẫn vv... trong thơ. Tuy nhiên nếu sử dụng hư từ khéo thì vẫn có
hiệu quả đáng kể.
Ví dụ:
...Tấm
thân xiêm áo sao mà nhẹ
Cái giá
khoa danh thế mới hời...
(Vịnh tiến sĩ giấy - Nguyễn Khuyến)
Sao mà và thế
mới trong Vịnh tiến sĩ giấy chính là những hư từ, những
hư từ trên đây dùng quả là khéo.
g- Một vài dạng thơ Đường luật đặc
biệt
Ngoài
những quy tắc về luật và vần nói trên, những người chơi thơ Đường luật còn sáng
tạo ra khá nhiều kiểu đặc biệt. Đã có nhiều tác giả giới thiệu đến 99 cách chơi
thơ Đường luật. Dưới đây là một vài ví dụ để tham khảo.
Một
trong những cách đó là kiểu Thuận nghịch đọc, với kiểu bài này thì làm 1 mà hoá
2; thực chất đây là 2 bài thơ riêng biệt
Thuận nghịch đọc
(Đọc ngược từ dưới lên)
Bến nhớ
(Xuân Nghiệp)
Hoa đùa nắng sớm gió đưa hương
Nhớ bến cho tình chút vấn vương
Nhoà lệ ướt mi hàng liễu rủ
Bước chân nghiêng nón bóng người
thương
Xa mờ khói thẳm mây vờn núi
Giá lạnh thân cò cánh đợ sương
Tha thiết bến tình sông gợn sóng
Tà dương ánh ngả bóng lồng gương
Thủ nhất thanh
(Dùng một từ cho đầu câu)
Thủ
nhất thanh là bài thơ có một từ duy nhất đứng đầu mỗi câu, như bài Nợ dưới đây.
Những bài này mang hình thức chơi thơ là chính.
Nợ
(Lê Trọng Hồng)
Nợ trời,
nợ đất, nợ non sông
Nợ khắp
muôn người thật rõ đông
Nợ mẹ,
nợ cha miền dưỡng dục
Nợ chồng,
nợ vợ cuộc đời chung
Nợ thầy,
nợ bạn ơn đào luyện
Nợ xóm,
nợ làng lúc góp công
Nợ cõi trần
gian ngày sống gửi
Nợ đời
chừng ấy biết hay không.
Khoán thủ thi
(Đầu câu
viết theo một câu định trước)
Đây
là dạng thơ dùng các từ ở đề làm từ đầu cho từng câu một của bài thơ
Đường thi thắp sáng mở hội núi
sông
(Lê Trọng Hồng)
Đường luật
bung ra khắp mọi miền
Thi đàn dìu dặt
cuộc giao duyên
Thắp đèn
mơ đến miền kim cổ
Sáng bút
soi vào cõi thánh tiên
Mở lối
muôn nơi gieo tứ mới
Hội về mọi
ngả nối vần lên
Núi Nùng lưu dấu
nền văn hiến
Sông Nhị
khơi dòng toả rộng thêm
Tiệt hạ
(Đã đủ vận nhưng ý còn bỏ lửng)
Đây là dạng thơ không nói hết ý của
các câu nhưng thực tế khi đọc lên dường như mọi người đều đã hiểu cả
Hư danh
(Lê Trọng Hồng)
Ngộ tý văn chương đã tưởng là...
Cố công học hỏi để cho ra...
Nào hay vừa đó người rằng sắp...
Biết vậy hôm xưa tớ chẳng thà...
Trót đã theo đòi nên cũng phải...
Thôi thì níu bám để cho qua...
Cũng vì sĩ diện xui nên cảnh...
Vì cái hư danh đến nỗi mà...
4- Tìm hiểu về cách dùng từ ngữ
trong thơ Đường
a) Chiết tự
Đây là
cách triết tự trong thơ chữ Hán. Ghép từng phần của chữ để chỉ sự việc)
Ví dụ:
Duyên thiên chưa
thấy nhô đầu trọc
Phận liễu sao
đà nảy nét ngang
Cái nghĩa trăm
năm chàng nhớ chửa
Mảnh tình một khối
thiếp xin mang...
(Không chồng
mà chửa - Hồ Xuân Hương)
Chữ Thiên (天) kéo dài đầu lên thành chữ (夫) Phu / chồng, đây chỉ sự
chưa có chồng. Chữ Liễu (了) nếu có nét ngang thành ra
chữ (子) tử
/ con, đây chỉ sự đã có con.
Nhớ
chửa là câu hỏi nhưng lại chỉ người phụ nữ có chửa, xin mang là
câu chỉ sự chấp nhận nhưng lại chỉ sự mang thai .
b) Tránh khổ
độc
Một số bài
thơ làm theo tiêu chí (nhị, tứ, lục phân minh) nhưng khi áp dụng (nhất, tam,
ngũ bất luận) lại để từ thứ 5 (ngũ) và thứ 7 (thất) cùng bằng hoặc cùng trắc
(nói rõ hơn là từ cuối câu cùng bằng hoặc cùng trắc) dẫn đến câu thơ khi đọc
lên thấy cộc và không êm tai, những trường hợp này gọi là khổ độc cần chú ý
tránh phạm phải như ví dụ dưới đây.
Ví
dụ 1:
- Từ 5 (Về), từ 7 (Mai) câu 1 dưới
đây đều cùng bằng (hoặc cả 3 từ cuối (về Thanh Mai) cùng bằng).
Vui chân theo bạn về Thanh Mai
Mới thấy đường đi cũng chẳng dài
- Thay Đến (trắc) vào Về (bằng),
ta có từ 5 trắc và từ 7 bằng, câu thơ đọc lên sẽ êm hơn.
Vui chân theo bạn Đến Thanh Mai
Mới thấy đường đi cũng chẳng dài
Ví
dụ 2:
- Từ 5 (gọi), từ 7 (động) câu 1 dưới
đây đều cùng trắc hoặc cả 3 từ cuối (gọi chẳng động) cùng trắc
Cánh cổng lầm lỳ GỌI chẳng động
Bờ tường ngất ngưởng KÊU không qua
- Thay KÊU vào GỌI của câu thơ
trên, ta có từ 5 bằng và từ 7 trắc. Thay từ GỌI vào KÊU của câu thơ dưới, ta có
từ 5 trắc và từ 7 bằng, đọc lên sẽ êm hơn.
Cánh
cổng lầm lỳ KÊU chẳng động
Bờ
tường ngất ngưởng GỌI không qua
c) Tránh
quá mức cầu kỳ
Vấn
đề từ ngữ trong thơ Đường luật có rất nhiều kiến giả cho rằng cần phải lựa chọn
kỹ, đó là sự tất yếu, tuy nhiên nếu quá chú trọng, khuôn phép thường làm mất đi
cái giản dị, tự nhiên. Ngày nay đã thấy nhiều kiến giả cho rằng thơ Đường luật
cũng nên sử dụng từ ngữ dung dị trong đời sống để bài thơ đỡ khô cứng mở rộng sự
tiếp nhận của mọi tầng lớp trong xã hội.
5- Tìm
hiểu về đầu đề bài thơ
Thơ Đường
luật rất coi trọng đầu đề. Đầu đề bài thơ chỉ rõ thực chất bài thơ nói về cái
gì, có như thế độc giả mới có thể hiểu được ý tứ của tác giả. Đầu đề bài thơ Đường
luật của các cụ ta xưa luôn ngắn gọn và cô đọng. Sức biểu đạt của đầu đề rất đặc
trưng và không kém phần gợi cảm. Dưới đây xin dẫn bài Thiếu nữ đi tu của
cụ Tú Xương cho nội dung tìm hiểu thơ Đường tiếp theo
6- Tìm hiểu về hai câu đề của bài
thơ
Trong thơ thất ngôn bát cú
hai câu đầu được xác định là một cặp đề. Đây là những câu mở đầu của một bài
thơ Đường luật làm rõ thêm cho chủ đề bài thơ.
Ví dụ: Hai câu đề
trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Con gái nhà ai dáng thị thành
Cớ sao nỡ phụ cái xuân xanh
Câu 1 gọi
là phá đề “Con gái nhà ai dáng thị thành” với chức năng giới thiệu
mở đầu. Câu 2 gọi là thừa đề “Cớ sao nỡ phụ cái xuân xanh” với
chức năng mở rộng và làm sáng tỏ thêm
7- Tìm hiểu về hai câu thực của bài
thơ
Hai câu 3
và 4 là hai câu thực. Hai câu này nêu lên những hình ảnh, sự việc, trạng thái
đã có, đã nhìn, nghe hoặc cảm nhận được, làm chứng cớ cho những điều ta sẽ bàn
luận đến và rồi phổ vào đó cái nhận định, cái chủ ý mà ta muốn mọi người cùng
hiểu với ta. Hai câu thực phải có cấu trúc là một cặp đối chọi với nhau.
Ví
dụ: Hai câu thực trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Nhạt màu son phấn say màu đạo
Mở cánh từ bi khép cánh tình
8- Tìm hiểu về hai câu luận trong
thơ Đường luật
Hai câu 5
và 6 là hai câu luận. Hai câu này nói rõ những nhận định của ta về cái mà 2 câu
đề và 2 câu thực của bài thơ vừa mới tạo ra. Hai câu luận cũng là một cặp đối
thứ 2 trong bài thơ. Luận là phần quan trọng trong cấu tứ bài thơ. Nếu bài thơ
không có luận thì người ta không biết bấu víu vào đâu để mà hiểu tác giả nữa.
Nói
như vậy thì một số bài thơ Đường có ý trốn luận có lẽ không còn tứ nữa? Hoàn
toàn không phải như thế vì cho dù có trốn luận thì hai câu ấy vẫn hiện diện. Nó
có thể là hai câu thực nữa và cặp thực thứ hai này chồng chận lên cặp thực trước
nó. Như thế thì cái luận đã xuất hiện rồi, xuất hiện bằng sự nhấn mạnh vậy. Tuy
nhiên luận rõ, luận sắc sảo, luận hay vẫn là điều không thể thiếu.
Ví
dụ: Hai câu luận trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Miệng đọc nam vô quên chín chữ
Tay lần tràng hạt phụ ba sinh
Hai từ
(quên) và (phụ) chính là ý kiến tác giả phê phán về cái sự đi tu của cô gái nọ
chính là cái sự quên báo hiếu, phụ công cha mẹ sinh thành. Luận rõ và rất cụ thể.
9- Tìm hiểu về
hai câu kết trong thơ Đường luật
Gọi là kết có nghĩa là cuối
của một vấn đề. Tại điểm đó người ta chờ đợi một nhận định cụ thể sau sự phô diễn
của ba cặp đề, thực và luận trên kia. Kết hoàn toàn là sự khảng định lại những
gì mà ta đã bàn luận trước đó. Kết có thể nói rõ hơn ra cái sự nhận định của
tác giả và cái đích của bài thơ đã rõ.
Tuy nhiên một số cặp kết của
nhiều tác giả lại không tỏ quan điểm của tác giả mà chỉ là sự gợi mở dành cho
người đọc tự kết luận lấy. Những bài thơ có tầm vóc là những bài cho đến cuối
cùng tác giả vẫn còn để lại một khoảng để độc giả cùng suy ngẫm, cùng tưởng tượng
và cùng sáng tạo. Nghĩa là bài thơ có chủ đề tư tưởng thật rộng, ai đọc nó cũng
thấy có cái bản ngã trong đó. Bài thơ không còn của riêng ai và cũng không còn
là của tác giả nữa. Khái niệm sáng tác và tác giả mờ dần đi để sản phẩm trở
thành tài sản trí tuệ vô giá, tồn tại đến muôn đời.
Ví
dụ: Hai câu kết trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương
Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế
Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh
Đến cuối cùng thì tác giả
đã chỉ ra rằng một cô gái xuân xanh hơ hớ như thế sao lại nỡ phụ công cha mẹ để
đi tu và điều đó thật đáng tiếc, đáng trách. Một cái kết mở rõ và cũng rất cụ
thể.
10- Tìm
hiểu về đối trong thơ đường luật
Đối trong thơ Đường luật được
thực hiện ở cặp thực và cặp luận. Đối còn có thể thực hiện ở cặp đề nếu bài thơ
trốn vận (nghĩa là câu đầu không vần với câu 2 và vần của toàn bài). Đối cũng
có thể thực hiện ở cả cặp kết của bài thơ.
Đối được chú trọng cả về
thanh và ý, thanh biểu hiện ở bằng đối với trắc, ý thì phải phù hợp với quan niệm
phổ biến trong cộng đồng về đối chọi và sự chuẩn xác không thể cốt đối mà chẳng
có ý nghĩa gì theo kiểu: “Thần nông... đối với thánh sâu...”. Cũng
cần tránh hiện tượng trùng phức, rõ là hai câu nhưng lại chỉ có một ý, nói đơn
giản là bệnh “nứa bổ” dùng ý câu trên trùng lặp với ý câu dưới. Tóm lại đối là
đặc trưng của thơ Đường luật. Nếu không đối thì không thể gọi là thơ Đường luật.
Tuy nhiên giữa thanh và ý thì nên hy sinh thanh để giữ ý.
a) Công đối
Đối thật hoàn chỉnh ta gọi
là công đối, trường hợp này yêu cầu rất chặt chẽ, thậm chí từng từ của vế dưới
đối với từng từ của vế trên. Trong đối còn yêu cầu từ thuần Việt đối với từ thuần
Việt, từ Hán Việt đối với từ Hán Việt, thực từ đối với thực từ, hư từ đối với
hư từ, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ
vv...
Theo Nguyễn Sĩ Đại, trong
“Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” thì ngay danh từ thôi
cũng phải đối với danh từ thích hợp. Về thiên văn thì (nhật nguyệt đối với
phong vân); về địa lý thì (sơn thuỷ đối với giang hà); về cung thất
thì (lâu đài đối môn hộ); về văn cụ thì (bút đối với nghiên); về
nhân sự thì (đạo đức đối với tài tình); về văn học thì (thi và phú);
về thảo mộc thì (đào và lý); về ẩm thực thì (trà và tửu) vv...Theo
Hoài Yên trong “Học nhanh luật thơ Đường” nói về phép đối ngẫu đời Đường thì có
đến 16 cách đối, trong đó 8 cách đối về nội dung và 8 cách đối về hình thức...
Quả là hơi khó, nhưng có khó mới phải tìm hiểu.
Dưới đây là một số ví dụ về đối
trong thơ Đường luật
Hà Thành xuân đến/ còn
phong kín
Văn Miếu thơ về/ chợt mở toang
(Cả
nước phang - Lê Trọng Hồng)
Vườn hồng/ tráng nắng/ hương còn nức
Lối cỏ/ mù sương/ lệ vẫn đầm
(Nghe
đàn - Lê Trọng Hồng)
Tiếng chim/ sau núi/ lưa thưa hót
Bông gạo/ trên cành/ lặng lẽ rơi
Ánh nắng/ chiều vàng/ đang tụ lại
Vầng trăng/ đêm trắng/ sắp chia
phôi
(Cuối
xuân cảm tác - Lê Trọng Hồng)
Một duyên/
hai nợ/ âu đành phận
Năm nắng/
mười mưa/ dám quản công
(Thương
vợ - Trần Tế Xương)
Xuyên hoa
giáp điệp thâm thâm hiện
Điểm thuỷ
thanh đình khoản khoản phi
(Khúc
giang nhị thủ - Đỗ Phủ)
Trong đối còn có nhiều cách
khác nữa, trong đó: Tiểu đối, tá đối, lưu thuỷ đối vv...
b) Tiểu đối (còn
gọi là tự đối)
Ví dụ:
Phong kiều dạ bạc
(Trương Kế)
Nguyệt lạc / ô đề / sương mãn
thiên
Giang phong / ngư hoả / đối sầu
miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán trung thanh đáo khách thuyền
Hồi hương ngẫu thư
(Hạ Tri Chương)
Thiếu tiểu ly gia / lão đại hồi
Hương âm vô cải / mấn mao tồi
Nhi đồng tương kiến bất tương thức
Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai
Tiểu đối là đối ngay trong
câu; ý sau đối với ý trước. Trong câu có thể có 2 hoặc 3 vế tự đối như hai bài
ví dụ trên.
c) Lưu thuỷ
đối
Lưu thuỷ đối biểu hiện ở
câu trên nói chưa hết ý lập thành một vế đối, câu dưới tương phản và chuyển tiếp
ý lập thành vế đối thứ hai.
Ví
dụ:
Vế
trên nói về một sự việc, còn vế dưới đối với vế trên, nhưng lại là sự chuyển tiếp
ý của vế trên.
Nhất
nhật tại tù
Thiên
thu tại ngoại
(Nhật
ký trong tù -Thơ Nguyễn Ái Quốc)
Đã
sinh ra ở trong trời đất
Phải
có danh gì với núi sông
(Thơ
Nguyễn công Trứ)
d)
Tá đối
Tá đối là dùng những từ có
nhiều nghĩa, khi biểu đạt thì dùng một nghĩa, khi đối thì dùng nghĩa khác của từ
đó để đối với nhau.
Ví dụ 1:
Cúc vàng rời khỏi đồi Hoàng Cúc
Sen trắng quay về bến Bạch Liên
Nắng hạ, mưa thu đành cách biệt
Người về, ta đến khó đoàn viên
(Biết
đâu số phận- Trọng Hồng)
đ) Khoan đối
Cũng có những bài thơ có
các cặp đối không chỉnh hoặc không đối, đó là những trường hợp ta gọi là khoan
đối. Khoan đối áp dụng cho những bài thơ có cấu tứ đặc sắc, tính tư tưởng, tính
nghệ thuật cao, làm cho số đông người đọc thấy xúc động. Vì vậy người làm thơ
hãy cứ để cho tâm hồn bay bổng, đừng vì chấp nhất về bất cứ điều gì làm cho bài
thơ khô cứng và nhàm chán.
Ví
dụ:
Cánh sóng lăn tăn vờn cuối
bãi
Làn mây hờ hững níu tầng
không
(Về
quê - Lê Trọng Hồng)
Rõ
ràng lăn tăn chỉ sự chuyển động, còn hờ hững chỉ
tính cách. Cũng như trên từ cuối bãi đúng là chỉ vị trí cụ thể
còn tầng không thì không. Có vẻ như đối đấy nhưng chỉnh
thì chưa.
Tuy
nhiên cũng đã có người dùng từ lăn tăn để nói về sự phân vân
theo cách nói lóng, như vậy thì nó cũng đã chỉ tính cách đấy chứ (?)
11- Về xướng hoạ trong thơ Đường luật
Xướng hoạ trong thơ Đường
luật là việc dựa vào một một bài thơ khởi đầu của một người nào đó gọi là bài
thơ xướng để viết một bài thơ khác hoạ lại bài thơ khởi đầu đó. Với cách làm
này, những người làm thơ có thể tiếp xúc, đồng cảm, gần gũi với nhau hơn. Những
bài hoạ có thể theo cùng chủ đề của bài xướng, nhưng cũng có thể theo một chủ đề
khác, như vậy gọi là hoạ nương vần (hoạ bộ vận), điều đó hoàn toàn có thể được.
Tuy nhiên nhất định không để từ thứ 6 (từ áp vận) của các câu bài hoạ lặp lại từ
thứ 6 của các câu bài xướng.
Về hình thức hoạ có thể dựa
hoàn toàn vào vần và trật tự các vần của bài xướng, hoặc chỉ dùng một số vần và
thay đổi trật tự của tất cả các vần như nhiều cách dưới đây. Về phía bài xướng
cần phải lưu ý đến sự thanh thoát, giầu xúc cảm về nội dung và hết sức
tránh các dạng bài có hình thức quá phức tạp cùng với các vần quá hiểm,
quá khó tìm thì mới mong có được nhiều bài hoạ của mọi người.
a- Hoạ
nguyên vần
Hoạ nguyên vần là
bài hoạ phải theo sát chủ đề, giữ nguyên vần và xếp vần theo đúng thứ tự vần của
bài xướng.
Ví dụ:
Với
các vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Phó thường dân dưới
đây
Phó thường dân
(Bài xướng)
Từ ngày trở lại phó thường dân
Mọi sự đua chen cũng nhạt dần
Sáng đến đôi trang tăng trí não
Chiều về mấy chưởng giúp rèn thân
Cơm rau dưa giá thanh mà ngọt
Áo sợi bông tơ mát lại thuần
Phú quý mặc ai nơi huyện sở
Một mình vui cảnh phó thường dân
Với
các vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Với
bình dân dưới đây
Với bình
dân
(Hoạ bài Phó thường dân)
Người nào chẳng ở chốn bình dân
Cố nhớ đừng quên mất gốc dần
Phú quý quen mùi chừng khó bỏ
Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân
Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp
Bình dị, thanh cao, tính
cũng thuần
Cái sự làm mình ra khác lạ
Sao bằng trở lại với bình dân
b-
Hoạ ngược vần (nghịch vận)
Hoạ ngược vần là bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng xếp vần
theo thứ tự từ cuối ngược lên đầu
Ví dụ:
Với các vần: thơ, giờ,
sơ, chờ, thơ và ngược lại: thơ, chờ, sơ, giờ, thơ trong 2 bài thơ dưới đây
Gặp bạn thơ
(Bài xướng)
Bao năm mới gặp bạn yêu thơ
Cả nước về vui suốt mấy giờ
Chẳng kể trẻ già cùng lớn bé
Cần gì cũ mới với thân sơ
Chia tay ngày ấy đành xa cách
Họp mặt hôm nay luống đợi chờ
Mấy thuở cuộc đời ta được vậy
Nỗi niềm xúc cảm gửi vào thơ
Chia
cách
(Hoạ bài Gặp
bạn thơ)
Mấy dòng
giã biệt chép thành thơ
Tặng lại
cho ai vẫn đứng chờ
Tiếc bởi
tiễn đưa đầy quý mến
Trách vì
chào đón quá đơn sơ
Vui khi
thân mật chiều nay vậy
Buồn lúc
chưa quen buổi bấy giờ
Chia cách
đã gần trong chốc lát
Mấy dòng
giã biệt chép thành thơ
c- Hoạ đảo
vần
Hoạ đảo vần là
bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể đảo thứ tự trên xuống dưới hoặc
dưới lên trên một vài vần của bài xướng
Thắp lửa xong rồi gắng chủ trương
(Hoạ thơ
Nguyễn Văn Liêm)
Chẵn chục năm theo với luật Đường
€Kinh Thầy bóng nước đã thơm hương
Ý tình nhã nhặn vang muôn nẻo
Cấu tứ thanh tao vọng bốn phương
Mỗi chữ chuốt chau chừng đã khéo
Từng câu giản dị vốn không thường
Nhân về dự hội đôi lời chúc
Thắp lửa xong rồi gắng chủ trương
Gửi về Nam Sách vạn yêu
thương
(Hoạ thông, thơ Nguyễn Văn Liêm và
Trần Thế Mẫn)
Mười năm bền chí với thơ Đường
Bóng nước Kinh Thầy thắm sắc hương
Đạo cốt thanh tao lời thánh thiện
Ý tình nhuần nhã dáng phong sương
Nhân văn phẩm hạnh vừa khai mở
Trí lực tâm tư đã khác thường
Một áng thơ mừng đầy ngưỡng mộ
Gửi về Nam Sách vạn yêu
thương.
-
Bài Thắp lửa xong rồi gắng chủ trương với các vần: Đường,
hương, phương, thường, trương.
-
Bài Gửi về Nam Sách vạn yêu thương với các vần: Đường,
hương, sương, thường, thương.
Hai
bài trên được hoạ nguyên ý với các vần giống nhau:
-
Đường, hương, thường cùng vị trí và phương, trương, sương, thương ở các vị trí
tuỳ ý.
d- Hoạ loạn
vần
Hoạ loạn vần là
bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể thay đổi tuỳ ý vị trí của tất
cả các vần. (xem ví dụ trên)
đ- Hoạ lựa
vần
Hoạ lựa vần là
bài hoạ chỉ dùng một vài vần của bài xướng, các vần còn lại có thể thay đổi tuỳ
ý người hoạ (xem ví dụ trên)
e- Hoạ nối
vần
Hoạ nối vần là
bài hoạ dùng cả câu cuối và vần của bài xướng làm câu đầu và vần của bài hoạ.
Ví
dụ:
Giao thừa
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu
Kẻ đến dùng dằng mong nán lại
Người về tấp tểnh muốn qua mau
Ai giao ai nhận ai giao nhận
Ai đến ai về ai tiếp sau
Cái sự luân phiên không sở cứ
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Về hưu
(Hoạ bài Giao thừa)
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Đơn độc mình ta cạn chén sầu
Sáu chục mùa xuân sao thấy ngắn
Mấy mươi cái tết thật là mau
Về hưu đã hẳn ta qua trước
Ở lại đương nhiên bạn đến sau
Cõi thế xưa nay không chịu đổi
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Hai
bài trên được hoạ nguyên vần, câu cuối bài Giao thừa là
câu đầu bài Về hưu.
12. Đôi lời cuối sách
Làm thơ vốn
là công việc cả đời của những người theo nghiệp văn chương. Cũng giống như cầy
cấy gieo trồng là công việc của người nông dân vậy. Cái sự làm thơ hay cầy cấy
cho dù tài giỏi đến đâu thì cũng phải tìm tòi, phải học mới làm tốt được. Những
ngưòi không hoàn toàn theo nghiệp văn chương nhưng lại yêu thơ và thích làm thơ
nhưng chưa có nhiều thời gian đi sâu tìm hiểu cách thức làm thơ như bản thân
tác giả thì đọc, viết và tìm hiểu luôn cho những kết quả tốt đẹp. Khi ta đi sâu
nghiên cứu mới thấy nhiều cái ta còn nông cạn và thiếu hiểu biết dường bao.
Viết
được đôi điều trên ra giấy thực chất là sự cố gắng trong việc tìm đọc và xin vắng
mặt nhiều kiến thức của các tác giả đã viết ra trước đó trong giáo khoa và
trong các nghiên cứu đã được in thành sách. Trong đó còn có cả công sức của nhiều
bậc đàn anh trong sự góp ý sửa chữa. Đáng quý hơn nữa là cho cả những sáng tác
tâm huyết của mình để làm mẫu. Xin được trân trọng cảm ơn tất cả và mong sự thể
tình cho những sai sót nếu có.
Về
phần nội dung của sách, cũng xin bày tỏ rằng với tinh thần hiểu thế nào thì viết
thế ấy, ngõ hầu để mọi người góp ý. Mong sao một ngày không xa nữa có một tài
liệu đơn giản, dễ hiểu và tốt hơn đóng góp vào các nghiên cứu về thơ Đường luật
dùng cho mọi người
Viết xong tháng 6
năm 2007
Sửa lại tháng 11/2008
Thứ Ba, 9
tháng 8, 2011
NGẠO ĐỜI
Cáo vẫn nhe răng đợi bắt gà
Người đòi biến hoá tựa như ma
Khôn ranh tráo trở cong thành thẳng
Dại dột ngu ngơ chính hoá tà
Làm một nói mười khôn vẫn lọt
Lỗi trăm kể một khéo mà qua
Mới hay mọi sự không như ý
Thiên hạ xem chừng chẳng nhận ra
TẠO “LỐC”
Tạo “lốc” hình như để lấy oai
Ngờ đâu hũ nút cả trong ngoài
Bấy chầy chẳng thể khua ra chữ
Mai nữa chưa chừng vướng phải gai
Đến cuộc mới hay nhiều vướng víu
Vào rồi chợt hiểu lắm bi hài
Loăng quăng vài tiếng khơi mào vậy
Mong bạn qua thăm hoạ một bài.
SỐ PHẬN THƠ CÁCH LUẬT
Đã khi bài cổ chạy theo đời
Cách luật xem chừng ít kẻ chơi
Ông bảo cũ càng coi chán mắt
Bà chê đơn điệu đọc thừa hơi
Tưởng khi đè ép rồi tan cuộc
Chợt lúc bung ra lại gặp thời
Khắp chốn làm thơ in bán sách
Muôn nơi xướng hoạ gửi đi mời
THƠ ĐÒI ĐƯỢC GIẢI (PB1)
Thơ đòi được giải lạ kỳ thay
Thiên hạ giật mình lắm sự hay
Chuẩn mực kẻ cầm không tính mốc
Bậc thang người nắm cốt vừa tay
Dở thầy dốt thợ tha hồ phán
Mượn cháo sang cơm thả sức xoay
Nhiễu sự bày ra thi với thố
Thơ đòi được giải lạ kỳ thay
KHOE THẠO LUẬT ĐƯỜNG
Mấy vị khoe ta thạo luật Đường
Chỉ toàn trích cú với tầm chương
Kén sâu gợi điển rành cho hiếm
Bày khó gieo vần thật rõ xương
Nửa khúc ca dao quên chẳng tỏ
Vài câu tục ngữ nhớ không tường
Tiếng Kinh chửa sõi đòi đe Mán
Chữ Thổ chưa thông đã doạ Mường
MUA CHỮ
Thiên hạ xem xong vỡ bụng cười
Thơ gì nhốn nháo giống gà bươi
Lời nghiêng ý ngửa xoay như chóng
Đối chéo vần ngang quấy tựa rươi
Cộc ngữ cay xè trò ớt mốc
Thô ngôn đắng ngắt vẻ gừng ươi
Tưởng đâu cụ xẩm đi mua chữ
Khéo nhặt may thì vớ của
tươi.
KIẾP NHÂN SINH
Ngẫm cuộc nhân sinh luống bận lòng
Cả đời vướng tựa mớ bòng bong
Muốn hay chẳng hiểu sao thành dở
Thích thẳng vì đâu lại hóa cong
Có dễ phúc phần không chịu bén
Thay vì nghiệp chướng chửa cho
xong
Cố công luồn lách như lươn chạch
Mà mẹt bung vành chẳng hoá nong
BỠN CÁI ĐƯỜNG THI
Gặp cái Đường thi bỡn mấy dòng
Luật giờ tưởng thẳng thế mà cong
Đối kêu chan chát ròn như pháo
Tứ bảo thâm sâu kín tựa nong
Niêm nối dây dưa vừa bốn cặp
Vần gieo thủng thẳng đủ năm vòng
Tưởng đâu đúng kiểu cho là được
Ai biết rằng thơ dễ lộn sòng
THƠ ĐƯỢC GÓI XÔI
Viết mãi thơ xuân chật cả rồi
Bây giờ thêm tý để chơi thôi
Này câu Lục bát xanh mi mắt
Nọ khúc Đường thi tím khoé môi
Dài ngắn cũng thì đen nét mực
Thấp cao hồ dễ trắng dòng vôi
Đầu năm cóp nhặt vài ba chữ
Cố đấm may thì được gói xôi
THỬ MẤY CHIÊU
Mấy vị thơ già cũng thích yêu
Tinh mơ cho đến tận trưa chiều
Lúc thương cô tám khen vài chữ
Khi mến nàng ba ngỏ mấy điều
Ráo rác thăm nom vần lả lướt
Rộn ràng gặp gỡ ý phiêu diêu
Té ra các cụ khoe trên giấy
Để vợ ghen sằng thử ít chiêu
PHẠT MẤY CHIÊU
(Hoạ Thử mấy
chiêu)
Mấy cụ thơ già rất khoái yêu
Qua trưa chửa hết lại sang chiều
Sáng thương kẻ mới đôi ba chữ
Tối nhớ người xưa sáu bẩy điều
Sờ hũ trống không khan rượu uống
Nắn bao lép kẹp hiếm tiền tiêu
Té ra vợ tưởng không chung thuỷ
Giận dỗi âm thầm phạt mấy chiêu
COI CHỪNG GẬY VÍA
Đã lâu mới lại đến thăm ông
Chữ nghĩa ra tuồng đã khá ngông
Góp ý phê bình chừng lớn lối
Chê bai miệt thị khéo phèng bông
Ngắn dài cũng thể cần cố sức
Cao thấp đều do phải gắng công
Ngứa ngáy bày trò đòi thóc mách
Coi chừng gậy vía chọi vô mông.
CHỖ ẤY TRỜI CHO
Bà bảo vào hang Thánh Hoá coi
Xem xong chẳng hiểu sáng hay lòi
Này hầm cổ tích hương dìu dịu
Nọ ổ nguyên sơ vị mặn mòi
Rậm rạp bày ra ngăn quấy đảo
Lam nham khép lại cản săm soi
Dở hay cũng bởi trời sinh thế
Thiên hạ từng khen khéo hẹp hòi
Thứ Bảy, 25
tháng 6, 2011
NGẪU HỨNG ĐỜI THƠ
(Tặng các nhà thơ mà ta từng yêu mến)
Ta đã từng quen tin những dòng thơ
Từ tim óc những cuộc đời từng trải
Chợt phát hiện phía sau niềm khắc
khoải
Một câu cười ngơ ngác đến hồn
nhiên.
Tất cả những gì từng có trong tim
Bao yêu mến hoá ra toàn oán hận
Bao chân lý hoá ra toàn ngộ nhận
Để mơ hồ đau đớn đến cuồng điên.
Ai đã soi mình vào chiếc gương
xiên
Để mơ thấy một hình hài biến ảo
Để xem thấy một góc tròn đáy chảo
Ngỡ như mình khác lạ một trời
riêng.
Chẳng ai hèn khi một chốc chưa
thiêng
Một chốc nhỏ nhoi thường tình vốn
có
Một chốc riêng mình giữa nơi gậm
xó
Gói trong lòng ngọn sáng chữ trung
trinh.
Chẳng ai buồn khi mình bị rẻ khinh
Cái ngốc nghếch một thời còn quá
trẻ
Cái xa xót bởi những lần sứt mẻ
Những niềm tin chợt tắt bởi mưu
sinh
Nỗi đau nào rồi cũng sẽ qua nhanh
Chỉ một nỗi đau không ai tin nữa
Lòng chung thuỷ chợt bất ngờ đổ vỡ
Phản lại thời gian, phản lại chính
mình.
Ta chợt buồn khi bao tấm chân tình
Cứ chao đảo để rồi sa xuống hố
Cứ chán nản để rồi không thể cố
Vượt qua mình đi đến những miền
xa.
Ta thật may khi đã kịp nhận ra
Điều tất yếu ở giữa thời tất yếu
Gắng trụ lại với những thừa, những
thiếu
Để vui hoài với những tấm tình
thơ.
BÊN
BỜ LÃNG GIANG CÔN SƠN NÔNG CỐNG
ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀ THỊ LỘ
Bỗng đâu lá rụng hoa rơi
Bỗng đâu ngọc đá một thời nát tan
Bỗng đâu dậy đất hàm oan
Bỗng đâu máu đỏ dương gian ngập đầy
Ơi người bán chiếu Hồ Tây
Câu thơ ướm hỏi chứa đầy vấn vương
Trách chi nguyệt thẹn hoa nhường
Thâm cung hẹp lối đành vương luỵ đời
Dạy bao nhân nghĩa cho người
Còn mình đành để đất trời ghét
ghen
Trách chi phẩm đỏ, tay hèn
Làm sao tránh được trắng đen ẩn
hình
Những là oan khuất phận mình
Một loài rắn trắng tuyệt tình đáng
thương
Một tay thí nghịch bạo cường
Một thân mệnh phụ ví phường nguyệt
hoa.
Mấy ai hiểu được cho bà
Đành gieo đôi vận kết hoa dâng người
Chiều Côn Sơn vạn tiếng cười
Mênh mông hoa nắng một trời gió
đông..
BÙ NHÌN
Bù nhìn đứng đó canh ngô
Biết đâu cơm áo dạt xô cõi đời.
Bù nhìn hay chính là người
Ra hình méo mó để rồi lặng thinh
Cô đơn đứng đó một mình
Để buồn thêm cả nhân tình thế gian
Mặc cho nắng đổ, mưa chan
Không kêu, không khóc, không than
một lời
Bù nhìn ơi! bù nhìn ơi!
Một mình ngươi giữa cõi đời tênh
hênh.
Thứ Hai, 28
tháng 3, 2011
PHÓ THƯỜNG DÂN
(Bài xướng)
Từ ngày trở lại phó thường dân
Mọi sự đua chen cũng nhạt dần
Sáng đến đôi trang, tăng trí não
Chiều về mấy chưởng, giúp rèn thân
Cơm rau, dưa, giá thanh mà ngọt
áo sợi, bông, tơ mát lại thuần
Phú quý mặc ai nơi huyện sở
Một mình vui cảnh phó thường dân
VỚI BÌNH DÂN
(Hoạ bài Phó thường dân)
Người nào chẳng ở chốn bình dân
Cố nhớ đừng quên mất gốc dần
Phú quý quen mùi chừng khó bỏ
Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân
Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp
Bình dị, thanh cao, tính cũng thuần
Cái sự làm mình ra khác lạ
Sao bằng trở lại với bình dân
SÁU MƯƠI
Sáu mươi lặng lẽ, bước đường xa
Thoắt cái thời gian, đã đến già
Khúc hát xông pha, chưa kịp dứt
Bài thơ chiêm nghiệm, mới vừa ra
Vườn xuân cứ hẹn, kêu đi tới
Ngõ trúc khi cần, đón lại qua
Muôn sự ngoài đời không vướng bận
Đôi dòng thi phú, một hồn ta.
CẢ NƯỚC PHANG
(Hoạ bài Con chuột của Yên Thao)
Năm Hợi qua rồi năm Tý sang
Thời gian ngắn ngủi có vài gang
Hà Thành xuân đến còn phong kín
Văn Miếu thơ về chợt mở toang
Đạo chích, gian tham cho xuống hố
Quan liêu mệnh lệnh nhét vào hang
Kẻ nào ngoan cố còn nằm đó
Gậy mới đang chờ cả nước phang
ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC
Núi Phượng chiều nay đỏ sắc cờ
Đền đài mới dựng giữa hoang sơ
Trường xưa hoa nở trò đang đợi
Điện mới thông reo khách vẫn chờ
Sửa đức can người lo vận hội
Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ
Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm
Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ
NGHE ĐÀN
Gác nhỏ bên sông chợt ghé thăm
Đàn ai dìu dặt cất thanh âm
Vườn hồng tráng nắng hương còn nức
Lối cỏ mù sương lệ vẫn đầm
Vần vũ mây giăng chùa trước mặt
Nhạt nhoà khỏi phủ núi xa xăm
Rót hồn trên phím ai trăn trở
Dục khách qua đường nảy khúc ngâm
KHAO THƠ
Gặp buổi thanh nhàn đến với nhau
Cần chi nghèo khó với sang giầu
Me chua mấy quả, sôi trong nước
Muối lạc đôi hòn, trộn dưới âu
Chọn tứ, tìm câu mời tiếp chén
Lựa vần, sửa đối dục thay bầu
Thong dong cuối tháng lương chưa tới
Vẫn hẹn khao thơ đãi một chầu
XUÂN ĐẾN NHÀ
Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa
Mừng được đông vui đủ trẻ già
Trong bếp đàn con đang sắp cỗ
Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà
Nụ đào chúm chím hồng bên cửa
Cành lộc đu đưa biếc giữa nhà
Đôi khổ thơ xuân còn ướt mực
Một ly nước mới dậy hương trà.
HỘI XUÂN QUÊ
Một hội xuân quê mới mở ra
Chia vui khắp hết cả muôn nhà
Sân đu đầy chặt trai bên gái
Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già
Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn
Cuối thôn hể hả lúa thêm trà
Đất trời toả rộng hương no ấm
Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.
CUỐI XUÂN CẢM TÁC
Xuân đã dần qua cuối tiết rồi
Gốc đào trước cổng đứng đơn
côi
Tiếng chim sau núi lưa thưa
hót
Bông gạo trên cành lặng lẽ
rơi
Ánh nắng chiều vàng đang tụ
lại
Vầng trăng đêm trắng sắp
chia phôi
Giật mình một chốc mười năm
lẻ
Một áng thơ buồn tỏ khúc
nhôi
THỨC
Xa cách từ khi ấy đến nay
Quê xưa vẫn mãi ở tim này
Ai mơ muôn dặm đầy sương tuyết
Ta mộng lối về xanh cỏ cây
Đầu sáng mỏi mòn xem bóng nắng
Nửa chiều da diết ngắm chân mây
Nào ai biết được nhiều đêm thức
Trong lúc bao người đã giấc say.
MỘNG VỀ QUÊ
Bao núi bao sông đã lội qua
Đêm nay chợt nhớ đến quê nhà
Đầu ghềnh nước cũ chao lườn sóng
Cuối bãi trăng xưa dọi luống cà
Mái lá liêu xiêu nền đất ướt
Sân rêu vắng lặng vết chân nhoà
Trăm năm chớp mắt trôi qua cửa
Để lại bên song bóng nguyệt tà
THƯƠNG QUÊ GẶP NẠN
Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà
Bão liền mấy trận thảy đều qua
Vuông tôm mới đắp không còn vết
Chạt muối chưa thu cũng chảy xoà
Sức vóc bao nhiêu đành mất cả
Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà
Đành rằng hoạn nạn đâu không thế
Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà
RỪNG CHIỀU
Từng bước theo mây đến
đỉnh đèo
Cúi mình ngó xuống giữa trong veo
Đôi dòng suối nhỏ dăng dăng chảy
Một vạt rừng non cuộn cuộn reo
Lấp loáng trên mây tung bọt trắng
Gập ghềnh dưới đá phủ xanh rêu
Hoang sơ cõi ấy kìa ai tạo
Để khách bâng khuâng giữa cảnh chiều
QUA BÃI KHÁCH XƯA
Mỗi ngày một trạm đã đi qua
Rừng rậm toàn cây chẳng có nhà
Võng vải treo lên đu bổng tít
Hoàng Cầm thắp đỏ khói luồn xa
Gió Lào thốc xuống ròn lưng áo
Sương muối trùm lên trắng mặt ga
Bãi cũ chiều nay không có khách
Lờ mờ dọc suối lối chân qua
GẶP ĐƯỜNG DÂY CŨ
Lối cũ không ai đến đã lâu
Còn đây bãi khách buổi ban đầu
Rêu xưa cố bám bờ đen xám
Bọt mới tan theo sóng đỏ ngầu
Hiu hắt lều hoang đôi cột võng
Trơ vơ bến vắng một chân cầu
Đường dây vẫn đó người không tới
Bên góc rừng thưa gợi khúc sầu
HÀO KHÍ ĐÔNG A
Chỉ thấy đay xanh kín bãi bồi
Bình Than ẩn bóng mé sông đôi
Bến xưa trống trận rung bao nhịp
Đền mới chuông trưa điểm mấy hồi
Nào thuở gươm thề nung thép chảy
Đâu thời hịch gọi cháy dầu sôi
Con đò cắt sóng qua dòng Cái
Hào khí Đông A lộng gió trời.
GỖ KHẢM LIÊN HÀ
Lưu truyền vốn cổ tự ông cha
Khảm tỉa soi châm vẫn nếp nhà
Rồng cuốn hổ nằm thâm sắc gụ
Công xoè phượng múa đỏ vân hoa
Mắt thầy khéo tạo hình muông thú
Tay thợ quen đưa nét kỷ hà
Chợt thấy hồn thơ trong thớ gỗ
Lung linh huyền ảo xứ Liên Hà
TRỞ LẠI CỔ LOA
Mấy chục năm rồi mải đó đây
Xuân nay về lại với nơi này
Thành xưa chặn giặc đang còn dấu
Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy
Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín
Đền càng đầy chặt khói hương bay
Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất
Để những hòn tên rỉ bám đầy
VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH
Vạn lý non sông vạn lý thành
Vồng lên dốc xuống lượn vòng quanh
Chon von đỉnh núi làn mây trắng
Bát ngát chân trời thảm cỏ xanh
Thảng thốt lòng khe con nước chảy
Bâng khuâng bậc đá mái đồn canh
Mang mang khí trận dường chưa tạnh
Xe cá về kinh gió vẫn tanh
HOA THU
Vườn ai cháy sáng giữa heo may
Khóm cúc vàng tươi nở đắm say
Thấp thoáng bầy ong đu dưới lá
Chập chờn đàn bướm lượn trong cây
Hương buồn mới thả tan vào gió
Màu nhớ vừa pha quyện dưới mây
Gợi nỗi cô đơn chiều vắng lạnh
Hoa thu người gửi vẫn còn đây.
CẢM THU
(Hoạ bài buồn thu)
Chiều quê nhè nhẹ toả hương may
Đôi chén sầu đong lắc chẳng đầy
Mái lá đáy hồ thoi thóp ngủ
Mảnh đò trên bãi lặng yên say
Đất trời vẫn cứ còn nguyên thế
Gió cát nào đâu đã đổi thay
Chẳng biết hôm nao vàng trút sạch
Để mầm xanh mới nảy nơi đây
ĐÊM THU
Bên trời vàng ủng ánh trăng suông
Từng đợt heo may gõ cửa buồng
Loáng thoáng trại xa đôi tiếng gáy
Chập chờn chùa cũ một hồi chuông
Thương con vạc trắng còn chưa ngủ
Giận lũ chim non đã động chuồng
Năm tháng mải mê chừng đã mỏi
Đêm thu dài rộng trải trên giường.
HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG
(Bến Triều hè Đinh Hợi)
Hoàng hôn đã tắt cuối triền sông
Những chiếc sà lan chạy giữa dòng
Mấy khúc cuộn mình ôm sóng cả
Một đầu gầm rú vỡ thinh không
Giang sơn mấy độ qua chinh chiến
Đất nước từng phen đổ máu hồng
Muôn cuộc qua rồi không trở lại
Ngàn sau còn đó giữa mênh mông
BIẾT ĐÂU SỐ PHẬN
Nếu biết ta mình chẳng có duyên
Thì thôi đành vậy cố mà quên
Cúc vàng rời khỏi đồi Hoàng Cúc
Sen trắng quay về bến Bạch Liên
Buồn đó đợi qua kỳ cách biệt
Vui đây chờ đến lúc đoàn viên
Biết đâu số phận bày ra thử
Cố gắng kiên trì sự mới
nên
CẢM XÚC SAO ĐỎ
(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)
Thị trấn thanh xuân mới buổi nào
Thời gian thấm thoắt có là bao
Bước chân đi tới đường thêm rộng
ánh mắt nhìn sang phố đã cao
Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy
Trường vui trẻ đến sóng sôi ào
Ba mươi năm ấy miền quê núi
Rực cháy huy hoàng một ánh sao.
Thứ Tư, 18
tháng 7, 2012
TÌNH KHÚC KHÔNG LỜI
Ta trở lại giữa mùa ra trái
Bóng đa chùm ẩn kín trong mây
Kìa ai đó đang trèo lên hái
Khéo không mà rơi xuống nơi đây…
Đa ngàn tuổi tóc dài như nắng
Lúc ra trường, tay nắm trong tay
Từ khi ấy bao mùa xa vắng
Gốc đa càng như đắm, như say.
Ta trở lại giữa mùa ra trái
Chỉ mong sao đa nói một lời
Để bao chú chim từ xa ngái
Hót chào đa chiu chít ngang trời
Ta về đây thôi đã chậm rồi
Đa ngàn tuổi đã không còn nữa
Khuôn cửa cũ, đá nhòe dấu vữa
Đốt lòng ta trong tình khúc không
lời
VỀ CÙNG SÔNG LÃNG
Lâu lắm không về cùng sông Lãng
Nước triều vừa mới cạn đêm qua
Vết bùn nhão chan đầy mặt cỏ
Sóng thu vàng muôn lớp đùn
xa
Sông vẫn chảy dọc theo vườn cũ
Những dây trầu ngoi nước mà lên
Vòi tre mới bò ngang mùa lũ
Để vô tình khi nhớ khi quên
Bốn mươi năm lặng lẽ nằm yên
Đôi bậc đá còn nguyên trên đất
Bao mùa lụt, mùa khô chồng chất
Sông ngày xưa, sông của bây giờ…
Ta chia tay, rồi có đâu ngờ
Một mai đến, chẳng quay trở lại
Để sông với những chờ, những đợi
Chất bao niềm nhung nhớ trong ta.
Chủ Nhật, 26
tháng 2, 2012
TÌM NGƯỜI BÊN GIẬU
CÚC TẦN 2/2012
TÌM NGƯỜI BÊN GIẬU CUC TẦN
Một căn nhà lá trống không
Một hàng rào với tơ hồng đỏ au
Người xưa giờ ở nơi đâu
Vườn xưa cỏ rối nát nhầu xác xơ
Ngoài sân đàn nhện chăng tơ
Có còn ai đợi, ai chờ nữa không
Thế rồi hè lại sang đông
Ta đi chinh chiến rồi không trở về
Thương ai giữ mãi câu thề
Sáu mươi năm vẫn chưa hề cùng ai
Cô đơn đêm lại càng dài
Vì đâu người vẫn để hoài tuổi
xuân.
Phải chăng vì giậu cúc tần
Vì thương người ấy ở gần nhà em
Tơ hồng lại giở ra xem
Có ai thương lấy thì đem về nhà.
Cúc tần giờ đã không hoa
Mỏi mòn bờ giậu người qua tìm người.
Thứ Bảy, 7
tháng 1, 2012
CON ỐC NHỎ
Tôi chỉ muốn làm con ốc nhỏ
Cứ lặng im không nói năng chi
Để em nhặt cất vào trong giỏ
Xách theo cùng trên chặng đường đi
Tôi chỉ muốn làm con ốc nhỏ
Thu đại dương vào hết bên trong
Để em lúc giận hờn buồn khổ
Kề môi vào thổi gió bên song.
Tôi chỉ muốn làm con ốc nhỏ
Để em cầm ghé sát bên tai
Nghe hết thảy những lời tha thiết
Rồi mỉm cười với biển ban mai.
Thứ Sáu, 6
tháng 1, 2012
THƠ VỀ MẸ
Thơ về mẹ viết hoài không đủ ý
Bao lời thương đời lấy cả rồi
Thơ về mẹ sáng ngời trang sách quý
Chỉ cho mình con đọc được mà thôi
Thơ về mẹ viết không có chữ
Giấy là tim, mực máu chảy vô hồi
Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ
Đến khi nào cạn sạch thì thôi.
Thơ về mẹ chẳng con nào viết nổi
Vì mẹ chính là thơ của muôn thơ
Bao nhiêu cũng chỉ là chẳng đủ
Mẹ đi rồi
sau hết…chỉ là mơ!
Chủ Nhật, 1
tháng 1, 2012
THĂM MỘ MẸ GIÀ
Con về thăm mẹ chiều nay
Bâng khuâng hoa nắng chất đầy
nghĩa trang.
Tường vôi đọng dấu sơn vàng
Búp xanh cỏ mới đã đang nảy mầm.
Tấm bia đá vẫn yên nằm
Dấu tay xoa nhắn vết hằn thời gian
Sáu mươi năm, nắng mưa chan
Cô đơn một nắm xương tàn xa xôi.
Giờ đây mẹ đã về rồi
Quê hương thay đổi khác hồi ngày
xưa
Bồi hồi thân quyến đón đưa
Làng trên, xóm dưới cũng vừa sang
chơi.
Bát cơm, quả trứng rước mời
Hẳn rằng mẹ biết những người ngồi
đây.
Nén vàng hoá giữa trưa nay
Gửi theo người những tháng ngày xa
xăm.
Mỗi người rồi cũng trăm năm
Dù ai rồi cũng về nằm nơi đây
Nắng vàng thắp lửa lung lay
Phải chăng bóng mẹ đang bay về trời.
Nén hương cháy đã cạn rồi
Cháu con thành kính, viết lời tri
ân.
Thứ Năm, 10
tháng 11, 2011
GIẬU CÚC TẦN
Từ khi có giậu cúc tần
Đám tơ hồng đã bao lần vàng mơ
Suốt từ năm ấy đến giờ
Có còn ai đợi, ai chờ nữa đâu
Thế rồi lâu đã thật lâu
Ta mang trở lại gói sầu chia ly
Năm mươi năm đã qua đi
Bỗng nghe người ấy từ khi…một
mình.
Phải chăng vì giận chữ tình
Tự mình bắt buộc chính mình cô
đơn.
Cúc tần giờ đã cao hơn
Còn chăng bao nỗi oán hờn trong
tim (?)
Dằn lòng đành phải lặng im
Lấy tơ hồng để xâu kim mỗi chiều.
KHÚC MÙA THU (2)
Khúc mùa thu tưởng đã phai nhoà
Như mọi thứ đã yên trong xếp đặt
Và cái khoảng cách lòng, cách mặt
Sẽ là quên, quên hết chẳng còn chi
Ta đâu ngờ tất cả đã chia ly
Cứ hiện hữu để ta vẫn
thấy
Và như thế, Khúc mùa thu năm ấy
Mãi hằn sâu trong trái tim ta.
Thứ Tư, 7
tháng 9, 2011
NHỚ VỀ THẦY GIÁO
(Kính dâng thầy Vũ Kim Đàm)
Khi tôi nhớ về thày giáo của tôi
Thày đã xa rồi
Chỉ còn lại những dòng thầy đã viết
Cuốn học bạ đến giờ còn thân thiết
Một lời khen mực tím mãi tươi
nguyên.
Khi tôi nhớ về thầy giáo của tôi
Lòng chợt bình yên
Bởi đạo lý thày cho con vẫn giữ
Và vì thế chưa một lần vấp ngã
Dẫu con đường uốn lượn trong đêm.
Khi tôi nhớ về thầy giáo của tôi
Lòng chợt se buồn
Đò qua bến rồi không trở lại
Mái trường cũ cô đơn vời vợi
Bục giảng xưa muôn chân đã đặt lên
Hình bóng thầy, còn mãi ở trong
tim.
HOA XẤU HỔ
(Tặng Kim)
Khi anh chạm vào em, em khẽ thu về
Buồn vô tận, rời nhau ngày hôm ấy.
Bao mùa hạ đã trôi qua từ đấy
Em âm thầm ôm kỷ niệm xa.
Em tiếc vì sao không mở lòng ra
Ngay sau lúc bắt mình xấu hổ
Để từng cánh hoa dần xé nhỏ
Buồn trăm năm vì những vô tình.
Khi anh chạm vào em, em chợt giật
mình
Hoa xấu hổ gập vào trong ủ rũ
Em đâu biết ngày mai rời bến đỗ
Chỉ còn chờ giây phút nói cùng
nhau.
Khi biết mai rồi xa cách thật lâu
Em đâu thể lặng im trong xấu hổ
Để sắc tím chập chờn bao chấm nhỏ
Đợi muôn chiều, xa lắc những buồn
đau.
CHỈ MÌNH TÔI BIẾT
Từ lâu vẫn ở bên tôi
Em như cái bóng một đời lặng im
Thế mà có vạn nỗi niềm
Chỉ mình tôi biết, tôi tìm được
ra.
GẶP HOA
Vô tình hoa lại gặp hoa
Thì ra ta lại gặp ta giữa đường
Mắt đen, môi thắm, má hường
Mình là mình ấy lẽ thường trong
nhau
Lạ sao xa cách bấy lâu
Để cho bạc trắng mái đầu mà
thương.
DẤU CHÂN LÔNG NGỖNG
Bốn bên tường gạch vữa vôi
Dấu chân phàm tục mấy hồi lại qua
Hanh hao màu đá gan gà
Hanh hao sắc lụa choàng qua hình
người
Ai thương, ai giận, ai cười
Loa Thành xoáy cuộn mấy hồi quặn
đau
Nỏ thần nào có thấy đâu
Lưỡi gươm oan nghiệt…ngàn câu phẩm
bình
Ai mê đắm giữa hư vinh
Để tan nát một mối tình ngây thơ
Bao giờ hay chính bây giờ
Dấu chân lông ngỗng lờ mờ đâu đây
(!)
Thứ Tư, 18
tháng 7, 2012
THƯƠNG AI
(Họa thơ Lê Thị Thanh Xuân)
Mở trang lưu bút giữa chiều đông
Một khúc tình thư cháy cả lòng
Giận lúc chung đôi sao chẳng nhớ
Buồn khi lẻ bóng để hằng mong
Bữa nay thơ đến thêm say đắm
Mai tới người về thỏa đợi trông
Sao Đỏ bên này chờ gặp mặt
Cầu Lâm nơi ấy có sang không.
THU SAY
(Họa thơ Lê Thị Thanh Xuân)
Chiều thu nhè nhẹ tỏa hơi may
Gốc vải vườn sau lá rụng đầy
Tiếng sáo lưng trời rền rĩ hót
Cánh cò dưới bến mải mê bay
Câu thơ ngắn ngủi khôn chia sẻ
Khúc nhạc khô khan khó tỏ bầy
Quân tử vô tình không trở lại
Để người nhi nữ xót xa thay
Ao bèo quê của mẹ ta
Dáng lưng còng nhói lòng xa mỗi chiều
THƠ BÈO
Mẹ như bao mảnh thân bèo
Nổi trên mặt nước rất nghèo phù sa
Một đời dệt gấm thêu hoa
Đẹp bao nhiêu cũng chỉ là cho con
GỬI ĐỜI CHO THƠ
Trải qua bao tháng năm trôi
Những dòng mực tím bồi hồi hiện ra
Trang nào của tháng năm qua
Còn trang nào để mai ta gửi vào.
Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013
A
TÌM HIỂU VỀ THƠ LỤC BÁT
Giới thiệu mở đầu.
Thơ lục bát là thơ của Việt
Nam, giống như thơ Đường luật của Trung Quốc, thơ Hai Ku của Nhật Bản và nhiều
thể thơ khác của các dân tộc trên thế giới. Thơ lục bát thân thiết với tất cả mọi
tầng lớp người Việt, sâu lắng và tinh tế trong biểu đạt mọi trạng thái tư tưởng,
tình cảm. Thơ lục bát nảy nở rực rỡ trong tục ngữ, ca dao, hò vè các làn điệu
dân ca nối dài từ đời này qua đời khác để rồi tồn tại mãi mãi.
Thơ lục bát là thơ của
một dân tộc, không lai tạo bởi bất kỳ một thể thơ ngoại lai nào khác. Thơ dịu
dàng và tha thiết giống như tích cách của con người Việt Nam ta vậy. Thơ dễ
làm, dễ thuộc và ai cũng có thể làm được cho dù là người biết chữ hay không biết
chữ. Một bài thơ lục bát có thể dài đến vô cùng nhưng lại có thể ngắn đến chỉ
là một cặp câu với mười bốn chữ nhưng vẫn hội tụ đủ nội dung và nghệ thuật của
một bài thơ.
I. Những yếu tố chính của thơ lục
bát
I.1. Luật
thơ lục bát
I.1.1.
Khái niệm về luật thơ lục bát
Thơ lục bát được hình thành
trước hết là bởi các nhóm với sáu từ làm thành câu lục và tám từ làm
thành câu bát. Các nhóm từ này được ghép lại với nhau theo một quy tắc gọi là
luật của thơ lục bát. Luật thơ lục bát bao gồm toàn bộ các quy định
về hiệp vần và sắp xếp từ ngữ, âm thanh trong các câu thơ. Luật thơ lục bát được
tóm tắt về sự sắp xếp từ ngữ trong câu lục theo thứ tự:Bằng,
bằng, trắc trắc, bằng, bằng. Đối với câu bát các từ được xếp
theo thứ tự: Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng, trắc bằng.
I.1.2. Sơ
đồ cơ bản của luật thơ lục bát
Qua rất
nhiều nghiên cứu của các thế hệ người Việt về thơ lục bát, chúng ta đã có nhiều
phiên bản về luật thơ lục bát qua các thời kỳ. Trong bài tìm hiểu này xin giới
thiệu một phiên bản có khá nhiều người tán đồng. Nếu ta gọi B là bằng và T là
trắc ta có sơ đồ luật thơ lục bát dưới đây
|
Vị trí |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
|
Câu lục |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
|
|
|
Câu bát |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B |
I.1.3. Giản
lược về luật thơ lục bát
Nếu mỗi câu thơ lục bát giữ
đúng âm thanh bằng và trắc đúng như sơ đồ thì rất tốt. Tuy nhiên nếu áp dụng một
cách máy móc quá thường cũng khó tránh khỏi sự gượng ép trong câu chữ và nội
dung thơ. Người xưa đã nghiên cứu các vị trí âm thanh trên sơ đồ và thấy rằng
chỉ cần giữ đúng một số vị trí thì bài thơ vẫn đúng luật. Cũng giống như công
thức giản lược trong thơ Đường luật: “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân
minh”. Nghĩa là chỉ cần các vị trí 2,4,6 giữ đúng âm thanh bằng trắc là được,
các vị trí 1,3,5 có thể tùy ý sắp xếp bằng trắc tùy tý tác giả. Dưới đây là sơ
đồ luật thơ lục bát giản lược.
|
Vị trí |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
|
Câu lục |
- |
B |
- |
T |
- |
B |
|
|
|
Câu bát |
- |
B |
- |
T |
- |
B |
T |
B |
I.2. Vần của
thơ lục bát
I.2.1.
Khái niệm về vần
I.2.1a Vần
giữa các từ
Lâu nay ta luôn nói từ này
vần với từ kia, câu này vần với câu kia, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vần qua một
số ví dụ dưới đây.
Trước hết ta nhận thấy các
từ có thể khác nhau phần phụ âm đầu nhưng phần nguyên âm ghép với phụ âm cuối của
nhiều từ thường rất giống nhau. Những từ có phần sau giống nhau khi đọc nên âm
thanh phát ra cũng khá giống nhau, từ đó cho ta khái niệm từ này vần với từ kia
vậy.
Ví dụ: Ta có 2 từ quân và
ngân
Hai từ quân và ngân đều
có nguyên âm (â) ghép với phụ âm (n) ở cuối thành (Ân), hoàn toàn giống nhau.
Thế có nghĩa là quân vần với ngân
I.2.1b Vần
đúng và gần đúng (vần chính và phụ)
+ Vần đúng (vần
chính)
Vần đúng là những vần có
nguyên âm và phụ âm ghép sau nó giống hệt nhau chỉ khác bởi các dấu của chúng,
như vần (Ân) trong ví dụ trên.
+ Vần gần
đúng (vần phụ)
Ngoài các cặp từ có vần
đúng còn có khá nhiều cặp từ có vần gần đúng, các cặp từ này có nguyên âm giống
nhau nhưng ghép với phụ âm cuối khác.
Ví dụ: Ta có 2 từ ngân và
ngâm
Ân và âm chỉ
hơi giống nhau nên gọi là vần gần đúng
I.2.1c. Vần
giữa các nhóm từ.
Trước hết chúng ta thống nhất
với nhau hãy bỏ qua vấn đề văn phạm mà chỉ coi các ví dụ lấy từ đồng dao dưới
đây là các nhóm từ để khảo sát.
Ví dụ: Ta có các nhóm
từ sau:
Ăn vóc, học hay
Dung giăng
dung giẻ, dắt trẻ đi chơi...
Thả đỉa
ba ba, chớ bắt đàn bà...
Các ví dụ trên cho thấy các
nhóm từ đều có các từ vần với nhau, khi thì chúng đứng cạnh nhau như nhóm từ (Ăn
vóc) và (học hay) vần bởi từ (vóc) và (học). Khi thì ở vị trí
cuối nhóm trước, cách một từ của nhóm sau như nhóm từ (Dung giăng dung giẻ)
và (dắt trẻ đi chơi) vần bởi từ (giẻ) và (trẻ). Khi thì ở vị trí cuối nhóm
trước với vị trí cuối của nhóm sau như nhóm từ (Thả đỉa ba ba) và
(chớ bắt đàn bà) vần bởi từ (ba) và (bà) vv... Những nhận
xét trên cho thấy các nhóm từ vần với nhau thì đều phải có các từ vần với nhau
và đứng ở một vị trí nào đó trong các nhóm từ
Nếu ta coi câu lục, câu bát
là hai nhóm từ và chúng vần với nhau thì nhất thiết trong chúng phải có các từ
vần với nhau. Điều cần thiết là chúng ta phải tìm ra các từ của câu lục vần với
câu bát như thế nào và vị trí của nó sắp xếp ra sao.
I.2.2. Vần
của một cặp câu lục bát
I.2.2a. Ví
dụ về vần của một cặp câu lục bát
Thơ lục bát có cấu trúc trước
hết là một cặp hai câu thơ liền nhau, câu trên 6 từ, câu dưới 8 từ. Cặp câu này
vần với nhau theo một quy luật cụ thể.
Ví dụ 1:
Câu thơ lục
bát đâu rồi
Đi tìm bạc
tóc chưa thôi đi tìm
Ví dụ 2:
Trời đất rộng,
núi non cao
Tự do tự tại
lẽ nào chẳng vui
Trong ví dụ 1, từ (rồi) cuối
câu lục vần với từ (thôi) ở vị trí thứ 6 câu bát. Trong ví dụ 2, từ (cao) ở cuối
câu lục vần với từ (nào) ở vị trí thứ 6 câu bát. Đây chính là sự hiệp vần giữa
1 câu lục với 1 câu bát lập thành 1 cặp câu lục bát. Sự kết nối trên chính là sự
kết nối về vần trong thơ lục bát.
I.2.2b. Sơ
đồ vần trong một cặp câu lục bát
|
Vị trí |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
|
Câu lục |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
|
|
|
Câu bát |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B |
|
Vần |
|
|
|
|
|
V |
|
|
I.2.3. Vần
của hai cặp câu lục bát liền nhau
Những bài thơ lục bát thường
có nhiều cặp câu lục bát hợp lại. Sự kết nối của các cặp câu lục bát thông qua
hiệp vần giữa chúng với nhau chính là cơ sở hình thành bài thơ lục bát.
I.2.3a. Ví
dụ về vần giữa các cặp câu lục bát
Ví dụ:
Nơi đâu
mình đã xé rào
Giấu cha,
giấu mẹ để vào vườn sau
Nơi đâu
mình đứng cùng nhau
Trên môi
còn nụ hôn đầu đắm say
Trên đây là 2 cặp câu lục
bát liền kề nhau với từ cuối câu bát (sau) của cặp trước vần với từ cuối (nhau)
câu lục của cặp sau.
Kết luận
Thơ lục bát là tập hợp nhiều
cặp câu lục bát vần với nhau theo một cách thức duy nhất đó là từ cuối của câu
bát cặp câu lục bát đứng trước vần với từ cuối của câu lục cặp câu lục bát đứng
sau.
I.2.3b. Sơ
đồ vần của 2 cặp câu lục bát liền nhau
|
Vị trí |
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
|
Câu lục 1 |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
|
|
|
Câu bát 1 |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B/v |
|
Câu lục 2 |
B |
B |
T |
T |
B |
B/v |
|
|
|
Câu bát 2 |
B |
B |
T |
T |
B |
B |
T |
B |
I.3. Các
loại vần trong thơ lục bát
Vần trong thơ lục bát được
đặt tên theo nhiều cách, như dựa vào vị trí của vần trong câu, dựa vào thanh
âm, thậm chí vần còn có tên mô phỏng theo thân thể con người.
I.3.1 Vần
đặt tên theo vị trí
Mỗi từ trong câu được xếp
theo thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Từ đó cho thấy vần ở vị trí thứ mấy thì gọi
tên theo thứ tự đó. Người ta cũng gọi vần ở các khoảng đầu, giữa, cuối của câu
thơ, từ đó ta có vần đầu, vần giữa, vần cuối
Ví dụ:
Câu thơ lục
bát đâu rồi
Đi tìm bạc
tóc chưa thôi đi tìm
Ví dụ trên từ (rồi) ở vị
trí thứ 6 và cũng là vị trí cuối của câu lục, vần với từ (thôi) nhưng lại ở vị
trí thứ 6 trong câu bát.
I.3.2. Vần
đặt tên mô phỏng theo thân người
Với cách viết của chữ nho
xưa theo hàng dọc, từ đó những chữ trên cùng là đầu, chữa ở giữa là lưng và dưới
cùng là chân, giống như thân người đứng thẳng. Chính từ đây ta có vần lưng, vần
chân. (người xưa gọi là vần lưng là yêu vận và vần chân
là cước vận)
Ví dụ:
Tưởng rằng
đáy bể mò kim
Ở
ngay trước mắt còn tìm lạ chưa
Trong ví dụ trên (kim) là vần
chân, (tìm) là vần lưng
I.3.3. Vần
đặt tên theo thanh âm
I.3.3a Vần
bằng
Các từ có thanh huyền và
thanh không nằm trong cấu trúc vần thì đều là vần bằng.
Ví dụ:
Nghe câu
ru giữa đêm mưa
“Con cò lặn
lội” còn chưa giấc tròn
Tiếng ai
tha thiết bồn chồn
Mấy mươi
năm tưởng lối mòn đã quen
Ví dụ trên (mưa) và (chưa)
là những vần bằng thanh không, (chồn) và (mòn) là những vần bằng thanh huyền
I.3.3b. Vần
trắc
Các từ có thanh sắc, nặng,
hỏi, ngã nằm trong cấu trúc vần thì đều là vần trắc.
Ví dụ 1:
Bao đêm em
ngồi trên bến
Em chờ
anh đến suốt cả năm canh
Ví dụ 2:
Suốt đêm
ngồi bên ngọn nến
Em chờ, em
đợi anh đến thăm em
Ví dụ 3:
Bên sông
trăng soi vằng vặc
Người về bỏ mặc ai
đứng bên sông
Ví dụ 4:
Đường xa
người đi đã mỏi
Dừng chân
nghỉ lại để hỏi thăm đường
Ví dụ 5:
Chớ tin sắc
màu rực rỡ
Để rồi bỏ lỡ hạnh
phúc ngày mai
Với các ví dụ trên đây các
từ in đậm đều là những vần trắc với các thanh sắc, nặng, hỏi, ngã
II.
Thanh âm và nhịp điệu của thơ lục bát
II.1. Sử dụng
thanh âm trong thơ lục bát
Tất cả các từ trong
thơ lục bát đều là những thanh âm nằm trong cấu tạo của ngôn ngữ tiếng Việt.
Thanh âm được hình thành bởi những chữ cùng với dấu của nó (có cả trường hợp
không dấu). Có đến 6 thanh âm khác nhau, trong đó thanh không, thanh huyền thuộc
thanh bằng. Các thanh còn lại như thanh sắc, hỏi, ngã, nặng đều thuộc thanh trắc.
Mỗi thanh đều có một cấp độ cao thấp khác nhau nên khi ta đọc lên ta thấy hình
như đó là những giai điệu trong các bài hát. Bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ và khơi dậy
những xúc cảm dịu dàng hoặc bi tráng. Hiểu rõ điều này chính là cơ sở cho việc
tiếp cận với thơ lục bát thuận lợi hơn, bởi luật thơ lục bát chính là sự sắp xếp
thanh âm ở các vị trí trong các câu thơ
II.2.
Tránh khổ độc
Như trên đã nói trong hệ thống
tiếng Việt của ta có 6 thanh khác nhau căn cứ bởi các dấu, trong đó gồm:
Thanh huyền; thanh không dấu;
thanh sắc, thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngã. Đừng nghĩ rằng cứ là bằng thì
(không) hay (huyền) cũng vậy. Nếu sắp xếp không khéo thì câu thơ đọc lên rất
ngang, xưa gọi là khổ độc, để tránh điều này ta cần chú ý các trường hợp sau:
Vị trí thứ 6 và thứ 8 cùng
bằng nhưng không được xếp cùng thanh không hoặc cùng thanh huyền.
II.3. Ngắt
nhịp trong thơ lục bát
Thơ lục bát dùng nhịp điệu
khá thoáng kể cả câu lục và câu bát. Ngoài những yếu tố bắt buộc phải có tiểu đối
như ở câu lục thì nhịp điệu của cả câu lục và câu bát đều có các nhịp xen kẽ với
nhau tùy theo ý thơ. Dưới đây là một số ví dụ về nhịp điệu trong thơ lục bát.
II.3.1. Ngắt
nhịp 2 của câu lục và câu bát
Thơ lục bát có 2 nhịp cân bằng
thường có dạng đối chọi giữa 2 vế. Đó cũng chính là cấu trúc tiểu đối khá phổ
biến ở cả lục bát chính thể và lục bát biến thể. Ngắt nhịp theo phương pháp này
mang tính so sánh để làm nổi bật nội dung mà người viết xét thấy cần thiết. Ví
dụ dưới đây có cấu trúc 2 nhịp với 3 từ trước và 3 từ sau ở câu lục và 4 từ trước,
4 từ sau ở câu bát.
Ví dụ:
Làn thu
thuỷ / nét xuân sơn
Hoa ghen
thua thắm / liễu hờn kém xanh
Truyện Kiều - Nguyễn Du
Nhip 2 không đều cũng xuất
hiện nhiều không kém với các cấu trúc 2/ 4.
Ví dụ:
Khát đời /
khát một vùng quê
Mà không
còn dịp được về tận nơi
Người về thôn Vỹ - Trọng
Hồng
II.3.2. Ngắt
nhịp 3 của câu lục
Các trường hợp có 3
nhịp đều nhau với cấu trúc 2/ 2/ 2 ở câu lục của cả thơ cũng như ca dao, tục ngữ
cũng khá quen thuộc.
Ví dụ:
Sớm tìm /
phận đẹp / duyên ưa
Để em quên nỗi niềm xưa với
người.
Lục
bát trong mơ - Trọng Hồng
Ngoài ra càng không thiếu
loại 3 nhịp không đều trong câu bát, đấy là những cấu trúc 2/ 2/ 4. Hoặc cấu
trúc 4/ 2/ 2 trong câu.
Ví dụ:
Ru con con ngủ cho muồi
Nước non
chưa gánh / mẹ ngồi / mẹ ru
Tục ngữ ca dao Việt Nam
II.3.3. Ngắt
nhịp 4 của câu bát
Trong câu bát có thể có đến
4 nhịp, mỗi nhịp 2 từ với kết cấu 2/ 2/ 2/ 2 như ví dụ dưới đây.
Ví dụ:
Nhớ khi ngồi gốc cây hồng
Biết đâu /
có lúc / lạnh lùng / gốc đa
Lục bát trong
mơ - Trọng Hồng
III.
Thơ lục bát phá luật
III.1.
Khái niệm về thơ lục bát phá luật
Các phần tìm hiểu trên đã
nói khá kỹ về luật thơ luc bát. Đây cũng chính là luật dùng cho thơ lục bát
chính thể. Cứ như luật trên thì khá nhiều những ý thơ và từ ngữ cần có trong
thơ lại không đáp ứng được, nhất là tên địa phương, tên người và nhiều cử chỉ
khác trong hành văn cứ phải dùng từ thứ 2 là thanh trắc và từ thứ tư là thanh bằng.
Đặc biệt là từ cuối câu lục trong luật là vần và lại phải là thanh bằng nay bỗng
nhiên phải đổi thành vần trắc. Đó chính là nguyên nhân sự xuất hiện thơ lục bát
phá luật.
III.2. Những
dạng thơ lục bát phá luật
III.2.1. Lục
bát phá luật bởi vần trắc
Có rất nhiều các bài thơ lục
bát dùng vần trắc, đây chính là dạng phá luật bới từ thứ 6 theo luật phải là vần
bằng nay lại là trắc
Ví dụ:
Suốt đêm
ngồi bên ngọn nến
Em chờ, em
đợi anh đến thăm em
Ví dụ:
Đường xa
người đi đã mỏi
Dừng chân
nghỉ lại để hỏi thăm đường
Các vần (nến) và (mỏi)
chính là các vần trắc. Điều đó khảng định đây là dạng: Phá luật vần trắc
III.2.2. Lục
bát phá luật nhị trắc
Dạng phá luật thường xuất
hiện đó là từ thứ 2 của câu lục từ bằng giờ đây là trắc
Ví dụ:
Trời đất rộng,
núi non cao
Tự do tự tại
lẽ nào chẳng vui
Toàn bộ câu thơ lục bát
trên nếu đối chiêu với Lục bát giản lược thì duy nhất chỉ có từ thứ 2 (đất) là
yếu tố phá luật. Ta gọi là: Phá luật nhị trắc
III.2.3. Lục
bát phá luật tứ bằng nhị trắc
Dạng phá luật thứ 2 xuất hiện
đó là từ thứ 2 từ bằng giờ đây là trắc, từ thứ 4 trắc giờ đây là bằng
Ví dụ:
Khi tựa gối khi cúi
đầu (truyện Kiều)
Ví dụ:
Khi chén rượu, khi cuộc
cờ (truyện Kiều)
Qua ví dụ trên ta thấy vị
trí 2 và 4 trong câu thơ đã thay đổi ngược lại. Ta gọi là: Phá luật tứ
bằng nhị trắc
III.2.4. Một
số nét bàn về phá luật nhị trắc
Rất nhiều người cho rằng đã
làm thơ lục bát thì nên cố gắng viết thơ lục bát chính thể. Những bài thơ lục
bát phá luật như dạng nhị trắc thường bị chê và ít sử dụng. Tuy nhiên nhiều nhà
thơ lớn và nhất là cụ Nguyễn Du thì các câu thơ gọi là phá luật thật là đắc dụng.
Nếu thống kê đầy đủ các câu thơ phá luật các dạng của cụ trong Truyện Kiều thấy
rằng số lượng quả không nhỏ.
Tuy nhiên mỗi trường hợp
dùng từ thứ 2 là thanh trắc thì bao giờ cụ cũng thiết kế câu thơ ở dạng tiểu đối,
nghĩa là ngay trong câu thơ ấy đã hình thành 2 vế đối chọi với nhau.
Ví dụ:
Người quốc
sắc / kẻ thiên tài
Mai cốt
cách/ tuyết tinh thần
Từ câu thơ trên nửa đầu
là: người quốc sắc đối với kẻ thiên tài. Hoặc
như câu thơ dưới: Mai cốt cách đối với tuyết tinh thần
Dưới đây là một số ví dụ
phá luật nhị trắc trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du để mọi người tham khảo.
Người một
nơi, hỏi một nơi
Khi gió
gác, khi trăng sân
Khi tựa gối,
khi cúi đầu
Khi khóe hạnh,
khi nét ngài
Khi chén
rượu, khi cuộc cờ
Mai cốt
cách, tuyết tinh thần
Nền phú hậu,
bậc tài danh
Người quốc
sắc, kẻ thiên tài
Người nách
thước, kẻ tay dao
Đồ tế nhuyễn,
của tiêng tây
Duyên hội
ngộ, đức cù lao
Tin nhạn vẩn,
lá thư bời
Khi tỉnh
rượu, lúc tàn canh
Người yểu
điệu, kẻ văn chương
Thêm nến
giá, nối hương bình
Tuy nhiên cũng có những câu
thơ dùng phá luật nhị trắc nhưng không dùng tiểu đối. Đây là 1 trường hợp câu
thơ được áp dụng trong trạng thái tác giả đau đớn đến cùng cực than cho số
kiếp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Đau đớn thay
phận đàn bà
Lời rằng bạc
mệnh cũng là lời chung...
Một trường hợp hy hữu khác
nữa mà Nguyễn Du đã viết đó là lời mắng mỏ đến gay gắt của Hoạn thư trước người
hầu Hoa nô Thúy Kiều. Câu thơ như bóc trần thói kệch cỡm kẻ cả trong thủ đoạn hại
người do họ Hoạn đã bày ra.
Sao chẳng biết
ý tứ gì
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi...
Những gì
mà mọi người thấy được là việc vận dụng thơ lục bát chính thể hay thơ lục bát
phá luật đều nằm trong tầm tay người viết. Đừng câu chấp điều gì để thơ hay đến
được với mọi người.
IV. Thơ
lục bát biến thể
IV.1. Khái
niệm về thơ lục bát biến thể
Thơ lục bát biến thể chính
là các bài thơ có cách gieo vần và hiệp vần khác với luật thơ lục bát chính thể.
Đặc điểm của lục bát biến thể là từ thứ sáu của câu lục hiệp vần với từ thứ 4 của
câu bát Thường thường thơ lục bát biến thể hay đi kèm với lục bát phá luật.
IV.2. Lục
bát biến thể vần bằng
Thơ lục bát biến thể dùng vần
bằng khá phổ biến trong các sáng tác từ trước đến nay với những ví dụ dưới đây.
Ví dụ:
Thanh niên
việc xóm xông pha
Phụ nữ việc nhà việc
hội giỏi giang
Trong câu thơ lục bát trên
từ thứ sáu (pha) của câu lục hiệp vần với từ (nhà) của câu bát. Câu thơ trên
cũng đi kèm với dạng phá luật ở câu bát với các từ (nữ và hội) từ bằng thành trắc.
Đây chính là dạng thơ lục bát biến thể vần bằng
IV.3. Lục
bát biến thể vần trăc
Trong các sáng tác thơ lục
bát không hiếm những bài thơ biến thể vần trắc. Nghĩa là vần trắc của câu lục
cũng hiệp vần với từ thứ 4 của câu bát
Ví dụ:
Bao đêm em
ngồi trên bến
Em chờ
anh đến suốt cả năm canh
Trong câu thơ trên từ thứ
sáu (bến) của câu lục hiệp vần với từ thứ tư (đến) của câu bát. Câu thơ lục bát
trên đây vừa là dạng lục bát biến thể kèm theo phá luật ở cả câu lục và câu
bát. Đây chính là dạng thơ lục bát biến thể vần trắc
IV.4. Cứu
cánh của lục bát biến thể
Khi làm thơ lục bát ít người
để ý đến thế nào là chính thể và thế nào là biến thể. Tuy nhiên với lục bát
chính thể câu thơ có vẻ như mềm mại hơn, còn lục bát biến thể có vẻ như rành rẽ
hơn và khá thú vị là giúp cho ta trong những cơn vế tắc của sự dàn trải trong
thơ. Chính vì vậy mà những người có thể chinh phục được tất cả các dạng thơ này
dễ đến được với đỉnh cao của thơ lục bát
V. Điều
cần tránh trong làm thơ lục bát
V.1. Sử dụng
vần hợp lý trong thơ lục bát
Thơ lục bát thường dùng vần
bằng, rất ít dùng vần trắc. Những bài thơ lục bát hay nhất thường dùng các vần
chính hoặc các vần gần đúng và không rơi vào trạng thái lạc vần. Đặc biệt là
không phạm các lỗi trong hiệp vần như các trường hợp dưới đây.
V.2. Sử dụng
vần chính
Ví dụ:
Tưởng như
mình viết rất nhiều
Thế mà
cũng chỉ vài điều thế thôi
Với vần (iêu) trong nhiều và
vần (iêu) trong điều của 2 câu trên ta thấy chúng giống hệt
như nhau, ta gọi là vần chính. Những người làm thơ lục bát càng gắn bó với vần
chính trong thơ thường gặt hái được nhiều thành công nhất
V.3. Sử dụng
vần gần đúng (vần phụ)
Ví dụ:
Bỗng đâu
nói nói cười cười
Những
thương cùng nhớ thế rồi lại đi.
Với vần (ời) trong cười và
(ồi) trong rồì chỉ gần giống nhau. Tuy vậy ta cũng vẫn có thể
coi 2 câu trên vần với nhau, ta gọi đó là câu có vần gần đúng.
V.4. Nên
dùng vần bằng tránh dùng vần trắc
Về cơ bản
thơ lục bát chỉ có vần bằng, nhưng ta cũng gặp khá nhiều bài lục bát vần trắc
như đã nói ở trên. Tuy nhiên vần trắc sử dụng nhiều hơn cả là trong ca dao, tục
ngữ. Qua tìm hiểu nhiều bài thơ thấy rằng cũng nên dùng vần bằng và tránh dùng
vần trắc trong thơ lục bát.
Ví dụ:
Bao đêm em
ngồi trên bến
Em chờ
anh đến suốt cả năm canh
Nếu có thể thay bằng cặp
câu sau thì vẫn đủ ý mà lại không phải dùng vần trắc:
Bao đêm
trên bến trông ai
Mỏi mong
chờ đợi kéo dài năm canh
V.5. Tránh
lạc vần
Khá nhiều câu thơ không những
không theo vần chính và cũng không dùng vần gần đúng. Các từ ở vị trí gieo vần
được thay bằng những từ có vần khác hẳn
Ví dụ 1:
Xa quê từ ấy
đã lâu
Lòng ta
khao khát những mong trở về
Vần (lâu) cuối câu lục chẳng
hề vần với (khát) ở vị trí 4 và (mong) ở vị trí 6 trong câu bát như ví dụ 1; hoặc
vần (này) không vần với (sang) trong câu 2 và câu 3 của ví dụ 2.
Ví dụ 2:
Người về
bên ấy xa xôi
Mải mê
công việc bỏ tôi bên này
Ngày mai
tôi sẽ tìm sang
Bắt đò ngược
nước để mang người về
Khi đọc những câu thơ như
trên ta thấy nó trúc trắc, không liền mạch và khó thuộc, khó gieo sự cảm hứng
cho độc giả khi tiếp nhận nội dung nghệ thuật bài thơ.
V.6. Tránh
trùng vần
Những câu thơ lạc vần đã
cho ta những sản phẩm không êm dịu lắm và rất khó thuộc, nhưng nếu nhiều vần
trùng nhau cũng chẳng tốt
hơn.
Ví dụ:
Đã từng lội
suối trèo non
Đã từng uống
nước ở con sông đào
Đã từng ăn
một trái đào
Giữa nơi
tiên giới mà nào có hay
Ai ơi, ai
hỡi có hay
Cõi tiên
thế cũng bằng nay cõi người
Vần (đào) ở câu 2 và câu 3,
hoặc vần (hay) câu 4 và câu 5 trên đây cho thấy các câu thơ trùng vần
khi đọc lên nghe hơi ngang và gượng gạo.
V.7. Tránh
điệp vần
Nhiều bài thơ lục bát tuy
không trùng vần giữa 2 cặp câu như trên nhưng chỉ mới cách vài câu lại trùng vần
cũng là thiếu sót nên tránh.
V.8. Tránh
dùng chung vần trong câu.
Ví dụ:
Thấy người có
nét cười tươi
Đoán người chắc
chỉ hai mươi tuổi đời
Ngay trong một câu lục hoặc
câu bát có khi có đến 3 vần (ươi) giống nhau như (người, cười, tươi) trong câu
lục, hoặc như (người, mươi, đời) trong câu bát trên đây. Câu thơ ngang và gượng,
khi đọc lên chẳng có nhạc điệu, khiến người đọc quên ngay sau đó.
VI. Xướng
hoạ thơ lục bát
Thơ lục bát cũng có thể
xương hoạ như một số thể thơ khác cùng với những quy tắc riêng, tuy nhiên những
bài lục bát xướng hoạ thường ngắn. Ngoài xướng hoạ đôi khi các tác giả còn nối
thơ hoặc nhại thơ, trên thực tế đây là những cách hoạ thơ không cần theo đúng
quy định mà chỉ cốt tỏ sự thân mật và đồng cảm giữa những người bạn thơ với
nhau, dưới đây là một số dạng hoạ thơ lục bát.
VI.1. Những
quy định trong hoạ thơ lục bát
Hoạ thơ lục bát trước hết
là việc phải bám sát chủ đề bài xướng thể hiện rõ tình cảm của người hoạ với
người xướng thơ. Khi đã theo sát chủ đề bài xướng thì cũng nên phân đoạn theo
bài xướng. Khi bài hoạ theo một chủ đề khác với bài xướng thì cấu trúc phân, đoạn
cũng vẫn nên bám sát. Nếu có thể cũng nên giữ đúng nhịp điệu.
VI.2. Hoạ
thơ với 1 vần chân
Hoạ thơ lục bát với 1 vần
chân thường là dễ hoạ, lối hoạ này chỉ dùng vần chân của bài xướng để hoạ. Nhất
thiết không để 2 bài có sự trùng lặp từ thứ 5 câu lục và từ thứ 7 (từ gạch
chân) câu bát.
Ví dụ:
RA ĐI
(Bài xướng)
Nhớ quê
tranh thủ về quê
Xa xôi
cách trở khó về làm sao
Nhớ xanh
dòng nước sông đào
Nhớ vàng
con dốc đường vào bến sông
Nhớ chiều
mưa nước long bong
Biết bao
thương nhớ đợi trông u hoài
Trong mơ rộn
ra tiếng cười
Bước chân
bin rịn lòng người ra đi
NHỚ QUÊ
(Bài
hoạ)
Nhớ quê ta
lại thăm quê
Ra đi cho
chán rồi về đó sao (!)
Những năm
lửa cháy, bom đào
Bao người
ngã xuống máu trào trên sông
Ra đi dứt
áo, trắng bong
Cả đời chẳng
chút mỏi mong đoái hoài
Bỗng đâu
nói nói cười cười
Những
thương cùng nhớ thế rồi lại đi.
VI.3. Hoạ
thơ với cả vần chân và vần lưng
Hoạ thơ lục bát với cả vần
chân và vần lưng có hơi khó hơn một chút. Quy tắc hoạ chỉ cần không để 2 bài bị
trùng lặp từ thứ 5 của câu lục, từ thứ 5 và thứ 7 (chữ gạch chân) của
câu bát. Dưới đây là bài hoạ với cả vần chân và vần lưng thơ lục bát
HÀNG XÓM
(Bài xướng)
Em là hàng
xóm của TÔI
Kể từ cha
mẹ hẹn lời đầu XUÂN.
Gặp đâu chỉ
có một lần
Thế rồi đồng
ý kết THÂN hai NHÀ.
Bên kia trồng
một vườn CÀ
Bên này
mua một đàn GÀ về NUÔI
Đầu năm
mua muối chung đôi
Cuối năm
góp vốn mua VÔI sửa NHÀ.
MONG ĐƯỢC
CÓ ĐÔI
(Bài hoạ)
Hỏi người
có nhớ đến TÔI
Từ khi bén
tiếng, trao lời đêm XUÂN
Tìm nhau
không biết bao lần
Chỉ mong gặp
mặt thành THÂN một NHÀ
Dẫu trong
nghèo túng dưa CÀ
Thể nào
anh cũng mua GÀ để NUÔI
Chỉ mong
mình được có đôi
Ngăn phòng
hạnh phúc quét VÔI dọn NHÀ
VI.4. Một
số cách hoạ khác
VI.4.1 Hoạ
chắp vần.
Đây là sự
vận dụng theo lối đối đáp khi hát giao duyên ở vùng đồng bằng sông Hồng và hò đối
đáp ở các vùng ven sông, ven biển miền Thanh Nghệ. Với cách hoạ này người ta có
thể sử dụng toàn bộ câu lục hoặc toàn bộ câu bát, các câu còn lại ứng hoạ theo
vần. Cách hoạ giống như việc sử dụng chung câu lục của 2 bài dưới đây.
Ví dụ:
GỬI VÀO
TRĂNG
Đã quay mấy
vạn năm rồi
Vầng trăng vẫn ở trên trời
cả năm
Khi trăng
khuyết lúc trăng rằm
Trăng khi đầu tháng gọi bằng
trăng non
Trăng
suông cho dạ bồn chồn
Trăng già gớm giếc héo mòn
nỗi riêng
Trăng lu
bóng đổ xiên xiên
Trăng xanh vằng vặc còn
nguyên giữa trời
Bóng trăng
che kín cuộc đời
Bóng trăng tê tái lòng người
mỏi mong
GỬI LÊN
TRĂNG
Đã quay mấy
vạn năm rồi
Còn ta đâu thể ra ngoài
trăm năm
Khi trăng
khuyết lúc trăng rằm
Xuân xanh em vẫn thưa rằng
còn non
Trăng suông
cho dạ bồn chồn
Anh chờ em đã héo mòn
tình riêng
Trăng lu
bóng đổ xiên xiên
Dáng ai vẫn cứ đứng nguyên
bên trời
Bóng trăng
che kín cuộc đời
Thương ai chung thuỷ vì người
chờ mong
VI.4.2. Hoạ
nối vần
Cách hoạ nối
vần thường không buộc phải theo đúng vần của bài xướng mà chỉ tạo ra một vần mới,
hiệp vần với vần của bài xướng.
Ví dụ:
Nghe đồn anh giỏi văn
chương
Đố anh biết cỏ ven đường mấy cây
Em về hỏi
mẹ cùng thầy
Nồi hương
bao cát cỏ dầy bấy nhiêu
VI.4.3. Hoạ
nhại vần
Cách hoạ nhại vần cho phép
láy lại vần bài xướng kể cả từ đứng trước vần, tuy nhiên về nội dung thì phải
bám sát chặt chẽ và vận ý đối đáp với bài xướng, tựa như một bên hỏi và bên kia
trả lời vậy.
Ví dụ:
HOA VIẾT
CHO HOA
(Tặng thơ hoa Cúc)
Em như giọt
nắng hoa vàng
Rọi trên
trang giấy nhẹ nhàng thế thôi
Giá như em
đã cùng tôi
Xem chung
gương ở cái hồi thanh xuân
Chắc rồi vần
đã nối vần
Dắt nhau
đi đến trong ngần vườn tiên
Nỗi niềm
dù đã rất riêng
Mặc ai rào
đón phải kiêng "Hoa hồng"[1]
"Sáu
mươi" người có còn không (!)
Để ta mang
lá trầu không đến nhà
Cứ mong
"Trẻ mãi không già"
Thế rồi đến
lúc sẽ là "... Tròn trăm "
Yêu người
ta viết lời thăm
Để câu thơ
với tháng năm đợi chờ.
HOA VIẾT
CHO HOA
(Hoa Cúc
nhại vần)
Nhởn nhơ tắm
ánh nắng vàng
Hương thơm
Cúc chỉ nhẹ nhàng thế thôi
Ngày xưa
hoa đã cùng tôi
Cài duyên
mái tóc từ hồi hoa xuân
Câu thơ ai
chắp mà vần
Ngõ riêng
ta đã trong ngần tình riêng
Tuy hoa
không nở vườn tiên
Không ngào
hương sắc chỉ kiêng “hoa hồng”
Đầy vườn
bát ngát những bông
Còn mong
chi lá trầu không đến nhà
Vô tư chờ
đón tuổi già
Thêm vài
chục nữa chắc là lẻ trăm
Quý người
ta muốn tới thăm
Ngõ cài
then chặt xa xăm biển chờ
Bài nhại chỉ thay vần
(bông) vào (không) và vần (xăm) vào (năm) của bài xướng, các vần còn lại đều giống
nhau
THƠ LỤC
BÁT DÙNG LÀM VÍ DỤ
CHỢ TÌNH
(Kỷ niệm
SaPa)
Vẫn còn có một chợ tình
Để nguôi đi chuyện của mình
ngày xưa
Tháng năm lòng cách, mặt
thưa
Có bao điều vẫn còn chưa cất
lời
Hương đêm tĩnh lặng, bồi hồi
Nói câu cuối nữa để rồi
chia xa.
NGUYÊN CỚ
Vẫn còn có một vần thơ
Để cho ta gửi ước mơ tuổi
già
Chỉ yêu một chút thôi mà
Ngờ đâu bà lão ở nhà đánh
ghen.
QUA HUẾ NHỚ
VỀ THÔN VỸ
(Huế
7/2005)
Mong về thôn Vỹ từ lâu
Mấy ngày thăm Huế sao mau
thế này.
Những bông hoa bắp gió lay
Bờ tường cao, lá trúc dày
che ngang
Một màu ngọc biếc mênh mang
Chỉ còn có mỗi một hàng cau
thôi
Em hoà vào với đất trời
Trắng trong sương khói để rồi
tan đi
Người về thôn Vỹ làm chi
Đợi khi trăng mọc, chờ khi
trăng về
Khát đời, khát một vùng quê
Mà không còn dịp được về tận
nơi
Bẩy mươi năm đã qua rồi
Vần thơ còn đó con người về
đâu!
KHẮC KHOẢI
KIỀU
(Hồ Tây 5/
1999)
Mở Kiều nhớ cụ Nguyễn Du
Một cơn mưa trắng chiều
thu bên hồ
Từng trang giấy cũ lu mờ
Kim, Vân, Kiều tự bao giờ đầy
vơi
Hợp tan, tan hợp một đời
Ngày xưa cũng đã thế rồi lạ
đâu
Ngẫm lời người viết đã lâu
Vận vào, mọi cái biết đâu
vuông tròn
Hỏi rằng mai sự có còn…
Câu thơ tê tái bồn chồn
lòng nhau
Những điều người đã đớn đau
Đời còn khắc khoải muôn sau
với Kiều.
MƯA XUÂN
(Bến Than
1983)
Dường như trời ấm lại rồi
Nhìn ra cuối bãi cả trời
đang mưa
Áo em lấm tấm hạt mưa
Ai đem ngọc dát trên tơ óng
vàng
Cỏ xanh phủ kín mặt đường
Bến sông con nước vấn vương
tình người
Em vừa rời bến đi rồi
Chỉ còn trước mặt một trời
mưa xuân.
XÍCH LÔ
ĐÊM HUẾ
(Sông
Hương 7/2005)
Vòng xe lăn lóc trên đường
Cầu Tràng Tiền cháy ánh
vàng đèn đêm
Mồ hôi từng giọt, giọt thêm
Bắp chân trần cả màn đêm cuộn
vào
Bên kia áo tím khăn đào
Bên này quần cộc sắn cao,
lưng trần
Ai đi chơi cuộc phù vân
Người đang cặm cụi xoay vần
áo cơm.
TÔI CHO EM
CẢ CUỘC ĐỜI
Tôi cho em cả cuộc đời
Những là bèo dạt mây trôi
muôn trùng
Cho em tất cả não nùng
Cho em tất cả cõi lòng đắng
cay
Cho em nước mắt vơi đầy
Xót đau hờn giận những ngày
xa xưa
Cho em hết thảy gió mưa
Quãng đời phiêu dạt đẩy đưa
hững hờ
Cho em chín đợi mười chờ
Cái danh, cái phận nhạt mờ
xa xôi
Dường như em lẫn vào tôi
Để than, để tiếc, để rồi khổ
đau.
TIẾC
(Phả Lại
10-2002)
Em về bên ấy làm dâu
Mẹ cha đi đón qua cầu mới
xây
Ngày xưa cũng đoạn sông này
Nước sông thì lớn, đò đầy
chẳng qua
Mấy lần lỡ hẹn đôi ta
Mấy lần hờn dỗi, rằng là
quên nhau
Bây giờ đã có nhịp cầu
Tiếc rằng hai đứa gần nhau
mất rồi.
LẠC
Lạc đường hỏi mãi cũng ra
Lạc nhau đành phải để xa một
đời
Người ơi ta nói một lời
Gặp nhau rồi chớ để rời
nhau ra
TAM CỐC
(Tháng 7
năm 1995)
Đôi bên đá mọc ồn ào
Thuyền theo đồng nước đi
vào Cốc Tiên
Dập dềnh sóng vỗ hai bên
Nước nghiêng cho đá nổi
trên đất trời
Trần hang chạm sát mặt người
Cõi tiên cùng với cõi đời kề
nhau
Cảnh tình ai vẽ trước sau
Đâu tiên, đâu bụt, còn đâu
là người
Sau lưng sóng nước bồi hồi
Khoét sâu ngấn đá nói lời
thời gian
Qua rồi quãng tối miên man
Cửa thông đã sáng đò nan trả
người
Ngước lên, đỉnh núi xanh ngời
Bao la mây trắng, tiếng cười
trong veo
CHUYỆN NHỮNG
ĐÊM CHÈO
Hội làng mở hết ba đêm
Để cho anh được cùng em vào
chèo…
Em thương cái Tấm phận
nghèo
Anh giận cái Cám cả liều cướp
duyên
Em đau Tiểu Kính oan khiên
Anh buồn Thiện Sỹ ươn hèn
vì đâu!
Em chê cô bé Thị Mầu
Lấy tình trăng gió bắc cầu
đòi duyên
Trách Dương vì chút bạn hiền
Để Châu Long dưới bóng đèn
đầy vơi.
Lẽ đời đâu chỉ thế thì thôi
Những mù, câm, điếc tranh
ngồi mâm cao.
Trưởng làng dạy mõ học rao
Biết ai là kẻ khăn
cao, áo dài (?)
Có bao câu chuyện cuộc đời
Có bao nhiêu kiếp con người
đớn đau!...
Tích chèo có tự bao lâu
Mà sao vẫn chẳng nhạt mầu
tháng năm
Ngày xưa dù đã xa xăm
Câu chèo đêm hội vẫn nằm
trong tim.
NHỚ
Em không đi hết chặng đường
Để ai dang dở những thương
cùng buồn
Biển xa gió động, sóng cồn
Vệt lân tinh xé cánh chuồn
trong đêm.
Dẫu rằng đã cố tình quên
Lạ sao cái nhớ càng thêm,
càng nhiều
Lối xưa ai rẽ nửa chiều
Để ai phải nhớ, phải yêu cả
đời.
TRỞ LẠI VƯỜN
XƯA
(Côn Sơn
mùa thu 1984)
Một mình trở lại vườn xưa
Nhớ về kỷ niệm buổi trưa
năm nào
Nơi đâu mình đã xé rào
Giấu cha, giấu mẹ để vào vườn
sau
Nơi đâu mình đứng cùng nhau
Trên môi còn nụ hôn đầu đắm
say
Nơi đâu tay nắm trong tay
Chúng mình hẹn ước mai đây
trở về…
Vẫn là trưa nắng mùa hè
Bên vườn còn đó gốc kè đơn
côi.
LỤC BÁT
TRONG MƠ
Viết câu lục bát xa khơi
Gửi theo mơ đến với người
còn không
Ai kia vẫn chửa lấy chồng
Để ai kia nữa nỗi lòng xót
xa
Mấy mươi năm chẳng dám qua
Thương như đứt ruột nói
ra chạnh lòng
Nhớ khi ngồi gốc cây hồng
Biết đâu có lúc lạnh lùng gốc
đa
Thường đêm thức dưới hiên
nhà
Để khi gần sáng mơ xa gặp
người.
CÂU THƠ LỤC
BÁT TRỞ VỀ
Câu thơ lục bát đâu rồi
Đi tìm bạc tóc chưa thôi đi
tìm.
Tưởng rằng đáy bể mò kim
Ở ngay trước mắt còn
tìm lạ chưa.
Câu ru thấm ướt đêm mưa
“Con cò lặn lội” còn chưa
giấc tròn.
Tiếng ai tha thiết bồn chồn
Mấy mươi năm tưởng lối mòn
đã quen...
Mong sao mưa tạnh trăng lên
Để câu lục bát trao duyên
trở về.
CÓ EM CÓ
TÔI
Có em và cũng có tôi
Em không đến hội, ai ngồi đợi
em.
Tôi làm một chút sương đêm
Để hoa em mãi trinh nguyên
giữa đời
Tôi làm tia nắng mặt trời
Để hoa em thắm nụ cười trên
môi...
Tôi làm ra chính là tôi
Để em là chính em rồi gửi
trao
Tôi làm tờ giấy hồng đào
Để em gói nụ hôn vào yêu
thương
Tôi làm ánh bạc trong gương
Để em gửi cuộc đời thường
vào trong.
Tôi làm một chút đàn ông
Để em là gái kẻo không có
gì.
VĨ
THANH SAU TÁC PHẨM
Tìm hiểu thơ lục bát ra đời
trong một hoàn cảnh rất giản dị, ấy là trong khi phong trào làm thơ trong địa
phương ngày một nhiều thêm. Những tác giả làm thơ thành thạo khá đông tuy chưa
là nhà thơ bao giờ. Nhưng cũng có không ít những người bước đầu là yêu thơ, đến
với thơ, thưởng thức thơ và rồi dần dà cũng muốn làm thơ. Những bài thơ đầu
tiên nhiều người thường chưa tự tin cho lắm, nhiều lần ngỏ ý xem hộ thơ để bổ
khuyết cho. Mỗi lần được đọc những bài thơ như thế thường vui buồn lẫn lộn
trong lòng. Cái vui thường nhiều hơn vì những bài thơ thật như câu nói thường
ngày không trau truốt, ý lời thường giản dị đến mức cảm động cho dù đôi câu,
đôi chữ còn sần, còn gượng, còn chưa đúng văn phạm, chưa đúng ngữ pháp, quên từ
“L” sang “N”; viết hoa tuỳ tiện, chấm phảy, gạch nối bất kể chỗ nào, chưa nói đến
sai vần, lạc điệu.
Điều này đâu có đáng trách
vì những người làm thơ ngày là những thợ hồ, là những bà hàng xén, là những lão
nông, đã bẩy tám chín mươi xuân, trong kê khai văn hoá đôi khi viết rõ rằng mới
có lớp ba, lớp bốn, vả chăng non nửa thế kỷ đã qua rồi. Trả lời sao khi tất cả
mọi chỗ đều cần góp ý, chỗ này còn sai, chỗ nọ còn chưa đúng vv...Thôi thì đành
tìm lấy vài ba trang dòng trôi nổi ghép vào cho có một bài giúp những người bạn
thơ đang tìm đến cùng thơ.
Cũng tự xét rồi,
mình chẳng nhà thơ, cũng chẳng là thầy, lại càng chưa làm thơ giỏi thế mà sao
dám viết, chẳng sợ đúng sai. Không thiếu những lời đàm tiếu đó đây về điều này,
tiếng nọ, không thiếu các ngài hình to bóng lớn bàn ra, tán vào với những
nguyên tắc này, điều kiện kia cùng với tư cách này, phương diện nọ.
Thế rồi nghĩ lại chuyện đời
rằng “một nắm khi đói, bằng một gói khi no”, lẽ nào khi giúp cho
người đói cứ phải chờ có đồ ngon, đồ quý khi người ta đang lúc đói lòng. Chê ư!
chưa đúng ư! Xin những ngài đủ tài, đủ phép, đủ nhân cách hãy viết đi, hãy dạy
đi cho thiên hạ cậy nhờ. Người ta nói đứng ngoài cuộc khen chê thường dễ, nhưng
bước chân vào cùng với phong trào thì mới thấy trăm điều nào có dễ đâu.
Chính vì điều này mà nung nấu
quyết tâm góp nhặt cho thành tác phẩm, cho dù còn nhiều sai sót mọi bề. Cho dù
chỉ giúp cho một đôi ba chục người thôi và có khi chỉ tồn tại vài ba mươi ngày,
tháng thì cũng như ta thắp đóm soi vào đêm tối tìm được cây bút chì vừa mới rơi
ra và thế là đã đủ làm vui vậy.
[1] Tên các bài thơ của Hoa
Cúc
Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012
THƠ GIÀ
Giao thừa chép mấy vần thơ
Đêm xuân se lạnh tóc mờ khói sương
Nhớ xưa muôn vạn dặm đường
Rầu lòng thay những đêm trường vắng
ai
Mưa dầm mưa mãi mưa hoài
Băn khoăn năm tháng nối dài xa
xăm.
Ai kia thương rối ruột tằm
Một đời lận đận yên nằm nhả tơ
Bâng khuâng thương những ngày thơ
Một thân đơn chiếc chơ vơ chợ đời.
Nỗi niềm gửi đến bao người
Cũng trong lam lũ một thời như ai
Bến mê đau cả đời trai
Cuốn theo đời gái mưa dài, nắng
qua…
Bão giông giăng dọc miền xa
Dấu chân cha, bước mòn ba chiến
trường
Rưng rưng trong nắng hanh vàng
Áo nâu sồng mẹ vắt ngang cánh đồng.
Thương sao những đoạn đê vòng
Tiễn người ra trận mà lòng quặn
đau
Và rồi dài mãi về sau
Chiến tranh xé nửa để đau một đời
Lệ thương tràn khắp cõi người
Gửi niềm tâm sự rối bời trong ta.
Giật mình nhớ thuở tuổi hoa
Nhớ từ dáng bạn, nhớ ra dáng thầy
Nôn nao nhớ đến những ngày
Sớm hôm tát nước mê say bên đình
Chiếc khăn kỷ niệm bạn tình
Bồi hồi kể chuyện ta mình còn son
Lòng già như héo như mòn
Rằng xa xôi quá, các con không về.
Bao năm chung đụng cận kề
Rằng bà ốm yếu tôi thề chẳng vui
Ngoảnh đi, ngoảnh lại ngậm ngùi
Anh em giờ đã hết rồi còn đâu.
Giờ đây đã bạc mái đầu
Vẫn như in lúc miếng trầu trao nhau
Chỉ cân chè với buồng cau
Mẹ cha vun vén đưa dâu về nhà
Nhẹ nhàng mình nắm tay ta
Nhớ đêm hợp cẩn đã xa một thời
Câu thơ tím cả khoảng trời
Không vần không điệu mà rơi... lệ
nhoà
Giờ đây là tấm tình già
Nỗi niềm tâm sự gần xa giãi bày.
Trời cho ba sáu ngàn ngày
Một ngày thôi cũng chặt đầy niềm
thơ.
Bâng khuâng hư ảo mộng mơ
Khói mênh mông khói, xanh mơ khắp
nhà.
Nén hương, thưa với ông bà
Rằng con, rằng cháu đã già như ai
Tấc lòng đâu dám đơn sai
Gốc nguồn rày đã trong ngoài ấm êm
Giờ đây xin tỏ rõ thêm
Họ hàng nội ngoại, ngày đêm dốc
lòng.
Niềm vui suốt cả năm ròng
Việc làng, việc xóm vẫn trong, vẫn
đầy.
Mai sau những tháng, những ngày
Đôi ông bà mãi trong tay chẳng rời.
Gần xa xin gửi lời mời
Nghe dòng tâm sự cuộc đời trong
say.
Thì thầm vui gió, vui mây
Chiều xuân đong mãi chưa đầy cho
thơ.
THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG
Ai làm say đắm hồn ta
Để bâng khuâng những chiều xa đợi
chờ
Lời xưa hò hẹn chưa mờ
Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi
Cho dù trăng đã khuyết rồi
Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho
nhau.
Chẳng thà đắt lúa rẻ cau
Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…
Hôm nay khép áo lên chùa
Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ
Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ
Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến
không.
Nhìn ra bốn phía mênh mông
Thả tay buông nắm tơ hồng ngày
xưa.
TRĂNG XANH
Mai về nối lại lời yêu
Quên đi tất cả những chiều cách xa
Nắm trong tay của người ta
Đợi vầng trăng lại ló ra tỏ tình
Bâng khuâng sao những ảnh hình
Ngày xưa cứ bám theo mình mà đi
Hình như trăng của mọi khi
Vẫn xanh biếc dưới bờ mi thuở nào
LẠI MƠ
Đã mơ gom ánh trăng vàng
Gửi vào câu hát mơ màng bên sông
Đã mơ gom nắng tươi hồng
Để pha vào gió vẽ cùng thời gian
Ngờ đâu sau giấc mơ tan
Nhìn ra chỉ thấy muôn ngàn xa xăm
Tìm đâu ước hẹn trăm năm
Tròn đầy với những đêm rằm trăng
treo
Ai làm xô dạt cánh bèo
Để đau mãi một mái chèo sang
ngang.
KHÓI RƠM VÀNG
Chiều rồi gió lộng bờ đê
Khói rơm vàng thổi cháy khê cổng
đình
Trời cao sao khéo vô tình
Lấy chảo mây úp ta mình vào trong
Nhìn xa chỉ thấy cong cong
Kiếm không ra những chấn song cửa
gầy
Có bao nhiêu lớp mây dầy
Dấu chân trần thuở thơ ngây đã mờ
Tìm đâu ra lối bây giờ
Khói rơm vàng cứ lượn lờ quanh ta.
GỬI TÌNH CHO TRĂNG
Xa nhau suốt cả cuộc đời
Không hình, không tiếng, không lời
nhắn nhe
Để tàn bao lớp hoa tre
Để khô bao lớp vàng hoe ruối vàng
Mười hai bến nước cho nàng
Mười hai cửa ải cho chàng mãi xa
Chẳng giận mình, chẳng giận ta
Thương sông, thương núi, chẳng hòa
vào nhau
Đêm nay người ở nơi đâu
Nhìn lên trăng để khắc sâu chữ
tình.
THĂM LẠI PHÁO ĐÀI 44
Lối xưa hoang vắng mất rồi
Một bờ công sự bồi hồi đợi ai
Cỏ cây vô ý mọc hoài
Che đi một thuở đỏ trời đạn bom
Che đi hết những chiều hôm
Khói theo hầm gạch gió nồm khẽ bay
Nối nguồn sông Mã về đây
Nước tuần hoàn lại tưới cây trên đồng
Hiểm nguy vẫn chẳng ngã lòng
Tuổi thanh xuân với tim hồng đẹp
sao
Bỗng đâu lòng lại dạt dào
Đôi dòng mờ tỏ khắc vào tháng năm.
.NHỚ LỜI HEO MAY
Chỉ còn có gió heo may
Thổi vào góc bếp làm cay mắt già
Chiều nào một cháu một bà
Nửa niêu cơm độn với cà kho tương
Tưởng đâu đời lắm sắc hương
Các con quên cả góc giường chuối
khô
Quên con đường nhỏ ngoại ô
Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn
khênh
Một đời bà mãi lênh đênh
Nuốt vào tim những chông chênh ở đời
Mai sau con có nên người
Nhớ về quê để nghe lời heo may.
HUN KHÓI GIỮA RỪNG SÂU
Ai hun khói giữa rừng sâu
Túi than xuống chợ được đâu mấy
hào
Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào
Cất vào rương để đi vào tuyết
sương
Câu thơ dằng dặc bi thương
Hùng tâm tráng khí vô thường còn
đây
Nghe đàn suối, uống rượu cây
Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi
niềm
Bỏ đằng sau những tị hiềm
Để quay trở lại mà phiền lụy thân
Nỗi đau đâu chỉ một lần
Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng
qua…
Oan khiên đâu dễ tìm ra
Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu
Ai hun khói giữa rừng sâu
Bữa cơm chay cũng chỉ đâu mấy hào.
ĐỐT LÁ THAY RƠM
Ngày xưa ai đã đốt rơm
Khói bay, bay mãi từng cơn lên trời
Bên tai có bấy nhiêu lời
Để cho cái kiến phải rời củ khoai
Ngoài kia ai đến cùng ai
Phải chăng vẫn chỉ là trai với cò
Mỏ dài, vỏ cứng chẳng lo
Lại đau cái nắng làm cho yếu mềm
Thì ra cái ác, ác thêm
Hùa nhau để mở ruột mềm trai ra
Bao giờ rụng hết lá đa
Để ta cầm chổi theo ra quét chùa
Gom bao lá rụng cuối mùa
Đốt lên để ngắm khói lùa thay rơm.
LỆ ĐÁ
Lại về thăm thánh Mị Châu
Nỗi đau hồn đá không đầu còn đây
Tưởng rằng gương hận đã đầy
Thân trai ngậm ngọc bấy chầy còn
đau
Mai sau, dài những mai sau
Có còn ai đó phải lau lệ buồn
VỢ MỜI UỐNG RƯỢU
Em nào có nghiện rượu đâu
Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.
Có say thì đã say rồi
Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.
Theo từ mới nở hoa cau
Chẳng cần mặc cả trước sau thế
nào.
Theo từ rời chỏm trái đào
Đến nay lấm tấm bước vào tuyết
sương.
Tha lôi khắp các công trường
Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô
Giường ghép ván, gạo đựng xô
Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu
Mưa rơi chảy ướt trên đầu
Đành ngồi bó gối nhìn nhau mỉm cười.
Có say, lúc ấy say mười
Bữa nay chẳng biết uống rồi có
say.
Rõ là những đắng cùng cay
Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.
Uống cùng em…một chén thôi
Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu
Nuốt vào hết mọi nỗi sầu
Để say như thuở ban đầu mới quen.
LẦN GẶP SAU CÙNG
Tôi cũng như em rời mảnh sân trường
Vào mặt trận chẳng cần gì mặc cả
Coi cái riêng tây của mình rất nhỏ
Nơi tuyến đầu lửa đỏ…đáng cần hơn.
Cũng như tôi em thường rất cô đơn
Thư nhà đợi mãi mà chưa đến
Bao câu chuyện giữa đêm tiền tuyến
Có vị ngọt ngào tình yêu đầu tiên.
Họ đùa nhau rằng sao có duyên
Áo quân phục cứng ơi là cứng
Đôi giầy vải bết bùn rõ chán
Vẫn hẹn hò gặp nhau hồn nhiên.
Mùa khô rồi đạn bom nhiều thêm
Chiến sĩ vào ra đi như mắc cửi
Mùi thuốc lá thường ngày khó ngửi
Vẫn cứ mong gặp nhau từng đêm…
Anh lặng yên giữa nơi đền thiêng
Cố nhớ lại những lời em nói
Quê xa lắm, chẳng thèm cho cưới
Khát anh mà, vẫn quen làm duyên.
Đã bao lần giữa nơi rừng đêm
Sao chi chít ánh ra từ đôi mắt
Vòng tay nhỏ xiết chặt niềm khao
khát
Lại chia đường xa nhau dài thêm…
Rồi một ngày không hẹn mà nên
Những đồng đội đã đưa anh tới
Đường ra trận có trăm ngàn lối
Chẳng thể nào tìm ra được đâu.
Chiến tranh đã qua, đã qua thật
lâu
Bao người đã trở về quê cả
Cung đường cũ lối vào rất nhỏ
Nắng mưa dần xóa sạch cả rồi.
Anh cố tìm nơi mình đã từng ngồi
Không thấy nữa, giữa nơi hoang vắng
Nén hương nhỏ thắp chiều hanh nắng
Lần sau cùng mình xa cách nhau.
KHÔNG ĐÁNG ĐỂ THÀNH THƠ
Khi ta làm thơ là lúc ta yêu
Bao tình ý trong ta nảy nở
Những xúc cảm thiêng liêng khẽ mở
Chợt thành thơ khi thơ nhất trong
hồn.
Khi ta chưa yên, lòng vẫn bồn chồn
Tim đắng ngắt và đầy chai sạn
Thì muôn nhẽ có là vô hạn
Vẫn không thơ, không đáng để thành
thơ
NHỚ NHỮNG MÙA TRĂNG
Mai về gặp lại trời yêu
Quên đi tất cả những chiều cách xa
Nắm trong tay của người ta
Mảnh khăn thêu với lá hoa tỏ tình
Bâng khuâng sao những ảnh hình
Cõi xưa cứ bám theo mình mà đi
Mảnh trăng non của mọi khi
Chia tay từ ấy một đi không về
Chủ Nhật, 2 tháng 12, 2012
LẠI VỀ KINH BẮC
Năm nay lại về Kinh Bắc
Hòa vào không khí chơi xuân
Thật may mỗi năm có tết
Để ta vui được một lần
Bao người thời trang Âu Á
Còn em vẫn áo tứ thân
Hài hoa, thắt lưng, khăn vấn
Chẳng cần đổi mốt cách tân.
Con đò cứ trôi chầm chậm
Câu hát cứ nối miên man
Khẩu trầu tra vôi hơi đậm
Sau lưng tiếng cười giòn tan.
Năm nay lại về Kinh Bắc
Nơi nào ghi dấu tuổi thơ
Mùa xuân cứ trôi, trôi mãi
Cuộc đời như thực, như mơ.
Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012
HOA CAU
Bảo rằng “sông rộng một gang”
Chỉ qua “dải yếm” là sang tới rồi
Thế mà mấy chục năm trời
Vẫn không đến được với người tri
âm.
Khi yêu người chỉ nói thầm
Lấy đâu báu vật để cầm làm tin
Nhỏ nhoi, trời rộng cánh chim
Biết đâu lối cũ mà tìm được nhau.
Đành chờ đợi để lần sau
Bâng khuâng ngồi ngắm hoa cau nở
vàng.
HOA NGÔ
Đã lâu người mới quay về
Hoa ngô xào xạc bên đê sông Cầu
Áo ai phơi tím ruộng mầu
Tóc ai chảy bạc cả đầu bến sông
Chói chang khắp hết cánh đồng
Con đò… đã chẳng còn trông thấy gì
Gậy tre cắm dọc đường đi
Nghiêng tai mãi chẳng nghe chi những
lời
Thôi dành mượn ánh mắt cười
Gật đầu đáp lại với người thương
yêu.
Bờ đê vàng nắng trong chiều
Chuyện ngày xưa, chẳng nhớ nhiều nữa
đâu!
Hoa ngô xào xạc bên nhau
Rưng rưng hỏi lại… năm sau có về?
RAU KHÚC
Chẳng ai trồng khúc bao giờ
Vẫn xanh, vẫn trắng cả bờ bãi sông
Nếp hương ai lựa trắng bong
Đậu xanh ai đãi vàng ong bên hè
Em cười, khẽ rụt tay về
Có là chi một chút nghề giản đơn…
Nửa chiều bãi đất trống trơn
Bao cây rau khúc cô đơn mọc hoài
Bồn chồn ngày ngắn, đêm dài
Tiếng rao lanh lảnh vang ngoài tường
vôi
Phố thay làng đã lâu rồi
Chỉ còn rau khúc…bồi hồi tiếng
rao.
Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2012
TÌM DẤU NHẠN LOAN
Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè
Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe
Đàn trâu gặm cỏ chen trên bãi
Lũ trẻ mò tôm lặn dưới khe
Nhà cửa mới làm vôi trắng toát
Vườn cây vừa tạo quả xanh lè
Bến thuyền ngày ấy không còn nữa
Làng xóm yên bình dưới bóng tre
BÙ NHÌN
Thấy lão bù nhìn phóng bút chơi
Ngờ đâu độc giả phán vang trời
Lấy hình móc máy ra chê bạn
Dựng ảnh vây vo để nhạo đời
Triển lãm bày ra cho khách ngắm
Cảnh quan dựng đó để ta ngơi
Đồng quê lưu dấu nơi phường phố
Cho kẻ vào thăm chụp ảnh chơi
Thứ Hai, 6 tháng 8, 2012
VỀ CÙNG SÔNG LÃNG
Lâu lắm không về sông Lãng
Nước triều mới cạn đêm qua
Bùn loãng chan đầy mặt cỏ
Thu vàng muôn lớp đùn xa
Sông vẫn chảy theo vườn cũ
Dây trầu ngoi nước mà lên
Vòi tre bò ngang mùa lũ
Vô tình khi nhớ khi quên
Dòng sông cứ trôi triền miên
Bậc đá nằm yên trên đất
Mùa lụt, mùa khô chồng chất
Nhớ ngày gặp em đầu tiên…
Chỉ mong gặp thêm lần nữa
Cùng nhau giây phút cận kề
Bờ khuya từng con sóng vỡ
Còn em mãi mãi không về
THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG
Ai làm say đắm hồn ta
Để bâng khuâng những chiều xa đợi
chờ
Lời xưa hò hẹn chưa mờ
Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi
Cho dù trăng đã khuyết rồi
Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho
nhau.
Chẳng thà đắt lúa rẻ cau
Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…
Hôm nay khép áo lên chùa
Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ
Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ
Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến
không.
Nhìn ra bốn phía mênh mông
Thả tay buông nắm tơ hồng ngày xưa.
Chủ nhật, 24 tháng 3, 2013
GỬI VỀ THANH HÓA
THANH HÓA
Thanh Hóa giờ đây đã khác rồi
Thị thành làng xóm mới tinh khôi
Hà Trung trải rộng xanh màu lúa
Hoằng Hóa vươn cao trắng sắc vôi
Nông Cống hàng lên càng tấp nập
Quảng Xương khách đến vẫn đông vui
Quê hương rộn rã như
vào hội
Dòng chảy thời gian mải miết trôi
LỊCH SỬ OAI HÙNG
Trở lại quê Thanh buổi sớm nay
Đồng chiêm mới cấy lúa đan dầy
Long Quang động cũ thơ còn đó
Hòn Ngọc núi xưa tích vẫn đây
Nam Ngạn bến thuyền vừa dựng lại
Đình Hương phố xá đã đang xây
Một thời đánh giặc gương ngời sáng
Lịch sử oai hùng rạng rỡ thay
TRỞ LẠI HÀM RỒNG
Mấy chục năm nay mới trở về
Hàm Rồng vẫn nối giữa hai đê
Lối xưa Đông Tác vui làng xóm
Đường mới Hoàng Long rộn phố quê
Đánh giặc cha ông từng dũng cảm
Dựng xây con cháu lắm say mê
Ước mơ hạnh phúc từ năm ấy
Mấy chục năm nay mới trở về
ĐỔI NGHỀ
Lại trở về thăm đá Núi Nhồi
Nhớ hoài ngày tháng đã xa xôi
Tiếng mìn phá đá đau hồn núi
Ngọn khói lò nung đắng vị vôi
Rời bỏ nghề xưa buồn mấy đận
Tìm công việc mới biết bao hồi
Theo lời Đảng gọi xây đời mới
Phố núi giờ đây đổi khác rồi
GẶP XUÂN
Gặp xuân từ ấy nặng lòng thương
Bến lạ sông quen nối dặm đường
Cứ tưởng vườn đào còn thắm sắc
Đâu ngờ ngõ mận đã phai hương
Sân vôi lá rụng dầm mưa nắng
Ngõ gạch rêu phong gội gió sương
Vẫn biết ngày xưa không trở lại
Sao lòng ai đó mãi tơ vương
DU XUÂN
Mặt hồ gợn sóng tím trong sương
Cây trái xum xuê khắp bản mường
Rừng vải đơm hoa soi đáy nước
Đồi thông gió thổi hát du dương
Vầng mây lờ lững xanh triền núi
Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường
Lữ khách du xuân vừa cập bến
Đào mai nở rộ ngát thơm hương
Người đăng: lehoa4754blogger.com
vào lúc 07:46 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng này
Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013
CHUYỆN CỦA HOA ĐÀO
LẠI TÌM XUÂN VỚI HOA ĐÀO
Lại tìm xuân với hoa đào
Giữa chiều tết lạnh xôn xao tiếng
lòng
Cành nào chan chứa sắc hồng
Cành nào thấm đỏ bềnh bồng trong
mơ
Cành nào phai lạt bâng quơ
Cành nào tươi tắn đợi chờ trao
xuân
Cành nào như thể chứng nhân
Thời gian ghi dấu bao lần trong
thơ
Dịu dàng đàn nối dây tơ
Lại tìm xuân, lại tìm mơ hoa đào.
QUÉT XÁC HOA ĐÀO
Anh ngồi quét xác hoa đào
Gói mùa xuân lại gửi vào mênh mông
Chiều tàn theo ngọn gió đông
Đợi hoài đợi mãi người không trở về
Lối xưa, ai chắp câu thề
Rằng mai đây, mãi cận kề bên nhau
Ai dè “đắt lúa, rẻ cau”
Từ ngày hôm ấy…đã lâu không về
Các con thương suốt mùa hè
Sang mùa thu với bộn bề, tả tơi
Những ngày “cơm vãi, cơm rơi”
Có làm thay đổi cuộc đời cho ai
(?)
Mơ chi tháng rộng, năm dài
Nối thêm kỳ hạn, phí hoài thanh
xuân
Hoa đào nở được mấy lần
Để anh còn được một phần của em
Mơ hồ xuân lạ, xuân quen
Hoa đào đã rụng mà em chưa về (!)
TẬP VIẾT CHO CON
Cha ngồi tập viết cho con
Nét vuông nối với nét tròn cạnh
nhau
Nét nào viết trước, viết sau
Bút xuân khẽ lướt khi mau, khi dầy
Nhớ nghe con béo hay gầy
Lâng châng mà chẳng sa lầy bùn nhơ
Nhớ nghe con tỏ hay mờ
Đừng làm hoen ố bao tờ trắng trong
Nhớ nghe con giữ thẳng dòng
Đừng quên kẻ vạch mà cong, mà
chùng
Thiết tha, đằm thắm, thư hùng.
Tay con khéo lựa hòa cùng tay cha
Mai sau con lớn lên già
Chữ nhân, chữ nghĩa nhớ mà thẳng
ngay
Âm thầm nét chữ, bàn tay
Cha ngồi cần mẫn mỗi ngày bên
con
NGẮT NHỊP TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
(Loạt bài tìm hiểu về
thơ của Lê Trọng Hồng)
1. NGẮT NHỊP TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Trong những bài viết trước đây tác
giả đã có nhiều bài tìm hiểu về luật thơ Đường luật, trong đó những
yếu tố về vần, niêm, đối và về cấu trúc đề, thực, luận, kết. Tuy nhiên đó chỉ
là những khuôn cữ để ta xếp thể loại mà thôi, còn những yếu tố chính của thơ
chưa nói được gì nhiều. Cũng như các thể loại văn học khác, thơ vốn là những
văn bản kiệm lời nhưng giầu hình tượng và rất giầu xúc cảm. Để có được điều đó
không thể không nói đến vật liệu làm ra nó đó chính là ngôn ngữ thơ, hình ảnh
thơ và nhịp điệu thơ. Cái mà người làm thơ muốn đó là khi ta đọc bài thơ ta như
thấy từ bên trong sự sâu xa của hình ảnh của câu chữ những tình, những ý đầy
xúc cảm trong thơ. Điều đó cho thấy những gì là khúc chiết là rõ ràng và mạch lạc
sẽ làm mất đi bao cảm nhận phong phú của người đọc.
Dường như ai cũng biết thơ Đường
luật xuất hiện ở Việt Nam từ khi người Việt còn dùng chữ nôm và chữ Hán. Nhiều
bài thơ Đường luật còn đến ngày nay đều chưa có các dấu phân cách như trong văn
bản tiếng Việt hiện nay. Cho dù những câu thơ viết liền nhau từ đầu
đến cuối vẫn không làm cho người viết sợ độc giả không hiểu được ý của nhà thơ
và cũng như vậy các độc giả chả bao giờ phải tìm đến tác giả để hỏi xem tôi phải
hiểu như thế nào vì tác giả và độc giả đều đã hiểu rằng thơ Đường luật có nhịp
điệu riêng của nó thông qua cách ngắt nhịp quen thuộc ở từ thứ 2 hoặc từ thứ 4
trong câu. Hoàn toàn khác với cách ngắt nhịp ở từ thứ 3 và đôi khi ở từ thứ 5 của
các câu thất trong thể thơ song thất lục bát.
Về thực tế trong nhìn nhận chung của
các nhà thơ thì bài thơ Đường luật tốt nhất thường đạt được sự hài hòa trong âm
thanh và nhịp điệu. Dẫn chứng cho điều này ta có thể xét 56 từ trong bài thơ nếu
giữ được tỷ lệ 28 thanh bằng trên 28 thanh trắc thì bài thơ êm dịu và sâu lắng.
Cũng như thế ta duy trì được duy nhất một chính vần thì bài thơ như nước chảy
xuôi và nếu như trong mỗi câu thơ Đường luật ta giữ được tiết tấu: 4/3; 2/2/3
hoặc 2/5 thì bài thơ càng mềm mại và uyển chuyển như các ví dụ dưới đây
Ví dụ 1: Ngắt nhịp ở từ thứ hai
trong câu (2/5)
Nhớ nước/ đau lòng con cuốc cuốc
Thương nhà/ mỏi miệng cái da da
(Thơ
Bà huyện Thanh Quan)
Ví dụ 2: Ngắt nhịp ở từ thứ tư
trong các câu (4/3)
Bước tới đèo Ngang/ bóng xế tà
Cỏ cây chen đá/ lá chen hoa
Lom khom dưới núi/ tiều vài chú
Lác đác bên sông/ chợ mấy nhà
(Thơ
Bà huyện Thanh Quan)
Cũng đã có người bảo rằng: nếu như
ta có thể ngắt nhịp 3/4 thì có khi gây được xúc cảm cao hơn kiểu ngắt nhịp truyền
thống. Đây có phải là một phát kiến hay không thì chắc cũng chưa có nhiều người
tán thành vì các tác giả thơ Đường luật cho rằng có nhiều thể loại thơ lắm, nếu
như muốn thống thiết hơn, muốn hùng hồn hơn thì ta hãy làm thơ song thất lục
bát, hoặc thơ tự do vv… lý gì cứ phải vận dụng vào thơ Đường luật cho vất vả
(!). Dưới đây là vài ví dụ về cách ngắt nhịp trong thơ song thất lục bát
Ví dụ 1: Ngắt nhịp ở từ thứ 3
trong câu (3/4)
Chí làm trai/ dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn/ nhẹ tựa hồng mao
Hay
là:
Tiếng địch thổi/ nghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay/ trong bóng phất phơ.
(Thơ
Đoàn Thị Điểm)
2. Ý KIẾN SAU CÙNG
Qua những tư liệu nêu trên ta thấy
cho dù là thơ nào thì người ta cũng nói đến luật của nó, phàm những yếu tố cần
thiết mà không hội đủ thì chưa phải là thơ. Còn nói đến thơ Đường luật (cần nhấn
mạnh chữ luật) thì phải kể hàng trăm, ngàn những bài dài có, ngắn có. Đâu là
chuyện các nhà thơ Đường chính hiệu viết thơ theo dải trên và dải dưới, mỗi dải
theo một niêm luật khác nhau. Cũng có bài thì cho rằng thơ Đường tuân thủ theo
một niêm luật nhất định là những bài dùng trong thi cử vv…
Về những đề tài như thế này sai
hay đúng thật khó mà thẩm định vì rằng không thấy ai nói rõ rằng có một người cụ
thể nào đặt ra, càng không ai nói rằng một bộ phận cụ thể nào đặt ra mà chỉ thấy
rằng luật này xuất hiện vào thời nhà Đường mà đặt thành như vậy. Tuy là mọi cái
còn đang chưa rõ ràng nhưng nếu tập trung lại các ý kiến thì chắc không ai cho
rằng thơ Đường luật tách khỏi những điều cần có, đó chính là thanh âm, là vần
điệu, là niêm luật, là ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ.
Những người làm thơ Đường luật từ
lâu đã hiểu đây là một thể thơ hơi buồn, thơ mang tính hoài niệm, đi vào chiều
sâu nội tâm hơn là mang khí thế hừng hực bút chiến. Khi đọc bài thơ lên ta nghe
đâu đó trong hơi thơ có sự dàn trải, nhấn nhá ngấm sâu vào lòng người để lại
suy tư, trăn trở. Cũng đã có nhiều người bằng cách này hay cách khác dụng công
để cho bài thơ có sức biểu đạt mạnh mẽ hơn nhưng cũng chỉ có tác dụng một thời
rồi sau đó không còn nhiều người biết đến nữa.
Một trong những nghiên cứu có khá đông
người cho quan điểm về nghệ thuật của thơ và đặc biệt bao trùm toàn bộ bài thơ
Đường luật là “ý tại ngôn ngoại” vì thế sự chia tách mạch lạc trong thơ Đường
luật chả hóa làm mất đi cái thần thái đó chăng. Qua những ý trên, nên chăng thơ
Đường luật hãy cố gắng sắp xếp ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu của chính nó. Điều
đó cho thấy chẳng cần thiết phải có các dấu phân cách, dấu biểu cảm trong thơ
Đường luật
Phả
Lại ngày 15/01/2010
Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013
THÊM NHỮNG MÙA XUÂN
VỊNH TẾT
Cảnh tết râm ran khắp ngả đường
Hương xuân hối hả chảy muôn phương
Đầu làng pháo nổ inh trời đất
Cuối chợ người đi kín phố phường
Núi biếc ngàn hoa phô trước gió
Trời xanh bóng nhạn vút trong
sương
Xuân sang nhớ lại bao mùa trước
Hạnh phúc đang về dậy sắc hương
NGHĨ VỀ XUÂN
Cứ nghĩ xuân sang cũng đã nhiều
Lấy gì để gửi chút tình theo
Ra sân gió bấc xoa vào mặt
Xuống bếp sương hàn chạm tới kheo
Xóm trại loanh quanh đường khó đến
Đường thôn luẩn quẩn dốc khôn trèo
Xuân như ngại tới thăm người khó
Tết cũng quên qua chỗ kẻ nghèo.
XUÂN CẢM
Vườn đào hé nụ giữa tinh khôi
Đổi mới xuân nay đã khác rồi
Nhập cuộc bán buôn vừa kết hội
Dầu tư kinh tế đã sinh lời
Năm xưa chiến trận không thua kế
Buổi mới làm ăn chẳng luỵ thời
Độc lập tự do luôn giữ gốc
Giầu sang phú quý quyết hơn người
BÍNH TUẤT GIEO THƠ
Non sông đã nở rộ muôn hoa
Cảm tác đôi câu gửi mọi nhà
Tích nước Sơn La bao kín lại
Khai dầu Dung Quất mở dần ra
Cổ phần công hữu vừa khai triển
Góp vốn tư doanh cũng kịp đà
Đón tết tưng bừng vui đổi mới
Mừng xuân nhộn nhịp cất lời ca
TÌM XUÂN
Suốt mấy năm nay bạn chẳng qua
Để ai cằn cỗi trở nên già
Giấy điều đợi đó thơ không đến
Bút mực chờ kia chữ chẳng ra
Giương kính tìm vần nơi đáy rượu
Thắp đèn kiếm tứ giữa sân hoa
Tìm xuân gặp dịp ai mà chẳng
Gọi chút tâm tình gửi bạn xa.
XUÂN MONG ĐỢI
Trước ngõ xuân như đã đến rồi
Mấy ngày vui tết đã dần trôi
Ngoài đường vắng lạnh chim chưa
hót
Dưới nước trong veo cá chẳng bơi
Mong chút nắng hanh hong ấm đất
Đợi làn mưa nhỏ tới xanh chồi
Sao cho sớm sủa qua cơn rét
Để lúa chiêm xuân héo lại hồi.
XUÂN ĐẾN NHÀ
Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa
Mừng được đông vui đủ trẻ già
Trong bếp đàn con đang sắp cỗ
Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà
Nụ đào chúm chím hồng bên cửa
Cành lộc đu đưa biếc giữa nhà
Đôi khổ thơ xuân còn ướt mực
Một ly nước mới dậy hương trà.
GIAO THỪA (1)
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu
Kẻ đến dùng dằng mong nán lại
Người về tấp tểnh muốn qua mau
Ai giao ai nhận ai giao nhận
Ai đến ai về ai tiếp sau
Cái sự luân phiên không sở cứ
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
GIAO THỪA (2)
Giao thừa gọi có tý nông sâu
Một chút vây vo khúc dạo đầu
Thơ mượn rung đùi chôm mấy tứ
Từ vay nhếch mép thuổng vài câu
Ngoài trời mưa bụi rơi chưa ngớt
Trong bếp lò than đỏ đã lâu
Ai chót đọc qua thông cảm hộ
Thơ vừa mới đạo nhớ đừng tâu
KHAI BÚT KHAI XUÂN (1)
Đầu năm khai bút viết gì đây
Thi phú vui buồn dạ chẳng khuây
Lắc rắc quanh nhà mưa nối hạt
Lờ mờ cuối phố khói chăng dây
Hoa đào gió lạnh chưa thèm nở
Bướm trắng mưa dầm chửa muốn bay
Xuân đến xin chờ cho một chút
Chủ nhân quá chén vẫn còn say.
KHAI BÚT KHAI XUÂN (2)
Chào xuân khai bút viết thơ xuân
Mời bạn gần xa hoạ mấy vần
Xuân đến xuân sang xuân gặp tết
Tết về tết lại tết tìm xuân
Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết
Tết tới một năm tết đợi xuân
Xuân Tết Xuân xuân Xuân tết tết
Tết Xuân Tết tết Tết xuân xuân.
THƠ NHÀM
Xuân vừa đến đó đã đi đâu
Dạ muốn vui theo chợt lại sầu
Chén rượu nửa chừng say sắp hết
Tuần hương mới thắp cháy còn lâu
Chó con ngoài ngõ lai rai sủa
Kiến gió chân tường xúm xít bâu
Có biết giao thừa đang đứng đợi
Thơ nhàm viết vội một đôi câu
AI NHẬN AI TRAO
Giao thừa ai nhận để ai trao
Một thoáng hương xuân thật ngọt
ngào
Áo trắng anh về trong rực rỡ
Khăn hồng em đến giữa thanh tao
Câu thơ người đọc bên cành lý
Khúc hát ai ngân dưới gốc đào
Đỏ mặt kìa xuân e ấp mãi
Giao thừa ai nhận để ai trao
CUỐI XUÂN
Lại những chiều hôm lạnh thấu trời
Từng đêm dằng dặc đếm sao rơi
Một chùm hương dịu mây đưa đến
Nửa mảnh xuân nồng sóng cuốn trôi
Buồn cũ hình như đang trở lại
Vui này hồ dễ sắp chia phôi
Lòng ai luống những mong xum họp
Người đã vô tình muốn rẽ đôi
CUỐI XUÂN CẢM TÁC
Xuân đã dần qua cuối tiết rồi
Gốc đào trước cổng đứng đơn côi
Tiếng chim sau núi lưa thưa hót
Bông gạo trên cành lặng lẽ rơi
Ánh nắng chiều vàng đang tụ lại
Vầng trăng đêm trắng sắp chia phôi
Giật mình một chốc mười năm lẻ
Một áng thơ buồn tỏ khúc nhôi
HỘI XUÂN QUÊ
Một hội xuân quê mới mở ra
Chia vui khắp hết cả muôn nhà
Sân đu đầy chặt trai bên gái
Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già
Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn
Cuối thôn hể hả lúa thêm trà
Đất trời toả rộng hương no ấm
Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.
VIẾT MÃI NHỮNG MÙA THU
VƯỜN THU
Ngoài trời còn chửa thấy thu sang
Khóm cúc vườn bên đã trổ vàng
Cái bướm loanh quanh trên mặt cỏ
Con chuồn luẩn quẩn mé rào ngang
Bờ tre đã lạnh mưa còn ướt
Khóm duối nhoè sương nắng chửa
quang
Muốn thử đôi câu tìm ý tứ
Thu chờ ai thế giữa vườn hoang
HOA THU
Vườn ai cháy sáng giữa heo may
Khóm cúc vàng tươi nở đắm say
Thấp thoáng bầy ong đu dưới lá
Chập chờn đàn bướm lượn trong cây
Hương buồn mới thả tan vào gió
Màu nhớ vừa pha quyện dưới mây
Gợi nỗi cô đơn chiều vắng lạnh
Hoa thu người gửi vẫn còn đây.
THU CẢM
Thu vừa chợt đến mới đây thôi
Vườn cũ chiều nay đã lạnh rồi
Lá trút lao xao vàng mặt đất
Mây trôi lãng đãng trắng chân trời
Cánh chim trước gió bay tìm tổ
Tiếng sáo trên đê réo gọi người
Một chút heo may nơi ngõ vắng
Nỗi niềm xa cách khó mà vơi.
THU NHỚ
Chiếc lá trên cành nhẹ cuốn bay
Thu về cuối ngõ lạnh hơi may
Nhành sung rủ xuống bờ hoa cúc
Gốc ổi trùm lên bậc đá xây
Vương vấn mong hoài người dạo ấy
Bồi hồi ngóng đợi khách hôm nay
Một mình thơ thẩn ra vào mãi
Cất bút gieo vần gửi gió mây.
ĐÊM THU
Bên trời vàng ủng ánh trăng suông
Từng đợt heo may gõ cửa buồng
Loáng thoáng trại xa đôi tiếng gáy
Chập chờn chùa cũ một hồi chuông
Thương con vạc trắng còn chưa ngủ
Giận lũ chim non đã động chuồng
Năm tháng mải mê chừng đã mỏi
Đêm thu dài rộng trải trên giường.
BUỒN THU
Đêm trăng se lạnh gió heo may
Kỷ niệm xa xăm luống chất đầy
Chia cách mỏi mòn cho bạn nhớ
Gặp nhau mừng tủi để ta say
Ước ao mới đó không đành đổi
Chờ đợi cũ rồi chẳng chịu thay
Có biết tủi hờn về với đấy
Để rồi buồn khổ trút cho đây.
THỨC GIẤC ĐÊM THU
Đêm thu lặng lẽ đợi sang canh
Tiếng gió lao thao động lá mành
Vầng cuối nhạt màu soi dưới ngạch
Chòm thưa lốm đốm rọi trên cành
Bờ tre gặp gió kêu keo két
Chú dế chờ sương gáy lạnh tanh
Thức giấc xoay nghiêng nhòm mé cửa
Bên trời tiếng vạc thoáng mong
manh.
TÂM SỰ CUỐI THU
Mùa thu rồi cũng sẽ đi qua
Để rét mùa đông đến tặng quà
Đệm mút nằm lâu đang xẹp xuống
Chăn bông đắp lắm đã xơ ra
Da mồi tóc bạc đừng than vãn
Tai điếc mắt mờ chớ cẩm ca
Đồ vật mươi năm còn phải hỏng
Sống lâu cái nhẽ trở nên già.
LOẠN THU
Vẫn biết thu sang cả tháng rồi
Vần thu còn lạc ở xa xôi
Loanh quanh mây gió càng thêm chán
Luẩn quẩn cây hoa lắm cũng tồi
Trời đất năm nao mà chẳng thế
Nỗi niềm cũng đến vậy thì thôi
Câu thu viết mãi càng thêm loạn
Chả lẽ thu nao cũng tái hồi.
Thứ Hai, 7
tháng 4, 2014
ĐƯỜNG BÒ LĂN
Đường Bò Lăn chợt mới nghe
Tưởng đâu câu chuyện bên hè vậy
thôi
Khi nhìn tới tận mắt rồi
Mới hay dường ấy cả trời cũng lăn
NÓN CHỢ ĐỒN
Nón Đồn đã trắng lại truông
Đã thanh lại nhẹ dễ thương dịu
dàng
Hôm qua nằm ngủ mơ màng
Thấy ngưòi mang nón nhẹ nhàng đến
thăm
SAO TRÊN SÔNG LA
Sông La, sông La chiều nay xa
Vỏ thép xà lan truyền hơi nước lạnh
Trời sao rơi xuống đầy sông
Có ngôi sao nào của riêng ta không
PHÀ RÒN
Qua phà đã là xứ Quảng
Hết núi rồi chỉ còn cát thôi
Phía sau cát đó chính là biển rộng
Sức con người đâu có ngại trùng
khơi
TA CÓ LÀ MÌNH
Sau Cự Nẫm đã là chiến trận
Từ bây giờ ta mới thực chiến binh
Mọi chết chóc bắt buộc ta chấp nhận
Ta sẽ là ai hay ta thật là mình.
XÊ BANG HIÊNG
Xê Bang hiêng, Xê Bang hiêng
Một dòng sông nằm nghiêng
Giữa hai miền đất nước
. . ……………………….
T 73
Nơi tiếp giáp ba miền biên giới
Tiếng gà quen ba nước nghe chung
Tiếng bom nổ ba nước lo cảnh giác
Có một quân thù ba nước gọi thù
chung
VẪN CHỈ MỘT THÔI
Thế là đã vào vùng giải phóng
Cũng là rừng là đất của chính anh
Con người ấy với một bầu máu nóng
Khí anh hùng cao tuyệt ngất trời
xanh
MƯA TÂY NGUYÊN
Mùa mưa trong sách ngày xưa
Tưởng vài ba bữa thưa thưa rồi ngừng
Vào Tây Nguyên mới lạ lùng
Mưa liền mấy tháng chẳng dừng hôm
nao
TRỈA LÚA
Hai tay hai gậy mà đi
Cái thì chọc trước, cái thì chọc
sau
Giống nương ai rắc cho mau
Mùa mưa lúa mọc rồi sau thóc vàng
VỀ BAN QUÂN GIỚI
Làm lính ở dưới đã rồi
Lên phòng công tác gặp hồi đốt
than
Lò rèn sắt thép chứa chan
Những dao cùng xẻng cơ man đồ dùng
ĐỨC CƠ
Đức Cơ, Đức Cơ, Đức Cơ, Đức Cơ,
Sân bay vắng lặng đang nằm trơ
Hiện đại thế sao mày phải chạy
Ta ngồi trên đường băng làm thơ
HỔ GÀO
Đói thì vào rừng sâu
ở đây chẳng có gì ăn đâu
Thịt tao toàn Ni va quin đắng
Mau tìm về những nơi rừng sâu
HỔ DẪN ĐƯỜNG
Mày hãy cứ phía trước
Còn tao đi đằng sau
Chúng mình không duyên nợ
Đừng có mà đợi nhau
BẮN KỲ ĐÀ
Kỳ đà ai nuôi đó
Mà lớn to thế này
Hôm nay ta đói thịt
Đọc lệnh hy sinh mày
BẮN CU XANH
Thịt gà ăn mãi chán
Tìm mấy chú cu xanh
Gốc đa trường bắn đấy
Chớ có lượn vòng quanh.
BẮN CÁ SUỐI
Cá suối nhiều vô kể
Đạn súng giặc cũng nhiều
Mang chúng ra bờ suối
Bắn cá về nấu riêu
BÍ MẬT
Hôm qua về A5
Hôm nay về A6
Chả biết là nơi nào
Mình với mình cũng giấu
SAU TRẬN ĐÁNH
Vượt qua đường mười chín
Gặp cứ điểm Chư Bồ
Xác giặc khô quắt lại
Chưa ai đặt xuống mồ.
GIẤY KHEN
Một góc tờ pơ luya
Màu than đánh chẳng rõ
Giấy khen từ trên phòng
Chiến công mùa khô đó
NHẦM PHẢI ỐNG BƠ
Mắt gì mà to thế
Bắt đèn chẳng chịu rời
Bắn đã ba lần rồi
Vẫn thấy còn sáng loé
LẤY ĐẦU ĐẠN PHÁO LÀM DAO
Hết sắt để rèn dao
Chẳng thể làm khó tao
Đầu đạn mày khá lớn
Tám mảnh rõ đều nhau
NHỮNG CHIẾC BA LÔ CŨ
Ba lô người gửi lại
Gom vừa đầy một kho
Đồng chí còn hay mất
Để tôi gửi về cho
SỐT RÉT
Suốt cả tuần rồi rặt những mưa
Hố mắt cay xè rõ lạ chưa
Nước mắt tự do trào ra mãi
Hơi nóng trong mồm thật khó ưa.
NHỮNG NGÀY SỐT Ở K4
Thuốc mấy hôm rồi chẳng khỏi cho
Nghe chừng cơn sốt cũng hơi to
Cơm ăn chẳng muốn đưa vào miệng
Cứ mãi thế này thật đáng lo.
Chủ Nhật, 6
tháng 10, 2013
NHỮNG
NGHIÊN CỨU VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT
ĐỐI VÀ LUẬN TRONG THƠ ĐL HẢI
DƯƠNG
(Trích bài Một số nhận xét về nội
dung và nghệ thuật tập thơ Khơi mạch Đường thi VI của LÊ HOA)
Nói
về đối và luận trong thơ Đường luật, quả thật vô cùng mênh mông, nhưng cũng
không thể không bàn đến vì đối là một hình thức bắt buộc phải có trong thơ Đường
luật thất ngôn bát cú. Những người làm thơ Đường luật không ai không biết đến
bài "Qua đèo Ngang" của bà Huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh. Trong
bài này có hai cặp đối đọc lên nghe thật nuột nà về âm sắc và thấm đẫm nỗi lòng
về nội dung. Thế nhưng đã có thời gian xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về bài
thơ này và một số tác giả lúc ấy cho rằng bài thơ này của bà đối chưa được chỉnh.
Nhân đó cũng xin có một đôi điều bàn thêm trong tham luận hôm nay.
Trước hết nói về cặp đối tả thực: "Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác
đác bên sông chợ mấy nhà" chúng ta nhận ra ngay cái sự không chỉnh
ở chỗ Lom khom là động từ tả động tác, Lác đác là
tính từ chỉ hình thái. Lại nữa Tiều vài chú chỉ về loài có
tính hoạt động còn Chợ mấy nhà chỉ về quang cảnh cố định, điều
này cho thấy sự chưa chỉnh của cặp đối. Trong văn học của mấy thập kỷ trước đã
có người vận dụng sự chỉnh đối nhận định rằng "chợ mấy nhà" ở
đây phải là "rợ mấy nhà" để Tiều đối
với Rợ. Nhưng còn danh từ "nhà" và
đại từ "chú" thì vẫn còn đó (!) Nếu cho sửa thì cặp
đối phải là: "Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lúi húi bên sông bạc mấy
thằng" mới thực là chỉnh. (bạc là người chài lưới đánh
cá). Nhưng nếu cứ phải chỉnh mà sửa đi, sửa lại đến độ: "Thần
nông giáo dân nghệ ngũ cốc/ Thánh sâu gươm vua gừng tam cò" thì đối
chỉnh để được gì. Có thể bàn thêm về thơ của bà Huyện Thanh Quan trong
bài Thăng Long thành hoài cổ với câu : "Lối xưa xe ngựa
hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương" cũng vậy; "lâu
đài" chỉ có thể đối với "môn hộ" còn đối
với "xe ngựa" thì không chỉnh. Vì vậy đối bắt buộc phải
có cần chú ý đến sự đối ý, những cũng không bỏ qua sự đối về từ loại.
Về
thơ của Hải Dương ta, gần đây nhiều bài cũng đã có các cặp đối đã khá chỉnh,
tuy nhiên mỗi tác giả cũng có đôi bài kém đối, nếu được gia công thêm thì chất
lượng sẽ tiến bộ hơn lên. Để dẫn ra thì nhiều lắm, tuy nhiên cũng xin trích vài
câu để chúng ta cùng vui. Ví như cặp câu: "Núi Chúa đứng nhìn trời tít
tắp/ Sơn Trà nằm đợi biển mênh mông" trong bài Trở lại Hải
Vân của Nguyễn Hải Hoà trang 60 Khơi mạch Đường thi (KMĐT) IV. Hay như
cặp câu: "Góp sức cùng dân làm việc tốt/ Đồng tình với Đảng diệt trừ
gian "trong bài Tự sự của Vũ Đăng Nụ trang 155 KMĐT
IV. Hay cặp câu: "Thương mùa nắng hạ oi nồng đất/ Nhớ tiết mưa đông lạnh
buốt trời" trong bài Nhớ của Trần Thị Yên trang
275 KMĐT IV vv...
Phần
tham luận thứ hai xin có đôi điều nói về luận trong thơ Đường luật. Cũng như
nhiều học giả đã từng nói về các bước đề, thực, luận, kết trong sáng tác thơ
Đương luật. Luận là phần quan trọng trong cấu tứ bài thơ. Nếu bài thơ không có
luận thì người ta không biết bấu víu vào đâu để mà hiểu tác giả, có thể nói một
cách khác, luận là cái tứ của bài thơ đó. Không có luận bài thơ không có hồn,
tuy nhiên luận không đơn độc chỉ ở cặp câu thứ ba. Luận có thể trốn khỏi vị trí
để xuất hiện ở vị trí khác khi một phần kết giúp nó làm bật lên cái tứ của bài
thơ. Tuy nhiên luận phải xuất hiện đúng vị trí của nó nếu như bài thơ có kết mở.
Những bài có luận rõ, luận sắc sảo vẫn là những bài thơ hay, làm xúc động lòng
người.
Cũng
vẫn lấy bài thơ Qua đèo Ngang của bà Huyện làm ví dụ, ta có cặp
luận "Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/ Thương nhà mỏi miệng cái da
da". Luận của Bà Huyện đặc biệt độc đáo ở chỗ lấy hiện thực qua tiếng kêu
ra rả suốt hè và tích truyện cuốc mất nước rồi thêm chữ "đau lòng" vào
đó để tỏ sự xót xa đến cùng cực của nỗi đau mất nước. Cũng như thế Bà Huyện lấy
hiện thực qua tiếng kêu riết róng, đứt quãng và lặp đi, lặp lại nhiều lượt của
chim đa đa rồi thêm vào đó hai từ "mỏi miệng" để mà
bồn chồn day dứt về nỗi nhà. Từ đó toát lên cái tứ nhớ nước, thương nhà gửi gấm
trong thơ, khi bà phải rời xa kinh thành, rời xa tổ ấm gia tộc để vào
phương Nam xa xôi cách trở. Ví phỏng không có cặp luận này thì cặp kết
mở "Dừng chân đứng lại trời non nước / Một mảnh tình riêng ta với
ta" có thể nói được gì sau những câu đề, câu thực của bài thơ.
Cũng
trong vấn đề luận, phần đông các tác giả hiện nay sáng tác thơ Đường luật thường
kéo tràn thực qua cả cặp câu thứ ba với chủ ý trốn luận, như thế thì bài thơ giống
thơ vịnh nhiều hơn. Tuy nhiên bảo trốn luận hoàn toàn thì chưa hẳn, vì nếu xét
kỹ ta thấy nhiều bài thơ, cặp thực không chỉ tả cảnh mà còn diễn tả cảm xúc, diễn
tả nội tâm, sự chồng chận của cảm xúc, nội tâm trong hai câu sau có tác dụng nhấn
mạnh, bật ra chủ ý của tác giả và như thế bài thơ đã có luận. Ví dụ như hai cặp
câu hai và ba trong bài Cảm xuân của Nguyễn Hải Bắc trang 14
KMĐT III:
Đào, mai hớn hở cười khoe sắc
Quỳnh, cúc mong chờ nở rộ bông
Phố xá đường ngang người tới chợ
Làng quê bến nước khách sang sông
Cả bốn câu
đều vẽ cảnh xuân, với hai câu trên đã cho thấy xuân vui. Khi có thêm hai câu dưới
nói về sự đi lại của người tới chợ, khách sang sông cho
thấy xuân tươi vui và rộn rã đang tràn ngập trong lòng tác giả.
Vài
năm gần đây cũng đã có những ý kiến cho rằng luận có thể mở rộng ra tất cả các
câu trong bài thơ. Nói một cách khác là trong mỗi câu đều đã có nỗi niềm của
tác giả gửi gấm ở trong đó. Những bài thơ như thế quả là rất đáng quý và khá hiếm.
Trong tham luận này muốn dẫn ra bài thơ Chạy Tây của cụ Đồ Chiểu
làm ví dụ.
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất tổ bày chim dáo dát bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh nứa nhuốm màu mây
Nhân tài đất nước rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này.
Cả
tám câu đều có nửa đầu tả thực và luận ngay ở nửa sau. Mỗi câu đọc lên đều thấy
buồn đến trào nước mắt. Tập hợp toàn bộ lại thấy ngay sự đau xót bởi nỗi giặc dữ
đã vào, nước mất, nhà tan, tổ vỡ, người và vật đều tan tác. Càng đau đớn hơn
khi bao kẻ ăn lộc nước đều mất tăm hơi .
Bài thứ hai muốn xin được dẫn là bài Vua phật của Vũ
Đăng Nụ trang 146 KMĐT III
Dẹp xong xâm lược đến tu thân
Bỏ chốn ngai vàng tới Trúc Lâm
Mặc áo nhện chăng vào Suối Tắm
Đi giầy cỏ bện xuống Am Vân
Sớm lên Long Động tu thiền định
Chiều lại Hoa Yên trút bụi trần
Chính quả là đây vua hoá phật
Nhân thường vì quả, quả vì nhân.
Một loạt sự việc được thống kê tưởng như rất dàn trải nhưng trong mỗi câu đã có
sự đối lập của vế trước với vế sau. Những việc trái với tự nhiên gây phản cảm
làm bật lên sự khác biệt của một nhân cách. Một nhân cách đặc biệt với việc từ
bỏ quyền bính, sang trọng, sung sướng, đông vui để đến với đời thường kham khổ,
cô đơn, heo hút. Đến khi hai câu kết xuất hiện thì tất cả các câu trong bài
càng rực sáng lên.
Thơ Đường luật của Hải Dương ta đến nay đã có cả ngàn bài, nhiều bài có tứ hay
và độc đáo, tuy nhiên để có những bài có luận rõ, luận sắc sảo thì cũng còn hiếm.
Đa số các bài thơ đều có dáng dấp của thơ vịnh sau đó gửi vào đó một cái kết giản
dị, dễ hiểu, ý tại ngôn từ. Tuy nhiên cũng có không ít bài đã có luận khá sắc sảo
và cũng tập trung ở các tác giả có nhiều năm sáng tác và chịu khó học tập.
Chỉ cần đọc lên thấy xao xuyến, vui buồn với thơ thì thế cũng đã tốt lắm rồi.
Lại nói về đánh giá và chọn thơ hay, nhất là thơ Đường luật có lẽ cũng nên nhằm
vào cái cấu trúc cơ bản về luật thơ kết hợp với sự cảm thụ thì chắc chắn sẽ có
những bài thơ thật hay, đọng lại trong lòng mọi người như thơ của Bà Huyện
Thanh Quan, thơ của Nguyễn Khuyến và đặc biệt là thơ của Hồ Xuân Hương nữ sĩ.
TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN
(Kính viếng Đại tướng Võ Nguyên
Giáp)
Thêm một ngôi sao cháy hết mình
Trên mười thập kỷ sáng lung linh
Chép dòng quốc sử trao con trẻ
Phát lệnh tiến công gửi chiến binh
Đánh Pháp, Pháp hàng lòng vẫn sợ
Đuổi Sam, Sam chạy dạ còn kinh
Lấy văn làm võ, văn thành võ
Tướng của lòng dân mãi trọn tình
Thứ Sáu, 13
tháng 9, 2013
NHỚ CỐ
NHÂN
(Nhớ về người cũ làng Đông Hội)
Xa cách từ lâu bóng cố nhân
Chỉ mong gặp được một đôi lần
Tưởng khi nắm tóc thề bên giếng
Nhớ lúc cầm tay hẹn cuối sân
Bén tiếng chỉ chờ ngày dạm ngõ
Quen hơi còn đợi buổi cầu thân
Chiến tranh ngáng trở tình trang lứa
Từ ấy đôi đường phải cách phân
HƯƠNG TÌNH
(Họa thơ
Sĩ Quý)
Đã lâu mới có dịp về chơi
Lại nhớ khi xưa đứng giữa trời
Háo hức nằm chờ vầng nguyệt rụng
Ước ao ngồi đợi ánh sao rơi
Câu thơ đằm thắm gieo muôn ý
Khúc nhạc du dương gói vạn lời
Khoảng cách tình yêu càng gắn bó
Bao la bát ngát giữa ngàn khơi
CỐ NHÂN
Còn đó bên trời tiếng sáo ngân
Đầm sen hoa trắng nở trong ngần
Sáng neo thuyền đợi mong nhìn trộm
Đêm thức chờ trăng muốn đứng gần
Mấy độ chia tay không ước hẹn
Bao lần gặp mặt chẳng cầu thân
Nào ai biết được lòng ai đó
Đành nhẽ đau buồn gọi cố nhân
KHÚC HƯU NHÀN
Hưu nhàn bày vẽ chuyện rong chơi
Dạo khắp non sông khắp đất trời
Hạ đến nằm nghe đuôi cá quẫy
Thu về ngồi ngắm lá vàng rơi
Câu thơ đằm thắm gieo muôn cảnh
Khúc nhạc du dương tỏ vạn lời
Một giấc say mềm bên ghế đá
Thấy mình lướt sóng giữa ngàn khơi
HỨNG DỪA
(Nhân xem tranh Hứng dừa)
Ngày ấy lên đường đến xứ tranh
Vườn dừa trĩu quả kín thân cành
Trái tơ anh hái chưa chịu rụng
Váy cũ em giăng chắc vẫn lành
Ngửa mặt nhìn trời trời đã đỏ
Cúi đầu ngắm đất đất càng xanh
Kìa ai vui thú trên khuôn gỗ
Còn mãi ngàn năm một bức tranh
NHỚ VỀ QUÊ MẸ
(Nhớ về Châu Can Cầu Giẽ)
Muốn về quê mẹ đã từ lâu
Lần lữa phân vân đến bạc đầu
Gốc gác mịt mờ dò chửa thấy
Họ hàng mai một biết tìm đâu
Đã đành loạn lạc khôn mong mỏi
Vẫn biết gian nan khó ngưỡng cầu
Muôn sự ở đời không tính được
Mà sao lòng vẫn nặng u sầu
CHIỀU QUÊ
Ruộng mới bừa xong đất mịn màng
Đồng chiều xa tắp rộng mênh mang
Làn mây lơ lửng buông rèm trắng
Bóng nắng lung linh rải nhiễu vàng
Lốm đốm áo hoa chen lối dọc
Rập rờn nón lá nối hàng ngang
Chiều quê bình lặng như muôn thuở
Bất chợt trong ta thấy ngỡ ngàng
TẾT MƯA
Tết đã lanh canh gõ trước nhà
Thế mà khói bếp chửa lên a
Chắc gân gạo nếp còn chưa nhuyễn
Hay cuộng giong xanh đã quá già
Gió đẩy hiên tre kêu loạt xoạt
Mưa tràn ngõ đất ngập bùn hoa
Chắc xuân mệt mỏi còn đang ngủ
Nên cửa nhà ai chửa hé ra
CỔ THÀNH
Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành
Một vùng khảo cứu uốn vòng quanh
Hoa văn tảng cũ còn nguyên vẹn
Nét khắc bia xưa vẫn rõ rành
Móng gạch nối nhau dăm bẩy lớp
Giếng xây chồng chận bốn năm vành
Mới hay quá khứ còn in đấu
Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành
CHUYỆN CÙNG HÒN NẸ
(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)
Hòn Nẹ từ xưa vẫn ở đây
Hoàng hôn nhuộm đỏ hắt lên mây
Tiền tiêu giữ biển từng xung trận
Điểm tựa canh trời đã dựng xây
Chiến hạm rình mò trôi mất xác
Tầu bay cắn trộm vỡ tan thây
Đất liền biển đảo luôn chờ sẵn
Giặc cướp xông vào quét sạch ngay
ĐỌC “NỬA VẦNG TRĂNG”
(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)
Hoàng hôn nhuộm đỏ cuối trời xa
Ai đó gửi thư kể chuyện già
Sáng sáng hẹn hò cùng cổ luật
Chiều chiều tình tự với cầm ca
Gắng công nén lại quên mây gió
Rán sức co về trốn nguyệt hoa
Mỗi đọc một đau đời thiếu phụ
Chỉ mong có dịp đến thăm nhà
LAI VỀ THĂM CHỢ VƯỜN HOA
(Nhân về ngày thơ Thanh Hóa)
Lại về thăm thú chợ Vườn Hoa
Hàng hóa treo cao tận mái nhà
Cây trái Thọ Xuân xuôi buổi sớm
Cá tôm Ngư Lộc đến chiều qua
Áo quần mốt mới say lòng trẻ
Rượu gạo thơm tho ấm bụng già
Phố xá đông vui như mở hội
Câu thơ thuận bút viết theo đà
TẾT RƯỢU
(Tết ai đến để cho ai)
Tết đã bon bon đến cạnh nhà
Thế mà cổng chửa mở toang a
Chắc cơn mộng mị còn chưa chín
Hay giấc hoàng lương vẫn chửa già
Tí tách mưa dầm đào nảy lộc
Lâm thâm rét ngọt mận đơm hoa
Tiếc xuân ngồn ngộn bày trên chiếu
Rượu uống say rồi chẳng muốn ra
XUÂN LẠNH
(Xuân 2007)
Lạnh thế mà xuân cũng đến a
Mưa dầm gió bấc phủ quang nhà
Đầu hồi trống trếnh như diều sáo
Hèm cửa vênh vao tựa mõ già
Quất đỏ vừa tô treo trĩu trái
Đào hồng mới vẽ chạt đầy hoa
Bao xuân dồn hết về đây cả
Đã vậy cần chi mở cửa ra
NHỚ VỀ PHỐ CŨ
(Nhớ về Hà Nội xuân 2008)
Đã trải phong trần khắp bốn phương
Vẫn không quên nổi những con đường
Nhạt nhòa cầu cũ vầng trăng rụng
Lấp loáng hồ xưa giọt nắng vương
Tháp Bút chọc trời che bóng nắng
Đài Nghiên trải rộng tỏa hơi sương
Một thời kỷ niệm bao nồng ấm
Để lại trong lòng vạn nhớ thương
THƠ XANH
(Viết chi cho lắm cho nhiều)
Vườn cũ sương mờ khách vắng tanh
Trăng vàng phủ kín những thân cành
Đôi ba tiếng vạc chia sầu muộn
Dăm bảy giọng trùng bám quẩn quanh
Lòng đã thênh thang nơi gác tía
Dạ còn vương vấn chốn lều tranh
Giọt sương nhè nhẹ rơi trên lá
Thơ viết ngàn trang tứ vẫn xanh
VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ
(Cổ Loa tháng 8/2001)
Nắng hạ soi vàng cả đồi nương
Một mình lặng lẽ giữa sân trường
Xà cừ nảy nụ xum xuê bóng
Sa mộc đơm hoa tỏa ngát hương
Lưu bút thiết tha trao ước vọng
Ảnh hình thân mật gửi tơ vương
Bốn mươi năm lẻ vừa quay lại
Cảnh vật dâng trào nỗi nhớ thương
GỬI MÂY ĐƯỜNG TƠ
(Tặng Nguyễn Thị Nam)
May mắn vì đâu một áng thơ
Để quen người chửa gặp bao giờ
Đã từng trước mặt còn chưa ngỏ
Huống lúc sau lưng chỉ khép hờ
Hạt cát qua truông gờm vách núi
Cành lau xuống thác ngại đôi bờ
Chút tình bé nhỏ mong gìn giữ
Dù chỉ đơn sơ gửi mấy tờ
THƯ ĐÃ ĐỌC RỒI
(Họa bài Bức thư định gửi)
Thơ bạn hôm nay đã đọc rồi
Lòng còn vương vấn mãi không thôi
Người ngoan đã muốn đem trao ý
Kẻ xạo đành theo phải gửi lời
Cái nhẽ thường tình quen thế vậy
Gặp khi trái khoáy khó lòng vui
Mới hay mọi sự không toàn vẹn
Thư bạn hôm nay đã đọc rồi
GỬI VỀ XỨ NGHỆ
Gửi về xứ Nghệ một tình yêu
Nói ít mong ai đó hiểu nhiều
Héo dạ khêu mưa khi chợn rợn
Mặc lòng thả lửa lúc phiêu diêu
Khơi tình ngắm nụ khi mờ sáng
Cạn lý xem hoa lúc xế chiều
Có gặp được đâu mà ước hẹn
Nên đành mượn bút thả lời yêu
VẬN THƠ BÀ CHÚA
(Nhân nghe nói về quê bà chúa)
Bà Chúa Thơ Nôm đã mất rồi
Chỉ còn cái bóng ở đây thôi
Đời trai vất vả đau bao thuở
Kiếp gái truân chuyên cực mấy hồi
Chỉ ngại người quen đòi nợ khuyêt
Lại thương kẻ lạ vướng duyên bồi
Nét quê khéo vận hòa trong cảnh
Để những miền thơ lại nảy chồi
CHO RỒI CHƯA CHO LẠI CHO RỒI
(Vận theo cách nói của người xứ Nghệ)
Thư này chắc sẽ đến Quỳnh Đôi
Mặc kệ nhân gian khéo thả mồi
Khoảng cách hai miền không ngắn lại
Mối giây tình cảm vẫn hòa đôi
Đã từng nếm trải miền hy vọng
Còn tưởng chi đâu đoạn tái hồi
Một tiếng tơ lòng vương ngó ý
Cầu mong muôn sự trọn cho rồi
TẾT RƯỢU
(Tết ai đến để cho ai)
Tết đã bon bon đến cạnh nhà
Thế mà cổng chửa mở toang a
Chắc cơn mộng mị còn chưa chín
Hay giấc hoàng lương vẫn chửa già
Tí tách mưa dầm đào nảy lộc
Lâm thâm rét ngọt mận đơm hoa
Tiếc xuân ngồn ngộn bày trên chiếu
Rượu uống say rồi chẳng muốn ra
Thứ Hai, 1
tháng 7, 2013
CHIA TAY MÙA HẠ
(Họa thơ Xuân Nghiệp)
Gió hạ thổi khô mọi tuyết sương
Chập chờn trước mặt cánh hoa vương
Người về biển rộng muôn trùng sóng
Kẻ đến non cao vạn dặm đường
Buồn lúc chia tay nhòe mí mắt
Nhớ khi kề cận tóc thơm hương
Gặp nhau gắn bó rồi ly biệt
Để lại cho đời lắm tiếc thương
KHÚC HƯU NHÀN
Hưu nhàn bày vẽ chuyện rong chơi
Dạo khắp non sông khắp đất trời
Hạ đến ra xem làn nước chảy
Thu về ngồi ngắm lá vàng rơi
Câu thơ đằm thắm gieo muôn cảnh
Khúc nhạc du dương tỏ vạn lời
Một giấc say mềm bên ghế đá
Thấy mình lướt sóng giữa ngàn khơi
GẶP HẠ
(Hoạ bài Chớm Hạ của Đức Tiến)
Từng đợt heo may đã tạnh rồi
Chỉ còn hạ nóng mãi khôn nguôi
Chia ly ngày ấy mưa tràn núi
Gặp lại hôm nay nắng ngập trời
Lối cũ mơn man làn gió thoảng
Vườn xưa nhoà nhạt ánh trăng lơi
Bâng khuâng giở lại vần thơ cũ
Một mảnh hoa tiên gói vạn lời
NGẮM CẢNH CHÍ LINH
Một sáng hè vui tới Chí Linh
Núi non yên ả gợi bao tình
Bàn Cờ thế cuộc chưa ngơi nghỉ
Bãi Đá thời gian vẫn nín thinh
Rừng trúc gió qua khua lắc cắc
Suối rêu nước chảy gợn rung rinh
Đồi xa tít tắp mùa hoa vải
Lớp lớp rừng non mới tái sinh
HÈ CHÍ LINH
(Hoạ thơ Kim Cúc)
Trở lại Chí Linh một sáng hè
Ngỡ như lạc giữa cả rừng ve
Chùa Hun sáng bảnh mây cao tít
Bến Nấu trưa tràn khách vắng hoe
Lớp lớp sông Thương phơi yếm lụa
Tầng tầng núi Phượng rải màn the
Nước non kỳ vĩ như thay mới
Một dải Quỳnh Sơn mãi chở che
Thứ Tư, 22
tháng 5, 2013
TRỞ LẠI TRƯỜNG SƠN
Bất ngờ trở lại Trường Sơn
Nghe câu hát cũ trong cơn mưa chiều
Người về thêm những lời yêu
Để hồn thơ với bao điều nhớ nhung
Núi non muôn lớp chập chùng
Gái trai thuở ấy thề cùng nước non
Tháng năm dằng dặc mỏi mòn
Vết thương ngày cũ vẫn còn đớn đau
Khấn thầm đồng đội ở đâu
Chiều nay xin hãy cùng nhau trở về
TÂM SỰ CÙNG XOÀI
Cây xoài đã lại ra hoa
Thêm mùa xuân nữa thế là mười năm
Mẹ già giờ đã xa xăm
Cây xoài chẳng có ai chăm mỗi ngày
Rào tre đâu thể chất đây
Trái chua mời gọi cả bầy trẻ thơ
Cây xoài đứng đó chơ vơ
Tuổi mười lăm lúc bấy giờ … khẽ
thôi!
Mười năm giờ đã xa xôi
Ớt cay, muối mặn thế rồi... dần xa
Lại nghe ai đó (?) thoáng qua
“Nhớ ăn in ít kẻo mà sún răng”
Mười năm rồi... đã mười năm!
Lại nghe tiếng mẹ xa xăm thuở nào.
Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014
SAI MỘT CHỮ HỎNG CẢ BÀI THƠ
Kỳ nội san số 53 của tổ thơ
CLB Côn Sơn có một bài thơ mang tựa đề là BÓNG được viết với nguyên văn:
BÓNG
Giã biệt
hôm nao dấu hãy còn
Khối thề vận
đủ nước cùng non
Khơi kia vẫn
thế chưa hề cạn
Núi ấy như
nguyên chẳng chịu mòn
Mái tóc
xuân xanh dù đã bạc
Ước mơ son
trẻ vẫn chưa tròn
Giã từ đâu
phải không về nữa
Người dẫu
ra đi bóng vẫn còn.
Về nội dung câu từ thì bài
thơ không lấy gì làm xuất sắc lắm nhưng gửi gấm trong đó là một tâm sự khá rõ về
một nỗi niềm chua chát khi nhận ra rằng những gì mà người làm thơ tự hứa với
mình vẫn chưa hoàn thành qua hai câu luận:
Mái tóc
xuân xanh dù đã bạc
Ước mơ son
trẻ vẫn chưa tròn
Nội dung đó lại được tiếp
theo với một tâm ý khác đó là sự nhắc nhở rằng dù thế nào thì khi ta đã thề thốt
với lòng mình thì phải cố mà hoàn thành. Vì cho dù mỗi con người sinh ra, tồn tại
rồi đi về cõi vĩnh hằng đâu phải chỉ một mình với mình trong cuộc sống. Cho dù
là người bình thường nhất trong cuộc sống cũng có trên mình là tổ tiên, ông bà,
cha mẹ và dưới mình là con cháu và những thế hệ sau đó nữa. Huống chi cái chí
nam nhi như cha ông ta xưa muốn vươn tới là phải “tề gia, trị quốc, bình thiên
hạ”. Đó cũng chính là trách nhiệm làm người quân tử, cái bóng của chính ta còn
để lại cùng với sự thề thốt khi xưa. Tuy nhiên hai câu luận của bài thơ lại được
in thành:
Mái tóc
xuân xanh dù đã bạc
Ước
mơ xuân trẻ vẫn chưa tàn
Có lẽ khi ấn loát cán bộ
biên tập đã không xem lại và để cho hai câu thơ trên bị thay mất hai từ, đó là
từ (xuân) thay (son) và từ (tàn) thay từ tròn. Về
từ (xuân) thay (son) thực chất không có hại gì mấy, tuy
nhiên (xuân) đã lặp lại một lần nữa trong bài Đường luật mà
người làm thơ Đường luật luôn kiêng cữ cái sự lặp từ để mong sao có đủ “56 viên
ngọc quý” cho một bài thơ
Với từ (tàn) thay
cho từ (tròn) thì bài thơ đã mắc phải hai thiếu sót khó có thể bù đắp
được. Trước hết phải nói rằng vần (an) đã nằm ngoài bộ vần (on) thông
suốt từ đầu đến cuối bài thơ của tác giả. Thiếu sót thứ hai là không còn giữ được
chủ ý (tự vấn) mà lại tỏ ý (khoe khoang) dù đã già nhưng vẫn
chưa tàn hơi, tàn sức đủ để hoàn thành cái lời thề chưa được thực hiện suốt những
năm tháng tuổi trẻ. Với cách in nhầm như thế này chắc sẽ không thiếu gì người
buột miệng: “Trẻ còn chẳng ăn ai nữa là…”
Chỉ với một chữ thôi mà bài
thơ đã quá xa với chủ đề đến vậy và tác hại cũng to lớn đến vậy. Lẽ nào những
người biên tập không cố gắng giữ hộ cho tác giả một từ như thế để bài thơ và
tình thơ trọn vẹn.
CHỮA THƠ LÀM KÉM HẲN ĐI
Năm 2012 mỗi hội viên trong
CLB được gửi in trong Thơ Đường đất Việt hai bài, tác giả (LTH) cũng gửi lên
như mọi người và điều không may mắn là một trong hai bài này cũng bị mang ra sửa.
Tuy cái sự sửa không lấy gi làm to lớn lắm nhưng cái sự đáng buồn là người biên
tập đã không hiểu phép làm thơ và từ đó dẫn đến coi thường tác giả.
Đành rằng thơ là một dạng
văn chương mang tính đa nghĩa, thậm chí độc giả có khi cũng chẳng cần hiểu đúng
với chủ đề của bài thơ như tác giả đã ngụ vào đó. Tuy nhiên đã làm biên tập thì
phải cố nắm bắt cái ý tứ của tác giả để mà biên cho chắc, còn nếu chưa hiểu thì
thế nào để yên thế là được (loại trừ các bài phạm lỗi quá lớn thì cắt cả nó
ra).
Bài tác giả gửi về Thơ Đường
luật Việt Nam tập 7 là bài khoảng trống đây là một
bài thơ Đường luật nói về tâm trạng man mác buồn:
KHOẢNG TRỐNG
Chiều hạ
lên đê để giải nồng
Bến đò dào
dạt rộng mênh mông
Ngàn con sóng
vỗ xanh dòng nước
Muôn ánh hồi
quang đỏ cánh đồng
Vài chiếc
lá vàng bay giữa gió
Đôi nhành
lau héo chảy ngang sông
Chẳng hay
muôn vật về đâu đó
Để lại bên
bờ khoảng trống không.
Bài thơ cũng đơn giản và
không dám cho là đặc sắc, chỉ có đôi chút cảm giống người xưa (có thể nói học
theo lối người xưa cũng được). Bài chỉ bị chữa một chữ (đó) ở cuối
câu 7 thành (nhỉ) và thêm sau chữ nhỉ một dấu chấm hỏi to tướng (?).
Vài chiếc
lá vàng bay giữa gió
Đôi nhành
lau héo chảy ngang sông
Chẳng hay
muôn vật về đâu nhỉ ?
Để lại bên
bờ khoảng trống không.
Điều người biên tập không
hiểu rằng người làm thơ đặt hai câu luận bằng hình ảnh cùng với cặp kết mở vốn
không phải không hiểu cái sự (lá vàng bay) và (lau héo
trôi) sẽ đi về đâu!
Câu hỏi chẳng qua là hỏi
cho có hỏi, hỏi cho có cớ để mà nói về cái sự trống trải kia thôi chứ đâu phải
tác giả cần người chỉ dẫn cho (lá vàng) và (lau héo) sẽ
về đâu. Cũng chính vì thế mà (nhỉ… nhả) không thơ… được.
KHÔNG DÁM ĐĂNG VÌ SỢ HỎNG THƠ
Vào năm 2009 CLB thơ Đường
Unesco thu bài để in thơ năm đó. Cũng như các tác giả khác (LTH) cũng gửi hai
bài và sau một thời gian Ban biên tập đã gửi bản bông trở lại cùng với hai bài
thơ đều bị chữa bởi phạm lỗi điệp thanh và không đối.
Ngoài ra, mỗi bài còn được các nhà biên tập gợi ý sửa theo những câu chữ của họ.
Lẽ dĩ nhiên là tác giả không tán thành vì nếu thơ phải nhờ sửa thì chả hóa ra cảm
xúc của mình bị sửa. Mà cảm xúc đã bị sửa thì làm thơ phỏng có ích gì và tác giả
đành thông tin rằng nếu sửa thì không được đăng. Cuối cùng thì các nhà biên tập
đã không đăng và thế cũng là may!... Dưới đây lại xin có đôi dòng về những bài
thơ ấy.
Bài thứ nhất với
nhan đề là Thăm Huế. Đây là một bài thơ tự sự viết về Huế, một
trong những nơi vẫn còn giữ được nhiều chứng tích về một trong những triều vua
đặc trưng cho nền Quân chủ dài mấy ngàn năm trên đất Việt.
Để có thể nói về Huế thì
nhiều điều muốn nói lắm, nhất là những năm gần đây Festival Huế đã từng giới
thiệu làm cả thế giới cũng mê Huế chứ đâu phải riêng người Việt Nam ta. Thế mà
thơ về Huế và nhất là thơ Đường luật về Huế làm sao có thể bê nguyên vẹn cả Huể
vào thơ được. Cũng chính vì lẽ đó mà lựa chọn và lựa chọn là sự cần thiết. Tuy
nhiên những lựa chọn có lẽ cũng nên khách quan một chút cho cả xưa và nay, cho
cả văn hóa vật thể và phi vật thể chắc sẽ hay hơn.
Nghĩ sao làm vậy và rồi để
có một Huế trong lòng của riêng mình một bài thơ dài hơi hơn một chút đã được
viết ra.
BÀI THƠ VỀ
HUẾ
Bông hoa
đèn trôi mãi trên sông
Vẳng xa những
câu Nam, câu Lý
Lời mời gọi
vô tình hay hữu ý
Có ai về với
Huế của em không (?)
Về với Huế
từ lâu đã muốn
Ngắm vàng
son để nhớ ngày xưa
Nghe câu
hát thấy tình sông núi
Mấy trăm
năm còn đó những triều vua
Những mảnh
sứ nở hoa trên tường, trên cột
Mái ngọc
lưu ly cháy rực buổi hoàng hôn
Khuôn mặt
đá sao im lặng thế
Dấu chân
nào từng qua cửa Ngọ Môn
Chào đây
Huế quãng đường xa ngái
Câu thơ da
diết gọi ta về
Vườn xưa vẫn
“mướt xanh màu ngọc”
Đỉnh đồng
cao ươm nắng sau hè.
Ta đến Huế
chợt thấy hồn đã Huế
Trái sầu
riêng ai bán chợ Đông Ba
Bát cơm hến
ai mời bên ghế
Ngụm chè
sen ai rót dưới hiên nhà.
Về với Huế!
Hôm nay về với Huế
Nước dòng
Hương em hát đợi chờ
Chuông
Thiên Mụ thắp niềm xao xuyến
Để cho
lòng say hết một mùa thơ.
Tuy nhiên để có một bài thơ
Đường luật về Huế mới là điều mà những người làm thơ Đường luật mong muốn và
cái ý chọn trong khối hình ảnh này xem có điều gì mang tính chọn lọc nhất. Cuối
cùng thì cái hình ảnh về Huế cô đọng cũng đã xuất hiện. Đó chính là ánh nắng
hoàng hôn rót trên mái ngói lưu ly xanh biếc hắt lên trời ánh hào quang của mồ
hôi bao người thợ gốm. Đó là sắc tím thủy chung của tà áo dài choàng trên vai
bao cô gái Huế đã bao lần xuất hiện trong thơ Hàn Mặc Tử và cả trong thơ Tố Hữu
lúc sinh thời. Đó là những lầu gác vàng son và cả những nẻo ngõ đi lại ngày thường
bắt gặp. Nếu có thể ghép người ấy, cảnh ấy vào nhau lẽ nào không thơ cho được
và Thăm Huế hiện ra từ đó
THĂM HUẾ
Mới gặp mà
sao đã thiết tha
Sông Hương
dìu dặt tiếng đàn ca
Lầu xưa nắng
rót xanh màu ngọc
Vườn mới
sương buông tím sắc hoa
Thái Miếu
thong dong chờ khách đến
Tràng Tiền
nhộn nhịp đón người qua
Mới vừa gặp
gỡ chiều thu Huế
Cứ tiếc
mai ngày đã phải xa
Thăm Huế có đủ
cả nhã nhạc cung đình nên “dìu dặt”; Thăm Huế có Ngói
lưu ly hứng nắng ban chiều, có vườn Hàn Mạc Tử cùng với
bóng giai nhân chờ đợi, có Thái Miếu thờ cả một triều đại các
vì vua, Thăm Huế còn có Tràng Tiền giữa đời
thường hoa lệ biểu tượng của Huế thời nay.
Điều đáng buồn là bài Thăm
Huế cũng đã bị sửa mất một từ (buông) với nhiều ý vị.
Từ (buông) này mắc lỗi điệp thanh nghĩa là (buông) và (hoa) cùng
đều là thanh bằng không dấu. Khi từ (buông) bị loại thì các vị
biên tập đã gợi ý rằng nên thay từ (cài) vào đó (kể ra cũng hợp
lý lắm). Về lỗi điệp thanh đó không phải tác giả không hiểu mà là cố ý bỏ qua lỗi
này để lấy một từ (buông) nói về một thứ hoa đẹp… trên hoa,
còn (sương cài) trên hoa tím thỉ chỉ là hoa của chính hoa
thôi. Huống chi có khá nhiều các cụ thơ xưa như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân
Hương, Nguyễn Khuyến cũng chẳng ngại dùng cách này cho thơ của các cụ.
KHÔNG THỂ ĐƯỢC IN VÌ KHÔNG ĐỐI
Cũng trong hoàn cảnh nói
trên, một bài thơ khác của tác giả lại bị cho là không đối và
rồi cũng bị chữa cho đúng với yêu cầu của các nhà biên tập. Bài thơ có nhan đề:
CHIỀU HÔM
TỨC SỰ
Trời đã
sang tây nắng tắt rồi
Chiều dần
như khói thoảng đang trôi
Cánh chim
hun hút bên trời vắng
Ngọn cỏ âm
thầm giữa bến côi
Mắt đã
thân quen vùng nước lạ
Lòng còn
vướng bận khoảng sa bồi
Chia ly
bao kẻ không từng trải
Quần tụ
tìm xem được mấy người
Đây là bài thơ nói về nỗi
nhớ (những) quê hương của tác giả trong lúc bâng khuâng xao xuyến khi quyết định
không về quê chính mà ở lại nơi quê mới lập nghiệp. Nói về tình quê thì tác giả
chưa hẳn đã giỏi bằng nhiều người khác nhưng nhớ quê, nghĩ về quê thì chắc ai
cũng giống ai. Quê của tác giả vốn là nơi đất mặn ở miền Nam Định, một
trong những vùng đất được bồi đăp từ ngàn đời của con sông Đáy và cả của biển
Đông rộng lớn bao la. Còn nơi quê mới mà tác giả ở lại chính là miền sông nước
Hải Dương, nơi mà có cả sáu đầu sông chung nguồn chia nước, những Thương cùng Cầu
hòa trong vào đục để rồi có một Thái Bình dồn sức về khơi.
Cùng với dữ kiện ấy, tâm sự
ấy lòng ai không khỏi suy tư và liên tưởng xa xôi, nhất là khi cuộc đời cũng
như bóng nắng cuối ngày đã ngả dài hơn một chút về tây. Khi đứng trên bờ đê ấy
ngắm ánh hoàng hôn ấy hỏi sao không lay động, đây chính là chất xúc tác để bài
thơ xuất hiện. Bài thơ có cái tên không mấy ăn nhập với đề tài cụ thể trong
thơ, tuy nhiên lúc đó không hiểu sao lại đặt ra như thế.
Với dải trên của bài thơ đã
để cho đề và thực đan xen vào nhau để mở ra cả một trường hình ảnh rộng lớn đặc
trưng cho sự đơn côi của một người xa xứ. Nỗi đơn côi từ trong cánh chim bay
hun hút về xa tắp; nỗi đơn côi trong sự trôi nổi của một ngọn cỏ nhỏ nhoi trên
dòng nước xiết lướt qua trước mặt đã quá thừa để nói về cái buồn đến tê tái của
người xa xứ.
Những hình ảnh chợt tan đi
để dải sau dồn nén cao độ phát thoại vào câu chữ. Đó là tình cảm gắn bó với sự
thân quen của bao hình ảnh hiện tại trên mảnh đất mà ta đang sống, đang tựa vào
đó mà tồn tại, mà mưu cầu hạnh phúc. Chính từ đây lòng càng yêu mến cái miền
quê mới ấy, bởi từ nơi miền quê mới ấy đã thành kỷ niệm khó rời xa. Cũng ngay
trong lúc ấy bất chợt những gì thân thiết cũ cũng hiện ra sáng rõ. Đó là những
gì mãi còn trong tâm thức từ những ngày thơ bé; đâu là hình ảnh ông bà, cha mẹ,
anh em thân thiết cứ bung ra và lớn dần lên mãi, nên cho dù lòng ta đã thân
quen với vùng nước lạ, nhưng vẫn không sao quên được
cái khoảng sa bồi, cái khoảng nhỏ hẹp chôn rau cắt rốn và cũng là
nơi nuôi lớn chính mình.
Mắt đã
thân quen vùng nước lạ
Lòng còn
vướng bận khoảng sa bồi
Chỉ cần hai câu trên đủ để
tỏ lòng mình trước những gì thiêng liêng cao quý, từ đó tỏ được nỗi niềm của
người xa xứ với một ý tứ bé nhỏ: cho dù ta đã yêu nơi quê mới nhưng vẫn
không quên, không bạc với quê cũ của mình. Tuy nhiên điều muốn nói đến
ở đây lại là cái sự buồn trên cả nỗi buồn vì những nhà biên tập đã bắt bẻ để đến
nỗi thơ không thơ… được.
(Câu thơ
trên cũng có thể dùng (lặng) thay (lạ) thì đối
chỉnh hơn, nhưng dùng từ (lạ) mới tỏ được cái ý đây là miền
quê mới)
Như trên
đã nói sau một thời gian gửi bài đi, tác giả đã nhận được bản bông
với nhiều dòng gạch, xóa, khoanh tròn phần cuối câu 5 và 6. Bên cạnh đó xuất hiện
một mũi tên cùng với cùm từ ghi là (không đối). Phía dưới còn kèm
theo một mẩu gợi ý nên chữa (khoảng sa bồi) thành (vạt
sương bồi). Cho đến mãi về sau cũng chưa ai lý giải rằng vì sao khi chữa
thành (vạt sương bồi) thì thoát khỏi lỗi không đối mà
ban biên tập khép vào cho bài viết.
Cho dù mọi sự đã đi
qua lâu rồi nhưng cái sự biên tập chắc không phải lúc nào cũng suôn sẻ và mực
thước. Chỉ mong rằng người làm thơ gắng sao chọn từ chọn ý, còn người biên tập
thì cũng nên xét kỹ giùm cho.
CŨNG CHỈ LÀ SAI MỘT CHỮ THÔI
Vào những ngày tháng 10 năm
2013 ông tổ trưởng tổ thơ Câu lạc bộ Côn Sơn yêu cầu chọn khoảng 25 bài thơ để
in trong tập “Kỷ yếu 20 năm xây dựng và trưởng thành của Câu lạc bộ Côn Sơn”.
Các bài gửi đi đều đã được duyệt khá kỹ thế mà khi biên tập người ta đã tùy ý sửa.
Điều đáng tiếc cái sự sửa ấy đã làm mất đi những điều thơ nhất trong thơ.
Bài
thơ bị sửa có nhan đề là Thơ về mẹ, đây là một
trong muôn ngàn bài thơ viết về mẹ như bao người đã viết. Tuy nhiên bài thơ hơi
khác thường vì toàn bộ nội dung không dùng những lời lẽ to lớn để ca tụng công lao
và tình mẹ đã dành cho những người con. Bài thơ còn khảng định bao lời đẹp đẽ
nhất, thắm thiết nhất và cao sang nhất đã bị đời lấy dùng hết cả rồi.
Nhưng cho dù là thế thì người làm thơ cũng đã dùng từ ngữ để mô phỏng bài thơ về
mẹ. Sự mô phỏng đủ để cho người đọc hiểu thơ về mẹ vốn thiêng liêng và cao quý
nếu chỉ tỏ bằng ngôn ngữ, giấy mực thì sao nói hết được lòng con với mẹ.
THƠ VỀ MẸ
Thơ về mẹ viết hoài không đủ ý
Bao lời thương đời lấy cả rồi
Thơ về mẹ chói loà trang sách quý
Chỉ riêng mình con đọc được mà
thôi.
Thơ về mẹ viết không có chữ
Giấy là tim, mực máu chảy vô hồi
Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ
Đến khi nào cạn sạch thì thôi.
Thơ về mẹ chẳng con nào viết nổi
Vì mẹ là thơ của muôn thơ
Bao nhiêu cũng chỉ là chẳng đủ
Mẹ đi rồi…ta ước chỉ là mơ (!)
Sự mô phỏng ấy cũng đã khảng
định mẹ vốn là thơ, mỗi thời khắc vẫn cứ thường xuyên tồn tại trong sâu thẳm tấm
lòng của mỗi người con. Để rồi với tim ấy, máu ấy từng câu thơ hiện ra trong “ý
nghĩ” của mỗi người con từ khi còn rất bé cho đến khi lớn lên, giả cả, cho đến
khi rời khỏi cõi đời.
Tuy nhiên, Thơ về mẹ đã
bị sửa câu (Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ) thành (Bao
lời lẽ nối dài theo ý nghĩa). Từ “nghĩ”
trở thành “nghĩa” trong câu và chỉ một từ “nghĩa” mọc ra thật vô nghĩa dường
bao.
A mistake ruin POEM America's 53 newsletters Kunshan club organized a poetry poem is
titled SOCCER was written with the full text:
SOCCER
Today
marks the farewell yet still
Block may
still immature enough water along
Paying the
world still has not exhausted other
Vulture
material such as corrosiveness
His hair
was silver though the green spring
The dream
has not yet rounded young son
Farewell
to not go anywhere anymore
The ball
still go though.
Questions about the content
of the poem do not get too much to say for it's sending a pretty clear the
center of a bitter feeling when I realized that what people do with their free
verse promises not yet completed the last two sentences Comment:
His hair
was silver though the green spring
The dream
has not yet rounded young son
Content That was followed
by another with a mind that is a reminder that no matter what, when I was sworn
to his heart that there must be complete. For though every human born, survive
and go on to eternity where alone with her in life. Whether it's the most
normal person in his life is also on the ancestors, grandparents, parents and
children themselves under and the generation after that. Much more so macho
even as his father's old wanted to reach out to "keep house, governance,
average galaxy". It is also responsible for the gentleman, our own shadow
leaves along with the ancient oath. But two verses of the poem speech was
printed in:
His hair
was silver though the green spring
Dreams Spring has
yet young disabled
Perhaps when printing the
editor did not look back and let two verses are rather lost on two words, which
is from ( spring) instead of (son) and from
( disabled) instead of ( rounded). terms
from (spring ) instead of ( son ) actually do
not have that much damage, however (spring) was repeated again
in all laws that make poetry Sugar Sugar the law always abstain from repeating
the wish to have the "56 jewels you "for a poem
With word ( disabled) instead
of ( circular) , the poem has acquired two shortcomings can hardly
compensate. First of all to say that rhyme ( police) were
located outside of the spell (on) smoothly from beginning to
end of the poem the author. Second shortcoming is not retained intention
( self-talk ) but expressed ( brag) despite
slightly older but still not wreak, wreak enough power to complete the
unfulfilled vows during the five-month-old young. With that mistake in this way
will not lack what make people blurted out: "Kids do not eat anyone else's
..."
Just a word alone with that
poem with the theme too far and harm so great and so. Perhaps the editors do
not try to keep the author a household word like love poems and poetry to
complete.
FIRE hairdresser did worse
2012 per member clubs sent
in Can Tho Sugar Land in Vietnam two articles, the author (LTH) as well as sent
to everyone and unfortunately this is one of two articles also carry out
repair. But the correction do not get too big but sadly what the editor
did not understand Prosodic and thereby leading to belittle the author.
Despite the fact that
poetry is a form of literature that brings versatility, even if readers do not
need to understand properly the subject of the poem in which the author lived.
However, the editor has tried to capture the attention of the author to the
quarter-edge for sure, even if they do not understand how that is to be left
alone (excluding all the big mistakes, then cut it all off) .
Last post on Poetry
Street author Vietnamese law Male episode 7 is all the
space here is a poem about Street Law melancholy mood:
Glade
Afternoon
on the dike in order to lower the
concentration
Wharf vast
abundance
Green
waves rolling waters
Sparkling
red in the optical field
A few
yellow leaves fly between wind
The fast
flowing wipe withering cross-river
Or such
things somewhere else
Leave
shores void.
The poem is simple and does
not dare to be unique, just feel a bit like the old (can say the old school
style will do). Post only one word extinguisher ( it) at the
end of verse 7 (right) and add text right after a huge question
mark (?) .
A few
yellow leaves fly between wind
The fast
flowing wipe withering cross-river
Or where
such things about it?
Leave
shores void.
What the editors do not
understand that the verse concludes with the question put two images together with
the opening pair which is not not understand what the (yellow leaves
fly) and (wipe withered away) will go!
The question is nothing
less than to have to ask questions, which ask for an excuse to talk about the
emptiness there's not only the author but need someone to guide (gold
leaf) and (wipe wilting) will go where. So also that
( eh ... release ) ... is not poetry.
DO NOT SIGN FOR YOU EVEN THO pink
book
In 2009 Unesco Club Road
poetry collection poetry in post to print it. Like other authors (LTH) also
sent two posts and after some time the editorial board of the galleys sent back
along with two poems were unfair treatment by radio messages and not
for . Also, each post is also the editor of your proposal according to
their wording. Of course, the author does not agree because if they do not
fix poetry thanks to his feelings turned out to be correct. That feeling
was correct, then what is the point to write poetry and authors that if the
correct information had not been posted. Finally, the editors have not posted
and that is lucky! ... Please have the following pair of lines of the poem.
The first article is
titled Visiting Hue . This is a narrative poem written in Hue,
one of which still retains much evidence of one of the kings of characterizing
long Monarchy Vietnam thousands of years on earth.
To be able to talk about
Hue is much more to say, especially in recent years has been introduced Hue
Festival makes the whole world also love the own right but where Hue Vietnam
one. Yet poetry is poetry about Hue and Hue Street about how law can both Hue
intact concrete poetry. It was for that reason that options and selection are
necessary. But the choice should probably also a bit impartial to both
past and present, for both material culture and intangible sure that would be
better.
Think how to do it and then
have a heart of Hue in itself a long poem than a little bit has been written.
POEM ABOUT
HUE
Flower
lamp float forever on the river
South
sonorous phrases, sentences Ly
The
invitation to inadvertently or intentionally
Does
anyone of you not in the Hue (?)
About Hue
has long been wanted
Sight to
remember the golden old days
Listen to
the lyrics to see the mountain river
Hundreds
of years there are kings
The
porcelain on the wall blooms, on column
Roof
flaming pearl lapis sunset
Rock star
faces silent world
Footprint
ever through Ngo Mon gate
Welcome
here Hue distances sleepy
Remove
skin verses call us on
Old garden
still "smooth turquoise"
Top high
copper nursery after the summer sun.
I suddenly
found the stone to Hue Hue
Who sells
durian Dong Ba Market
Who
invited the rice bowl of mussels seat
Who poured
tea sip sen porch.
About Hue!
Today in Hue
Water
Perfume River waiting for you to sing
Chuong
Thien Mu lit tumultuous joy
In order
to feel drunk off a season of poetry.
But to have a poem about
the Hué Street law is what the law rhymer desired street and the block chosen
in this picture can see what the most selective. Finally, a concise picture of
Hue also appeared. That's the setting sun on the roof pouring lapis blue sky
sing sweat halo of how the potter. It is a faithful color purple robes of a
long shirt over her shoulder bag which matched Hue in Han Mac Tu Huu and in
poetry during his life. That is the golden storey and the travel lane anchor
caught weekdays. If he can combine, in the same scene probably does not give
the poet and Visiting Hue out from there
VISIT HUE
New stars were eager to see that
River music and voice guidance
Floor ancient turquoise sun poured
New garden flower color dew
chamber
Thai Temple sauntered waiting for
passengers to
Trang Tien welcome people bustling
through
Just meet revenue Hue pm
Every day tomorrow unfortunately
had far
Visit Hue enough
so the court music "mentor"; Visit Hue has lazuli
tiles inspired afternoon sun, a garden Han Mac Tu 's
with ball waiting period, there are Thai Temple Church of the
dynasty of the Kings , Visit Hue also Trang Tien daily
lives Hue magnificent symbol of our time.
The sad thing is all Visiting
Hue has also been modified to take a word (let go) with
good intention. From (release) This means that mistakes bar
messages (let) and (flower) are the same bar
with no sign. As from (let) the position was eliminated, the
editor suggested that should be changed from (installed) on it
(including the very reasonable as well). The error message does not sound right
does not understand that the author is deliberately ignoring this error to take
a word ( let go) talk about something beautiful flowers ...
the flowers, and (dew installed) on purple flower is just a
flower of the flowers only. Much more has a lot of old stuff like poetry Ba
Huyen Thanh Quan, Ho Xuan Huong, Nguyen Extension would not hesitate to use
this method for the poetry of the instrument.
NOT BECAUSE NOT TO BE IN
In the above circumstances,
the author of the poem was attributed not to heal and then
also being true to the requests of the editors. The poem, entitled:
NEWS OF THE DAY AFTERNOON
It was then off to the sunny west
Afternoon gradually drifting like
smoke occasionally
Smoked wings smoking inside empty
sky
Grass silently between the orphan
Eyes were familiar strange waters
The heart was encumbered about
sediment
Separation Baoji not experienced
Clustered to find out how many
people
This is a poem about
nostalgia (s) in the author's homeland wistfully troubled time when the country
decided not to stay in place that establish a new home now. Talking about the
country, the author is not necessarily as good as others but nostalgic,
thinking about home, perhaps someone who is the same. Which is the author's
hometown where saline soils in southernMaleDinh, one of the land enriched by
the perennial river from the bottom of the sea and the immense East. As a new
country where the author is in the domain of Hai Duong River, where the river
has started all six countries sharing common resources, the Trade and
Globalization in on a chisel and then focusing their efforts on the Pacific
coast.
Along with that data, who
said he could not help thinking heart and think distant, especially when life
as well as the end of the day the sun shadow has fallen a bit longer than the
west. When standing on the sea wall watching the sunset was asked why he did
not shake, this was the catalyst for the poem appeared. The poem has a few
names not fit in with specific themes in poetry, but then somehow put out like
that.
With a range of poems on
the subject and has intertwined to open a large image field for the
characteristic of a lonely exile. That lonely bird flying from the smoke of
spurious hun; that the floating alone in a little grass on strong currents pass
in front was too excessive to say about the sad numbness of expatriates.
The picture suddenly melt
away to strip later found highly compressed voice into words. It's emotional
attachment to the familiar image of how existing land on which we live, are
entitled to that which exists, that the pursuit of happiness. It is from this
love heart as the country's new, because the new country from where he had a
difficult memories away. Also right in that moment suddenly close the old what
also appeared brighter. That's what was in the mind forever from his childhood
days; Where is the image grandparents, parents, brothers and dear inflates
itself grows forever, so even though my heart was familiar with strange
waters, but never forget that the sediment about ,
what about small narrow buried native vegetables and also raised his own place.
Eyes were familiar strange waters
The heart was encumbered about
sediment
Just two questions on his
full dedication to spiritual advance what noble sentiments which were expressed
by expatriates with a little considerate: even if we have love new
hometown but still not forget, not silver with their former homeland. however
mean there is a sadness on sadness because the editor retorted that verse to
verse ... is not.
(Verse can
also be used on (quietly) instead of (strange) it
to adjust more, but use of (strange) is a new show that this
is a new country)
As
mentioned above after posting a time away, the author has received galley
with tile lines, delete, circle end sentences 5 and 6. Besides appearing with
an arrow phrase is recorded (not to). Underneath
was accompanied by a
suggested repair pieces (about sediment) into ( tie
compensation dew.) So nobody ever after also explain why the treatment
that the (lap dew compensation) then exit out error for
not closing on the editorial board for the post.
Although things have
gone so long gone but the editors do not always make smooth and level meters.
Just hope that people write poems to choose from choosing the star, and the
editors should also carefully reviewed behalf.
Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014
THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG
Ai làm say đắm hồn ta
Để bâng khuâng những chiều xa đợi chờ
Lời xưa hò hẹn chưa mờ
Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi
Cho dù trăng đã khuyết rồi
Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho nhau.
Chẳng thà đắt lúa rẻ cau
Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…
Hôm nay khép áo lên chùa
Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ
Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ
Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến không.
Nhìn ra bốn phía mênh mông
Thả tay buông nắm tơ hồng ngày xưa.
TRĂNG XANH
Mai về nối lại lời yêu
Quên đi tất cả những chiều cách xa
Nắm trong tay của người ta
Đợi vầng trăng lại ló ra tỏ tình
Bâng khuâng sao những ảnh hình
Ngày xưa cứ bám theo mình mà đi
Hình như trăng của mọi khi
Vẫn xanh biếc dưới bờ mi thuở nào.
HOA CAU
Bảo rằng “sông rộng một gang”
Chỉ qua “dải yếm” là sang tới rồi
Thế mà mấy chục năm trời
Vẫn không đến được với người tri âm.
Khi yêu người chỉ nói thầm
Lấy đâu báu vật để cầm làm tin
Nhỏ nhoi, trời rộng cánh chim
Biết đâu lối cũ mà tìm được nhau.
Đành chờ đợi để lần sau
Bâng khuâng ngồi ngắm hoa cau nở vàng.
LẠI MƠ
Đã mơ gom ánh trăng vàng
Gửi vào câu hát mơ màng bên sông
Đã mơ gom nắng tươi hồng
Để pha vào gió vẽ cùng thời gian
Ngờ đâu sau giấc mơ tan
Nhìn ra chỉ thấy muôn ngàn xa xăm
Tìm đâu ước hẹn trăm năm
Tròn đầy với những đêm rằm trăng treo
Ai làm xô dạt cánh bèo
Để đau mãi một mái chèo sang ngang.
HOA NGÔ
Đã lâu người mới quay về
Hoa ngô xào xạc bên đê sông Cầu
Áo ai phơi tím ruộng mầu
Tóc ai chảy bạc cả đầu bến sông
Chói chang khắp hết cánh đồng
Con đò…đã chẳng còn trông thấy gì
Gậy tre chống dọc đường đi
Nghiêng tai mãi chẳng nghe chi những lời
Thôi đành mượn ánh mắt cười
Gật đầu đáp lại với người thương yêu
Bờ đê vàng nắng trong chiều
Chuyện ngày xưa, chẳng nhớ nhiều nữa đâu!
Hoa ngô xào xạc bên nhau
Rưng rưng hỏi lại…năm sau có về?
RAU KHÚC
Chẳng ai trồng khúc bao giờ
Vẫn xanh, vẫn trắng cả bờ bãi sông
Nếp hương ai lựa trắng bong
Đậu xanh ai đãi vàng ong bên hè
Em cười, khẽ rụt tay về
Có là chi một chút nghề giản đơn…
Nửa chiều bãi đất trống trơn
Bao cây rau khúc cô đơn mọc hoài
Bồn chồn ngày ngắn, đêm dài
Tiếng rao lanh lảnh vang ngoài tường vôi
Phố thay làng đã lâu rồi
Chỉ còn rau khúc…bồi hồi tiếng rao.
KHÓI RƠM VÀNG
Chiều rồi gió lộng bờ đê
Khói rơm vàng thổi cháy khê cổng đình
Trời cao sao khéo vô tình
Lấy chảo mây úp ta mình vào trong
Nhìn xa chỉ thấy cong cong
Bâng khuâng trước mặt chấn song cửa gầy
Có bao nhiêu lớp mây dầy
Dấu chân trần thuở thơ ngây đã mờ
Tìm đâu ra lối bây giờ
Khói rơm vàng cứ lượn lờ quanh ta.
GỬI TÌNH CHO TRĂNG
Xa nhau suốt cả cuộc đời
Không hình, không tiếng, không lời nhắn nhe
Để tàn bao lớp hoa tre
Để khô bao lớp vàng hoe duối vàng
Mười hai bến nước cho nàng
Mười hai cửa ải cho chàng mãi xa
Chẳng giận mình, chẳng giận ta
Thương sông, thương núi, chẳng hòa vào
nhau
Đêm nay người ở nơi đâu
Nhìn lên trăng để khắc sâu chữ tình.
VỢ MỜI UỐNG RƯỢU
Em nào có nghiện rượu đâu
Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.
Có say thì đã say rồi
Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.
Say từ mới nở hoa cau
Chẳng cần mặc cả trước sau thế nào.
Say từ rời chỏm trái đào
Đến nay lấm tấm bước vào tuyết sương.
Tha lôi khắp các công trường
Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô
Giường ghép ván, gạo đựng xô
Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu
Mưa rơi chảy ướt trên đầu
Đành ngồi bó gối nhìn nhau mà cười.
Có say, lúc ấy say mười
Bữa nay chẳng biết uống rồi có say.
Rõ là những đắng cùng cay
Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.
Uống cùng em…một chén thôi
Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu
Nuốt vào hết mọi nỗi sầu
Để say như thuở ban đầu mới quen.
THĂM LẠI PHÁO ĐÀI 44
(Nhà máy điện Hàm Rồng Thanh Hóa)
Lối xưa hoang vắng mất rồi
Một bờ công sự bồi hồi đợi ai
Cỏ cây vô ý mọc hoài
Che đi một thuở đỏ trời đạn bom
Che đi hết những chiều hôm
Khói theo hầm gạch gió nồm khẽ bay
Nối nguồn sông Mã về đây
Nước tuần hoàn lại tưới cây trên đồng
Hiểm nguy vẫn chẳng ngã lòng
Tuổi thanh xuân với tim hồng đẹp sao
Bỗng đâu lòng lại dạt dào
Đôi dòng mờ tỏ khắc vào tháng năm.
LỆ ĐÁ
Lại về thăm thánh Mị Châu
Nỗi đau hồn đá không đầu còn đây
Tưởng rằng gương hận đã đầy
Thân trai ngậm ngọc bấy chầy còn đau
Mai sau, dài những mai sau
Có còn ai đó phải lau lệ buồn.
NHỚ LỜI HEO MAY
Chỉ còn có gió heo may
Thổi vào góc bếp làm cay mắt già
Chiều nào một cháu một bà
Nửa niêu cơm độn với cà kho tương
Tưởng đâu đời lắm sắc hương
Các con quên cả góc giường chuối khô
Quên con đường nhỏ ngoại ô
Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn khênh
Một đời bà mãi lênh đênh
Nuốt vào tim những chông chênh ở đời
Mai sau con có nên người
Nhớ về quê để nghe lời heo may.
HUN KHÓI GIỮA RỪNG SÂU
Ai hun khói giữa rừng sâu
Những hầm than nguội lừ lâu bên rào
Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào
Cất vào đâu để đi vào tuyết sương
Câu thơ nhân ái, yêu thương
Hùng tâm tráng khí vô thường còn đây
Nghe đàn suối, uống rượu cây
Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi niềm
Bỏ đằng sau những tị hiềm
Để quay trở lại mà phiền lụy thân
Nỗi đau đâu chỉ một lần
Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng qua…
Oan khiên đâu dễ tìm ra
Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu
Ai hun khói giữa rừng sâu
Sáu trăm năm chửa nhạt mầu bi thương.
ĐỐT LÁ THAY RƠM
Ngày xưa ai đã đốt rơm
Khói bay, bay mãi từng cơn lên trời
Bên tai ru bấy nhiêu lời
Bảo cho cái kiến phải rời củ khoai
Ngoài kia ai đến cùng ai
Phải chăng vẫn chỉ là trai với cò
Mỏ dài, vỏ cứng chẳng lo
Lại đau cái nắng làm cho yếu mềm
Thì ra cái ác, ác thêm
Hùa nhau để mở ruột mềm trai ra.
Bao giờ rụng hết lá đa
Để ta cầm chổi theo ra quét chùa
Gom bao lá rụng cuối mùa
Đốt lên để ngắm khói lùa thay rơm.
TÌM THƠ
Anh ngồi lặng lẽ tìm thơ
Sáu mươi năm, đến bây giờ rồi sao…
Ai ngồi bên bậc cầu ao
Đếm hoa bèo để gửi vào phân vân
Ai ngồi bên giậu cúc tần
Đếm tơ hồng để gieo vần tặng anh
Ai ngồi bên mái nhà tranh
Đếm hoa ngâu để chép thành tình ca
Ai ngồi bên lũy tre ngà
Đếm con cò trắng để mà dậy con
Ai ngồi dưới bóng trưa tròn
Giặt manh áo nhuộm nâu non của chồng…
Ai mơ má thắm môi hồng
Còn ai tất cả vì chồng vì con.
LỤC BÁT RU THƠ
Bồn chồn nghe khúc ru xa
Vẫn câu lục bát quê nhà đó thôi
Bao năm rồi vẫn bồi hồi
Dòng sông trong vắt núi đồi mênh mông
Xóm làng kề cận ruộng đồng
Có cha mẹ có vợ chồng anh em
Có tháng năm, có ngày đêm
Có ta có cả bốn bên họ hàng
Câu thơ lục bát nhẹ nhàng
Đựng bao lời ngọc lời vàng bên trong
LẠI TÌM XUÂN VỚI HOA ĐÀO
Lại tìm xuân với hoa đào
Giữa chiều tết lạnh xôn xao tiếng lòng
Cành nào chan chứa sắc hồng
Cành nào thắm đỏ bềnh bồng trong mơ
Cành nào phai lạt bâng quơ
Cành nào tha thiết đợi chờ thi nhân
Cành nào tươi thắm tình xuân
Thời gian ghi dấu bao lần trong thơ
Dịu dàng đàn nối dây tơ
Lại tìm xuân, lại tìm mơ hoa đào.
QUÉT XÁC HOA ĐÀO
Anh ngồi quét xác hoa đào
Gói mùa xuân lại gửi vào mênh mông
Chiều tàn theo ngọn gió đông
Đợi hoài đợi mãi người không trở về
Lối xưa, ai chắp câu thề
Rằng mai đây, mãi cận kề bên nhau
Ai dè “đắt lúa, rẻ cau”
Từ ngày hôm ấy…đã lâu không về
Các con thương suốt mùa hè
Sang mùa thu với bộn bề, tả tơi
Những ngày “cơm vãi, cơm rơi”
Có làm thay đổi cuộc đời cho ai (?)
Mơ chi tháng rộng, năm dài
Nối thêm kỳ hạn, phí hoài thanh xuân
Hoa đào nở được mấy lần
Để anh còn được một phần của em
Mơ hồ xuân lạ, xuân quen
Hoa đào đã rụng mà em chưa về (!)
TẬP VIẾT CÙNG CON
Cha ngồi tập viết cùng con
Nét vuông nối với nét tròn cạnh nhau
Nét nào trước, nét nào sau
Khi cao, khi thấp, khi mau, khi dầy
Khi to, khi béo, khi gầy
Từng trang tiếp nối tháng ngày trong mơ.
Dù cho nét tỏ nét mờ
Đừng làm hoen ố bao tờ trắng trong.
Nhớ nghe con giữ thẳng dòng
Đừng quên kẻ vạch mà cong, mà chùng
Thiết tha, thẳng thắn, hào hùng
Tay con khéo lựa hòa cùng tay cha
Mai sau con lớn lên già
Chữ nhân, chữ nghĩa nhớ mà thẳng ngay
Âm thầm nét chữ, bàn tay
Cha ngồi cần mẫn mỗi ngày bên con
BIẾT YÊU ĐỜI
Viết câu lục bát cho con
Rải trên khắp các lối mòn xung quanh
Đời cha giăng sợi tơ mành
Đời con cái nhẽ phải xanh cây đời
Biết yêu hoa biết yêu người
Biết yêu đời để cho đời yêu đáng yêu.
CỐ QUEN
Cố quen một chút bụi đời
Cố quen một chút những lời chua
cay
Cố làm như đắm như say
Để che đi một kiếp này buồn tênh
CHỚ KÊU ĐAU
Đã đau thì khóc vẫn đau
Lặng im san sẻ chia nhau chịu cùng
Gắng mà chôn chặt vào lòng
Để đời vui nốt những dòng đang vui
ĐỪNG QUÊN
Quên thì cũng một lần thôi
Cũng đừng quên mãi để rồi lại quên
Quên nhà quên ngõ quên tên
Xin đừng huyễn hoặc mà quên làm
người
Thứ Tư, 2
tháng 7, 2014
THƯƠNG NGƯỜI CHỊU MỆNH
(Kính dâng Thái Hậu Dương Vân Nga)
Chưa tàn đâu ngọn cờ lau
Mười hai xứ loạn còn đau nỗi niềm.
Nào ai ganh ghét, tị hiềm
Quanh co bến cạn, giữa miền sóng
con.
Nào ai dạ sắt, lòng son
Giữ cho bờ cõi, nước non thái bình
Nào ai trọn nghĩa, vẹn tình
Ghé vai san sẻ nỗi mình xót đau…
Thương người chịu mệnh về sau
Giữ cho muôn bóng cờ lau trắng trời
Tràng An muôn sự đổi dời
Nén hương hậu thế thay lời tri ân.
LẠI THAY PHÔNG CẢNH CHO CHÈO
Lại thay phông cảnh cho chèo
Thoắt thôi mà đã giầu nghèo hiện
ra
Nhỏ nhoi một góc sân nhà
Mênh mông với cả quốc gia cơ đồ
Một con đường sỏi mấp mô
Một bờ cỏ rậm bên hồ mù sương...
Vai chèo quằn quại đau thương
Lớp chèo biết mấy đoạn trường bên
trong
Cảnh chèo lận đận long đong
Đời chèo diễn mãi chưa xong một đời
Sân chèo nay đổi mai dời
Rồi đây biết có ai mời phân vai.
THƠ RU
Thả hồn theo cánh chim bay
Bâng khuâng viết lại bao ngày thơ
ru.
Ru rừng đang gió mùa thu
Ru sông mùa hạ, mịt mù bão đông
Ru ngàn con sóng biển Đông
Ru mênh mang những cánh đồng lúa
xanh
Ru con đường nhỏ lượn quanh
Ru căn nhà lá yên lành tháng năm.
Ru buồn cây cải xa xăm
Ru thương cay đắng rau răm giữa đời
Ru tan nát cả bao lời
Ru trào nước mắt mây trời ngày
Ngâu.
Ru người đi vắng đã lâu
Suốt từ năm ấy ở đâu không về (?)
Ru ai giữ vẹn lời thề
Một mình chịu đựng chẳng nề thiệt
hơn.
Ru căn bếp nhỏ cô đơn
Mẹ già tóc bạc thêm hơn mấy lần.
Ru người vợ trẻ tảo tần
Nuôi cha, nuôi mẹ, chăm phần các
con.
Ru dòng máu đỏ như son
Chảy ra tô thắm nước non ngàn đời.
Ru ơi ru hỡi ru hời
Xé lòng ta để cất lời thơ ru (!)
Thứ Năm, 19
tháng 6, 2014
Đầu xuân đi lễ cầu may - (Ảnh
LTH 20120)
Thứ Năm, 29
tháng 5, 2014
KHAI BÚT KHAI XUÂN
Chào xuân khai bút viết thơ xuân
Mời bạn gần xa hoạ mấy vần
Xuân đến, xuân sang, xuân gặp tết
Tết về, tết lại, tết tìm xuân
Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết
Tết tới một năm tết đợi xuân
Xuân! Tết! Xuân xuân! Xuân tết tết
Tết! Xuân! Tết tết! Tết xuân xuân.
TẾT NĂM BÍNH TUẤT
Chợt thấy mây tan ló mặt trời
Mưa phùn rả rích chẳng còn rơi
Ruộng đồng cầy cấy đà xong hết
Nhà cửa thu gom cũng gọn rồi
Đèn nến hương hoa vừa sắm đủ
Rượu chè bánh trái đã xong xuôi
Lơ mơ chén cúc bên bàn tiệc
Có phải giao thừa sắp tới nơi (?)
TẾT NGHÈO
Trừ tịch năm nay gió lạnh nhiều
Đầu hồi thông thống bấc luồn theo
Trên ban trống vắng không hoa rượu
Dưới bếp lặng yên chẳng lửa reo
Tết đến thêm lo nhà túng bấn
Xuân sang sợ nợ đến kỳ kèo
Xuân dăm ba bữa nhanh mà hết
Tết mấy mươi ngày chóng để
veo
XUÂN TẾT
Chén vui cũng đã thấy làng nhàng
Muốn để mừng xuân lấy sự sang
Vỏ gỗ long bong dăm tiếng trống
Dây tơ phừn phựt nửa cung đàn
Đổi già làm trẻ ngân đôi khúc
Lộn cổ sang kim hét một tràng
Hánh mắt dòm xuân, xuân đổ dọc
Bần thần ngó tết, tết xoay ngang
XUÂN
Một chén đầu năm gọi đón xuân
Hồn hoa ghé lại một bên sân
Lơn mơn nắm gió xoa lên tóc
Lác đác hòn sương rụng xuống chân
Giường chiếu làm chi cho khó nhọc
Đất đai đã rộng lại thêm gần
Biết xuân từ những ngày năm trước
Mãi đến bây gìơ mới rõ xuân.
XUÂN CẢM
Vườn đào hé nụ giữa tinh khôi
Đổi mới xuân nay đã khác rồi
Vào khối thị trường vừa kết hội
Lên sàn cổ phiếu đã sinh lời
Năm xưa chiến trận không thua kế
Buổi mới làm ăn chẳng luỵ thời
Độc lập tự do luôn giữ gốc
Giầu sang phú quý quyết theo người
NGHĨ VỀ XUÂN
Cứ nghĩ xuân sang cũng đã nhiều
Lấy gì để gửi chút tình theo
Ra sân gió bấc xoa vào mặt
Xuống bếp sương hàn chạm tới kheo
Xóm trại loanh quanh đường khó đến
Đường thôn luẩn quẩn dốc khôn trèo
Xuân như ngại tới thăm người khó
Tết cũng quên qua chỗ kẻ nghèo.
ĐINH HỢI GIEO THƠ
Non sông đã nở rộ muôn hoa
Cảm tác đôi câu gửi mọi nhà
Tích nước Sơn La bao kín lại
Khai dầu Dung Quất mở dần ra
Cổ phần công hữu vừa khai triển
Góp vốn tư doanh cũng kịp đà
Đón tết tưng bừng vui đổi mới
Mừng xuân nhộn nhịp cất lời ca
TÌM XUÂN
Đã mấy lâu nay bạn chẳng qua
Để thơ cằn cỗi trở nên già
Giấy điều đợi đó câu không đến
Bút mực chờ kia chữ chẳng ra
Giương kính tìm vần nơi đáy rượu
Thắp đèn kiếm tứ giữa sân hoa
Tìm xuân gặp dịp ai mà chẳng
Gọi chút tâm tình gửi bạn xa.
XUÂN BUỒN
Nhớ những năm nao cũng cảnh này
Xuân buồn day dứt đã về đây
Cơm non vực bát khoai dây độn
Áo nửa bao gai mụn vá đầy
Không pháo không hoa không rượu thịt
Chẳng nhà chẳng ruộng chẳng trâu
cày
Lang thang một lũ trên đường phố
Đâu biết xuân vui được mấy ngày.
XUÂN MONG ĐỢI
Trước ngõ xuân như đã đến rồi
Mấy ngày vui tết cứ dần trôi
Ngoài đường vắng lạnh chim chưa
hót
Dưới nước trong veo cá chẳng bơi
Mong chút nắng hanh hong ấm đất
Đợi làn mưa nhỏ tưới xanh chồi
Sao cho sớm sủa qua cơn rét
Để lúa chiêm xuân héo lại hồi.
XUÂN ĐẾN NHÀ
Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa
Mừng được đông vui đủ trẻ già
Trong bếp đàn con đang sắp cỗ
Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà
Nụ đào chúm chím hồng bên cửa
Cành lộc đu đưa biếc giữa nhà
Đôi khổ thơ xuân còn ướt mực
Một ly nước mới dậy hương trà.
GIAO THỪA
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu
Kẻ đến dùng dằng mong nán lại
Người về tấp tểnh muốn qua mau
Ai giao ai nhận ai giao nhận
Ai đến ai về ai tiếp sau
Cái sự luân phiên vô sở cứ
Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu
THƠ LÚC GIAO THỪA
Giao thừa gọi có tý nông sâu
Một chút vây vo khúc dạo đầu
Thơ mượn rung đùi chôm mấy tứ
Từ vay nhếch mép thuổng vài câu
Ngoài trời mưa bụi rơi chưa ngớt
Trong bếp lò than cháy đã lâu
Ai trót đọc qua thông cảm hộ
Thơ vừa mới đạo nhớ đừng tâu
KHAI BÚT ĐẦU NĂM
Đầu năm khai bút viết gì đây
Thi phú vui buồn dạ chẳng khuây
Lắc rắc quanh nhà mưa nối hạt
Lờ mờ cuối phố khói chăng dây
Hoa đào gió lạnh chưa thèm nở
Bướm trắng mưa dầm chửa muốn bay
Xuân đến xin chờ cho một chút
Chủ nhân quá chén vẫn con say.
VỊNH TẾT
Tiếng trẻ râm ran các ngả đường
Nắng vàng trải rộng khắp muôn
phương
Đầu làng pháo nổ inh trời đất
Cuối chợ người đi kín phố phường
Núi biếc ngàn hoa phô trước gió
Trời xanh cánh én vút trong sương
Xuân sang nhớ lại bao mùa trước
Hạnh phúc đang về dậy sắc hương
THƠ NHÀM
Xuân chờ trước cửa đã từ lâu
Cứ muốn vui theo chợt lại sầu
Chén rượu nửa chừng say sắp hết
Tuần hương mới thắp cháy còn lâu
Chó con ngoài ngõ lai rai sủa
Kiến gió chân tường xúm xít bâu
Có biết giao thừa đang đứng đợi
Thơ nhàm viết vội một đôi câu
AI NHẬN, AI TRAO
Giao thừa ai nhận để ai trao
Một thoáng hương quê thật ngọt
ngào
Áo trắng anh về trong rực rỡ
Khăn hồng em đến giữa thanh tao
Câu thơ người đọc bên cành lý
Khúc hát ai ngân dưới gốc đào
Đỏ mặt kìa xuân e ấp mãi
Giao thừa ai nhận để ai trao.
CUỐI XUÂN
Lại những chiều hôm lạnh thấu trời
Từng đêm dằng dặc đếm sao rơi
Một chùm hương dịu mây đưa đến
Nửa mảnh xuân nồng sóng cuốn trôi
Buồn cũ hình như đang trở lại
Vui này hồ dễ sắp chia phôi
Lòng ai luống những mong xum họp
Người đã vô tình muốn rẽ đôi.
CUỐI XUÂN CẢM TÁC
Xuân đã dần qua cuối tiết rồi
Gốc đào trước cổng đứng đơn côi
Tiếng chim sau núi lưa thưa hót
Bông gạo trên cành lặng lẽ rơi
Ánh nắng chiều vàng đang tụ lại
Vầng trăng đêm trắng sắp chia phôi
Giật mình một chốc mười năm lẻ
Một áng thơ buồn tỏ khúc nhôi
HỘI XUÂN QUÊ
Một hội xuân quê mới mở ra
Chia vui khắp hết cả muôn nhà
Sân đu đầy chặt trai bên gái
Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già
Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn
Cuối thôn hể hả lúa thêm trà
Đất trời toả rộng hương no ấm
Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.
VỀ VỚI CHỢ VIỀNG
Qua tết về quê xuống chợ Viềng
Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng
Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo
Vợ dặn tìm cho một cái kiềng
Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi
Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng
Cả năm mới có ngày thư giãn
Cũng phải khao mình tí cái riêng
ĐƯỢC GÓI XÔI
Viết mãi thơ xuân chật cả rồi
Bây giờ thêm tý để chơi thôi
Này câu Lục bát xanh mi mắt
Nọ khúc Đường thi tím khoé môi
Dài ngắn cũng thì đen nét mực
Thấp cao hồ dễ trắng dòng vôi
Đầu năm cóp nhặt vài ba chữ
Cố đấm may thì được gói xôi
TÌNH XUÂN
Rét mướt hình như trốn cả rồi
Chỉ còn một chút gió heo thôi
Cành giâm vụ trước lưa thưa búp
Hạt trỉa năm nay loáng thoáng chồi
Chậu cúc soi vàng bên bể nước
Gốc đào thắp đỏ mé tường vôi
Bình minh chiếu rọi qua song cửa
Ai biết tình xuân lặng lẽ trôi…
XUÂN BẠN HOÀ THEO (Hoạ thơ)
Xuân đến
rồi sao cứ đợi trông
Xuân thưa rằng
vắng cánh hoa hồng
Xuân già
tám chục còn tươi thế
Xuân trẻ
đôi mươi có thắm không
Xuân đã từng
quen chừng khó nhớ
Xuân dù vẫn
lạ khéo hay mong
Xuân ta gửi
gấm bao tình cảm
Xuân bạn
hoà theo hẳn ấm nồng.
CẬN KỀ
Dứt áo chia tay lúc trở về
Nỗi buồn day dứt cả chiều quê
Ngỡ xuân năm ngoái còn son rỗi
Tiếc hạ năm nay đã mọi bề
Gió thổi xạc xào trên đỉnh núi
Sương buông dày đặc dưới triền đê
Chỉ mong ai đó đêm cùng thức
Mượn những vần thơ để cận kề.
TÌM
THƠ
Sắp hết xuân rồi não vẫn trơ
Ngồi nhà nghĩ mãi chẳng ra thơ
Ngoài hiên lất phất mưa dày mỏng
Trong án đìu hiu nến tỏ mờ
Bớt dưới thêm trên nhoè cả giấy
Chèn sau gạch trước rối như tơ
Loanh quanh bới khắp đôi thùng
sách
Chẳng biết tìm đâu một cái (ơ)
Tết đã bon bon đến cạnh nhà
Thế mà cổng chửa mở toang a
Chắc cơn mộng mị còn chưa chín
Hay giấc hoàng lương vẫn chửa già
Tí tách mưa dầm đào nảy lộc
Lâm thâm rét ngọt mận đơm hoa
Tiếc xuân ngồn ngộn bày trên chiếu
Rượu uống say rồi chẳng muốn ra
Tết đã lanh canh gõ trước nhà
Thế mà khói bếp chửa lên a
Chắc gân gạo nếp còn chưa nhuyễn
Hay cuộng giong xanh đã quá già
Gió đẩy hiên tre kêu loạt xoạt
Mưa tràn ngõ đất ngập bùn hoa
Chắc xuân mệt mỏi còn đang ngủ
Nên cửa nhà ai chửa hé ra
GẶP
XUÂN (Họa thơ)
Gặp xuân từ ấy nặng lòng thương
Bến lạ sông quen nối dặm đường
Cứ tưởng vườn đào còn thắm sắc
Đâu ngờ ngõ mận đã phai hương
Sân vôi lá rụng dầm mưa nắng
Ngõ gạch rêu phong gội gió sương
Vẫn biết ngày xưa không trở lại
Sao lòng ai đó mãi tơ vương
CHẮP XUÂN (Họa thơ)
Chắp bốn xuân vào mới bẩy ba
Cõi tình ngày tháng vẫn thăng hoa
Vườn xưa mòn mỏi người đi vắng
Ngõ cũ mơ màng kẻ cách xa
Cuộc rượu vẫn mong chờ Chúa Chổm
Chiếu thơ còn đợi đón Hằng Nga
Cần chi than thở trong buồn tủi
Để bận lòng nhau một chữ già
XUÂN
LẠNH (2007)
Lạnh thế mà xuân cũng đến a
Mưa dầm gió bấc phủ quang nhà
Đầu hồi trống trếnh như diều sáo
Hèm cửa vênh vao tựa mõ già
Quất đỏ vừa tô cành trĩu trái
Đào hồng mới vẽ gốc đầy hoa
Bao xuân dồn hết về đây cả
Đã vậy cần chi mở cửa ra
ĐÓN TẾT
Phú quý xem ra chẳng đến mình
Cần gì bày vẽ chuyện linh tinh
Bánh chưng vợ gói dăm ba cặp
Rượu cẩm con ngâm sáu bẩy bình
Quất ế đầu làng kêu tới vác
Đào thừa cuối phố gọi sang rinh
Xì xằng thịt cá vài mươi ký
Đủ để mời xuân thỏa chút tình
THƠ TẶNG XUÂN GIÀ
Thêm một lần xuân đến tặng đời
Đuổi mùa đông lạnh cuốn xa khơi
Lửa rơm trong bếp liu riu cháy
Mưa bụi ngoài sân lấm tấm rơi
Chè Thái vừa chuyên còn bốc khói
Rượu Vân mới rót đã xông hơi
Xuân già lọm khọm qua ngang cửa
Sao chẳng vào thăm để chén vơi.
LÊN LÃO MÀ CHI
Cứ ngỡ mình đang ở tuổi xuân
Nào hay già hết mấy mươi phần
Tóc râu có nhẽ dần thưa bớt
Răng lợi hình như cũng lỏng dần
Mắt mũi lõm lồi bầy chẳng gọn
Mặt mày rúm ró xếp không cân
Chân tay cứ tưởng như đi mượn
Lên lão mà chi mệt tấm thân
HOA HỒNG DẠI
Tết vẫn chờ ta đến xếp vần
Ngắn dài cao thấp khó mà cân
Này cô hồng bạch da khô héo
Nọ chị hồng nhung má đỏ rần
Kia thím hồng vàng sờ kém mượt
Đây bà hồng đỏ nắn toàn gân
Chỉ em hồng dại chơi đầu ngõ
Nghe xứng tầm cho
một cái xuân
THƠ RƯỢU VÀ MƠ
Lại tìm đến rượu để khoe thơ
Mấy chục năm quen đến tận giờ
Đây cụ cả Nho dòm đỏ khé
Kia ông ba Cúc ngó xanh lơ
Nọ anh bẩy Sắn nhìn trong vắt
Kìa bác chín Ngô ngắm đục lờ
Chả biết vị nào vừa đến độ
Để cho muôn thực hóa thành mơ
NHỚ XƯA MẸ VẪN ĂN TRẦU
Tết mẹ năm nao cũng có trầu
Bình vôi men ngọc trữ từ lâu
Cau tươi nhà hái đôi ba quả
Rễ quạch con mua hẳn một cầu
Cối cũ quai đồng tươi sắc đỏ
Chày xưa cán thép bóng mầu nâu
Đêm nao mẹ cũng ngồi bên cửa
Đợi thuốc con đưa để thử trầu.
LẠI GẶP NÀNG XUÂN
Cuốn lịch thời gian mỏng lại dầy
Bao nhiêu ngày tháng đã qua đây
Nhớ khi tiền tuyến vây đồn giặc
Vui lúc hậu phương lái máy cầy
Bão gió phôi pha da nhuộm nắng
Tuyết sương gội trắng tóc hòa mây
Vừa toan đặt bút vần thơ mới
Đã thấy nàng xuân má đỏ hây
CUNG CHÚC TÂN XUÂN ẠN SỰ NHƯ Ý
Cung kính dâng
cao ngọn đuốc hồng
Chúc mừng
đổi mới cả non sông
Tân niên
sản xuất làng tươi thắm
Xuân mới
dựng xây phố rực hồng
Vạn khó
mỗi nhà lo gắng sức
Sự thành cả
nước góp thêm công
Như lời
Bác dặn luôn đoàn kết
Ý Đảng
lòng dân thắng bão giông
GẶP XUÂN(Họa thơ
NXN)
Gặp xuân từ ấy nặng lòng thương
Bến lạ sông quen nối dặm đường
Cứ tưởng vườn đào còn thắm sắc
Đâu ngờ ngõ mận đã phai hương
Sân vôi lá rụng dầm mưa nắng
Ngõ gạch rêu phong gội gió sương
Vẫn biết ngày xưa không trở lại
Sao lòng ai đó mãi tơ vương
DU XUÂN QUÝ TỴ
Mặt hồ gợn sóng tím trong sương
Cây trái xum xuê kín phố phường
Rừng vải đơm hoa soi đáy nước
Vườn na nảy nụ khắp đồi nương
Vầng mây lờ lững xanh triền núi
Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường
Lữ khách du xuân vừa cập bến
Đào mai nở rộ ngát mùi hương
XUÂN CHIỀU
Từ chiều xuân ấy mãi tơ vương
Nào có xa chi nửa dặm trường
Xóm Lác người thưa mưa gội tóc
Sông Cầu bến vắng nắng soi gương
Bao cồn cát trắng phơi ngoài bãi
Mấy dải đay xanh kín mặt đường
Làng cũ tranh tre không thấy nữa
Nhà tầng san sát dưới màn sương
GIÓ THƠM VƯƠNG
Chiều xuân đi hội với người thương
Khách đến xôn xao mọi nẻo đường
Vách đá Kỳ Lân mưa thấm lạnh
Rừng thông nảy lộc gió đưa hương
Đào hồng khép nụ phơi trong nắng
Cúc tím xòe hoa đọng dưới sương
Mắt biếc lướt sang vai áo mỏng
Tóc mây chợt xổ gió thơm vương
XUÂN GIÀ (Xuân Canh
Dần)
Năm nay gặp nhuận tháng dư ra
Tết cũng thong dong chẳng vội mà
Bánh trái vừa mua đầy gác bếp
Quất đào mới sắm chật hiên nhà
Gà nuôi thóc sạch đầy chuồng đợi
Rau tưới nước trong kín bãi chờ
Thêm cháu mới sinh về quấn quít
Thảnh thơi nâng bút vịnh xuân già
XUÂN PHẢ LẠI
Heo may đã tạnh cuối trời xa
Nắng mới soi lên vạn mái nhà
Thạch Thuỷ quất vàng mời khách tới
Thành Phao đào đỏ đón người qua
Trẻ thơ hăm hở đi chơi tết
Già lão thong dong xuống lễ chùa
Phả Lại sang xuân vui rộn rã
Phố xưa đổi mới chẳng ai ngờ
DỌA XUÂN
Viết lắm thơ xuân lại sợ nhàm
Trẻ trung phơi phới mãi cho cam
Trèo lên quán dốc còn ưa thích
Bước xuống ruộng cà vẫn cứ ham
Chớ dại đi theo phường bán quýt
Đừng tham đến với lũ buôn cam
Chẳng may gặp phải quân gian xảo
Thiên hạ chê cười yếu vẫn tham
Thứ Hai, 28
tháng 4, 2014
GỬI VỀ XỨ NGHỆ
(Tặng Nguyễn Thị Nam Quỳnh
Đôi)
Gửi về xứ Nghệ một tình yêu
Nói ít mong ai đó hiểu nhiều
Héo dạ khêu mưa khi chợn rợn
Mặc lòng thả lửa lúc phiêu diêu
Khơi tình ngắm nụ khi mờ sáng
Cạn lý xem hoa lúc xế chiều
Có gặp được đâu mà ước hẹn
Nên đành mượn bút thả vần yêu
VẬN THƠ BÀ CHÚA
(Nhân nghe nói về quê bà chúa)
Bà Chúa Thơ Nôm đã mất rồi
Chỉ còn cái bóng ở đây thôi
Đời trai vất vả đau bao thuở
Kiếp gái truân chuyên cực mấy hồi
Chỉ ngại người quen đòi nợ khuyêt
Lại thương kẻ lạ vướng duyên bồi
Nét quê khéo vận hòa trong cảnh
Để những miền thơ lại nảy chồi
GỬI MẤY ĐƯỜNG TƠ
(Tặng Nguyễn Thị Nam Quỳnh
Đôi)
May mắn vì đâu một áng thơ
Để quen người chửa gặp bao giờ
Đã từng trước mặt còn chưa ngỏ
Huống lúc sau lưng chỉ khép hờ
Hạt cát qua truông gờm vách núi
Cành lau xuống thác ngại đôi bờ
Chút tình bé nhỏ mong gìn giữ
Dù chỉ đơn sơ gửi mấy tờ
THƯ ĐÃ ĐỌC RỒI
(Họa bài Bức thư định gửi)
Thơ bạn hôm nay đã đọc rồi
Lòng còn vương vấn mãi không thôi
Người ngoan đã muốn đem trao ý
Kẻ xạo đành theo phải gửi lời
Cái nhẽ thường tình quen thế vậy
Gặp khi trái khoáy khó lòng vui
Mới hay mọi sự không toàn vẹn
Thư bạn hôm nay đã đọc rồi
Có một khi nào đấy ta chợt buồn mà
không biết nói cùng ai. Có một người bạn bảo rằng hãy nói cùng
thơ, vì thơ hiểu cả, thơ có thể chia sẻ và an ủi bao
nhiêu cũng được. Thế mà từ lâu đã quên thơ, không
biết thơ có giận ta không (?)
QUÊN THƠ
Tưởng rằng thơ cứ là thơ
Một mai nhuộm nắng, ươm tơ những
chiều
Chợt đâu thơ cũng đói nghèo
Nghiêng theo mặt giấy, gieo neo một
đời
Câu thơ dần cứ xa vời
Để người thơ... đã một thời, quên
thơ.
Thứ Hai, 7
tháng 7, 2014
TUỔI THƠ
1
Những ngày chơi bời lêu lổng
của Hằng đã không còn nữa bởi đám bạn cùng tuổi đã phải bắt đầu với các công việc
vặt trong gia đình của chúng. Thế là chỉ còn có một mình cậu thuộc diện rỗi
rãi, tha thẩn hết vào lại ra với vài thứ đồ chơi vặt vãnh của chính cậu. Gọi là
đồ chơi nhưng thực ra cũng chẳng sang trọng gì. Một vài cái mảnh sành được
mài nhẵn để làm con chọi. Mấy hòn đá xanh nhặt ở đường tàu về để đẽo gọt làm
bi.
Ngoài những lúc ngủ, thời
gian còn lại cậu đều dành cả vào các trò nghịch ngợm và chế tác những đồ chơi ấy.
Hai tay và quần áo Hằng lúc nào cũng toàn đất cát, bột đá trắng, sản phẩm của
việc gia công chế tạo các viên bi. Đây cũng chính là công việc chiếm mất nhiều
thời gian nhất của cậu.
Công đoạn chính của việc chế
tạo bi bắt đầu là việc dùng dao rựa cùn để đẽo các viên đá từ to thành nhỏ rồi
mài sơ bộ vào nền gạch cho tròn. Tiếp đó là việc đưa các viên đá này vào giữa
hai vòng tròn của hai cái kẹp đạn rồi lại xoay đi xoay lại làm cho viên đá trơn
và nhẵn. Cái công đoạn này được các cậu bé trong làng gọi là lùa bi.
Việc làm ra một viên bi từ
khi đẽo đá đến khi lùa cho thật tròn, thật nhẵn cũng phải mất hàng ngày, hàng
buổi chứ không phải nhanh chóng gì đâu. Thế mà khi đem ra đánh với lũ bạn chỉ cần
sơ ý hoặc kém tài một chút là mất vào tay chúng, lúc ấy mới tiếc làm sao. Tất cả
mọi đứa trẻ trai trong làng đều ham làm và ham có nhiều các viên bi bằng đá nên
khi làm ra được một viên bi công phu quá, đẹp quá, nhẵn quá đến lúc mất, còn
tiếc hơn người lớn tiếc khi mất một cục vàng.
Bên cạnh cái trò bi, đáo ấy
lại còn trò chơi khăng, thổi diêm, thổi nịt. Trò nào cũng cuốn hút, bởi trò nào
cũng gắn với những được mất. Cho dù cái được mất ấy chả đáng bao nhiêu về giá
trị vật chất nhưng với lũ trẻ trong làng thì thế cũng đã là to lắm, vì có khi
nào chúng nó có đủ tiền để mua được nổi một bao diêm hay một xâu nịt đâu. Diêm
của chúng đều do lấy cắp bớt trong bao của bố mẹ, còn nịt thì do chúng nhặt nhạnh
trong các gói hàng mà người ta tháo ra lấy hết đồ bỏ rơi lại đó.
Từ mấy năm nay ở làng vẫn có một lớp học tổ chức ngay ở cái điếm giữa. Cái lớp
học này dạy kèm một chương trình vỡ lòng với chương trình lớp một. Ai có học
hơn từ trước thì cũng tự hạ xuống, còn ai chưa học thì cũng cố mà theo, thành
ra việc học cũng thật khó khăn cho cả thầy và trò. Ông giáo dạy cái lớp hổ lốn
này là ông trưởng bạ, trưởng bạ chỉ là tên công việc ông thường làm trước đây,
còn ông tên là gì thì rất ít người đề cập đến. Ông trưởng bạ cũng đã dạy học
nhiều năm ở các nơi khác nên ông tuy giống ông đồ nhưng cũng đã có những nét của
một ông thầy có sự đào tạo về sư phạm chính quy. Ông rất dữ đòn và thường xuyên
đòi hỏi học trò tôn kính ông giống như các vị lớn tuổi ngày xưa đi học chữ nho.
Ông có một cái roi bằng mây nhưng lại buộc chập hai cái thành một, mỗi khi có
người không thuộc bài là roi ông lại vút lên giáng vào những cái mông nghe mà
phát sợ. Cũng có khi ông dùng nó quật lên những bàn tay đặt ngửa trên bàn khi
có người quên viết tập hoặc viết chữ quá xấu, quá bẩn. Những người bị đánh vào
tay thường đau đến hai ba ngày mới khỏi, nhiều khi vết đánh đỏ mãi đến cả tuần.
Có điều là chỗ nào có lỗi thì ông đánh đúng vào chỗ đó, nên bàn tay phải chính
là nơi ông trừng phạt, khi bị trừng phạt, bị đau thì lại viết xấu, viết xấu
lại sẽ bị đánh, bị đau. Mỗi con người đều sinh ra hai tay, mỗi tay đều phải
dùng để làm việc, nhưng mà bao giờ cái tay bên phải cũng đều vất vả nhất, gian
nan nhất và cho đến khi gặp ông trưởng bạ thì nó lại còn bị đau nhất. Đáng lý
nó phải được khen khao hoặc giả cũng được quan tâm bằng một hình thức nào đó, vậy
mà trên khắp thế gian này đã có ai phán giúp một đôi điều.
Cậu con trai nhà ông Tân cũng được gửi vào lớp học của ông trưởng bạ như một học
sinh vỡ lòng cùng một quyển vở với một cây bút. Ông Tân gửi cậu vào đây hy vọng
là cậu đọc được cái chữ thì chỉ in ít mà thôi, còn cái chính là muốn để cho ông
giáo rèn cặp cậu, giữ để cho cậu không bỏ đi chơi lang thang đây đó. Cho nên việc
đi học của cậu cũng chỉ là do có mấy cái tiện thể cùng một lúc mà buộc phải
làm. Ngoài việc tập đánh vần, tập đọc trên lớp, mỗi ngày cậu còn phải tô chì một
bài mà thầy đã viết sẵn, sao cho các nét mực không được trệch ra khỏi nét chì
mà thầy đã viết trong vở. Cậu cũng được thầy ưu ái hơn vì nhà cậu ở ngay lớp học,
hàng ngày thầy vẫn thường xuyên vào chè nước cùng ông bố của cậu nên có sự gì
ông giáo cũng nói ngay cho bố cậu biết mà không cần phải xử phạt. Cũng chính vì
thế mà cậu lười học hơn những đứa khác, kém hơn những đứa khác.
Bài học ông trưởng bạ dạy
cho học trò luôn bám sát với chương trình của nha giáo dục phổ cập từ khi
còn ở chế độ cũ. Ngoài các chương trình học bằng tiếng Việt, các học trò còn phải
học thêm chương trình tiếng Pháp, những bài tập đọc, tập viết tiếng Pháp luôn
làm cho số học sinh mới vào gặp khó khăn. Những bài học thuộc lòng lại càng khó
hơn nữa, đến ngay cả đọc phát âm còn không nhớ huống hồ còn nói đến chuyện dịch
nghĩa, chính vì thế mà có rất nhiều cô cậu phải đòn, càng phải đòn càng ghét
môn tiếng Pháp và rồi lại càng ghét thêm thực dân Pháp. Nhiều lúc cậu nghĩ sao
mà cái thằng Pháp nó ác thế, bom đạn nó mang sang giết người ác đã đành đến cái
chữ của nó mang sang cũng làm cho người ta điêu đứng, khổ sở.
2
Sang đầu tháng hai năm 1955
ông Tân về thăm quê, lần này ông mang theo Hằng cùng về. Việc thăm quê chỉ là
phụ, việc chính là ông đưa cậu con của bà hai cùng về rồi để lại trông
nom cháu bé cho chị cả đi làm. Dưới quê hồi này mùa màng thật là bận rộn, anh cả
thì đi vắng, chị cả thì chẳng có ai đỡ đần, hơn nữa khi vào đông vụ chí kỳ ai
ai cũng đều bận, chị cả vướng cháu không ra đồng được nên ông bà Tân đành phải
cho cậu về quê giúp chị một thời gian. Thế là trong lần đi học đầu tiên này cậu
đã phải bỏ học giữa chừng.
Làng Tây Lạc cách tỉnh lỵ có hơn chục cây số, con đường về làng cũng không được
rộng rãi gì, cho dù đây là tuyến đường chính đi từ tỉnh lỵ xuống biển. Hàng
ngày có đến hàng dăm chục chuyến xe ô tô qua lại, ngoài ra còn có hàng trăm
chuyến xe ngựa đi về vừa chở hàng lẫn chở khách. Quang cảnh bên đường thật là
tiêu điều xơ xác, đây đó một vài quán hàng lẻ tẻ dọc đường bán vài cốc nước chè
xanh chủ yếu để phục vụ cho những người đi bộ hoặc gánh hàng rong giải khát với
một chút tiền ít ỏi không làm vơi đi tý xíu tiền công mà họ vừa kiếm được trong
ngày. Cái thứ tiền công chỉ vừa đủ mua nổi không quá hai đấu gạo, còn số gạo
thì lại không đủ cho hai bữa của một gia đình đông người.
Chị cả chưa có nhà ở riêng mà phải ở nhờ nhà của người chú ruột, cũng may chú
cũng không đông con nên cũng không đến nỗi quá chật chội. Ngôi nhà ông chú và vợ
chồng của người con lớn của chú ở là một ngôi nhà tranh bốn gian lợp rạ, tường
trình bằng đất rất khéo. Bức tường được trình phẳng đến nỗi nếu không đến tận
nơi xem thì chắc sẽ cho là tường gạch trát vữa, duy có bức tường hậu là có vết
nứt hơi lớn đe doạ đến việc đổ tường. Chị cả và cháu đều ở dưới nhà ngang, ngôi
nhà này nối với nhà trên theo hình thước thợ, đây cũng là căn nhà tre nhưng bé
hơn nhà trên một ít, vốn trước đây nó cũng là nhà ở chính của gia đình ông chú
nhưng từ khi dựng được ngôi nhà trên thì mới không ở nữa. Cũng là mái tranh tường
đất nhưng tất cả mọi chỗ từ trong nhà ra ngoài, sân chỗ nào cũng sạch sẽ. Hàng
ngày sau khi làm xong mọi việc cụ Nhẫm lại quét dọn và sắp xếp nên mọi thứ rất
gọn gàng, ngăn nắp. Bên trong hai căn nhà nối nhau theo hình thước thợ là một
cái sân đất khá rộng rãi được đầm nén phẳng phiu và vuông vắn. Hàng ngày cụ Nhẫm
ra vườn đằng sau chặt vài cây tre mang vào pha ra để đan lát, khi thì là cái
rá, cái rổ, lúc lại là cái giần hay cái sàng để dùng trong nhà. Mỗi lần đan
xong một thứ cụ lại mang vào bếp hơ lên ngọn lửa để đốt các sợi lông tre xổ ra.
Đến khi nứt cạp cụ thường dùng răng cắn vào cạp rồi mới rút sợi mây, thành thế
nên trên vòng cạp của rổ hoặc rá đều có vết răng của cụ. Một lần cụ chợt nhìn
thấy Hằng đang nhìn mình cắn cạp rổ rá, cụ cười và kèm sau đó là lời giải
thích:
- Có cắn thế cạp mới chắc! Những người đi chợ mua rổ rá thường nhìn vào dấu cắn
này mà chọn, có thế mới mua được thứ tốt.
Hằng cũng chỉ cười mà không nói gì, trong bụng thì cậu nghĩ rằng sau này cậu sẽ
không làm nghề đan lát vì nếu cứ cắn như vậy thì rất ghê răng. Có lẽ cụ Nhẫm
trêu cậu thế thôi chứ nếu cái rổ nào cũng làm thế thì chả mấy chốc mà gẫy hết cả
răng.
Hàng ngày Hằng phải dậy rất sớm để trông cháu cho chị cả đi làm. Cũng vì đồng
xa nên chị cả chỉ đi làm có một buổi sáng, còn buổi chiều thì chị ở nhà trông
cháu để cho Hằng đi học cùng với cô A con của ông Khánh và cô Tý con bà Xước.
Thầy dạy học cho bọn trẻ là cụ Mậu, cụ cũng chỉ là thầy đồ có một chút vốn chữ
quốc ngữ vừa đủ để dạy cho bọn trẻ vỡ lòng, mẫu giáo mà thôi. Lớp học của cụ ở
ngay trên nền nhà, bọn trẻ tự mang theo những cái ghế để vừa kê sách khi viết
bài, còn lúc tập đọc thì dùng làm ghế ngồi. Những bài học hàng ngày vẫn là tập
tô, tập viết, tập đọc và học thuộc lòng. Những bài học thuộc lòng đa phần là những
bài ca dao ngắn, những bài hát ru lục bát nên cũng dễ học, dễ nhớ. Điều quan trọng
đối với cụ Mậu là làm thế nào để cho các học trò nhỏ của mình tỏ ra có tiến bộ,
bên cạnh sự hiểu biết của các học trò là điều mong muốn của người thầy làm thế
nào để cho các bậc phụ huynh dễ nhận ra rằng con cháu của mình cũng đã học được
mà tiếp tục gửi con, gửi cháu đến cho cụ, để rồi họ sẽ đóng góp cho cụ một vài
đấu gạo trong lúc đói kém khó khăn này.
3
Ngoài việc trông cháu và đi
học chú em chồng của chị Thảo chẳng giúp thêm cho chị được gì nữa, còn chị thì
tất bật suốt cả ngày. Cũng có lần chị cả cho cậu đi tập làm việc cùng với chị
khi chị gửi cháu cho cụ Nhẫm. Lần ấy hai chị em ra bờ ao trước cửa làng lấy bèo
cái về cho lợn, cũng không biết chị mượn đâu được đôi quang gánh ngắn khá vừa
so với độ cao của Hằng. Bèo vừa chất lên là cậu gánh thử ngay, xem ra cậu gánh cũng
được nên chị cả cũng không để ý đến nữa, chị cúi xuống để nhặt bèo vào gánh của
mình. Chú em thì hăm hở lắm nhưng chỉ mới đi được một đoạn đã thấy lấy tay sờ
lên vai, có lẽ là cậu bị đòn gánh cọ đi, cọ lại nên đã bắt đầu đau vai. Đây là
lần đầu tiên trong đời cậu tập gánh nên dễ đau và nhanh đau là phải, thế là cậu
nghĩ đến việc đổi vai nọ sang vai kia cho đỡ đau. Vì là lần đầu tập gánh nên việc
đổi vai như thế nào cậu cũng chưa tường tận lắm. Lúc đầu cậu định dừng lại rồi
xoay đòn gánh trên vai, nhưng xoay đến đâu thì cứ như cái đòn gánh lại cứa vào
vai và cổ đến đó, thế là cậu đành hạ cả gánh xuống rồi chui đầu qua đòn gánh để
sang vai bên trái. Vừa sang vai xong thì thấy chị cả cười ngặt, cười nghẽo, rồi
chị tiến lại gần bảo chú em hạ gánh xuống để xem chị dở vai. Thực ra thì việc dở
vai cũng không khó lắm, cái đáng lưu tâm ở đây là vai của cậu đỏ tía và đã sưng
lên rồi nên cậu không muốn để cho cái đòn gánh nó nhay lên trên đó mà thôi. Thế
rồi chị cả làm động tác đổi vai cho Hằng xem, chị lại định còn bắt cậu dở vai
thử để cho chị xem có được hay không, chị nhấn mạnh việc đổi vai phải xoay về đằng
sau mà không được xoay về đằng trước. Thì ra lúc nãy khi chị ngước lên thì thấy
Hằng vừa chui đầu từ bên này sang bên kia nên chị tưởng là cậu xoay đòn gánh ra
đằng trước, có lẽ vì thế mà chị buồn cười đến mức như vậy. Sau lần tập gánh với
bao chuyện buồn cười lại đến chuyện tập tát nước. Thực ra cũng không còn là
chuyện tập nữa mà là tát nước thật.
Mùa nắng năm ấy đã kéo dài
mấy tháng liền, nên ngay từ khi cấy các thửa ruộng của nhà đã thiếu nước. Hàng
ngày các hộ có ruộng ở vùng ấy đều có ý chia phần cho từng nhà đến tát nước. Chờ
mãi đến năm sáu ngày liền, hôm ấy mới đến phiên chị cả lấy nước. Dồn tát nước
vào ruộng sâu quá thành ra không dùng được gầu sòng mà phải dùng gầu giai. Chị
cả lại chỉ có một mình nên chẳng làm gì được. Chị cũng đã cố gắng đi mượn người
nhưng tất cả những người có thể giúp chị thì đều quá bận, bất đắc dĩ lắm chị
đành phải bảo cậu em chồng đi tát nước cùng chị. Hằng nghe nói được đi tát nước
thì rất vui vẻ vì mình sắp được làm các công việc của người lớn mà lâu nay cậu
chưa bao giờ được sờ đến.
Chị cả cũng buộc lại sợi
dây gầu cho ngắn lại sao cho Hằng có thể kéo được. Sau khi tìm chỗ đứng cho
mình, chị cả lại đi sang chỗ của Hằng để hướng dẫn cho cậu về cách đứng, rồi
cách cầm dây gầu. Mới kéo gầu nước đầu tiên Hằng đã chúi cả người về phía
dồn nước, tý nữa thì ngã nhào xuống dồn. Chị cả hoảng quá định thu dây gầu lại
nhưng chú em không cho, xem ra có lẽ cậu vẫn muốn tập tát nước cho bằng được. Đến
lần thử thứ hai thì cậu có tiến bộ hơn tuy rằng chị cả chỉ dám múc có lưng gầu
một. Hai chị em cố gắng nhũng nhẵng mãi cũng cũng múc được ướt mặt ruộng. Đến
lúc này thì cậu đã quá mệt và đòi nghỉ. Ngay chị cả cũng muốn nghỉ vì chị cũng
mệt. Chị cả mệt không phải vì làm quá nhiều, chẳng qua chị mệt vì cứ phải lựa
theo cậu em. Nếu kéo mạnh thì sợ cậu ngã thành ra cứ phải kéo nhè nhẹ. Mỗi lần
thả gầu chị lại phải cố hạ thấp xuống cho cân đối rồi đưa dần gầu nước lên như
kéo nước từ giếng khơi lên vậy. Dù sao thì cũng ướt được chân lúa, thế cũng đã
là quý lắm rồi, còn muốn kéo thêm cho đầy thì tối nay sẽ nhờ số chị em trong họ
ra giúp thêm cho một lúc. Với một cái thành quả bé tý như vậy cũng làm cho Hằng
vui thích, mà không vui sao được vì chỉ mới gần chín tuổi cậu đã có thể làm được
công việc của người lớn, cho dù công việc đó chẳng có đáng gì so với nhiều công
việc khác của nhà nông.
4
Ngoài việc trông cháu, giúp
việc cho chị và đi học cậu còn luôn bày ra cho số bạn cùng tuổi rất nhiều các
trò nghịch ngợm, nào là các trò bán hàng bằng lá cây để vui chơi, trò trốn tìm
lẫn nhau trong đêm tối. Riêng trò trốn tìm thì cậu luôn luôn chiến thắng, tất cả
bọn trẻ con từ cái A đến cái Tý, cùng mấy đứa bé tý khác ở trong xóm. Chúng nó
chả làm thế nào tìm ra được cậu. Chỉ riêng mỗi một mình cậu nếu đã đi trốn thì
chỉ khi nào cậu không thích chơi nữa mà tự đi ra thì lũ trẻ mới bắt được cậu.
Cũng có khi Hằng đi trốn vào một cái đống rơm của nhà cụ Đãng hoặc của nhà cụ Đồ
rồi ngủ luôn ở trong đó làm cho chị cả đi tìm trợn cả mắt lên mà vẫn không thấy.
Những lúc như thế chị cả lại sợ cậu giận gì mình mà đi trốn nên càng lo lắng,
nhiều khi bỏ cả cơm nước rồi cuống cuồng lên để đi tìm em. Cho dù sau đó đã
nghe Hằng nói rõ nguyên nhân rồi nhưng chị vẫn bán tín bán nghi, cho là mình đã
làm điều gì đó không phải nên em phật ý giận mình. Những lúc như vậy chị chỉ
mong sao bố sớm về để trả cậu về cho bố mẹ. Ngoài các trò chơi thông thường của
bọn trẻ ra Hằng còn có những trò nghịch tệ hại hơn nữa. Một trong các trò ấy là
trò chơi ăn trầu bằng thân của cây sắn giây mà cậu cắt được ở trong vườn của cụ
Đồ. Một mình cậu đã bày ra một đám cưới của một đứa trẻ này với một đứa trẻ
khác, bất chấp đó là cô cháu hay là anh em cậu chỉ cần có đám cưới là được, vì
chỉ có đám cưới mới có lý do để ăn trầu. Những đứa trẻ lại cũng chẳng cần gì cả
miễn là cứ được nhai các đoạn sắn giây rất ngọt là được. Cũng phải nói rằng vào
thời bấy giờ trẻ con ít được ăn đường mật hoặc các thức ăn có chất đường nếu
như chưa đến các ngày hội hè hoặc tết nhất, vì vậy mà cái chất ngòn ngọt của
cây sắn dây cũng là những thứ mà chúng ao ước được ăn. Cây sắn giây có vị ngọt
nhiều nhất là đoạn thân bánh tẻ nằm gần giữa gốc và ngọn, cũng chính vì vậy mà
mỗi lần cắt được đoạn thân trên thì cây sắn cũng bị cắt cụt. Chỉ trong có mấy
ngày mà hết vườn nhà cụ Đồ lại đến vườn nhà bà Đãng đều có cây sắn giây bị
héo lá. Những người có vườn cũng chỉ nghĩ rằng có lẽ là cây sắn bị sâu, về sau
thấy cây sắn bị chết nhiều quá đâm nghi thế là họ phát hiện ra cây sắn bị ai đó
cắt. Chắc họ cũng đoán ra thủ phạm nhưng lại không bắt được tận tay nên họ chỉ
dám nói bóng, nói gió mà thôi.Thế rồi chuyện này cũng đến tai chị cả, chị bực lắm
nhưng mà không biết nói vào đâu, chị chỉ hỏi cậu xem cậu có cắt sắn hay không,
dĩ nhiên là cậu phải chối chứ chả lẽ lại đứng ra nhận, mà đứng ra nhận thì chắc
chắn là sẽ bị mắng hoặc có thể còn bị đánh là đằng khác. Đành rằng chị cả là
không dám đánh nhưng mấy đứa cháu của cụ Đồ chắc gì chúng đã tha. Thế rồi cũng
tý nữa là bị lộ nếu như cậu không nhanh trí bế ngay thằng cháu rời khỏi nhà
ngay lúc đấy. Chẳng là mỗi lần cậu muốn chơi lâu thì cậu lại bắc ghế với lên
mái nhà là nơi cậu giấu các đoạn sắn giây để lấy cho thằng cháu một đoạn sắn
giây để nó cho vào mồm nhằn đi, nhằn lại. Lần này không biết thế nào tự nhiên
nó lại nghĩ ra cái trò nhằn cái thân sắn giây thế là nó cứ chỉ lên mái nhà rồi
khóc ré lên đòi chị cả, cũng may là chị cả cũng chẳng hiểu thằng bé đòi gì còn
cậu em chồng khi phát hiện ra đã bế vội nó đi chơi, dĩ nhiên là khi vắng người
cậu đã di chuyển những đoạn sắn giây ấy đi nơi khác.
Sau những ngày hè nóng bỏng với các trò chơi kéo dài từ ngày này sang ngày khác
tưởng như vô tận cũng đã kết thúc. Những ngày thu đầu tiên đang từ từ đến trong
tiết heo may se lạnh, ngoài đồng cây lúa đã tròn mình. Những ông bà già sớm
ngày ra đã có người phải mặc áo sợi dài tay cùng với cái khăn đen trùm kín trên
đầu chống lạnh. Suốt trong những ngày hè Hằng thường trốn đi cùng mấy đứa trẻ
trong xóm để đi bơi lội ở các ao làng chạy dọc bên đường cái. Người ta đồn rằng
trong làng có đến năm mươi tư cái ao tất cả, trong đó có đến hai phần ba số ao
là của nhà lão Quản Ri. Số ao này bây giờ đã không còn của Quản Ri nữa mà nó đã
thuộc về các ông nông dân mà đội cải cách đã chia cho mọi người. Cũng chính vì
cứ lặn hụp trong những cái ao đó mà cậu bị đau mắt. Trông cậu lúc này thật buồn
cười, hai chân đất lúc nào cũng nhem nhuốc bùn đất. Cái áo sơ mi trắng nhờ giờ
nhuộm đầy mực tím cùng với than gio trông thật bẩn thỉu, cái quần cộc bằng vải
chéo go màu đen cứng còng mà lại rộng tuềnh trông cứ như là đi mượn của ai chứ
không phải của mình vậy. Bên dưới bộ tóc rễ tre cứng quèo là hai con mắt đỏ hoe
hoe lúc nào cũng đầy rử rạp ở hai đầu khoé mắt.
5
Cũng không biết ông Tân về
quê từ lúc nào vì khi về ông lại về nhà ông Khánh trước chứ cũng không về chỗ
con dâu và cháu. Có lẽ ông cũng e nơi con cháu mình ở chỉ là nơi ở nhờ, ở cậy
mà thôi, dẫu sao thì nhà ông Khánh cũng là nhà anh em gần gận hơn so với nhà của
cụ Nhẫm, chú của con dâu. Sau mấy ngày ở chơi cùng anh em họ hàng và con cháu,
ông Tân đưa cậu cùng lên Hà Nội. Khi chia tay chị em bịn rịn không muốn rời xa,
nhất là thằng cháu thì cứ khóc dãy lên đòi đi với chú. Có lẽ nó tưởng là chú vẫn
cõng nó đi chơi như mọi khi nên nó khóc và đòi đi dữ lắm, nhất là mấy hôm nay
nó lại có một ông nào đó luôn bế ẵm và cho nó ăn quà, đặc biệt là lại rất
thương yêu nó, mãi sau cái Tý phải bế nó đi chơi nơi khác để cho nó tạm quên
đi. Cũng từ hôm bố về chị cả mới ít đi làm hơn, ngoài phần thời gian chợ búa
mua sắm thức ăn để lo tiếp đãi ông bố thì chị luẩn quẩn hơn với cậu em chồng,
chị hỏi kỹ hơn về sở thích ăn uống, rồi cả về các việc chơi bời, học hành của cậu
nữa. Chị dặn đi, dặn lại về các việc gì mà chị làm em không vui thì đừng nói với
thầy để thầy khỏi mắng chị. Cậu em cũng chỉ gật đầu thế thôi vì cậu chả để ý đến
việc gì nữa ngoài việc mừng vui khấp khởi là sắp được về với mẹ.
Sau quãng đường gần mười lăm cây số đi bằng xe ngựa từ chợ mới Giao Cù qua chợ
Chùa rồi lên đến thành phố Nam Định, hai bố con ông Tân vào bến xe Nam Định để
mua vé lên xe. Mọi việc đều do ông bố làm, cậu con thì chỉ như cái đuôi bám
theo ở đằng sau, vậy mà vẫn còn sợ bị lạc. Vừa lên xe là cậu đã bắt đầu ngủ, một
giấc ngủ kéo dài đến mấy giờ liền trong lòng ông bố. Ngoài trời se lạnh nên sự ấm
nóng trong xe thật hợp với giấc ngủ của trẻ nhỏ, hơn nữa cái sự rung xóc của xe
lại cứ như là ai đó đang đưa nôi nên bất kỳ ai cũng đều như muốn ngủ chứ không
riêng gì bọn trẻ con như cậu. Khi cậu thức dậy thì xe đã lên đến Hà Nội, ông bố
đánh thức cậu dậy rồi lại kéo cậu đi dọc hai con phố đầy dãy các cửa hàng tạp
hoá. Có rất nhiều các loại đồ chơi mà cậu nhìn thấy, nhưng hình như cậu biết bố
cậu cũng không có tiền để mua nên cậu cũng chỉ nhìn vậy để thèm mà thôi. Sau
khi ông bố mua cho cậu một cái bánh chưng ăn cho đỡ đói rồi hai bố con lại lên
xe để về nhà. Bắt đầu lên xe bố đã dặn người phụ xe là cho ông về đến Bia Đổ.
Bia Đổ thực chất không phải là một địa danh mà đúng theo nghĩa đen của nó là tại
đó có một cái bia đá hình khối vuông rất to nằm đổ kềnh ngay đầu con đường rẽ
liên tỉnh đi qua huyện Từ Sơn để rồi đi sâu hơn nữa vào các thôn xã của tỉnh Bắc
Ninh. Con đường này đã là con đường chính từ nhiều năm trước đó cho mãi đến khi
có con đường quốc lộ số một thì nó mới chịu nhường lại chữ chính để nhận mình
thành con đường phụ, tuy nhiên nếu là đối với người đi bộ thì cái tên chính vẫn
còn nguyên giá trị. Thế là cái bia đổ từ chỉ điểm bằng hình ảnh cụ thể đã thành
tên gọi quen miệng của những anh tài xế và các khách đi đường chờ xe. Quãng đường
từ bến xe về đến Bia Đổ rất ngắn chỉ độ non mười cây số là cùng, tuy nhiên tuyến
xe thì còn rất dài. Từ bến khởi đầu là bến Hàng Vôi ngay đầu cầu Long Biên, xe
sẽ đi lên tận Vĩnh Phúc rồi lên đến cả Lào Cai, Yên Bái và còn có thể xa hơn nữa,
tuy nhiên hai bố con ông Tân lại chỉ đi đến Bia Đổ mà thôi. Ngoài cái bia đổ là
đặc điểm của lối rẽ này người ta còn gọi chỗ ấy bằng một cái tên là Vực Gạo,
cái tên này chủ yếu là gọi tên một cái vực ở ngay bên phải của đường rẽ này.
Cũng không ai biết Vực Gạo có tự bao giờ, mà chỉ biết rằng khi mình đẻ ra thì
nó đã có rồi. Vực Gạo rộng độ gần hai hecta và có bề mặt hơi vuông, cũng không
rõ từ bao giờ người ta truyền tụng rằng Vực Gạo thông đến với sông Đuống và còn
có thể thông đến tận sông Hồng. Vực Gạo sâu lắm, nhiều người có hơi dài đã từng
ra đến chỗ sâu nhất để lặn xuống thì họ bảo rằng họ đã lặn hết cả một hơi vẫn
không đến đáy, chính vì vậy mà người ta đồn rằng vực thông với sông Đuống, Sông
Hồng. Nhưng có lẽ là họ muốn doạ những người yếu bóng vía hoặc họ muốn doạ lũ
trẻ con để chúng khỏi đi nghịch nước để tránh bị chết đuối mà thôi. Từ Vực Gạo
vào đến làng Đồng Dầu chỉ độ tám trăm mét nên hai bố con ông Tân lững thững đi
bộ để về nhà. Ông Tân thong thả đi trước còn Hằng thì phải chạy gằn ở đằng sau,
vì chân cậu ngắn nên khi bố bước một bước thì cậu phải bước đến hai, ba bước mới
theo kịp nên trông cậu giống như đang phải chạy gằn. Cũng vì cậu bị đau mắt nên
khi còn ở trên xe ông Tân đã đưa cho cậu đeo cái kính dâm của ông, lúc ngồi
trên xe thì kính không tuột do cậu ngồi hơi ngửa ra, nhưng đến khi xuống xe đứng
thẳng lên, thành ra cái kính cứ tuột ra, cậu vừa chạy gằn vừa phải giơ tay lên
giữ kính nên cậu đi càng chậm, ông Tân lại cứ vừa đi vừa phải đứng chờ. Quãng
đường gần một cây số cũng đã làm cho cậu mệt xoài, vì lâu nay cậu cũng hay chạy
nhảy nhưng cũng không mấy khi đi cả một quãng đường dài liên tục như vậy bao giờ.
Đi bộ mãi rồi hai bố con ông cũng về đến nhà, người đầu tiên cậu gặp là bà mẹ của
cậu, bà đón cậu bằng cách đứng nhìn chăm chú và chỉ hơi mỉm cười mà không nói
gì. Sau khi đã nhìn kỹ cậu từng tý một bà đến lấy hộ cho cậu cái kính ra khỏi đầu
rồi đem cất lên trên mặt cái hòm thóc. Mãi cho đến lúc này bà mới cất tiếng
nói vừa như phân bua vừa như xác nhận:
- Trông cũng đã cao hơn thì
phải? Có lẽ thế thì số quần áo cũ cũng đã chật rồi!
Ngay lúc đó bà đưa cậu ra
ngoài bể nước mưa rồi lấy khăn ra rửa mặt cho cậu, vừa rửa bà vừa ca cẩm về cái
sự bẩn thỉu và cả cái sự đău mắt của cậu, bà bảo với cậu:
- Chỉ cần dử của một bên mắt
thì hai con lợn xề ăn no, gớm sao mà chị em nhà mày lại chẳng biết chữa chạy gì
xất cả cơ chứ.
6
Bà xuống bếp đơm cho cậu một
bát cơm nguội chan với canh cua mà nhà ăn từ trưa còn lại, cũng chả biết nhà nấu
thế nào mà mới độ hơn tiếng đồng hồ mà đám canh cua nấu với rau lang đã xanh
biêng biếc đến kỳ lạ, trông bát cơm thấy cứ như là cơm bị nhuộm phẩm xanh, tuy
thế nhưng khi ăn vào lại thấy rất ngon, nhất là trong lúc này cậu đang rất đói,
cậu ăn thêm gần hai nưng nữa rồi mới thôi.
Sau khi cơm nước xong cậu mới để ý thấy nhà mình vắng vẻ quá, quanh đi cũng chỉ
có bố, quanh lại cũng chỉ có mẹ với hai cô em bé tý, xung quanh làng nước đều ở
xa cả.Từ ngày chia quả thực bố không chịu nhận ngôi nhà của ông lý Long vì bố
không muốn lấy không của người khác bất cứ một cái gì, rồi đội cải cách cứ nhất
thiết yêu cầu cả nhà ra khỏi cái điếm để đội lấy làm trụ sở thì nhà đã dọn ra
chùa thay chân cho nhà cụ Vá đã bỏ về quê. Ngôi chùa của làng Đồng Dầu khá rộng
và có cách bố trí khá đẹp cả về kiến trúc nhà lẫn khuôn viên bên ngoài, chùa được
thiết kế có kết cấu theo hình chữ đinh quay về hướng tây, phía trước chùa là một
khoảnh sân gạch rộng gần một sào, tiếp theo là một dẻo vườn chạy dọc theo sân
chùa, đây là khoảng chuyển tiếp để đến một cái ao rộng gần hai sào bắc bộ, ngăn
cách giữa ao và vườn là một bờ tre khá dày ngả ngọn xuống ao trông thật hữu
tình. Hai bên chùa là khu ruộng đến hơn năm sào Bắc Bộ, đây là ruộng riêng của
chùa, vẫn gọi là ruộng nội tự. Phía sau chùa cũng là một khoảnh vườn rộng cũng
phải đến hơn mười thước Bắc Bộ trồng cây ăn quả. Toàn bộ khuôn viên trên được
bao phủ bằng một luỹ tre dằy dặn mà bên ngoài muốn vào cũng không vào được.
Chùa chính có năm gian, gian đầu tiên bên trái là nơi thờ Đức Ông, tượng của
ngài to gần bằng người thật ngồi ngay ngắn trên ngai, mình ngài mặc áo thụng có
nhiều hoạ tiết hoa lá, đầu đội mũ cánh chuồn màu đen, chân đi hài thêu hoa rực
rỡ. Khuôn mặt của ngài mang sắc đỏ thẫm rất đặc trưng. Toàn bộ khuôn hình của
ngài toát ra sự oai phong và trang nghiêm đến dễ sợ. Gian tiếp theo là nơi đặt
bệ thờ tượng vị hộ pháp cao lớn ngồi trên mình sư tử, đầu chạm mái chùa. Ngài
có khuôn mặt trắng và rất hiền, khuôn mặt của ngài có các nét của người phụ nữ.
Một tay ngài giơ lên ngang đầu và hướng ra phía trước như muốn phô ra một vật
gì đó, theo mọi người nói thì hình như đó là một viên ngọc thì phải. Gian đầu
tiên bên phải là tượng một vị thánh có khuôn mặt màu chì hơi xanh bên dưới
khuôn miệng là một bộ râu quai nón. Tiếp theo về bên trái là tượng Đức Thánh Hiền,
ngài cũng có khuôn hình to gần bằng người thật, ngài có khuôn mặt mang sắc trắng,
mình mặc áo thụng vàng ống rộng, trên đầu đội mũ tỳ lư có đến tám tấm thẻ hình
hoa ghép lại, mỗi tấm trông giống như là một cánh hoa sen, trên đó vẽ nhiều các
vân hoa và đường viền rất đẹp. Toàn bộ khuôn hình của ngài toát ra một nét hiền
lành chân thật giống như một người mẹ. Gian kế bên là nơi đặt tượng vị hộ pháp
có khuôn mặt đỏ hồng râu và lông mày khá rậm cũng cao lớn chạm nóc chùa, cũng
ngồi trên mình sư tử, tay ôm một thanh long đao to lớn đang giơ lên như sắp
giáng xuống mình những kẻ nào dám xâm phạm đến mọi thứ trong chùa. Gian giữa được
nới rộng gấp đôi so với các gian khác và được phát triển về phía sau thành cái
chuôi vồ để làm tam bảo. Tam bảo được chia thành ba khuôn chạy dọc về phía sau,
hai bên hẹp độ non một thước đặt tổ hợp tượng nói về tích Quan Âm Thị Kính ở về
bên trái, còn bên phải cũng là một tổ hợp tượng trong đó có một pho mang dáng
hình của nữ nhân. Khoảng giữa được xây giật bậc từ thấp đến cao, bề mặt của mỗi
bậc rộng hẹp tuỳ theo diện tích đáy của các tượng đặt trên đó. Bậc đầu tiên cao
hơn mặt nền gần một mét, trên đó có giàn Cửu Long gồm tượng của đức phật Thích
Ca Mầu Ni để trần mặc xà rông đứng chân trước, chân sau có vẻ như hơi kiễng
chân, người hơi khom về phía trước, tay bắt quyết giơ lên cao. Cả bức tượng nhỏ
như một quả bí xanh con được chế bằng đồng đen nên mỗi khi đánh sáng ra mầu đỏ
rồi lại tự đen ngay sau đó vài phút. Giàn Cửu Long uốn theo hình cầu vồng, bên
trên đó có đến hơn một chục tượng La Hán, có lẽ cũng làm bằng đồng đen. Bậc tiếp
theo là tượng các vị Phán Quan, trên nữa là Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn
tay, hai bên là Thiện Tài Đồng Tử. Trên nữa là Phật Tổ Như Lai, hai bên Phật Tổ
là Anan và Cadiếp. Trên cùng là toà Tam Thế cùng với các bức tượng, tượng trưng
ba kiếp là quá khứ, hiện tại và vị lai. Đa số các chùa đều có cấu trúc nhà cửa
cùng với các tượng na ná giống nhau. Nhưng có lẽ là tượng chùa Đồng Dầu có nhiều
nét thanh tú rất gần với đời thường nên nhìn rất đẹp. Sát góc ngoài hồi phải có
một quả chuông lớn đúc rất đẹp treo trên quá giang. Trên thành chuông có rất
nhiều văn bản bằng chữ nho khắc chìm trên bốn mặt. Các vú chuông có hình viền bằng
các hạt tròn luôn sáng loáng do thường xuyên dùng vồ để gõ vào. Bên dưới quả
chuông là một cỗ ngựa bạch được đặt trên một giá có bánh xe để tiện cho di chuyển.
Đằng sau chùa là ngôi nhà tổ năm gian lợp ngói mũi, đây cũng là một ngôi nhà
khá lớn so với rất nhiều ngôi nhà dân có ở trong vùng. Gian giữa là nơi đặt điện
thờ thánh mẫu, trên ban có ba pho tượng mẫu cỡ lớn được che phủ bằng những
vuông khăn nhiễu đỏ, ngoài ra còn có rất nhiều các đồ thờ cúng khác. Bên dưới
ban thờ mẫu là nơi thờ công đồng tứ phủ cùng với tranh ngũ hổ sơn son thếp vàng
trên gỗ. Trên quá giang của gian giữa là đôi thanh xà, bạch xà cuốn quanh mình
gỗ. Gian cạnh về bên phải là nơi đặt các bát hương của con hương đệ tử gửi bán
và thờ cúng tại chùa. Gian cạnh bên trái là nơi thờ tổ, trên ban có tượng của vị
tổ trụ trì đầu tiên ở chùa. Hai đầu hồi nhà là hai gian buồng, buồng bên trái
là nơi chứa các loại xoong nồi, bát đũa, phục vụ cho những khi mở cỗ bàn, tiệc
tùng trong các kỳ đại lễ. Còn gian buồng bên phải được lấy làm nơi ở cho cả gia
đình, đó là cái tổ ấm của bố mẹ và cả ba anh em của Hằng. Giáp với hồi
bên phải là ngôi nhà ngang bốn gian bằng gỗ lợp ngói nối với nhà tổ thành hình
thước thợ, nơi này dùng làm nơi sắp cỗ cho khách thập phương hoặc con hương, đệ
tử ở xa về. Đầu hồi bên trái có một cái bể nước mưa chứa được gần
mười khối nước dùng làm nước ăn quanh năm. Lùi xuống thêm một chút nữa là một
cái bếp tường đất lợp rạ. Ngoài hai gian dành cho nấu nướng, bếp còn để ra một
gian làm chuồng trâu và chuồng lợn.
Với toàn bộ các kết cấu nói trên làm cho ta cứ liên tưởng đến một khu trang trại,
tuy nhiên đây lại chỉ là nơi cư trú tạm thời của gia đình Hằng. Tóm lại là gia
đình cậu vẫn là gia đình không có nhà, vẫn phải làm người đi ở nhờ, vô gia cư,
cho dù nơi ở hiện nay là một nơi ở rất tốt đẹp và lý tưởng. Đến một ngày nào đó
gia đình cậu sẽ lại phải ra đường khi mà những người trong làng không còn muốn
để cho họ ở đây nữa.Việc từ chối tất cả những quả thực của đội cải cách chia
cho có phải là quyết định đúng đắn của ông Tân hay không sẽ còn cần phải xem lại
về sau này, nhất là quyết định này đã đi ngược lại với tất cả mọi người lúc bấy
giờ.
7
Vào ngày mồng năm tháng
chín dương lịch năm ấy là ngày khai trường cho tất cả các cấp học ở trên khắp
miền Bắc Việt Nam. Ngày khai trường giống như một ngày hội cho tất cả mọi người.
Không riêng gì các em lớn tuổi, các em nhỏ cũng được các bậc cha mẹ đưa đến trường.
Hằng cũng như những đứa trẻ khác được bố đưa đến trường đi học. Ông Tân cũng
không biết con mình học ở mức nào nên ông đưa cậu đến học lớp vỡ lòng của ông
giáo Nguyễn Văn Thiện. Nơi lớp học ông Thiện dạy lại ở ngay ngôi điếm giữa
làng, nơi mà gia đình cậu đã bị đội cải cách đuổi ra hồi cải cách ruộng đất.
Ngay trong ngày đầu tiên cậu đã bị thầy Thiện gọi lên sát hạch. Nói là sát hạch
cho đúng từ ngữ hồi đó thôi chứ thực ra chỉ là cuộc thăm dò sức học của học
sinh mà thôi. Bài giảng của thầy Thiện hôm đó nhằm giúp cho học sinh biết cách
phân chia vần, cách ghép vần và cách đánh vần. Bài có vần ia và vần ua, cả bài
gồm mấy từ (IA- Chia rẽ mỉa mai - UA) .Tất nhiên là cậu có thể đọc ngay cả
câu một cách ngon lành mà không phải đánh vần như thầy yêu cầu. Thấy cậu học
trò có vẻ khá, thầy Thiện lại muốn khai thác thêm bằng cách yêu cầu cậu giải
nghĩa xem từ đó nói lên cái gì. Đến lúc này thì cậu có vẻ bí, vì cả câu
chả nói lên điều gì cả. Cậu đứng hơi lâu mà vẫn chưa nghĩ ra được cái gì, thế rồi
cậu cũng nói bừa đi cho xong:
- Thưa thầy đây nói về
không đoàn kết ạ!
Thầy ồ lên phấn khởi rồi giải thích thêm cho học sinh nghe. Thầy nói về ý nghĩa
của việc đoàn kết, thầy nói cả việc toàn dân đoàn kết đánh giặc Pháp thắng lợi
bằng các câu chuyện rất là hay, đến nỗi tất cả học sinh đang mất trật tự là thế
mà cũng im phăng phắc để nghe. Vậy mà không ai ngờ được thầy lại là một nhân
viên phòng nhì trong bộ máy của chính quyền thực dân Pháp. Điều này cho mãi đến
năm 1962, nghĩa là sau đó gần sáu năm thì chính phủ mới cho người đánh xe ô tô
về tận sân đình làng đọc lệnh bắt đưa đi làm mọi người không gì còn ngạc nhiên
hơn thế.
Trong thời gian học thầy Thiện, cậu chả phải lo gì đến việc học vì tất cả
chương trình học chỉ nhằm cho học sinh đọc thông, viết thạo, thì cái việc đó cậu
đã qua từ lâu rồi. Lẽ dĩ nhiên là cậu được thầy hết sức yêu quý vì dẫu sao cậu
cũng là con mồi để thầy sử dụng khi cả lớp gặp bế tắc. Nhiều khi lớp gặp những
bài khó đọc, thầy đã gọi đến ba bốn em mà vẫn chưa có em nào đọc tốt thì đến
lúc đó cậu sẽ được gọi lên đọc làm mẫu để cho không khí lớp học đỡ căng thẳng đồng
thời cũng kích thích các học sinh khác sẽ cố gắng chăm học hơn. Sau một năm học
cậu cũng đã lên lớp một với sự đánh giá tốt của thầy giáo Thiện.
Lên lớp một Hằng vẫn học ở lớp cũ nhưng là học buổi chiều, thầy giáo mới của lớp
một là thầy Nguyễn Huy Chuyên, thầy là người ở ngay Tiền Thôn, nhà thầy cách lớp
học có độ một cây số, hàng ngày thầy đi bộ tắt qua cánh đồng để xuống lớp học.
Thầy Chuyên rất dữ đòn, thầy dữ đòn không khác cụ trưởng bạ ngày xưa là mấy.
Cũng đã có nhiều bậc phụ huynh phản ảnh với nhà trường về việc này nhưng hầu
như thầy cũng không chịu thay đổi. Hàng ngày thầy không dùng roi mây
nhưng lại dùng một cái thước gỗ bằng lim khá dài vừa để làm cây chỉ vào các chữ
cho học sinh đọc bài, vừa để gõ xuống bàn làm hiệu lệnh yêu cầu học sinh trật tự,
đến khi phạt học sinh thì cây thước trở thành một cái roi rất lợi hại.
Thầy Chuyên cũng khá thân với cha mẹ cậu nên ông cũng không mấy khi động đến cậuT,
nhưng cái chính là cậu cũng ít khi mắc lỗi, bài học thì không còn phải nói gì
hơn vì mọi nội dung trên lớp cậu đều hoàn tất và vẫn giữ được phong độ như khi
còn học ở lớp vỡ lòng. Thời gian học ở lớp một cũng qua đi nhanh chóng và sang
đến năm 1958 thì cậu đã lên học lớp hai. Mỗi ngày đi dạy học thầy Chuyên
thường đi sớm hơn bình thường để vào nói chuyện với ông Tân trước khi đến lớp.
Câu chuyện của hai người mỗi ngày cũng chỉ xoay quanh về thơ phú chữ Hán và vài
ba câu chuyện về làng xóm cùng một vài quan niệm về văn phong, lễ giáo v v...
Hình như hai ông có hẹn nhau từ trước nên khi thầy Chuyên xuống đến nơi thì ông
Tân đã đun sẵn nước và pha xong ấm trà hiệu Chính Thái ướp hoa sói, đến khi uống
tàn ấm trà thì cũng vừa lúc thầy đi đến lớp giảng bài. Cũng có nhiều hôm do mải
đàm đạo mà thầy cũng đến hơi muộn, nhiều bạn xôn xao định bỏ về nhưng Hằng đã
tiết lộ là thầy đã đến rồi nên các bạn ở lại chờ. Sang đầu năm học lớp hai cậu
học kém hẳn đi vì hồi này cha cậu ốm khá nặng, nhiều hôm cậu phải nghỉ học để ở
nhà để giúp bố một số việc sinh hoạt hàng ngày. Thầy Chuyên hồi này cũng ít qua
lại uống trà vì thầy cũng bận nhiều việc, nhất là từ khi thầy lấy người vợ thứ
hai này về lo quán xuyến việc nhà thay cho bà cả mất đã lâu.
8
Việc học tập của Hằng đang
có những tiến bộ thì lại không thể tiếp tục vì ông Tân ốm ngày càng nặng thêm
lên, thế là Hằng phải nghỉ học để ở nhà trông nom bố cho mẹ ra đồng. Đến gần tết
âm lịch năm 1960 thì ông cụ yếu đi nhiều, nhưng sau một thời gian chạy chữa thuốc
men cùng nơi, khắp chốn ông cụ có khoẻ trở lại nhưng lại bị mất tiếng. Hàng
ngày ông lại mở giấy bút ra để làm giấy sớ cho các con hương, đệ tử chuẩn bị
cho kỳ khai xuân vào ngày mồng chín tháng giêng năm mới. Rất nhiều công việc cần
sai phái nhưng cô con gái bé quá lại mải chơi nên ông Tân không gọi được chính
vì vậy nên rất cần có người ở liền ngay bên cạnh để có thể ghé tai sát gần miệng
nghe ông sai bảo.Thế là cậu lại phải bỏ học lần thứ ba trong quãng đời học sinh
ngắn ngủi của mình để ở nhà giúp bố, có lẽ số phận đã xui khiến như vậy.
Tết canh tý năm 1960 chầm
chậm qua đi trong không khí nặng nề và buồn. Ngay từ những ngày trước tết cậu
đã không được đi chơi đâu xa vì còn phải ở nhà giúp bố các công việc dọn dẹp,
bài trí tất cả các nơi thờ cúng trong chùa. Từ việc quét dọn toàn bộ khuôn viên
cả chùa đến việc lau chùi các ban bệ, bao sái các pho tượng và các đồ thờ cả từ
trên tam bảo đến phủ mẫu cũng hết mấy ngày. Thế rồi thay chân hương, thay nước,
thay hoa ở khắp mọi nơi, mọi chỗ cũng mất khá là thời gian.Từ chiều ba mươi đến
hết ngày mồng ba tết, tất cả những người đi lễ chùa đều đến nhận sớ rồi tự mang
lên tam bảo dâng lễ rồi lại tự mang sớ ra sân chùa để hoá.
Ngày mồng chín tháng giêng đến rồi mà ông Tân vẫn bị mất tiếng chắc chắn là ông
không có thể hoàn thành khoá lễ đầu năm được, trong lúc không thể tìm đâu ra
người thay thế ông đành cố vận động con mạnh dạn đứng ra làm lễ thay mình.
Trong mấy năm qua cậu có đọc thông viết thạo nhưng chỉ là đối với loại chữ quốc
ngữ thôi chứ còn với loại chữ nho thì cậu chả biết một tý gì. Ông Tân liền đưa
cho cậu một quyển kinh bằng chữ quốc ngữ và bảo cậu đọc thử, cậu đọc rất nhanh
nhưng nó dõng dạc quá và chẳng ra thế nào cả. Ông Tân vẫn bắt cậu tập đi tập lại
đến mấy lần, mỗi lần ông bắt cậu đọc lại nét mặt ông nghiêm đến lạnh lùng làm
cho Hằng cũng hoảng. Cậu nghĩ có lẽ lần này nếu cậu không làm được chắc ông cụ
sẽ cho mấy gậy chứ chẳng chơi, mặc dù từ khi bé đến lúc đó cậu chưa hề bị ông
đánh lần nào. Cũng có lẽ chưa bao giờ bị đánh đòn nên cậu rất giát đòn, mặc dù
cái sự miễn cưỡng đến khổ sở cậu vẫn đành phải có tập, cuối cùng thì cậu cũng
đã đọc tương đối giống ông bố của cậu.
Thế rồi ngày mở khoá lễ
khai xuân cũng đã đến, cả hai bố con ông Tân cùng ngồi trên sàn lễ, ông Tân thì
gõ mõ còn Hằng thì đọc kinh thay cho ông trong một quyển sách in bằng chữ quốc
ngữ. Nhiều người khi nghe cậu đọc kinh thì cứ tấm tắc khen có giọng đọc nghe thật
êm dịu, duy chỉ mỗi việc là cậu không đọc được các bản sớ bằng chữ nho nên các
con hương đệ tử chưa được vừa ý lắm. Lần đầu tiên ngồi trên sàn lễ lại
ngay trước mặt rất nhiều các cụ cao tuổi cậu run lắm, nhiều lúc tưởng như bị hụt
hơi không đọc được nữa. Do cậu cũng chưa quen với việc kéo dài giọng ở những từ
cuối và các đoạn nghỉ lấy hơi không được đúng chỗ thành ra nhiều cụm từ cũng bị
cắt rời ra không còn liền mạch. Cũng may những câu kinh viết theo từ Hán nên
khi đọc lên người nghe chỉ thấy âm thanh đều đều như nhau, còn về ý nghĩa thì cả
người đọc lẫn người nghe cũng chẳng hiểu gì, có lẽ vì thế nên chả có cụ nào có
phản ứng cả. Sau khi đọc tên các lá sớ của từng gia đình xong thì cậu được rút
lui khỏi sàn lễ, thật là một phen hú vía. Những ngày sau đó ông Tân vẫn tiếp tục
bắt cậu lên làm lễ vào các buổi chiều. Mỗi buổi cậu lại phải đọc một bản
kinh vẫn bằng cái giọng kéo dài nghe chẳng rõ tiếng nào vào với tiếng nào. Những
hôm ông Tân mệt mỏi không giám sát là Hằng chỉ thắp hương nhanh nhanh,
chóng chóng cho xong rồi lẩn ra phía cổng để vào trong làng chơi với lũ bạn
cùng tuổi.
Từ sau những ngày tết sức
khoẻ ông Tân ngày càng giảm sút, sự đi lại cũng chỉ loanh quanh trong nhà mà
không ra khỏi cổng chùa. Nhiều việc sinh hoạt cá nhân đã thấy cần phải có người
giúp đỡ mới hoàn thành, thế là cậu lại phải nghỉ học ở nhà giúp bố. Ban đầu tưởng
cũng chỉ mươi ngày là cụ Tân sẽ khỏi không ai ngờ được cũng từ ngày đó cụ cứ
suy yếu dần cho đến khi cụ mất.
Phải nghỉ học để ở nhà
trông bố ốm là việc rất cần phải làm, không những thế còn cần phải tự nguyện một
cách hết mình mới thể hiện là một người con có hiếu, giống như lời răn dạy của
các thầy giáo thường ngày trên lớp. Cho dù là vậy nhưng đó là đối với những người
đã lớn, còn đối với các cô cậu nhóc con thì dù có nói thế nào thì cái sự ham
chơi, ham tụ tập cùng với chúng bạn vẫn luôn lôi kéo và cuốn hút không gì cưỡng
lại được. Ngoài cái sự chơi bời còn cái sự học của cậu cũng đang có nhiều điều
tốt đẹp, trong khi cậu rất vui vì được thầy yêu, bạn mến vì cậu học khá mà lại
hay giúp đỡ bạn bè nên cái việc phải bỏ học làm cho cậu buồn hơn cả việc không
được đi chơi. Thế là lại một lần nữa Hằng lại phải bỏ học khi chưa qua hết học
kỳ một của lớp hai trường phổ thông.
Sau ngày bố mất, nhà còn
không biết bao nhiêu là chuyện sảy ra đang cần phải giải quyết. Nào là chuyện nợ
nần chồng chất của mẹ trong khi vay mượn để thuốc men cho bố trong suốt hai năm
vừa qua. Mãi sau này mẹ kể lại cậu mới biết số nợ lúc đó phải trả trong suốt bẩy
năm mới hết, cậu không ngờ số nợ lại lớn đến như vậy. Sau việc nợ lại đến việc
làng muốn nhà cậu phải rời đi để làng đón sư về trông coi chùa cho làng, chả là
vì việc cúng lễ mẹ cậu không làm bao giờ còn cậu thì bé quá, cậu không thể đảm
đương được. Thật là những việc tày trời cả, những việc không thể đừng được nữa,
những việc dường như quá lớn đối với một gia đình của một người đàn bà goá cùng
với những đứa trẻ hết sức ngây thơ. Có lẽ những con người nhỏ bé kia sẽ không
vượt qua được mất nếu như họ không gặp được những điều may mắn mà số phận đã
giành cho.
Ngày làng đón nhà sư nữ Đàm
Thuỷ về chùa thì mẹ con Hằng vẫn chưa tìm được nơi cư trú. Sau mấy ngày đi vắng
vào mãi tận Quan Đình, Quan Độ để thăm hỏi, tìm kiếm vẫn chưa có kết quả, bà mẹ
Hằng đành quay trở nhà để tìm cách khác. Khi về đến nhà thì bà mới biết
nhà sư mới làng đón đã về chùa rồi. Sau một hồi gặp gỡ, bà cũng nói qua cho nhà
sư biết về hoàn cảnh của mình, rồi bà hứa sẽ cố gắng chuyển đi trong thời gian
ngắn nhất. Có lẽ lúc ấy bà cũng cứ nói phóng vậy thôi chứ kỳ thực bà cũng chưa
biết tính thế nào. Mãi đến chiều hôm đó thì nhà sư mới gọi bà ra để nói về quyết
định của sư về việc đồng ý cho gia đình bà cùng ở lại chùa cho đỡ vắng vẻ. Chỉ
có điều là số ruộng trong khu nội tự được tính vào số ruộng mà đội cải cách
chia cho thì gia đình phải nhượng lại một phần cho sư canh tác để lấy lương thực
và giành một phần cho sắm sửa hương đèn. Đang lúc khó khăn về nơi ở mà lại có
được điều này thì đó là sự đáng mừng không còn gì hơn được. Sau chuyện nhà ở là
đến chuyện nợ nần, chuyện này còn nan giải hơn nữa vì nhà cậu đã ở vào trạng
thái nghèo túng đến mức chẳng có gì có thể bán được lấy dăm chục bạc. Không biết
sẽ giải quyết việc này ra sao nếu như bà Thơ Bẩy có ý đòi các khoản nợ mà mẹ cậu
vay mượn trong suốt thời gian vừa qua.
Nói về bà Thơ Bẩy trước hết
phải kể về mối quan hệ của bố Hằng với ông Thơ Bẩy cách đó mười mấy năm về trước.
Ngày ấy Hà Nội và một phần của tỉnh Bắc Ninh vẫn nằm trong vùng tạm chiếm của
quân Pháp, chính quyền của làng xã vẫn theo cách sắp đặt của chính quyền phong
kiến, nghĩa là việc quản lý làng xã vẫn do lý trưởng cùng với các ông chánh phó
hội cùng với các chức dịch đảm trách. Bên cạnh đó là các bộ phận chuyên môn như
trưởng bạ, thơ ký làm các công việc về giấy tờ văn tự, khế ước vv… Các công việc
giấy tờ này ông Thơ Bẩy vẫn thường nhờ ông Tân phụ giúp mỗi khi cần phải trình
lên bề trên vào các dịp cuối năm hoặc cuối các kỳ phu phen thuế khoá. Ngoài các
công việc về tính toán, ghi chép sổ sách, ông Tân lại khá thông thuộc các thuật
dự đoán về vận mệnh thông qua tứ trụ và bốc quẻ dịch nên khi xong công việc hai
ông thường ngồi bàn nhau về lẽ thuận nghịch của trời đất, số mệnh của xã hội
cũng như của bản thân mỗi người. Trước đó ông Tân đã dự đoán về đứa con sắp
sửa chào đời của ông là trai, đến khi bà vợ của ông đã sinh ra một cậu con trai
vừa trắng trẻo vừa bụ bẫm thì ông càng tin tưởng. Cũng từ đấy mối quan hệ của
hai ông càng thân mật hơn và lẽ đương nhiên là có sự quan hệ gần gũi hơn của
hai bà vợ, sau khi ông Thơ Bẩy mất đi, mối quan hệ có thưa đi một chút nhưng
cũng không phải là hoàn toàn mất hẳn.
Trong những năm giảm tô, cải
cách nhà bà Mỹ, vợ ông Thơ Bẩy bị đội cải cách quy thành địa chủ. cũng từ đó
gia đình bà luôn bị giám sát và bị cách ly ra khỏi cộng đồng, mọi người trong
gia đình bà luôn sống cô đơn trong sự ghẻ lạnh của tất cả mọi người trong họ,
ngoài làng. Kể ra mà nói thì chưa hẳn mọi người đã muốn xa lánh gia đình nhà
bà, mà chủ yếu là sợ đội ghép cho tội thông đồng với địa chủ để rồi chuyển
thành tội phạm phản dân, hại nước nên chẳng dám gần. Biết đâu họ chả lại vu cho
là địch để rồi đem đi bắn thì khốn. Cả làng lúc ấy chỉ còn ông bà Tân là dám đi
lại với bà Mỹ bởi vì ông bà Tân là những người quá bần cùng trong suốt cả một
thời gian dài, cái sự bần cùng đã có lúc làm cho ông bà Tân không còn cảm nhận
ra sống tốt hơn hay là chết tốt hơn nữa, cũng chính vì vậy mà ông bà
không còn biết sợ đội là gì nữa, nhất là sau khi đội không cho ông Tân vào Nông
hội, khi ông không nghe theo lời đội tố ông Tổng Tường là một địa chủ ở ngay gần
nhà ông.
Chính từ mối giao cảm ấy mà
sau này bà Mỹ đã đối tốt trở lại với bà Sâm và giúp bà một cách vô tư đến thế.
Ngoài bà Mỹ ra bà Sâm còn nhờ cậy được rất nhiều người khác trong làng nữa nên
số nợ bà vay khi ông Tân ốm đã được hoãn, trả, vay rồi lại hoãn, trả, vay cho đến
khi trả hết kéo dài đến gần bẩy năm liền mà chẳng ai có điều tiếng gì.
9
Mặc dù nhà chùa đã có lời
như vậy nhưng hai mẹ con cậu vẫn muốn tìm cách để sớm có điều kiện mua được
ngôi nhà cho mình, trả lại gian buồng bấy lâu nhà chùa vẫn cho ở nhờ. Trong một
lần toàn xã có chủ trương cấp đất ở cho một số hộ đông con, Hằng đã cùng với mẹ
lên gặp ban lãnh đạo của thôn để xin đất làm nhà. Kỳ họp năm ấy ban lãnh đạo của
xã kết hợp với thôn đã chia đất cho rất nhiều người, mẹ con bà Sâm cũng được
chia mười thước đất để làm nhà ở. Có đất cũng đã là rất đáng mừng, nhưng mà còn
lấy cái gì để mà dựng thành nhà mới là khó.
Trong những năm đầu ra ở
chùa ông Tân đã cùng các con trồng một lứa xoan có dễ đến hai chục cây nhằm để
sau này đốn xuống đem ngâm để làm nhà. Đến khi có đất bà Sâm định cho đốn xuống
đem ngâm thì ban lãnh đạo của làng ra giữ lại. Sau khi nghe mẹ con bà Sâm trình
bày về dự định trồng xoan và cố chứng minh về việc trồng xoan là do gia đình của
bà thực hiện cùng những chứng thực của nhiều người nhưng những người lãnh đạo vẫn
kiên quyết không chấp thuận. Họ ngang nhiên thừa nhận rằng họ có biết số xoan
này là của ông bà trồng nhưng là trồng trên đất của làng nên bà không được lấy.
Trước những phán quyết hết sức cứng rắn của các ngài chức sắc thời mới của
làng, mẹ con bà Sâm đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế là kế hoạch làm nhà của gia
đình Hằng đã hoàn toàn phá sản. Cái sự vui mừng bao nhiêu khi được cấp đất đã
được thay bằng nỗi tuyệt vọng bấy nhiêu khi triển khai kế hoạch làm nhà.
Tuy rằng không làm được nhà
nhưng việc phải rời chùa luôn canh cánh trong lòng Hằng. Nhiều lần Hằng cằn nhằn
với mẹ khi thấy bà cụ hình như không đả động gì đến việc rời chùa. Ngày ấy có một
đôi vợ chồng người con cả của ông lý Xương tên là Long vừa mới xây lại nhà
nhưng chưa ở được bao lâu thì anh Long lăn ra chết. Người vợ bồng bế hai con về
quê mẹ đẻ bỏ lại cho người em chồng ngôi nhà vừa mới xây xong còn chưa sạch mùi
vôi. Người em ấy không ai khác lại chính là anh Phượng, người mà một thời bà
Sâm đã từng làm vú nuôi trông nom anh khi bà đến làm vú cho nhà ông lý Xương.
Tuy làm vú nuôi nhưng bà Sâm coi anh Phượng như con của mình nên ngay cả khi
anh Phượng đã lớn tuổi rồi anh vẫn luôn quý mến bà cụ như người ruột thịt, đến
khi bà Sâm ngỏ ý đến ở nhờ là anh đồng ý ngay. Ngày hôm sau anh Phượng dọn sang
nhà của người anh để ở, gian nhà cũ của anh cũng kề bên cạnh anh nhường lại để
bà Sâm dọn vào. Cũng từ ngày ấy gia đình Hằng không còn ở chùa nữa, tuy nhiên
gia đình Hằng vẫn là người chưa có nhà, một gia đình có hoàn cảnh đặc biệt ở
nông thôn lúc bấy giờ...
ĐI
HỌC
1
Sau ngày ông Tân mất một thời
gian thì cũng đã gần hết năm học đối với các trường phổ thông, thế là Hằng đành
phải bỏ dở hơn nửa năm học, chả biết rồi khi sang năm mới cậu sẽ đi học như thế
nào. Ngày ấy anh cả vừa mới từ bộ đội chuyển ngành về Công ty xây dựng của Bộ nội
thương, đơn vị của anh đóng ở khu Sở Dầu thành phố Hải Phòng khu này rất gần
khu ga Thượng Lý. Công việc hàng ngày của anh là cùng với các công nhân khác
vào sở dầu để xây lắp các bồn dầu bằng thép.
Suốt trong mấy ngày về nhà
lo việc tang lễ xong anh cả lại về đơn vị công tác. Gần hai tuần sau đó anh mới
lại lên bàn với mẹ kế về việc đưa cậu em xuống ở với anh một thời gian. Việc
cho cậu xuống với anh có nhẽ là để cho cậu đỡ buồn và cũng để hai anh em có dịp
gần gũi nhauS, để rồi cùng bàn kế hoạch ổn định đời sống gia đình trong thời
gian tới. Thế rồi Hằng đi cùng với anh cả xuống Hải Phòng gần ba tháng trời
rong chơi khắp nơi trên thành phố cảng. Khi Hằng rời Hải Phòng về đến nhà cũng
vừa dịp bước vào năm học mới nhưng cậu không thể đi học cùng các bạn cùng lớp
cũ vì cậu đã bỏ học thời gian quá dài, chắc gì cậu đã theo được, nhưng điều
quan trọng hơn cả là không ai có quyền cho cậu học tắt. Thấy cậu con trai hình
như có ý không chịu đi học nữa bà Sâm đành vào gặp thầy giáo Chuyên để nhờ thầy
động viên cậu đi học tiếp. Thầy Chuyên vốn có mối quan hệ tốt với gia đình cậu
từ trước nên ông đã ra tận nhà động viên cậu tiếp tục đi học. Ông hứa sẽ nói với
nhà trường về hoàn cảnh cùng với học lực của cậu để nhà trường xem xét chấp
nhận cho cậu cùng lên học ở lớp ba như các bạn khác. Ông nói lớp ba của cậu sẽ
học là do ông Bàng trực tiếp dạy, ông Bàng lại là ông chú của thầy nên thầy sẽ
nói để ông nhận cậu vào. Sáng hôm sau cậu cũng chuẩn bị sách vở đến lớp như các
bạn khác nhưng trong bụng thì luôn lo lắng không biết đến lúc vào lớp thì sự việc
sẽ diễn ra làm sao.
Lớp ba mà Hằng sẽ theo học
được bố trí tại góc bên trái của đình làng Tiền Thôn như lời của thầy Chuyên
nói nhưng không phải do thầy Bàng dạy mà lại do một thầy giáo mới chuyển từ nơi
khác về từ mấy ngày trước đó. Tất cả các bạn đã tập trung đến lớp sớm hơn mọi
khi, trong đó có cả Hằng. Mọi người lại tổ chức các trò chơi như mọi ngày kể cả
khi ở làng cũng như khi đến lớp của năm học trước, chỉ có mình Hằng thì rất lo,
nhất là khi thấy thầy giáo dạy lớp này không phải là thầy Bàng. Cậu cứ nghĩ
không biết thầy Chuyên có biết điều này không, ngộ nhỡ thầy giáo mới hỏi đến
thì mình sẽ nói ra sao nhỉ. Càng nghĩ cậu càng lo lắng, lo lắng đến nỗi bồn chồn
đứng ngồi không yên, lo lắng đến ngao ngán cả người. Có lẽ linh tính của cậu đã
đúng về sự việc mà cậu vừa nghĩ tới và rồi sự việc ấy đã sảy ra. Sau khi thầy
giáo vẫy tay gọi các học sinh về để tập trung, thầy đọc lần lượt danh sách học
sinh của lớp, thầy đọc qua gần hết số học sinh có tên với các chữ cái ở vần Đ rồi
sang các vần khác, Hằng nghĩ có lẽ sắp tới sẽ có tên mình. Thế rồi thầy chuyển
qua hết vần có tên của Hằng mà cũng không thấy, Hằng lại nghĩ có lẽ việc mình
nghĩ đến vừa rồi chả lẽ lại đúng như thế chăng, hay là tên mình sẽ ở cuối cùng
vì đây là trường hợp đặc biệt được bổ sung vào sau. Hằng đang nghĩ ngợi lan man
thì thầy Hiệu đã đọc đến tên học sinh cuối cùng của lớp. Khi thầy rời mắt khỏi
quyển sổ điểm ngước lên thì thầy nhận ra vẫn còn một học sinh nữa chưa vào chỗ
ngồi, thầy hơi bối rối, có lẽ thầy cho là mình đọc sót tên một ai đó, thầy
xin lỗi sau đó thầy hỏi:
- Em tên là gì?
Hằng lý nhí trong miệng nói
tên của mình raH, thầy lại cúi mặt vào sổ điểm để tìm tên của cậu, thầy tìm đi,
tìm lại nhưng vẫn không thấy, trông rõ là thầy rất băn khoăn chưa biết là sẽ sử
lý trường hợp này ra sao. Kể từ khi Hằng biết mình không có tên trong sổ điểm Hằng
đã nghĩ đến việc thầy Chuyên có khi đã quên không nói việc này với thầy Bàng,
hoặc giả thầy Bàng chuyển giao lớp cho thầy Hiệu lại quên không nói về trường hợp
của mình nên đến bây giờ sự thể đã sảy ra như vậy, tuy nhiên lúc ấy Hằng đâu có
nghĩ được mạch lạc như thế. Phần thì lo lắng, phần thì xấu hổ với bạn bè, mặt
thì đỏ gay, đỏ gắt, tay chân thì luống cuống không biết để vào đâu, cậu gần như
phát khóc lên được khi chỉ còn có một mình đứng ở ngoài hàng. Có lẽ phải đến
ba, bốn phút sau cậu mới trấn tĩnh lại được, lúc này cậu lo nhất là thầy sẽ cho
là mình là người gian trá, còn việc có học hay không đã không còn là chuyện
quan trọng nữa vì dù sao cậu đã quyết định nghỉ học rồi, chẳng qua việc cậu lên
nhập học hôm nay là do thầy Chuyên bàn ra và bảo cậu làm chứ cậu có tự nhiên để
lên đây rồi lại chịu xấu hổ như thế này đâu. Sau khi tự tìm cho mình một lý do
mà cậu cho là chính đáng thì cậu mạnh dạn hẳn lên và cậu quyết định nói hết tất
cả cho thầy Hiệu về sự việc mà thầy thấy lạ như vừa rồi. Sau khi nghe Hằng nói
một thôi những câu đứt quãng thì thầy Hiệu cũng vỡ lẽ được phần nào, thế rồi thầy
Hiệu nhanh chóng quyết định nhận Hằng vào Lớp. Thầy chuyển một bạn ở bàn đầu xuống
cuối lớp để xếp cho Hằng ngồi ngay vào chỗ đó. Vừa xếp vị trí cho Hằng thầy vừa
nói với Hằng và dường như thầy cũng nói với cả lớp:
- Trước hết em cứ học buổi
hôm nay, ngày mai tôi sẽ trao đổi lại với các thầy rồi sẽ sắp đặt lại sau.
Sau khi phát biểu với học
sinh về việc thầy vừa chuyển về dạy ở trường và nói thêm về lý do tại sao thầy
Bàng sẽ không dạy ở lớp này như sự mong muốn của các phụ huynh đề nghị hồi cuối
năm ngoái vì thầy Bàng còn phải đi chữa bệnh mất một thời gian. Tiếp theo sau
các phát biểu của thầy là một chương trình ôn tập kiến thức năm cũ, thầy nhắc lại
một số nội dung đã học năm ngoái sau đó thầy kiểm tra. Người được thầy gọi lên
bảng đầu tiên là Hằng, thầy ra một đề toán đố sau đó bảo Hằng giải, thầy còn
yêu cầu viết cả phép tính lẫn lời giải. Lúc nãy mất bình tĩnh bao nhiêu thì giờ
đây cậu lại bình tĩnh bấy nhiêu, các phép tính và lời giải được Hằng viết ra một
cách nắn nót trông đến đẹp làm thầy Hiệu rất hài lòng, thầy cất giọng hỏi:
- Tất cả các em đều có đáp
số như thế chứ?
Cả lớp đồng thanh cất tiếng
(có) âm vang khắp cả một góc đình. Thầy tiếp tục kiểm tra một số bạn khác, cũng
có bạn không làm được nhưng rồi lại có bạn xung phong lên làm thay cuối cùng đều
giải xong các bài tập thầy ra. Buổi học qua đi nhanh chóng và chẳng để lại điều
gì vướng bận, chỉ có mỗi mình Hằng lại phải lo nghĩ trên suốt chặng đường về.
Ngay chiều hôm ấy Hằng nói với mẹ về ý định nghỉ học của mình với sự quyết đoán
đến không ngờ. Nhìn sắc mặt con bà mẹ không khỏi lo lắng, không biết có việc gì
đã làm cho nó bất mãn đến vậy. Có lẽ câu chuyện buổi sớm nay đã làm cậu tổn
thương quá lớn về lòng tự trọng của mình nên sau khi nói xong với mẹ là cậu bỏ
đi chơi ngay mà không có vẻ muốn giải thích gì thêm. Biết tính con bà từ khi
còn nhỏ nên bà không khỏi băn khoăn, bà đoán mãi mà vẫn không biết lý do ra làm
sao, bà nghĩ có lẽ phải hỏi lũ bạn nó thì mới tìm ra được nguyên nhân của việc
này. Thế rồi bà cũng tìm ra nguyên nhân của sự việc, bà liền vào gặp thầy
Chuyên để hỏi xem có cách gì giải quyết được không. Cũng may là hồi này thầy
Chuyên dạy vào buổi chiều nên bà vào gặp được ngay. Sau khi nghe bà nói lại sự
việc thầy Chuyên mới giật mình nhớ ra, thầy dặn buổi chiều thầy sẽ rẽ qua chỗ hội
đồng nhà trường để nói lại với thầy hiệu trưởng, ông còn dặn bà về bảo ngày mai
nó cứ đến lớp kẻo các thầy phiền lòng. Ông còn bảo với bà rằng ông đã nói với
thầy hiệu trưởng và thầy đã đồng ý rồi chắc vì thay giáo viên nên mới xảy ra việc
vừa rồi bà bảo nó cứ yên tâm mà đi học. Chiều tối về nhà cậu nghe mẹ nói vậy
cũng vẫn bán tín bán nghi, tuy nhiên cậu vẫn làm hết các bài tập để ngày mai đến
lớp.
Vừa bắt đầu vào lớp thầy Hiệu
liền điểm danh, khi đọc đến tên của Hằng ở dòng cuối của sổ điểm thầy thông báo
với cả lớp về sự việc của Hằng hôm qua, thầy nói:
- Trong lớp ta có thêm bạn
Hằng nữa là có tất cả sáu mươi học sinh. Bạn Hằng không có học bạ nên danh sách
các thầy chưa kịp đưa vào, lớp có hơi đông các em cố gắng tập trung nghe giảng
hôm sau nhà trường sẽ sắp xếp lại.
Ngay sau thông báo cho cả lớp
thầy Hiệu quay sang nói với Hằng:
-Tối qua thầy Trường hiệu
trưởng đã trao đổi với thầy về việc này, Hằng cứ đi học bình thường cùng các bạn,
trường hợp không theo được thì sẽ chuyển lớp sau.
Buổi học thứ hai bắt đầu bằng
việc kiểm tra vở bài tập ở nhà của một số các bạn, người phải mang vở lên đầu
tiên vẫn là Hằng. Thầy xem vở của Hằng khá kỹ, sau đó mới xem đến vở của các bạn
khác, xem xong thầy bảo với cả lớp:
- Số bài tập thầy cho các
em về nhà làm không khó mà lại nằm ở ngay trong sách giáo khoa vậy mà các em
làm sai cả. Trong bốn em chỉ có Hằng làm hết và làm đúng cả số bài ra, còn lại
hầu như các em làm thiếu và lại sai hết cả.
Sau khi thầy ghi chép vào
các quyển vở của các bạn xong thầy ngửng đầu lên và cất tiềng gọi:
- Em Hằng lên bảng, em giải
bài số hai cho cả lớp tham khảo, các em nhớ ghi lại bài này, số bài còn lại hôm
sau thầy sẽ chữa.
Hằng lại lên bảng để chữa
bài tập như hôm trước, cậu viết nắn nót hơn và trình bầy rất gọn gàng cả vế làm
tính lẫn vế lời giải. sau khi viết xong bài giải lên bảng thầy vẫy Hằng lại đưa
cho số vở thầy vừa thu để kiểm tra lúc đầu giờ, thầy bảo:
- Em trả lại sách cho các bạn
chép bài.
Về đến chỗ ngồi Hằng mới giở
vở ra xem, một hàng chữ viết bên lề vở cứ đỏ rực lên – (Làm bài tốt, cần cố gắng
hơn) Trên mỗi đáp số thầy viết một chữ (Đ) trông như những trái đào đỏ bao trùm
lên trên những con số viết bằng mực tím. Cũng ở bên lề trái của cuốn vở, chỗ
bài tập số hai thầy viết con số mười rõ to, dưới con số là một cái gạch dài kéo
gần hết một phần tư chiều rộng cuốn vở.
Hằng vui lắm với con số mười
đầu tiên của năm học và cũng là con số mười đầu tiên của cả lớp. Từ đấy trở đi
hình như Hằng đã quên đi cái sự đã làm cậu buồn bã suốt hai ngày qua, cậu lại
vui chơi ồn ào cùng các bạn như những ngày nào. Từ sau ngày phải nghỉ học ở nhà
trông nom bố trong hơn sáu tháng qua hình như đây là lần đầu tiên cậu bỏ được
khuôn mặt rầu rĩ để trở lại khuôn mặt rạng rỡ thông minh vốn có.
2
Những năm học lớp ba cũng
qua đi nhanh chóng, trong lòng của Hằng không để lại một chút ấn tượng nào về sự
việc diễn ra hồi đầu năm học. Kết quả của chín tháng học với bẩy lần lên bảng
danh dự đã làm cho các thầy có liên quan đến câu chuyện đặc biệt của Hằng thở
phào nhẹ nhõm. Trong kỳ phát phần thưởng cuối năm học Hằng thật vui khi lên nhận
những quyển vở bìa đỏ mới tinh thơm mùi giấy mà thầy hiệu trưởng trao cho. Cũng
trong năm học ấy Hằng được các anh phụ trách thiếu niên kết nạp vào Đội TNTP của
trường. Ngoài việc sinh hoạt ở Đội TNTP của trường Hằng còn sinh hoạt ở Đội
TNTP ở làng và cũng được các anh phụ trách rất yêu mến và giao cho rất nhiều công
tác. Hàng ngày sau các buổi học về Hằng lại đi chăn bò cùng các bạn, buổi tối
thì tham gia sinh hoạt văn nghệ của Đội thiếu niên ở trong thôn. Anh Thỏ phụ
trách thiếu niên là người rất yêu văn nghệ, anh có chân trong đội tuồng cổ của
làng, anh thường đóng các vai kép nhỏ trong các vở. Hình như máu nghệ sĩ trong
anh đã cuốn hút rất mạnh bọn trẻ trong Đội thiếu niên, nhất là những cậu bé
cũng ham thích ca hát như Hằng. Suốt cả mùa hè năm ấy Hằng ít khi ở nhà bởi những
cuộc vui trang lứa và các cuộc văn nghệ liên miên không khi nào dứt. Hầu như
các đêm khuya sau khi sinh hoạt xong Hằng ngủ ở nhà bạn mà không về nhà. Sau mấy
lần thấy Hằng đi vắng mẹ cũng đi tìm, đến khi thấy Hằng ngủ ở nhà bạn mà không
có chuyện gì sảy ra thì bà cũng yên tâm mặc cho Hằng muốn ở đâu thì ở. Có lẽ phải
đến hơn một năm Hằng chuyên ngủ ở nhà Bộ, về sau Hằng còn ngủ ở nhà Quỳnh và
nhà Đĩnh, đấy là nói chuyện của những năm sau này. Bạn bè của Hằng không chỉ có
những đứa cùng học một lớp mà còn cả những đứa ở làng lớn hơn một chút như Quỳnh
và cả những đứa cùng tuổi nhưng không cùng học một trường như Bộ, ngoài ra còn
cả bọn ít tuổi hơn vài tuổi cũng bị cuốn hút vào cái guồng máy mê chơi và nghịch
ngợm. Nói là mê chơi và nghịch ngợm vậy thôi chứ thực ra tất cả các đứa trẻ đều
rất dễ thương và đáng mến bởi những trò chơi của chúng chẳng làm hại cho ai. Mỗi
ngày chúng vẫn hoàn thành công việc của mình như chăn bò, cắt cỏ, rồi cả các việc
như bắt cua, bắt cá, lấy rau lợn và còn biết bao nhiêu việc khác nữa trong các
việc vặt của gia đình.
Ngày ấy các sinh hoạt văn
hoá hết sức hiếm hoi, ngoại trừ những ngày làng vào đám thì mới có một vài tối
biểu diễn văn nghệ. Những làng có đội văn nghệ thì tự đứng ra biểu diễn lấy,
còn những làng không có đội văn nghệ thì đi thuê ở các làng bên cạnh. Mỗi tháng
cả xã mới được đội chiếu bóng lưu động về xã chiếu cho hai buổi, hoặc giả các
làng lân cận không biết bằng cách nào đó thuê được các đội cải lương Chuông
vàng Thủ đô, đội cải lương Kim Phụng về diễn một vài tối thì vui không thể nào
kể xiết. Những buổi như thế người đi xem thường rất đông, nên cả trẻ con lẫn
người lớn đều cố gắng nấu cơm ăn sớm để đi đến mua vé vào xem. Nhiều khi mua vé
vào sân từ lúc chưa lặn mặt trời, rồi chờ đợi hơn ba tiếng đồng hồ buổi diễn mới
bắt đầu thế mà rồi cũng chả thấy ai ca thán điều gì. Riêng lũ trẻ con thì không
thể chủ động về việc cơm nước được vì bố mẹ chúng có cần gì mà phải nấu cơm vào
lúc nửa chừng nửa vời như vậy, vì thế mà chúng thường nhịn đói để đi xem. Lúc
chờ đợi và lúc xem thì chúng không thấy đói, chỉ đến lúc về thì chúng mới lả
người ra, nhưng lúc ấy chúng cũng đành phải chịu vậy không biết kêu ai, mà kêu
ai cho được, mình làm mình chịu thế thôi. Đấy là nói những đứa có tiền, lại còn
những đứa không có tiền thì chỉ còn cách trốn chui rào để mà vào. Đa số các đội
chiếu bóng cũng như các đội biểu diễn văn nghệ hay thuê các vị trong ban công
an của địa phương hoặc các tổ dân quân du kích canh gác và họ làm rất chặt nên
nhiều khi các cậu nhí không thể có cách nào chui trốn được. Lẽ dĩ nhiên đành phải
đứng ngoài chờ tháo khoán mới được vào xem vớt vát được vài cảnh, vài màn cuối.
Không biết có phải do cách giáo dục ngày ấy nghiêm cẩn hơn thời bây giờ hay sao
mà đa số các đứa trẻ không tiền thì cũng tự chịu vậy thôi chứ chả có đứa nào
dám ăn cắp đồ của cha mẹ đi bán lấy tiền đi xem bao giờ.
Ngày ấy lũ trẻ cũng có rất
nhiều các trò chơi và chúng thường tổ chức chơi một cách nhanh chóng. Những trò
chơi đơn thuần mang tính ăn thua như đánh bi, đánh đáo, thổi diêm, thổi nịt, thậm
chí cả các trò đánh rải ranh, đánh cóc, chơi ô ăn quan, là những trò rất dễ tổ
chức. Ngoài ra còn các trò chơi như đánh bi chọi, đánh khăng; những trò chơi mà
những kẻ thắng có quyền bắt kẻ thua phải cõng, phải kiệu, phải hầu hạ kẻ thắng
một việc gì đó ví thử như dắt trâu, gánh cỏ vv…Cũng có trò chơi cho phép kẻ thắng
bôi lên mặt kẻ thua một vệt nhọ nồi đen kít trông đến ngộ. Trò này rất thịnh với
các ván bài Tam cúc hoặc Tu lơ khơ giữa ba bốn đứa quây tròn cùng đánh trong những
chiều đông rét mướt.
3
Năm nay các học trò lớp bốn
phải lên học nhờ ở một cái đình của làng Thạc Quả. Mấy đứa ở Tiền Thôn, mấy đứa
ở Hậu Thôn đi học gần hơn nên chúng thường đến rất sớm. Hôm nào cũng vậy, khi Hằng
và bọn học trò của làng Đồng Dầu vừa đến là lớp vào học ngay nên không đứa nào
kịp giở sách ra xào qua bài cũ nên khi thầy kiểm tra hầu như các cậu không trả
lời được. Nhất là những hôm trong xã có văn nghệ hoặc có chiếu phim thì càng tệ
hơn vì bọn trẻ càng không kịp học bài cũ, không kịp làm bài tập và lẽ dĩ nhiên
là thường bị thầy phạt bắt ra khỏi lớp đứng ở ngoài đó mà nghe giảng cho đến hết
tiết học mới được vào. Trong số học sinh ở Tiền Thôn luôn bị mắng, bị phạt là cậu
Lực, cậu Thu. Thật ra là các cậu này bận việc nhà quá nhiều nên không có thời
gian mà học nữa. Tuy nhiên khi đã là học sinh thì cho dù thế nào thì việc học
cũng không được trễ nải, cho dù thế nào thì thầy cũng không chấp nhận cho những
học sinh như vậy. Tuy học hơi kém nhưng mà Lực lại rất khéo tay, Lực làm những
bộ râu giả bằng sợi hệt như các bộ râu của phường tuồng, ngoài ra Lực còn làm
những cái gậy nhọn đầu buộc những sợi tơ xanh đỏ cũng giống như các đạo cụ của
phường tuồng trông đến là đẹp. Mỗi hôm đến lớp sớm là Lực đeo râu, mang gầy ra
rồi nhảy từ bàn này sang bàn khác múa hát như một kép hát. Lực đóng đủ các vai
mà Lực biết, khi thì là vai Trương Phi, có khi lại là vai vua, mà cũng không biết
vua của triều đại nào vì vua Đường thì cũng như vua Tống, cũng chỉ có bấy nhiêu
câu hát như vậy mà thôi.
Thế rồi chín tháng học của
lớp bốn cũng đã qua đi một cách nhanh chóng. Đây là năm học cuối cùng của
chương trình học cấp một. Rất nhiều học phần khá cao đã được đưa vào chương
trình để làm cơ sở kiến thức cho bậc học cấp hai sắp tới. Những cô bé, cậu bé
không dễ gì có thể tiếp nhận được nếu không chịu khó học bài và làm các bài tập
một cách đầy đủ. Sang năm nay Hằng học tốt hơn so với năm ngoái. Thầy Vũ Kim
Đàm luôn để ý khá đặc biệt đến cậu trong suốt cả năm học về mọi mặt làm cho cậu
lúc nào cũng như bị căng ra. Không biết có phải vì câu chuyện vào lớp theo kiểu
nhảy cóc của cậu hồi năm trước hay không mà hầu như hiếm có buổi học nào thầy bỏ
quên kiểm tra đến cậu. Có lẽ chính vì thế mà kết quả học của cậu khá tốt so với
nhiều bạn cùng lớp. Ngoài những phần thưởng cậu được nhà trường khen cậu còn được
thầy đã ghi vào học bạ những điều thật tốt đẹp. Thầy còn mạnh dạn ghi vào đó nhận
định của thầy về triển vọng văn học của cậu. Những điều thầy ghi vào học bạ nói
trên cũng mãi sau này cậu mới biết do cậu được nhận lại được quyển học bạ do cô
giáo chủ nhiệm lớp 5c của cậu đưa cho.
Khi ngồi viết những dòng
này trên trang sách cậu không khỏi trạnh lòng khi nghĩ về những dòng nhận xét của
thầy giáo Đàm. Những dòng nhận xét vừa có ý khen ngợi nâng đỡ, vừa mang tính
khuyến khích dường như thầy bảo hãy cố gắng hơn lên. Thế mà cậu đã không làm được
gì, thật không xứng đáng với niềm mong mỏi của một người thầy. Kể ra thì quyển
học bạ cũng đã bị cháy mất cùng với hàng đống sách vở tài liệu mà cậu đã gửi
anh Hiệp trưởng kho vật tư của nhà máy điện Thanh Hoá trước khi cậu đi bộ đội.
Không biết thế nào mà khi cả đống sách vở của cậu cùng với hàng đống các sổ
sách cùng với phiếu xuất kho bùng cháy không sao cứu được thì quyển học bạ lại
vẫn còn. Sau khi cậu rời bộ đội phục viên về đơn vị nghe tin kho bị cháy, trong
đó có cả số sách vở tài liệu của cậu thì cậu cũng chẳng còn muốn đến hỏi anh Hiệp
làm gì nữa. Thế mà đến gần hai năm trời sau anh Hiệp lại đưa cho cậu quyển học
bạ rách bìa này, thành ra mỗi khi cầm đến nó cậu lại tự dằn vặt về những lời thầy
đã ghi trong đó.
4
Từ sau ngày hoà bình lập lại
Đảng và Chính phủ cũng đã tập trung nhiều cho công tác giáo dục, tuy nhiên mọi
sự cố gắng cũng chỉ giúp cho xã Dục Tú có cơ ngơi cho một cấp học mà thôi. Cả
huyện Đông Anh lúc đó mới có ba bốn ngôi trường cấp hai, nên việc đi học cấp
hai buộc các học sinh phải rời trường của xã để đi học nhờ xã khác. Cũng có một
số học sinh sang trường cấp hai Tiền Phong ở thị trấn Yên Viên thuộc huyện Gia
Lâm học nhờ. Mãi đến năm 1962 huyện Đông Anh mới mở thêm một số trường cấp hai
trong đó có một trường cấp hai được mở ở xã Quyết Tâm (bây giờ gọi là xã Cổ
Loa) thì số học sinh lên cấp hai của xã Dục Tú mới chuyển về học ở Cổ Loa. Lúc ấy
trường thường mang tên của các xã, nên trường có tên là trường cấp hai Quyết
Tâm. Tên trường thì có đấy nhưng phòng học của trường thì lại chẳng có cái nào.
Khi ấy các lớp học được gửi ở các ngôi chùa, ngôi đền, thậm chí còn gửi nhờ ở
các nhà dân. Lớp 5c của Hằng được gửi ở đình làng Cổ Loa; nơi ấy tập trung rất
nhiều các di tích lịch sử xây dựng từ xưa. Đầu tiên phải kể đến là cây đa cổ thụ
có trên một ngàn tuổi. Cây đa này có thân mình đồ sộ đến mức người ta đã xây
bên trong thân nó một khuôn cửa tò vò có bề ngang đến một mét rưỡi, chiều cao đến
hơn một đầu một với, nghĩa là chiều cao đến hơn hai mét. Xung quanh khu vực gốc
đa quy vuông đến gần ba trăm mét vuông có đến mười mấy cái rễ từ các cành đa rủ
xuống cắm sâu vào lòng đất, cái lớn nhất cũng phải vừa hết một vòng ôm của người
lớn, cái nhỏ cũng có đường kính trên hai mươi nhăm phân tây. Còn các cành của
nó thì che kín gần hết phân nửa sân đình. Một di tích khá đặc biệt là am thờ
Công chúa Mỵ Châu. Am thờ bé đến nỗi chỉ vừa đủ diện tích để đặt pho tượng đá cụt
đầu, nên mỗi khi vào trong am đi quanh pho tượng cảm thấy rất chật chội. Pho tượng
đá này tương truyền là hiện thân của Công chúa Mỵ Châu được các bậc tiền nhân
khiêng từ nơi khác đem về, sau nhiều lần những người già cả trong làng được
Công chúa báo mộng. Pho tượng đá khá to lớn, có lẽ cũng gấp ba bốn người thường.
Tượng đã bị quân Pháp phá vỡ tạo ra các vết nứt và cũng đã được trám vá bằng chất
liệu xi măng. Vào những mùa hè tượng bị hấp hơi nước ướt rườn rượt, khi sờ vào
mát lạnh cả tay. Không xa bao nhiêu về phía Bắc là cả một quần thể của cả
khu vực đền thờ An Dương Vương cùng với dấu vết của tường thành ốc xưa còn lại.
Lũ trẻ hàng ngày đến Cổ Loa đi học chưa có nhiều kiến thức lịch sử về nơi mình
vẫn đang sinh sống, nhất là lại thường quá quen thuộc với những hình ảnh, đồ vật,
quang cảnh mà họ bắt gặp thường ngày nên đôi khi còn rất coi thường. Nhưng dù
sao thì mỗi ngày qua họ được các thầy, các cô giảng giải nên không biết từ lúc
nào trong lòng mỗi người cũng có sự ngấm nghía để rồi mai ngày lớn lên trong họ
có cái hình, cái bóng của quê hương cùng với những gì tốt đẹp được nhân lên
trong mỗi bước đường mà họ sẽ đi trong cuộc đời đầy sóng gió và cũng đầy vinh
quang rực rỡ trong những năm lao động và chiến đấu sau này.
Trường cấp hai Quyết Tâm về
cơ cấu sẽ có ba khối học, mỗi khối có ba lớp, tuy nhiên trong năm đầu tiên này
thì mới chỉ có một khối đó là khối các lớp 5. Hằng và cả số học sinh của làng Đồng
Dầu được đưa vào lớp 5c do cô Lê Thị Yến vừa làm chủ nhiệm vừa làm giáo viên giảng
môn toán học. Môn văn thì do thầy Trần Ngọc Kim giảng dạy. Hai môn sử địa đều
là của thầy Vũ Tú Nguyên, còn môn sinh vật là của cô Kim Bảo.
Những ngày đầu tiên bước
vào cấp hai thật là vui, riêng Hằng còn vui hơn khi cậu được bầu vào ban cán sự
lớp. Cho dù chẳng hiểu là mình sẽ phải làm gì trong cái chức trách cán sự nhưng
Hằng cũng thấy rất khoái chí. Hằng đâu có ngờ rằng sau này cậu lại bị liên luỵ
quá nhiều bởi cái chức trách hữu danh vô thực này. Hàng ngày cứ đến mỗi giờ học
các thầy, các cô đều nhằm đích vào Hằng. Nào là cả lớp có làm bài tập hay
không, cả lớp đã đóng học phí chưa. Khổ sở hơn nữa là cậu cứ phải đầy đủ bài vở
vì cứ mỗi khi các thày, các cô kiểm tra các bạn mà có độ ba, bốn người không
thuộc là các thầy, các cô sẽ gọi đến Hằng. Đành rằng đi học là phải học bài,
làm bài đầy đủ, nhưng đôi khi các học trò cũng tự cho mình được quên học bài,
quên làm bài tập để vào bãi chiếu phim một đôi lần trong một tháng, bởi
vì có phải dễ gì có được một buổi chiếu phim ở nơi thôn quê đồng ruộng. Tất
nhiên là không thể bỏ học, bỏ làm bài tập để xem phim mà chỉ là ngầm khất
chương trình hôm đó đến hôm sau mà thôi. Nhưng Hằng thì đâu có được làm như thế
bởi cái chức trách lớ ngớ vừa nói ở trên.
Được cái Hằng học khá thông
minh nên kết quả năm học cậu đạt khá cao. Hầu như tất cả các bài kiểm tra của
các môn Hằng đều được điểm 5. Hằng đã đạt học sinh xuất sắc toàn diện ở mức A1.
Các bạn, các thầy chia vui với Hằng. Cái tiếng học giỏi của Hằng bay về tận
làng Đồng Dầu, bay về tận trường Dục Tú làm vui lòng biết bao những người thân
yêu của Hằng, làm thoả lòng biết bao các thầy cô đã dạy dỗ Hằng. Có một người
thầy luôn luôn nhìn Hằng bằng một bên mắt nheo lại như bảo cậu rằng chớ có tự vừa
lòng để rồi phí công tôi đặt niềm tin ở cậu. Đó là thầy Chuyên, người thầy đã
hơn một lần hết lòng vì cái cậu bé nhóc con lầm lỳ ít nói và hay ngồi lặng lẽ
nhìn xa tận phía chân trời.
5
Cứ như thế Hằng học hết ba
năm học cấp hai ở trường Quyết Tâm trong ba năm liên tiếp. Ngày rời trường đã đến
mà mọi người vẫn tưởng chỉ là chia tay về hè như mọi năm thôi. Chả biết mọi người
nghĩ sao còn Hằng thì băn khoăn bối rối không biết tính thế nào. Việc có đi học
tiếp được hay không quả thật là rất khó, bởi trường cấp 3 lại ở mãi trên huyện,
một địa điểm quá xa để có thể đi bộ đến trường vào các buổi sáng, phần thì nhà
Hằng lại quá nghèo, đâu có thể mua nổi một cái xe đạp để mà đi học như mấy đứa
con nhà khá giả. Mỗi ngày nhà Hằng cũng chỉ có gạo ăn ở mức hơi thiếu một tý
cho cả nhà, nếu Hằng mang đi một ít để học trọ thì nhà sẽ bị đói. Như vậy thì
việc học của Hằng sẽ chẳng còn có thể tiếp tục được nữa. Thêm nữa mẹ Hằng đã
già yếu lắm rồi việc làm ăn đã đến lúc cần Hằng san sẻ bớt. Với bằng ấy lý do
đã bắt buộc Hằng không còn cách lựa chọn nào khác hơn là phải nghỉ học.
Không như một số các bạn
khác nghỉ hè rồi vẫn còn được rong chơi để thăm thú bạn bè, bắt đầu vào hè là Hằng
về nhà để đi làm hợp tác. Ngay từ những ngày đầu đi làm hợp tác Hằng đã được bà
con trong đội đề nghị đứng ra làm thư ký đội thay cho người thư ký cũ lên làm
thư ký cho hợp tác xã. Kể ra mà nói thì đây cũng là sự may mắn rất lớn của cậu,
vì cùng lúc đó có khối các cậu cùng về mà bà con lại không tín nhiệm. Nói về
cái học khá của cậu có lẽ chỉ là phần thứ yếu vì công việc làm thơ ký đội chủ yếu
chỉ là ghi chép công điểm cho bà con, thế rồi cộng trừ nhân chia một tý công điểm,
một tý thóc lúa hoa màu mà các xã viên được chia trong từng vụ mà thôi. Cái sự
tín nhiệm ở đây chủ yếu là các ông bà xã viên đã yêu mến cậu ở cái sự vui tươi,
lễ phép và cả cái tính thẳng thắn, ngay từ bé đã không trộm cắp hoặc tham lam của
ai bất cứ thứ gì.
Từ sau ngày nghỉ hè cô giáo
hiệu trưởng Nguyễn Thị Ngọc Anh vẫn xuống thăm chơi nhà của các phụ huynh, cũng
đến mấy lần cô vận động Hằng cùng các bạn tiếp tục đi học lên cấp 3. Bà còn hứa
với bà mẹ của Hằng là bà sẽ dùng uy tín của mình để xin cho Hằng có được học bổng
như khi còn học cấp 2, nhưng vì ngại ngần trong việc nhờ cậy, làm phiền đến cô
nên Hằng vẫn quyết định sẽ nghỉ học. Cô Anh lại phân tích thêm về một số cách học
khác và cuối cùng thì cô động viên Hằng đi học chuyên nghiệp. Thực ra thì Hằng
cũng đã làm hồ sơ xin đi học chuyên nghiệp để gửi về trường ngay từ khi
còn đang học dở cấp 2, tuy nhiên đến lúc ấy thì các trường chuyên nghiệp chưa
nơi nào gọi cả.
Vào trung tuần tháng 8 năm ấy
thì Hằng có giấy gọi đi học trường trung cao cơ điện. Phần vì nghe bạn bè kháo
nhau rằng học trung cao kéo dài đến hơn ba năm, hơn nữa là sau khi ra trường phải
làm cán bộ kỹ thuật, một công việc mà Hằng rất ghét ngay từ khi tiếp xúc với một
số cán bộ kỹ thuật của nhà máy diêm, nhà máy gỗ trong lúc Hằng đi làm thuê những
năm trước đó. Mỗi lần trông thấy họ Hằng chỉ muốn chửi cho họ một trận bởi cái
sự vênh váo của họ trong lúc giao nhận công việc hàng ngày. Rồi đến vài giấy gọi
nữa nhưng Hằng cũng không đi vì một trong các giấy ấy là giấy gọi của trường
trung cấp ăn uống, giấy còn lại là của trường trung cấp dệt, lúc ấy Hằng cho rằng
đây toàn là những công việc của phụ nữ nên chẳng thiết gì đến sự học nữa.
Cũng chính trong thời gian
này ở cục vật tư địa chất đóng ngay ở Dốc Vân lại thông báo tuyển người. Chỉ cần
làm việc trong 6 tháng là sẽ được vào biên chế thành công nhân như tất cả mọi
người. Đang lúc bế tắc lại có cơ hội tốt, thế là Hằng quyết định sẽ đi làm cho
ngành địa chất.
6
Ngay khi vào làm ở địa chất
Hằng cùng các bạn đã được đưa lên ô tô chở một mạch lên huyện Hữu Lũng của tỉnh
Lạng Sơn. Nơi đây được cục vật tư địa chát cho xây dựng một cái kho để chứa
hàng đề phòng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày một tăng lên. Công việc ở
đây ban đầu chủ yếu là phát rừng san đường vào sâu trong dãy núi Cai
Kinh, rồi bốc đá làm đường để cho xe ô tô có thể ra vào được.
Hàng ngày từng tốp công
nhân mới tuyển còn chưa được cấp phát bảo hộ cắm cúi làm việc. Cho dù công việc
chẳng nhẹ nhàng gì, nhưng đa số mọi người trong đội đều là những thanh niên,
thanh nữ trẻ nên họ rất vui. Cho dù là đào hàng khối đất hào rắn đanh đến bốc
hàng chục khối đá từ mỏ đá Núi Voi về công trường nhưng ai cũng say mê với công
việc. Những chàng trai trẻ đều muốn thể hiện sự hơn hẳn của mình trước các cô
gái để mong các cô có chút cảm tình. Còn các cô gái thì lại muốn mình là những
người xinh đẹp chịu thương, chịu khó để lọt mắt các chàng trai. Chính vì thế mà
các anh trong ban lãnh đạo của đội như anh Dậu hầu như chẳng cần phải đôn đốc
mà công việc vẫn chạy băng băng.
Ngoài những vất vả trong
công việc mọi người còn phải đối đầu với nguy hiểm do máy bay địch bắn phá khi
đi trên đường hoặc đến làm việc ở những nơi trọng điểm. Cũng có nhiều lần họ
thoát chết trong gang tấc bởi chỉ nhờ may mắn trong nhanh chậm, giống như lần
máy bay Mỹ ném bom phá huỷ cửa hàng ăn uống chợ Mẹt hay lần chúng ném bom hòng
cắt đứt cầu Mẹt chặn đường giao thông của chúng ta.
Công việc ăn uống của đội đều
do đội tự làm lấy, ngoài mấy món trường ca như bí ngô, cá mắm, lại đến muối vừng,
măng tre hoặc lạc rang để cả vỏ tẩm muối mặn chát. Lâu lắm mới có một ít thịt
con lửng mua được ở các chợ quanh vùng, cũng có khi có một ít thịt trâu mang từ
cơ quan lên khi có các cán bộ về công tác.
Người Nùng ở xã Cai Kinh và
các vùng quanh khu vực đều kiêng ăn thịt trâu, bò và thịt chó. Họ cũng không ăn
hành và một vài gia vị khác nên lúc đầu khi chưa làm được lán còn phải ở
nhờ nhà dân thì sự kiêng khem thật là vất vả. Về mặt ăn uống thì thế
nhưng về tình cảm thì giữa công nhân với nhân dân trong vùng lại thật tốt, nhất
là với đám con gái người Nùng thì sự gắn bó còn khăng khít hơn nhiều. Lấy cớ
giao lưu để học tiếng và tìm hiểu phong tục có vài đôi trai gái hình như bắt đầu
đã có những mối cảm tình hết sức tế nhị.Trong số thanh niên trẻ trong đội chỉ
có Hằng là trắng trẻo thư sinh hơn cả, hơn nữa lại ăn nói khá mạnh dạn nên có rất
nhiều cô gái muốn gần. Lẽ dĩ nhiên là cậu cũng thể tránh khỏi bị cuốn hút vào
cái không khí chung ấy. Sau rất nhiều cuộc gặp gỡ trò chuyện cho dù là chỉ ở
trong nhà của các cô gái cùng với bố mẹ của các cô nhưng cái sự đầu mày cuối mắt
thì vẫn cứ lộ ra.
Người Nùng ở Cai Kinh có một
số đặc điểm rất đặc biệt đó là đa số các chàng trai thì rất đẹp traiN, còn đa số
các cô gái thì lại rất xấu. Những chàng trai cao lớn và trắng trẻo bao nhiêu
thì các cô gái lại đen và nhỏ bé bấy nhiêu. Trong cả một bản có lẽ chỉ được
mươi cô còn có chút ưa nhìn, số còn lại thì thật đáng ngại gặp, ngại gặp không
phải vì họ xấu mà vì đám thanh niên vùng xuôi sợ họ mồi chài. Đã từ lâu người
ta đồn đại rằng các cô con gái ở vùng cao thường có một số loại thuốc hoặc các
loại bùa rất đáng sợ. Nếu chàng trai nào ở dưới xuôi không may mà bị họ thích
là họ sẽ chài, thế rồi các chàng trai này cứ lú lẫn bỏ cả quê hương cha mẹ để
mà ở lại với cô ta cho đến hết đời mà không thể thoát ra được. Ngoài ra họ còn
sợ nhiều thứ khác, giả như họ có thể bị người nhà của các cô gái giết bằng cách
đưa đến các vùng rừng có hổ để cho hổ ăn thịt rồi loan tin là bị hổ vồ. Đến lúc
ấy thì ngay cả chết cũng bị chết oan mà không thể tìm ra tội chứng của kẻ giết
người. Chính vì vậy nên cái sự yêu đương thì hình như chưa cậu nào dám đặt vấn
đề. Còn cái chuyện lợi dụng tình ái khi họ tiếp xúc hàng ngày cùng nhau thì chả
cậu con trai nào dám, kể cả trong khi nói chuyện ở nơi vắng vẻ cũng như khi đi
vào rừng hái quýt, hái ổi riêng rẽ chỉ có hai người với nhau.
7
Trong số các cô gái người
Nùng, có một cô khá xinh xắn có tên là Hoàng Thị Cỏm. Cô mới chỉ mười sáu tuổi
đang đi học văn hoá ở trường nội trú của tỉnh. Ngoài nước da trắng, khuôn mặt
trái xoan cô còn có sức quyến rũ bởi dáng người thon thả và duyên dáng. Cô nói
tiếng kinh khá sõi, nếu chỉ hỏi han trò chuyện trong độ mươi phút thì không ai
bảo cô là người Nùng, ngoại trừ bộ quần áo chàm cô rất hay mặc khi cô về nhà.
Cho dù chiếc áo chàm khá rộng, luôn dài đến ngang đùi che đi phần thân thể của
cô nhưng người ta vẫn nhận ra cơ thể đầy sức quyến rũ của cô.
Trong một lần về nhà cô được
tiếp xúc với đám thanh niên vùng xuôi thông qua sự giới thiệu của các bạn, cô
đã nói chuyện rất nhiều bằng tiếng Nùng với Hằng. Không biết có phải do cô
thích cái anh chàng trắng trẻo này hay là cô chỉ thích nói chuyện với cậu chỉ
vì lúc ấy cậu là người biết nhiều tiếng Nùng hơn so với các bạn.
Lúc chia tay cô ghé sát tai
cậu và thì thào:
- Mình với anh cùng tên,
mình với anh là một đấy nhé!
Hằng không kịp hỏi gì thêm
thì cô ấy đã vụt quay trở vào nhà. Hằng đứng ngây ra đến một lúc lâu mà vẫn chẳng
nghĩ ra được sự thể là thế nào. Chả lẽ tiếng Nùng âm Cỏm là Hằng hay là khi cô ấy
đến trường học cô đổi tên theo tiếng Kinh với cái tên mới là Hằng. Cho
mãi đến về sau này điều thắc mắc ấy cậu vẫn không được ai giải đáp cho.
Họ chia tay cũng không lâu
la gì lắm, chỉ mới qua hết một tuần học đã thấy cô có mặt ở nhà. Anh trai của
cô đã bảo cho Hằng biết trong lúc đi ngang qua lán công nhân để vào rừng đặt bẫy.
Trong số các chàng trai cùng đi làm với Hằng ngày ấy hầu như chỉ có mình Hằng
là hay chơi bời cùng số con trai và cũng hay thăm viếng với các ông ké, bà mế
nên Hằng khá thân thiện với số đông những người trong bản. Riêng về anh trai của
Cỏm thì khá thân hơn vì anh này khá thông minh và lại rất khéo tay. Nhiều lần
anh bảo nhận Hằng làm em rể cho dù Hằng chưa hề gặp cô em ấy lần nào. Lần này
thì không thể tránh được rồi nhất là cái cô em ấy lại hưởng ứng một cách nhiệt
tình sự gợi ý của ông anh. Có lẽ vì thế mà anh vừa tin cho Hằng biết vừa cười một
cách ý nhị.
Thực ra thì Hằng chưa bao
giờ nói gì đến cái sự gắn bó của mình với cô ấy vì Hằng cũng sợ bị cô ấy chài
như ngày nào mẹ Hằng đã kể. Còn cô ấy thì hình như mặc nhiên coi cái sự ấy như
là đã định rồi. Có lẽ việc này là do người anh của Cỏm bịa ra. Phải chăng anh
cũng muốn cho cô em gặp được văn minh của miền xuôi hay là muốn cô em rời xa hẳn
cái cơ ngơi của cha mẹ để sau này anh chẳng vướng bận gì.
Những ngày xa vắng bất chợt
bị cuốn đi để sự rạo rực tràn ngập dồn lại cho những giờ khắc gặp gỡ.Tuy rằng tất
cả cũng chỉ là những câu chuyện cuộc sống cùng với sự động chạm da thịt vào
nhau thôi nhưng sao mà cảm xúc lạ kỳ đến vậy. Nhiều lúc Hằng tưởng như mình bị
tan ra bên sắc màu lam tím của những nếp vải thô ráp nhuộm chàm. Hay là Hằng đã
bị chài rồi! Có lẽ là chưa vì sau những lúc như thế Hằng lại thấy bình tĩnh trở
lại tự điều chỉnh được mình. Mười sáu tuổi, chỉ mới mười sáu tuổi, còn mình nào
có nhiều hơn được bao nhiêu.
Mỗi lần gặp gỡM, mỗi lần
trò chuyện, Hằng thường nghĩ đến những câu chuyện tình yêu từ trong phim ảnh, từ
trong sách vở, từ trong tiểu thuyết. Sự đẹp đẽ đến thánh thiện, đến đắm say và
cả đến oanh liệt nữa cũng dần hé mở lôi kéo đi theo, khuyến khích học theo. Cả
đống những ý tưởng làm họ choáng ngợp, làm họ bối rối; bối rối đến không còn biết
sẽ làm gì nữa.. Họ chỉ dám hôn thật nhẹ vào bất chợt chỗ nào mà họ chạm vào thế
rồi chia tay và tiếc mãi về những gì mà họ cùng khao
khát.
8
Những ngày vui chưa được
bao lâu thì công trình cũng đã sắp hoàn thành. Một số công nhân đã chuyển đi
công trường mới ở tận trên khu vực Đồng Mỏ, số còn ở lại Cai Kinh không còn nhiều,
trong đó có Hằng. Ngoài công việc ban ngày, Hằng còn phải ở lại trông coi lán
vào ban đêm mà không vào bản như mọi khi vì trong thời gian này Cỏm cũng ít về.
Không biết có phải do bận học hay do Cỏm giận vì Cỏm chờ mãi mà chưa thấy Hằng
nói ra cái điều quan trọng kia. Cỏm không biết rằng trong lúc ấy Hằng băn khoăn
đến thế nào về hoàn cảnh của mình.
Ngày ấy nhà Hằng Nghèo lắm.
Rời chùa mới được vài năm, nhà Hằng vẫn phải ở nhờ nhà của anh Phượng. Xin đất
xong, cố mãi nhà Hằng vẫn chưa làm nổi một ngôi nhà. Đồ dùng thì chả có thứ gì
ngoài hai cái giường gỗ tận dụng mà ông bố của Hằng tự đóng lấy từ năm nảo, năm
nào, đến nay thì đã bắt đầu mọt ruỗng ra rồi. Lấy vợ về, vợ sẽ ở đâu! Trong cái
căn nhà không buồng, không vách của nhà anh Phượng. Lại còn công việc làm ăn,
còn miếng cơm, manh áo cho mẹ, cho em và cho cả đôi uyên ương nửa xuôi, nửa ngược
này nữa. Lại còn sự nghiệp vừa mới bắt đầu! Mình còn phải đi! Ai sẽ là người đỡ
đần người vợ trẻ con này khi mình đi vắng. Rồi còn địa phương họ có cho phép
hay không khi cô ấy chưa đủ tuổi. Miền xuôi đâu có thể làm bừa đi như trên vùng
cao thiểu số mà được. Tất cả những điều ấy đã bắt Hằng phải chần chừ, lưỡng lự
mặc dù Hằng biết sẽ chẳng bao giờ Hằng còn có thể tìm được một người con gái đẹp
mê hồn như thế nữa. Tất cả những điều ấy Hằng đâu có thể nói ra với Cỏm và với
gia đình cô ấy.
Chính trong những ngày buồn
bã ấy thì chú Phó cục trưởng đi công tác qua rẽ vào gửi cho mảnh giấy của mẹ nhắn
Hằng về. Không biết mẹ nhắn về để làm gì mà gấp gáp như thế nên Hằng quyết định
sẽ tự mình ra về mà không chờ chú cục phó đón như lời dặn của chú lúc đưa thư
cho cậu.
Vừa đi vừa lạc phải mất hơn
năm tiếng đồng hồ Hằng mới đến được ga Bắc Lệ để lên tàu về nhà. Cuộc ra đi này
của Hằng chỉ có vài người trong ban lãnh đạo của đội biết, bạn bè và cả Cỏm
cũng không sao biết được. Hằng cũng không ngờ lần ra đi này cũng là lần từ biệt
Cai Kinh, từ biệt Chợ Mẹt, Lạng Sơn đến mãi gần bốn mươi năm sau mới lại có dịp
quay trở lại trên một chuyến xe khách chạy sáu mươi cây số lướt đi trên đường,
trong một lần tham quan Trung Quốc.
Về đến nhà Hằng được mẹ đưa
cho một bì thư trong đó là giấy báo đi học của Trường điện lực Thái Nguyên. Nhận
giấy mà Hằng ngạc nhiên đến sững sờ cả mình mẩy vì không hiểu tại sao mình lại
có giấy báo này. Trong kỳ làm hồ sơ đi học chuyên nghiệp Hằng chỉ làm có ba bộ,
đã có ba trường gọi mất rồi. Các trường đều ghi là sẽ không trả hồ sơ vậy thì hồ
sơ này làm sao mình lại có. Sau khi ba trường gọi Hằng không đi, Hằng đã làm
thêm hai bộ nữa lên xin xã nhưng xã nói chỉ có thể xác nhận không quá ba bộ, thế
là Hằng mang về vứt ở nhà, làm gì còn bộ nào nữa đâu mà lại có giấy gọi. Hay là
trường họ nhầm lẫn gì chăng. Hằng xem đi xem lại tờ giấy báo nhưng không thấy
chỗ nào sai kể cả họ tên và nơi ở. Mà cái làng Đồng Dầu này làm gì có ai là Hằng
nữa đâu. Tìm hiểu mãi rồi cũng vỡ lẽ ra do khi Hằng đi làm vắng cô Ngọc Anh xuống
thăm số phụ huynh học sinh cũ đã rẽ vào thăm mẹ Hằng. Sau khi nghe bà mẹ Hằng kể
lại sự tình thế là bà lấy số hồ sơ của Hằng để lại mang lên xã xin xác nhận cho
rồi gửi tiếp về ban tuyển sinh huyện và thế là Hằng mới có tờ giấy báo thứ tư
này. Có lẽ cán bộ xã nể bà giáo là huyện uỷ viên mà họ quen biết trong
các kỳ họp nên đã xác nhận số hồ sơ mà bà mang lên xin hộ.
Khỏi phải nói đến sự hàm ơn
của Hằng đối với cô hiệu trưởng đến thế nào. Vậy mà từ khi ấy cho mãi đến sau
này Hằng không còn có thể gặp lại cô giáo đáng kính của mình nữa. Khoảng cách địa
lý của mỗi người, công việc xã hội, công việc gia đình của mỗi người, đã vĩnh
viễn chia cách cô trò của họ. Cô như là một người mẹ lo cho rất nhiều những đứa
con, chắc cô không còn nhớ những gì đã lo cho Hằng. Còn với Hằng thì không bao
giờ có thể quên được tấm lòng của người mẹ ấy.
9
Sau gần mười ngày lo cắt hộ
khẩu, lo bán lương thực để lấy giấy cắt chuyển lương thực xong là Hằng lên nhập
trường. Cứ như trong giấy báo này thì có đến vô số những con số một bắt buộc
các học sinh phải nhớ và phải thực hiện. Đầu tiên là các học sinh phải đến trường
vào ngày 11 tháng 11 năm 1965, tiếp theo là các học sinh phải hỏi thăm đến số
nhà 111 phố Đồng Bẩm Thành phố Thái Nguyên để vào nhập học.
Hằng lên đường với một cái
ba vuông mà anh cả cho. Đây là vật dùng để đựng quần áo của bộ đội thời
kháng chiến chống Pháp. Nó là một miếng vải bạt cắt theo hình chữ thập. Các góc
được may một miếng vải chéo để khi gấp vào đồ dùng nhỏ không từ các góc rơi ra.
Hai bộ quần áo bằng vải ka ki và vải pôpơlin Nam Định, một cái chăn chiên là tất
cả những gì mà Hằng mang theo.Tuy rằng nhà Hằng nghèo thật nhưng Hằng lại chưa
khi nào phải mặc quần nâu áo vá như nhiều các bạn khác. Đồ đạc mới duy nhất chỉ
có cái màn một và mấy thứ lặt vặt như lọ thuốc đánh răng, cái bàn chải, cùng mấy
quyển sách, quyển vở mà thôi .
Chuyến tàu Bắc, Yên Viên đi
Quán Triều chậm như bò trên đường. Chỉ có hơn bẩy chục cây số mà suốt từ tối đến
quá nửa đêm mới đến được ga Đồng Quang. Trời đêm không đèn, không điện vì tránh
máy bay Mỹ đánh phá, vả lại cũng quá khuya nên đường xá vắng ngắt không một
bóng người. Sau khi đã hỏi thăm khách trên tàu về địa điểm mình sẽ đến, Hằng
cũng đã sơ lược nắm được phần nào quãng đường mình sẽ phải đi. Mò mẫm mãi rồi Hằng
cũng đến được phố Bắc Nam của thị xã Thái Nguyên. Đang không biết tìm ai để hỏi
thăm tiếp thì nghe phía trước có người đang nói chuyện rì rầm. Hằng cố đi thật
nhanh cho kịp mong sao hỏi thăm được về phố Đồng Bẩm, bởi Hằng nghĩ nếu không hỏi
thăm được thì khó có điều kiện gặp được ai nữa để mà hỏi thăm. Vừa ghé sát vào
mặt hai người đi đường để hỏi thăm về Đồng Bẩm thì nghe cả hai cùng nói chúng
tôi cũng về đó mà không biết đường đây. Thật không còn gì chán chường hơn khi
nghe hai người đi đường nói vậy. Dù sao thì từ lúc một mình bây giờ có thêm hai
người nữa thành ba cùng đi nên cũng đỡ buồn hơn. Cả ba đang lếch thếch mò
đi trong đêm tối đen như mực thì đến một chiếc cầu. Một ngọn đèn phòng không
leo lét bên đường làm cho cả ba mừng không thể nào tả xiết. Một người trong họ
buột miệng:
- May quá, có chỗ hỏi thăm
rồi.
Giọng nói của người này hơi
ngòng ngọng, nghe rất quen, hình như mình đã nghe nói khi nào rồi thì phải.
Đang còn phán đoán thì chợt lại nghe người thứ hai cất tiếng hỏi thăm đường.
Ngoài giọng nói rất quen thuộc còn cả địa chỉ hỏi thăm cũng lại quá quen nữa
làm Hằng chột dạ. Hằng nghĩ chả lẽ mấy cậu này cũng đi học như mình. Mãi đến
khi giáp mặt thì cả ba người mới nhận ra nhau là bạn cùng trường.
- Thế nào, có phải các cậu
cũng vào trường điện lực phải không?
Họ hỏi thăm nhau hết chuyện
nọ đến chuyện kia có lẽ phải đến hai mươi phút rồi mới lại tiếp tục lên đường.
Hoá ra hai anh bạn vừa gặp lại chính là Nội và Thảo học ở lớp 7A. Thảo khá nổi
tiếng về sự tinh nghịch, còn Nội thì lại nổi tiếng về các hoạt động tập thể và
có tiếng là lành tính. Nội học cũng vào loại giỏi và lại là một trong những
đoàn viên đầu tiên của chi đoàn học sinh của trường. Nội khá đẹp trai và có nhiều
tài vặt, đặc biệt là rất sát gái. Cứ như sau này Nội nói ra thì hình như ngay
khi còn học ở trường phổ thông Nội đã yêu khá thành thạo, yêu ngay cả những bạn
gái cùng học trong lớp 7A của chính mình.
Ba người lại mò mẫm đi tiếp,
bây giờ thì họ đã đi qua cầu Gia Bẩy, nơi mà họ vừa dừng lại để hỏi thăm và đã
nhận ra nhau. Cây cầu khá rùng rợn vì nó là nơi chứng kiến sự chết chóc của mấy
trăm người trong hai lần giặc Mỹ đem tàu bay phản lực ném bom vào cầu trong
ngày 17 tháng 10 trước đó mới gần một tháng. Mọi người không ai nói gì nhưng Hằng
biết trong mỗi người đang nghĩ về cái chết chóc gớm giếc đó mà căm thù quân giặc,
xót xa cho tất cả những người xấu số. Thật đáng buồn khi mọi người chúng ta đã
không thể làm gì để ngăn cản tất cả những tàn ác mà kẻ thù đang từng ngày trút
xuống đầu những người dân vô tội.
Không thể tìm ra ngôi nhà số
111 và cũng chả hỏi thăm được aiK, ba anh em đành vào ngủ nhờ trên hè của một cửa
hàng bán sách để chờ đến sáng. Mệt mỏi do đi bộ mang nặng lại thức quá khuya cả
ba ngủ như chết cho đến tận sáng banh ra mới dậy được. Vừa thu gọn đồ dùng vừa
nhanh chóng quay đến khu vực tối qua đã đến để tìm. Hằng hỏi thăm mấy người làm
vôi ở ngay con dốc nhỏ cạnh đấy thì được họ cho biết số nhà 111 chính là căn
nhà tranh lụp xụp mà đêm qua ba anh em đã qua lại đến mòn cả chân ở đấy. Căn
nhà ấy không phải là trường mà chỉ là điểm đến hỏi thăm con đường rẽ để vào nơi
trường sơ tán. Từ đây vào đó còn phải đi đến hơn cây số nữa mới đến nơi. Đang
còn hỏi thăm chưa xong thì từ xa đã nghe tiếng củaThảo la ré lên:
- Tìm thấy số nhà 111 rồi
chúng mày ơi!
Mọi người quay về phía phát
ra tiếng nói củaThảo thì thấy Thảo từ mái hiên lụp xụp chui ra. Thảo vừa cười vừa
chỉ ngược vào bên trong mái nhà có ý bảo cái số nhà ở bên trong đó. Thì ra đây
là căn nhà không có người ở, trên tường chả có chỗ đóng đanh treo biển nên chủ
nhà đã gài cái biển số vào bên trong mái hiên, chính vì thế mà mấy anh em tìm
không được.
Lại thêm một lần chán chường
nữa mà không thể nói ra, bởi ai cũng nghĩ rằng ngôi nhà số 111 ấy phải là ngôi
nhà cao ba bốn tầng trông thật nguy nga tráng lệ và rồi hàng ngày họ sẽ cắp cặp
đến học hành và làm việc. Nào ngờ cái trường mà họ học lại ở trong tít mãi ở tận
rừng xanh núi đỏ và còn chưa biết là nó to bé ra sao. Tuy vậy họ cũng đành phải
vào để mà nhập học chứ còn biết làm thế nào bây giờ.
10
Ngay sau khi gặp cán bộ của
trường mọi người mới biết là trường có ba khu học tập. Khu thứ nhất tập kết các
học sinh học về cơ khí và điện ở ngay tại xóm Cổ Rùa. Khu thứ hai ở lùi vào sâu
bên trong một ít gọi là xóm Thác Lở, là nơi tập kết số học sinh học về nghề sửa
chữa lò hơi. Số học sinh học nghề sửa chữa Tua bin thì vào sâu mãi tận khu mỏ
đá Núi Voi (Núi Voi của Thái Nguyên chứ không phải của Lạng Sơn), nơi ấy gọi là
xóm Cầu Đá. Cũng chỉ đi quá ra ngoài một chút đã là phường phố, thế mà nơi Hằng
và các bạn đến lại là thôn bản của rừng rú buồn rứt cả người.
Những ngày học tập, lao động
liên miên làm cho các cậu không còn có thì giờ để chơi bời nữa, thế là việc lên
lớp và nhất là việc đi lao động làm đường sắt sơ tán máy biến thế hoặc đi xúc xỉ
đổ vào sọt treo quanh tường nhà máy để chống bom đạn là những lúc vui hơn cả.
Dù sao thì có lúc như thế họ mới được gặp nhau để mà trò chuyện, để mà tán tỉnh
lẫn nhau, làm khuây khoả nỗi buồn chán ở nơi khỉ ho cò gáy này.
Ngày ấy các học sinh đi học
chuyên nghiệp và cả các sinh viên học đại học cũng đều do nhà nước nuôi không.
Chế độ sinh hoạt đều rập khuôn theo kiểu trại lính, mà không được có ý kiến gì
khác. Mỗi tháng các học sinh được ăn 15 cân lương thực, trong đó có đến ba mươi
phần trăm là chất độn. Chất độn có thể là mỳ bột hoặc ngô say ghế lẫn với gạo.
Buổi sáng, mỗi người được ăn bữa phụ bằng một cái bánh mỳ luộc nhỏ như nắm
tay trẻ con. Mặc dù cái bánh chả ngon gì nhưng vì hàng ngày ăn uống luôn luôn
thiếu nên dù không ngon cũng không ai bỏ. Bữa trưa và chiều thì ăn bữa chính có
cơm và vài món thức ăn. Đang sức ăn, sức lớn bây giờ không đủ no nên hầu như
anh, chị nào cũng thèm cơm. Có một điều không biết tại sao luôn thiếu ăn như vậy
nhưng các cô, các cậu đều cứ lớn vượt trội hẳn lên.
Trong mấy tuần gần đây quân
Mỹ tập trung tăng cường đánh phá vào Thái Nguyên nên mỗi buổi học lớp cứ phải dừng
để ra hầm trú ẩn ba bốn lần. Những lần đi sang nhà máy bây giờ cũng không còn
được an toàn nữa. Nhà máy điện Thái Nguyên bị đánh phá mấy lần liên tiếp. Khu
điều khiển trung tâm và cả cầu vượt từ đó sang nhà máy chính cũng bị làm sập. Rồi
cả khu vực đuôi lò cũng bị bom làm hư hại nhiều. Những tầng tầng, lớp lớp các sọt
xỉ che phủ bên ngoài cũng chả giúp che chở được. Cả khu tập thể và cái căng tin
hàng ngày vẫn bán và phân phối nhu yếu phẩm cũng bị sập đổ tan tành. Số gia
đình công nhân ở trong khu tập thể cũng phải sơ tán vào mãi tận rừng xanh, núi
đỏ.
Ban ngày các lớp đều tập
trung vào học lý thuyết cơ sở và lý thuyết chuyên môn, ban đêm lại sang nhà máy
tham gia lao động. Những kiến thức mà các học sinh hàng ngày được học hầu như mới
mẻ hoàn toàn đối với tất cả mọi người. Phần lý thuyết cơ sở bao gồm có vật liệu
cơ khí, điện học, nhiệt học, vẽ kỹ thuật, nguyên lý và cấu tạo của máy tua bin
và lò hơi cho nghề vận hành và sửa chữa lò, máy. Phần học về chuyên môn thì có
các công nghệ gia công cơ khí với ba bốn năm nghề như rèn, gò, tiện, nguội và cả
nghề hàn điện, hàn hơi. Các bài về sửa chữa gồm thêm cả các phần về tháo lắp,
căn chỉnh và cách sửa chữa từng bộ phận khi chúng bị hư hỏng. Việc học lý thuyết
đối với mọi người xem ra rất mơ hồ, chỉ đến khi thực hành các học sinh mới được
vỡ vạc ra đôi chút. Cuối cùng thì khoá học cũng đến lúc kết thúc sau mười mấy
tháng trời vất vả.
Trong thời gian vừa quaT,
ngoài việc đánh phá nhằm ngăn cản ta về mặt quân sự, bọn Mỹ còn tập trung phá
hoại ta về kinh tế. Các nhà máy điện là mục tiêu hàng đầu ở lĩnh vực này. Trên
miền Bắc có mấy cái nhà máy điện thì bấy nhiêu cái bị đánh phá, nên đa số
các nhà máy đều đang cần khôi phục, sửa chữa ngay để kịp thời cung cấp điện cho
sản xuất và chiến đấu. Lẽ dĩ nhiên là rất cần có thêm các công nhân sửa chữa để
thực hiện nhiệm vụ này. Cũng chính vì vậy nên mới qua một năm các học sinh đã
phải ra trường mà chả cần đủ mười tám tháng như chương trình học đã thông tri trên
giấy gọi.
Năm nay nhà trường
thay phương pháp tổ chức thi tốt nghiệp từ việc làm bài trên giấy bằng vấn
đáp ngay trên hội trường. Các thầy phải đổi khối dạy để tổ chức thi cho khách
quan. Có lẽ các thầy biết khá rõ về kết quả học của Hằng nên hầu như các thầy
chỉ hỏi những câu hỏi chính mà không cần đặt câu hỏi phụ nên Hằng thi rất nhanh
chứ không như các bạn khác luôn bị các thầy vặn vẹo cho đến là khổ. Cùng với kết
quả thi đạt điểm năm cho toàn bộ các môn học Hằng được nhà trường khen và được
cả Đoàn thanh niên khen về thành tích học tập và lao động. Sau này thầy giáo chủ
nhiệm lớp sửa chữa tua bin có nói với cả lớp rằng Hằng là một trường hợp chỉ có
một từ trước đến giờ và có lẽ cả về sau này nữa cũng khó có thể có lại trường hợp
như thế này một lần nữa. Đọc đến chỗ này có thể có người nghĩ đây là truyện ký
và đoạn trên có phần hư cấu theo thể truyện. Cũng xin nói rằng đây là đoạn sự
thật viết theo thể ký. Với toàn bộ các điểm tổng kết và điểm thi của các môn đạt
điểm năm, Hằng là một trong những học sinh học vào loại khá nhất của trường lúc
đó, nên đi đâu Hằng cũng được các thầy các bạn biết đến.
RA TRƯỜNG
1
Tất cả các bạn trong lớp đều
đã có danh sách chuyển về các đơn vị trong ngành. Đoàn thì về ngay nhà
máy điện Thái Nguyên, đoàn thì đi nhà máy điện Uông Bí, đoàn thì đi Hà Bắc,
cũng có một số có cha, anh trong ngành đến tận trường xin chuyển cho con cái của
họ. Lớp của Hằng có đến mười hai người đi Thanh Hoá, số còn lại thì đi Nam Định
và bổ sung con số cho các đoàn khác. Chỉ còn có mỗi Hằng là vẫn chưa có tên ở một
đoàn nào. Số nhà gần thì đã ba lô khăn gói đi ngay từ chiều hôm nghe thông báo,
chỉ còn những người ở xa phải chờ cắt lương thực, hộ khẩu là sẽ lên đường.
Các thầy thì đi vắng cả,
còn lại ai thì cũng bận họp liên miên, chả lẽ lại cứ xông vào chỗ các thầy đang
họp để hỏi thế thì bất lịch sự quá, rõ là sốt ruột mà không biết làm gì. Cũng
đành về nhà cụ Tô Long nằm khèo một chỗ, đánh giấc để chờ vậy.
Giật mình dậy thì trời đã
muộn Hằng vội vàng đi ra Thác Lở để tìm thầy chủ nhiệm. Vừa gặp đã nghe thầy
nói:
- Thầy đi tìm để thông báo
cho em biết quyết định của trường mà không biết em bỏ đi đâu.
Sau khi hỏi han đôi chút về
nguyện vọng thầy kín đáo nói cho Hằng biết quyết định của trường về việc giữ Hằng
lại để làm giáo viên của trường. Thầy dặn cứ bình tĩnh chờ đợi thông báo chính
thức của trường. Lúc chi tay thầy còn nhấn mạnhS, thầy bảo:
- Việc này đã bàn từ
lâu, bây giờ chỉ còn chờ hiệu trưởng duyệt lại một lần để rồi ra quyết định là
xong.
Hằng ra về với sự băn khoăn
lớn mà không biết nói cùng ai. Kể ra mà nói việc được giữ lại ở trường là điều
mong ước của rất nhiều người, chỉ có Hằng là lại không thấy thích lắm. Cái điều
mà Hằng không thích xưa nay là công việc giấy tờ, công việc ngồi bàn giấy vậy
mà ở lại dạy học thì chả phải cái nghiệp bàn giấy đó là gì . Tuy nghĩ vậy nhưng
Hằng không thể nói ra vì nói ra về cái sự thích hay không thích ấy là không yên
tâm công tác, không chấp hành kỷ luật, không chấp hành nhiệm vụ rồi thiếu vững
vàng tư tưởng lập trường. Ngày ấy không kể chỉ có đảng viên, đoàn viên mà cả những
ông bà dân thường khác cũng phải giữ vững lập trường tư tưởng.
Đã qua đi một ngày, số học
sinh còn lại ở trường chả còn lại bao nhiêu vậy mà Hằng vẫn chưa nhận được
thông báo gì về công tác của cậu. Chiều nay các thầy sẽ họp xong nên có thể quyết
định sẽ khá muộn đây, Hằng nghĩ thế rồi đi đi, lại lại từ nhà ra trường để chờ
thầy chủ nhiệm.
Có lẽ Hằng đi lại đến ba lượt
thì mới gặp được thầy. Từ xa nhìn thấy thầy hình như có chuyện gì buồn thì phải
nên Hằng không vội vã đến với thầy như mọi khi. Cậu cố tìm hiểu trong đầu và dự
đoán linh tinh các lý do có thể xảy ra, nào là thầy gặp chuyện buồn trong gia
đình, thầy có khúc mắc với thầy nào khác trong lúc họp chiều nay.
Thế rồi cái sự buồn ấy cũng
được thầy nói ra. Câu nói của thầy có vẻ chậm rãi hơn ngày thường, hình như thầy
cố chọn cách nói thế nào cho nhẹ nhàng nhất:
-Trường mình thế là sẽ phải
giải thể em ạ!
Thầy dừng lại chờ xem Hằng
có hỏi gì không. Có lẽ thầy nghĩ cứ để cho Hằng từ từ hỏi còn thầy giải thích
có lẽ sẽ làm cho câu chuyện đi đến đoạn kết bình ổn hơn chăng!
Thế rồi quả nhiên cách nói
của thầy đã đưa được Hằng vào quỹ đạo của thầy. Chờ mãi mà chưa thấy thầy nói
gì thêm Hằng đành hỏi:
- Có lẽ thế thì trường chẳng
cần thêm giáo viên nữa phải không thầy?
Thầy không trả lời thẳng
vào câu hỏi của Hằng mà thầy lại dùng câu hỏi để hỏi lại:
- Không còn được ở lại trường
nữa em có buồn không?
Lần này thì Hằng lại im lặng
làm cho thầy phải nhìn thẳng vào Hằng như có ý bảo hãy trả lời tôi đi chứ.
Tuy rằng Hằng cũng chẳng có
ham thích ở lại trường nhưng mà từ khi thầy bảo cho Hằng biết, Hằng coi như mọi
sự đã an bài rồi, đến nay lại thay đổi trách nào không thể không thấy cụt hứng,
không buồn, không khó chịu. Hằng cũng không trả lời thẳng vào câu hỏi của thầy
mà lại trả lời thầy bằng một câu hỏi:
- Thưa thầy…Không biết em sẽ
đi đâu?
- Em sẽ đi Thanh Hoá! Trong
ấy họ cần rất nhiều người để khôi phục nhà máy vừa bị đánh phá. Cũng hơi khó
khăn đấy nhưng thầy tin là em sẽ vượt qua!
Đây cũng là buổi nói chuyện
cuối cùng của thầy với Hằng, bởi ngày mai thầy được trường cho nghỉ phép về quê
ở mãi tận Thái Bình đến hơn mười ngày thì phải. Trong câu chuyện tiếp theo giữa
hai thầy trò Hằng nhận thấy hình như thầy muốn khoả lấp cái sự ân hận vì đã
gieo vào lòng cậu học sinh yêu quý của mình một sự mừng hụt quá lớn.
Hằng không còn buồn về cái
sự ở lại trường hụt nữa mà lại nghĩ về cuộc đi Thanh Hóa của mình sắp tới với bao
nhiêu lo lắng, ưu tư. Hằng cũng nói về điều đó cho thầy nghe và khuyên thầy đừng
buồn về sự việc vừa qua vì thực tế Hằng cũng không thích ở lại trường. Chắc thầy
không tin điều đó là thật mà chỉ cho rằng cậu ta nói vậy để cố an ủi mình mà
thôi. Dù sao thì cả hai thầy trò cũng đã tươi tắn trở lại. Hai thầy trò chia
tay chào đi, chào lại trong khi hoàng hôn đang tím dần đi nơi xóm núi Thác Lở đầy
kỷ niệm.
2
Sau một vài ngày về qua nhà
chơi bời với các bạn bè và người thân Hằng lại gói ghém đồ đạc để đi nhận công
tác. Hằng cũng biết là đi Thanh Hoá bây giờ là vào nơi chiến tranh nguy hiểm,
nhưng cái sự nguy hiểm nó đến mức nào thì Hằng không biết, cho dù Hằng đã một
vài lần gặp các cuộc oanh kích của bọn giặc lái Mỹ ở Mẹt, ở Thái Nguyên. Tuy
nhiên sau mỗi đợt bom rơi đạn nổ thì mọi cái lại trở về trạng thái yên tĩnh nên
cái sự chiến tranh cũng chẳng làm Hằng để tâm đến. Mẹ Hằng thì lo lắng lắm
nhưng thấy con trai cứ tươi hơn hớn thì cũng thấy yên tâm hơn. Bà nhắc lại câu
mà bà bảo đấy là lời bố Hằng nói lại sau khi xem đi xem tử vi của cậu từ hồi cậu
còn bé tý.
- Bố mày bảo bỏ mày ở bờ
tre, mày cũng không chết được.
Bà mẹ của Hằng là người
không biết chữ, nhiều điều mà bà hiểu biết thường ngày đều là do bà nghe lại từ
sự truyền khẩu từ người này qua người khác. Lẽ tất nhiên là bà rất tin ở chồng
vì trong con mắt bà, ông là người hiểu biết hơn nhiều người khác nên ông đã nói
là sẽ không sai.
Cũng không biết bà có tin
thật về lời dự đoán của chồng không hay là bà chỉ muốn nhắc lại lời của ông để
tự trấn an mình khi đứa con trai bé bỏng của mình sinh ra trong đói rét rồi lại
nuôi nấng trong khó nhọc lắm mới lớn được ngần này sắp sửa đi vào nơi bom rơi,
đạn lạc chín phần chết mới có một phần sống.
Hằng ra đi vào một buổi chiều
mùa đông ảm đạm chẳng có cỗ bàn chia tay như nhiều người khác và chẳng có ai
cho quà cáp hoặc tiễn đưa. Cũng vẫn là cái ba lô và một số đồ đạc mang từ trường
về, hôm nay lại vẫn nguyên như thế để ra tầu. Chuyến tầu đêm Yên Viên sang Hà Nội
chuyển tầu đi thanh Hoá tại ga Hàng Cỏ vào lúc hơn mười giờ. Tầu thời chiến
không thắp đèn để phòng máy bay giặc phát hiện đánh phá vậy mà cũng chật ních
như nêm cối. Có lẽ tầu quá dài và lại phải chờ các tầu khác nên nó đi chậm rì
rì như rùa bò. Từ trong tàu nhìn ra chỉ thấy một màu đen của bóng tối cùng với
những lùm cây, nhà cửa cũng một mầu đen thoắt hiện thoắt ẩn. Bên trong tầu mùi
hơi người nồng nặc thật khó chịu, nhất là lúc tầu dừng lại chờ đợi hàng tiếng đồng
hồ. Mọi người đều mệt mỏi thiếp đi dựa ngả vào nhau im lặng sau khi đã tranh
nhau kể về chiến thắng này, chiến thắng khác ở miền Nam, rồi lại đến chuyện ta
bắn rơi máy bay ở chỗ này, chỗ khác trên miền Bắc.Thực ra thì những tin tức
trên đã được các đài phát thanh phát cả ngày rồi và có lẽ mọi người đều đã biết,
thế nhưng mà họ vẫn cứ muốn nói để mà tự hào về những gì mà ta đã làm được
trong cuộc chiến giữa một đất nước nhỏ bé với một tên đế quốc đầu sỏ đứng đầu
cái thế lực thực dân, đế quốc của cả thế giới này.
Trời đã sáng rõ dần ra, mọi
người đã tỉnh cả dậy và trở lại không khí ồn ào, ầm ĩ vốn có ở chỗ đông người.
Tầu đã dừng hẳn lại sau một cú phanh giật lên, giật xuống mấy lần. Một giọng
nói ề à theo kiểu nhà tầu cất lên thông báo về điểm trả khách cuối cùng bởi cầu
Lèn bị hỏng chưa chữa xong, đường từ ga Thanh Hoá ra Lèn cũng vừa bị hỏng đêm
qua, nên tầu tăng bo ở ga Thanh Hoá cũng không ra được. Thế là lại phải cuốc bộ
dài dài đây, thật là cái số không may! Sao mà lắm cái không may đến thế.
Đang lóc ca lóc cóc với mấy
thứ đồ đạc trên vai sải bước cùng với mồ hôi toá ra ướt đẫm cả lưng áo thì nghe
có người gọi rối lên ở đằng sau. Kể ra thì nghe gọi đúng là tên mình nhưng cậu
lại nghĩ trên đời này thiếu gì người có tên như thế, hơn nữa chỗ này làm sao
mình có người quen được nên cậu chẳng thèm quay lại. Mãi đến khi có ai đó vỗ
vào vai cậu mới giật mình quay lại. Đang định nổi đoá với cái người vừa làm cậu
giật mình thì cậu lại há hốc mồm ra vì không phải ai khác mà là mấy cậu bạn
cùng học một lớp của trường điện Thái Nguyên.
Trông thấy dáng điệu bơ phờ
lôi thôi, lếch thếch của các cậu bạn làm cậu buồn cười quá, tý nữa thì sặc nước
lên mũi. Cậu nghĩ có lẽ mình cũng giống mấy cậu bạn này nên hết ngẩng lên lại
cúi xuống tự ngắm lại mình. Bắt tay nhau xong rồi tất cả lại cùng vừa đi vừa
trò chuyện. Chuyện ồn ào hơn cả là Thạch Văn Bát quê ở Yên Viên, Gia Lâm. Bát
mang ít đồ nên cậu ta đi rất khoẻ, kể chuyện như một cái máy. Lì xì ít nói hơn
cả là Nguyễn Văn Mở quê ở Vân Trì, Đông Anh. Mở vừa thấp lại vừa bé nhưng gói đồ
thì lại to quá trông cậu ta cứ như một cậu bé con.
3
Quãng đường đi cũng đã
dài mà hình như càng ngày người đi đường lại càng thưa hơn thì phải. Sau
khi vượt qua chiếc cầu sắt không có lan can được kê đỡ bằng những chồng tà vẹt
từ dưới sông lên thì lại đến một chiếc cầu sắt đầy vết đạn cùng những thanh lan
can cong queo rỉ đỏ, những tấm ván gỗ lát sàn bong ra rải rác trên mặt
thì các cậu không còn đường đi nữa. Đang thất thưởng vừa đi vừa ngó nghiêng,
đoán già, đoán non xem đây có phải là cầu Hàm Rồng hay không thì có một người mặc
quần áo gụ, dáng chừng là một nông dân vội vã đi ngang qua đầu cầu, thế là tất
cả đều xô lại để hỏi thăm. Người ấy cũng không dừng lại mà còn đi nhanh hơn, vừa
đi người ấy vừa trả lời:
- Đây chính là cầu Hàm Rồng
đấy, các anh mau đi nhanh xuống phía cầu phao Nam Ngạn mà sang. Bây giờ đã gần
đến giờ cao điểm, nó lại sắp đánh bây giờ đấy, mau đi nhanh lên!
Nghe đến đây thì các cậu mới
giật mình hoảng sợ vội vàng chạy một mạch bên dưới chân một hòn núi đá loang lổ
vết bom đạn để xuống đê tìm cầu phao Nam Ngạn. Đến khi qua được cầu phao rồi
các cậu mới thấy được cái sự mệt mỏi do quá gắng sức. Mãi cho đến lúc này Hằng
vẫn không khỏi ngạc nhiên về chuyện cái cầu và cả quang cảnh yên tĩnh trên suốt
quãng đường đi từ sớm đến giờ. Hằng không thể ngờ rằng mình đã vừa đến được Hàm
Rồng, nơi mà mới chỉ ít tháng trước đây được nhắc đến như là một nơi khốc liệt
của chiến tranh. Còn nữa, nơi mà cả nước ngưỡng mộ bởi những chiến công oanh liệt
vào loại bậc nhất trên miền Bắc của những con người và mảnh đất nơi đây. Cái ngọn
núi lở lói kia có phải là núi Ngọc hay không mà sao tất cả đều im lặng, bình thản
đến lạ kỳ.
Vừa đi vừa quay nhìn lại
nơi mình vừa mới đi qua Hằng nhận ra một khu vực nhà cửa khá đồ sộ nhưng đã bị
bom đánh trơ ra. Các bức tường gạch đỏ nham nhở vết thương bên cạnh là những
thanh sắt như những con rắn ngóc đầu uốn lượn thành những đường cong kỳ dị phô
cái màu rỉ nâu đỏ trông đến thảm hại. Từ xa nhìn lại ta như thấy cả sự hoang
tàn đổ nát của nó hiển hiện trên bầu trời màu chì xám ngắt, có cái gì đó làm
cho ta phải gai gai trong ý nghĩ về những gì rất nguy hiểm sẽ sắp sửa xảy ra.
Cầu phao là những đám tre
luồng, ván gỗ hỗn độn lát trên những thùng phao bằng thép nối vào nhau nổi trên
mặt nước. Những khi yên tĩnh các phao được chắp nối vào nhau cho người và xe đi
qua, những khi có máy bay thì lại được tháo ra sơ tán dọc theo hai bờ đê. Kể ra
mà nói thì đáng lẽ ra lúc này cầu đã phải tháo ra để sơ tán, nhưng vì thời tiết
hôm nay có vẻ xấu, giặc Mỹ cũng ít hoạt động vì thế nên cầu vẫn còn để đến bây
giờ. Số khách qua cầu cũng đã được nhắc nhở đi nhanh để cho các nhân viên tháo
cầu sơ tán.
Con đường đê nối từ đầu cầu
phía nam vòng vào giữa làng Nam Ngạn rồi đi tiếp lên phía thị xã chắc đã nhiều
lần được đổ đá nên bề mặt có vẻ cứng. Rải rác có các đoạn bị bom đánh đã lấp lại
nhưng vẫn tạo ra một khoảng lõm gồ ghề khá lớn chứa trong đó những ổ bụi ngập
qua mắt cá chân, mỗi lần có cậu dẫm phải lại làm cho cả bọn chạy té ra hai bên
để tránh. Vừa mới bắt đầu chạm vào đầu làng Nam Ngạn thì cả bọn gặp hai ông già
mặc áo bảo hộ đạp xe đạp từ phía thị xã đi ra. Hằng nghĩ có lẽ đây là những
công nhân ở trong khu vực này nên hỏi có thể họ sẽ biết cơ quan nhà máy điện ở
đâu. Nghĩ thế nào làm thế ấy cậu liền đứng ra gần giữa đường có ý ngăn họ lại để
hỏi thăm:
- Hai bác cho cháu hỏi thăm
một tý ạ? Hai vị khách mặc áo bảo hộ liền phanh xe dừng lại, một người cao lớn
có khuôn mặt rất vui cất tiếng sang sảng hỏi lại:
- Các anh hỏi gì nhỉ?
Hằng mau mắn trả lời:
- Chúng cháu ở trường điện
lực được cử về Nhà máy điện Thanh Hoá công tác mà tìm mãi vẫn không biết cơ
quan ở đâu, không biết các bác có thể chỉ đường hộ cho chúng cháu được không ạ!
- Thế hả! Chúng tôi là nhà
máy điện đây.
Bác cao lớn vừa trả lời vừa
chỉ tay vào người thấp nhỏ đi cùng với mình và nói như có ý giới thiệu:
- Bác này là bác Hổ tổ trưởng
tổ sửa chữa máy, còn tôi là Long tổ trưởng tổ sửa chữa lò. Có cậu nào học sửa
chữa lò không đấy?
- Dạ, chúng cháu đều là sửa
chữa ạ, có cả lò và máy.
- Thế thì tốt quá rồi, bây
giờ chúng tớ phải ra nhà máy, các cậu cứ theo con đường lớn này mà đi đến ngã
ba Bia thì hỏi thăm đến khu nông lâm thổ sản là nơi phân xưởng cơ điện sơ tán về
đó.
Nói xong hai ông già lại
giơ tay chào rồi tiếp tục lên xe đi ra phía đầu cầu. Tất cả mấy anh em cũng bắt
đầu cuốc bộ về phía thị xã Thanh Hoá.
4
Vừa đi vừa hỏi thăm mãi rồi
cũng đến được phân xưởng Cơ điện. Những người gặp đầu tiên lại chính là các cậu
cùng lớp quê ở Thái Bình và Nam Định. Sau một hồi líu ríu chuyện trò, hỏi han
nhau xong các cậu vào trước dẫn số mới lên gặp lãnh đạo trên phân xưởng. Không
may cho các cậu là ông quản đốc lại lên nhà máy để họp, thế là các cậu đành kéo
nhau về phòng của các bạn để nghỉ. Số bạn vào trước lại xuống nhà ăn báo cơm hộ
rồi cả lũ kéo nhau ra ngoài phố uống nước. Với cái phố thị xã thời chiến lúc
này thì cũng chẳng có gì đáng kể gọi là ngon để mà đãi nhau. Quanh đi thì nước
mía, quanh lại cũng chỉ có nước dừa, uống mãi chỉ tổ đầy bụng, thế là lại về
nhà. Mệt mỏi và buồn Hằng ngủ một mạch đến lúc mấy cậu bạn gọi đi ăn cơm mới dậy.
Xuống nhà ăn cậu thấy ai ai
cũng lạ, mỗi người đều có những bộ cặp lồng hoặc ít ra cũng có mấy cái bát men
to để đựng cơm canh và thức ăn mặn còn Hằng chẳng có một thứ gì. Đang không biết
xoay xở ra làm sao thì có một người mang đến cho mượn bộ cặp lồng men vàng, người
ấy lại bảo:
- Mấy thằng ấy nó ăn xong
đã kéo nhau đi chơi hết cả rồi, chú mang đồ vào lấy cơm ăn đi không có nguội.
Lúc ấy Hằng cũng không biết
anh ấy là ai, mãi đến sau này cậu mới biết người hôm ấy cho mượn cặp lồng là
anh Tảo làm trong tổ máy mà sau này cậu cũng về làm việc ở đó.
Mãi tới chiều hôm sau số
công nhân mới được phân xưởng bố trí về các tổ. Tất cả mọi người đều được bố
trí vào các tổ theo đúng với nghề của mình. Lò về Lò, máy về Máy, chỉ có một
vài người được về các tổ trong mô hình mới của phân xưởng ví như Thảo thì về tổ
Van. Cũng có một số vào trước thì lại bị bố trí sang phân xưởng vận hành như
Nhâm, Hưng, Vũ.
Hàng ngày các tổ đều phải
đi bộ từ nơi ở ra nhà máy để làm việc. Quãng đường đi cắt ngang một cánh đồng
khá rộng, vòng qua làng Đông Tác, bắt vào khe núi Cánh Tiên rồi mới vào nhà
máy. Trên suốt dọc đường là những hố bom sâu hoắm, cái mới giáp vào cái đã cũ,
nếu nhìn từ trên cao xuống ta cảm thấy giống như một cái bánh đa nướng với những
chỗ phồng lên xẹp xuống kề cận bên nhau.
Khu vực nhà máy còn bị tàn
phá càng ghê gớm hơn sau ba ngày từ hai mốt đến hai ba tháng chín năm sáu sáu.
Toàn bộ khu lòng chảo của nhà máy được bao lại bởi phía bắc là khu công nghiệp
máy xay cùng với đường đê nam sông Mã, phía tây là con đường sắt cùng với cầu
Chui chạy dọc chân núi Mắt Rồng, phía nam là dãy đồi Quyết Thắng và phía đông
là núi Cánh Tiên đã bị giặc Mỹ đổ xuống hơn bẩy ngàn tấn bom đạn. Theo như đài
địch tuyên truyền lúc bấy giờ là chúng đã huỷ diệt hoàn toàn nhà máy điện này của
Việt Cộng. Sự thật phải nói rằng hầu như toàn bộ mảnh đất đã bị cày xới, đào
ngoáy lên không còn sót một chỗ nào rộng quá chục mét vuông. Còn việc có huỷ diệt
được như kẻ thù đã nói thì hoàn toàn không, bởi vì sau đó không lâu nhà máy lại
đã phát điện trở lại. Có điều đáng nói là cho dù ác liệt là thế mà đơn vị vẫn
bám lò, bám máy để sản xuất, sự mất mát lớn nhất lúc ấy là sự hy sinh của
một người chiến sĩ tự vệ nhà máy.
Công việc sửa chữa chính
bây giờ là làm sao để nhà máy sớm đi vào hoạt động. Ngoài những việc tháo gỡ
các dầm xà bê tông nặng hàng dăm chục tấn ra khỏi các thiết bị còn có một việc
là phải hàn vá mấy miếng thủng trên mình nồi hơi. Đây là việc nan giải nhất cần
phải bàn bạc, bởi việc hàn vá nồi hơi là việc không được phép làm trong quy
trình quản lý và sử dụng các thiết bị áp lực.
Thực ra những người chủ
trương hàn vá nồi hơi không phải họ không biết điều đó, họ đã nghĩ rằng họ
có thể gặp điều không may do làm sai quy trình, nhưng họ hiểu sẽ còn không may
hơn là nếu không có điện phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu, thì rồi cái sự
tàn sát của kẻ thù còn làm cho cái sự chết chóc lớn hơn thế rất nhiều. Sự quả cảm
và ý chí quyết thắng đã cho họ có một tiếng nói chung là phải làm cho bằng được.
Ngay sau khi có chủ trương
hàn vá nồi hơi là công việc được tiến hành ngay. Những người cán bộ đảng viên
và những bộ phận có chuyên môn này được huy động tới mức cao nhất. Lực lượng
công nhân mới cũng được tập trung vào công việc ngay trong những ngày đầu tiên
về phân xưởng. Đắp lò, cắt phôi, nung phôi cho đỏ rực lên rồi dùng búa cái bẩy
cân thay nhau đánh xuống bề mặt những tấm tôn thép dày gần ba mươi ly để uốn
thành các tấm có hình cong phù hợp với hình dáng của nồi hơi. Rồi cắt gọt, tạo
vát, đánh bóng cả chỗ thủng lẫn miếng vá chuẩn bị cho công nghệ hàn vá. Sau này
Hằng được biết công việc ban đầu mà các cậu đã được tham gia ở một vài công đoạn
đã được thực hiện thành công và được ca ngợi hết lời trong ngành điện.
5
Những ngày sống ở ngã ba
Bia thật là náo nhiệt, náo nhiệt bởi đám trẻ mới từ vùng ngoài chuyển vào
ăn chơi, phá phách. Chỗ nào cũng thấy bóng dáng của họ lồ lộ ra bởi sự khác lạ
trong ăn mặc, đi đứng, nói cười, cả trong lúc đi làm việc cũng như trong khi họ
vui chơi. Nhất là những ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ, họ ở xa không thể về nhà
được, thế là từng đoàn kéo nhau đi rong khắp các phố từ sáng đến chiều.
Từ lâu nay những người dân ở
cái thị xã của khu vực giáp khu Bốn miền Trung này luôn sống rất bình lặng cả về
mọi mặt, thế mà chỉ sau có mấy ngày những cái đầu xoáy tây Đức, những bộ tóc
mai uốn cong, những đuôi tóc rậm rạp ốp vào gáy chờm ra cả bên ngoài cổ áo cứ bất
chợt xuất hiện làm cho lớp người lớn cảm thấy khó chịu khi gặp ngoài đường, còn
lũ trẻ mới lớn thì trố mắt ra mà nhìn với vẻ thích thú và tán thưởng, và
cũng không lâu sau đã gây phiền toái cho những ông thợ cạo về những yêu cầu
mới cho những cái đầu của họ. Lại còn quần áo của họ mới thật đáng sợ, có cậu
thì quần bó sát mông, sát cẳng, có cậu thì lại loè xoè với chiếc quần ống loe
mà lỗ miệng gấu quần rộng đến mức cả con lợn con chui vào cũng lọt.
Chỉ với mức lương bậc hai
thôi nhưng mỗi ngày đến nhà máy là mỗi người lại được thêm tiền đi đường, tiền
độc hại, tiền bồi dưỡng hiện vật thành ra mỗi ngày họ cũng được gần đến một đồng
nữa, nên lương của họ đã tương đương với lương của công nhân bậc năm chứ đâu phải
ít. Lẽ dĩ nhiên là họ tiêu pha xả láng bởi họ đều chưa có gia đình, chưa phải
lo toan cho ai khác ngoài cái bản thân của họ. Nhưng cái chính là họ xa nhà và
lại còn quá trẻ, cái sự ham chơi và cả cái bệnh sĩ diện, thích tỏ ra mình là
người sành điệu ăn chơi theo kiểu thành phố lớn mà ra. Kỳ thực thì đa số họ
sinh ra, lớn lên ở các vùng nông thôn là chính. Trước đó chưa lâu họ cũng
vẫn cày bừa, gặt hái lăn lê ngoài đồng ngoài ruộng như những người dân thôn quê
thực sự chứ cũng chẳng ghê gớm gì đâu. Tuy chơi bời vậy nhưng sự dũng cảm, lỳ lợm
trong bom đạn, sự cần mẫn, sáng tạo trong lao động sản xuất và các việc hoạt động
trong đời sống hàng ngày thì không ai có thể chê họ vào đâu được.
Công việc phục hồi nhà máy
gần xong về cơ bản thì việc phục hồi nhà máy thuỷ điện Bàn Thạch cũng đòi hỏi
phải nhanh chóng hoàn thành, thế là lại phải thành lập một bộ phận mới để làm
công việc này. Một chuyến ô tô tải với đủ cả người lẫn máy chồng chất lên đó để
đi lên Thọ Xuân làm việc đã khởi hành. Hằng và một số bạn ở các tổ khác cùng với
một số công nhân cũ đã lên Thọ Xuân ngay sau cuộc họp phân xưởng buổi chiều hôm
đó.
Sau khi dỡ hàng xong thì mọi
người được phòng hành chính của Bàn Thạch dẫn đi đến các nhà dân quanh khu vực
nhà máy để ở trọ trong những ngày phục hồi nhà máy. Hằng được dẫn đến một gia
đình ở ngay cạnh đường rẽ vào xí nghiệp Công nông của huyện Thọ Xuân cũng sơ
tán gần khu vực nhà máy. Cũng chỉ kịp ném cái túi du lịch bằng bạt cùng với
chăn màn quần áo xuống cái giường mà chủ nhà dành cho mượn xong là vác bát ra
nhà ăn để ăn cơm tối. Ngoài việc ăn uống các cậu trẻ còn chuyện vãn một lúc lâu
nên mãi tối mò mới về đến nhà trọ.
Rửa ráy xong xuôi Hằng mang
từ trong túi ra bàn một gói bánh nướng cùng với một gói nhỏ các loại kẹo của
công ty bánh kẹo Thanh Hoá làm ra và bán phân phối cho cán bộ công nhân nhà nước.
Gọi là bánh nướng cho sang vậy thôi chứ thực ra thì cái chất trong nó chẳng có
gì. Tất cả đều là bột mỳ trộn đường, ngào nước làm vỏ bọc một chút nhân bên
trong cũng bằng bột mỳ lẫn bột khoai với một tý đậu không biết là loại đậu nào
được trộn nhiều đường hơn một chút cho giống kiểu chè kho ở vùng ngoài rồi đem
nướng lên trong lò như nướng bánh mỳ vậy thôi. Còn kẹo thì càng thảm hại hơn nữa,
nó cũng được trộn bằng bột mỳ với đường rồi nhào lẫn với vài mảnh lạc rang, cán
ra cắt thành thỏi vuông bằng ngón tay cái bọc giấy vào là thành. Có lẽ nên gọi
nó là viên chè lam chế biến hơi khô thì đúng hơn, chè lam còn được làm từ gạo nếp
chứ kẹo của Thanh Hoá lúc ấy thì thật đáng ngại. Cánh công nhân trẻ vẫn
quen gọi loại kẹo này là gạch xỉ tro lò bởi nó tuy nhỏ nhưng màu của nó, dáng của
nó có cái kích thước rất tỷ lệ với viên gạch được đóng bằng xỉ lò với một chút
vôi rất chi là khiêm tốn. Kể ra mà nói thì lúc ấy có những thứ ấy cũng đã
là quý lắm rồi vì chỉ ở cơ quan nhà nước mới được phân phối còn ở ngoài thị trường
làm gì có mà mua vì vậy mà mấy đứa trẻ con nhà chủ vẫn rất say sưa ăn đến viên
kẹo cuối cùng, lẽ dĩ nhiên là các cô, các cậu nhí rất thích ông anh công nhân
trẻ và trắng như con gái vừa đến ở nhà mình.
Sau khi hỏi han về gia đình
rồi quê quán của người đến ở trọ xong cả ông lẫn bà đều xởi lởi thông báo về
hoàn cảnh của nhà để cho cậu khách bất đắc dĩ tiện trong sinh hoạt hàng ngày.
Qua thông báo của nhà chủ Hằng biết được nhà có người con lớn là một cô bé mới
độ mười sáu tuổi cao lều nghều vừa chạy ở đâu về là thụt ngay vào buồng với mẹ.
Thế có lẽ cũng tốt, cũng đỡ cho mình khỏi phải giữ ý, giữ tứ; một việc mà cậu vẫn
rất ngại từ trước đến giờ.
Máy thuỷ điện của Bàn Thạch
công suất rất nhỏ, cả ba máy chỉ có chín trăm ki lô oát, được đặt đứng xuyên
qua ba tầng nhà máy. Phần dưới cùng là buồng xoắn cùng với thùng côn, các cửa
hướng nước và ba cánh quạt của tua bin to như những cái nia. Phần giữa là cấu
trúc ổ trục định hướng bằng cao su cùng với các đường nước lọc bôi trơn cho trục
khi quay. Tầng trên cùng là máy phát điện cùng với thiết bị điều khiển và các
máy ngắt. Tất cả tầng trên được che chắn bằng một giàn gỗ xẻ xếp chồng lên mấy
lớp để phòng khi máy bay đánh phá không làm cho máy bị hỏng quá nặng. Lần đánh
phá vừa qua chỉ làm cho các thiết bị ngoài nhà máy bị hư hại, còn nhà máy chính
có lẽ chỉ bị nghiêng đi một chút thì phải. Tuy vậy công việc phục hồi
cũng không thể một sớm, một chiều mà xong được.
6
Các công việc phục hồi cuối
năm 1966 của nhà máy điện được kết hợp với việc vét đất cát trên lòng sông nông
giang khơi thông dòng chảy ở phía thượng lưu nhà máy do địa phương đảm trách
nên cùng một lúc có đến hàng mấy trăm người cùng làm việc trên một khu vực. Những
chàng trai, cô gái vừa làm vừa trêu ghẹo lẫn nhau, tiếng hò, tiếng hát ầm vang
tưởng như đất nước đang ở khung cảnh thanh bình nếu như thỉnh thoảng không có
tiếng rít của các máy bay Mic cất cánh bay lên từ phía sân bay Sao Vàng gần đó
để cảnh giới và chặn đánh bọn Thần Sấm, Con Ma của Mỹ vẫn cắn trộm hàng ngày.
Cũng chỉ không quá mười
ngày thì đám dân công của các xã quanh khu vực nhà máy cũng đã rút hết chỉ còn
trơ lại mấy người công nhân sửa chữa. Công việc phục hồi ở khu cửa điều tiết,
khu âu thuyền và cả các cửa cống thượng lưu tuy nhiều nhưng lại đơn giản nên số
công nhân sửa chữa cũng đã rút bớt về thị xã, chỉ còn bốn năm người của tổ máy
là phải ở lại. Trong số họ hầu như đều đã có gia đình cả chỉ còn ba người chưa
có gia đình thì trong đó Loan đã có người yêu sắp cưới, chỉ còn mỗi anh Khâu và
Hằng là chưa có một tý tình yêu nào. Kể ra mà nói thì cả anh Khâu cũng đã có ý
trung nhân rồi thì phải vì Hằng thấy các anh lớn vẫn nhắc đến để trêu anh Khâu
về một cô Hải nào đó ở cơ khí 250 và một cô Dung nào đó ở trên khối văn phòng của
nhà máy. Thường khi mọi người trêu, anh lại đưa hai tay ra khoanh một vòng từ
trên xuống dưới vẽ ra một không gian dựng đứng thắt nhỏ ở giữa còn hai đầu thì
phình ra cực lớn ý chừng như muốn bảo rằng mấy cô này lùn tịt còn mông và ngực
thì lại quá to nên khó chấp nhận được. Chỉ có Hằng là hoàn toàn chưa yêu ai cả
nên cậu rất vô tư luôn chỉn chu với công việc hàng ngày.
Sau tám tiếng ban ngày lại
đến bốn tiềng ban đêm, về đến nhà là cậu lăn ra ngủ không còn biết giời đất là
gì nữa. Kẻng báo động máy bay khua ầm khắp xóm mà cậu cũng chẳng chịu ra hầm. Hết
bác trai lại đến bác gái chủ nhà vào dựng dậy cậu cũng chỉ nhỏm dậy một tý rồi
lại ngã kềnh ra giường ngủ tiếp. Cũng có lần cậu bị đánh thức thì bất chợt thấy
cô bé Hương con nhà chủ đang lôi tay kéo dậy. Lần ấy vì thấy cô ấy cầm tay kéo
nên cậu đành phải dậy đi ra hầm, tuy vậy nhưng mà cậu cũng chỉ ngồi ngay trên
miệng hầm mà không chịu xuống bên dưới.
Công việc sửa chữa khó khăn
nhất là việc căn chỉnh độ thẳng đứng của cả hệ trục và độ trùng tâm của các đoạn
trục nối với nhau mà từ trước đến nay chưa phải động đến. Lần này do bị đánh
phá nên hệ trục bị sai lệch quá nhiều, nếu không điều chỉnh lại thì không ai
dám quyết định cho chạy máy.
Việc căn chỉnh độ thẳng đứng
và độ đồng tâm của hệ trục được tiến hành bằng cách đo khoảng cách từ trục ra đến
các sợi dây dọi nằm ở bốn hướng quanh trục để biết độ sai lệch mà điều chỉnh.
Việc đo đạc, lấy thông số thường phải làm rất lâu mới xong. Nhưng để có thể căn
chỉnh được thì sai lệch của thông số trong quá trình đo đạc phải ở trong giới hạn
cho phép mới có thể đem ra tính toán được. Việc này không phải là một việc khó,
nhưng lại cần ở người đo có độ thính nhạy và thật sự đồng bộ giữa đôi tay và
đôi tai để đến khi vừa nghe thấy tiếng kêu sột soạt ở tai nghe là dừng tay vặn
Panme thì con số sẽ chính xác. Tuy vậy cái sự thính nhạy ấy không phải ai cũng
giống ai. Chính vì thế mà những người đo có kinh nghiệm nhất cũng chỉ có thể
tóm được một vài lần trong cả chục lần đo. Cái sự căn chỉnh buộc phải kéo dài
có khi cả ngày mà vẫn không xong là thế.
Sau mấy ngày Hằng cầm các cục
pin và tai nghe theo sát người đo mà vẫn không xong được máy nào thì cậu cũng
thấy nản. Lắm khi ngồi chờ đo buồn ngủ đến ríu cả mắt lại. Cứ mỗi lần thay đổi
vị trí là anh Khâu và anh Dưa lại phải gọi cậu dậy để chuyển chỗ. Mỗi lần bị gọi
dậy cậu lại lơ ngơ như mới lạc ở đâu về làm cho các anh ấy buồn cười đến rũ cả
ra:
- Bò lạc của nông trường
đây, chúng mày ơi!
Đo chán lại nghỉ uống chè
và hút thuốc lào, nước thuốc xong rồi lại đo nhưng cũng chẳng hơn gì.
Cũng đã mấy ngày rồi mà vẫn chưa xong lấy một tổ máy, ai cũng thấy mệt mỏi. Vừa
hút xong điếu thuốc anh Khâu vừa thở vừa phàn nàn về công việc với vẻ chán chường,
mệt mỏi. Lưng dựa vào thành Stato máy phát điện, hai chân để soải ra trên mặt đất
anh Khâu ngoái đầu về phía Hằng:
- Này! Da tay mày có vẻ mỏng,
lần này cho mày đo thử để tao cầm pin cho.
Suốt mấy ngày phụ đo vừa rồi
cậu cũng đã hiểu cách đo rồi nên nghe nói vậy cậu cũng chẳng từ chối mà đứng
lên để đo ngay. Cũng phải mất một lúc lâu cậu mới đo xong tám điểm đo.
Anh Khâu đặt bộ pin xuống để cầm lấy bản ghi các thông số của cậu rồi anh lại bỏ
ngay bên cạnh đó để hút thuốc lào vẻ như không tin là cậu ta có thể đo được.
Đang nói chuyện với mấy người
ngồi cạo rỉ cho đỡ buồn ngủ phía cửa ra vào thì nghe anh Khâu gọi váng lên:
- Này, cậu ghi chính xác đấy
chứ?
- Vâng! Em ghi đúng như khi
đo từng điểm một mà lại!
- Thôi lần này cậu đo xong
rồi cậu đọc cho tớ ghi xem sao.
Cũng chỉ trong một thời
gian ngắn cậu đã đo xong tám điểm trên trục, lần đo này có vẻ còn nhanh hơn lần
trước. Vừa tháo tai nghe ra, cậu đang định chạy đến chỗ mấy anh bạn để tiếp tục
câu chuyện dở lúc nãy thì anh Khâu lại gọi giật lại:
- Chớ đi vội, cậu đo lại
cho tớ một vài điểm này nữa xem sao.
Hằng lại tháo dây buộc
Panme đo theo chỉ dẫn của anh Khâu, có đến bốn điểm nữa thì anh Khâu mới bảo dừng
lại và ra hiệu cho cậu đi ra. Sau một hồi tính toán anh lại gọi cậu lại và bảo:
- Này cậu đo ghi đúng đấy
chứ?
- Anh ghi đấy chứ có phải
em đâu!
- Ừ! ấy là tớ bảo cậu không
được đọc số giả đấy nhé!... Kẻo đến khi máy hỏng là cả tớ và cậu đều vào nhà đá
tất.
Dừng một chốc anh Khâu lại
nói tiếp:
- Thôi, hôm nay thắng lợi
cho các cậu nghỉ sớm.
Nhìn đồng hồ trên tường thấy
đã bốn giờ, tất cả đều vòng xuống hạ lưu để rửa tay rồi ra về. Suốt cả mấy ngày
vật lộn với căn chỉnh, mãi đến hôm nay mọi người ra về mới cảm thấy nhẹ nhõm đi
đôi chút.
7
Chiều thứ bẩy hôm nay tất cả
nhóm được xả hơi sau gần một tháng làm liên tục cả ngày sang đêm không nghỉ. Cái
chính là muốn cho một số anh em ở gần về qua thăm nhà chứ còn cái bọn thân đơn,
gối chiếc như Hằng thì chỉ muốn làm nhanh cho xong để về thị xã cho sớm. Hình
như mấy hôm trước anh Côn bên vận hành có hẹn Hằng ở nhà để nói điều gì thì phải,
thế mà đã gần hai giờ chiều rồi vẫn chưa thấy đâu. Chờ mãi sốt ruột Hằng quyết
định đi lên huyện và một vài nơi quanh khu vực xem có gì hay không.
Vừa dạo bước trên bờ đê Hằng
vừa nghĩ nếu như không có chiến tranh phá hoại mà Mỹ đang tiến hành ở trên miền
Bắc thì có lẽ không khí nơi này chắc cũng rất vui. Làm sao không vui cho được với
một vùng quê đẹp tựa tranh như thế này. Làng Tây Hồ ở bên trái còn làng
Xuân Quang ở về mé bên phải của con sông nông giang tràn ngập một màu xanh ngăn
ngắt của dừa và các cây ăn quả khác. Xen kẽ với những tán cây là những mái nhà
lợp lá kè bàng bạc cùng với một đôi làn khói đang lên, ta như thấy có một cái
gì đó thật là gần gũi, gắn bó và thân thiết như chính nơi quê hương của mình vậy.
Lại nhớ hôm nào mới đến, dòng sông nông giang nước trong xanh chảy chầm chậm
bên dưới chiếc cầu xi măng uốn cong bắc qua trông thật nên thơ. Một vài con đò
nhỏ lách cách gõ mái chèo đuổi cá. Cũng có lúc thì cả một đoàn các bè tre nứa,
luồng gỗ nối đuôi nhau dừng trước âu thuyền để chờ dâng nước vào âu đi tiếp xuống
phía hạ lưu. Từng đàn trâu bò gặm cỏ trên các triền đê thoai thoải giống như
trên nền một tấm thảm xanh được gắn vào đấy những bông hoa chấm vậy. Xa xa hơn
nữa là những dãy núi nhấp nhô mờ trong sương khói trông thật huyền diệu. Thật
may mắn cho những người có một vùng quê đẹp như thế làm nơi chôn rau, cắt rốn.
Phố huyện Thọ Xuân cũng chỉ
có một vài ngôi nhà của các cơ quan huyện và các cửa hàng là to lớn hơn cả. Các
ngôi nhà dân thì nhỏ bé, kế tiếp nhau chạy dọc con phố. Có đến hơn một nửa số
nhà dân vẫn là nhà tranh, lá lụp xụp. Ngay tại trung tâm huyện là nơi tập trung
một số cửa hàng của nhà nước như cửa hàng hàng thực phẩm, cửa hàng bách hoá, cửa
hàng công nghệ phẩm xen kẽ cạnh nhau. Hàng hoá chủ yếu được công ty cấp ba phân
phối về để cung cấp cho các cơ quan. Qua hết đợt phân phối là hàng lại hết sạch
không còn gì cả. Các hàng lẻ của tư nhân cũng chẳng lấy gì làm phong phú cho lắm,
vì hàng ở đây cũng đều do được tuồn từ nơi sản xuất của nhà nước ra là chính.
Người bán cũng chỉ muốn ăn chênh lệch một chút gọi là đối với những người
không có tiêu chuẩn cung cấp.
Toàn bộ cái thị trấn ở vùng
trung du này nằm trong diện gần như nghèo nàn nhất trong cả nước. Có lẽ do sống
trong cảnh thời chiến nên họ cũng chẳng muốn củng cố, xây dựng làm gì, vì nay
bom, mai đạn chả biết có được nguyên vẹn hay không. Sau khi vào hàng kem mậu dịch
ăn vài cái cho đỡ nhớ Hà Nội rồi Hằng lại cuốc bộ để về Bàn Thạch.
Cũng đến nhá nhem tối Hằng
mới về được đến nhà ăn tập thể. Bác Trường cấp dưỡng mang cho Hằng một bát cơm
to và một bát canh rau ngót, một chốc bác mới lại mang ra cho cậu một đĩa thịt
kho, bên cạnh lại còn có một khúc cá nheo hầm lá riềng thơm phức.
- Bác Trường ơi! Sao hôm
nay phong phú thế?
- À chả là cậu về hơi muộn
nên tớ để dành hơi khá hơn một chút!
- Thế thì hôm sau cháu lại
về muộn.
- Còn có hôm sau nữa ấy à!
Có mà tớ cho cậu nhịn vì tớ cũng phải về nhà với vợ con tớ chứ.
Đến lúc này cậu mới nhận ra
là cậu đã làm phiền bác Trường thì chuyện đã rồi. Cậu vội nói như là có ý xin lỗi
bác:
- Đến lúc đó bác cứ treo
ngoài bờ rào cho cháu!
- Thế có mà…!
Bác Trường vừa nói đến đây
thì đã nghe ồn ồn ngoài cửa nhà ăn, đúng là giọng ông Khâu rồi! Không biết có
chuyện gì mà hối hả thế không biết được. Vừa thò đầu vào cửa nhìn thấy Hằng là
anh đã phán một thôi một hồi làm cho Hằng không kịp hiểu điều gì ra điều gì cả.
- Này cậu có biết người ta
đợi bao lâu không hả?
- Chiều nay anh cho nghỉ cơ
mà? Có việc gì đột xuất thế anh?
- Này cậu cũng thiên biến vạn
hoá vừa vừa chứ, hôm nọ mới bảo chưa có cô nào thế mà hôm nay có đến hai cô đến
hỏi thăm có chết không chứ?
- Anh nói thế nào chứ mãi
hôm nay em mới được đi chơi làm gì có quen ai mà có người đến hỏi thăm! Có
chăng là mấy cô dân công ở Xuân Thành hôm vào thau bể lọc thì anh cũng biết rồi
còn gì? Với lại hình như họ có cảm tình với anh thì đúng hơn chứ không phải cảm
tình với em.
- Chả lẽ cái cô Ba, Tư nào
đấy tròn như cái hạt mít ấy lại không phải là bạn của cậu?
- Làm gì có! Em thề đấy!
- Hay là cô ấy hỏi thăm Hằng
gò nhỉ? À mà hai cô này là do ông Côn điếc miền Nam dẫn đến mày ạ.
8
Cơm nước xong cả hai anh em
lại cùng ra về. Vừa đi Hằng vừa nghĩ chả lẽ anh Côn hẹn mình chiều nay đến là
vì việc của hai cô này. Không có thể thế được, vì từ khi mình vào Thanh Hoá
mình chưa quen ai, chắc có lẽ là hai cô này quen một Hằng nào khác mà anh Côn
ngộ nhận là mình. Mọi việc rồi cũng qua đi, mãi cho đến chiều hôm sau đang định
theo hẹn đi chơi với mấy anh ở vận hành thì anh Côn đến, anh Côn đến còn dẫn
theo hai cô gái thật, đúng là hai cái hạt mít như anh Khâu nói tối qua. Nhìn xa
thì thấy hình như hai người này cũng hơi quen quen nhưng không làm sao nhớ ra
được. Mãi đến khi ba người vào đến cửa rồi mà Hằng vẫn như người mộng du ở đâu ấy.
Chỉ đến khi một cô gái bật quát lên:
- Không nhớ à! Tuyn, Tuýt,
Tư đây! Đã nhận ra chưa?
Đến lúc nay thì Hằng mới bừng
tỉnh và nhận ra mấy cô gái Thanh Hoá cùng học năm lớp bẩy hồi nào.
Ngày ấy ba cô gái quê Thanh
theo người nhà ra Hà Nội sơ tán. Chả biết thế nào lại vào học cùng lớp với Hằng
ở tận trường Cổ Loa. Tuy Hằng không quen thân lắm nhưng mà cũng đã có lần họ đến
thăm nhà của Hằng. Lúc ấy họ có nói quê ở Thanh Hoá nhưng Hằng chẳng để tâmN,
chỉ là nghe rồi biết vậy mà thôi. Thế mà làm thế nào quả đất quay tròn họ lại gặp
nhau tại nơi xa tít mù tắp này cơ chứ?
- Này thế còn Tuyết cao đâu
mà không thấy?
- Tuyết cao ở lại học tiếp
cấp ba, chỉ có mình và Tư là về nhà thôi.
- Thế chả lẽ quê của các bạn
lại ở đây à? Từ ngày ấy đến giờ các bạn đã làm gì rồi?
Cả hai đều gật đầu thay cho
câu hỏi, mãi sau rồi Tư cũng lại trả lời tiếp:
- Bọn mình về giúp nhà làm
ruộng thôi… Mãi hôm rồi nghe anh Côn nói có cậu ở Cổ Loa vào mình đoán ngay là
cậu nên ra thăm xem đã có gì đổi mới chưa!
Tư vừa nói chửa dứt lời thì
Tuyên đã cướp lời nói tiếp:
- Này, đợi suốt cả chiều
hôm qua mà không thấy về. Chắc đã có cô nào ở gần đây hay sao mà đi kỹ thế
không biết?
Mấy người bạn đã lâu mới được
gặp nhau nên có không biết bao nhiêu là chuyện. Hết người này lại đến người kia
hỏi rồi trả lời. Đầu tiên là hỏi về những người đang có mặt, tiếp sau đó là hỏi
và trả lời về những người bạn mà họ cùng quen biết. Hằng cho họ biết ngoài Hằng
có mặt ở Thanh Hoá còn có cả Nội, Thảo ở lớp 7A cũng đã vào Thanh nhưng họ còn ở
Hàm Rồng. Cánh trẻ mải chuyện đến nỗi gần như quên hẳn sự có mặt của anh Côn,
mãi đến một lúc lâu sau anh Côn mới có dịp chen vào câu chuyện được. Bằng giọng
nói đặc sệt của vùng quê Nam Bộ anh kể về cuộc gặp của anh và Hằng. Cũng qua
câu chuyện của hai người mà anh biết được Hằng có quen với mấy cô gái của làng
Tây Hồ. Bất ngờ hơn cả là việc anh chính là chồng chị Lượng là cán bộ phụ nữ ở
xã Dục Tú của Hằng. Đến lúc ấy thì Hằng mới hiểu ra mọi sự. Thì ra bữa trước
hai anh em kể cho nhau nghe về chuyện của mỗi người thì anh đã biết cái sự quen
biết của mấy người rồi mà anh không nói gì cho Hằng biết, có lẽ anh muốn để cho
Hằng bị bất ngờ như thế mới vui. Câu chuyện lại được chuyển sang những đề tài mới
kéo dài đến mấy tiếng đồng hồ mà hình như vẫn chưa cạn. Đến gần bốn giờ thì anh
Côn nói anh phải đi ca chiều nên anh sẽ về trước, anh dặn Hằng đưa Tuyên và
Tư về sau.
Cứ mỗi lần nhìn hai cô gái
Hằng lại bật cười chả là vì ngày ấy ba cô gái Thanh vào lớp học, Hằng có hỏi
tên của từng người để ghi vào sổ điểm thì cô Tuyên đã mau mồm, mau miệng chỉ
vào từng người rồi cất đúng cái giọng Thanh Hoá của mình lên để giới thiệu:
- Tôi là Tuyn, đây là Tuýt
còn đây là Tư…
Tuyên cũng mới chỉ nói đến
đó thì tất cả những người đứng xung quanh đều đã bật cười ầm cả lên. Chả là vì
tên của họ khi nói bằng tiếng Thanh Hoá đều mất đi chữ Ê thế nên các bạn vùng
ngoài mới bật cười như thế.
Chuyện thêm được một lúc nữa
thì cả hai cô cũng từ biệt để về. Hết chào đi, chào lại rồi lại hẹn đến chơi
nhà mãi rồi mới chia tay được. Hai cô chắc là sợ bạn bè biết được sự quen biết
này sẽ lại trêu đùa nên không cho tiễn mà chỉ tự mình đạp xe lai nhau về. Với lại
nếu Hằng muốn đi tiễn thì cả ba sẽ lại cùng đi bộ vì Hằng đã làm gì có xe đạp.
Đến lúc ăn cơm buổi tối thì
Hằng phải chấp nhận sự quen biết hai cô gái tròn như hai cái hạt mít với anh
Khâu và tất cả mọi người. Tất nhiên là cậu lại phải kể toàn bộ câu chuyện ban
chiều cho cả nhóm cùng nghe. Vừa nghe kể một số anh trong nhóm cũng lại
xen vào trêu cợt:
- Này cậu nói thế nào ấy chứ?
Đã học mãi với nhau, lại đến nhà nhau rồi thế mà lại nhanh quên đến thế cho được!
- Thì em nói thật mà lại!
- Thế nào mà chả có tý cảm
tình hay là cậu định giấu chúng tớ thì bảo. Này đến lúc có chuyện gì… thì đừng
có bảo chúng tớ đứng ra giúp đấy nhé!
Mọi người đều cười ồn cả
lên rồi kéo nhau ra nhà máy làm thêm giờ buổi tối.
9
Công việc phục hồi kết thúc
xong thì cũng đã vào ngày hai mươi sáu tết. Những đồ dùng nặng chuyên dụng đã
được lau chùi bàn giao cho anh Đà là công nhân sửa chữa theo ca của Bàn Thạch cất
vào kho của nhà máy. Một số dụng cụ cầm tay thì anh em có xe đạp đã chở về Hàm
Rồng từ chiều hôm qua. Cả nhóm chỉ còn ba anh em Khâu, Hằng và Loan ở lại chạy
nghiệm thu rồi chờ xe lên đón về sau.
Việc nghiệm thu cũng rất
nhanh chóng vì phần cơ sử lý tốt hơn hẳn so với mọi lần. Máy chạy êm không hề
có một tý rung động nào. Việc hòa điện lên lưới của máy thuỷ vốn đã rất dễ nay
lại càng nhanh hơn. Cánh anh Tiếp kều nhận máy cười tươi rói bắt tay cánh cơ điện
ra ý chúc mừng.
Ba anh em chờ suốt cả ngày
hai bẩy sang ngày hai tám tết vẫn chẳng có xe. Mãi đến gần tối ngày hai tám ông
Huy quản đốc mới báo tin là phân xưởng Cơ điện đang phải tập trung sơ tán khỏi
thị xã lên cây số tám Rừng Thông nên không có xe, các anh em ở lại qua tết hãy
về. Vừa buồn, vừa chán, mấy anh em đi rong khắp nơi quanh khu vực rồi lại về ăn
cơm ở bếp tập đoàn. Xung quanh khu vực từ các nhà dân đến nhà công nhân cơ khí
huyện cũng đang ráo riết chuẩn bị cho đón tết. Nào là các mặt hàng về thực phẩm,
hàng nhu yếu phẩm và cả đến những hàng xa xỉ phẩm dùng cho tết cũng đã được bày
đặt đầy ở các chợ. Các cơ quan cũng đã tổ chức đi lấy hàng từ các cửa hàng công
nghệ về cho đơn vị của mình. Chỉ có ba anh em là phất phơ đây đó chả biết làm
gì.
Tối ấy Hằng đi ngủ muộn nên
đến sáng hôm sau trời sáng rõ rồi mà cậu vẫn còn ngủ say mê mệt. Các bác nhà chủ
cũng không muốn gọi cậu dậy sớm vì họ nghĩ cậu phải ngủ bù đợt phục hồi vừa rồi.
Vẫn đang còn say sưa trên giường thì đã thấy anh Khâu vào kéo dậy.
Vừa bị dựng dậy, còn ngái
ngủ nên Hằng chẳng biết anh Khâu vừa thì thầm bên tai điều gì. Mãi đến hơn mười
phút sau cậu mới hiểu ra câu chuyện anh Khâu kể về nội dung cuộc họp của bộ phận
công đoàn Bàn Thạch bàn soạn về việc tết cho mấy anh em bên Cơ điện mà anh nghe
được tối qua. Chả biết cái sự bàn bạc có những ý kiến thế nào mà anh Khâu bảo
anh đã nghe được có một vài ý kiến không vui vẻ lắm khi phải chia sẻ hàng
tết cho số khách bất đắc dĩ là cánh ta.
Không ai còn lạ gì hoàn cảnh
của cả nước trong những năm tháng chiến tranh. Cho dù chỉ là vài cân ngô răng
ngựa mọt mang ra để trợ cấp thôi cũng phải xét lên, xét xuống mới xong được, huống
hồ đây lại là những hàng nhu yếu phẩm phân phối theo tiêu chuẩn của từng người,
làm sao mà chẳng có ý kiến lên, ý kiến xuống. Tuy vậy khi nghe nói có một người
nào đó cứ cân lên, đặt xuống một cái việc rất chi là vật chất mà lại dính dáng
đến mình thì cũng chẳng lấy gì làm hài lòng cho lắm. Cũng chính vì thế mà sau
khi nghe đến câu chuyện trên thì tất cả ba anh em đã quyết định đi bộ về đơn vị
cũ để tránh làm khó dễ cho đơn vị bạn. Thế là sáng hai chín tết năm 1966 ba anh
em khăn gói quả mướp cuốc bộ gần bốn mươi cây số để về thị xã.
Ngay từ tám giờ sáng cả ba
người đã bắt đầu khởi hành. Đầu tiên đi dọc theo sông nông giang trước nhà máy
để xuôi về Hậu Hiền rồi về tới Ngã ba Chè và đến gần sáu giờ tối hôm đó thì về
đến cây số tám Rừng Thông. Phân xưởng cũng vừa hoàn thành chuyến di chuyển cuối
cùng về sân kho của một địa phương cạnh đường. Ông Tư quản đốc cũng chỉ kịp gặp
bắt tay, hỏi han qua loa ba người xong là lại tiếp tục chỉ đạo công tác quản lý
số hàng ở sân kho. Hàng nhiều nhất chỉ là của bộ phận cơ khí còn các tổ khác
thì chẳng có bao nhiêu. Sau một hồi giúp các tổ thu dọn vật liệu xong thì Hằng
mới đi về nơi ở của tổ ở trong làng Bản Nguyên. Trời thì tối nên Hằng chả biết
cái làng ấy nó rộng hẹp, đẹp xấu ra sao, mãi đến khi vào gia đình ở trọ thì Hằng
mới nhận ra số anh em trong tổ qua ánh đèn dầu. Vừa đặt túi du lịch và các đồ
dùng xuống là cậu ngồi bẹt ngay xuống đất mặc kệ anh chủ nhà kêu đứng lên để
anh giải chiếu.
- Anh cứ mặc kệ em, người
em bẩn lắm, vừa rồi em lại bê vác một số đồ đạc cho tổ cơ khí nên cả tay cũng bẩn
lắm.
Sau khi đã sắp xếp các bộ
phận đâu vào đó thì cũng đã hơn mười giờ. Hằng được bố trí nghỉ ngay tại nhà anh
chị chủ vừa đến mà không phải chuyển đi, thế là cậu lăn ngay ra ngủ một chập đến
tận sáng hôm sau.
Tết đến mà như không ai biết
gì về tết, người ta vẫn phải đi chuyển đồ đạc, còn nhân dân trong vùng thì cũng
đang củng cố hầm hố để đề phòng giặc Mỹ leo thang gay gắt hơn trong thời gian tới.
Bên cạnh đó lại còn việc phải cấy xong lúa chiêm xuân và các hoa màu khác nên hợp
tác cũng chỉ nghỉ có hai ngày tết mà thôi. Tết thời chiến cái gì cũng gấp rút,
cái gì cũng gọn nhẹ, cái gì cũng giảm tiện.
Thế là lần đầu tiên trong đời
Hằng ăn tết ở xa nhà, xa những người thân. Tết mà như là không tết (!)
10
Những ngày tết đi qua thật
nhanh chóng, tất cả mọi người lại tiếp tục với những công việc thường ngày của mình.
Những trận đánh phá của kẻ thù ngày một dầy thêm, ngày một ác liệt thêm. Rất
nhiều nơi xung quanh khu vực Hàm Rồng bị thiệt hại về người và của. Những trận
địa pháo phòng không bố trí ở trên các đỉnh đồi hàng ngày phơi lưng ra để hứng
những trận mưa sắt thép, rất nhiều các chiến sĩ đã hy sinh. Nhưng cũng chính những
con người quả cảm ấy đã từng ngày giữ vững cây cầu nối liền huyết mạch giao
thông từ Bắc vào Nam, từng ngày ghi thêm những chiến công vào trận chiến lớn
lao của cả dân tộc trong cuộc đối đầu với tên giặc hung dữ nhất của thời đại.
Không chỉ có những chiến sĩ
trực tiếp đánh giặc ở phương Nam, không chỉ những chiến sĩ ngồi trên mâm pháo bắn
vào kẻ thù, còn cả những người lao động cũng ngày đêm đứng ở nơi trận địa ác liệt
nhất để giữ vững công việc sản xuất ra thóc, gạo, ngô, khoai, thịt, cá, muối,
rau nuôi sống mọi người họ cũng đã như những người lính xung trận góp phần vào
chiến thắng chung to lớn ấy.
Những người công nhân ngành
điện lại càng gặp nhiều nguy hiểm, khó khăn hơn khi kẻ thù ngày đêm nhằm vào những
nơi như thế để mà đánh phá, để mà huỷ diệt. Mỗi ngày từng kíp thợ lần lượt thay
nhau vào cái pháo đài đầy thương tích để sửa chữa và vận hành khối bê tông, sắt
thép ấy để tạo ra năng lượng điện phục vụ cả xã hội. Tất cả những người từng hiểu
biết về công việc của những người thợ điện đều yêu mến và cảm phục về sự quả cảm
của những người thợ chiến sỹ trong cái “Pháo đài 44 anh hùng” trên quê hương của
họ.
Từ mấy năm qua bọn giặc trời
đã đánh hàng trăm trận bom vào khu vực cầu Hàm Rồng và những vùng lân cận. Nhà
máy điện cũng là một mục tiêu mà bọn giặc luôn tìm cách huỷ diệt nên không lần
nào đi ngang qua mà chúng không sẻ cho nhà máy một vài loạt bom, Rốckét. Điều
đó cho thấy khi bước chân vào nhà máy những người thợ cũng không khác gì một
người lính xung phong cảm tử. Người ta có thể nói về việc quen thuộc của con
người đối với môi trường và sự vật chứ còn nói là quen thuộc với hiểm nguy và
chết chóc nghe ra thật khó chấp nhận. Tuy vậy một khi chung sống với hiểm nguy
và chết chóc nhiều cũng làm cho người ta dạn dĩ hơn, thông minh hơn và biết
cách tránh được một phần những điều không may mắn.
Cũng phải nói rằng sự hy
sinh, quả cảm của mỗi người cộng với sức lôi cuốn của cả một cộng đồng to lớn với
phong trào sản xuất, chiến đấu vì Tổ Quốc đang sôi lên trên cả nước đã tiếp sức
cho họ, nên suốt mấy năm qua chưa có một người công nhân thợ điện nào chịu rời
bỏ vị trí công tác của mình, mặc dù họ biết có thể chỉ ngày mai thôi họ sẽ
không có mặt trên đời này nữa.
Sớm nay 12 tháng 6, trời có
vẻ trong sáng hơn mọi ngày thường, những ngày tháng sáu là những ngày có thời
gian ban ngày rất dài. Cũng chỉ còn gần mười ngày nữa là gặp ngày hạ chí, ngày
dài nhất trong năm. Mọi ngày bằng giờ đã nghe bộ đội trên đồi pháo báo động đến
cả chục lần, vậy mà hôm nay lại có vẻ im ắng khác thường. Những biểu hiện như
trên dường như lần nào cũng dự báo có sự việc nghiêm trọng sẽ xảy ra.
Lãnh đạo đơn vị cũng đã mấy lần qua các nhóm nhắc phải sẵn sàng đến nơi trú ẩn
gần nhất và nhanh nhất khi có báo động. Trong cả cái khối hộp gạch và bê tông sứt
sẹo ấy cũng chỉ có khu hầm lò là có vẻ chắc chắn hơn một chút, còn tất cả đều mỏng
manh chỉ cần có một vật nặng độ vài tạ rơi xuống là đã xuyên thủng mái nhà rơi
xuống đến tận mặt sàn tầng trệt, huống hồ nếu là một trái bom với sức công phá
lớn thì chẳng chỗ nào có thể chịu nổi, kể cả cái hầm lò vừa nói trên kia.
Những người công nhân họ
thường nói đùa với nhau rằng hôm nay chưa chắc bọn giặc đã đến, đến chưa chắc
đã đánh vào nhà máy, đánh vào nhà máy chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã
vào nóc lò, vào nóc lò chưa chắc đã nổ, nổ chưa chắc đã phá được xuống đáy, xuống
đáy chưa chắc đã có thể chết hết được. Thế rồi tất cả cùng cười, cùng động viên
lẫn nhau và rồi chả bao lâu sau đã nghe tiếng kẻng báo yên của bộ đội từ trên đồi
Quyết Thắng, họ lại tiếp tục với các công việc như không có chuyện gì xảy ra.
Những năm tháng ấy thật hào
hùng và thật tươi đẹp. Mỗi người như mỗi bông hoa tươi, trên từng cánh của nó hầu
như không có một tý dập nát, một tý đốm lạ mầu, và cả không có một mảy may quăn
mép. Những con người ở vào những năm sau này sẽ đáng tiếc biết bao khi đã không
một lần được sống trong những phút giây như thế, cho dù họ có thừa mứa về điều
kiện vật chất và những điều kiện hiện đại khác mà ngày đó chưa có được.
Không khí yên tĩnh kéo dài
thường làm cho người ta dễ sinh chủ quan, mất chủ động và chỉ mới chưa hết nửa
hồi kẻng báo động từ đồi pháo thì đã nghe thấy tiếng nổ ùng ục khắp bốn xung
quanh nhà máy. Chưa kịp bám vào cây cột bằng ống kẽm vẫn dựng ở chỗ lỗ thủng của
nền tầng hai cho các công nhân tụt xuống đã nghe từ phía trước nhà máy có tiếng
đổ rất nặng. Vật gì có thể tạo ra được âm thanh nặng nề đến vậy, nếu không phải
là cái ống khói của nhà máy bị đổ. Vừa kịp nghĩ đến đó thì cả cái hầm lò đã tối
đen như mực, bụi than, bụi gạch phả đầy cả vào mồm. Cái câu “chưa chắc đã
trúng” có lẽ không còn hiệu nghiệm nữa, thế nhưng hình như tất cả chưa ai làm
sao cả thì phải. Có nghĩa là “trúng cũng chưa chắc đã làm sao…” vẫn hiệu nghiệm
đấy chứ.
Những hồi kẻng báo yên đã
vang lên và bụi khói trong hầm lò cũng tan dần, mọi người cũng đã nhìn thấy
nhau. Trời ơi! Thật là kinh khủng! Tất cả đều đã đen thui kể cả da thịt lẫn quần
áo, không còn ai nhận ra ai. Tiếng nói thì khẳn đặc thành ra mọi người nhận ra
nhau chỉ còn cách dự đoán qua khổ người và hình dáng đi đứng riêng hàng ngày mà
thôi.
Cột ống khói cao tướng hàng
ngày đã đổ gẫy ra làm mấy khúc, cứ như ai đó nhặt ở đâu những vòng cống khổng lồ
đem về đặt trước nhà máy. Một trái bom hai trăm năm mươi cân đã chui qua khe của
giàn ống đứng không nổ mà tự rách theo chiều dọc rồi nằm kẹt giữa các khe
ống, giống hệt quả bom xuyên qua trần gian máy cũng xé dọc thân mà không nổ,
rơi ở đầu bình ngưng số một vài năm trước đây. Dù sao thì tất cả đều đã không
ai làm sao cả và những câu nói đùa lại có dịp được cất lên rôm rả hơn bao giờ hết.
Thử lửa? Thử lửa ư? Chắc hẳn
là thế rồi…! Cái chết đã lướt qua mạng sườn của họ không chỉ một vài lần. Chỉ
có điều nói đến cái sự thử lửa mà lại hài hước đến vậy thì cái sự thử lửa ấy dễ
làm cho người ta nghĩ là câu chuyện sân khấu. Xin nói với độc giả rằng tôi đã cố
gắng hết sức để diễn cảm ý nghĩ thực lúc đó và không tô vẽ thêm một chút nào.
Sau trận bom nhà máy buộc
phải dừng lại để sửa chữa phục hồi vì không phải chỉ có ống khỏi đổ mà cả khối
giàn ống đứng, giàn ống nghiêng, bộ sấy không khí, bộ hâm và nhiều khối thiết bị
khác cũng bị hỏng hoàn toàn. Những người công nhân vẫn bám chặt lấy lò máy của
họ để rồi nghĩ ra trăm phương ngàn kế phục hồi lại lò máy và họ đã làm được tất
cả.
TÌNH YÊU
1
Công việc sửa chữa phục hồi
nhà máy điện Hàm Rồng lần này có rất nhiều hạng mục. Phần thiết bị đều tập
trung ở khối lò hơi của tổ sửa chữa lò. Phần máy hầu như chỉ phải kiểm tra bảo
dưỡng sơ bộ ở phần thiết bị phụ. Cũng do công việc của lò nhiều quá nên phân xưởng
giao thêm cho tổ sửa chữa máy sửa chữa một số các thiết bị lẻ của lò hơi như hệ
thống thổi bụi cho các giàn ống sinh hơi, giàn ống quá nhiệt, máy kéo ghi, và
chế tạo lại bộ sấy không khí. Công việc của tổ lần này chủ yếu cần nhiều đến sức
khoẻ nên tổ bố trí nhóm công tác gồm các thanh niên là chính.
Vừa ở công trường lắp cụm
phát điện Điêdel ở Đa Nê, Yên Định về đến đơn vị đóng ở làng Vồm được mấy hôm,
Hằng đã phải nhập vào nhóm phục hồi để đi xuống Hàm Rồng công tác. Để cách xa
vùng trọng điểm đánh phá của kẻ địch mà lại gần nơi sản xuất nên đơn vị đã liên
hệ cho các nhóm công tác đóng ở hai làng là Định Hoà và làng Đại Khối. Nếu cứ
chiếu theo đường thẳng thì từ chỗ ở đến nhà máy cũng không quá hai cây số,
nhưng ai có thể vượt qua mấy chục đỉnh núi nên đành phải đi vòng xa đến gần năm
cây số mới tới được nhà máy.
Cũng do Hằng đi công tác về
muộn nên khi xuống Đại Khối phải trọ một mình ở một nhà. Nhà Hằng trọ là nhà một
ông cán bộ huyện, có lẽ ông cũng có chức vị khá nên gia đình ông cũng được xếp
vào loại có kinh tế so với số đông các gia đình trong làng. Chỉ có bà vợ cả và
mấy đứa con nhỏ ở nhà, còn ông cán bộ huyện mà làng xóm vẫn cứ gọi ông là ông Thơi
thì thường vắng nhà luôn.
Hằng được gia đình nhà chủ
bố trí cho nằm ngủ ở một chiếc giường lim kê sát với gian buồng bên phải, kế
theo đó là gian giữa kê bộ bàn ghế gỗ đóng khá chắc chắn, có lẽ cũng được làm bằng
gỗ lim nên nó có mầu đen hơi thẫm. Chỉ từ sau khi Hằng đến ở bộ bàn ghế mới có
vẻ được chăm sóc, còn trước đó có lẽ bộ bàn ghế này hàng ngày hầu như ít ai sử
dụng đến nên mặt ghế có phần khô xác mà không bóng nhẵn như của mọi nhà. Sau
này Hằng mới biết nhà vợ hai của ông Thơi cũng ở không xa hơn nhà bà cả bao
nhiêu, mỗi lần về có lẽ ông Thơi ở nhà bà hai nhiều hơn thì phải.
Qua lại trên đất Thanh Hoá
cũng đã nhiều nơi nhưng không đâu lại có phong tục như làng Đại Khối, ở đây người
ta gọi mẹ đẻ ra mình là chị, còn chị gái thị lại gọi bằng ả. Dò hỏi mãi về sau
Hằng mới biết nguyên do là làng có tục thờ Thánh Mẫu nên họ kiêng gọi tiếng mẹ,
chính vì thế mà họ đã gọi chệch đi hai ngôi nói trên.
Đến làng Đại Khối cũng đã
lâu mà Hằng cũng chẳng đi đâu, ngoài đi làm hàng ngày ở nhà máy. Các buổi tối về
nhà chủ Hằng chỉ chăm chú đọc sách về kỹ thuật và các cuốn tiểu thuyết dày cộp
mà Hằng nhặt được ở các cửa hàng sách và các thư viện dưới thị xã bị đánh phá bỏ
bừa ra đó. Nhà ông Thơi cũng có cô con gái lớn tên là Thảo nhưng cô này lại ở
cùng với bà hai, chỉ thỉnh thoảng mới thấy cô rẽ về nhà mẹ cả vào các buổi tối.
Mấy ngày gần đây làng Đại
Khối tập trung vào việc đánh tranh rạ để lợp nhà và các công trình của hợp tác
xã. Có lẽ vì sân nhà mẹ cả của cô rất rộng nên đã mấy ngày nay cô Thảo về nhà
thường xuyên hơn để bàn với mẹ cả về việc đem rạ về đánh tranh ở nhà mình. Mỗi
lần cô về nhà là cô kéo theo về mấy cô bạn nữa làm cho không khí trong nhà ầm ĩ
cả lên. Những lúc như thế Hằng thường bỏ đi chơi bên nhà cụ Tú để tránh các cô
cho đến khi thấy im ắng rồi mới về nhà. Cũng chỉ tránh được mấy ngày thôi
bởi ngay sau đó cô Thảo đã cho chuyển về nhà hàng đống rạ lớn và cứ tối đến là
cô cùng với cả đám bạn tập trung ở đó đánh tranh.
Bắt đầu là các câu chuyện
rì rào nho nhỏ thế rồi câu chuyện rộ dần lên và chẳng bao lâu sau đó là gọi, là
hỏi, là trêu nhau, rồi thì cười, rồi thì hát, rồi thì hò hét đến inh tai nhức
óc. Cũng đã có một vài cô động chạm đến cái người lúc nào cũng im như thóc ngồi
đọc sách trong nhà bằng những câu hò với những lời bóng gió. Người ngồi trong
nhà cũng biết vậy nhưng cũng cố tình như không nghe thấy và tất nhiên là không
nhìn thấy bởi các cô ngồi dưới bóng trăng suông gần phía cổng vào nhà. Có nhẽ
các cô cũng biết rằng cái anh chàng này không thể nhìn thấy nên mới trêu mạnh
thế chứ nếu lại nhìn rõ được thì đố có dám. Sau mỗi lần có cô nào đó chọn được
một câu khá sắc nhọn một chút hoặc khá rõ ý tứ một chút là có đến hàng loạt những
tiếng cười như xé vải phụ hoạ thêm vào. Cứ mỗi lần như thế bà cả Thơi lại nhìn
Hằng cười mỉm như bảo rằng (cậu đã thấy gái làng Đại Khối chưa). Những lúc ấy Hằng
cũng mỉm cười đáp lại bà thật hiền lành và thân thiện.
Thực ra cậu cũng có để ý đến
các cô nhưng sau mấy lần về phép trước đó xem ý mẹ thì nghe ra bà cụ không muốn
cho cậu lấy vợ ở nơi xa. Có lần cụ nói với con trai rằng:
- Em nó rồi cũng lấy chồng,
nhà chỉ có một mẹ một con, anh lại ở trong ấy chắc rồi tôi cũng chết khô, chết
héo ở ngoài này thôi!
Nhưng cái chính có lẽ là cụ
nghĩ mình chẳng có nhà có cửa, kinh tế lại eo hẹp quá nên việc đưa một cô
dâu ở nơi xa về chưa chắc người ta đã thông cảm và chịu đựng được với hoàn cảnh
của mình và điều đó có thể sẽ làm cho hạnh phúc của con cái đi đến đổ vỡ. Có lẽ
chính vì thế mà bà cụ không muốn cho con lấy vợ ở xa. Hiểu được nỗi lo lắng của
mẹ nên cậu không muốn làm trái ý của bà. Nhất là lần về phép vừa qua bà cụ đã gạn
cho cậu một cô bé ở quê, cho dù cậu chưa đồng ý nhưng hình như hai bên đã có lời
lẽ nên cũng làm cho cậu thật khó nghĩ. Đây cũng là lý do làm cho cậu không muốn
tiếp xúc nhiều với các cô gái của làng Đại Khối.
Sau rất nhiều thủ đoạn mà
các cô vẫn chưa lay chuyển được cái con người quá đáng này thì các cô lại càng
bị kích động bởi sự tò mò muốn biết cái anh chàng này có gì đặc biệt không mà
kiêu kỳ đến thế. Thế rồi các cô kêu khát ầm lên, hết réo gọi Thảo lại hỏi sang
bà cả Thơi xem nước ở đâu rồi kéo nhau vào nhà ra ý đi tìm nước uống. Đến nước
này thì chắc chắn là phải chạm mặt rồi đây...
Hôm nay Hằng đi làm về muộn,
cơm nước xong một lúc lâu Hằng mới về nhà. Ngõ nhỏ lại sâu nên trời rất tối, có
lẽ cũng còn một lý do là hôm nay trăng muộn hơn mọi ngày. Vừa ra khỏi cổng nhà
ăn, tý nữa Hằng đã đâm sầm vào hai người đang đứng giữa đường. Hoảng quá, sau
khi đi quá thêm đoạn nữa Hằng đành đứng lại để cho mắt quen với bóng tối rồi mới
đi tiếp. Thì ra hai người mà tý nữa Hằng đâm phải là hai cô gái đang đứng giữa
đường nói chuyện với nhau.
- Này con trai chi mà trắng
thế không biết, cứ như con gái ấy mày ạ!
Một cô vừa nói dứt lời thì
cô thứ hai đã tiếp một cách hào hứng:
- Chuyện! Trai Hà Nội của
người ta mà lại!
- Chết nhá! Của người ta từ
bao giờ thế hả?
- Vớ vẩn, đấy là người ta
nói đệm vào lại.
- Không nghe! Không nghe! Tối
nay nhất định choa bảo cho chàng biết cái Dụng nó đã nhận rồi.
Liền ngay lúc đó là các tiếng
đấm, tiếng thụi vào lưng nhau cùng với cả tiếng cười cứ réo lên ồn ã cả cái con
ngõ hẻm tối om, tối óp.
Đến bây giờ thì Hằng đã nhận
ra đây có lẽ là mấy cô gái vẫn đến nhà bà cả Thơi đánh tranh các buổi tối, còn
cái con người Hà Nội mà họ vừa đùn đẩy kia không biết là ai? Hằng gai cả người
khi nghĩ đến nếu cái con người kia lại chính là Hằng. Chả lẽ mình lại bị mang
ra bàn luận, đùn đẩy đến mức như vậy sao? Vừa đi Hằng vừa lôi từ trong bộ nhớ
ra xem cái cô Dụng là cô nào mà mãi không thể nhớ ra.
Về nhà được một lúc thì mới
thấy các cô gái kéo đến. Câu chuyện của họ hôm nay hình như có vẻ rôm rả hơn mọi
hôm rất nhiều. Đặc biệt là bọn họ hay trêu một cô nào đó trong nhóm của họ, còn
có một người thì cứ chạy đuổi hết cô này đến cô kia để đấm, để thụi, để càu
nhàu. Có lẽ người từ nãy đến giờ vẫn chạy đuổi các bạn chính là cô Dụng.
- Này! Không nhận hả? Để đấy
nhường cho cái Thảo! Tiện của nhà chả phải đi đâu cho xa!
- Thảo có rồi còn gì! Để đấy
tớ, tớ nhận cho, đến lúc đó đừng có mà tiếc đấy nhé!
Chợt có một giọng rất là
đàn chị của một cô nào đó cất lên khá đanh để ra lệnh cho cả nhóm:
- Này! Làm đi thôi kẻo mai
là hạn nộp cuối cùng rồi đấy! Các cụ ấy mà hét cho thì đừng có mà…
Không khí hơi lặng đi một
chút nhưng chẳng bao lâu sau đâu lại đóng đó, lại ầm ĩ, lại cười, lại hò hát
cho mãi đến tận đêm khuya.
2
Những đêm đánh tranh ở nhà
bà Thơi rồi cũng hết, có điều là từ sau cái buổi tối các cô gái cố tình vào tìm
nước uống để xem mặt cái anh chàng lập dị nọ ra làm sao thì cả hai bên đã có sự
gần gũi hơn, thế nhưng cũng rất lâu sau Hằng mới biết mặt Dụng.
Dụng năm ấy mới vừa đủ mười
tám tuổi. Dụng khá xinh và trắng trẻo, người tròn lẳn như rất nhiều các cô gái
khác. Mỗi lần bất chợt gặp giữa đường Dụng chỉ dám chào lý nhí mà không chào
to. Mỗi lần gặp và chào nhau như thế hình như Dụng có vẻ rất luống cuống và đỏ
mặt lên trông đến ngại. Biết vậy nên Hằng thường chủ động hơn trong các câu hỏi
để cho cô bình tĩnh trở lại. Kể ra cũng lạ, không biết sao từ trước khi biết
nhau họ lại chỉ gặp nhau rất ít, mặc dù nhà Dụng ở ngay trên đoạn đường mà hàng
ngày khi đi làm Hằng vẫn đi qua. Còn từ sau ngày biết nhau rồi thì hầu như
không ngày nào hai người không chạm mặt nhau đến một vài lần.
Nhà Dụng chỉ có hai bố mẹ
cùng với ba chị em. Chị cả tên là Lợi cũng đã hai mươi và hình như đã có người ở
bên Đông Thổ đến xin hỏi cưới, chắc cũng chỉ chờ đến mùa đông hoặc mùa xuân năm
tới là chị sẽ về nhà chồng. Sau Dụng là cậu em út cũng đã lên tám tuổi nhưng
người thì nhỏ bé mà lại cao lều nghều trông đến là ngộ. Bố mẹ Dụng đều là những
người nông dân thuần tuý dễ mến, cho dù Hằng chưa bao giờ tiếp xúc với họ mà chỉ
gặp và chào họ khi bất chợt gặp họ trên đường như với bao nhiêu người khác
nhưng Hằng vẫn nhận ra ở họ có những nét thân tình...
Sau một ngày về nơi sơ tán
của đơn vị để họp tổng kết Hằng đã thấy có cái gì đó cứ bồn chồn, nóng ruột giống
như linh tính cho thấy có ai đó cứ nhắc đến tên mình vậy. Nhiều lúc thấy như
thiếu vắng một cái gì đó mà không thể nghĩ ra được đó là cái gì. Chỉ mãi đến
khi rời làng Vồm xuống Đại Khối, Hằng mới thấy bớt đi sự nóng ruột mà trong suốt
thời gian ngồi họp đã xảy ra. Vừa quăng cái túi đựng mấy thứ vặt vãnh cùng với
mấy quyển sách vào giường thì Hằng nhận ra có ai đó vừa chào bà cả Thơi bước vội
ra sân theo lối cửa của gian nhà kế gian buồng bên trái.
- Bác Thơi đã ăn cơm chưa?
- Tôi ăn cơm rồi, cháu đi họp
về đấy hả?
- Vâng, cháu vừa mới xuống
đến nơi!
- Sao không ở đến mai mà lại
xuống tối thế?
- Cháu cứ thấy sốt ruột thế
nào ấy, với lại nhà bà Ao ở trên Vồm hôm nay có khách nên đằng nào cháu cũng phải
đi ngủ nhờ thế là cơm nước xong là cháu đi ngay đỡ sớm mai phải thức dậy đi sớm.
- Cũng may mà cháu đi có một
ngày chứ nếu đi độ mấy ngày thì choa cũng đến hết hơi về nó!
Còn đang cố lắng nghe xem
bà cả Thơi nói gì thì đã nghe bà tiếp:
- Này! Từ sáng đến giờ nó
xuống hỏi thăm mày có đến bốn lượt rồi đấy!
- Ai thế hả bác?
- Này, các anh chị đừng có
che mắt tôi nhé! Cái Thảo nó bảo cho tôi biết từ bữa trước rồi. Hình như ông bà
ấy cũng không phản đối đâu. Nhà họ có ông em cũng lấy vợ và ở ngoài ấy rồi. Mỗi
lần họ về trông sang trọng và lịch sự, làm cả làng ao ước mà không được ấy chứ!
Ngừng một chút, không kịp để
cho Hằng nói gì bà cả Thơi lại nói tiếp:
- Kể ra mà cái Thảo nhà tôi
nó yêu anh thì tôi bàn với gì nó là cứ cho không.
Đến lúc này thì Hằng cũng
đã đoán ra được phần nào những điều bà Thơi vừa nói và cả cái người bà Thơi bảo
đã đến làm phiền bà đến bốn lượt trong một ngày kia rồi. Tuy nhiên Hằng nghĩ là
mình bị oan nên cố thanh minh:
- Bác nói thế làm oan cho
cháu! Tất cả là các cô ấy gán ghép đấy chứ!
- Này, không có lửa lấy đâu
ra có khói, đừng có mà giấu giếm, rồi đến lúc cần nhờ chúng tôi là khó chứ chẳng
chơi đâu!
Biết có thanh minh nữa cũng
chẳng ăn thua gì nên cậu cười xí xoá với bà Thơi rồi đi ra ngõ, định sang Định
Hoà đi hò với bọn cậu Thảo ở tổ sửa chữa Van .
Trăng đầu tháng lờ mờ nhưng
Hằng vẫn nhận ra có một người con gái đứng ở một góc tường của một gia đình
trong ngõ khi vừa chợt đi qua.
- Anh đi đâu đấy ạ!
Vừa nghe câu chào nhỏ nhẹ Hằng
đã nhận ra đó là Dụng, Hằng cũng vội chào lại:
- Dụng đi đâu về đấy?
- Em định xuống nhà bác
Thơi!
Đang định đi tiếp thì Hằng
lại nghe Dụng hỏi:
- Vừa nãy bác Thơi nói xấu
gì em thế?
- Làm gì có!
- Em ở ngoài sân nghe hết cả
thế mà anh lại còn bênh cho bác ấy!
Nghe đến đây Hằng cũng thấy
chột dạ, không biết lúc nãy mình có động chạm gì đến cô ấy không biết? Có lẽ là
không thì phải.
- Em còn nghe người ta dãy
nảy lên vì bị gán ghép nữa cơ! Chả là người ta là người Hà Nội mà lại.
Biết cô ấy cũng khá lâu
nhưng chưa thấy cô ấy nói nhiều và lại có ý mát mẻ như thế bao giờ nên Hằng
cũng bất ngờ đứng sững lại không biết nói làm sao cho được. Kể ra mà nói trong
con mắt nhìn của Hằng thì Dụng là một cô gái tương đối hợp với ý muốn tìm kiếm
của cậu. Nếu như mỗi lần về nhà cậu không phải nghe mẹ nhắc về việc không muốn
cho lấy vợ ở xa thì Hằng đã chủ động tìm hiểu cô ấy ngay từ bữa trước chứ cần
gì phải để cho sự việc rơi vào hoàn cảnh như thế này. Đang suy nghĩ để tìm cách
nói lại với Dụng thì lại nghe cô ấy lên tiếng, lần này giọng nói của cô ấy nghe
có vẻ buồn hẳn đi:
- Bọn con gái quê mùa lại
ít học như chúng em, các anh có quen biết chẳng qua cũng chỉ làm cho các anh xấu
hổ thêm mà thôi…
Vừa nghe được mấy lời này Hằng
chợt tìm ra được câu trả lời cho Dụng, cậu liền cướp lời nói luôn:
- Em cứ nói thế chứ ai chẳng
như ai. Thanh Hoá anh hùng, nhiều người vùng ngoài ao ước còn không được nữa
là.
Mặc dù biết mình hơi sáo
trong những câu chữ vừa rồi nhưng cậu vẫn cứ tràng giang đại hải để che đậy những
bế tắc từ nãy đến giờ. Chắc cậu vẫn còn diễn thuyết nữa nếu như không có một bà
cụ vừa đi qua trước mặt hai người làm cho cả hai cùng phải né người để tránh. Vừa
tránh Dụng vừa chào với theo bà cụ:
- Bà ơi sao bà về sớm thế?
- Con Dụng đấy hả? Mẹ mày
đang tìm đấy!
- Vâng ạ!
- Em có phải về nhà không?
Hằng hỏi
- Mẹ em lúc nào chả tìm về
để đấm lưng, chả là mẹ em thỉnh thoảng vẫn bị đau lưng khi dở giời mà lại.
Ngừng một chút Dụng lại tiếp:
- Mình đứng đây gặp lắm người
quá hay là đi ngược lại phía bờ ao nói chuyện tiện hơn.
Vừa nói Dụng vừa đi ngược lại
lướt qua bên cạnh, mặc kệ Hằng có đồng ý hay không. Phần vì đường hẹp, phần vì
tối trời nên khi Dụng nhỡ chân cọ sát vào bên sườn của Hằng làm cho cả hai cùng
loạng choạng tý nữa thì ngã. Mặc dù suýt bị ngã nhưng Hằng vẫn cảm thấy có cái
gì đấy thật mềm mại và gợi cảm đến là kỳ lạ mà không thể nào giải thích được.
Bờ ao hợp tác khá rộng và lại
có rất nhiều cây dừa mới trồng tạo thành những cái ô lớn che khuất cả về phía
đường nên nếu ai đi qua mà không để ý thì không nhận ra người đứng ở dưới gốc của
nó, cũng chính vì thế mà hai người đã đứng ở đó gần năm tiếng đồng hồ cùng với
những câu chuyện không đầu, không cuối mà chẳng bị ai quấy rầy. Họ chỉ chia tay
khi câu chuyện đã có phần kết khá thân mật cùng với việc hẹn hò đêm mai gặp lại.
3
Đã lâu lắm mà
Hằng vẫn không ngủ được. Tất cả những sự kiện xảy ra trong thời gian vừa qua
hình thành những câu hỏi luôn lởn vởn trong đầu. Có nên yêu không? Yêu hay
không yêu? Yêu để lấy hay chỉ để cho vui? Những cô gái ở quê có ai bằng cô ấy
không? Hình thức, tính cách? Mặc dù Hằng đã cố gắng không nghĩ đến nhưng vẫn
không thể xua đi hết được. Một chuỗi những suy nghĩ kéo dài đã làm anh mệt mỏi.
Có gì đó như muốn thoả hiệp, muốn buông trôi. Cùng lúc ấy trong anh cũng xuất
hiện một tình cảm lạ, nó óng ánh, nó rực rỡ và khô nóng làm ra sự khao khát đến
cháy bỏng mà không gì dập tắt, không gì ngăn cản nổi. Tự thân trạng thái ấy cứ
thôi thúc buộc ta phải đi theo sự mời gọi của nó để rồi mặc kệ tất cả mọi sự muốn
ra sao thì ra…
Chưa bao giờ một ngày làm
việc lại dài đến thế! Mặt trời thì cứ đứng im mãi ở trên đầu, đôi kim của chiếc
đồng hồ hình như không chịu quay, chiếc kẻng bằng quả bom cũng như bị câm mà
không chịu cất lên những tiếng keng keng làm cho cái sự chờ đợi cứ dài dằng dặc
ra đến mức không còn chịu đựng thêm được nữa.
Đôi trai gái ấy cũng đã có
nhiểu đêm chờ đợi, nhiều đêm gặp gỡ, tuy vậy họ cũng vẫn còn có gì đó tựa như
muốn giữ ý với nhau. Nhưng đến lần hẹn tối hôm qua thì hình như có điều gì đó rất
khác so với những lần trước đó. Chờ đợi mãi thì rồi trời cũng đã tối và cái thời
điểm hò hẹn cũng đã đến. Gốc dừa lại một lần nữa chứng kiến sự gặp gỡ của đôi
trai gái cùng với những gì mà họ chưa kịp bắt đầu từ những đêm hôm trước. Khác
với mọi đêm, đôi trai gái đêm nay có phần dạn dĩ hơn, họ ngồi gần nhau hơn, những
câu chuyện của họ cũng tươi vui hơn mà không còn những câu hỏi có ý thăm dò và
khách khí như những đêm trước nữa. Từ bên trong tâm hồn của mỗi người đều đã nhận
ra cái điều mà họ hiểu sẽ phải xảy ra trong khoảng thời gian đang đến rất gần.
Tất cả những câu chuyện
dùng để làm cái cớ cho sự gặp gỡ hầu như đã không còn cần nữa, cả hai người đều
im lặng đợi chờ và khi hai thân người chợt chạm vào nhau thì mọi ngăn cách hầu
như đã không còn. Những chùm sao trên trời, những chùm sao dưới nước hình như
cùng lúc ánh lên sáng rỡ. Cũng giống như những chùm sao, ánh mắt của cả hai người
như hút vào nhau lúc một gần thêm, gần thêm và chợt ánh lên sáng lấp lánh khi
hai cặp môi gắn vào nhau không muốn rời ra nữa.
Từ sau nụ hôn kéo dài vô tận
ấy họ không còn nói với nhau bằng lời mà bắt đầu nói với nhau bằng mắt, bằng sự
tiếp xúc da thịt của nhau trong vòng ôm đến nghẹt thở. Những gì chất chứa trong
lòng được dịp phơi bày không cần phải giữ gìn gì nữa. Gần một đêm trắng bên
nhau trong yêu, trong khao khát, làm họ ngây ngất trong hạnh phúc tràn ngập và
họ chia tay nhau khi hướng đông đã bắt đầu ửng đỏ, thai nghén một ngày mới trên
trái đất xiết bao rực rỡ.
Những cuộc gặp gỡ cứ liên
tiếp hết đêm này sang đêm khác, trừ những ngày Hằng phải làm thêm giờ hoặc cả hai
gặp những cuộc họp thanh niên, phụ nữ của cả bên cơ quan của Hằng và bên địa
phương của Dụng. Tất cả các cuộc gặp đều như không đủ dài để họ có thể ở bên
nhau lâu hơn, nói với nhau nhiều hơn. Có lẽ cái ý nghĩ đêm hình như bị ngắn đi
đều có ở trong tất cả những người đang yêu.
Bước tiến của bản thân
trong công tác, cùng với tình yêu của Dụng trong những ngày qua như tiếp sức
cho Hằng trong những ngày lao động vất vả, những ngày đạn bom khốc liệt. Mọi
người ở bên cạnh cũng vui mừng cho họ và nhìn họ với sự khích lệ hết sức chân
thành. Thời gian đã gắn kết họ lại đến mức có lẽ không gì có thể làm cho họ xa
nhau được. Công việc khôi phục của tổ máy chỉ còn vài ngày nữa thì xong, ngày
chia tay với Đại Khối càng lúc càng gần. Hai người tranh thủ gặp nhau thường
xuyên hơn để nếu sau này có phải xa nhau cũng đỡ buồn, đỡ tiếc những ngày gần
gũi.
Tất cả mọi đồ đạc Hằng đã gửi
xe mang về Vồm từ mấy ngày hôm trước, hôm nay Hằng chỉ còn mỗi việc từ biệt gia
đình và Dụng nữa mà thôi. Chia tay với bố mẹ Dụng xong là cả hai đứa đưa nhau về
phía cuối làng để rồi từ đó Hằng sẽ đi tắt về Vồm. Cứ mỗi lần chào nhau xong lại
thấy không thể rời nhau ra được. Nào là những hẹn hò xuống thăm vào ngày nọ,
ngày kia lại đến bàn bạc về một kế hoạch nào đấy cho việc cưới xin vào năm tới.
Chán các chuyện nghiêm chỉnh lại đến những trò hờn dỗi, nào là anh về vài bữa
chắc lại quên mất, hoặc là mấy cô cơ quan lúc nào chả đẹp lại sạch sẽ, còn bọn
con gái thôn quê làm sao theo kịp vân vân và vân vân…
Không hiểu thế nào mà mãi đến
khi trăng lên rồi cặp trai gái vẫn còn ở gốc đa trên cánh đồng Đại Khối. Sau
bao nhiêu là chuyện, cả hai người lại im lặng ngắm nhìn nhau, trên má Dụng ánh
trăng soi rõ hai hàng nước mắt tràn trề làm cho Hằng cảm thấy hai bên cánh mũi
cũng cay cay như muốn khóc. Nhìn Dụng lúc ấy sao mà thương yêu đến thế, không
thể cầm lòng được nữa, Hằng ôm chặt lấy Dụng đặt lên lòng rồi hôn lên tất cả mọi
chỗ trên khuôn mặt đẫm ướt.
Cũng như Hằng, Dụng ôm ghì
chặt lấy người yêu như muốn áp toàn bộ thân thể của mình vào người yêu để cảm
nhận tất cả những gì mà chỉ trong vài giờ nữa sẽ phải xa cách, không biết bao
lâu mới gặp lại được. Trong một khoảnh khắc mềm yếu đến tột cùng làm cả hai người
hầu như không còn nghĩ đến điều gì khác, họ hoàn toàn để mặc bản thân hoà vào sự
kêu gọi của bản năng tự nhiên mà không hề muốn cưỡng lại.
Trong ánh sáng huyền ảo của
trăng hạ tuần, cơ thể Dụng mềm mại và đẹp đến mức không bút nào tả hết được.
Toàn thân của cô, cùng với tay chân cứ như những mảnh lụa biết cử động. Những
đường viền rõ nét bao lấy mảng màu trắng mờ tuyệt vời nhất của thế gian. Nơi đẹp
nhất, nơi cuốn hút nhất luôn réo gọi, luôn chờ đợi. Dụng đã muốn dâng hiến tất
cả cho người yêu mà không có ý đòi hỏi một điều gì khác. Bàn tay của tình yêu
đã đặt lên mọi chỗ trên bức tranh của tạo hoá với cảm xúc về sắc thái, về âm hưởng
đến vô cùng, vô tận của tình yêu.
Tất cả chợt tan đi trong một
giây phút rất đặc biệt, cùng với những lời lẽ thật dịu dàng sau một cái hôn dài
ngang với cái hôn lần đầu của họ.
- Chúng mình sẽ là vợ chồng!
Chúng mình sẽ có tất cả trong những ngày không xa nữa!
Nước mắt lại tràn ra trên
khuôn mặt cô gái cùng với câu nói đứt đoạn:
- Em sẽ yêu anh mãi mãi!
Trong tất cả những tháng
ngày đầy kỷ niệm, hình như đây là lần đầu tiên một trong hai người đã nói đến
chữ yêu, đó là lời yêu duy nhất trong một lần yêu muôn đời không quên được…
Cuối năm đó chàng trai trở
về nhà để chuẩn bị cho việc làm nhà, đồng thời chuẩn bị cho bước tiếp theo Bài
ca tình yêu của mình. Cũng đã cố gắng hết sức nhà Hằng mới mua được một ngôi
nhà tranh ba gian ở tận làng Thiên Hội. Cái nhà cũng chẳng tốt gì, mọi cái để
nguyên thì còn, nếu dỡ ra thì chắc sẽ có nhiều cái hỏng. Rất nhiều cái kèo, cái
cột đã ải mục dỡ ra là phải bỏ, vì vậy mà khi dựng lại ngôi nhà chỉ còn đủ được
một gian với hai cái chái. Với cơ ngơi như vậy thật khó có thể nói đây là một
gia đình có cuộc sống tốt đẹp. Điều này cũng chính là sự trở ngại về hoàn cảnh,
khiến người con trai mong muốn có thêm một thời gian nữa để thu xếp ổn định đời
sống trước khi xây dựng gia đình. Nhưng cậu có thể nói gì được trong lúc này và
thế là lịch trình mà một nửa kia chờ đợi đã không được thoả mãn. Cũng chính từ
đó phía đối tác đã hình thành những mối ngờ vực ngày một lớn hơn, không ai có
thể thanh minh cho được và rồi Bài ca tình yêu hay tuyệt đã bất ngờ dừng lại
sau một thời gian phô diễn tất cả những cái tuyệt mỹ trong phần mở đầu của nó.
Vào một ngày đầu tháng hai
năm ấy người con gái đã đến gặp người con trai để mời tham dự chương trình Bài
ca tình yêu mới của cô và rồi từ đó mọi dư âm của bài ca ngày cũ đã không bao
giờ còn vang lên nữa. Lời yêu tắt lịm và chắc còn lâu mới có thể quay trở lại
được.
4
Những ngày tháng buồn bã
kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Cho dù công việc đã cuốn đi hết cả thời
gian nhưng chỉ cần ngơi ra lúc nào là những hình ảnh cũ chợt quay trở lại. Sự hể
hả của bà mẹ, sự vui tươi của ông bố ở thời điểm đầu tiên tăng lên bao nhiêu
thì cũng xẹp đi bấy nhiêu khi kết thúc buổi gặp mặt với chàng rể tương lai sau
khi về quê ăn tết trở vào. Tất cả những câu hỏi từ xa đến gần về công việc cưới
xin mà các cụ gợi ra đã không có được lấy một lời bày tỏ của chàng trai trẻ…
Cô ấy đã đi lấy chồng và
cũng lại phải lấy chồng ở nơi thật xa bởi nếu không thì rồi có không biết bao
nhiêu câu chuyện được thêu dệt ra và điều đó thật là bất lợi cho cô ấy. Chẳng
có người phụ nữ nào dám đứng ra giữa một cộng đồng để nói rằng tôi vẫn còn
trong trắng sau một tình yêu rực lửa mà tất cả mọi người đều đã nghe, đã biết.
Ai còn lạ gì cái sự yêu nhau
của các cô, các cậu! Cái sự quyến luyến dễ làm cho người ta quên đi tất cả và rồi
cái sự động chạm về thể xác chắc hẳn cũng phải xảy ra, ai mà chả thế! Thế rồi sự
ngờ vực sẽ ngày một tăng lên, sự ngờ vực đâu chỉ có ở mấy người già, mấy cậu
con trai trong làng, sự ngờ vực còn có thể ở chính ngay trong lòng của những
người bạn gái thân nhất của cô. Tất nhiên là cô sợ, cô xấu hổ với mọi người, với
bè bạn, cô không còn con đường nào khác.
Cho đến mãi về sau này
chàng trai vẫn cứ tự trách mình về sự ấu trĩ và sự sĩ diện hão của bản
thân. Tại sao lại không thể nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về hoàn
cảnh của mình? Tại sao lại không nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về
cái sự cần thiết phải chờ đợi để cho cậu có thời gian củng cố đời sống gia
đình? Tại sao cậu lại im lặng? Im lặng để rồi mọi cái đều tan nát cả?
Đã từ lâu cậu luôn tự hào về
cái nghèo khó nhưng rất thanh cao của gia đình mình qua những việc làm của người
cha trong thời cải cách. Vậy mà sao đến lúc này cậu lại không thể nói về điều
đó cho họ nghe một cách vô tư được. Có lẽ là cậu đã nhận ra sự chờ đợi của cả
cô gái và gia đình của cô về mối lương duyên này với hy vọng về một cuộc sống mới
ở nơi thủ đô với những gì mà một số người thân của họ có được khi họ nhìn thấy
những người đó trong những ngày về phép. Cậu nghĩ rằng cậu không có quyền làm tắt
đi những hy vọng của họ và cậu cũng không thể đang tâm để mà làm tắt đi sự hy vọng
đó khi cậu nói cho họ hiểu rằng gia đình của cậu còn khó khăn hơn họ đến mấy lần.
Có thể nói một cách chính xác rằng ở vào thời điểm ấy cậu vẫn chưa đủ bản lĩnh
để hiểu thấu đáo về những điều mà người cha của cậu đã làm. Sự thiếu tự tin trước
một quan niệm đã bắt cậu phải trả giá cho việc mất đi mối tình đầu để rồi nhiều
năm sau trong lòng vẫn day dứt khôn nguôi...
Đơn vị lại bước vào một đợt
sửa chữa mới được nhà máy giao cho, đó là việc khôi phục phân xưởng Trung tâm.
Lần công tác này đơn vị không đóng ở làng Đại Khối nữa mà chuyển về làng Định
Hoà. Làng Đại Khối bây giờ có thêm hai lực lượng công nhân của Đoạn đường sắt
phía Nam đến đóng quân tại đó. Khối công nhân đường sắt đóng ở đó gồm
có Đại đội 315 biên chế toàn các thanh niên để làm các công việc nặng và Đại đội
324 lại biên chế toàn là nữ để làm các công việc nhẹ hơn.
Hàng ngày các tốp công nhân
này vẫn đi từ Đại Khối qua ven làng Định Hoà để xuống khu ga Thanh Hoá phục hồi
và sửa chữa các đoạn đường sắt bị hư hỏng. Thường thì họ làm suốt cả ngày đến tối
mới trở về nhà. Mỗi lần đi qua làng Định Hoà họ vẫn cứ hay cất lên vài câu hò để
trêu mấy chàng thanh niên của nhà máy điện.
Số công nhân nhà máy điện
đóng ở Định Hoà cũng khá đông, đa số đều là các chàng trai chưa vợ và cũng khá
lịch duyệt. Rất nhiều người có tài lẻ về thơ ca, hò hát như Thanh ở phố
Lò Đúc Hà Nội, Vĩ ở Vũ Thư, Thái Bình vv… đều là những cây đơn ca của nhà máy
trong các kỳ hội diễn Quân khu Ba, hội diễn tỉnh và cả của nhà máy nữa. Các
chàng trai này đa số đều đã có người yêu nhưng thấy các cô hò ghẹo nhiều lần
thì các chàng trai này cũng cứ hò đối cho vui mà thôi. Thường thì mở đầu các
câu hò khá hay nhưng càng về cuối thì những câu hò thường hay đi vào sự trêu cợt
chọc tức lẫn nhau, thậm chí còn có cả những câu hò khá cợt nhả cùng những câu
hò chửi bới khá thô tục, tuy vậy nhưng chỉ sau buổi hôm ấy rồi các chàng trai lại
lãng quên ngay. Vậy nhưng các cô gái thì không quên đâu, có đến mấy ngày sau họ
còn dò tìm xem cái thằng cha nào hôm trước hò ngoa ngoắt thế không biết.
Từ khi chia tay với Dụng, Hằng
đã tự đặt ra cho mình là phải phấn đấu làm sao để cùng với mẹ lo củng cố gia
đình để nâng cao kinh tế lên rồi mới lo đến chuyện vợ con. Chính vì thế mà cũng
có khối cô gái ở các đơn vị trong nhà máy và cả ở các địa phương Hằng đến trọ
đã để ý đến, Hằng vẫn làm ngơ như không biết. Thực ra Hằng cũng đã rút ra được
bài học từ lần yêu trước, nên không đến mức sợ yêu. Cái chính là tất cả những
cô gái có ý tứ lại không hợp với con mắt của Hằng, mặc dù với mọi người thì các
cô gái được đánh giá là “sạch nước cản”.
Có lẽ Hằng cũng là một người
mang tính cực đoan bởi rất nhiều người cho rằng một cô gái nào đó là rất đẹp
thì Hằng lại không tán thành. Không phải là Hằng hoàn toàn phủ nhận, nhận định
của mọi người nhưng những cô gái đẹp sắc xảo một chút Hằng đều không ưa lắm.
Trong con mắt của Hằng thì ít nhất là cô gái ấy phải có sự hiền lành, nhu mì, ít
nói, tất nhiên là phải không xấu lắm. Nói một cách khác là cô gái ấy phải có
duyên, dễ gần, dễ mến. Hằng thường nghĩ những cô gái như thế sẽ đối xử tốt với
chồng và cả với bà mẹ một đời gian nan vất vả của Hằng. Như thế có lẽ cũng là
có sự kén chọn chứ không đến mức thế nào cũng được. Tuy nghĩ ra thì nhiều nhưng
làm thì không hẳn đã theo được mấy và đấy cũng là nguyên cớ để có cuộc tình tiếp
theo với rất nhiều kỷ niệm.
Mặt trời đã lặn sau những
vòm cây của những làng xóm mờ xa ở phía tây. Màu hồng vẫn còn hắt lên bầu trời
một quầng sáng khá rộng. Vừa thập thững đi dọc con đường ra cánh đồng của làng
Định Hoà vừa chúi mắt vào cuốn tiểu thuyết Ruồi Trâu trên tay thì cậu giật nảy
mình vì những câu chào rõ to của một toán con gái bịt mặt bằng những chiếc khăn
bông lớn. Chẳng khó gì mà không nhận ra các cô ấy là những công nhân đường sắt.
Có lẽ các cô ấy vẫn bực mình vì trận hò thua mấy cậu công nhân trọ bên nhà bà
Sinh chiều qua. Cậy đông và lại được các tấm khăn che kín mặt nên các cô đồng
thanh chào rõ to có ý làm giật mình cho bõ tức. Nhưng rồi các cô ấy cũng nhận
ra là cái anh chàng này không phải là người vẫn hò trêu cợt cùng các cô nên cô
nào cô nấy đều tỏ ra khép nép và có ý hối hận về việc làm của mình.
Hằng miễn cưỡng chào lại rồi
lại tiếp tục cúi mặt vào những trang sách. Chưa kịp tìm ra dấu dòng vừa đọc lại
thấy các cô gái hỏi tiếp:
- Có phải anh ở ngôi nhà đầu
làng kia không ạ?
- Vâng! Tôi ở ngôi nhà đầu
tiên ấy.
- Có mấy anh ở đấy hò hay
thế không biết?
- À! Thế có lẽ các cô là những
người vẫn hò mấy buổi tối hôm trước đấy hả? Thế tối nay có hò nữa không?
- Anh hò với chúng em nhé?
- Được thôi, nhưng mà tôi
hò kém lắm với lại không đối đáp được các cô như mấy cậu ấy đâu!
- Chúng em cũng kém như anh
thôi!
- Không! Tôi cũng đã nghe
các cô hò buổi tối hôm kia rồi! Dữ quá!
Một cô gái mở đầu bằng một
câu hò nói về tình yêu bằng chất giọng miền trong thật cao và ấm. Hằng cũng hò
đáp lại bằng một câu hò nói về tình yêu vận ra từ một bài hát dân ca. Tất cả
các cô đều ồ lên khen hay và ấm. Hò đi, hò lại đối nhau đến bốn năm câu thì trời
tối hẳn, các cô xin phép ra về để còn tắm giặt. Cả bọn líu ríu hỏi tên và hò hẹn
đến chơi.
Một buổi tối đầu tháng
không có trăng sao, Dậu là quân của đại đội 315 quê ở thành phố Nam Định
mà Hằng và Ngữ quen từ hồi trong năm đã dẫn đường sang thăm mấy cô gái vừa làm
quen hôm trước. Nói là quen biết nhưng khi đến nơi thì chỉ có các cô ấy biết
mình chứ còn mình thì lại chẳng biết ai cả vì mình chỉ gặp hình dáng còn khuôn
mặt thì chưa lần nào nhìn được bởi những chiếc khăn che kín mít. Cũng phải nói
chuyện một lúc thì rồi mới nhận được người quen. Người quen của Ngữ là cô Tuyến
cán bộ đoàn thanh niên của đơn vị, còn cô gái có giọng nói miền trong mà Hằng
hò đối hôm trước là cô tiểu đội trưởng Hằng Trường.
5
Trường cứng tuổi hơn các cô
khác, khuôn mặt không xinh lắm nhưng có duyên. Vầng trán rộng làm cho cô có cái
nét mặt của sự thông minh hơn là sự duyên dáng. Trường hình như cũng đã yêu một
người nào đó trong đơn vị, đó là Hằng suy đoán vậy thôi. Không biết mấy cô gái
trong nhóm có biết hay không mà vẫn cứ gán ghép Trường với Hằng bằng cái tên
ghép của Trường, còn Trường thì chỉ cười như không có chuyện gì xảy ra.
Trong khoảng thời gian buổi
tối đầu tiên chủ yếu là những câu chuyện hội đồng giữa tất cả mọi người. Chỉ thỉnh
thoảng mới có một cặp nói chuyện riêng với nhau tranh thủ khi những câu chuyện
tập thể bị lắng xuống. Dù sao thì mỗi chàng trai đến với những cô gái không ai
là không quan sát để tìm cho mình một khuôn mặt mà mình ưng ý, Hằng cũng không
phải là trường hợp ngoại lệ.
Những cuộc thăm nhau qua lại
trong cả tháng trời cùng với những cuộc đưa tiễn sau mỗi lần đến thăm kéo dài đến
cả tiếng đồng hồ trong đêm tối làm cho mỗi người thấy thân mật hơn lên. Mặc dù
sự quen biết ở đây là sự quen biết của cả một nhóm nhưng rồi không hiểu thế nào
chỉ trong một thời gian rất ngắn đã hình thành ra từng cặp một. Cặp đôi Hằng
và Trường cũng có vẻ gắn bó nhưng nếu quan sát kỹ người ta vẫn nhận ra giữa hai
người có cái gì đó vẫn còn chút miễn cưỡng.
Từ trong sâu thẳm tâm hồn của
chàng trai, mối tình cũ cùng với những kỷ niệm cứ luôn trở lại réo gọi. Còn với
cô gái thì luôn bâng khuâng về hai hình ảnh đang cùng lúc lướt qua trong trí
não đòi hỏi phải mau có một quyết định nhận cái nào và bỏ cái nào, còn bản thân
cô thì lại cứ phân vân không tự quyết nổi. Cũng giống như một người đi đường
nhìn thấy hai con cá lớn đang rạch về hai phía, muốn bắt nhưng chưa biết nên bắt
con nào trong khi chỉ còn một vài cái quẫy đuôi nữa là cả hai con cá sẽ trườn
xuống lòng mương mất.
Trong một lần Hằng đến chơi
thì Trường lại bận đi họp, người đón tiếp Hằng là một cô bé người thấp nhỏ
nhưng da trắng và đặc biệt là có đôi mắt ươn ướt tựa như biết nói, hình như cô
nói bằng mắt hơn là nói bằng lời. Trong một khoảng thời gian ngắn nhưng Hằng
cũng đã khai thác được một số nét về gia đình và về bản thân cô ấy.
Quê nhà cô ở một làng chài
ven biển của huyện Hậu Lộc. Nhà cô ở cách bờ biển không quá một trăm mét nhưng
lại không sống bằng nghề đi biển đánh cá. Ông bố cô có nghề cắt thuốc chữa bệnh
bằng các vị thuốc Nam, mẹ cô và em gái thì làm ở hợp tác xã nông nghiệp. Vừa
mới qua tuổi thiếu niên là cô đã xin đi thanh niên xung phong và được bố trí
vào đại đội 324 tổng đội đường sắt phíaNam.
Câu chuyện của hai người hầu
hết là những câu hỏi và những câu trả lời của cả hai người kéo dài đến cả tiếng
đồng hồ nhưng rồi cũng đã đến lúc dần cạn. Ngồi chờ đợi Trường lâu quá làm Hằng
cảm thấy ngại, thế là Hằng đứng lên chào mọi người để ra về. Sau khi giữ khách
lại không được cô gái đành phải đi theo để tiễn khách thay. Quãng đường đi tiễn
đã dài mà hình như cô gái ấy vẫn chưa tỏ vẻ muốn chia tay với ông khách của bạn.
Cũng đã mấy lần ông khách dừng lại bởi đoạn đường đã dài quá rồi nhưng người đi
tiễn hình như không để ý đến điều đó. Cũng chỉ còn vài bước chân nữa là đã đến
gốc gạo ở giữa cánh đồng của hai làng, có nghĩa là đã đến điểm chia đôi khoảng
đường từ nhà chủ đến nhà khách. Sau khi cả hai người đã ngồi lại bên gốc gạo đến
gần nửa giờ thì khách đành nhắc chủ chia tay. Thế là khách lại phải tiễn chủ
quay trở lại.
Cô gái thay Trường tiếp
khách cũng là một người trong nhóm quen biết ngay từ buổi ban đầu, cô có tên là
Nghi, một cái tên rất hiếm gặp ở ngoài đời, ở cô hầu như không thấy có gì là sự
khách sáo. Những câu chuyện của cô có cái gì đó rất tự nhiên và thân mật, tiếp
xúc với cô, Hằng thấy giống như tiếp xúc với một người cùng làng. Sau lần thay
bạn tiếp khách ấy cô còn phải thay bạn tiếp khách đến vài ba lần nữa vì Trường
hay phải đi công tác xa đơn vị, còn ở nhà thì rất hay bận họp. Cuối cùng vỡ lẽ
ra là Trường luôn bị khống chế để phải bận khi có khách đến chơi thông qua một
cán bộ cấp trên đã để ý đến Trường.
Thực ra thì cả hai người
cũng chưa có sự gắn bó nào mà chỉ mới cảm thấy mến nhau mà thôi, nên việc rời
xa nhau cũng không đến nỗi khó khăn lắm, người này thì không muốn làm cho người
kia phải khó khăn trong công tác, còn người kia thì lại cũng không muốn gặp trở
ngại trong việc giao tiếp với người bên trên để còn có điều kiện phát triển bản
thân. Có một điều đáng nói ở chàng trai là anh ta chỉ muốn có một người khả dĩ
thay thế người con gái vừa tuột khỏi tay mình để rồi mau chóng quên đi mối tình
cũ, nên khi thấy mối quan hệ mới có vẻ phức tạp như thế thì cũng thấy nản. Hơn
nữa bên cạnh lại đã có một người mới thay thế nên cái sự rời bỏ cũng không khó
khăn gì.
Hình như trong lĩnh vực
tình yêu người con gái không bao giờ chủ động ngỏ lời trước nhưng một khi đã
quen nhau rồi thì họ lại rất khéo dẫn dắt đối tác đi theo quỹ đạo của họ. Còn
các chàng trai thì cứ tưởng đấy là chương trình do mình đặt ra, thế rồi lao
theo một cách hết sức nhiệt tình. Nhiều khi còn tự hào cho rằng mình là người
chiến thắng oanh liệt, kỳ thực thì họ là người luôn bị dắt mũi và chịu những thất
bại ê chề. Mặc dù cố giữ trạng thái quan hệ bạn bè trong một thời gian khá dài
nhưng rồi việc gì đến sẽ vẫn phải đến. Quan hệ của hai người đã có bước phát
triển khác so với ý định ban đầu. Các cô bạn trong đơn vị đã không còn gán ghép
Hằng với cô Trường nữa, họ đã nhận ra sự thay đổi đối tượng của cặp bạn này.
Cũng trong thời gian này
quân Mỹ đã ngừng đánh phá miền Bắc. Khối công nhân sửa chữa thiết bị lò máy của
nhà máy điện đã được chuyển về khu Lán ổi để đi lại cho nó gần. Những đội viên
của 324 cũng được phân công đi sâu vào phía Nam. Từng bộ phận nhỏ được
chuyển về các ga kéo dài từ ga Thanh Hoá vào đến ga Vinh và xa hơn nữa như ga Đồng
Hới của tỉnh Quảng Bình. Công việc của họ là khôi phục nhanh các ga để thông
tuyến đường sắt vận chuyển của cải, phương tiện từ ngoài Bắc vào giúp cho công
việc xây dựng lại các địa phương đã bị tàn phá trong chiến tranh. Chuyên chở
các phương tiện quân sự và các đơn vị quân đội bổ sung cho chiến trường miền Nam tiếp
tục công cuộc giải phóng đất nước, thống nhất tổ quốc.
Bộ phận của Nghi cũng được
chuyển đến ga Minh Khôi vừa để sửa chữa nhà ga và sửa chữa các cung đường kế tiếp
các bộ phận khác. Sau mỗi tuần làm việc Nghi lại theo tầu về thăm người yêu vào
các buổi chiều thứ bẩy và rồi lại theo tàu vào Minh Khôi vào các chiều chủ nhật.
Những bữa cơm tập đoàn độn ngô cùng với một chút thức ăn mua thêm để cải thiện
cùng với mấy người bạn nhưng vẫn rôm rả không kém những đợt đi ăn cơm tiệm ở Hà
Nội. Những buổi tối dạo chơi trên những bờ đê đẫm sương hoà trộn với hương lúa
đồng thơm ngát cùng với bao nhiêu những dự định về cuộc sống ngày mai sau mỗi
tuần làm việc càng làm cho tình yêu của họ ngày càng đằm thắm. Một ngày nào đó
người chồng sẽ vẫn cứ làm công nhân của nhà máy điện, còn người vợ sẽ làm việc ở
một nhà ga nào đó, để rồi cuối tuần lại trở về gặp nhau với những bữa cơm gia
đình giống như các anh, chị trong đơn vị mà hai người vẫn đến thăm hàng ngày.
Sau khoảng thời gian quan hệ cùng nhau hai người đã bàn nhau tiếp cận hơn nữa về
phía gia đình và một ngày hạ tuần tháng ba họ đã quyết định cùng về thăm nhà cô
gái.
Làng chài Minh Đức xã Minh
Lộc cũng như bao nhiêu làng quê ven biển trên khắp nước Việt Nam, cũng có
bãi biển toàn cát trắng cùng với những hàng phi lao chắn sóng trồng thành những
hàng đều nhau chaỵ dọc theo bờ biển. Những mái nhà ngói chen lẫn những mái nhà
lợp lá kè ngày đêm toả khói giữ nhịp sống cho bao gia đình người dân đất Việt.
Những ông già, bà già nước da nâu bóng đi lại mạnh mẽ trên bãi cát từ sớm đến
chiều say sưa làm việc. Người thì giăng phơi các vàng lưới cắm cúi vá những chỗ
lưới bị thủng, người thì đan sửa lại các thúng sọt để đón cá về vào các buổi
chiều.
Người nhà cô gái đón bạn
trai của cô hết sức vui vẻ và nhiệt tình, ông bố thì nheo mắt ngắm nghía chàng
thanh niên khá kỹ suốt từ đầu đến chân rồi vào nhà pha nước, còn bà mẹ và cô em
gái thì ríu rít mời chàng trai vào nhà, cả bà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên
cũng vội vã sang chơi. Sau khi cô gái dẫn bạn ra giếng rửa chân tay mặt mũi
xong vừa vào đến nhà là hàng loạt các câu hỏi thăm nom với đủ các lĩnh vực. Từ
công việc làm ăn đến hoàn cảnh gia đình rồi thì đến có bao nhiêu anh em cô bác,
chàng trai chưa kịp trả lời xong người này đã lại phải trả lời sang người khác.
Cuối cùng thì cũng đến lượt cậu hỏi lại những người trong gia đình, từ công việc
làm ăn hàng ngày đến bà con họ hàng xóm láng. Đến khi hỏi đến công việc của ông
bố thì cậu đành phải ngồi im để nghe ông kể về việc chữa bệnh của ông. Ông cụ kể
ra rất nhiều những con bệnh mà ông đã chữa khỏi. Hết kể về con bệnh ông lại kể
về cách sử dụng các cây thuốc, trong câu chuyện của ông có cái say nghề của một
người luôn coi công việc mà mình đang làm như là một lý tưởng của cả cuộc đời.
Câu chuyện hàn huyên đang
còn rất sôi nổi thì người nhà đã dọn cơm chiều. Cơm nước xong thì Nghi dẫn bạn
trai sang nhà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên chơi. Chị gái của Nghi tên là Thuận
lấy chồng là bộ đội hiện đang tại ngũ, anh chị đã có hai con nhỏ. Tuy chị chỉ
có một mình nhưng chị làm ăn khá giỏi so với nhiều người khác. Hàng đêm chị đi
đánh moi ngoài biển đến khuya mới về nhà. Chị nói chuyện chả khác Nghi là mấy,
thẳng thắn và không cần khách sáo. Trong lúc Nghi đang chơi với các cháu ở
ngoài sân, chị nói chị sẽ có quà cho hai người khi hai người tổ chức cưới. Vừa
nghe đến đây Hằng chợt giật mình không biết nói thế nào, trong bụng thầm trách
Nghi đã nói chuyện này với gia đình quá sớm.
Vừa về đến nhà hai người
cũng gặp ông bố vừa đi làm thuốc về, ông lại tiếp tục kể về công việc chữa bệnh
của ông cho cả hai người cùng nghe. Từ cách chữa bệnh cho phụ nữ, trẻ em đến chữa
các bệnh đậu mùa, bệnh bỏng nước, bỏng lửa. Ngừng một lúc ông cất cao giọng:
- Chả biết gì chứ lấy con
gái tao thì chắc là vớ được cả mớ những sẹo bỏng ở mông đít.
Nghe xong câu nói này của
ông cụ chàng trai thấy nóng bừng cả người và không còn biết nói sao nữa, cũng
may mà trời đã bắt đầu nhá nhem tối nên chắc ông cụ cũng không thấy khuôn mặt
ngượng ngập của cậu. Trời tối hẳn, trong nhà đã bắt đầu lên đèn, hai người xin
phép ông bố để đi ra chơi ngoài bãi biển. Hai người đi ra đến cổng mới nghe ông
bố dặn với ra:
- Nhớ về sớm đấy nhé!
- Vâng!
Cô gái cất giọng khá to trả
lời ông cụ khi đã bước ra khỏi cổng nhà.
Cũng chả phải đi đâu xa xôi
bởi sau hàng phi lao cạnh nhà đã là bãi cát vừa phẳng, vừa rộng. Từ hàng phi
lao ra tới mép nước biển cách xa đến gần nửa cây số, thoải mái cho hai người đi
dạo. Ra đến sát mép nước thì trời đã tối, hai người cầm tay nhau đi dọc theo
mép nước biển trong màn đêm mờ sáng ánh sao. Đi chán rồi lại ngồi cạnh nhau
trên bãi cát cùng nhìn ra mặt nước nghe từng đợt sóng biển ộp oạp vỗ vào bờ
cát. Giữa khoảng không gian đầy thơ mộng được bóng đêm che phủ không có cặp
tình nhân nào không tranh thủ để mà thổ lộ tình cảm, để mà âu yếm lẫn
nhau. Tay trong tay, mặt kề mặt, hai thân thể nóng bỏng khao khát áp
chặt vào nhau, những cái hôn dài tưởng như không dứt. Những nét thân thuộc trên
cơ thể của nhau lại có dịp được tìm lại sau những ngày xa cách. Bầu trời, mặt
biển, bờ cát cùng những vì sao thêm một lần chứng kiến tình yêu cháy bỏng của
đôi trai gái.
Họ đã ngồi với nhau như thế
rất lâu, rất lâu. Thời gian như ngừng trôi, vũ trụ như ngừng quay và tất cả mọi
người trên trái đất hình như đã ngủ say hết để cho đôi người của họ thổ lộ cùng
nhau lời yêu tha thiết nhất. Phía đông đã hơi ánh lên chút ánh sáng tựa hồ
như từ nơi ấy sắp có một điều gì đó kỳ lạ sắp xảy ra. Cũng đúng lúc ấy từ ngoài
khơi xa có một rền vang giống như tiếng rền của sấm. Nghi giật mình vội đứng dậy
kéo tay người yêu chạy vội vào bờ phi lao. Chàng trai thật sự bất ngờ không hiểu
gì cả nhưng khi thấy người yêu kéo chạy thì chàng trai cũng chạy theo như một
phản ứng dây chuyền vậy. Vừa chạy chàng trai vừa ngoái lại đằng sau thì thấy nước
biển đã dâng lên đuổi sát theo chân của hai người. Vừa lúc hai người ngã nhào
vào bờ phi lao thì nước biển cũng đã ngập bàn chân. Thì ra tiếng sấm rền vừa rồi
là tín hiệu mở đầu cho những đợt thuỷ triều ở những vùng biển mà chàng trai “đường
nhựa” không biết.
QUÂN NGŨ
1
Tất cả những dự định tiếp theo của cặp trai gái chắc chắn đã có thể thực hiện
được nếu như không có một sự kiện đặc biệt đã xảy ra, có lẽ đó là số phận đã
xui lên như vậy. Chỉ mới qua cuộc thăm nhau nhân ngày chủ nhật chưa đầy nửa
tháng thì Hằng nhận được quyết định gọi nhập ngũ của ban quân sự tỉnh. Đợt tuyển
quân lần này gấp rút đến mức các quân nhân không có điều kiện được về nhà chia
tay với gia đình mà phải tập trung ngay về các đơn vị huấn luyện. Trừ những
quân nhân quê ở Thanh Hoá thì còn có thể kịp nhắn cho gia đình và bè bạn đến để
đi tiễn. Còn Hằng và một số anh em quê ở ngoại tỉnh thì chỉ có chính mình tiễn
mình lên đường vào quân ngũ.
Những ngày tháng quân ngũ khép kín với những buổi tập tành, học họp cứ kế tiếp
qua đi. Thời gian quân ngũ đã dài gần bốn tháng mà Hằng cũng chẳng viết thư cho
ai trừ một lá thư gửi về cho mẹ. Trong những năm sống trên đất lửa Hàm Rồng, Hằng
đã nhận ra sự khốc liệt của chiến tranh. Những năm tháng sắp tới mình cũng sẽ
vào cuộc như rất nhiều những chiến sỹ phòng không đã từng sát cánh cùng mình
trong những trận chiến đấu đầy hy sinh gian khổ. Những năm tháng chiến tranh sẽ
còn rất dài, tất cả những người chiến sĩ sẽ chỉ có thể ra về khi chiến tranh kết
thúc hoặc bản thân họ bị thương tích đến mức không còn tiếp tục chiến đấu được
nữa như những thương binh trong các trại mà Hằng đã có lần được gặp. Những người
liên quan đến mình rồi đây sẽ ra sao khi mình là một người tàn phế, hoặc mình
là người sẽ hy sinh không bao giờ còn có thể trở về được nữa. Những chị Hả, chị
Thục ở quê mình, những chị Thuận của nhà Nghi sẽ cô đơn cho đến hết cuộc đời, mỗi
lần nhìn thấy họ mà lòng lại nao nao khôn tả. Chả lẽ mình rồi sẽ lại là một
trong những người đàn ông như những người đàn ông của chị Hả, chị Thục và chị
Thuận mãi mãi không bao giờ trở về nữa. Mình có nên để cho những người thân yêu
của mình phải chịu sự bất hạnh mà mình đã quá biết, quá hiểu này không?
Tuy vậy đôi khi nghĩ đến mẹ, Hằng lại thấy hình như mình có lỗi khi quyết định
sự việc theo cách nghĩ này. Chắc chẳng có người mẹ nào lại không mong muốn mình
có con, có cháu để cho chúng kế tục cái sự nghiệp mà bản thân họ cả một đời nhịn
ăn, nhịn mặc, đổ mồ hôi công sức để gây dựng lên. Huống chi trên đời này cũng
đã có hàng vạn người phụ nữ có hoàn cảnh như vậy mà họ có ta thán gì đâu. Có lẽ
mình cũng nên có một đứa con cho dù bằng cách nào cũng được miễn là người ấy có
thể chấp nhận. Cho đến cuối cùng thì cái lý lẽ không nên làm cho người khác bị
đau khổ đã thắng thế. Hằng đã quyết không báo tin cho Nghi nữa. Sự đời đâu có
theo ý của riêng mình, cái mình muốn nhiều khi tự nhiên vẫn bị thay đổi bởi nhiều
nguyên nhân ngẫu nhiên, ngẫu nhiên đến không thể tượng tượng nổi.
Cũng không biết tiểu đoàn
làm thế nào mà lại được phân phối một con trâu khá to làm thực phẩm. Sáng ấy Hằng
được cử lên tiểu đoàn để phối hợp với các đơn vị khác làm thịt xong rồi nhận thịt
tiêu chuẩn mang về đơn vị. Ăn thịt trâu thì có lẽ đa số mọi người đã từng,
nhưng làm thịt trâu thì số anh em tập trung ở đây chả có ai đã từng trải qua.
Làm sao để cho con trâu ngã ra, chết ngất đi thì mới dễ dàng cắt cổ lấy tiết và
rồi mới có thể mổ bụng, bỏ lòng ruột ra rồi cắt thịt chia cho mọi người được. Mỗi
người đề xuất một kiểu cho đến cuối cùng thì đi đến kết luận là cần phải lấy
cái gì đó thật nặng để đập vào đầu cho nó ngã ra. Nói thì thế nhưng rồi hết anh
này thay anh khác bổ vào đầu trâu đến vài chục nhát búa chim mà nó vẫn không chịu
chết. Không những thế nó còn tự dứt đứt mũi của mình ra rồi cứ nghênh cặp sừng
theo hướng các “chuyên gia” thịt trâu để mà húc làm cho các “chuyên gia” này
không dám tiếp cận nó nữa. Cũng may khi trước đã buộc vào chân nó một sợi dây
chão chứ không thì nó đã phóng đi mất và rồi cả tiểu đoàn sẽ phải nhịn món thịt
trâu đã ở trong tầm miệng. Cuối cùng thì anh cán bộ quân giới của tiểu đoàn đề
xuất là nên dùng súng để bắn cho nó chết, chỉ cần có người nào dám bắn là được.
Nhìn lướt qua một lượt thì thấy đa số các cậu đều là học sinh mới vào quân ngũ
và cũng chưa được một lần bắn súng, cuối cùng thì ông anh Hằng là người nhiều
tuổi nhất lại đã tham gia bắn máy bay rồi phải làm nhiệm vụ bắn trâu. Sau bốn
năm lần kê súng vào đầu trâu rồi mà vẫn không bắn được. Khi thì hướng đạn vào
nhà dân, khi thì đầu trâu cứ ngoảy đi, ngoảy lại không làm sao bắn được. Cuối
cùng thì cũng tìm ra được quy luật ngoảy đầu của nó để rồi dùng phương pháp bắn
đón mới xong. Sau tiếng nổ đanh khô khốc con trâu hung hãn thế mà rồi cũng từ từ
khuỵu xuống.
Chia xong thịt thì cũng đã gần một giờ chiều đang định gánh thịt về thì Hằng
nghe thấy có người tìm mình. Đang còn nghến cổ về hướng đại đội thì đã nghe có
tiếng của Lệ gọi ở phía sau.
- Thế nào xong chưa? Về ngay có khách!
- Vớ vẩn! Tớ thì làm sao có thể có khách được! Vì tớ có cho ai biết đâu mà có
người đến thăm!
- Thôi cứ về rồi khắc biết.
Cũng may là Lệ đi sang bằng xe đạp thế là cậu ta chở hộ thịt trâu để cho
Hằng đi bộ lững thững đằng sau. Bộ quân phục bằng vải chéo Triều Tiên xổ lông của
Hằng dính đầy các loại mỡ màng Hằng cũng mặc kệ chả cần chấn chỉnh làm gì, bởi
Hằng nghĩ là Lệ trêu mình vậy thôi. Mãi đến khi về gần đến nhà trọ thì Hằng nhận
ra cô gái đang đứng chờ bên hàng rào ô rô đúng là Nghi. Làm sao cô ấy biết mình
ở đây mà đến được thế nhỉ? Hay là Lệ quen cô ấy từ trước và Lệ cho cô ấy biết?
Sau một hồi đoán già đoán non mà chả đi đến đâu đã làm Hằng nhận ra rằng cái việc
cô ấy nhờ đâu mà biết địa chỉ bây giờ đã không cần để ý đến nữa, điều cần nghĩ
là bây giờ mình sẽ phải đối xử thế nào với cô ấy trong khi mình đã đặt ra kế hoạch
bí mật từ giã để cho cô ấy quên mình đi, để rồi cô ấy sẽ tự tìm lấy cho mình một
người đàn ông khác. Cuối cùng thì việc Nghi biết được địa chỉ đóng quân để có
thể đến thăm là do cô bạn của Lệ mà Nghi đã gặp được trong khi trở lại khu công
nhân của nhà máy điện để tìm gặp người yêu. Nghi đã đến người anh kết nghĩa mượn
xe để chở cô bạn của Lệ cùng đi.
Chỉ bằng quá trình trở đi, trở lại không biết bao nhiêu lượt từ nơi công tác đến
đơn vị của người yêu rồi lại lần dò để có được địa chỉ rồi đến được nơi người
yêu ở đã làm cho chàng trai xúc động và thương biết chừng nào. Chỉ tiếc rằng
khi ấy lại ở thời điểm ban ngày, rất nhiều bà con trong xóm và đồng đội đang
chia vui nên chàng trai không thể ôm lấy cô gái của mình để rồi không rời ra nữa.
Tất cả những suy nghĩ từ bấy lâu nay đã bị xoá hết để trở lại tình yêu và tình
thương tha thiết như những ngày nào.
Có lẽ trong thời gian chờ đợi người yêu Nghi đã kể chuyện của hai người cho các
anh trong ban chỉ huy nghe nên đơn vị đã cho Hằng được miễn công tác và các
phiên gác từ chiều hôm đó đến hết ngày hôm sau. Từ lúc gặp nhau cho đến buổi tối
hôm đó hai người đã ở bên nhau, câu chuyện của họ vẫn như ngày chàng trai còn ở
ngoài dân sự. Chàng trai vẫn chờ cô gái trách móc về sự ra đi mà không cho mình
biết để đến nỗi mình phải đi tìm vất vả nhường ấy, nhưng trong suốt thời gian gặp
nhau cô ấy hình như không có một lời trách móc nào. Đến lúc ấy chàng trai mới
hiểu người bạn gái của mình thật là một người có nghị lực và có lòng vị tha to
lớn. Với một trái tim như thế, tấm lòng như thế thật khó có thể tìm được người
thứ hai. Tại sao mình lại không để lại cho cô ấy một chút kỷ niệm như mình đã
nghĩ tới. Chỉ cần một lá thư giới thiệu chắc mẹ mình sẽ chấp nhận cô ấy. Mình
hiểu mẹ qua rất nhiều việc mẹ đã làm, từ việc cụ nhận nuôi người chị gái mà cụ
nhặt được trên đường tản cư trong lúc bản thân cụ cũng phải lo kiếm ăn từng bữa,
đến việc nuôi nấng bao nhiêu đứa cháu cho người em họ của chồng, rồi còn biết
bao những cái tốt trong cư xử đối với mọi người trong họ nhà chồng cho thấy
cụ có thừa tấm lòng rộng mở nhất là mình lại có thư giới thiệu rằng đây là dâu,
là cháu của cụ.
Buổi tối gặp nhau sau gần bốn tháng càng làm cho cặp tình nhân khao khát hơn cả
trong những ngày tháng trước đó. Họ ở bên nhau và quện chặt vào nhau, sao mà
vui đến thế, sao mà đẹp đến thế nhưng cũng thật đáng thương bởi chỉ sớm mai đây
họ lại phải chia tay nhau không biết đến bao giờ gặp lại, hoặc cũng có khi họ
không bao giờ còn gặp được nhau nữa.
Chỉ còn một nửa của đêm nay nữa thôi, từ phía cô gái dường như tất cả cũng đã rất
sẵn sàng và những quyết định mới nhất của chàng trai sẽ được thực hiện trong những
giờ phút sắp tới. Đêm lặng lẽ trôi để dần mất đi khoảng thời gian quý báu nhất
mà hai người có được, sự quyết định sao mà vẫn khó khăn đến thế… Điều gì đã
ngăn trở họ có nhau, điều gì đã ngăn trở họ làm cho nhau thoả mãn cả về những
đòi hỏi bản năng lẫn những đòi hỏi về trách nhiệm của một con người trong việc
duy trì nòi giống, duy trì dòng họ và duy trì phiên bản của chính họ trên cõi đời
này? Xin tất cả mọi người đừng bao giờ trả lời cho những câu hỏi vừa rồi. Bởi tất
cả mọi câu trả lời đều sẽ là rất khập khiễng và rất giáo điều.
Họ chia tay vào buổi sáng hôm sau với bao lưu luyến không nói được thành lời.
Người con gái thật là buồn thảm, còn người con trai thì cũng chẳng hơn gì, mặc
dù chàng trai đã cố gắng để không đến nỗi quá buồn trên nét mặt, nhưng bên
trong thì tựa như tất cả đang rớm lệ. Nhưng dù sao thì chàng trai cũng đã chiến
thắng được chính mình, nung nấu thêm cái quyết tâm quên mình cho những người
mình thương yêu nhất.
2
Vào những ngày cuối tháng chín năm 1970 đơn vị bắt đầu làm công tác chuyển quân
từ khung huấn luyện sang cho các đơn vị mới. Toàn đơn vị lúc này đang tập kết tại
khu vực Đồng Nẻ địa điểm cũ của cơ quan nông trường bộ, nông trường Yên Mỹ. Những
buổi học tập chính trị kéo dài đến cả tuần, nào là nghe nói chuyện về tình
hình, nhiệm vụ mới, tình hình chống Mỹ ngày một lan rộng trên thế giới, tình
hình chiến sự miền Nam cùng với những con số rất cụ thể. Rồi thì những
thành tích trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc, phong trào tất cả
vì miền Nam ruột thịt, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược và còn rất
nhiều chương trình khác nữa. Không khí sinh hoạt trong đơn vị hết sức sôi nổi
và hừng hực khí thế. Các chiến sỹ háo hức ra mặt trận ngay để trả thù cho đồng
bào và chiến sỹ miền Nam đang bị kẻ thù đàn áp, ra mặt trận ngay để kịp đóng
góp một phần xương máu của mình cho chiến thắng của dân tộc. Người ta cứ nghĩ rằng
nếu không nhanh thì không còn cơ hội tham gia vào công việc chiến đấu của dân tộc.
Tiếp theo đó là các đoàn viên đăng ký làm đơn tình nguyện xung phong ra mặt trận.
Cuối cùng thì ngày lên đường
chiến đấu cũng đã đến sau mấy ngày tập dượt báo động chuyển quân. Các chiến sĩ
được lệnh bao gói ba lô vào các túi mưa để làm phao vượt vùng nước dài gần năm
cây số ngay từ sáng sớm. Những cơn mưa kéo dài gần cả tuần lễ đã làm cho toàn bộ
khu vực từ thung lũng dưới chân đồi Đồng Nẻ đến ngã ba Chuồng đều ngập dưới hai
đến ba mét nước. Đợt chuyển quân ngẫu nhiên lại hoá thành một đợt thực hành
chuyển quân trên đồng nước mà không phải lúc nào cũng có được. Mặc dù chưa có
kinh nghiệm lại thiếu thốn về phương tiện nhưng đơn vị cũng đã hoàn thành công
việc chuyển quân.
Gần hai tiểu đoàn bộ đội đã
tập kết về các khu vực quanh ga Thị Long nên hầu như nhà nào trong vùng cũng đều
có các anh bộ đội đến ở nhờ. Từ trước đó trên địa bàn đã có một đơn vị công
nhân đường sắt nên lại càng chật chội. Đôi chỗ cả công nhân lẫn với bộ đội đều
cùng trọ chung trong một nhà. Tiểu đội của Hằng có hơn chục người cũng bị chia
nhỏ ra để gửi vào các nhà dân. Nhóm của Hằng chỉ có hai người gồm có Hằng và
Liên tiểu đội trưởng đóng ở nhà của anh xã đội phó. Ngay buổi chiều hôm đó vợ
chồng anh xã đội phó đã tiếp hai anh em bằng những câu chuyện hết sức vui vẻ.
Anh kể rất nhiều chuyện về những vụ đánh án bắt bọn trộm cướp ở ngay tại địa
phương. Câu chuyện của anh ly kỳ như những trận đánh án của công an trung ương
vẫn được kể trên đài.
Sau khi ổn định chỗ ở hai
anh em cùng đi ăn cơm ở bếp đại đội. Mải chuyện với cánh cùng tiểu đội đến khi
về nhà trọ thì trời đã tối. Buổi tối hôm nay Hằng có cuộc họp đoàn triển khai
nghị quyết, hưởng ứng lời kêu gọi thi đua đánh giặc của quân uỷ nên Hằng chào tạm
biệt anh xã đội phó để đến một nhà ở đầu xóm hội ý với cán bộ các phân
đoàn.
Trời tối quá nên Hằng dò dẫm
men theo con đường làng nhỏ hẹp lép nhép đất ướt đến một lúc lâu mới đến chỗ tập
kết cuộc họp. Vào đến sân Hằng chưa vào nhà vội mà đi tìm chỗ có lợi gạch gõ
cho bùn đất rụng ra để vào nhà cho đỡ bẩn. Ngay giữa sân có đến bốn, năm người
phụ nữ ngồi bóc lạc trong một cái thúng đều cất tiếng chào, lúc ấy Hằng mới nhận
ra đấy đều là những cô gái trẻ. Hằng đoán có lẽ họ đều là các công nhân đường sắt
ở nhờ. Hằng chào lại một cách chiếu lệ rồi đi vào nhà, ngồi vào bàn triển khai
chương trình họp. Thực ra thì chương trình và nội dung họp đồng chí chính trị
viên phó đã triển khai hôm trước rồi, việc các đơn vị nhỏ lại phải tiếp tục họp
chủ yếu là tập trung con số tránh để các chiến sỹ tự do đi lại làm lộn xộn khu
vực đóng quân, đồng thời cũng là cách ngăn chặn những anh chàng thích tự do trốn
về nhà để khi tập trung lên tàu vẫn giữ được đầy đủ con số. Cuộc họp diễn ra
không quá một giờ thì giải tán, các chiến sỹ lại ai về nhà ấy để triển khai
công việc gác sách.
Sáng hôm sau các tiểu đội
đi nhận quân trang, vũ khí mãi đến quá trưa mới xong. Vừa về đến nhà đã thấy
anh xã đội phó gọi ra cho biết có người đến hỏi thăm, chờ đợi khá lâu không gặp
nên đã vừa về rồi. Đang còn phân vân không biết là ai thì đã thấy anh xã đội
nói to từ ngoài ngõ:
- Cậu ấy vừa về xong, cô
vào ngay đi!
Vừa quay nhìn ra cửa Hằng
đã nhận ra không phải ai khác mà đó chính là Nghi, mặc dù cô che mặt rất kín bằng
chiếc khăn voan màu trắng. Cô nhẹ nhàng bước vào nhà và ngồi vào cái ghế băng để
kề bên cái bàn gỗ tạp kê ở giữa nhà. Hằng để cho Liên ngồi tiếp hộ rồi xuống bếp
rót nước vào cái ca men mang lên mời cô gái uống.
- Làm sao em biết anh ở đây
mà tìm đến?
Nghi mỉm cười rồi nói:
- Anh thấy em có tài không?
- Anh chịu!
Sau vài câu chuyện mở đầu Hằng
bắt đầu giới thiệu cho anh xã đội phó và Liên biết quan hệ của hai người. Sau mấy
câu hỏi xã giao, anh chủ nhà và Liên đều cáo từ rời khỏi nhà có ý để cho hai
người tự nhiên nói chuyện.
- Các anh còn ở đây lâu
không?
- Có lẽ đơn vị sẽ ở lại đây
gần một tuần gì đó.
- Sáng nay em mới biết anh
về đây qua cái Ngọc kể lại, thế là em đã xin nghỉ mấy ngày để tiễn chân anh.
- Làm sao Ngọc biết được
anh đến đây mà anh lại không thấy cô ấy nhỉ?
- Tối qua nó nhìn thấy anh
tổ chức họp ở ngay nhà nó trọ thế là nó bảo cho em biết.
- Thế mà nó chẳng thèm chào
anh một tiếng, hay là nó giận gì anh không biết?
- Nó không dám nhận anh vì
nó sợ bọn trong tiểu đội trêu anh là người yêu của nó, hơn nữa nó cũng sợ mọi
người biết quan hệ của anh với em rồi suốt ngày trêu cợt không làm sao mà chịu
được.
Ngừng lại một lúc Nghi lại
nói tiếp:
- Chiều mai em định tổ chức
liên hoan chia tay anh, có cả các anh trong ban lãnh đạo tiểu đoàn của anh cũng
tham dự anh nhớ đến nhé!
- Mấy ngày tới có lẽ anh bận
giải quyết một số thủ tục về giấy chuyển sinh hoạt đoàn cho một số anh em còn
thiếu để kịp lên đường nên chưa chắc anh đã đến được đâu.
- Thế thì em tổ chức vào buổi
trưa vậy, có được không anh?
- Để anh xem thế nào đã, buổi
trưa đơn vị tập trung điểm nghiệm quân tư trang, có lẽ anh cũng không sắp xếp
được...Thôi để khi nào có điều kiện anh sẽ bảo cho em biết sau vậy!
- Mặc anh! Nhất định anh phải
đến đấy! Em sẽ báo cáo lãnh đạo hộ cho anh.
Chia tay với Nghi rồi mà Hằng
vẫn cảm thấy không yên, những dự định và sự quyết tâm khi hai người gặp nhau lần
trước đang có cơ bị thất bại. Lại một lần gặp nhau ngẫu nhiên khác! Hằng không
sao giải thích nổi, có lẽ số phận đã không cho họ rời nhau ra được. Suốt cả buổi
chiều hôm đó rồi cả buổi tối khi hai người ở bên nhau Hằng vẫn cố gắng xây dựng
quyết tâm thêm một lần nữa. Những lúc gần nhau Hằng đều tránh để không chạm vào
người của Nghi, cho dù cô luôn áp sát vào anh như mọi khi. Cứ mỗi lần vô tình
chạm vào nhau Hằng lại lựa khéo để hai người cách xa ra thêm một chút.
Để có thể giữ vững quyết
tâm của mình trong việc rời xa cô ấy để cô ấy giận dỗi từ bỏ mình để tìm một
tình yêu mới. Để cô không phải chịu hoàn cảnh cô đơn và héo hắt trong chờ đợi
như những người chị của cô, Hằng đã quyết định sẽ không gặp cô nữa. Ngay lúc đó
trong đầu Hằng đã hình thành một kế hoạch tránh gặp mặt Nghi. Suốt ngày Hằng đi
hết chỗ này đến chỗ khác để nhắc nhở các phân đoàn tổ chức họp triển khai nghị
quyết của chi đoàn. Hằng nhờ Liên chuẩn bị quân tư trang và mọi thứ hộ còn mình
thì luôn vắng nhà để cô ấy không tìm được. Cuối cùng thì Hằng cũng đã thực hiện
được kế hoạch của mình một cách hoàn chỉnh. Hằng đã lên tàu rồi mà cô ấy vẫn
không tìm gặp được. Cẩn thận hơn, Hằng cũng không về chỗ tập trung của tiểu
đội mà ở lại chỗ của trung đội trưởng Nhận là người cùng quê Đông Anh với Hằng.
Cuộc chia tay ban chiều
không biết có được tổ chức hay không, nhưng Hằng đã không đến. Cô ấy chắc sẽ vô
cùng nóng ruột trong suốt thời gian chờ đợi và sẽ đau khổ biết bao khi thời
gian đã quá muộn mà chàng trai của cô vẫn chưa chịu đến hay nói cho thật đúng
là chàng trai của cô đã không đến. Có một điều mà cô ấy sẽ không bao giờ hiểu
được đó là trong mỗi giây phút mà cô ấy đau khổ thì chàng trai của cô ấy cũng
đang chịu bao sự dằn vặt, đớn đau.
Mặt trời đã khuất sau những
ngọn núi phía xa, hoàng hôn màu tím lan toả trên khắp sân ga. Từ bên hàng cọc gỗ
làm rào ngăn cách nhà ga với làng xóm, có một người con gái đứng lặng lẽ nhìn
lên những toa tàu đầy chặt những chàng trai màu xanh áo lính mà không làm sao
tìm thấy được chàng trai của riêng mình. Cũng trong thời gian ấy từ trên một ô
cửa sổ của con tàu có một người lính cũng cố gắng thu vào tầm mắt như muốn ghi
sâu vào trong tim mình hình ảnh nhỏ bé, cô đơn của người con gái mình yêu trong
những giây phút cuối cùng trước lúc đi ra mặt trận.
Những bánh thép từ từ lăn về
hướng Nam xa tắp chở theo trong đó hàng ngàn những chàng trai đang cất
cao từng đoạn những ca khúc rực lửa chiến đấu. Trong đó chắc không thiếu những
người lính đang nhẩm đọc những vần thơ bi tráng, thấm đẫm tình yêu vĩnh cửu của
riêng mình...
3
Công việc bàn giao quân thật
nhanh chóng vì rất nhiều đơn vị sau chiến dịch xuân 1968 đã mất nhiều quân số,
cho nên số tân binh đã được huấn luyện chu đáo cả về kỹ năng sử dụng các loại
vũ khí và thông thạo về kỹ chiến thuật lại được rèn luyện mang nặng, đi dài là
rất quý cho các đơn vị nhận quân. Số quân của Thanh Hoá lần này được giao cho
sư đoàn 320, một trong bốn sư đoàn cơ động của bộ quốc phòng. Nói là chỉ có bốn
sư đoàn cơ động nhưng thực ra thì không biết lúc đó có mấy sư đoàn cơ động, bởi
vì mỗi sư đoàn chỉ mang một số hiệu nhưng nó còn có thêm những chữ A, B, C, D,
E, gì đó. Chính vì vậy mà quân địch rất khó biết ta có thực lực quân số là bao
nhiêu.
Trừ các cán bộ khung huấn
luyện ở lại, quân số của tiểu đoàn được chia nhỏ ra để bổ sung vào các trung
đoàn và các đơn vị trực thuộc ngay tại khu ga Thị Long. Toàn bộ đại đội huấn
luyện của Hằng được bổ sung vào tiểu đoàn 25 trực thuộc phòng hậu cần sư đoàn.
Tiểu đoàn 25 là một đơn vị vận tải bộ, nhiệm vụ chính của cả tiểu đoàn là vận
chuyển vũ khí đạn dược từ các kho của quân khu về, rồi lại chuyển đến các mặt
trận tiếp tế cho các đơn vị chiến đấu. Ngoài vận chuyển vũ khí đơn vị còn làm
công tác chuyển thương từ mặt trận về các đại đội quân y của các trung đoàn hoặc
chuyển về tiểu đoàn quân y của sư đoàn. Ngoài các công việc trên, đơn vị còn thực
hiện các công việc khác nữa mà phòng hoặc sư đoàn yêu cầu đột xuất.
Những ngày đầu tiên về đơn
vị mới lại là các việc học chính trị và rèn luyện. Cán bộ cấp trên luôn lấy việc
chấp hành quân phong, quân kỷ là mục tiêu giáo dục các chiến sĩ. Cùng với những
nội dung trên là hàng loạt các hoạt động như việc làm báo tường, xin vật liệu về
làm các giá đỡ súng, thậm chí là vào rừng chặt cây về làm nhà, làm bếp. Tất
nhiên là các đồng chí lính mới rất hăng say làm suốt ngày, suốt đêm mong sao để
được đẹp hơn các tiểu đội, đẹp hơn các trung đội khác. Họ cũng không ngờ rằng tất
cả những công việc ấy chưa kịp hoàn thành thì đã lại phải báo động chuyển quân
đi nơi khác. Đương nhiên là lãnh đạo cấp trên họ đã biết rất rõ là như thế những
họ vẫn phải triển khai. Cũng có nhiều cán bộ cấp trên nói rằng cứ phải bắt làm
cho thật nhiều để tránh cái việc “nhàn cư vi bất thiện”. Tất nhiên là như các cụ
ta xưa đã nói một câu cưả miệng là “nước sông công lính” nhưng nghĩ cho cùng
thì từ cách nghĩ, việc làm như trên cũng là một cách giữ gìn bí mật. Biết đâu
trên địa bàn chả có các nhóm gián điệp hàng ngày chỉ thăm dò hiện tượng chuyển
quân để mà dự đoán ra kế hoạch tác chiến để bố phòng lực lượng đối phó làm thất
bại kế hoạch của ta.
Ngay khi rời ga Thị Long
đơn vị của Hằng đi một mạch vào tận xã Quảng Hưng, Quảng Trạch, Quảng Bình.
Ngay những ngày đầu tiên đơn vị đã triển khai công tác huấn luyện. Thao trường
luyện tập là một cánh đồng cát trắng bao la bát ngát của xã Quảng Hưng. Bài học
chủ yếu là cách cứu chữa, băng bó cho các chiến sỹ với hầu hết các dạng vết
thương trên mọi chỗ của cơ thể. Tiếp theo là cách buộc võng cáng thương binh kết
hợp vận động trong các tình huống. Gian nan nhất là việc khênh thương binh chạy
trên các địa hình với quãng đường đủ dài để rèn luyện sự dẻo dai của chiến sỹ.
Việc khênh nặng chạy trên cát quả thật là một việc không phải dễ dàng. Cứ mỗi
bước chân lên được hai mươi phân thì khi bàn chân tiếp cát lại lún xuống mất mười
phân. Nhưng mệt nhất là việc mỗi bước chân lại phải kéo theo lượng cát nằm trên
mu bàn chân. Nhiều lần kéo cát như thế bàn chân cứ như muốn rời ra khỏi ống
chân.
Từ mấy tháng nay chính quyền
nguỵ nhiều lần hô hào trên các phương tiện phát thanh và báo chí về
kế hoạch Bắc tiến. Chúng đưa hai chiếc tàu khu trục ra vùng biển ven vịnh Bắc Bộ
làm như sẽ chuẩn bị tiến công ra miền Bắc. Mặc dù chúng đã nhiều lần gào thét
như vậy nên chả ai thèm quan tâm đến những điều chúng nói. Người ta thừa hiểu rằng
ngay trên mảnh đất chúng còn đang chiếm giữ, chúng đã chẳng thể nào giữ nổi huống
gì chúng lại mưu toan làm những việc tầy đình này. Mặc dù vậy nhưng hình như lần
này cấp trên có vẻ rất chú trọng và có phần nào khẩn trương trong tổ chức phòng
thủ dọc bờ biến suốt từ Quảng Bình ra mãi vùng Quảng Ninh, Uông Bí.
Tiểu đoàn 25 vận tải cũng
được huy động vào công tác phòng thủ cùng với các đơn vị khác trong sư đoàn.
Sau đợt chuyển các hòm gỗ dùng để đựng đạn pháo và đạn cối ra vùng biển Cảnh
Dương xong thì cả đơn vị lại lên xe hành quân ra Thanh Hoá. Khi hành quân vào
các đoàn xe đều buông bạtT, còn khi ra thì chẳng thấy nói gì về việc giữ bí mật
mà có vẻ như cấp trên còn muốn khoa trương thanh thế cho mọi người cùng biết rằng
ta đang phòng thủ đây. Đồng thời cũng ngầm răn đe kẻ địch về sự chuẩn bị này để
chúng hiểu rằng tiến ra Bắc là sẽ chỉ có con đường chết.
Những ngày cuối năm đang đến
gần, hôm nay đã là ngày tết ông Táo hai mươi ba tháng chạp rồi, không khí tết
đã rộn rã trên khắp các vùng quê. Từ các ngả đường thôn xóm người đi lại có vẻ
gấp gáp và khẩn trương hơn. Các chợ trong vùng đông đúc, tấp nập khác hẳn những
ngày thường. Nhiều mặt hàng ngày thường không có hôm nay cũng bày bán khắp cả
chợ. công việc chặt cây rừng về làm nhà cũng đã gần hoàn chỉnh. Một số
trung đội đã cắt đủ tranh để lợp nhà. Cứ tưởng chuyến này sẽ được ăn tết ở vùng
rừng núi Như Xuân, vậy mà sớm nay đại đội lại phải lên đường để vào lại Quảng
Bình. Lần này thì đơn vị tập kết ở vùng Tuyên Hoá, miền tây của Quảng Bình.
Công việc chính của đại đội
2 là nhận hàng từ kho của sư đoàn về trang bị cho trung đoàn 64 đi B dài
trong thời gian tới. Kể ra cũng lạC, bởi quân tư trang của 64 lần này không giống
với đồ dùng của các đơn vị đi B dài khác. Những bộ quần áo mới thì chẳng nói
làm gì bởi nó vẫn như quần áo mọi khi. Nhưng tăng võng và các trang bị khác như
thuốc men và các thứ hàng hoá cấp kèm theo thì rất sơ sài. Nhiều người nghĩ rằng
có lẽ nhà nước mình có khó khăn do kháng chiến kéo dài nên cũng thiếu thốn hơn
chăng.
Chỉ đến khi cuộc chiến đã mở ra và toàn thắng ở vùng đường 9 Nam Lào người ta mới
hiểu rằng mọi công việc mà cánh lính tráng hậu cần chúng tôi làm trong mấy
tháng qua chỉ là động tác nghi binh trong chiến thuật mà thôi. Người ta càng
không thể ngờ rằng sư đoàn trưởng Kim Tuấn đã vào khảo sát vùng chiến trường từ
trước đó khá lâu. Người ta càng không thể ngờ rằng trung đoàn 64 của sư đoàn
320 chẳng đi B dài mà là vào đón lõng tại một vùng hiểm yếu để tiêu diệt toàn bộ
quân địch định bất ngờ đánh vào hậu phương của ta mà chúng đặt tên là chiến dịch
Lam Sơn 719. Có một điều càng không thể ngờ được đó là kẻ địch tưởng ta đã bị
chúng nghi binh thu hút lực lượng vào cuộc phòng thủ miền Bắc. Chúng có biết
đâu rằng ta đã chờ chúng hàng mấy tháng trời tại cái nơi mà chúng tổn hao không
biết bao sức lực vào đó để rồi hàng ngàn quân, hàng ngàn ô tô, xe tăng, trọng
pháo và cả những máy bay lên thẳng đã không kịp chạy thoát thân. Bản tin chiến
sự đã mô tả cuộc rút chạy hỗn loạn ấy không khác nào một đàn vịt bị săn đuổi.
Hàng ngàn những ô tô, xe tăng vẫn đang nổ máy còn bọn lính lái xe đã tháo chạy
không biết tự bao giờ. Cả đống những phương tiện chiến tranh bị bỏ lại trên đoạn
đường dài mấy cây số. Trong cái mớ hỗn độn ấy người ta còn thấy cả những chiếc
máy bay lên thẳng hạ xuống rồi không kịp bay lên trốn chạy. Trung đoàn 64 là một
trong những đơn vị lập công lớn trong chiến dịch. Có một điều đặc biệt hơn là
trung đoàn còn bắt sống được đại tá Thọ lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù, một trong những
người đứng đầu chiến dịch Lam Sơn 719 của quân địch. Nghe đâu Thọ còn là một
nhân vật của CIA, cục tình báo trung ương Mỹ.
Sau khi hoàn thành cuộc nghi binh chiến thuật, khối hậu cần trong đó có tiểu
đoàn 25 vận tải và một số các đơn vị chiến đấu của trung đoàn 48 được điều vào
tiếp ứng để chặn đánh một số bộ phận quân địch chạy tán loạn khắp vùng lân cận.
Đại đội 2 của Hằng được đưa lên xe chở vào vùng Cự Nẫm của địa phận của tỉnh Quảng
Bình rồi sau đó hành quân bộ đi sâu vào miền rừng khọc của Tỉnh XaVaNakhệt trên
đất của nước bạn Lào. Cuộc hành quân của đại đội 2 dừng lại ở vùng Na Thông, Na
En để phối hợp với các đơn vị chiến đấu tiến đánh các cứ điểm ở khu vực Pha
Lan, Đồng Hến. Cho đến tháng 6 năm 1971 thì tất cả mọi lực lượng tham gia cuộc
tập kích của quân địch ra đường 9 năm 71 mà chúng lấy con số năm 71 cùng với địa
danh đường 9 ghép lại đã hoàn toàn bị tiêu diệt.
4
Những ngày đầu tháng sáu âm lịch vừa mới bắt đầu thì cũng là những ngày mở màn
cho những trận mưa đầu mùa trên đất bạn. Cả đại đội hàng trăm người vừa mới mạnh
khoẻ là thế mà giờ đây đang lên cơn sốt rét run lên cầm cập. Ban chỉ huy đại đội
2 cả từ chính trị viên, đại đội trưởng đến các thành viên khác cũng bệnh tơi bời.
Hai cậu liên lạc trẻ Tâm và Luận khoẻ thế mà cũng nằm rên hừ hừ mỗi thằng một
xó. Cũng không biết thế nào mà Hằng lại nằm ở con số bốn người trong đại đội
không bị sốt. Ba trong số bốn người không bị sốt thì đều đã từng sốt ở Thượng
Lào năm trước còn có thể nói là có sự miễn dịch chứ Hằng thì đâu đã sốt bao giờ.
Sau nhiều năm nghiên cứu về bệnh nhiệt đới nhiều học giả người nước ngoài đã
cho biết Nam Lào là vùng tập trung của các loại bệnh sốt rét do muỗi gây ra vào
diện đứng đầu thế giới, thế mà Hằng lại không bị sốt thì quả thật là lạ.Tất
nhiên là không sốt thì phải cáng đáng toàn bộ mọi việc cho những người ốm. Đâu
là việc chăm lo cơm nước, giặt dũ áo quần, thậm chí cả việc gác sách đêm hôm
cũng phải cáng đáng nhiều hơn. Cũng may là cụm công tác của Hằng chỉ có mỗi một
anh Nhu đại đội phó cùng với mấy người, chứ nếu ở đại đội bộ phía trong bãi đá
Na En thì chắc là cậu chạy tướt bơ cả ngày sang đêm không hết việc.
Còn đang dọn dẹp một vài thứ vũ khí của anh em để bên miệng hầm kèo thì đã nghe
có người gọi từ bên hầm của đại đội phó, Hằng đứng lên thắt lại dây lưng quần rồi
chạy sang nhận lệnh. Vừa thấy mặt, tham mưu trưởng sư đoàn Phát đã giao cho cậu
một thư lệnh bảo phải gấp rút đưa vào cho tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quý ở mãi tận
Na En. Nhận thư xong Hằng nhét thư vào ngực áo rồi chạy về hầm của mình để chuẩn
bị lên đường. Đường đi vào Na En chỉ độ hai chục cây số và hầu như cũng rất an
toàn, nên Hằng cũng không cần chuẩn bị gì nhiều. Vừa khoác khẩu AK báng gấp lên
người định đi thì đại đội phó gọi lại bắt mang thêm khẩu K54 với đủ ba băng đạn
nữa rồi mới cho đi.
Cũng thật may cho Hằng là hôm nay trời tương đối khô ráo nên đường xá quang
đãng có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ ở khá xa nên không lo bị địch phục kích. Mặc
dù vừa đi vừa chạy gằn nhưng Hằng không khỏi lo lắng sợ rằng mình đến không kịp
thời gian quy định. Trong suốt thời gian tập luyện các cán bộ khung đã nhấn mạnh
đến trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ trong bất kỳ hoàn cảnh
nào. Đặc biệt là nhiệm vụ giao thông liên lạc, chuyển mang tài liệu trong chiến
đấu. Các tài liệu phải được bảo đảm hoàn toàn bí mật, không để lọt vào tay kẻ địch,
phải mang đến nơi nhận đúng địa điểm, đúng thời gian. Đây cũng là lần đầu Hằng
làm nhiệm vụ này nên trách gì không khỏi lo lắng dọc đường.
Đang vừa đi vừa suy nghĩ, chợt Hằng thoáng nghe trong gió hình như có tiếng người
từ phía trước mặt vọng lại. Nhanh như một vận động viên chạy việt dã Hằng vượt
qua khoảng trống để lẩn nhanh vào khu vực cây cối um tùm của một ốc đảo. Dựa
mình vào một cái rễ cây khá lớn đủ che khuất người rồi tập trung quan sát ra bốn
phía xung quanh. Ngón tay cái khẽ khàng ấn khoá hãm của khẩu AK báng gấp
rồi đặt ngón trỏ vào vòng cò súng. Có lẽ là số lượng của nhóm người này khá
đông nên tiếng ồn ào nghe khá rõ. Cũng không phải đợi lâu thì người đi đầu đã
xuất hiện. Một người đàn ông mặc áo rằn ri, tiếp theo là một người đàn ông mặc
một cái áo cộc ba lỗ, bên dưới quấn xà rông, kế đến là hai người phụ nữ mặc váy
hoa. Phía sau hình như còn có mấy đứa trẻ con lũn cũn sau đám cỏ tranh. Đã gần
lắm rồi, có lẽ chỉ còn cách hai trăm mét là cùng! Một trăm rưởi mét! Một trăm
mét! Gần quá rồi, có lẽ phải bắt đầu thôi. Nhưng sao thế nhỉ? Tất cả họ đều
không mang súng hoặc một thứ vũ khí gì mà chỉ có các loại dao, gùi, ống nước!
Có lẽ đây là một gia đình người Lào đi thăm người hoặc ra nương thì phải. Chỉ
còn độ năm mươi mét nữa là chạm nhau rồi. Chợt ba đứa trẻ con vùng chạy đuổi
nhau lao nhanh về hướng Hằng phục kích. Chúng chạy nhanh quá và chợt đứng sững
lại vì chúng đã nhận ra có người lạ ở bên gốc cây trước mặt mình. Cả ba đứa
cùng la eo éo và chỉ tay về phía Hằng báo cho những người lớn biết. Nói thì lâu
chứ thực tế thì từ khoảng thời gian Hằng phát hiện ra nhóm người đó cho đến lúc
lũ trẻ vọt chạy đuổi nhau kéo dài chỉ độ năm sáu phút. Ngay cả những ý
nghĩ chợt đến, sự liên hệ tình hình ở trong đầu đến khi đánh giá xong sự việc để
đi đến hành động cũng chỉ nhanh chóng lướt qua trong vài mươi giây là cùng.
Những người lớn trong nhóm
sau khi nghe lũ trẻ la lối cũng dừng lại cả và thận trọng nhìn về phía Hằng. Họ
đứng nguyên với tư thế khi họ bất chợt dừng lại mà không dám thay đổi tư thế
khác vì sợ bị đối phương hiểu lầm về hành động của họ. Họ có vẻ lo lắng hoảng sợ
khi thấy Hằng hướng mũi súng về phía họ. Sau giây phút bị bất ngờ vì lũ trẻ
phát hiện ra mình thì Hằng cũng đã trấn tĩnh lại và quan sát kỹ cả nhóm người đứng
trước mặt, trong khi tay vẫn chạm sát vòng cò súng. Trong lúc cả mấy người vẫn
đứng nguyên tại chỗ Hằng đã nhìn lại người mặc áo rằn ri, người này vào khoảng
bốn mươi, còn người già thì không thể đoán ra tuổi được bởi mặt mũi thì nhăn
nhúm, lưng lại còng gập xuống. Cái áo rằn họ mặc cũng đã quá cũ, nhiều chỗ trên
vạt đã rách sơ ra chỉ còn cái vệt xanh đen khoang khuở thì vẫn còn nhìn khá rõ.
Cũng giống như Hằng, sau cú chạm mặt bất ngờ làm cho nhóm người ấy sợ sệt đôi chút
nhưng họ thấy người cầm súng không có ý làm hại đến họ thì họ có vẻ an tâm hơn.
Sau một lúc cả hai bên im lặng nhìn nhau thì chợt nghe thấy cả mấy người trong
nhóm léo xéo với nhau mấy câu gì đó rồi thì tất cả bằng ấy người nối theo nhau
rẽ xiên về phía bên trái để vòng xa người cầm súng một chút. Hai người đàn bà
có vẻ rón rén hơn, vừa đi vừa túm tay lũ nhỏ lôi theo làm cho chúng không còn
chạy nhảy được như lúc trước. Hằng thở phào nhẹ nhõm khoá súng lại rồi đi tiếp
khi nhóm người của gia đình người Lào ấy đã đi khuất hẳn phía sau.
Gần một giờ đồng hồ vừa đi
vừa chạy Hằng mới đến được bờ một con suối lớn. Nghe số các đồng chí đã đi qua
nói lại thì con suối này là điểm chia đôi khoảng đường từ trạm trung chuyển nơi
Hằng ở đến bãi đá Na en là nơi tập kết của cả đơn vị. Con suối mà anh em kể
nghe thật nhỏ bé, còn con suối Hằng gặp sao lại lớn quá thế này. Thậm chí nó có
thể là sông chứ không còn là suối, bởi chiều ngang mặt nước rộng đến hơn bốn
mươi mét. Còn dòng nước của nó thì cuồn cuộn chảy trông thật hung hãn và đầy
thách thức đối với những người muốn vượt qua nó. Cùng với những xoáy nước đục
ngầu là những đợt sóng chồm lên vật xuống lao đi với hàng ngàn tiếng ồn ào đinh
tai nhức óc. Tuy nhiên điều đó còn không đáng sợ bằng những những cây gỗ, cây
tre và hàng ngàn các vật nhọn có, kềnh càng có đang thi nhau vun vút lao đi
trên khắp mặt nước với tốc độ ghê người.
Sau một thoáng phân vân lo
là mình bị lạc đường thì Hằng cũng nhận ra dấu của anh em đi công tác hàng ngày
để lại như lời dặn lúc ra đi. Thế là bây giờ chỉ còn mỗi một việc là làm thế
nào để vượt sang bên kia nữa mà thôi. Việc phải bơi qua là điều tất nhiên rồi
nhưng mà có thể qua được bên kia không hay là bị gỗ thúc vào người và vĩnh viễn
nằm lại ở đáy sông mới là điều cần phải nghĩ đến. Thời gian! Thời gian không
cho mình nghĩ lâu hơn nữa và việc phải bơi qua sông đã được dự kiến trong đầu.
Kiểm tra lại công văn một lần nữa rồi thắt lại bao súng ngắn. Khẩu AK báng
gấp cũng được quàng qua người rồi lại buộc vào ngang lưng bằng một đoạn dây dù.
Một gốc cây lớn với những
khúc rễ, cành cồng kềnh vừa trôi tới. Không còn nghĩ gì nữa Hằng lao người thật
nhanh ra mặt sông men theo những cành cây rườm rà trước mặt. Thật không thể ngờ
được là Hằng không thể bám kịp được vào đám cành rễ đó bởi vừa khi chuẩn
bị bám vào đám cành lá thì một súc gỗ ở đâu đó bất ngờ nổi lên theo xoáy nước
lao thẳng vào Hằng. Ngay lúc đó Hằng buộc phải láng về bên phải để tránh khúc gỗ
ma quái kia. Một xoáy nước rút Hằng xuống khỏi mặt nước, Hằng vẫn còn cảm thấy
hình như bề mặt vỏ xù xì của khúc gỗ trượt qua mạng sườn bên trái. Cũng
may cho Hằng là cái xoáy nước sau khi lôi Hằng xuống khá sâu thì nó lại thả Hằng
ra để cho Hằng trồi được lên mặt nước. Đến lúc này thì đành phải mặc kệ mọi
điều nguy hiểm ở cả hai bên người, Hằng chỉ còn biết bơi và bơi cho nhanh bất
chấp điều gì có thể xảy ra.
Có lẽ khi đã là một vật như
bao vật khác cùng trôi trên sông thì tốc độ của mọi vật cũng ngang nhau mà Hằng
có khác gì một vật đang trôi nên ngay phía trước, phía sau, bên trái, bên phải
Hằng ngồn ngộn là những vật lớn có, nhỏ có mà vẫn không thấy chạm vào người. Hằng
nhận ra rằng mình không nên cố vượt các vật cản mà nên lựa theo chúng rồi tranh
thủ né mình hướng về bờ sông bên trái, đồng thời cố gắng tránh xa các đợt sóng
cùng những xoáy nước thỉnh thoảng xuất hiện ngay bên cạnh là sẽ thành công.
Cũng không biết thời gian kéo dài bao lâu, chỉ đến khi áp sát vào bờ sông bên
kia Hằng mới tin là mình còn sống. Sau khi cởi tất cả quần áo ra để vắt bớt nước,
ngồi nghỉ một lúc cho lại sức, Hằng mặc lại bộ đồ ướt rồi tiếp tục lên đường. Hằng
đi ngược lại theo chiều nước chảy có lẽ phải đến gần nửa cây số mới gặp lại con
đường mòn đơn vị vẫn đi công tác hàng ngày. Như vậy thì quãng đường mà nước cuốn
Hằng đi cũng khá là xa đấy chứ!
5
Sau khi trao công văn cho
lãnh đạo, lại kể cho bọn Tâm và Luận nghe câu chuyện vượt sông xong mới thấy mệt
và đói. Vừa mỉm cười nghe ông anh “đường nhựa” nói về cái việc vượt sông chả lấy
gì làm ghê gớm âý, Luận vừa vào bếp mang ra một cái xoong đựng cơm và nưng bát
thịt kho lõng bõng. Đặt xoong cơm và bát thịt trước mặt Hằng, Luận bảo:
- Anh may nhé! Hôm nay bắt
được một con nhím nên nấu hơi nhiều cơm! Biểu dương thành tích bằng bát thịt
nhím này đấy nhé!
Vừa cơm nước xong thì đã thấy
bên trung đội ba của anh Giao hò la ầm ĩ. Hằng chột dạ hỏi Tâm và Luận:
- Này! Không sợ lộ bí mật
nơi đóng quân à!
- Bọn nguỵ chạy sạch cả rồi!
Làm gì còn thằng nào mà phải bí mật.
- Này, tớ vừa gặp một gia
đình Lào lúc đi vào đây, tý nữa thì tớ xả súng diệt gọn. May mà trong đám ấy có
ba đứa trẻ con chứ không thì …!
- Dân ở đây lỳ lắm, họ còn
vào cứ điểm vừa đánh xong để vét chiến lợi phẩm đấy anh ạ!
Đang còn nói chuyện với
nhau thì đại đội trưởng đã về đến. Vừa vào đến lán anh đã hô bọn Tâm, Luận thu
dọn quân tư trang. Cả bọn còn đang ngơ ngác chưa biết gì thì đã nghe đại đội
trưởng bảo:
- Thế nào? Có ra không thì
bảo!
Luận nhanh mồm hỏi lại:
- Ra hẳn hay tạm thời hả thủ
trưởng?
- Đã ra lại còn có cả ra tạm
thời nữa à? Riêng cậu ra tạm thời còn chúng tớ thì ra hẳn.
Cũng chỉ đợi có thế là Luận
vỗ tay hét lên ầm ĩ. Thì ra không biết nghĩ thế nào mà trưa nay Luận bảo không
nên giặt quần áo để tránh phải bỏ quần áo ướt vào ba lô. Còn Tâm thì không
nghe, đã đem cả hai bộ nhúng nước giặt phơi ngoài bờ suối bây giờ vẫn còn ướt
rườn rượt.
Đến lúc này thì Hằng mới biết
công văn mà mình mang vào lúc nãy là lệnh rút quân mà trên đưa xuống. Hằng vội
gặp đại đội trưởng trình bày về tình hình sông nước vừa gặp lúc đi vào. Nghe
xong đại đội trưởng bảo:
- Không sao đâu! Có khi
mình ra đến nơi thì suối đã cạn khênh rồi ấy chứ. Vùng này thỉnh thoảng nước lũ
vẫn tràn về như vậy nhưng chỉ ba bốn tiếng là lại cạn ngay.
Dừng một lúc đại đội trưởng
lại hỏi Hằng:
- Thế vừa rồi cậu đi vào bằng
cách nào?
- Đành phải nhảy xuống mà
bơi thôi chứ còn biết làm thế nào hả thủ trưởng!
Nghe đến đây thì đại đội
trưởng ngạc nhiên thực sự, anh vừa quét mắt nhìn khắp một lượt trên người của Hằng
vừa bảo:
- Thế mà cậu chả dìm luôn cả
người lẫn công văn xuống suối để chúng tớ lại bị một phen đi tìm bở hơi tai thì
mới vừa.
- Làm thế nào được! Ông
Phát bảo phải kịp thời, không thì ông ấy cho ra bã!
- Mà cũng phải…! Thôi cậu dẫn
đường đi, cậu giúp thằng Tâm mang mấy bao gạo ra luôn ngoài ấy.
Không lâu sau toàn bộ lực
lượng của sư đoàn đã rút quân ra tận Kỳ Tây, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tiếp tục những
ngày học tập và huấn luyện, chuẩn bị cho những nhiệm vụ tiếp theo ở một mặt trận
nào đó mà không ai có thể dự đoán được.
Về Kỳ Tây mới chỉ được mấy
hôm đơn vị đã lại bắt đầu đi vào học tập và rèn luyện. Những bài tập bắn bia được
ôn lại từ đầu như khi mới vào bộ đội. Từ bia số 4, số 6 đến bia số 7, bia thằng
còm di động, chả thiếu loại bia nào. Các buổi tối không sinh hoạt thì tập bắn
đèn ở sân kho của hợp tác xã. Cũng chẳng biết thế nào mà ngay hôm tập bắn đèn đầu
tiên cậu Long ở trung đội 2 lại cho nổ một viên đạn. Cũng may là viên đạn không
gây sát thương cho ai mà chỉ làm vỡ cây cột cái bằng luồng của một nhà dân ở
bên trái sân kho. Làm mất công trung đội phải đi thương lượng xin lỗi gia đình
bị nạn. Sau vụ này đơn vị họp lên họp xuống để tìm nguyên nhân mà vẫn không tìm
ra nguyên nhân của sự việc. Trung đội trưởng trung đội 2 nói anh đã cho khám
súng rất cẩn thận trước khi vào huấn luyện lại có cả chính trị viên phó cùng
tham gia buổi tập xác nhận. Mãi về sau này, khi sự việc đã dần lãng quên rồi
người ta mới đoán rằng có lẽ có cậu nào đang ở phiên gác đã đi qua bãi tập rẽ
vào rồi để lẫn súng gác với súng tập. Những người gác hôm ấy thì cũng có đến mấy
người, nhưng người làm lẫn súng thì mọi người cũng đã biết. Có điều sự việc đã
nhạt rồi nên ban chỉ huy chỉ gọi cậu ta lên để phê bình rút kinh nghiệm một lúc
rồi cũng thôi không kỷ luật nữa.
Công tác đoàn cùng với các
chương trình văn nghệ đã làm cho Hằng bận suốt ngày không hết việc, nay lại
càng bận thêm với cái chức phó chủ tịch hội đồng quân nhân của đại đội mà Hằng
vừa được bầu vào trong đợt củng cố đơn vị lần này. Nào là tổ chức dạy những bài
hát truyền thống, nào là viết kịch bản và dàn dựng các vai kịch cho tổ văn nghệ,
rồi thì tập huấn diễn viên. Lại còn khổ hơn khi chả có ai muốn đóng vai cố vấn
Mỹ vừa nham hiểm, độc ác, vừa đểu giả với các cô gái trong cốt kịch do Hằng viết
ra. Thế là Hằng đành phải vào vai kịch này vậy.
Cuối cùng thì đơn vị cũng tổ
chức thành công buổi biểu diễn văn nghệ với hàng chục các tiết mục từ tấu nói đến
ca hát tập thể, ca hát cá nhân và cuối cùng đêm diễn là vở kịch viết về các chiến
sĩ biệt động miền Nam tổ chức đánh Mỹ ngay tại nội đô Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngoài
các khán giả là cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị ra còn có rất đông thanh niên và
nhân dân của địa phương cũng đến xem. Mỗi tiết mục kết thúc là tiếng vỗ tay lại
vang lên không ngớt, làm cho không khí của một vùng quê như bừng dậy sau rất
nhiều thời gian im lìm vắng lặng của những năm chiến tranh bom đạn.
Suốt trong mấy ngày nay
trên đài nói nhiều về mức nước sông Hằng, sông Đuống ngày một lên to. Những người
quê ở gần các vùng sông này luôn lo lắng về một cuộc vỡ đê có thể sảy ra. Trong
những năm Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng cũng đã nhiều lần
đánh vào đê đập và các công trình thuỷ lợi. Nhiều chỗ mới chỉ kịp hàn vá mà
chưa củng cố được nên rất xung yếu không biết vỡ lúc nào. Thế rồi cái việc luôn
lo lắng ấy cũng đã sảy ra ở đê sông Đuống. Đê làng Tình Quang thuộc huyện Gia
Lâm chính là điểm vỡ lớn nhất. Cả một khu vực rộng lớn bao gồm cả mấy huyện của
Hà Bắc, Hải Hưng và Hà Nội đều bị ngập lụt có chỗ sâu tới ba, bốn mét nước. Đơn
vị cũng có rất nhiều chiến sĩ quê ở trong vùng bị lụt nên cũng đã báo cáo lên cấp
trên cho về phép đặc biệt. Các đề nghị cũng đã được sư đoàn chấp nhận và giao
cho các đơn vị bố trí.
Sau cuộc họp điểm danh buổi
tối xong anh Huynh chính trị viên phó nháy Hằng ra cổng doanh trại không biết để
làm gì mà nghe có vẻ rất bí mật. Đoán chắc lại bàn về công tác thanh niên nên Hằng
lừng chừng mãi không chịu ra. Vừa lúc ấy hai cậu liên lạc cùng với y tá Cứ lại
rủ đánh bài bôi nhọ nồi thế là Hằng quên luôn không ra cổng nữa. Chờ mãi không
thấy Hằng, anh Huynh lại quay trở vào nhà kho. Vừa thấy Hằng đang quỳ trên chiếu
anh liền dùng hai đốt ngón tay dọi cho một cái vào đầu rồi bảo:
- Lúc họp nói thế nào mà lại
không ra thế hở?
Lúc ấy Hằng mới nhớ ra, bèn
xếp bài lại tiện tay đưa cho anh nuôi trưởng Toán rồi theo anh Huynh ra ngoài cổng.
Thì ra anh Huynh gọi Hằng ra để báo cho biết là cậu được về phép đặc biệt vào
sáng ngày mai. Hằng vừa nghe được đã định hét toáng lên thì anh Huynh giơ ta bịt
mồm lại:
- Này cả đơn vị chỉ có mỗi
một mình cậu được đi thôi đấy! Đừng làm ồn lên ảnh hưởng đến đơn vị.
Ngừng một lúc anh lại nói
tiếp:
- Xuống ngay chỗ cậu Binh
quản lý thanh toán tiền đi đường cho kịp mai đi sớm. Chốc nữa tớ gửi mấy bức
thư mang về ngoài đó bỏ cho nhanh.
- Thủ trưởng yên tâm em sẽ
bỏ ở nơi bưu điện lớn nhất tỉnh để thư đến cho nhanh.
- Thôi không phải về tỉnh
mà chỉ cần bỏ ở Hà Nội là được, Hà Tây nhà tớ ở ngay cạnh Hà Nội còn gì!
Công việc thanh toán cũng
chả lâu la gì vì hình như Anh Binh quản lý đã được biết trước nên đã chuẩn bị sẵn
rồi.
Đêm sao mà dài thế đến thế!
Hình như Hằng chưa thấy có một đêm nào dài đến thế bao giờ. Vừa thao thức nhớ về
nhà vừa bị mấy cậu liên lạc lạo xạo viết thư trong góc nhà không sao yên tĩnh
được nên Hằng đành giương mắt thao láo ra để chờ sáng.
Thực ra thì có rất nhiều
người quê ở vùng lụt nhưng chỉ mỗi một mình Hằng được về thì đó quả là một điều
đặc biết. Có lẽ Hằng là người ở trong đại đội bộ nên các thủ trưởng cũng tin tưởng
hơn số anh em khác. Bởi vì khi cho một chiến sĩ về nhà cách xa đơn vị đến hơn bốn
trăm cây, rồi chiến sĩ ấy có trả phép đúng hẹn hay không hoặc giả có thể cậu ta
đảo ngũ không trở lại thì sao? Có lẽ ngoài lý do trên các thủ trưởng cũng như
có ý thưởng công cho Hằng vì những cố gắng trong mấy tháng qua về công tác
đoàn, công tác báo chí và công tác hoạt động văn nghệ. Thôi thì vì cái gì cũng
được miễn là mình là người được về thăm nhà thế là quý lắm rồi.
Trời còn chưa sáng rõ mặt
người, Hằng đã ba lô khăn gói từ biệt các thủ trưởng và các bạn trong đại đội bộ
lên đường. Chặng đường từ Kỳ Tây lên thị trấn Kỳ Hoa cũng khá dài và lại chẳng
có loại xe chở khách nào nên Hằng đành phải đi bộ. Chưa đi được năm sáu cây số
Hằng đã gặp đến năm, sáu cái ngầm. Ngầm nào cũng ngập nước thế là Hằng cũng chẳng
buồn thay quần nữa mà cứ mặc ướt để đi. Đang mừng vì sắp đến Kỳ Hoa thì lại gặp
ngay một cái ngầm nữa. Ngầm dài đến hơn ba chục mét mà nước thì lại có vẻ rất
sâu. Những khối nước không biết từ đâu dồn về lao đi cuồn cuộn va vào bờ đá
tung bọt trắng xoá, cùng với những khối nước sẵn có từ trước xoáy cuộn ào ào chảy
từ bên này đường rồi đổ xuống bên kia đường với độ cao đến năm sáu mét. Chẳng dễ
gì trụ lại trên những xoáy nước mặt đường mà không bị khối nước kia hắt xuống
bên kia đường rồi trôi tuột đi đâu không biết. Thế là lại phải đợi mất mấy tiếng
đồng hồ chờ nước cạn. Chắc chắn lại nhỡ chuyến xe đêm nay rồi, thật là ngán ngẩm
hết chỗ nói.
Dòng nước vẫn chảy dường
như không có dấu hiệu của sự thuyên giảm. Đường đồi vắng ngắt không một bóng
người. Từ trên một sườn núi cách đó không xa vẫn còn đó hai sợi dây cáp của cây
cầu treo thời đi bộ hành quân vàoNam. Thực ra cái thời vừa nói đến cũng chẳng
xa gì bởi con đường 559 cũng mới được bắt đầu khai thác trong vòng sáu năm đây
thôi. Bởi con đường từ KỳTây đi lên Kỳ Hoa cũng vẫn còn nguyên màu tươi mới của
đất đồi đỏ dọi. Đâu đây hình bóng những cô gái mặc áo phòng không vẫn còn đâu
đó ở trên đường cùng với những cuốc xẻng, quang gánh bên một đoạn đường đầy hố
bom sâu hoắm. Những người con gái chỉ mới vừa mười sáu tuổi đã bước chân
vào cuộc chiến với sự quả cảm ít người sánh nổi. Trên đoạn đường ngầm này thôi,
không biết đã có bao nhiêu người đã ngã xuống, không bao giờ còn trở lại quê
hương được nữa.
Đang mải nhìn lên những sợi
dây cáp trên đỉnh núi cao và suy nghĩ linh tinh nên Hằng không để ý từ phía bên
kia ngầm đã xuất hiện hai người đàn ông, một già, một trẻ, đang đứng ngó
nghiêng quãng đường ngập nước. Sau khi nghe hai người ở phía bên kia vừa trao đổi
với nhau mấy câu bằng cái giọng của địa phương miền trong vừa sắn quần, sắn áo
thì Hằng đoán rằng họ đang định vượt sông. Đến lúc này thì Hằng chăm chú theo
dõi xem họ sẽ vượt sông như thế nào để rồi mình cũng sẽ bắt chước. Dù sao thì
những người sống ở những vùng quê như thế này chắc họ sẽ biết được độ sâu nông,
mạnh yếu của dòng nước hoặc ít ra thì họ cũng có kinh nghiệm vượt ngầm hơn
mình.
Chưa đi được mấy bước thì cả
hai người đã ngã nhào xuống mé đường, cũng may là đầu đường bên ấy khe nước
không sâu lắm chứ không thì họ đã gặp nguy hiểm. Lóp ngóp lên bờ trong bộ quần
áo ướt, trông họ thật đáng ngại. Cũng còn may là hôm nay trời không mưa rét chứ
không thì họ cũng gặp nguy hiểm không kém. Mình thật là hy vọng hão huyền!
Còn đương dõi mắt nhìn về đầu
ngầm bên kia thì đã có mấy người từ phía đằng sau tiến lại. Cũng không hiểu họ
rẽ ra từ con đường nào mà trong đó lại có một cô bé mang theo một chiếc xe đạp.
Có lẽ họ ở một khu nào đó ở giữa khoảng đường từ cái ngầm trước cái ngầm lớn
này. Vừa nhìn thấy Hằng thì một người có độ tuổi trung niên cất giọng ồm ồm hỏi:
- Anh bộ đội đã đến đây lâu
chưa hè?
Có lẽ người ấy muồn hỏi thế
để dự đoán thời gian nước sẽ cạn xem có nên chờ hay là quay trở lại. Hằng chưa
kịp trả lời thì người ấy lại hỏi tiếp:
- Rứa anh bộ đội đã có cách
chi đi qua chưa?
Khi nghe hết hai câu hỏi vừa
rồi Hằng chỉ mủm mỉm cười đáp lại và chỉ sang phía bên kia ngầm vừa kể cho cả mấy
người nghe về vụ vượt ngầm không thành của hai người ở bên kia ngầm.
- Bác thấy đấy! Cháu cũng
chưa nghĩ ra cách nào để vượt qua được đâu.
Nghe thấy Hằng nói vậy
khuôn mặt người ấy cũng như buồn hẳn đi. Tuy vậy ông vẫn cất tiếng như là nói với
mình:
- Chả lẽ phải quay trở lại…Thế
thì nhỡ hết cả việc!
Chính trong lúc Hằng cùng
người nhiều tuổi nói chuyện thì cả nhóm người vừa đến cũng rì rầm trao đổi với
nhau. Cho đến khi câu chuyện của Hằng cùng ông già vừa kết thúc thì tất cả cũng
đồng loạt im lặng, làm cho không khí càng nặng nề hơn. Cũng phải mất mấy phút
không ai nói với ai lời nào mà chỉ còn mỗi tiếng nước chảy của con ngầm như sôi
lên trong lòng mọi người.
Có lẽ mọi người đã chẳng
còn hy vọng gì vào việc vượt ngầm nữa nên họ lại quay ra để hỏi thăm nhau. Người
này thì hỏi người kia là người ở đâu đến người nọ thì hỏi người này là sẽ về
đâu. Chỉ có mỗi Hằng cùng ông già là đứng im lặng nhìn dọc cái ngầm đang sôi
lên từng đợt sóng. Vừa lúc đó ông già lại cất giọng ồm ồm lên cắt ngang dòng
suy nghĩ của Hằng:
- Làm sao mà kỳ ni nước lâu
rút vậy hè!
Trong khoảng thời gian tư
duy ngắn ấy Hằng chợt nảy ra một ý nghĩ khá táo bạo, thế là Hằng trao đổi với cả
sáu người mới đến về cách vượt ngầm của mình. Thực ra cũng chẳng có gì phức tạp
lắm về cách vượt ngầm mà Hằng đề xuất. Cái chính là Hằng muốn lợi dụng việc người
nọ lấy người kia làm cọc chống để chống lại sức nước mà thôi.
Nghe xong phương án vượt ngầm
của Hằng, ông già lúc nãy liền đồng ý ngay. Tức khắc ông lại cất cái giọng
ồm ồm lên để đôn đốc mọi người:
- Choa biết các anh bộ đội
là giỏi lắm he! Bây chừ tui sắp thế ni! Tui với anh bộ đội đứng ở mạn nước
xuôi, cậu thanh niên tê thì đỡ cái xe đứng vô giữa, còn lại thì người ni nối
người tê rồi cùng xuống một lượt nghe!
Ngay khi vừa mới xuống mọi
người nghe có vẻ rất chới với, nhất là cô gái có cái xe đạp thì hình như run bắn
cả lên. Thế nhưng đi được độ mươi bước thì cái vòng người có vẻ ổn định trở lại.
Trong vòng tròn thì chỉ có tiếng của ông già, còn từ đầu bên kia là tiếng của hai
người đàn ông hô hoán ầm ĩ át cả tiếng nước chảy.
Cuối cùng thì tất cả mọi
người cũng sang được phía bên kia, mặc dù tất cả đều ướt như chuột lột. Nghỉ được
một lúc, mọi người định đi thì lại phát hiện ra hai người ở bên này còn chưa đi
được, thế là cả nhóm, trừ cô con gái, còn tất cả lại phải đưa hai người quay
sang bờ bên kia rồi mới quay trở lại. Cả sáu người bắt tay chào nhau xong là hối
hả lên đường. Nhìn những khuôn mặt hể hả vui tươi chào mình Hằng chợt nhớ lại lời
ông già nói trước lúc chia tay:
- Choa biết, cứ khi nào có
khó khăn mà gặp các anh bộ đội là choa không lo chi hết mô! Cách chi các anh ấy
cũng vượt qua được!
Dù sao thì cũng phải có mọi
người cùng chung sức, chứ nếu chỉ có một mình thì anh bộ đội của ông cũng cứ là
phải chờ thôi đấy ạ! Một loạt những ý nghĩ trong đầu về dân vận và về nhiều điều
khác nữa trong những năm tháng quân ngũ cứ lướt qua như những trang sách. Tất cả
hầu như đều là những điều tốt đẹp và thật cao thượng.
Hằng đến Kỳ Hoa vừa kịp mua
vé xe ra Bắc và chỉ sau một đêm quãng đường đã được rút ngắn lại, cho dù tầu hoả
cũng vẫn chậm rề rề như mọi khi. Lọc cọc suốt hai ngày đêm rồi Hằng cũng đã về
đến Hà Nội. Xuống tầu thì trời đã chiều nên Hằng không vào chỗ thím Đối mà về
ngay nhà. Từ ga về nhà có lẽ cũng phải hơn chục cây số. Quãng đường như vậy đối
với một đồng chí bộ đội đã từng rèn luyện đi Nam lại đã trải qua chiến
đấu trên mặt trận Nam Lào thì mười cây số có đáng kể gì.
MẶT TRẬN
1
Cũng thật là may cho đồng
chí bộ đội vì vừa bước chân lên cầu Long Biên thì gặp ngay một ông cán bộ dân sự
quần áo trắng tuốt đang cưỡi trên chiếc xe máy JaVa dừng lại ngay trước mặt mời
lên xe cùng đi. Cho dù chiếc ba lô cứ giật bình bịch sau lưng mỗi khi xe đi vào
các ổ gà nhưng Hằng cũng chả để ý. Trong đầu cậu chỉ còn nghĩ làm sao để có thể
về nhà gặp mẹ và mọi người trong nhà nhanh hơn mà thôi. Vừa đi người cán bộ vừa
hỏi anh bộ đội về tình hình chiến trường trong thời gian vừa qua. Suy nghĩ một
thoáng rồi Hằng cũng kể một vài chi tiết về chiến thắng của quân ta cho người
cán bộ vừa lòng. Có lẽ Hằng cũng chỉ có thể nói ở mức như đài đã nói mà thôi,
vì nếu nói nhiều hơn nữa có khi lại vi phạm kỷ luật giữ bí mật của quân đội thì
thật là không đáng. Đã có không ít những câu chuyện về giữ gìn bí mật trong tiết
mục kể chuyện cảnh giác ở trên đài mà mọi người vẫn được nghe. Có điều để đối xử
với một người tốt với mình như thế này thật không thể không làm cho họ có một
chút hài lòng về những điều mà họ đang mong mỏi muốn biết. Chả lẽ mình lại có
thể máy móc đến mức quá đáng thế chăng. Dù sao thì mình cũng là một quân nhân,
kỷ luật buộc mình phải nghĩ và làm như vậy, cũng mong đồng chí thông cảm cho.
Vừa bắt đầu vào Ô Cách đã
thấy quang cảnh lụt lội hiện ra ngay trên đường quốc lộ. Hàng ngàn những bao tải
đất, cùng với những hòn đất nặn tròn như những cái bánh tàu hoả nằm rải rác
trên khắp cánh đồng trước mặt và cả hai bên đường quốc lộ. Đây đó ngay bên vệ
đường cũng xếp từng đống lớn những thứ mà nước đã cuốn chúng từ chỗ đê bị vỡ về
đây. Có lẽ các địa phương có sông đi qua đã được lệnh chuẩn bị những thứ như vậy
để phòng lụt và bây giờ đã được mang ra sử dụng. Có điều đáng lẽ tất cả những
thứ này phải nằm ở chỗ đê bị vỡ thì mới chặn được nước, thế mà lại bị đẩy đi xa
đến hàng chục cây số thế này thì chắc là chỗ vỡ to lắm. Bất chợt Hằng nghĩ
không biết ở nhà có ai làm sao không? Căn nhà tranh nhà mình ọp ẹp quá không biết
có bị trôi đi hay không? Gần cả đời mẹ mới có một căn nhà cho mình và các con,
nếu lại bị đổ nát hoặc bị nước cuốn trôi đi mất thì chắc là bà buồn lắm.
Cuối cùng thì Hằng cũng về
đến nhà, sau một hồi lặn lội từ đường quốc lộ vào làng. Có lẽ cũng phải đến gần
một cây số Hằng phải đội ba lô lên đầu rồi dò dẫm trong nước mãi mới về được đến
cổng làng. Ngôi nhà tranh nhà Hằng chưa bị đổ nhưng nước ngập ngang cột hiên. Cả
khu xóm mới này vắng ngắt không một bóng người, không biết hỏi ai được về tình
hình mẹ và em gái ra sao. Nghĩ lại trận lụt năm 1957 Hằng tin rằng có thể mẹ và
em vào ở nhà anh Chìu chị Mão vì nơi này cao nhất làng từ trước đến giờ. Hằng
đang bươn bả đi vào nhà anh rể thì gặp chị cả đi từ trong nhà anh rể đi ra. Hai
chị em mừng rỡ túm lấy nhau hô hoán ầm ĩ cả lên. Thì ra chị nghe tin trên nhà lụt
to nên cũng vội vàng thu xếp việc nhà rồi vội vã theo tàu lên từ mấy hôm trước.
Hai chị em vào nhà thì thấy
mọi người tập trung khá đông đủ ở đây, mọi người hỏi thăm lẫn nhau ồn ã đến một
lúc lâu mới tạm lắng đi. Lên thăm lụt kỳ này còn có ông bố và người anh chú
Thành, chồng cô Hà cũng từ Thái Bình mới lên sớm nay. Cũng may cho kỳ phép đặc
biệt lần này mà Hằng gặp được người nhà chú Thành, bởi khi hai người tổ chức cưới
nhau Hằng ở chiến trường nên chẳng được biết tý gì.
Ngay hôm sau số khách các
nơi ai nấy đều đã về cả bởi đã biết việc lụt lội cũng đã khá ổn định lại rồi huống
gì việc ăn ở cũng rất chật chội. Hằng ở lại nhà mấy ngày với mẹ và em rồi lại
cùng anh cả về Nam Định. Việc về Nam Định lần này là do anh cả đề xuất nhằm mục
đích tìm cho Hằng một cô vợ để sau này Hằng sẽ ở lại quê để gây dựng cuộc sống
cùng với anh cả gánh vác việc họ, việc nhà. Cũng thật không may là anh cả lại
dính vào dịch đau mắt đỏ thế là chả đi được đến đâu, mọi dự định đành phải bỏ dở
lại cả. Hai chú cháu Hằng rong chơi quanh làng, ngoài chợ vài ngày cho đến hết
mấy ngày phép rồi Hằng lại lên đường về đơn vị.
2
Gần một tuần lĩnh nhận quân
tư trang và các loại nhu yếu phẩm, thuốc men, súng đạn kết hợp với học tập
chính trị, toàn đơn vị đã bắt đầu lên đường làm nhiệm vụ. Vẫn là tiến vào vùng
Cự Nẫm để rồi lên xe đi vào tuyến lửa. Những năm chiến tranh kéo dài không
riêng gì các miền đất phải đương đầu với bom đạn là gặp khó khăn gian khổ. Những
vùng quê miền trung quanh năm hạn hán kéo dài cũng khó khăn không kém những miền
quê khác. Mỗi ngày các ông già bà cả, kể cả bọn con nít cũng chỉ có khoai và sắn.
Vậy mà cả khoai và sắn cũng phải ăn dè, hạt tiện mới có thể tùng tiệm qua ngày.
Cứ sau mỗi đợt chuyển quân Hằng lại đến một gia đình và Hằng lại thấy những người
giống y như thế. Khó khăn là thế nhưng mỗi khi các gia đình có một vài anh bộ đội
đến ở thì cả nhà náo nhiệt vui không thể nào nói hết. Có lẽ vì thế mà mỗi ngày
xa gia đình những người lính phần nào vơi đi những nỗi buồn để phấn chấn hơn
chuẩn bị cho những ngày ra đi sắp tới.
Nhớ lại ngày đầu tiên khi Hằng
đến ngôi nhà lá của cụ Thêm ở Kỳ Thượng lại thấy buồn vui lẫn lộn. Khi Hằng và
anh Như người Thái Bình vác ba lô đến thì chỉ thấy cụ chủ nhà đi thoáng qua rồi
không trở lại. Thế là hai anh em phải chờ gần ba tiếng đồng hồ vẫn chưa có chỗ
nghỉ ngơi, trong khi cả đại đội đều đã ổn định xong chỗ ở. Mỏi quá Hằng để cả
ba lô trên hè rồi ngồi dựa vào bờ vách bằng gỗ ngủ thiếp đi. Khi thức dậy không
thấy anh Như đâu cả đang định đi tìm thì thấy ba lô của anh vẫn để ngay bên cạnh.
Đang chưa biết làm thế nào thì anh Như lò dò về đến sân, cùng đi với anh còn có
trung đội trưởng Giao vừa đi vừa cười rổn rổn. Không biết có chuyện gì mà vui đến
thế không biết, trong khi các tướng đã ăn ngon ngủ yên còn hai anh em người ta
vẫn loay hoay ở một đầu hè.
- Tất cả là tại cậu đấy!
Thấy anh Giao vừa nói vừa
nhìn vào mình, Hằng đâm nghi hoặc hỏi lại.
- Cái gì mà tại em hả anh
Giao?
- Tại cậu là dân Hà Nội.
- Hà Nội thì làm sao?
- Chả là mấy năm trước có mấy
toán thanh niên xung phong đến làm đường, họ chơi bời phóng túng quá mà bọn này
toàn là dân Hà Nội thành ra cụ ấy có ác cảm với dân Hà Nội của các cậu.
- Nhưng mà em đã gặp …ông cụ
ấy bao giờ đâu!
- Thì thế mới nên chuyện!
Chả là khi phân phối nhà ở ông Nhu nhà mình lại còn giới thiệu thêm những cái tốt
của cánh lính tráng chúng ta. Đâu là có văn hoá, có trình độ, sinh ra lớn lên ở
những nơi có truyền thống để cho bà con dễ chấp nhận, nào ngờ nói đến cậu sinh
ra lớn lên ở thủ đô thì ai cũng ngài ngại. Ông cụ chủ nhà các cậu lại đang ở đó
thế là ông cụ kiên quyết tẩy chay, thế mới chết chứ!
Ngừng lại một lúc để lấy
hơi vì sợ người khác chê nói dài, mà quả là cũng dài thật còn gì, anh Giao lại
tiếp tục giảng giải
- Chỉ tý nữa là cụ chủ về
thôi, chúng tớ đã giải toả tâm lý cho cụ ấy rồi, cứ yên tâm chờ đợi! Thế thôi tớ
về nhé!
- Thế còn cơm nước thế nào?
- Thì tý nữa sang nhà trung
đội ăn cơm! Lâu nay cậu có háu ăn, háu uống như thế bao giờ đâu? Nay mai vào
trong ấy có khi còn nhỡ bữa đôi ba ngày là chuyện thường ấy chứ!
Lại tràng giang đại hải, hỏi
mỗi nửa câu mà trả lời đến mấy câu liền, khiếp thật. Ông ấy mà là chính trị
viên thì chỉ những họp rồi lê thê mà mệt chứ chẳng chơi. Nghĩ vậy nhưng thật ra
trong lòng Hằng, anh Giao là người mà cậu rất tin yêu và quý mến. Từ ngày
về trung đội của anh, Hằng chưa bao giờ thấy anh nóng giận ai bao giờ. Cho dù
là mấy cậu lính đồng hương Hải Phòng của anh luôn trốn trại đi chơi làm anh mất
mặt, đến cánh lãnh đạo cấp trên ít tuổi hơn anh hay làm phách phê phán này nọ
anh cũng chỉ cười ồ ồ rồi bỏ đi nơi khác. Anh có biệt tài hoà giải mọi người
trong khi bất đồng quan điểm, kể cả khi bàn công việc lẫn khi đỏ mặt tía tai
trên những bàn cờ đang vào nước bí. Cũng không biết thế nào mà khi các đối thủ
đang căng nhau anh lại đưa tay vào bàn cờ của họ để rồi gỡ hộ bên này một nước,
hoặc mách cho bên kia một vài nước mà họ lại đều để mặc cho anh thao túng. Cứ
như thế cho đến khi các đối thủ say sưa trở lại cuộc chơi một cách êm thắm.
Chuyện ngày thường là thế nhưng khi vào nhiệm vụ thì anh lại thay đổi khác hẳn.
Từ việc phân công, giao nhiệm vụ đến việc kiểm tra kết quả công tác anh không bỏ
sót một chi tiết nào. Đôn đốc nhắc nhở chi tiết, kỹ lưỡng đến chân tơ kẽ tóc,
phê bình khiển trách cụ thể, sát sàn sạt đến tận mặt không vị nể một ai. Vậy nhưng
hầu như chưa ai bất bình về những việc mà anh đã quyết định có liên quan tới họ,
kể cả đó là những lời phê phán khá là nặng nề. Mọi người thấy anh luôn tròn trặn
và không bận tâm nhiều về anh vì anh thật giản dị. Sự có mặt của anh trong đơn
vị giống như là khí trời vốn dĩ lúc nào cũng sẵn có trong tự nhiên vậy. Một người
lãnh đạo như thế tựa như của hiếm trong ngàn vạn con người. Ai sẽ là người nhận
ra những viên ngọc sáng đẹp ấy để mà xếp vào đúng cái vị trí của nó. Những người
tuyển ngọc vốn dĩ không là ngọc, thế thì họ biết thế nào về màu sắc, hình dáng
của ngọc!
Cơm nước xong được một lúc
thì đại đội tập trung điểm danh như thường lệ. Kể ra nếu như ở vùng gần nơi phường
phố thì cái sự tranh thủ te tắt để ngó nghiêng quang cảnh một tý là cái việc
thường xảy ra nên không hiếm những buổi đơn vị phải tổ chức đi tìm người. Còn ở
nơi xa lắc này, chỉ toàn rừng rú thì việc kiểm tra con số cũng chỉ là làm theo
nguyên tắc mà thôi. Thế nên cũng chỉ độ ba mươi phút là đơn vị đã giải tán, ai
về nhà ấy. Đang định theo anh Như về nhà trọ thì cậu Luận xô đến bên:
- Thế nào rồi anh?
- Thế nào thì anh biết cậu
hỏi cái gì?
Chưa kịp nghe Luận giải
thích về câu hỏi vừa rồi đã nghe từ phía sau có giọng nói cất lên:
- Thì cái việc nhà trọ ấy?
Té ra là Kiệm thư sinh,
không biết cũng đã đến bên cạnh từ lúc nào.
- Xong rồi! Xong rồi!
Cũng đã lâu lắm mấy anh em
không có dịp trò chuyện cùng nhau, nhất là vừa rồi Hằng lại vừa về phép qua nhà
vào. Sau một hồi trả lời hàng loạt câu hỏi của hai chàng trai trẻ Hằng cũng kể
thêm sự gặp mặt với mấy cô gái Hà thành làm cho các chàng trai trẻ thích thú
không khác gì nghe đọc tiểu thuyết tình yêu. Sau những câu chuyện của Hằng, những
câu chuyện riêng của từng cậu cũng được bộc lộ với vẻ lo lắng bần thần.
- Không biết cô ấy có còn
nhớ em không biết!
- Mới xa nhau chưa được một
năm, làm gì mà đã nhanh quên đến thế!
- Anh không biết đâu! Bên cạnh
cô ấy có đến ba bốn đứa nhằm vào, em lại ở xa! Cự ly như thế chắc là bất lợi rồi
anh ạ.
- Đừng bi quan và cũng đừng
coi thường chị em phụ nữ. Một khi người ta đã yêu thì họ phải say mình một điều
gì chứ không phải họ yêu theo cảm tính đâu, thế nên các cậu chỉ cần chăm viết
thư về là được.
- Thế mà vừa rồi em lại cứ
phân vân mới chết chứ. Em sợ nói chuyện tình cảm nhiều rồi đến khi họ lấy người
khác họ đem ra đọc cho nhau nghe rồi họ cười với nhau thì chán chết.
- Không bao giờ đâu! Cậu chỉ
lo bò trắng răng mà thôi. Một khi đã đi với người khác họ lại lo cái người mới
biết chuyện cũ còn hơn là lo gặp hổ đón hơi ấy chứ.
- Thế thì em phải viết thư
ngay hôm nay mới được anh ạ.
- Thế còn thằng này thế
nào?
Kiệm chậm rãi trả lời:
- Em thì chỉ mới thích cô ấy,
chứ còn cô ấy thế nào thì em không biết.
- Thế thì đâu đã có gì được.
Này nhưng lúc cậu lên đường đi bộ đội cô ấy đối với cậu thế nào?
- Từ khi em trúng tuyển
nghĩa vụ, chiều nào cô ấy cũng sang chơi. Còn thằng Lượng ở ngay bên cạnh cũng
đi với em một đợt mà chả thấy cô ấy đến thăm hỏi lần nào.
- Thế là yêu rồi! Sao mà dốt
thế không biết! Người ta đợi cậu nói ra đến đỏ con mắt mà lại không nói gì có
chết không cơ chứ.
- Không biết thế nào mà lúc
chia tay em chỉ nói với cô ấy là thỉnh thoảng bạn đến chơi cho mế tớ đỡ buồn,
cô ấy nói đồng ý thế rồi cô ấy cũng buồn lây theo em mà rơm rớm nước mắt anh ạ!
- Đồ con khỉ! Cô ấy làm gì
phải buồn lây vì cậu mà cô ấy buồn vì phải xa cậu! Hiểu chửa đồ con khỉ?
- Thật thế hả anh?
- Chứ còn sao nữa!
Rõ là anh loà lại dẫn anh
mù! Một anh chàng chưa yêu nổi một mối tình nào cho trọn vẹn lại đi hướng dẫn về
tình yêu cho những người khác nghe thật tức cười. Nhưng dù sao thì giữa xứ mù
có một anh chột cũng đã là có sự hơn hẳn rồi, nhất là anh ta lại có cái mốc tuổi
đời nhiều hơn họ đến ba bốn năm chứ chẳng chơi.
Câu chuyện của những chàng
trai trẻ chưa vợ thì có rất nhiều, nhưng vốn dĩ vẫn là những câu chuyện mang đề
tài tình yêu là chính. Xin cũng đừng trách cứ họ thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí
trong lúc đất nước đang từng ngày hướng đến một mục đích lớn lao hơn, trong lúc
xã hội đòi hỏi ở họ những điều to lớn hơn về trách nhiệm của những người lính
mà họ lại nghĩ nhiều đến cái sự tư riêng như vậy. Tuổi trẻ thường là thế, cho
dù bất kỳ ở thời nào họ vẫn luôn yêu hết mình, nhưng không phải vì thế mà họ
không dám quên mình cho sự nghiệp chung của đất nước. Cho dù ngay sau những
giây phút say đắm với những kỷ niệm thân thiết họ vẫn vững vàng lao vào cuộc
chiến cho dù họ biết họ có phải hy sinh.
Ngay từ những ngày tập
trung huấn luyện ở tỉnh đội bộ ba một già, hai trẻ này vẫn luôn gắn bó với
nhau. Cũng không thể nói họ gắn bó với nhau vì một lý do nào cả vì họ đến với
nhau rất tự nhiên không hò hẹn thề thốt kết nghì, kết ngãi. Tất cả sự gắn bó tựu
trung lại chỉ là sự đồng cảm nào đó mà mọi người và cả chính họ cũng không thể
nhận ra. Nhưng có một mối quan hệ mà ai cũng phải thừa nhận giữa họ đó là
những người đồng đội.
3
Mới sáng ngày ra mà đã thấy cụ Thêm
đi từ trên nương về. Chả biết có cái gì quan trọng mà thấy cụ đặt cái rổ xuống
bên sân một cách khá thận trọng, trước khi vít cái cần tre cho cái gầu hạ xuống
múc nước để rửa tay chân. Mặc dù cụ sống ở vùng thôn bản khá xa chợ búa và các
vùng phường phố nhưng cụ cũng biết khá nhiều kiểu sống của các tầng lớp dưới
xuôi. Qua câu chuyện cụ kể lại người ta tưởng cụ chỉ là người vùng xuôi lên
chơi với con cháu ở trên này mà thôi. Sự kiện buổi đầu cụ gây ra cho anh Như và
Hằng hầu như mọi người đã quên hẳn rồi. Mấy ngày gần đây cụ đối xử với hai anh
em khá gần gũi và thân thiện. Tuy vậy cụ lại vắng nhà luôn nên cả hai anh em vẫn
chưa có dịp ngồi với cụ, loại trừ vài lần cụ mang nước chè xanh ra mời hai anh
em uống. Nước chè xanh thì Hằng không ham lắm nhưng anh Như thì có vẻ thích, nhất
là vào buổi sớm và sau khi ăn cơm ở nhà bếp về. Cụ bà mất cũng đã khá lâu, các
con gái thì đã về nhà chồng cả cho nên cụ chỉ có một mình. Sáng thì đi nương,
trưa lại về nhà lo cơm, lo nước. Cái vòng tròn ấy hình như đã theo cụ từ lâu,
bây giờ đã thành nề, thành nếp mất rồi. Những quan niệm về cách sống, cách cư xử
của cụ giản dị như mọi người vùng cao khác trên đất nước mình. Quan niệm ấy đã
truyền từ đời này sang đời khác cho dù nhiều năm gần đây phong trào Hợp tác xã
đã mở ra nhiều mối giao tiếp giữa những người trong cùng thôn bản và rồi cũng
có nhiều đơn vị, cơ quan sơ tán về cùng sống đưa đến khá nhiều kiểu văn minh và
cũng mang đến khối chuyện phiền toái và không hợp với đạo lý của vùng quê này.
Cũng không biết thế nào mà cách đây mấy năm có một đơn vị
Thanh niên xung phong nói là ở Thủ đô vào ở nhờ một thời gian để chữa đườngC, đến
khi rút đi rồi lòng dân có vẻ bất mãn quá, đến mức chỉ nghe nói là người Hà Nội
là đã mất hết thiện cảm như cụ Thêm chủ nhà mà Hằng và anh Như trọ trong những
ngày đầu khi hai anh em mới đến.
Sau một hồi loay hoay cạnh cái giếng cụ Thêm cũng đã vào nhà với cái rổ trong
tay. Cụ đi thẳng tới trước mặt hai anh em và chìa cái miệng rổ ra nói với anh
Như:
- Bên vườn có quả mít chín,
ta mang về mấy ông con cùng ăn.
Anh Như vội xua tay nói:
- Cụ để cho các cháu bên
các chị ấy dùng, anh em chúng con cũng đã ăn bên cụ Phúc hôm qua rồi.
Cụ Phúc là chủ nhà anh Giao
trọ, cụ có đến vài chục cây cối các loại trong vườn, riêng mít cũng có đến sáu
bẩy cây. cụ Thêm biết vậy nhưng cụ vẫn cố ép hai anh em cùng ăn:
- Bên nhà chúng cũng có, với
lại hôm rồi ta cũng cho chúng một quả to rồi, cái này là cho ông con mình nếm
xem quả vụ này có khá hơn không.
Nói chưa dứt lời cụ đã đi
xuống bếp để lấy dao lên bổ mít.
Từ khi đến đóng quân ở vùng
này Hằng cũng đã nhận thấy đây là vùng quê có khá nhiều khó khăn về kinh tế.
Thóc gạo xem ra không có mấy, thức ăn thường ngày của cả vùng là những bữa cơm
độn một gạo có đến hai, ba ngô hoặc sắn khô. Thức ăn thì hầu như không mấy khi
mua ở chợ . Phần vì chợ xa, vả lại người dân ở đây cũng rất hiếm tiền, chính vì
vậy nên ra rừng kiếm được cái gì thì ăn cái đó. Khi thì là con cầy, con rúi săn
được, nhưng mà rất hiếm, còn lại chủ yếu là các con vật nuôi trong nhà cùng với
đôi ba vạt rau còi cọc vì thiếu nước trồng ở trong vườn. Thoảng hoặc có thu hoạch
được vài loại hoa trái thì lại đem xuống chợ bán lấy tiền mua lấy ít muối, đường
cùng các vật dụng cần thiết khác. Món mít xanh cũng là một nguồn thức ăn dự trữ
của mọi nhà ở các dạng muối, xào, kho để có chút mặn mồm nuốt trôi đôi ba bát
cơm độn thường ngày.
Mỗi lần qua bếp anh nuôi ăn
cơm xong Hằng cũng hay lọ mọ xuống chỗ anh Toán anh nuôi trưởng ngồi chơi. Thực
ra thì Hằng xuống xem có cái gì ăn được là Hằng xin về cho cụ Thêm. Anh Toán
cũng biết vậy nên hôm thì ít muối, ít mỡ xào rán còn lại, cũng có khi là một phần
của hộp thịt đã chia cho các mâm còn lại anh cũng đưa cho Hằng. Những khi có
chút gì Hằng mang về cho cụ Thêm đều cất đặt khá kín đáo rồi cái thì đem cho mấy
đứa cháu, cái gì ít ỏi một chút thì cụ để lại cho mình. Cũng không phải ngay từ
đầu cụ Thêm đã nhận những thứ Hằng mang về ngay đâu. Cụ ngờ vực Hằng bớt xén để
mang về rồi đơn vị sẽ phê bình, về sau nghe Hằng giải thích mãi cụ mới thôi
không cật vấn nữa.
Cũng phải đến gần một tháng
ở trong nhà cụ Thêm, giờ đây hai anh em mới lại tìm thấy nét tươi vui hài hước
của cụ. Những câu chuyện về gia đình và bản thân cụ lần lượt được cụ kể lại cho
hai anh em nghe. Đâu là chuyện đi săn thú trên rừng, chuyện vui tết của ngày
xưa, cả chuyện cụ phải lòng cụ bà như thế nào cũng được kể ra. Thế rồi cụ lại
nói đến đám người ngày xưa đã trọ trong nhà cụ, từ việc họ ôm ấp nhau ra sao đến
chuyện họ gần gũi quá đáng cùng nhau làm cho cụ thấy nó khó nhìn và đáng xấu hổ.
Mỗi lần nghe đến đó Hằng lại phì cười rồi bao biện cho đám người nọ:
- Đó là bố chưa quen gặp cảnh
này bao giờ mà thôi! Người nước ngoài họ cho đó là chuyện bình thường bố ạ.
- Đấy biết ngay mà! Đã là
dân Hà Nội anh nào chả thế! Chẳng qua là cánh Hà Nội kỳ này chỉ có mỗi mình cậu
nên cậu bất lực mà thôi. Cho dù thế nào thì bố cũng không tán thành cách sống
như vậy. Vừa lúc đó anh Như xen vào:
- Bố có biết cái Xoan cháu
ngoại của bố đang nhắm vào đứa nào không? Nó đấy bố ạ! Cậu ấy còn phải trốn
không dám gặp để tránh sự phê bình của ông Giao đấy!
Vừa nói đến đây thì cụ Thêm
bật quát lên:
- Này anh đừng tưởng anh là
người văn minh mà anh coi thường cháu tôi đấy nhé! Cả bản chỉ có mình nó là
xinh nhất thôi đấy, anh còn đòi gì hơn nữa nào.
- Thế nhớ! Nếu mà mai đây
nó lại mang văn minh đến cho cháu của bố thì làm thế nào?
- Cháu của ta chắc hẳn là
nó không như thế chứ…!
Cụ Thêm hơi lưỡng lự vừa
như trả lời anh Như, vừa như tự nói với mình về sự ngờ vực không biết cháu mình
nó có tránh được cái sự ấy không? Cái Huyền nhà bà Tám chả bảo chín chắn đó sao
thế mà rồi cũng trốn nhà đi biệt có thấy về đâu.
- Này thế mày đã thế nào với
cái Xoan hả?
- Bố cứ yên tâm đi cô ấy
còn ít tuổi, mà con cũng có người yêu rồi.
- Chả lẽ cháu của ta không
bằng người yêu gì đó của cậu à?
- Không phải thế, chỉ là
cháu làm sao lại có thể bội bạc với ngườì yêu của cháu được!
- Cậu ấy và cô bạn gái đã
chia tay từ nửa năm trước rồi, nó chẳng còn cô nào nữa đâu bố ạ.
- Thế sao cậu lại dám dối bố
thế nhỉ?
- Chả là tại bố cứ lo cháu
của bố hư hỏng nên…
Cụ Thêm vội cướp lời:
- Này cái việc ấy thì bố
cũng đã xem trên chiếu bóng rồi. Liên Xô họ cũng thế thì chắc cũng không có gì
là xấu. Nhưng dù sao thì cũng ở chỗ kín chứ cứ đứng giữa đường mà cũng thế thì
người ta phải phê phán thôi.
- Có nghĩa là bố đồng ý cho
nó được ấy... chứ gì?
- Ấy là thế nào? Chỉ được
hôn nhau thôi nhưng mà không được cho ai nhìn thấy, nhỡ sau này các cậu không về
đây nữa, bỏ rơi nó thì làm thế nào?
Cụ Thêm nói một thôi một hồi
mà vẫn sợ hai người này không hiểu ý mình. Chẳng qua là cụ cũng kết một cậu
cháu rể như kiểu này rồi nhưng lại sợ cháu mình cũng quá yêu rồi để quá ra thì
mang tiếng nên cụ không biết nói như thế nào cho thoả đáng. Thấy cụ có vẻ lúng
túng anh Như cũng thôi không trêu cụ nữa, anh bảo với ông cụ:
- Bố yên tâm đi, đơn vị
chúng con là đơn vị chủ lực của bộ nên cán bộ, chiến sĩ không ai được vi phạm kỷ
luật đâu.
Mặc dù cái việc đơn vị chủ lực là gì, nó có quan hệ thế nào đến mối tình của bọn
con trai, con gái hay không thì đến người nói ra cũng chẳng hiểu nữa là cụ
Thêm, nhưng dù sao thì câu nói đó cũng làm cho cụ yên lòng hơn.
- Chuyện rông dài mãi, ta phải đi mượn cái thang để lấy cái gầu lên kẻo không
có cái gì múc nước nấu cơm bây giờ đây.
- Sao bố không làm cái dây bằng sắt cho chắc mà lại làm bằng dây rừng cho hay đứt.
- Dây sắt cũng không chịu được đâu, ta cũng đã làm rồi mà không được vì nó cứ oải
cái móc ra, thế là lại tuột.
- Không sao đâu, con đã làm cho nhiều người rồi, múc cả thùng to vẫn không đứt,
không tuột được. Con đã thấy bố có đám dây thép tráng kẽm kia rồi, bây giờ chỉ
cần một cái chạm chặt và một cái búa là xong thôi.
- Các thứ thì có nhưng không biết cái dây có chịu được không?
- Bố cứ yên tâm đi, con làm nhiều lần rồi mà.
Thế là ông cụ bê cả đám đồ nghề bụi bặm trong gậm giường ra cho cậu, tuy rằng
trong bụng vẫn không tin là cậu có thể làm được. Có lẽ cụ cũng định cứ để cho cậu
thất bại, rồi quyết đoán là cậu nói ngoa để rồi lấy cớ răn đe cô cháu gái nên cụ
chấp nhận tốn ít dây thép mà cụ nhặt nhạnh từ hồi còn chiến tranh để lại.
Hằng tìm trong đống đồ cũ đưa ra hai đoạn sắt phi sáu dài đến mười phân rồi đóng
xuống tấm gỗ dầy mà cụ Thêm vẫn làm đòn kê. Từ một cái cọc sắt Hằng quấn một
vòng tròn vào đó xong rồi kéo sang cái cọc sắt thứ hai quấn tiếp hai vòng
tròn khác. Cứ như vậy mà quấn sau một hồi cậu đã có đến hàng chục đoạn dây thép
với hai vòng tròn ở hai đầu dính liền vào nhau. Sau khi đã quấn được nhiều các
đoạn dây giống nhau Hằng liền tháo các đoạn dây rồi chặt từng cái rời ra. Cứ để
nguyên như thế Hằng bẻ gập chỗ giữa của đoạn dây để hai vòng tròn hai đầu chập
vào nhau. Cứ hai vòng đầu của đoạn này móc vào đoạn uốn giữa của đoạn kia rồi
dùng búa gõ cho kín các vòng tròn đầu lại thế là các đoạn nối liên tiếp với
nhau kéo dài mãi ra. Hằng làm chỉ trong một buổi nghỉ mà được hơn mười mét vừa
đủ độ dài của giếng.
Cũng không ngờ cuộc thử dây lại náo nhiệt đến thế. Hàng xóm có, bộ đội có, con
cháu của cụ Thêm nghe tin cũng đến, lẽ dĩ nhiên là có cả cô Xoan cháu gái của cụ
Thêm với đôi mắt lúc nào cũng ánh lên tia sáng như muốn thiêu cháy cái anh bộ đội
ở nhà của ông mình. Sau khi đã gắn vào dây cả cái thùng gánh nước, một chàng
thanh niên thả thùng xuống giếng rồi thì lắc, giật một lúc lâu mà cái thùng
cũng chẳng chịu rời ra và thùng nước đã được kéo lên đầy ắp. Cũng không thiếu
những người còn chưa tin về sự chắc chắn của dây, họ vẫn kéo giăng ra để tìm
xem có chỗ nào khả dĩ có bị oải ra không. Cũng không bao lâu sau người ta đã thừa
nhận là cái dây có thể chịu đựng được sức vóc của thùng nước và rồi họ cùng cười
chia vui với cụ Thêm. Lẽ dĩ nhiên là cụ Thêm đã quên từ lâu cái sự nghi ngờ đối
với chàng trai nọ. Cụ không còn ngại về cái việc cháu gái của cụ mê say anh
chàng bộ đội quê ngoài Hà Nội đang ở nhà mình nữa. Còn một điều mà cụ để ý kỹ
hơn xem cái con cháu gái của cụ có mê trai thật hay không. Tất nhiên là cụ phải
thừa nhận thôi vì cụ đã thấy cháu của cụ chả để ý gì đến thử dây mà suốt cả buổi
con bé chỉ hút mắt vào cái bóng xanh biêng biếc nọ. Cụ thở dài: Thế có chết
không cơ chứ!
Không quá ba tháng sau đơn vị lại rời quê hương của cụ Thêm để lên đường đi chiến
đấu. Anh Như thì đã chuyển đơn vị về tuyến sau, chỉ còn mỗi một mình Hằng chia
tay với ông cháu của cụ Thêm. Câu chuyện say đắm của cô Xoan cháu cụ Thêm cũng
chưa kịp phát triển bởi Hằng luôn cố gắng xa lánh cho dù cô Xoan đã cố tìm cách
thể hiện mối cảm tình của mình mà chàng trai nọ vẫn cứ lơ lửng vậy. Điều này
thì Hằng biết nhưng mà Hằng có sự quyết tâm từ nhiều lần trước đã thành kinh
nghiệm rồi nên mọi sự rồi cũng qua nhanh chóng. Cô Xoan cũng chỉ nước mắt lưng
tròng một chút vậy thôi.
Chỉ còn ba mươi phút nữa là đơn vị sẽ xuất phát. Trong mấy ngày qua Hằng đã thu
thập được một số quần áo dư thừa của mình và cả của mấy cậu bạn mà không phải
thu cũ đổi mới gói vào một bọc khá to. Hằng lại xin được một cái mũ cối còn khá
mới gói vào một tờ báo cũ để lại trên tấm phản mà Hằng và anh Như vẫn nằm ngủ.
Bắt đầu nghe còi của anh Giao cất lên ở đầu xóm Hằng mới gọi cụ Thêm lại để đưa
cho cụ số đồ dùng nọ. Cụ cứ ngần ngại từ chối, Hằng phải động viên mãi cụ vẫn
chưa chịu nhận:
- Tất cả những thứ này cho dù có thu về rồi cũng huỷ bỏ mà thôi, con muốn để lại
cho bố và mọi người dùng cho khỏi phí, huống chi ở mình còn nhiều người rách rưới
quá, ngay bố cũng vá víu nhiều như thế cơ mà.
- Bố ngại rồi trong thôn bản họ sẽ không nghĩ như thế, họ cho là bố lợi dụng!
- Biết vậy nên con đã viết giấy nói rõ việc này rồi lại còn có cả ý kiến của
anh Giao trong ấy nữa đấy bố ạ. Ai hỏi bố cứ đưa giấy ra cho họ là được.
Vừa lúc đó anh Giao cũng vào đến cửa:
- Thế nào! Hai bố con chia tay xong chưa, ra tập trung thôi chứ!
Cả hai cùng chào ông cụ Thêm rồi bước ra, cũng vừa lúc ấy ông trưởng thôn vào đến
trước cửa, ông cất giọng nói với cụ Thêm:
- Việc này chúng cháu đã biết rồi, cụ cứ nhận để mà dùng cụ ạ!
Từ trên khuôn mặt già nua của cụ Thêm phảng phất một nỗi buồn mà cụ ít khi thể
hiện ra ngoài mặt, cụ giơ tay lên như vẫy chào tạm biệt hai người chiến sĩ, mồm
mấp máy không nói thành lời, mắt thì nhìn về một nơi xa đến vô cùng, vô tận. Có
lẽ cụ nghĩ về cái nơi mà những người chiến sĩ sắp đến, cụ hiểu rồi những con
người tốt ấy sẽ gặp chuyện gì và rồi cụ cầu khấn mong cho họ tránh được mọi sự
nguy hiểm, luôn gặp được những điều may mắn. Đoàn quân đã ra đi và chàng trai
Hà Nội ấy cũng không có điều kiện để trở lại vùng quê ấy nữa. Trong lòng của
chàng trai ấy vẫn luôn nhớ về một vùng đất nghèo về vật chất mà giầu tình người.
Câu chuyện về tình dân như thế đâu có gì đặc biệt và đâu chỉ có ở riêng một
vùng nào.
4
Gần đến sáu giờ chiều đơn vị mới bắt đầu tập kết về bãi xe để chuẩn bị lên đường.
Suốt cả buổi chiều mọi người làm các công việc chuẩn bị mà có vẻ như vẫn chưa
xong. Đâu là vài cuốn sổ, cây bút máy, đâu là mấy bộ quần áo lót, rồi thì tăng
võng, hộp thuốc cá nhân. Vài anh nghiện thuốc lào thì còn nhiều thứ nữa, đâu là
cái bật lửa, bình xăng để tra bật lửa. Những gói thuốc dự trữ được vò đi ép lại
sao cho nhỏ nhất để ba lô còn đựng thêm trăm thứ bà rằn khác nữa. Những thứ bắt
buộc ai cũng có như súng đạn, bao gạo thì không thể làm thay đổi khối lượng được
nên mọi người chẳng để tâm đến việc sắp đặt làm gì, chỉ cần khoác lên thế là
xong. Hằng kiểm lại chiếc ba lô của mình lần cuối để tránh bị bỏ lại những thứ
cần thiết cho sau này. Hai bộ quân phục, hai bộ đồ lót, cả cái áo sợi có hàng
khuy trước ngực màu cỏ úa mà anh em quen gọi là áo bà Định. Bà Định không là ai
khác mà là bà Nguyễn Thị Định Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam lúc bấy giờ.
Cũng không biết cơn cớ gì mà anh em chiến sĩ lại gọi đó là áo mang tên của bà.
Những chiếc áo sợi kiểu này khá giống những chiếc áo len hoặc sợi vẫn bán ở miền
Bắc cho các bà các cô dùng. Một mặt nó lại chỉ được cấp khi họ sắp làm quân giải
phóng của bà nên có lẽ vì thế mà họ gọi đó là áo bà Định. Ngoài những thứ của
riêng, Hằng còn phải mang cho đại đội một số quân cụ và còn có cả một bọc khá lớn
mềm trơn. Có lẽ đây là các loại cờ quạt, giấy má mà đại đội cần dùng cho các cuộc
học họp. Công việc chuẩn bị chỉ kết thúc khi tất cả đã lên xe để đi vào mặt trận.
Đoàn xe đã bắt đầu chuyển bánh từ từ lượn trên những đoạn đường cuối của miền đất
phương Bắc. Những bãi khách đã không còn ai ở đang trơ ra những hàng cọc buộc
võng mà mọi người để lại từ những đêm trước. Không riêng gì đơn vị của Hằng ra
trận, bởi có nhiều bãi khách vắng như thế này.
Tất cả những người lính hầu như đều im lặng ngồi trong xe và nhìn ra hai bên đường
như cố thu vào tầm mắt những hình ảnh thân thương của miền Bắc trước khi bóng tối
che đi tất cả mọi thứ. Những gì đã sảy ra trong những ngày gần nhất và cả những
gì đã sảy ra trong quá khứ hầu như đều hiện lên tất cả trong đầu. Thế rồi đến
hình ảnh của những người thân, những bạn bè và cả những người phụ nữ đã quen biết
trong những ngày qua cũng hiện lên cùng với những hình thân mật trìu mến nhất của
họ mà Hằng đã cảm nhận và có ấn tượng ở họ. Có rất nhiều cuộc ra đi đã từng sảy
ra trong mỗi đời người ví như rời nhà đi chơi đâu đó ở nơi họ hàng dăm ba ngày
rồi lại về. Có những lần ra đi xa nhà lâu hơn như đi học nghề, đi làm việc
nhưng rồi cũng lại trở về cho dù có lâu hơn một chút cũng đã làm cho ta xao xuyến,
nhớ nhung.Tuy nhiên những khoảnh khắc ấy nhanh chóng tan đi, nhường cho các trạng
thái bình thường trở lại để con người vui vẻ và cởi mở như trạng thái vốn có.
Nhưng lần ra đi này đã không như thế bởi ngoài cái xao xuyến, nhớ nhung còn một
điều ta phải nghĩ đến đó là lần ra đi này đã đành là rất lâu mới trở lại và rồi
còn có thể trở lại được nữa không mới là điều đáng phải nghĩ đến. Ta hiểu sự hy
vọng vượt qua được sự nguy hiểm và cái chết trong chiến tranh là điều không tưởng,
sự hy vọng ở đây chỉ còn là sự cầu may mà thôi. Tuy nhiên như vậy nhưng con người
ta không chỉ nghĩ về một điều đó, sự lôi cuốn của cả xã hội, sự hứng khởi vì một
sự quang vinh, sự thù hận vì một hành vi tàn ác đối với đồng loại, sự ganh đua
cho cái hơn hẳn của cá nhân, của đồng bọn, đồng phe với mình cũng là những xúc
tác để con người dẹp bỏ đi tất cả mọi điều để dành cho điều đó. Những lúc ấy
cái nguy hiểm và cả cái chết cũng bị coi là nhỏ, nhờ thế mà có bao sự tích anh
hùng làm cho chính ta và cho cả kẻ thù của ta cũng phải nể phục. Tất nhiên là họ
ngạc nhiên và nể phục bởi vì họ đâu có ở trong cái không khí đầy chặt ý niệm
như vậy, họ đâu có đau thương, đâu có mất mát gì để mà phải cố giành giật lại.
Cái của họ là chiếm lấy bằng sức mạnh, chiếm lấy để thoả mãn sự tham lam vô lối
mà thôi. Tuy vậy họ cũng không phải không cố sống, cố chết để giữ bằng được những
thứ mà họ sắp sửa chiếm được, vì họ cũng đã mất nhiều công sức cho cái mưu đồ
nhơ nhuốc ấy, họ cũng đã mất không ít của nả, công sức và cả sự sống nhiều người
của chính họ. Một điều đáng kể nữa là họ đã bị nhục nhã khi cái sức vóc hổ, báo
của họ lại bị thua bởi con giun, cái kiến và rồi còn bao con giun, cái kiến
khác đã ở trong tay họ, đang ở trong tầm ngắm của họ cũng sẽ tuột khỏi, cũng sẽ
coi khinh họ, như thế thì làm sao mà họ không cố sống, cố chết trong cuộc chiến
này… Cũng chỉ là tự mình nghĩ ra mọi chuyện như thế, rồi lại tự đưa mình đến với
cao trào của sự yêu thương, sự bất bình, sự căm thù và rồi chỉ còn lại một điều
duy nhất đó là sự quyết định rằng ta không thể tiếc xương máu trong cái sự nghiệp
lớn lao này của dân tộc. Ta sẽ chiến đấu thật dũng cảm và không ngại ngần hy
sinh một cách anh dũng như những người đồng đội đã đi trước vì mọi người, vì
gia đình và Tổ quốc.
Những chiếc xe Vọt Tiến của Trung Quốc viện trợ dùng để chuyển quân cứ nối tiếp
nhau lao đi trên những quãng đường rừng, đường đèo tối om om dài như vô tận. Những
quầng sáng đèn gầm chỉ nhỏ bằng cái sàng làm sao có thể soi nổi con đường phía
trước, thế mà những người chiến sĩ lái xe vẫn chẳng cần giảm tốc độ. Có lẽ họ
đi theo sự quen thuộc trong đầu chứ không phải dựa vào bóng sáng nhỏ nhoi kia.
Những cú xóc tung lên, hạ xuống cứ liên tiếp xảy ra làm cho người ngồi trên xe
cũng nảy lên, nảy xuống như xóc ốc. Những cú ngoặt tựa hồ như muốn hắt người từ
góc này sang góc khác nếu như họ không bám chặt vào thành xe và không ngồi sát
vào nhau. Ánh sao mờ tỏ trên những khoảng rừng thưa như hé mở cho ta nhìn thấy
sự nguy hiểm hầu như lúc nào cũng có thể xảy ra, bởi khi đầu xe đã nhô ra sát
mép bờ vực mà vẫn chưa thấy đoạn đầu cua ở đâu. Quả thật nếu không quen thuộc
chắc là cả xe và người đã xuống thám hiểm đáy vực từ lâu rồi. Những gì có thể
nói về người chiến sỹ lái xe hết đêm này sang đêm khác vẫn đi, về trong hiểm
nguy, trong bom đạn. Đâu có phải cứ ôm súng lao vào cửa mở mới là những anh
hùng!
Sau rất nhiều lần bò lên những cái dốc dài vô tận đoàn xe cũng đã lên đến một đỉnh
cao. Từ đây đã nghe thấy tiếng máy bay L19 của địch lượn lờ, cùng những chùm
đèn dù vàng ệch ma quái trên đầu. Những đám cháy lân tinh xanh lét ngún khói
trên những thân cây đen xì chồng đống lên nhau. Cả một bầu không khí chứa đầy
mùi thuốc bom khét lẹt.
Chỉ đi thêm một đoạn nữa thì cả đoàn xe phải dừng lại vì phía trước con đường đầy
bùn nước không sao tiến lên được. Một khẩu lệnh nhỏ truyền từ người này sang
người khác: Tất cả mang quân trang, súng đạn xuống xe! Tất cả mang quân trang,
súng đạn xuống xe!... Thế có nghĩa là đã đến chiến trường rồi đấy! Có nghĩa nơi
ta đang đứng đây cũng chính là gianh giới của hoà bình và chiến tranh! Gianh giới
của hoà bình và chiến tranh chỉ là một quãng đường ô tô không quá ba tiếng đồng
hồ vậy thôi sao? Thực ra gianh giới của vùng này sang vùng khác cũng chỉ là ước
lệ vậy thôi. Với từng gia đình thì bên này hàng rào là sân vườn nhà mình, còn
bên kia hàng rào là sân vườn nhà khác. Thế nhưng gianh giới của hai làng, hai tỉnh,
hai nước nhiều khi chả có cái rào nào để mà ngăn chia. Gianh giới của hoà bình
và chiến tranh cũng vậy thôi. Mọi cái luôn ở cạnh nhau, mọi cái luôn ở trong
nhau, luôn hoà trộn vào nhau. Mái đồi bên này khô khan chết cây, cháy lá, mái đồi
bên kia mưa chảy nước trôi. Mái đồi bên này là hoà bình yên vui, còn mái đồi
bên kia là chiến tranh, bom đạn.
Có lẽ mùa mưa phía sau dãy Trường Sơn đã bắt đầu khá lâu rồi nên ngay trên đỉnh
đồi mà bùn vữa ngập ngụa đến là khủng khiếp. Vừa mới đi được một đoạn ngắn mà
anh nào anh ấy cũng đã thấm mệt. Mà không mệt sao được khi mỗi bước chân đều ngập
trong bùn sâu gần đến háng. Đang mải miết bước lên cho kịp hàng quân phía trước
thì nghe tiếng cậu Luận gọi réo lên ở phía sau:
- Anh Hằng ơi lại kéo em một tý, chân em mút chặt xuống bùn rồi!
- Đợi một tý, anh cũng đang dính chặt dưới bùn rồi đây.
Không biết làm sao vừa mới bước đi ngon thế mà mới chỉ dừng lại nghe cậu Luận gọi
thì chân lại dính chặt xuống bùn thế này không biết.
- Cậu phải tự tìm cách thoát lấy thôi, ông anh của chú cũng như có nhựa gắn xuống
bùn rồi đây này.
- Thế chả lẽ cứ đứng mãi ở đây hả anh!
Hằng đang cố sức xoay bàn chân cho đám bùn vữa rộng ra nên cũng chẳng kịp trả lời
Luận nữa. Hết ngả người ra phía trước, rồi lại ngả người về phía sau mà đám bùn
cũng chỉ rộng ra một chút. Dù sao thì cũng cứ thử rút chân lên xem sao. Sau một
hồi cố hết sức bình sinh thì chân cũng đã rút lên được một tý nhưng mà chỉ là
chân thôi còn giầy thì nằm lại không chịu theo chân lên nữa.
- Này Luận ơi! Cậu làm thế
nào cho giầy nó tụt ra là rút chân lên được đấy.
- Thế thì làm gì có giầy mà
đi hả anh?
- Đành vậy thôi, đơn vị đi
xa quá rồi.
- Nhưng mà em buộc chặt quá
không sao rút ra khỏi giầy được.
- Thì cố xoay cho bùn vào
trong khe chân là nó tuột ra thôi.
Cũng phải mất một lúc thì
hai anh em mới thoát ra khỏi vũng bùn, đành chịu để đôi giày ở lại. Cái lỗi này
là do mình gây ra mà thôi, trách ai bây giờ. Thực ra thì khi sức nặng cơ thể dồn
vào chân làm cho nó lún sâu xuống bùn thì đồng thời cũng tạo ra một cái lỗ, nếu
ngay sau đó rút ngay lên thì không sao, nhưng nếu để một lúc thì bùn xung quanh
dồn đầy vào, một mặt chặn lên trên, đồng thời vùng đế giày lại bị rút hết khí
thành chân không, thế là lại bị ép mạnh hơn. Cách tốt nhất là cựa chân sao cho
có khe hở cho khí tràn vào là rút lên được. Có điều là ngoáy mãi chân thì bùn
vào cả khe chân và giày làm trơn tuột chân lên còn giày thì nằm lại. Một cách lấy
cắp giày của ông thần bùn thật là hữu dụng, không chê vào đâu được.
Sau mấy giờ đi bộ trong bùn
vữa dưới ánh sáng lờ mờ của các vì sao thì trời cũng dần dần sáng. Hết len lỏi
qua các rặng cây lại leo thang qua các vách đá, hết bám dây song co mình lên dốc
đứng, lại sờ xẩm, dò dẫm lội dọc suối, rồi thì buộc phao bơi vượt qua sông, mãi
đến khi đi cắt ngang đường Chín thì trời đã sáng rõ. Nếu không có tiếng máy bay
ì ầm trên đầu thì với quang cảnh ấy cũng chỉ như đi dã ngoại trong tập luyện ở
ngoài Bắc mà thôi. Điều đáng để nói là từ đây mới thật sự bắt đầu vào đường dây
ra trận. Từ đây đã bắt đầu là chiến trường, mà chiến trường thì không thể nói
chơi được. Chiến trường là chiến đấu, là gian khổ, là xương máu hy sinh, đâu có
giản đơn như diễn tập.
Khi cả đơn vị về đến bãi
khách tiếp theo thì trời đã tối, mọi người vội vàng buộc tăng võng lên những
thân cây đã nhẵn thín vì các đoàn quân đi trước đã cọ quệt, đã chà xát sau mỗi
đợt quân vào. Sau bữa cơm dã chiến cả trung đội tập trung để nghe quán triệt
nhiệm vụ cho những ngày sau. Thật may là vị trí bãi khách của đơn vị tập kết lại
không gặp mưa nên các chàng trai đều đã lên võng nghỉ ngơi. Bộ quần áo ngâm bùn
đêm trước đã được gột sạch trong lúc lội suối giờ cũng đã khô và cứng còng. Hằng
nằm yên trên võng thả lỏng người để lắng nghe những âm thanh xung quanh, mặc kệ
các lớp vải cứng cứ cọ vào da thịt. Đôi chân đã rời rã sau một ngày bươn trải với
một cường độ cao nhất từ trước đến giờ cũng không thèm động đậy. Tuy vậy nhưng
Hằng cũng không thể ngủ ngay được bởi phiên gác đầu tiên nơi bãi khách lại là
phiên gác của Hằng và Lượng sẽ phải bắt đầu sau mươi phút nữa.
Những ồn ào của hàng trăm
người đã át đi mọi âm thanh khác của rừng đã có sẵn từ cái thời nguyên thuỷ xa
xôi nào đó, giờ đây chợt vang lên như một bản hoà tấu với trăm ngàn cung bậc
khác nhau. Rất nhiều âm thanh không biết của loài nào lại cứ ri ri rỉ rỉ. Cũng
có âm thanh cứ buông ra đều đặn tiếng một tựa như tiếng gõ nhịp trong các bài
hát dân ca. Cũng có nhiều âm thanh rất quen thuộc giống như những âm thanh vẫn
phát ra sau vườn nhà những khi còn nhỏ đã từng nghe thấy trong khi chơi trò trốn
tìm vào những đêm trăng sáng. Đôi chỗ vẫn còn vài cậu chưa chịu ngủ, thoảng hoặc
lại lào thào với nhau không biết chuyện gì đó bên cánh võng ở cuối của bãi
khách…
Đã hết phiên gác lâu rồi mà
Hằng vẫn chưa sao ngủ được. Những hình ảnh thân thuộc về quê hương§, nơi người
cha của cậu đã sinh ra và lớn lên ở đó. Cái làng Tây Lạc cùng những cái ao đầy
bèo tấm và khoai nước liên tiếp nối nhau vừa lướt qua, lại đến những hình ảnh gần
gũi về con đường đất với hàng xà cừ cao lớn, cùng với khu đầm sen rõ rộng, luôn
toả hương thơm trong những mùa hè đầy nắng và gió ở cái làng Đồng Dầu, một vùng
đất thuần nông của ngoại thành Hà Nội, nơi Hằng đã sống cùng với cha mẹ và những
người thân suốt cả một thời tuổi nhỏ.
Mảng trời sao lộ ra từ tán
rừng thưa cũng chả khác gì bầu trời sao của làng Tây Lạc trên quê hương Nam Định,
lại càng không khác với bầu trời sao của làng Đồng Dầu trên đất ngoại thành Hà
Nội. Từ trên những bầu trời sao ấy người lính thấy như lại được trở về gần gũi
với những người thân của mình vậy. Bầu trời sao ấy đã theo những người lính ra
mặt trận hôm nay và còn theo người lính trong những ngày sau nữa để mà an ủi, để
mà vỗ về trong khi họ xa vắng những người thân. Có thể cùng trong lúc ấy người
lính cùng những người thân của họ cũng đang nhìn lên những ngôi sao để nhớ
nhau, để nghĩ về nhau và nói cùng nhau những lời tha thiết nhất. Chính vì thế
nên không chỉ riêng ai, bầu trời sao đã trở nên thân thiết với tất cả những người
lính trong những năm tháng chinh chiến ở xa.
Giấc ngủ của Hằng đến rất từ
từ sau rất nhiều những hình ảnh thân yêu của mẹ hiện ra. Bà lặng lẽ đi tìm những
đoạn dây để nối dài ra, buộc vào bốn góc của cái màn xô căng trên chiếc chiếu
giải dưới sân nơi cậu con trai của bà đã ngủ quên không chịu mắc màn…
5
Sau gần một tháng, ngày đi
đêm nghỉ đơn vị cũng đã vào đến nơi tập kết. Kể từ khi cả đoàn quân vượt sông
Xê Bang Hiêng thì tất cả những người lính chỉ còn biết rằng mình đang đi vào hướng Nam mà
thôi. Những cánh rừng nghỉ tạm sau một đêm không tên không tuổi cũng tuột ra khỏi
bộ não mà chẳng để lại chút gì gọi là vương vấn. Nhiều chỗ đoàn quân đi qua rồi
mới nghe một đôi người kháo rằng đấy là vùng ngã ba biên giới hoặc một địa danh
nào đó do những người đã vào ra một đôi lần nói lại thế thôi. Thực ra mấy người
này cũng đoán già, đoán non khi thấy những khoảng rừng có vẻ giông giống vậy
thôi chứ cũng không dám khảng định một cách thật đúng. Chỉ có cái tên bằng số
là không có thể sai được bởi hàng ngày lãnh đạo cấp trên phát lệnh hành quân đều
nói đến trong lúc xuất phát.
Bãi khách T73 đêm mới rồi bị
máy báy địch đánh phá nên cả đoàn lại phải đi thêm một quãng khá xa để vào bãi
khách dự phòng. Đây cũng là trạm cuối của đường dây Xã hội chủ nghĩa mà đơn vị
đi qua, ngày mai đoàn quân sẽ đến binh trạm 1 của đường dây Giải phóng. Theo
như dự đoán của mấy cậu thạo tin thì đơn vị còn phải hành quân qua 15 binh trạm
nữa thì mới đến hậu cứ của đơn vị. Thế thì đôi chân chưa thể được nghỉ ngơi mà
còn phải đi dài dài hơn nữa. Dù sao thì ở đâu cũng đều là đất mình cả vậy thôi,
chẳng có gì cần phải phân vân điều này, điều nọ cho mệt. Nói như mấy cậu người
Mường Cẩm Thuỷ thì (khắc đi, khắc đến). Đã lâu không thấy ai hỏi đến ngày,
tháng nên cũng chẳng biết khi đơn vị vào đến cứ là ngày bao nhiêu. Có điều chắc
chắn là vào khoảng cuối tháng mười một sang đầu tháng mười hai âm lịch, vì suốt
mấy buổi tối chẳng thấy bóng dáng ông trăng đâu cả.
Cũng không ai ngờ được
trong suốt thời gian ở Đường 9 Nam Lào Hằng không bị sốt rét, ngay cả khi ra
ngoài Bắc củng cố mấy tháng liền Hằng cũng không biết sốt rét là gì, thế mà vừa
đặt chân vào hậu cứ Tây Nguyên lần này thì Hằng lăn ra sốt. Việc đào hầm hố Hằng
chả tham gia được tý nào, từ việc đào đắp đất đến chặt gỗ làm nóc hầm kèo đều dồn
cả vào hai ông y sỹ là Cứ và Bình. Chẳng những thế hai ồng này còn phải để mắt
đến Hằng, sợ Hằng biến chứng sang sốt rét ác tính. Mấy ngày sau đó Hằng cũng
không cất mình lên được, việc ăn uống đều nhờ vào anh Toán là anh nuôi trưởng của
đại đội. Gần nửa tháng chiến dịch Hằng không được tham gia một buổi nào cả bởi
cơn sốt cứ kéo dài liên miên không dứt. Sau mỗi ngày đi chiến dịch về Luận, Tâm
và Kiệm lại sang hầm nói chuyện với Hằng về đánh đấm của các tiểu đoàn mà đại đội
2 của Hằng phối thuộc. Công việc của đại đội vẫn chỉ là tiếp đạn, chuyển thương
là chính, thoảng hoặc có gặp địch thì lại phải lựa để tránh không phải đọ súng,
có thế mới bảo vệ được thương binh. Sau hàng loạt những chuyện vui về chiến thắng,
bao giờ về cuối các cậu ấy cũng tỏ vẻ bực dọc vì khi ao ước làm bộ đội là để có
dịp đánh giặc thế mà đến khi giặc ở ngay trước mắt lại phải tránh đi thì cớ gì
mà họ chả bực mình.
Hôm nay đã là ngày thứ ba Hằng
cắt cơn sốt. Đề nghị mãi đại đội phó Nhu mới cho đi chiến dịch. Anh Nhu cho Hằng
đi cũng chỉ là mang theo một khẩu súng đỡ cho vài người khi phải khênh cáng quá
nhiều và dự phòng khi có người bị thương thêm thôi chứ không giao nhiệm vụ gì
quan trọng cả.
Cao điểm 1049 cũng
như muôn vàn những cao điểm khác với tầng tầng, lớp lớp những cây cổ thụ,
xen lẫn những vạt rừng le cuốn thành những vòm mái che phủ kín cả mặt đất. Rồi
thì các loại nứa tép, vầu, tre gai cao vút trên khắp cả một dải rừng chuyển tiếp
làm cho ta chẳng thể nhận ra đâu là đỉnh của cao điểm. Thực ra cao điểm 1049
chính là đỉnh Ngọc Rinh Rua cao nhất của cao nguyên miền Trung mà ngày còn học
phổ thông có lần thầy Vũ Tú Nguyên đã gọi lên chỉ nó trên bản đồ địa lý. Cao
nguyên miền Trung còn có một cao điểm nữa là cao điểm 1015, sách địa lý gọi nó
là đỉnh Ngọc Tô Ba. Đây cũng là một địa danh mà quân ta đã tiêu diệt mấy tiểu
đoàn quân trong năm1968.
Kể từ ngày vào chiến trường
đến nay mọi người hầu như lúc nào cũng nhớ nhà, nhớ người thân. Những người đồng
đội nói chuyện với nhau cho dù là đề tài gì thì sau một hồi thế nào cũng lại
quay lại đề tài gia đình, bè bạn. Những câu chuyện cho dù ở ngoài Bắc có kín đến
đâu thì đến bây giờ cũng bị lôi ra để mà góp vào không khí chung của mọi người.
Có những người được tiếng là kín nhất như chính trị viên Sinh và chính trị viên
phó Huynh cũng đã tham gia vào tiết mục kể chuyện này. Chuyện về người thân mà
người chiến sĩ đề cập đến nhiều nhất là chuyện về người yêu của họ. Cũng chẳng
ai biết những người con gái ấy có thật xinh đẹp hay không nhưng qua lời kể của
các chàng trai đang yêu thì họ đều như tiên cả. Tuy vậy cũng có những chàng
trai đã bị lộ “bem” bởi người yêu cũng đã từng đến thăm và lẽ dĩ nhiên là nhiều
người đã gặp. Lại còn cái đám cùng quê thì họ chả còn lạ gì những cô gái của
nhau, thế nhưng họ vẫn muốn nói cho nhau nghe về những cô bạn ấy với những tình
tiết hết sức đặc biệt mà theo họ thì những tình tiết của các cô ấy chỉ có thể
dành riêng cho người con trai của các cô ấy mà thôi. Những câu chuyện như thế
thì thật là chỉ còn biết nghe kể và cười vui phụ hoạ.
Cũng không biết làm thế nào
mà câu chuyện Hằng tránh gặp bạn gái trước khi đi chiến đấu dạo nào cũng đã bị
mấy chàng thạo tin kháo ra từ ngay những buổi đầu tiên có tiết mục này. Trong rất
nhiều những nhận xét mà Hằng nghe được thì hình như có rất nhiều ý luôn đối nghịch
lẫn nhau. Người thì cho đây là một mối tình cao thượng hiếm có không mấy ai làm
được. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong việc này thì chàng trai là người đã
quá tự đề cao mình mà phủ nhận những điều tốt đẹp của người khác. Những ý kiến ấy
nêu ra kèm theo hàng loạt những đánh giá thật cao đẹp về người phụ nữ. Đâu là sự
dũng cảm không thua nam giới, đâu là sự hy sinh chịu đựng hết cuộc chiến tranh
này đến cuộc chiến tranh khác. Nhiều đêm Hằng nghĩ về điều này và tự vấn lòng
mình về sự vô tư trong suy nghĩ. Đúng là Hằng chỉ muốn làm sao cho người thân
yêu của mình không phải côi cút như bao người phụ nữ và bao đứa trẻ khi gặp cảnh
éo le để rồi khốn khổ trong cảnh vợ nọ con kia. Hằng đâu có tự đề cao mình lên
như nhiều đồng đội đã đánh giá như vậy. Có điều dù có nói thế nào đi nữa thì việc
làm của Hằng cũng cứ lồ lộ ra dưới sự xét đoán theo hướng như vậy. Sự thật thì
Hằng cũng đã thấy, đã biết có đến hàng vạn người phụ nữ của thời chín năm kháng
chiến, hàng vạn người phụ nữ của cả hai miền Nam Bắc đã mất chồng, mất con sống
trong cảnh goá bụa mà đã có bao giờ họ sợ điều đó đâu. Họ vẫn yêu, vẫn chờ đợi,
vẫn hy vọng cho dù hy vọng thật nhỏ nhoi. Họ đâu có cần những ai phải lo cho họ!
Họ đâu có cần ai thương hại họ! Cho dù những ý kiến này chưa ai nói thẳng với Hằng,
nhưng Hằng nghĩ nếu có lần thứ hai như thế thì nhất định Hằng sẽ phải cân nhắc
sâu sắc hơn nữa. Nhưng thôi, mọi sự đã xảy ra rồi làm sao có thể thay đổi được
nữa.
Đơn vị chuyển địa điểm đến
một vùng khác sau mấy ngày đường hành quân bộ, để rồi lại tiếp tục với việc phục
vụ chiến đấu. Lần này đơn vị phải chuyên chở đạn, gạo qua sông PôCô cho các đơn
vị đánh vào phía Nam CôngTum nên gặp khá nhiều khó khăn vất vả. Sau những trận
đánh giằng dai giữa ta và địch thì sự ác liệt lại tăng lên khi cả hai bên đều
muốn đi đến những thắng lợi nhất định, bởi khi mùa mưa đến việc di chuyển và tiếp
tế lương thực, súng đạn sẽ bị cản trở. Lẽ dĩ nhiên là khi chiến dịch càng ác liệt
thì đơn vị của Hằng cũng chung chịu với các đơn vị chiến đấu. Những trận B52 rải
thảm, những trận pháo bầy liên hồi kỳ trận của địch luôn chặn vào đầu và quét
vào đuôi đội hình của các trung đội, tuy vậy đơn vị cũng chưa có thương vong
nào.
Đêm nay đơn vị lại tiếp tục
lên đường cùng với trung đoàn 48 để tiến đánh vào Công Tum. Đạn cối 120 nặng đến
17 cân một quả, mỗi người phải mang 3 quả, đạn cối 82 mỗi người phải mang đến 6
quả. Rồi thì đạn K56 dùng cho súng AK, đạn Nổ, đạn xuyên lõm cho DKZ 75, DKZ
82. Cao cấp hơn còn có đạn pháo D74, DKB, hoả tiễn H12, Hoả tiễn B72, mỗi loại
đều khá nặng và cồng kềnh khó mang vác. Vũ khí bộ binh thì có lựu đạn tấn công,
thủ pháo, thuốc nổ TNT, CH4, đạn B40, B41 vv…Cũng không thiếu mìn phóng
MF 1A, mìn Định hướng DH 35 để phá hàng rào và diệt bộ binh địch.
Mỗi lần vận chuyển cho dù cả
đơn vị cố sức cũng chả được bao nhiêu, thế mà chỉ cạch, oành một cái đã đi đứt
một quả đạn cối. Thật là nhanh và tốn kém quá đi mất. Thôi thì cũng đành vậy chứ
còn biết làm sao cho được khi kẻ địch còn xài gấp cả chục lần chúng ta xài.
Chúng ta đâu có muốn làm như vậy trên chính mảnh đất của chúng ta. Cuộc chiến
như chúng ta biết thật là buồn, thật là tàn bạo và thật là không đáng có. Chúng
ta đã cố gắng hoà hoãn trong nhiều lần ký kết các hiệp ước và gần nhất là ký kết
hiệp định Giơ ne vơ của hơn mười năm trước. Tất cả đã không thể dừng lại được
và vận mệnh dân tộc lại phải trải qua những ngày tháng đạn bom cực kỳ man rợ.
Những người chiến sĩ phải
hoàn thành nhiệm vụ của mình, đó là trách nhiệm lớn nhất. Còn việc dũng cảm,
xông tới và chiến thắng đối phương đó là công việc của người lính, vì nếu không
thế thì cần gì phải có họ. Tuy nhiên cũng nhờ thế mà họ bảo vệ được đồng bào, bảo
vệ được tổ quốc và tự bảo vệ được chính mình. Họ có quyền tự hào vì sự hy sinh
của họ cho dân tộc, cho đất nước vì điều đó là nhân văn lớn nhất của thời điểm
lúc bấy giờ. Còn trước đó và cả về sau này, mỗi thời điểm lại có một mục đích ý
nghĩa riêng của nó. Đừng bao giờ bắc đồng cân để mà đong đo thời này, thời khác
bởi như thế thì thật là khập khiễng, thật là không phải.
Chiến dịch ngày càng khốc
liệt hơn trong những ngày đầu năm 1972. Đại đội 2 cũng đã di chuyển chỗ đóng
quân mấy lần liên tiếp. Hình như mặt trận ngày càng rộng ra nên đơn vị cũng bị
chia sẻ thành nhiều bộ phận để phối thuộc. Riêng đại đội bộ thì vẫn tập trung ở
một chỗ, khi có trận đánh lớn thì mới cử cán bộ trực tiếp chỉ huy. Cơ bản vẫn
là đại đội trưởng Điền và chính trị viên trưởng Sinh, còn chính trị viên phó
Huynh và đại đội phó Nhu thì đã đi chỉ đạo trực tiếp ở các trung đội 1 và 2. Chỉ
có anh Giao ở trung đội 3 luôn chỉ có một mình trong mọi việc.
Chiến dịch dường như đã có
những chuyển hướng khác với nhiệm vụ ban đầu. Nhiều đơn vị được phân tán để
căng địch ra làm cho chúng không thể tập trung được. Trong khi đó các đơn vị
luôn xuất hiện với đủ mọi cái tên vốn đã quen thuộc nhưng lại ở quá nhiều địa
điểm khác nhau, thành ra đi đến chỗ nào kẻ địch cũng thấy là quân của sư 320,
quân của sư 2, sư 10 và nhiều sư đoàn khác nữa. Kẻ địch chắc phải hoang mang thật
sự vì mới sớm nay chúng chạm mặt 320 ở Tây Nguyên thì ngay chiều hôm đó chúng lại
chạm mặt với 320 ở Quảng Trị. Chúng biết 320 có A, có B nhưng chúng lại không
biết họ có C, có D hay không. Điều này là một bí mật chiến lược làm sao mà
chúng biết được.
RA BẮC
1
Sáng mai Hằng được phân
công đi cùng trung đội 2 tách khỏi đại đội đến phối thuộc với trung đoàn 52 về
vùng dưới. Cũng may là ở trung đội 2 còn có Yên là người cùng sở Điện Thanh Hoá
với Hằng nên cũng đỡ buồn. Hai người vừa đi vừa nói chuyện về gia đình của nhau
trên suốt dọc đường. Yên không gầy nhưng khuôn mặt của Yên cứ phô ra cái sự gầy
bởi cái cằm của Yên cứ đua ra nhòn nhọn, hai má thì hóp vào, hố mắt thì sâu
thành ra ai cũng bảo Yên còm cõi. Không biết Yên có thêm gì của riêng mà ba lô
của cậu ấy cứ to kềnh, to càng ra làm cho bước đi của Yên cứ nghiêng hết
cả về phía trước.Vậy nhưng Yên vẫn chuyện rất rôm rả, thoảng hoặc lại pha trò
cười hin hít nghe thật là ngộ.
Suốt từ hai hôm trước Hằng
lại lên cơn sốt, y sĩ Bình đã tiêm cho Hằng mấy ống thuốc trợ sức và cả mấy ống
Qui nin trị sốt rét vậy mà hình như cơn sốt vẫn không chịu giảm cơn. Cũng không
biết thế nào mà mỗi khi sốt rét thân nhiệt lên rất là cao, có người lên đến 41
độ vậy mà xem ra cũng vẫn chẳng hề hấn gì. Còn chuyện 40 độ trở xuống thì mọi
người cứ coi như là không sốt, vẫn gùi gạo, gánh đạn và khênh thương binh đi
thoăn thoắt.
Chặng đường đi có lẽ cũng
đã được gần hai giờ đồng hồ mà Hằng vẫn không thấy đỡ. Trước mặt lại là một cái
dốc dựng đứng đầy bùn đất và lá khô vụn mủn, chỉ mới vòng qua một đoạn cua ngắn
đường bằng mà Hằng theo mãi vẫn chưa thấy đội hình, có lẽ mình phải chạy mới
theo kịp nhóm đằng trước. Chỉ mới kịp nghĩ lướt qua trong đầu Hằng đã thực hiện
ngay thế mà phải gần hai mươi phút sau Hằng mới bắt kịp đội hình. Có lẽ thấy Hằng
tụt lại lâu quá nên lãnh đạo đại đội đã cử y sĩ Bình lùi lại để chờ Hằng chứ
đơn vị thì đã đi xa rồi.
Vừa gặp Hằng ì ạch chạy đến
Bình đã sờ tay lên trán của Hằng để xem có nóng quá không. Mới sờ vào trán Hằng
đã thấy cậu ta rụt tay lại để lấy thuốc ra tiêm cho Hằng. Sau phát tiêm vào
cánh tay cậu ta lại bắt Hằng ngồi nguyên đó kéo quần xuống chọc ngay Seranh thuốc
vào mông. Có lẽ cũng đành tiêm ngồi như thế bởi đất dưới chân chả khác gì bùn
nhão thì nằm ra sao được. Không tiêm thì Hằng còn chịu được, tiêm rồi thì mắt
hoa đầu váng mỗi lúc một tăng làm Hằng không còn gượng dậy được, thế rồi Hằng
thấy tối sầm lại, không còn biết gì nữa. Cũng không biết sau bao nhiêu thời
gian Hằng mới tỉnh trở lại, chỉ đến khi mở mắt ra thì Hằng đã thấy cả một đám
đông vây kín lấy Hằng. Anh Điền đại đội trưởng cũng đang dòm nom ngay sát bên cạnh.
Cũng chỉ kịp thoáng nhìn thấy trong một vài phút rồi Hằng lại lịm đi.
Cũng không biết Hằng đã sốt
như thế nào mà mấy ngày sau khi tỉnh lại chỉ thấy mỗi một mình nằm trên một cái
sạp nứa trải trong một căn nhà hầm ẩm thấp. Cuộc điều trị có lẽ phải mất hơn một
tháng mới đỡ, tuy là đã đỡ nhưng Hằng còn rất yếu nên cũng chỉ chống gậy đi bộ
xung quanh trước lán mà thôi. Mỗi ngày Hằng lò dò theo mọi người đi qua lán nhà
bếp để ăn cơm. Tiêu chuẩn của người ốm nặng khá hơn các bệnh nhân khác ở chỗ có
thêm mấy miếng thịt hộp của miền Bắc đưa vào còn lại thì cũng chỉ có măng le,
cá khô và ruốc bông. Hàng ngày Hằng ăn cũng không được nhiều nên khi ốm Hằng ăn
càng ít. Cơm canh còn lại đã có mấy cậu lính bị thương giải quyết hết nên cậu
cũng chả cần lo rửa, bát rửa đũa mà chỉ chào các bạn là lại lò dò về lán.
Vừa qua bên lán 6 chợt nghe
thấy tiếng hò hét ồn ào náo nhiệt không biết là có chuyện gì. Chờ mãi mới thấy
mấy cậu bên khoa ngoại về qua cho biết bên ấy có một cậu sốt rét ác tính nhiều
lần biến chứng tâm thần. Nghe vậy Hằng càng lo không biết rồi đây mình có thể lại
như cậu ấy hay không. Cứ nghĩ đến mấy cô gái điên Hằng vẫn gặp ở quê ngày nào Hằng
lại thấy gai gai sợ. Tóc tai các cô ấy rũ rượi, mặt vêu vao đầy ghét bám. Bàn
tay khẳng kheo gầy giơ ra mò mẫm ở rãnh thoát nước, gặp gì cho vào mồm ăn nấy.
Những miếng vải xơ xưới lua tua không còn biết gọi là màu gì choàng từ cái cần
cổ cứ đuỗn đuồn ra lao về phía trước. Cặp mông lép kẹp sần sùi những vẩy thoảng
hoặc lại phơi ra khi cô ấy bước đi hoặc khi gió đánh tạt về một phía. Cái thảm
hại hơn có lẽ lại là việc mấy đứa trẻ con lúc nào cũng theo đằng sau trêu chọc.
Đứa lành hơn thì cũng lấy cái que đánh bò khều vào bộ giẻ trên người cô ấy. Đứa
dữ dằn hơn chúng chả nể nang gì mà không quất một vài roi vào cái thân hình quắt
queo đen đúa người không ra người, ma không ra ma ấy. Chả lẽ rồi có một ngày ta
cũng điên như thế bởi những cơn sốt rét ác tính mà người bạn bên lán 6 vẫn đang
gào thét ngoài kia.
Đang suy nghĩ luẩn quẩn một
mình chợt tiếng chân chạy huỳnh huỵch từ mé sau nhà vọng đến làm cắt đứt luồng
suy nghĩ của Hằng. Vừa chống cái gậy tre đi về phía sau nhà đã thấy cậu bạn tâm
thần đang vắt vẻo trên một cây bứa khá cao ngay đầu hồi phòng làm thuốc. Vừa
khoa chân, khoa tay cậu ta vừa hô xung phong ầm ĩ tưởng như sẽ nhảy ngay xuống
đất làm cho các y tá, bác sĩ đứng dưới luống cuống mà không biết làm gì. Có một
anh y sĩ đang đứng bên cửa nhà thuốc tay lăm lăm một cái võng mồm thì gọi mấy
anh từ trong nhà thuốc ra giúp sức. Cũng đã mấy lần anh bạn tâm thần doạ sẽ nhảy
từ trên cây xuống làm cho mọi người cứ cuống cả lên. Những cành bứa xoè tán hết
tầng này đến tầng khác đâm ngang ra xung quanh có làm cản trở anh ta rơi xuống,
nhưng thân gỗ của nó kiêng gì đầu, mình, chân, tay mà không làm cho cái sự va
chạm để rồi dẫn đến gẫy, vỡ, toác, để rồi có thêm những chấn thương về thể xác
hợp với sang chấn về tinh thần đưa anh ta đến chỗ chết hoặc tàn phế hơn nữa. Những
tiếng thét xung phong, những âm thanh giả làm tiếng nổ của anh như cứa vào lòng
mọi người. Một cái gì đó vừa bi thương, vừa oanh liệt cứ như khía vào quả tim của
những người đang đứng cùng anh ngay phía bên dưới gốc cây bứa với những cành
ngang vô cảm.
Sau mấy tuần điều trị với đủ
các loại thuốc, đâu là DDS, NIVAQUIN, B1, B12, KINACRIN rồi thì tiêm QUY NIN đến
ù cả tai mà sức khoẻ Hằng cũng chẳng thấy khá hơn. Đã hơn một tuần nay uống
viên phòng số 2 là loại khá mạnh trong thuốc điều trị mà cũng chẳng khả quan
hơn tý nào. Mãi đến hôm kia anh Điều y sĩ mới quyết định điều trị cho Hằng
phác đồ mới là viên phòng số 3 màu đỏ. Xem ra loại thuốc này hợp với Hằng hơn.
Những ngày tập đi với chiếc gậy tre rồi cũng đã qua, Hằng đã có thể đi lại bình
thường. Cái gậy tre mà anh Điều đưa cho bữa trước đã bị bỏ xó không còn cần đến
nữa. Nói là đã đi lại bình thường nhưng tốc độ di chuyển của cậu hình như vẫn
còn rất chậm. Mỗi lần đi lại cũng chỉ vài trăm mét cậu đã thấy mỏi chân giống
như ngày nào hành quân từ Bắc vào Nam.
Vừa cắt cơn sốt là Hằng đã
lang thang đây đó mà chẳng chịu ngồi yên một chỗ. Khi thì Hằng sang chỗ đồng
chí Điều bên khu quân y sĩ, khi thì Hằng sang khu thương binh hỏi xem có ai là
người Hà Nội hay không. Sớm nay đồng chí Điều xuống điều trị có nói cho Hằng biết
về kế hoạch giám định sức khoẻ cho thương bệnh binh trong kỳ tới. Bên hành
chính của viện đã lập danh sách báo về các bộ phận rất nhiều các đồng chi
thương binh bị mất hoặc hỏng các chức năng nhìn, nghe, đi lại, cầm nắm và cả
các trường hợp tâm thần. Phía các bệnh binh sốt rét quá yếu cũng phải giám định
một vài trường hợp. Hằng nghe nói vậy thì biết vậy, cậu cũng chẳng hiểu cái việc
giám định như vậy để làm gì. Có chăng là việc cậu mong sớm giám định để kịp về
với đơn vị không thì khi về đơn vị đã di chuyển là cậu lại phải đi đơn vị khác
thì thật là phiền. Nghĩ thế nào làm thế ấy, cậu liền hỏi thăm dò:
- Không biết em đã được
giám định chưa anh Điều nhỉ?
- Tớ thấy có một Hằng trong
danh sách nhưng không biết là Hằng nào vì ngay trong diện điều trị của tớ cũng
còn một cậu Hằng bên lán 4, lại còn có đến 2 Hằng khác ở nhóm điều trị nội khoa
khác.
- Em chỉ lo khi về đơn vị
đi vào sâu quá không còn tìm được, lại phải về một đơn vị nào đó của miền thì
chán ngắt. Dẫu sao thì làm quân chủ lực trong sư cơ động vẫn hay hơn anh ạ.
- À không! Tớ nói giám định
đây là giám để đưa về hậu phương vì mất sức chiến đấu chứ không phải giám để
cho xuất viện.
- Lại hậu phương, em đã
chán với cái cảnh hậu phương, hậu cứ rồi. Đành rằng đâu cũng là nhiệm vụ thế mà
một đằng bom pháo hy sinh ở phía sau với lại một đằng trực tiếp ngoài chiến hào
đánh cho thật đã rồi hy sinh thì chỗ nào hơn?
Nghe Hằng nói anh Điều chỉ
mỉm cười lặng lẽ, khá lâu sau anh mới nhẹ nhàng nói:
- Thế cậu bảo tất cả chúng
tớ chả lẽ không nghĩ vậy hay sao...
- Nhưng các anh lại có
chuyên môn khác chúng em nên phải theo đúng chuyên môn chứ.
- Chả nhẽ chúng tớ không trải
qua bắn súng, ném lựu đạn và thả cối chắc? Chúng tớ cũng muốn trực tiếp lập chiến
công chứ đâu có muốn kể ra rằng chưa bao giờ cầm súng xông lên đánh giặc trong
khi mình là một người chiến sĩ ra đi chiến đấu để giải phóng đất nước.
Có lẽ những lời hùng hồn mà
anh nói ra không phải chỉ để nói với Hằng mà hình như anh nói với cả anh nữa.
không khí im lặng đến không ngờ sau những tuyên ngôn của anh Điều chợt bị phá vỡ:
- Mà cậu cũng là một dạng
chuyên môn đấy chứ?
- Không em chỉ là bị bắt
cóc lên làm trong thời gian nào đó mà thôi.
- Này, tý nữa thì quên! Chỗ
hành chính của viện họ nhờ hỏi xem cậu có cách nào hàn được cái nồi cất bằng
nhôm hay không?
- Hàn nhôm phải có máy và
môi chất, ở trong này chả có cách nào hàn được đâu anh ạ.
- Thế thì gay go quá, không
biết lấy gì để vô trùng dụng cụ mổ xẻ và hấp bông băng được. Hay là cậu cứ xuống
xem xem thế nào.
- Thế lỗ thủng có to không
anh?
- Chỉ là lỗ của mấy viên bi
xuyên qua, lỗ to thì lọt ngón tay còn lỗ bé thì vừa lọt chính viên bi mà thôi.
- Thôi được để em xuống xem
thế nào.
Hai người đi vòng vèo qua
ba bốn cái lán cho đến khi gặp con suối nhỏ thì dừng lại trước một căn nhà hầm
nửa chìm, nửa nổi, bên trong khá rộng nhưng chỉ thấy dụng cụ, còn người thì đi
đâu không rõ. Loanh quanh một lúc lâu vẫn chẳng có ai về, anh Điều bực dọc lẩm
bẩm:
- Nói mãi mà vẫn không rút
kinh nghiệm. Đi đâu thì cũng phải có một mống ở nhà để mà gác sách chứ, đừng tưởng
đây xa địch mà chủ quan, đến khi thám báo nó đến tận nơi thì mới trắng mắt ra!
Chờ mãi chẳng được anh Điều
đành vào trong nhà lôi ra vài thứ dụng cụ đun nấu. Trong số đó có một cái nồi
nhôm khá lớn, nắp đậy bằng nhôm đúc dày, có bốn cái đinh khuy kẹp chặt với miệng
nồi. Chỗ gần miệng có mấy lỗ nhỏ bằng đầu ngón út miệng loe ra như hoa rău muống.
Vừa lúc đang ngắm nghía cái nồi nhôm ấy thì anh Điều quay trở lại.
- Cái này thì làm được anh ạ!
Em chỉ cần nói qua là họ làm được thôi. Trước hết anh bảo họ lấy cái kẹp đạn
mài sắc sau đó khoét hai bên miệng lỗ loe thêm ra, còn ở giữa để nguyên sau rồi
lấy đuôi cánh bom cắt lấy một đoạn nhỏ đập cho tròn rồi cho vào lỗ tán hai bên
cho chặt thế là xong anh ạ.
- Tớ sợ khi áp lực cao chỗ ấy
không chịu nổi.
- Không sao đâu anh ạ.
- Ừ thôi thế cũng được, lát
nữa tớ bảo các cậu ấy làm thử xem sao.
Hai anh em lại lọc cọc quay
về lán điều trị, cả hai đều không nói gì nữa. Mỗi người đều có những suy nghĩ của
riêng mình .
2
Gần một tuần vừa làm thuốc
vừa ăn uống với tiêu chuẩn cao, sức khoẻ của Hằng đã khá hơn mọi khi, nhưng
nhìn chung thì cậu vẫn xanh và gầy. Kể ra thì cậu cũng mới chỉ cắt sốt mấy hôm,
trong thời gian ngắn thế làm sao mà béo tốt ngay được.
Chả biết có chuyện gì mà sớm
nay anh Điều bắt số bệnh binh tập trung về hội trường ngay từ sớm. Hằng vì mệt
mỏi hơn ngày thường nên đến khá muộn, khi đến nơi thì hội trường chỉ còn độ ba
chục bệnh binh với bốn ông bác sĩ còn ngồi ở đó. Hằng nghe loáng thoáng hình
như có ai đó gọi tên mình mà không biết có phải hay không. Cũng chẳng biết thế
nào mà sau khi uống mấy viên phòng số ba rồi thì tai ù đặc hết cả.
Thế rồi cả đám bệnh binh đều
đã khám hết chỉ còn trơ lại mỗi mình mới thấy một ông bác sĩ hỏi đến Hằng. Ông
ta hỏi tên tuổi và cả quê quán của Hằng sau khi đã khám đi, khám lại con người
của Hằng sau đó thì ra hiệu cho Hằng về lán.
Vừa đi vừa nghỉ rồi Hằng
cũng đã về đến lán của mình. Vừa về đến lán đã thấy bốn năm anh em chờ mình ở
bên trong xô ra hỏi han loạn xạ chả hiểu ra thế nào. Người thì hỏi kết luận của
anh ở loại nào, người thì hỏi rằng anh có được ra không, cũng chẳng biết cậu ấy
bảo ra đâu. Cũng phải rất lâu Hằng mới hiểu ra những câu hỏi của mấy anh em
cùng cảnh sốt rét ác tính như mình. Nói là hiểu thế thôi chứ thực ra Hằng cũng
không biết mình ở loại ba hay bốn, chỉ thấy đồng chí viện trưởng xem đi xem lại
bệnh án rồi hỏi về tình hình ăn uống sinh hoạt của Hằng. Cuối cùng thì đồng chí
ấy ghi gì vào bệnh án mà thấy đầy những chữ là chữ. Một lúc lâu sau đồng chí viện
trưởng cũng ngẩng đầu lên rồi động viên vài câu đại loại là “cố gắng ăn uống
cho nó tăng hồng cầu lên một tý, không thì rồi đi cũng không nổi đâu đấy...”
Hằng cũng không ngờ lần đi
viện này lại là lần xa đơn vị mãi mãi, bởi chỉ gần một tuần sau đó Hằng đã phải
chống gậy theo đoàn quân ra Bắc. Trên đường đi ra Hằng còn phải vài lần cấp cứu
nữa, mà lần nào cũng cứ mê man nóng rét rồi co giật làm cho mọi ngưòi phát hoảng.
Cũng không hiểu thế nào mà
đến Binh trạm T. 14 ngoài bữa ăn khá thịnh soạn với rất nhiều đồ hộp, mỗi người
được phát một ít kẹo bánh và đường sữa, rồi thì còn có cả thuốc lá bao miền Bắc
hẳn hoi. Hỏi ra mới biết hôm nay chính là ngày mồng một tết âm lịch năm 1975.
Thế là đã gần năm năm trôi
qua, năm cái tết chiến trường, năm cái tết giữa bom rơi đạn nổ. Những gì là vui
Hằng đã nếm qua, những gì là buồn Hằng cũng đã nếm qua. Cho dù là thế nào thì
những năm tháng này cũng là những thời khắc đặc biệt mang dấu ấn trong cuộc đời.
Những gì đã đi qua sẽ không bao giờ trở lại, cho dù điều đó là khốc liệt, là
tàn lụi, là chết chóc. Bởi chính từ nơi đó ta hiểu được cái “bản ngã” của chính
ta, nó là dũng cảm ngoan cường hay là sự run sợ yếu hèn mà bất kỳ người nào
cũng phải có trước cái sự thực chết chóc, hy sinh trong cuộc đấu tranh một mất
một còn của những người chiến sĩ. Qua những năm tháng ấy cho ta nhận ra chính
ta. Rồi đây sau bao năm tháng đã đi qua, có một khi nào đó ta ngồi ta nghĩ về
mình, ta sẽ nói gì với con cái. Ta có thể cao giọng dạy bảo chúng rằng hãy sống
cho ra sống như bố mẹ chúng đã từng sống.
Cũng nhờ có cái đài của mấy
anh cán bộ ở các đơn vị mặt trận cùng ra nên anh em trong đoàn biết được nhiều
tin tức về tết và đặc biệt là nhiều tin về chiến sự trên khắp miền Nam. Không
khí mấy ngày này có cái gì đó rất lạ, giống như cái không khí hừng hực của bẩy
năm về trước, không khí của những cuộc tổng tiến công nhằm vào kẻ địch. Trên đường
không chỗ nào không nói về điều đó cùng với những dự đoán khác nhau. Tuy
nhiên tất cả các dự đoán đều có ý như đây là cuộc chiến sau cùng để thống nhất
đất nước giành độc lập dân tộc, điều mà mỗi người con dân đất Việt đã mong đợi
hàng ngàn năm nay.
Bắt đầu ra đến đất Bắc thì
không còn phải hành quân bộ nữa mà đi bằng ô tô. Vẫn những cái xe Gát mang nhãn
hiệu Trung Hoa như ngày nào đã chở người vào, nay lại chở người ra. Đường xá mấy
năm giặc đánh phá vẫn chưa sửa được nên những cái xe chả khác nào cái rổ cứ xóc
những người ngồi trên nó như là xóc ốc. Qua trạm 10 Quảng Bình mấy ngày thì mọi
người được nhận quân trang mới. Những cái màn vải xô nhuộm xanh, những bộ quân
phục cũng màu xanh, rồi thì mũ dày, ba lô cũng vẫn xanh một màu như thế cả.
Cũng từ đây người ta đã phân chia quân nhân tỉnh nào về tỉnh ấy và rồi từng người
lại đi tiếp về các đoàn an dưỡng của các tỉnh. Hằng không kê khai nơi mình nhập
ngũ mà khai nơi sinh và thế là Hằng được đưa về Đoàn 869 của Hà Nội. Vừa về đến
đoàn an dưỡng Hằng đã phải đi điều trị ở Viện 12. Cũng vẫn bệnh sốt rét là
chính, ngoài ra còn thêm cả bệnh sưng phổi đã phát triển trên dọc đường hành
quân trước đó.
3
Cũng do ốm yếu quá nên dù rất
gần nhà nhưng suốt từ ngày về đoàn an dưỡng Hằng vẫn chưa dám về nhà gặp mẹ. Sớm
nay chủ nhật, đại đội tập trung chiến sĩ phổ biến một số nhiệm vụ sau đó công bố
cho một phần ba số chiến sĩ ở gần được đi tranh thủ về qua nhà.
Sau mấy tháng vừa điều trị
vừa an dưỡng, Hằng cũng đã cắt cơn sốt rét, nhìn người cũng đã thấy có da có thịt.
Hôm cân trọng lượng kiểm tra sức khoẻ cậu cũng đã đạt được trọng lượng cân của
ngày nhập ngũ. Cũng nhờ có nước da khá sáng sủa nên dù đã gần ba mươi tuổi
nhưng chợt nhìn người ta ngỡ cậu mới độ hai ba, hai bốn là cùng.
Ba lô quần áo, chăn màn và
cả số bánh kẹo, đường sữa tiêu chuẩn đơn vị phát cho Hằng vẫn để dành để làm
quà khi về nhà cũng đã được gói buộc xong, vậy mà cậu vẫn chưa chịu rời đơn vị
ra về. Có bao nhiêu điều cậu tưởng tượng ra khi gặp mẹ và em gái. Đâu là chuyện
mẹ sẽ chạy vội ra để ôm lấy cậu, sờ nắn trên người cậu xem có bị thương tích gì
không. Còn cậu sẽ cũng chạy thật nhanh đến bên mẹ lau giúp mẹ những giọt nước mắt
sung sướng cứ chảy ràn rụa mãi không ngừng. Họ sẽ nói với nhau những gì là
thương nhớ thật tha thiết và cảm động...
Thế nhưng ngay sau đó cậu lại
phủ nhận tất cả những điều cậu vừa nghĩ ra trước đó. Bởi cuộc đời mẹ đã có bao
nhiêu lần gặp gỡ, bao nhiêu lần từ biệt người thân. Thậm chí là bao nhiêu lần
vĩnh biệt những người mà bà thương yêu nhất. Cùng với những khổ cực về tinh thần
và vật chất mà bà từng chịu đựng hết năm này qua năm khác, làm cho bà thêm chai
sạn, thêm cứng rắn và rồi mọi điều vui buồn trong lòng bà được nhìn nhận ở mức
độ trầm tĩnh đến không ngờ. Dù sao thì việc nghĩ vẫn cứ phải nghĩ, bởi đó là
thói thường của tất cả mọi người trước khi họ làm một việc gì.
Cuộc gặp gỡ xảy ra hoàn
toàn khác với cả hai quang cảnh mà Hằng đã tưởng tượng ra, bởi ngay khi mở tấm
liếp tre làm cánh cổng rồi vào đến sân Hằng chẳng gặp một ai. Chỉ đến khi bước
vào căn nhà tranh tối tranh sáng, gỡ được hai quai ba lô đặt xuống mặt giường Hằng
mới kịp nhận ra có một người đang ngồi trên tấm phản kê ở gian nhà phía hồi bên
trái. Cũng phải mất một lúc Hằng mới nhận ra đó là một người đàn ông lạ mặt có
mái tóc bạc có lẽ cũng sấp sỉ ở tuổi bẩy mươi. Hằng vội cất tiếng hỏi:
- Cụ ơi, cụ có biết bà cụ
chủ nhà này đi đâu không nhỉ?
Ông già tóc trắng cũng bất
ngờ không kém khi thấy có một chàng bộ đội tự nhiên cứ như vào nhà mình vậy, đã
thế lại còn hỏi chủ nhà đi đâu nữa chứ. Mãi đến khi bình tĩnh trở lại cụ già mới
thủng thỉnh trả lời:
- Cụ tôi vừa ra chùa làm lễ
anh ạ!
Nghe xong câu trả lời Hằng
cũng chào qua quýt cụ già nọ rồi cứ thế đi vội ra ngoài mà cũng chả nói cho ông
cụ biết mình là ai và đến để làm gì. Cuối cùng thì người Hằng gặp đầu
tiên lại không phải là mẹ, chả biết đó có phải là điều không may hay không.
Sau khi quét quanh làng một
vòng, gặp một loạt cả già lẫn trẻ cùng với hàng chục câu hỏi và câu trả lời thì
rồi Hằng cũng về gặp mẹ. Có lẽ khi về nhà nghe ông lão tóc bạc kể lại chắc mẹ
đã đoán được chàng trai bộ đội ấy là ai nên khi hai mẹ con gặp nhau thì chỉ thấy
mẹ đứng im để nhìn cậu mà chẳng vồ vập hoặc tỏ ra bất ngờ một tý nào. Sau khi
đã ngắm khá kỹ cậu con trai của mình rồi thì cụ cũng cất tiếng nhưng là để nói
với ông lão tóc bạc mà không phải là nói với Hằng:
- Đây là thằng anh con Hà đấy!
Sau khi nghe mẹ nói như vậy
thì ông lão tóc bạc vội đứng lên như có vẻ muốn bắt tay Hằng. Ông cất giọng chậm
rãi nói:
- Thế thì con phải gọi ông ấy
bằng ông mới đúng.
Mẹ Hằng hình như cũng cho
là đúng mà không cải chính thêm điều gì. Đến lúc này Hằng mới biết và mới gặp
được một người cháu của mẹ mình.
Không giống như nhiều nhà
khác, cuộc trở về của Hằng thật giản dị, thật bình thường. Đó có phải cách sống
đúng, sống tốt hay không thì không biết, tuy nhiên với hoàn cảnh ít họ hàng
thân thích, lại khó về kinh tế thì có lẽ gặp mặt như thế là thích hợp.
Gần một tuần ở nhà thật là vừa vui, vừa buồn, vui vì được gặp mẹ, gặp các anh
chị em và các cháu, rồi thì còn cả số bạn bè cùng trang lứa, cùng học một lớp
ngày nào. Còn buồn vì số đông bè bạn đều bận bịu gia đình mà không qua lại
thăm hỏi chuyện trò lâu được. Bọn họ còn phải lo làm, lo nuôi con cái và cả lo
cha già, mẹ yếu.
Cũng may trong suốt những ngày nghỉ có cậu Hợp thương binh cứng khớp hay đến
chơi bời trò chuyện. Hợp còn ít tuổi bởi cậu là em thứ ba của Thu, mà Thu thì
cũng còn kém Hằng đến hai tuổi chứ có ít đâu. Dù sao thì Hợp giống Hằng ở chỗ
đang còn là trai tân chưa vợ đang ở vào diện cần phải đi đây đi đó để tìm mối
cho mình.
Trong đời bộ đội lúc nào cũng đều là quân phong, quân kỷ, đêm thì hội họp gác
xách, ngày thì ra thao trường, chí ít cũng là tập đội ngũ, còn không thì lăn lê
bò toài ngắm bắn bia, tập chiến thuật vân vân và vân vân với mọi vấn đề. Chỉ có
ở đoàn an dưỡng mới được thoải mái đôi chút, nhờ đó Hằng hầu như chả ở đơn vị mấy
mà chỉ ở nhà. Sau mấy tuần chơi bời, Hằng bắt đầu tham gia làm hợp tác giúp mẹ
kiếm thêm ít công điểm. Mùa vụ thì cũng đã qua nên cũng chỉ còn mỗi việc gánh gạch
vào lò, gánh gạch ra lò. Thôi thì có tý việc làm vừa đỡ buồn lại có thêm công
điểm cho mẹ.
Ngay từ nhiều năm còn ở độ tuổi trẻ con Hằng chẳng mấy khi tiếp xúc với nhiều
người lớn, hơn nữa lại xa làng xóm ngay từ khi mới lớn, nên cậu ít hiểu về họ.
Gần đây đi làm cùng với mọi người trong làng Hằng mới có dịp ngồi lâu với họ và
phần nào cậu đã hiểu về họ hơn. Những câu chuyện chiến đấu mà Hằng kể cho họ
nghe, làm cho họ thấy thật cảm phục, còn những câu chuyện đời thường hài hước
mà những người này kể về những người kia không có mặt tại đấy nghe thật buồn cười
thật là vui làm cho công việc có phần nhẹ nhõm hơn nhiều.
Cùng đi làm hợp tác cũng còn có vài cô bé người làng vừa mới lớn lên mà Hằng chẳng
biết là con nhà ai. Ngay từ khi bước chân ra khỏi nhà họ đã bịt kín mặt bằng những
tấm khăn bông trắng nên Hằng chỉ còn biết trả lời những câu chào của họ khi gặp
mặt mà không thể chủ động hỏi han gì họ được. Họ chỉ hơi hé mở ra lau mồ hôi những
khi giải lao rồi lại trùm kín lại nên đã mấy ngày rồi mà Hằng chẳng biết họ là
ai. Tuy nhiên qua đôi mắt của họ Hằng cũng đã nhận ra vài cô có cái nhìn hết sức
ý nghĩa. Những khi giải lao họ ngồi gần Hằng hơn và không ít lần chăm chắm nhìn
sang hoặc vội vàng nhìn ra phía khác khi bất chợt gặp ánh mắt dò hỏi của Hằng
nhìn vào khuôn mặt họ.
4
Không phải chỉ riêng Hằng thấy được ý tứ ấy ở các cô gái mới lớn kia mà cả mấy
ông bà già cũng đã nhận ra được những ánh mắt đưa tình ấy. Cũng chả ngại ngần
gì mà họ không cất lời trêu chọc các cô:
- Chiến sĩ đấy! Đứa nào có cảm tình thì ra mặt đi chứ không lại lỡ mất thời cơ.
Vừa nghe đến đấy các cô liền ngúng nguẩy ra vẻ thẹn thùng kéo nhau bỏ chạy ra
xa rồi cấu chí nhau la oai oái, họ giống như một bầy trẻ nhỏ vô tư lự mà ta vẫn
gặp trên đường. Trong số đó có một cô bé không cao lắm có vẻ dạn dĩ hơn, các bạn
vẫn gọi tên là Mận thường phải đổi vai với Hằng. Cũng chính nhờ thế mà hai người
có điều kiện nói chuyện với nhau nhiều hơn so với những cô khác. Chả biết cô ấy
có cảm tình như các bạn vẫn trêu hay không nhưng Hằng cũng cứ hẹn cô ấy ra chơi
và cô ấy đã đồng ý.
Ngay tối hôm đó và liền mấy tối hôm sau Mận đã ra nơi hẹn để gặp Hằng, họ đã đi
chơi nói chuyện hàng mấy tiếng đồng hồ mỗi ngày trên dọc con đường từ nhà Hằng xuống
đình làng. Tất cả những câu chuyện hai người nói với nhau trong những lần
đầu tiên đi chơi ấy thật chả ăn nhập vào đâu. Tuy nhiên đó lại là những cuộc gặp
gỡ mở đầu cho mối quan hệ sau này của hai người.
Mất mấy hôm Hằng phải về đơn vị để duy trì con số theo quy định. Chiều nay anh
Đạt đại đội phó lại cho cậu tranh thủ về nhà. Cơm nước xong có lẽ cũng đã gần
tám giờ tối, Hằng đang định đi vào phía trong làng thì thấy Mận bước vào cổng
thế là Hằng đành phải quay trở lại. Ánh đèn dầu vang khè không đủ để soi rõ
khuôn mặt của cô gái nhất là cô ấy lại hơi có ý đi vào góc khuất làm cho việc
nhìn rõ khuôn mặt của cô càng khó khăn hơn. Tuy vậy bà mẹ của Hằng đang ngồi giần
gạo ở giữa nền nhà vẫn nhận ra cô bé và cất tiếng chào trước:
- Cái Mận ra chơi đấy hả
cháu?
- Vâng ạ!
- Cứ ngồi chơi nói chuyện với
anh nhé, bác phải giần nốt mẻ gạo để mai có cái thổi cơm cháu ạ.
Sau khi chào hỏi mẹ của Hằng
cô gái ghé mình ngồi xuống chiếc giường gỗ kê ở gian nhà phía bên trái. Hằng đi
rót nước từ cái ấm tích ra để mời cô gái thì mẹ Hằng cũng mang cái đèn dầu nhỏ ở
gần chỗ cụ đang giần sảy đến để vào cái ghế đẩu đặt trước mặt hai người. Thấy
chỗ làm của mẹ bị tối và cũng muốn để cho cô gái tự nhiên hơn Hằng lại mang cái
đèn trở lại cho mẹ nhưng bà bảo bà không cần đèn vẫn làm được, thế là Hằng lại
mang cái đèn ấy về chỗ cũ. Câu chuyện giữa hai người dường như có sự dè dặt,
đôi lúc họ hoàn toàn im lặng không biết nói với nhau điều gì. Những lúc như thế
bà mẹ Hằng lại chen vào một câu hỏi để cho không khí cởi mở hơn. Điều làm Hằng
khó nói chuyện nhất là cô gái không cùng lứa tuổi với Hằng, chính vì vậy mà khi
Hằng hỏi một vài thông tin về các bạn của mình cho có chuyện thì cô ấy chả biết
tý gì. Cũng phải thôi, vì khi cô ấy lớn lên Hằng đã không còn ở quê nữa. Hằng đã
rời quê khi cô ấy mới độ sáu bẩy tuổi đến nay đã mười năm có lẻ, lẽ nào cô ấy
chả lạ lẫm. Hằng cảm thấy buồn vì sự dè dặt và không hiểu biết của cả hai người.
Nhìn kỹ cô gái dưới ánh đèn Hằng càng thấy ngần ngại khi mình đã trót mời cô ấy
ra chơi. Sau một loạt những khoảng trống kế tiếp nhau thì Mận cũng thấy ái ngại,
cô đứng lên chào mẹ Hằng rồi xin phép ra về. Hằng xin phép mẹ rồi ra đưa tiễn Mận
về nhà, hai người vừa đi vừa tiếp tục câu chuyện đang dở, cách nhà khoảng độ gần
ba trăm mét, cậu đang định chào lần nữa rồi về nhưng cậu thấy hình như Mận chưa
muốn ra về thì phải. Chính cái lúc Hằng định nói lời cuối thì cô ấy lại hỏi rất
nhiều chuyện, đâu là chuyện chiến đấu ở miền Nam rồi chuyện học hành ngày bé của
của Hằng. Quãng đường hai người đi dần dần càng gần vào đoạn cổng chính của
làng, dự đoán nơi ấy chắc khá đông thanh niên nam nữ nên hầu như cả hai đều có
ý đi chậm lại, nếu không nói là đã dừng hẳn lại để nói chuyện mà không đi nữa.
Ngay lúc đó có mấy người đi ngược ra bắt gặp hai người, tuy họ không biết hai
người này là ai bởi trời quá tối, nhưng họ cũng có ý đi gần hơn xem bọn này là
con cái nhà ai mà lại chuyện trò đêm hôm như thế. Có lẽ Mận cũng không thích cảnh
này nên cô khẽ nói:
- Mình ra xa làng một chút anh ạ!
Đến đây thì Hằng nhận ra rằng Mận chưa muốn ra về, việc chào mẹ Hằng để về chẳng
qua là muốn hai người nói chuyện được tự do hơn mà thôi. Thế là hai người lại
quay lại con đường cũ và lần này thì họ vượt qua nhà Hằng để tiến ra xa làng thật
sự. Đêm nay trời trở gió làm cho không khí khá lạnh, có lẽ đây là đợt rét cuối
cùng của mùa đông mà ta quen gọi là rét Nàng Bân. Hằng luôn đi về phía bên phải
của Mận có ý như muốn che đỡ cho cô những cơn gió lạnh thỉnh thoảng quét qua
hai người. Chả biết đi đi lại lại thế nào hai người lại dừng ngay trước cái lò
gạch mà ban chiều hai người đã cùng làm ở đó. Hằng vẫn đứng che gió cho Mận như
khi nãy, mặc dù anh chẳng thể nào che hết được những cơn gió ngày càng mạnh hơn
thổi từ đầm nước trước mặt. Đi qua, đi lại một lúc thì họ cũng tìm ra được một
chỗ khuất gió đó là cái ô cửa đốt lò phía nam dài, rộng mỗi chiều chừng hai
mét. Họ ngồi sát nhau trên một khúc gỗ đốt lò tìm được ở gần đó và tiếp tục câu
chuyện. Câu chuyện ở nhà miễn cưỡng bao nhiêu thì bây giờ lại say sưa bấy
nhiêu. Những câu hỏi và những câu trả lời với nhiều đề tài khác nhau nhưng có vẻ
đã rất gắn bó mà không còn rời rạc như trước. Chả biết lúc ấy do lạnh hay do ít
ngồi gần bọn con trai mà mỗi lần người Hằng chạm vào thấy Mận cứ run rẩy đến lạ,
Hằng vội hỏi khẽ bên tai của Mận:
Thứ Hai, 7
tháng 7, 2014
TUỔI THƠ
1
Những ngày chơi bời lêu lổng
của Hằng đã không còn nữa bởi đám bạn cùng tuổi đã phải bắt đầu với các công việc
vặt trong gia đình của chúng. Thế là chỉ còn có một mình cậu thuộc diện rỗi
rãi, tha thẩn hết vào lại ra với vài thứ đồ chơi vặt vãnh của chính cậu. Gọi là
đồ chơi nhưng thực ra cũng chẳng sang trọng gì. Một vài cái mảnh sành được
mài nhẵn để làm con chọi. Mấy hòn đá xanh nhặt ở đường tàu về để đẽo gọt làm
bi.
Ngoài những lúc ngủ, thời
gian còn lại cậu đều dành cả vào các trò nghịch ngợm và chế tác những đồ chơi ấy.
Hai tay và quần áo Hằng lúc nào cũng toàn đất cát, bột đá trắng, sản phẩm của
việc gia công chế tạo các viên bi. Đây cũng chính là công việc chiếm mất nhiều
thời gian nhất của cậu.
Công đoạn chính của việc chế
tạo bi bắt đầu là việc dùng dao rựa cùn để đẽo các viên đá từ to thành nhỏ rồi
mài sơ bộ vào nền gạch cho tròn. Tiếp đó là việc đưa các viên đá này vào giữa
hai vòng tròn của hai cái kẹp đạn rồi lại xoay đi xoay lại làm cho viên đá trơn
và nhẵn. Cái công đoạn này được các cậu bé trong làng gọi là lùa bi.
Việc làm ra một viên bi từ
khi đẽo đá đến khi lùa cho thật tròn, thật nhẵn cũng phải mất hàng ngày, hàng
buổi chứ không phải nhanh chóng gì đâu. Thế mà khi đem ra đánh với lũ bạn chỉ cần
sơ ý hoặc kém tài một chút là mất vào tay chúng, lúc ấy mới tiếc làm sao. Tất cả
mọi đứa trẻ trai trong làng đều ham làm và ham có nhiều các viên bi bằng đá nên
khi làm ra được một viên bi công phu quá, đẹp quá, nhẵn quá đến lúc mất, còn
tiếc hơn người lớn tiếc khi mất một cục vàng.
Bên cạnh cái trò bi, đáo ấy
lại còn trò chơi khăng, thổi diêm, thổi nịt. Trò nào cũng cuốn hút, bởi trò nào
cũng gắn với những được mất. Cho dù cái được mất ấy chả đáng bao nhiêu về giá
trị vật chất nhưng với lũ trẻ trong làng thì thế cũng đã là to lắm, vì có khi
nào chúng nó có đủ tiền để mua được nổi một bao diêm hay một xâu nịt đâu. Diêm
của chúng đều do lấy cắp bớt trong bao của bố mẹ, còn nịt thì do chúng nhặt nhạnh
trong các gói hàng mà người ta tháo ra lấy hết đồ bỏ rơi lại đó.
Từ mấy năm nay ở làng vẫn có một lớp học tổ chức ngay ở cái điếm giữa. Cái lớp
học này dạy kèm một chương trình vỡ lòng với chương trình lớp một. Ai có học
hơn từ trước thì cũng tự hạ xuống, còn ai chưa học thì cũng cố mà theo, thành
ra việc học cũng thật khó khăn cho cả thầy và trò. Ông giáo dạy cái lớp hổ lốn
này là ông trưởng bạ, trưởng bạ chỉ là tên công việc ông thường làm trước đây,
còn ông tên là gì thì rất ít người đề cập đến. Ông trưởng bạ cũng đã dạy học
nhiều năm ở các nơi khác nên ông tuy giống ông đồ nhưng cũng đã có những nét của
một ông thầy có sự đào tạo về sư phạm chính quy. Ông rất dữ đòn và thường xuyên
đòi hỏi học trò tôn kính ông giống như các vị lớn tuổi ngày xưa đi học chữ nho.
Ông có một cái roi bằng mây nhưng lại buộc chập hai cái thành một, mỗi khi có
người không thuộc bài là roi ông lại vút lên giáng vào những cái mông nghe mà
phát sợ. Cũng có khi ông dùng nó quật lên những bàn tay đặt ngửa trên bàn khi
có người quên viết tập hoặc viết chữ quá xấu, quá bẩn. Những người bị đánh vào
tay thường đau đến hai ba ngày mới khỏi, nhiều khi vết đánh đỏ mãi đến cả tuần.
Có điều là chỗ nào có lỗi thì ông đánh đúng vào chỗ đó, nên bàn tay phải chính
là nơi ông trừng phạt, khi bị trừng phạt, bị đau thì lại viết xấu, viết xấu
lại sẽ bị đánh, bị đau. Mỗi con người đều sinh ra hai tay, mỗi tay đều phải
dùng để làm việc, nhưng mà bao giờ cái tay bên phải cũng đều vất vả nhất, gian
nan nhất và cho đến khi gặp ông trưởng bạ thì nó lại còn bị đau nhất. Đáng lý
nó phải được khen khao hoặc giả cũng được quan tâm bằng một hình thức nào đó, vậy
mà trên khắp thế gian này đã có ai phán giúp một đôi điều.
Cậu con trai nhà ông Tân cũng được gửi vào lớp học của ông trưởng bạ như một học
sinh vỡ lòng cùng một quyển vở với một cây bút. Ông Tân gửi cậu vào đây hy vọng
là cậu đọc được cái chữ thì chỉ in ít mà thôi, còn cái chính là muốn để cho ông
giáo rèn cặp cậu, giữ để cho cậu không bỏ đi chơi lang thang đây đó. Cho nên việc
đi học của cậu cũng chỉ là do có mấy cái tiện thể cùng một lúc mà buộc phải
làm. Ngoài việc tập đánh vần, tập đọc trên lớp, mỗi ngày cậu còn phải tô chì một
bài mà thầy đã viết sẵn, sao cho các nét mực không được trệch ra khỏi nét chì
mà thầy đã viết trong vở. Cậu cũng được thầy ưu ái hơn vì nhà cậu ở ngay lớp học,
hàng ngày thầy vẫn thường xuyên vào chè nước cùng ông bố của cậu nên có sự gì
ông giáo cũng nói ngay cho bố cậu biết mà không cần phải xử phạt. Cũng chính vì
thế mà cậu lười học hơn những đứa khác, kém hơn những đứa khác.
Bài học ông trưởng bạ dạy
cho học trò luôn bám sát với chương trình của nha giáo dục phổ cập từ khi
còn ở chế độ cũ. Ngoài các chương trình học bằng tiếng Việt, các học trò còn phải
học thêm chương trình tiếng Pháp, những bài tập đọc, tập viết tiếng Pháp luôn
làm cho số học sinh mới vào gặp khó khăn. Những bài học thuộc lòng lại càng khó
hơn nữa, đến ngay cả đọc phát âm còn không nhớ huống hồ còn nói đến chuyện dịch
nghĩa, chính vì thế mà có rất nhiều cô cậu phải đòn, càng phải đòn càng ghét
môn tiếng Pháp và rồi lại càng ghét thêm thực dân Pháp. Nhiều lúc cậu nghĩ sao
mà cái thằng Pháp nó ác thế, bom đạn nó mang sang giết người ác đã đành đến cái
chữ của nó mang sang cũng làm cho người ta điêu đứng, khổ sở.
2
Sang đầu tháng hai năm 1955
ông Tân về thăm quê, lần này ông mang theo Hằng cùng về. Việc thăm quê chỉ là
phụ, việc chính là ông đưa cậu con của bà hai cùng về rồi để lại trông
nom cháu bé cho chị cả đi làm. Dưới quê hồi này mùa màng thật là bận rộn, anh cả
thì đi vắng, chị cả thì chẳng có ai đỡ đần, hơn nữa khi vào đông vụ chí kỳ ai
ai cũng đều bận, chị cả vướng cháu không ra đồng được nên ông bà Tân đành phải
cho cậu về quê giúp chị một thời gian. Thế là trong lần đi học đầu tiên này cậu
đã phải bỏ học giữa chừng.
Làng Tây Lạc cách tỉnh lỵ có hơn chục cây số, con đường về làng cũng không được
rộng rãi gì, cho dù đây là tuyến đường chính đi từ tỉnh lỵ xuống biển. Hàng
ngày có đến hàng dăm chục chuyến xe ô tô qua lại, ngoài ra còn có hàng trăm
chuyến xe ngựa đi về vừa chở hàng lẫn chở khách. Quang cảnh bên đường thật là
tiêu điều xơ xác, đây đó một vài quán hàng lẻ tẻ dọc đường bán vài cốc nước chè
xanh chủ yếu để phục vụ cho những người đi bộ hoặc gánh hàng rong giải khát với
một chút tiền ít ỏi không làm vơi đi tý xíu tiền công mà họ vừa kiếm được trong
ngày. Cái thứ tiền công chỉ vừa đủ mua nổi không quá hai đấu gạo, còn số gạo
thì lại không đủ cho hai bữa của một gia đình đông người.
Chị cả chưa có nhà ở riêng mà phải ở nhờ nhà của người chú ruột, cũng may chú
cũng không đông con nên cũng không đến nỗi quá chật chội. Ngôi nhà ông chú và vợ
chồng của người con lớn của chú ở là một ngôi nhà tranh bốn gian lợp rạ, tường
trình bằng đất rất khéo. Bức tường được trình phẳng đến nỗi nếu không đến tận
nơi xem thì chắc sẽ cho là tường gạch trát vữa, duy có bức tường hậu là có vết
nứt hơi lớn đe doạ đến việc đổ tường. Chị cả và cháu đều ở dưới nhà ngang, ngôi
nhà này nối với nhà trên theo hình thước thợ, đây cũng là căn nhà tre nhưng bé
hơn nhà trên một ít, vốn trước đây nó cũng là nhà ở chính của gia đình ông chú
nhưng từ khi dựng được ngôi nhà trên thì mới không ở nữa. Cũng là mái tranh tường
đất nhưng tất cả mọi chỗ từ trong nhà ra ngoài, sân chỗ nào cũng sạch sẽ. Hàng
ngày sau khi làm xong mọi việc cụ Nhẫm lại quét dọn và sắp xếp nên mọi thứ rất
gọn gàng, ngăn nắp. Bên trong hai căn nhà nối nhau theo hình thước thợ là một
cái sân đất khá rộng rãi được đầm nén phẳng phiu và vuông vắn. Hàng ngày cụ Nhẫm
ra vườn đằng sau chặt vài cây tre mang vào pha ra để đan lát, khi thì là cái
rá, cái rổ, lúc lại là cái giần hay cái sàng để dùng trong nhà. Mỗi lần đan
xong một thứ cụ lại mang vào bếp hơ lên ngọn lửa để đốt các sợi lông tre xổ ra.
Đến khi nứt cạp cụ thường dùng răng cắn vào cạp rồi mới rút sợi mây, thành thế
nên trên vòng cạp của rổ hoặc rá đều có vết răng của cụ. Một lần cụ chợt nhìn
thấy Hằng đang nhìn mình cắn cạp rổ rá, cụ cười và kèm sau đó là lời giải
thích:
- Có cắn thế cạp mới chắc! Những người đi chợ mua rổ rá thường nhìn vào dấu cắn
này mà chọn, có thế mới mua được thứ tốt.
Hằng cũng chỉ cười mà không nói gì, trong bụng thì cậu nghĩ rằng sau này cậu sẽ
không làm nghề đan lát vì nếu cứ cắn như vậy thì rất ghê răng. Có lẽ cụ Nhẫm
trêu cậu thế thôi chứ nếu cái rổ nào cũng làm thế thì chả mấy chốc mà gẫy hết cả
răng.
Hàng ngày Hằng phải dậy rất sớm để trông cháu cho chị cả đi làm. Cũng vì đồng
xa nên chị cả chỉ đi làm có một buổi sáng, còn buổi chiều thì chị ở nhà trông
cháu để cho Hằng đi học cùng với cô A con của ông Khánh và cô Tý con bà Xước.
Thầy dạy học cho bọn trẻ là cụ Mậu, cụ cũng chỉ là thầy đồ có một chút vốn chữ
quốc ngữ vừa đủ để dạy cho bọn trẻ vỡ lòng, mẫu giáo mà thôi. Lớp học của cụ ở
ngay trên nền nhà, bọn trẻ tự mang theo những cái ghế để vừa kê sách khi viết
bài, còn lúc tập đọc thì dùng làm ghế ngồi. Những bài học hàng ngày vẫn là tập
tô, tập viết, tập đọc và học thuộc lòng. Những bài học thuộc lòng đa phần là những
bài ca dao ngắn, những bài hát ru lục bát nên cũng dễ học, dễ nhớ. Điều quan trọng
đối với cụ Mậu là làm thế nào để cho các học trò nhỏ của mình tỏ ra có tiến bộ,
bên cạnh sự hiểu biết của các học trò là điều mong muốn của người thầy làm thế
nào để cho các bậc phụ huynh dễ nhận ra rằng con cháu của mình cũng đã học được
mà tiếp tục gửi con, gửi cháu đến cho cụ, để rồi họ sẽ đóng góp cho cụ một vài
đấu gạo trong lúc đói kém khó khăn này.
3
Ngoài việc trông cháu và đi
học chú em chồng của chị Thảo chẳng giúp thêm cho chị được gì nữa, còn chị thì
tất bật suốt cả ngày. Cũng có lần chị cả cho cậu đi tập làm việc cùng với chị
khi chị gửi cháu cho cụ Nhẫm. Lần ấy hai chị em ra bờ ao trước cửa làng lấy bèo
cái về cho lợn, cũng không biết chị mượn đâu được đôi quang gánh ngắn khá vừa
so với độ cao của Hằng. Bèo vừa chất lên là cậu gánh thử ngay, xem ra cậu gánh
cũng được nên chị cả cũng không để ý đến nữa, chị cúi xuống để nhặt bèo vào
gánh của mình. Chú em thì hăm hở lắm nhưng chỉ mới đi được một đoạn đã thấy lấy
tay sờ lên vai, có lẽ là cậu bị đòn gánh cọ đi, cọ lại nên đã bắt đầu đau vai.
Đây là lần đầu tiên trong đời cậu tập gánh nên dễ đau và nhanh đau là phải, thế
là cậu nghĩ đến việc đổi vai nọ sang vai kia cho đỡ đau. Vì là lần đầu tập gánh
nên việc đổi vai như thế nào cậu cũng chưa tường tận lắm. Lúc đầu cậu định dừng
lại rồi xoay đòn gánh trên vai, nhưng xoay đến đâu thì cứ như cái đòn gánh lại
cứa vào vai và cổ đến đó, thế là cậu đành hạ cả gánh xuống rồi chui đầu qua đòn
gánh để sang vai bên trái. Vừa sang vai xong thì thấy chị cả cười ngặt, cười
nghẽo, rồi chị tiến lại gần bảo chú em hạ gánh xuống để xem chị dở vai. Thực ra
thì việc dở vai cũng không khó lắm, cái đáng lưu tâm ở đây là vai của cậu đỏ
tía và đã sưng lên rồi nên cậu không muốn để cho cái đòn gánh nó nhay lên trên
đó mà thôi. Thế rồi chị cả làm động tác đổi vai cho Hằng xem, chị lại định còn
bắt cậu dở vai thử để cho chị xem có được hay không, chị nhấn mạnh việc đổi vai
phải xoay về đằng sau mà không được xoay về đằng trước. Thì ra lúc nãy khi chị
ngước lên thì thấy Hằng vừa chui đầu từ bên này sang bên kia nên chị tưởng là cậu
xoay đòn gánh ra đằng trước, có lẽ vì thế mà chị buồn cười đến mức như vậy. Sau
lần tập gánh với bao chuyện buồn cười lại đến chuyện tập tát nước. Thực ra cũng
không còn là chuyện tập nữa mà là tát nước thật.
Mùa nắng năm ấy đã kéo dài
mấy tháng liền, nên ngay từ khi cấy các thửa ruộng của nhà đã thiếu nước. Hàng
ngày các hộ có ruộng ở vùng ấy đều có ý chia phần cho từng nhà đến tát nước. Chờ
mãi đến năm sáu ngày liền, hôm ấy mới đến phiên chị cả lấy nước. Dồn tát nước
vào ruộng sâu quá thành ra không dùng được gầu sòng mà phải dùng gầu giai. Chị
cả lại chỉ có một mình nên chẳng làm gì được. Chị cũng đã cố gắng đi mượn người
nhưng tất cả những người có thể giúp chị thì đều quá bận, bất đắc dĩ lắm chị
đành phải bảo cậu em chồng đi tát nước cùng chị. Hằng nghe nói được đi tát nước
thì rất vui vẻ vì mình sắp được làm các công việc của người lớn mà lâu nay cậu
chưa bao giờ được sờ đến.
Chị cả cũng buộc lại sợi
dây gầu cho ngắn lại sao cho Hằng có thể kéo được. Sau khi tìm chỗ đứng cho
mình, chị cả lại đi sang chỗ của Hằng để hướng dẫn cho cậu về cách đứng, rồi
cách cầm dây gầu. Mới kéo gầu nước đầu tiên Hằng đã chúi cả người về phía
dồn nước, tý nữa thì ngã nhào xuống dồn. Chị cả hoảng quá định thu dây gầu lại
nhưng chú em không cho, xem ra có lẽ cậu vẫn muốn tập tát nước cho bằng được. Đến
lần thử thứ hai thì cậu có tiến bộ hơn tuy rằng chị cả chỉ dám múc có lưng gầu
một. Hai chị em cố gắng nhũng nhẵng mãi cũng cũng múc được ướt mặt ruộng. Đến
lúc này thì cậu đã quá mệt và đòi nghỉ. Ngay chị cả cũng muốn nghỉ vì chị cũng
mệt. Chị cả mệt không phải vì làm quá nhiều, chẳng qua chị mệt vì cứ phải lựa
theo cậu em. Nếu kéo mạnh thì sợ cậu ngã thành ra cứ phải kéo nhè nhẹ. Mỗi lần
thả gầu chị lại phải cố hạ thấp xuống cho cân đối rồi đưa dần gầu nước lên như
kéo nước từ giếng khơi lên vậy. Dù sao thì cũng ướt được chân lúa, thế cũng đã
là quý lắm rồi, còn muốn kéo thêm cho đầy thì tối nay sẽ nhờ số chị em trong họ
ra giúp thêm cho một lúc. Với một cái thành quả bé tý như vậy cũng làm cho Hằng
vui thích, mà không vui sao được vì chỉ mới gần chín tuổi cậu đã có thể làm được
công việc của người lớn, cho dù công việc đó chẳng có đáng gì so với nhiều công
việc khác của nhà nông.
4
Ngoài việc trông cháu, giúp
việc cho chị và đi học cậu còn luôn bày ra cho số bạn cùng tuổi rất nhiều các
trò nghịch ngợm, nào là các trò bán hàng bằng lá cây để vui chơi, trò trốn tìm
lẫn nhau trong đêm tối. Riêng trò trốn tìm thì cậu luôn luôn chiến thắng, tất cả
bọn trẻ con từ cái A đến cái Tý, cùng mấy đứa bé tý khác ở trong xóm. Chúng nó
chả làm thế nào tìm ra được cậu. Chỉ riêng mỗi một mình cậu nếu đã đi trốn thì
chỉ khi nào cậu không thích chơi nữa mà tự đi ra thì lũ trẻ mới bắt được cậu.
Cũng có khi Hằng đi trốn vào một cái đống rơm của nhà cụ Đãng hoặc của nhà cụ Đồ
rồi ngủ luôn ở trong đó làm cho chị cả đi tìm trợn cả mắt lên mà vẫn không thấy.
Những lúc như thế chị cả lại sợ cậu giận gì mình mà đi trốn nên càng lo lắng,
nhiều khi bỏ cả cơm nước rồi cuống cuồng lên để đi tìm em. Cho dù sau đó đã
nghe Hằng nói rõ nguyên nhân rồi nhưng chị vẫn bán tín bán nghi, cho là mình đã
làm điều gì đó không phải nên em phật ý giận mình. Những lúc như vậy chị chỉ
mong sao bố sớm về để trả cậu về cho bố mẹ. Ngoài các trò chơi thông thường của
bọn trẻ ra Hằng còn có những trò nghịch tệ hại hơn nữa. Một trong các trò ấy là
trò chơi ăn trầu bằng thân của cây sắn giây mà cậu cắt được ở trong vườn của cụ
Đồ. Một mình cậu đã bày ra một đám cưới của một đứa trẻ này với một đứa trẻ
khác, bất chấp đó là cô cháu hay là anh em cậu chỉ cần có đám cưới là được, vì
chỉ có đám cưới mới có lý do để ăn trầu. Những đứa trẻ lại cũng chẳng cần gì cả
miễn là cứ được nhai các đoạn sắn giây rất ngọt là được. Cũng phải nói rằng vào
thời bấy giờ trẻ con ít được ăn đường mật hoặc các thức ăn có chất đường nếu
như chưa đến các ngày hội hè hoặc tết nhất, vì vậy mà cái chất ngòn ngọt của
cây sắn dây cũng là những thứ mà chúng ao ước được ăn. Cây sắn giây có vị ngọt
nhiều nhất là đoạn thân bánh tẻ nằm gần giữa gốc và ngọn, cũng chính vì vậy mà
mỗi lần cắt được đoạn thân trên thì cây sắn cũng bị cắt cụt. Chỉ trong có mấy ngày
mà hết vườn nhà cụ Đồ lại đến vườn nhà bà Đãng đều có cây sắn giây bị héo lá.
Những người có vườn cũng chỉ nghĩ rằng có lẽ là cây sắn bị sâu, về sau thấy cây
sắn bị chết nhiều quá đâm nghi thế là họ phát hiện ra cây sắn bị ai đó cắt. Chắc
họ cũng đoán ra thủ phạm nhưng lại không bắt được tận tay nên họ chỉ dám nói
bóng, nói gió mà thôi.Thế rồi chuyện này cũng đến tai chị cả, chị bực lắm nhưng
mà không biết nói vào đâu, chị chỉ hỏi cậu xem cậu có cắt sắn hay không, dĩ
nhiên là cậu phải chối chứ chả lẽ lại đứng ra nhận, mà đứng ra nhận thì chắc chắn
là sẽ bị mắng hoặc có thể còn bị đánh là đằng khác. Đành rằng chị cả là không
dám đánh nhưng mấy đứa cháu của cụ Đồ chắc gì chúng đã tha. Thế rồi cũng tý nữa
là bị lộ nếu như cậu không nhanh trí bế ngay thằng cháu rời khỏi nhà ngay lúc đấy.
Chẳng là mỗi lần cậu muốn chơi lâu thì cậu lại bắc ghế với lên mái nhà là nơi cậu
giấu các đoạn sắn giây để lấy cho thằng cháu một đoạn sắn giây để nó cho vào mồm
nhằn đi, nhằn lại. Lần này không biết thế nào tự nhiên nó lại nghĩ ra cái trò
nhằn cái thân sắn giây thế là nó cứ chỉ lên mái nhà rồi khóc ré lên đòi chị cả,
cũng may là chị cả cũng chẳng hiểu thằng bé đòi gì còn cậu em chồng khi phát hiện
ra đã bế vội nó đi chơi, dĩ nhiên là khi vắng người cậu đã di chuyển những đoạn
sắn giây ấy đi nơi khác.
Sau những ngày hè nóng bỏng với các trò chơi kéo dài từ ngày này sang ngày khác
tưởng như vô tận cũng đã kết thúc. Những ngày thu đầu tiên đang từ từ đến trong
tiết heo may se lạnh, ngoài đồng cây lúa đã tròn mình. Những ông bà già sớm
ngày ra đã có người phải mặc áo sợi dài tay cùng với cái khăn đen trùm kín trên
đầu chống lạnh. Suốt trong những ngày hè Hằng thường trốn đi cùng mấy đứa trẻ
trong xóm để đi bơi lội ở các ao làng chạy dọc bên đường cái. Người ta đồn rằng
trong làng có đến năm mươi tư cái ao tất cả, trong đó có đến hai phần ba số ao
là của nhà lão Quản Ri. Số ao này bây giờ đã không còn của Quản Ri nữa mà nó đã
thuộc về các ông nông dân mà đội cải cách đã chia cho mọi người. Cũng chính vì
cứ lặn hụp trong những cái ao đó mà cậu bị đau mắt. Trông cậu lúc này thật buồn
cười, hai chân đất lúc nào cũng nhem nhuốc bùn đất. Cái áo sơ mi trắng nhờ giờ
nhuộm đầy mực tím cùng với than gio trông thật bẩn thỉu, cái quần cộc bằng vải
chéo go màu đen cứng còng mà lại rộng tuềnh trông cứ như là đi mượn của ai chứ
không phải của mình vậy. Bên dưới bộ tóc rễ tre cứng quèo là hai con mắt đỏ hoe
hoe lúc nào cũng đầy rử rạp ở hai đầu khoé mắt.
5
Cũng không biết ông Tân về
quê từ lúc nào vì khi về ông lại về nhà ông Khánh trước chứ cũng không về chỗ
con dâu và cháu. Có lẽ ông cũng e nơi con cháu mình ở chỉ là nơi ở nhờ, ở cậy
mà thôi, dẫu sao thì nhà ông Khánh cũng là nhà anh em gần gận hơn so với nhà của
cụ Nhẫm, chú của con dâu. Sau mấy ngày ở chơi cùng anh em họ hàng và con cháu,
ông Tân đưa cậu cùng lên Hà Nội. Khi chia tay chị em bịn rịn không muốn rời xa,
nhất là thằng cháu thì cứ khóc dãy lên đòi đi với chú. Có lẽ nó tưởng là chú vẫn
cõng nó đi chơi như mọi khi nên nó khóc và đòi đi dữ lắm, nhất là mấy hôm nay
nó lại có một ông nào đó luôn bế ẵm và cho nó ăn quà, đặc biệt là lại rất
thương yêu nó, mãi sau cái Tý phải bế nó đi chơi nơi khác để cho nó tạm quên
đi. Cũng từ hôm bố về chị cả mới ít đi làm hơn, ngoài phần thời gian chợ búa
mua sắm thức ăn để lo tiếp đãi ông bố thì chị luẩn quẩn hơn với cậu em chồng,
chị hỏi kỹ hơn về sở thích ăn uống, rồi cả về các việc chơi bời, học hành của cậu
nữa. Chị dặn đi, dặn lại về các việc gì mà chị làm em không vui thì đừng nói với
thầy để thầy khỏi mắng chị. Cậu em cũng chỉ gật đầu thế thôi vì cậu chả để ý đến
việc gì nữa ngoài việc mừng vui khấp khởi là sắp được về với mẹ.
Sau quãng đường gần mười lăm cây số đi bằng xe ngựa từ chợ mới Giao Cù qua chợ
Chùa rồi lên đến thành phố Nam Định, hai bố con ông Tân vào bến xe Nam Định để
mua vé lên xe. Mọi việc đều do ông bố làm, cậu con thì chỉ như cái đuôi bám
theo ở đằng sau, vậy mà vẫn còn sợ bị lạc. Vừa lên xe là cậu đã bắt đầu ngủ, một
giấc ngủ kéo dài đến mấy giờ liền trong lòng ông bố. Ngoài trời se lạnh nên sự ấm
nóng trong xe thật hợp với giấc ngủ của trẻ nhỏ, hơn nữa cái sự rung xóc của xe
lại cứ như là ai đó đang đưa nôi nên bất kỳ ai cũng đều như muốn ngủ chứ không
riêng gì bọn trẻ con như cậu. Khi cậu thức dậy thì xe đã lên đến Hà Nội, ông bố
đánh thức cậu dậy rồi lại kéo cậu đi dọc hai con phố đầy dãy các cửa hàng tạp
hoá. Có rất nhiều các loại đồ chơi mà cậu nhìn thấy, nhưng hình như cậu biết bố
cậu cũng không có tiền để mua nên cậu cũng chỉ nhìn vậy để thèm mà thôi. Sau
khi ông bố mua cho cậu một cái bánh chưng ăn cho đỡ đói rồi hai bố con lại lên
xe để về nhà. Bắt đầu lên xe bố đã dặn người phụ xe là cho ông về đến Bia Đổ.
Bia Đổ thực chất không phải là một địa danh mà đúng theo nghĩa đen của nó là tại
đó có một cái bia đá hình khối vuông rất to nằm đổ kềnh ngay đầu con đường rẽ
liên tỉnh đi qua huyện Từ Sơn để rồi đi sâu hơn nữa vào các thôn xã của tỉnh Bắc
Ninh. Con đường này đã là con đường chính từ nhiều năm trước đó cho mãi đến khi
có con đường quốc lộ số một thì nó mới chịu nhường lại chữ chính để nhận mình
thành con đường phụ, tuy nhiên nếu là đối với người đi bộ thì cái tên chính vẫn
còn nguyên giá trị. Thế là cái bia đổ từ chỉ điểm bằng hình ảnh cụ thể đã thành
tên gọi quen miệng của những anh tài xế và các khách đi đường chờ xe. Quãng đường
từ bến xe về đến Bia Đổ rất ngắn chỉ độ non mười cây số là cùng, tuy nhiên tuyến
xe thì còn rất dài. Từ bến khởi đầu là bến Hàng Vôi ngay đầu cầu Long Biên, xe
sẽ đi lên tận Vĩnh Phúc rồi lên đến cả Lào Cai, Yên Bái và còn có thể xa hơn nữa,
tuy nhiên hai bố con ông Tân lại chỉ đi đến Bia Đổ mà thôi. Ngoài cái bia đổ là
đặc điểm của lối rẽ này người ta còn gọi chỗ ấy bằng một cái tên là Vực Gạo,
cái tên này chủ yếu là gọi tên một cái vực ở ngay bên phải của đường rẽ này.
Cũng không ai biết Vực Gạo có tự bao giờ, mà chỉ biết rằng khi mình đẻ ra thì
nó đã có rồi. Vực Gạo rộng độ gần hai hecta và có bề mặt hơi vuông, cũng không
rõ từ bao giờ người ta truyền tụng rằng Vực Gạo thông đến với sông Đuống và còn
có thể thông đến tận sông Hồng. Vực Gạo sâu lắm, nhiều người có hơi dài đã từng
ra đến chỗ sâu nhất để lặn xuống thì họ bảo rằng họ đã lặn hết cả một hơi vẫn
không đến đáy, chính vì vậy mà người ta đồn rằng vực thông với sông Đuống, Sông
Hồng. Nhưng có lẽ là họ muốn doạ những người yếu bóng vía hoặc họ muốn doạ lũ
trẻ con để chúng khỏi đi nghịch nước để tránh bị chết đuối mà thôi. Từ Vực Gạo
vào đến làng Đồng Dầu chỉ độ tám trăm mét nên hai bố con ông Tân lững thững đi
bộ để về nhà. Ông Tân thong thả đi trước còn Hằng thì phải chạy gằn ở đằng sau,
vì chân cậu ngắn nên khi bố bước một bước thì cậu phải bước đến hai, ba bước mới
theo kịp nên trông cậu giống như đang phải chạy gằn. Cũng vì cậu bị đau mắt nên
khi còn ở trên xe ông Tân đã đưa cho cậu đeo cái kính dâm của ông, lúc ngồi
trên xe thì kính không tuột do cậu ngồi hơi ngửa ra, nhưng đến khi xuống xe đứng
thẳng lên, thành ra cái kính cứ tuột ra, cậu vừa chạy gằn vừa phải giơ tay lên
giữ kính nên cậu đi càng chậm, ông Tân lại cứ vừa đi vừa phải đứng chờ. Quãng đường
gần một cây số cũng đã làm cho cậu mệt xoài, vì lâu nay cậu cũng hay chạy nhảy
nhưng cũng không mấy khi đi cả một quãng đường dài liên tục như vậy bao giờ.
Đi bộ mãi rồi hai bố con ông cũng về đến nhà, người đầu tiên cậu gặp là bà mẹ của
cậu, bà đón cậu bằng cách đứng nhìn chăm chú và chỉ hơi mỉm cười mà không nói
gì. Sau khi đã nhìn kỹ cậu từng tý một bà đến lấy hộ cho cậu cái kính ra khỏi đầu
rồi đem cất lên trên mặt cái hòm thóc. Mãi cho đến lúc này bà mới cất tiếng
nói vừa như phân bua vừa như xác nhận:
- Trông cũng đã cao hơn thì
phải? Có lẽ thế thì số quần áo cũ cũng đã chật rồi!
Ngay lúc đó bà đưa cậu ra
ngoài bể nước mưa rồi lấy khăn ra rửa mặt cho cậu, vừa rửa bà vừa ca cẩm về cái
sự bẩn thỉu và cả cái sự đău mắt của cậu, bà bảo với cậu:
- Chỉ cần dử của một bên mắt
thì hai con lợn xề ăn no, gớm sao mà chị em nhà mày lại chẳng biết chữa chạy gì
xất cả cơ chứ.
6
Bà xuống bếp đơm cho cậu một
bát cơm nguội chan với canh cua mà nhà ăn từ trưa còn lại, cũng chả biết nhà nấu
thế nào mà mới độ hơn tiếng đồng hồ mà đám canh cua nấu với rau lang đã xanh
biêng biếc đến kỳ lạ, trông bát cơm thấy cứ như là cơm bị nhuộm phẩm xanh, tuy
thế nhưng khi ăn vào lại thấy rất ngon, nhất là trong lúc này cậu đang rất đói,
cậu ăn thêm gần hai nưng nữa rồi mới thôi.
Sau khi cơm nước xong cậu mới để ý thấy nhà mình vắng vẻ quá, quanh đi cũng chỉ
có bố, quanh lại cũng chỉ có mẹ với hai cô em bé tý, xung quanh làng nước đều ở
xa cả.Từ ngày chia quả thực bố không chịu nhận ngôi nhà của ông lý Long vì bố
không muốn lấy không của người khác bất cứ một cái gì, rồi đội cải cách cứ nhất
thiết yêu cầu cả nhà ra khỏi cái điếm để đội lấy làm trụ sở thì nhà đã dọn ra
chùa thay chân cho nhà cụ Vá đã bỏ về quê. Ngôi chùa của làng Đồng Dầu khá rộng
và có cách bố trí khá đẹp cả về kiến trúc nhà lẫn khuôn viên bên ngoài, chùa được
thiết kế có kết cấu theo hình chữ đinh quay về hướng tây, phía trước chùa là một
khoảnh sân gạch rộng gần một sào, tiếp theo là một dẻo vườn chạy dọc theo sân
chùa, đây là khoảng chuyển tiếp để đến một cái ao rộng gần hai sào bắc bộ, ngăn
cách giữa ao và vườn là một bờ tre khá dày ngả ngọn xuống ao trông thật hữu
tình. Hai bên chùa là khu ruộng đến hơn năm sào Bắc Bộ, đây là ruộng riêng của
chùa, vẫn gọi là ruộng nội tự. Phía sau chùa cũng là một khoảnh vườn rộng cũng
phải đến hơn mười thước Bắc Bộ trồng cây ăn quả. Toàn bộ khuôn viên trên được
bao phủ bằng một luỹ tre dằy dặn mà bên ngoài muốn vào cũng không vào được.
Chùa chính có năm gian, gian đầu tiên bên trái là nơi thờ Đức Ông, tượng của
ngài to gần bằng người thật ngồi ngay ngắn trên ngai, mình ngài mặc áo thụng có
nhiều hoạ tiết hoa lá, đầu đội mũ cánh chuồn màu đen, chân đi hài thêu hoa rực
rỡ. Khuôn mặt của ngài mang sắc đỏ thẫm rất đặc trưng. Toàn bộ khuôn hình của
ngài toát ra sự oai phong và trang nghiêm đến dễ sợ. Gian tiếp theo là nơi đặt
bệ thờ tượng vị hộ pháp cao lớn ngồi trên mình sư tử, đầu chạm mái chùa. Ngài
có khuôn mặt trắng và rất hiền, khuôn mặt của ngài có các nét của người phụ nữ.
Một tay ngài giơ lên ngang đầu và hướng ra phía trước như muốn phô ra một vật
gì đó, theo mọi người nói thì hình như đó là một viên ngọc thì phải. Gian đầu
tiên bên phải là tượng một vị thánh có khuôn mặt màu chì hơi xanh bên dưới
khuôn miệng là một bộ râu quai nón. Tiếp theo về bên trái là tượng Đức Thánh Hiền,
ngài cũng có khuôn hình to gần bằng người thật, ngài có khuôn mặt mang sắc trắng,
mình mặc áo thụng vàng ống rộng, trên đầu đội mũ tỳ lư có đến tám tấm thẻ hình
hoa ghép lại, mỗi tấm trông giống như là một cánh hoa sen, trên đó vẽ nhiều các
vân hoa và đường viền rất đẹp. Toàn bộ khuôn hình của ngài toát ra một nét hiền
lành chân thật giống như một người mẹ. Gian kế bên là nơi đặt tượng vị hộ pháp
có khuôn mặt đỏ hồng râu và lông mày khá rậm cũng cao lớn chạm nóc chùa, cũng
ngồi trên mình sư tử, tay ôm một thanh long đao to lớn đang giơ lên như sắp
giáng xuống mình những kẻ nào dám xâm phạm đến mọi thứ trong chùa. Gian giữa được
nới rộng gấp đôi so với các gian khác và được phát triển về phía sau thành cái
chuôi vồ để làm tam bảo. Tam bảo được chia thành ba khuôn chạy dọc về phía sau,
hai bên hẹp độ non một thước đặt tổ hợp tượng nói về tích Quan Âm Thị Kính ở về
bên trái, còn bên phải cũng là một tổ hợp tượng trong đó có một pho mang dáng
hình của nữ nhân. Khoảng giữa được xây giật bậc từ thấp đến cao, bề mặt của mỗi
bậc rộng hẹp tuỳ theo diện tích đáy của các tượng đặt trên đó. Bậc đầu tiên cao
hơn mặt nền gần một mét, trên đó có giàn Cửu Long gồm tượng của đức phật Thích
Ca Mầu Ni để trần mặc xà rông đứng chân trước, chân sau có vẻ như hơi kiễng
chân, người hơi khom về phía trước, tay bắt quyết giơ lên cao. Cả bức tượng nhỏ
như một quả bí xanh con được chế bằng đồng đen nên mỗi khi đánh sáng ra mầu đỏ
rồi lại tự đen ngay sau đó vài phút. Giàn Cửu Long uốn theo hình cầu vồng, bên
trên đó có đến hơn một chục tượng La Hán, có lẽ cũng làm bằng đồng đen. Bậc tiếp
theo là tượng các vị Phán Quan, trên nữa là Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn
tay, hai bên là Thiện Tài Đồng Tử. Trên nữa là Phật Tổ Như Lai, hai bên Phật Tổ
là Anan và Cadiếp. Trên cùng là toà Tam Thế cùng với các bức tượng, tượng trưng
ba kiếp là quá khứ, hiện tại và vị lai. Đa số các chùa đều có cấu trúc nhà cửa
cùng với các tượng na ná giống nhau. Nhưng có lẽ là tượng chùa Đồng Dầu có nhiều
nét thanh tú rất gần với đời thường nên nhìn rất đẹp. Sát góc ngoài hồi phải có
một quả chuông lớn đúc rất đẹp treo trên quá giang. Trên thành chuông có rất
nhiều văn bản bằng chữ nho khắc chìm trên bốn mặt. Các vú chuông có hình viền bằng
các hạt tròn luôn sáng loáng do thường xuyên dùng vồ để gõ vào. Bên dưới quả
chuông là một cỗ ngựa bạch được đặt trên một giá có bánh xe để tiện cho di chuyển.
Đằng sau chùa là ngôi nhà tổ năm gian lợp ngói mũi, đây cũng là một ngôi nhà
khá lớn so với rất nhiều ngôi nhà dân có ở trong vùng. Gian giữa là nơi đặt điện
thờ thánh mẫu, trên ban có ba pho tượng mẫu cỡ lớn được che phủ bằng những
vuông khăn nhiễu đỏ, ngoài ra còn có rất nhiều các đồ thờ cúng khác. Bên dưới
ban thờ mẫu là nơi thờ công đồng tứ phủ cùng với tranh ngũ hổ sơn son thếp vàng
trên gỗ. Trên quá giang của gian giữa là đôi thanh xà, bạch xà cuốn quanh mình
gỗ. Gian cạnh về bên phải là nơi đặt các bát hương của con hương đệ tử gửi bán
và thờ cúng tại chùa. Gian cạnh bên trái là nơi thờ tổ, trên ban có tượng của vị
tổ trụ trì đầu tiên ở chùa. Hai đầu hồi nhà là hai gian buồng, buồng bên trái
là nơi chứa các loại xoong nồi, bát đũa, phục vụ cho những khi mở cỗ bàn, tiệc
tùng trong các kỳ đại lễ. Còn gian buồng bên phải được lấy làm nơi ở cho cả gia
đình, đó là cái tổ ấm của bố mẹ và cả ba anh em của Hằng. Giáp với hồi
bên phải là ngôi nhà ngang bốn gian bằng gỗ lợp ngói nối với nhà tổ thành hình
thước thợ, nơi này dùng làm nơi sắp cỗ cho khách thập phương hoặc con hương, đệ
tử ở xa về. Đầu hồi bên trái có một cái bể nước mưa chứa được gần
mười khối nước dùng làm nước ăn quanh năm. Lùi xuống thêm một chút nữa là một
cái bếp tường đất lợp rạ. Ngoài hai gian dành cho nấu nướng, bếp còn để ra một
gian làm chuồng trâu và chuồng lợn.
Với toàn bộ các kết cấu nói trên làm cho ta cứ liên tưởng đến một khu trang trại,
tuy nhiên đây lại chỉ là nơi cư trú tạm thời của gia đình Hằng. Tóm lại là gia
đình cậu vẫn là gia đình không có nhà, vẫn phải làm người đi ở nhờ, vô gia cư,
cho dù nơi ở hiện nay là một nơi ở rất tốt đẹp và lý tưởng. Đến một ngày nào đó
gia đình cậu sẽ lại phải ra đường khi mà những người trong làng không còn muốn
để cho họ ở đây nữa.Việc từ chối tất cả những quả thực của đội cải cách chia
cho có phải là quyết định đúng đắn của ông Tân hay không sẽ còn cần phải xem lại
về sau này, nhất là quyết định này đã đi ngược lại với tất cả mọi người lúc bấy
giờ.
7
Vào ngày mồng năm tháng
chín dương lịch năm ấy là ngày khai trường cho tất cả các cấp học ở trên khắp
miền Bắc Việt Nam. Ngày khai trường giống như một ngày hội cho tất cả mọi người.
Không riêng gì các em lớn tuổi, các em nhỏ cũng được các bậc cha mẹ đưa đến trường.
Hằng cũng như những đứa trẻ khác được bố đưa đến trường đi học. Ông Tân cũng
không biết con mình học ở mức nào nên ông đưa cậu đến học lớp vỡ lòng của ông
giáo Nguyễn Văn Thiện. Nơi lớp học ông Thiện dạy lại ở ngay ngôi điếm giữa
làng, nơi mà gia đình cậu đã bị đội cải cách đuổi ra hồi cải cách ruộng đất.
Ngay trong ngày đầu tiên cậu đã bị thầy Thiện gọi lên sát hạch. Nói là sát hạch
cho đúng từ ngữ hồi đó thôi chứ thực ra chỉ là cuộc thăm dò sức học của học
sinh mà thôi. Bài giảng của thầy Thiện hôm đó nhằm giúp cho học sinh biết cách
phân chia vần, cách ghép vần và cách đánh vần. Bài có vần ia và vần ua, cả bài
gồm mấy từ (IA- Chia rẽ mỉa mai - UA) .Tất nhiên là cậu có thể đọc ngay cả
câu một cách ngon lành mà không phải đánh vần như thầy yêu cầu. Thấy cậu học
trò có vẻ khá, thầy Thiện lại muốn khai thác thêm bằng cách yêu cầu cậu giải
nghĩa xem từ đó nói lên cái gì. Đến lúc này thì cậu có vẻ bí, vì cả câu
chả nói lên điều gì cả. Cậu đứng hơi lâu mà vẫn chưa nghĩ ra được cái gì, thế rồi
cậu cũng nói bừa đi cho xong:
- Thưa thầy đây nói về
không đoàn kết ạ!
Thầy ồ lên phấn khởi rồi giải thích thêm cho học sinh nghe. Thầy nói về ý nghĩa
của việc đoàn kết, thầy nói cả việc toàn dân đoàn kết đánh giặc Pháp thắng lợi
bằng các câu chuyện rất là hay, đến nỗi tất cả học sinh đang mất trật tự là thế
mà cũng im phăng phắc để nghe. Vậy mà không ai ngờ được thầy lại là một nhân
viên phòng nhì trong bộ máy của chính quyền thực dân Pháp. Điều này cho mãi đến
năm 1962, nghĩa là sau đó gần sáu năm thì chính phủ mới cho người đánh xe ô tô
về tận sân đình làng đọc lệnh bắt đưa đi làm mọi người không gì còn ngạc nhiên
hơn thế.
Trong thời gian học thầy Thiện, cậu chả phải lo gì đến việc học vì tất cả
chương trình học chỉ nhằm cho học sinh đọc thông, viết thạo, thì cái việc đó cậu
đã qua từ lâu rồi. Lẽ dĩ nhiên là cậu được thầy hết sức yêu quý vì dẫu sao cậu
cũng là con mồi để thầy sử dụng khi cả lớp gặp bế tắc. Nhiều khi lớp gặp những
bài khó đọc, thầy đã gọi đến ba bốn em mà vẫn chưa có em nào đọc tốt thì đến
lúc đó cậu sẽ được gọi lên đọc làm mẫu để cho không khí lớp học đỡ căng thẳng đồng
thời cũng kích thích các học sinh khác sẽ cố gắng chăm học hơn. Sau một năm học
cậu cũng đã lên lớp một với sự đánh giá tốt của thầy giáo Thiện.
Lên lớp một Hằng vẫn học ở lớp cũ nhưng là học buổi chiều, thầy giáo mới của lớp
một là thầy Nguyễn Huy Chuyên, thầy là người ở ngay Tiền Thôn, nhà thầy cách lớp
học có độ một cây số, hàng ngày thầy đi bộ tắt qua cánh đồng để xuống lớp học.
Thầy Chuyên rất dữ đòn, thầy dữ đòn không khác cụ trưởng bạ ngày xưa là mấy.
Cũng đã có nhiều bậc phụ huynh phản ảnh với nhà trường về việc này nhưng hầu
như thầy cũng không chịu thay đổi. Hàng ngày thầy không dùng roi mây
nhưng lại dùng một cái thước gỗ bằng lim khá dài vừa để làm cây chỉ vào các chữ
cho học sinh đọc bài, vừa để gõ xuống bàn làm hiệu lệnh yêu cầu học sinh trật tự,
đến khi phạt học sinh thì cây thước trở thành một cái roi rất lợi hại.
Thầy Chuyên cũng khá thân với cha mẹ cậu nên ông cũng không mấy khi động đến cậuT,
nhưng cái chính là cậu cũng ít khi mắc lỗi, bài học thì không còn phải nói gì
hơn vì mọi nội dung trên lớp cậu đều hoàn tất và vẫn giữ được phong độ như khi
còn học ở lớp vỡ lòng. Thời gian học ở lớp một cũng qua đi nhanh chóng và sang
đến năm 1958 thì cậu đã lên học lớp hai. Mỗi ngày đi dạy học thầy Chuyên
thường đi sớm hơn bình thường để vào nói chuyện với ông Tân trước khi đến lớp.
Câu chuyện của hai người mỗi ngày cũng chỉ xoay quanh về thơ phú chữ Hán và vài
ba câu chuyện về làng xóm cùng một vài quan niệm về văn phong, lễ giáo v v...
Hình như hai ông có hẹn nhau từ trước nên khi thầy Chuyên xuống đến nơi thì ông
Tân đã đun sẵn nước và pha xong ấm trà hiệu Chính Thái ướp hoa sói, đến khi uống
tàn ấm trà thì cũng vừa lúc thầy đi đến lớp giảng bài. Cũng có nhiều hôm do mải
đàm đạo mà thầy cũng đến hơi muộn, nhiều bạn xôn xao định bỏ về nhưng Hằng đã
tiết lộ là thầy đã đến rồi nên các bạn ở lại chờ. Sang đầu năm học lớp hai cậu
học kém hẳn đi vì hồi này cha cậu ốm khá nặng, nhiều hôm cậu phải nghỉ học để ở
nhà để giúp bố một số việc sinh hoạt hàng ngày. Thầy Chuyên hồi này cũng ít qua
lại uống trà vì thầy cũng bận nhiều việc, nhất là từ khi thầy lấy người vợ thứ
hai này về lo quán xuyến việc nhà thay cho bà cả mất đã lâu.
8
Việc học tập của Hằng đang
có những tiến bộ thì lại không thể tiếp tục vì ông Tân ốm ngày càng nặng thêm
lên, thế là Hằng phải nghỉ học để ở nhà trông nom bố cho mẹ ra đồng. Đến gần tết
âm lịch năm 1960 thì ông cụ yếu đi nhiều, nhưng sau một thời gian chạy chữa thuốc
men cùng nơi, khắp chốn ông cụ có khoẻ trở lại nhưng lại bị mất tiếng. Hàng
ngày ông lại mở giấy bút ra để làm giấy sớ cho các con hương, đệ tử chuẩn bị
cho kỳ khai xuân vào ngày mồng chín tháng giêng năm mới. Rất nhiều công việc cần
sai phái nhưng cô con gái bé quá lại mải chơi nên ông Tân không gọi được chính
vì vậy nên rất cần có người ở liền ngay bên cạnh để có thể ghé tai sát gần miệng
nghe ông sai bảo.Thế là cậu lại phải bỏ học lần thứ ba trong quãng đời học sinh
ngắn ngủi của mình để ở nhà giúp bố, có lẽ số phận đã xui khiến như vậy.
Tết canh tý năm 1960 chầm
chậm qua đi trong không khí nặng nề và buồn. Ngay từ những ngày trước tết cậu
đã không được đi chơi đâu xa vì còn phải ở nhà giúp bố các công việc dọn dẹp,
bài trí tất cả các nơi thờ cúng trong chùa. Từ việc quét dọn toàn bộ khuôn viên
cả chùa đến việc lau chùi các ban bệ, bao sái các pho tượng và các đồ thờ cả từ
trên tam bảo đến phủ mẫu cũng hết mấy ngày. Thế rồi thay chân hương, thay nước,
thay hoa ở khắp mọi nơi, mọi chỗ cũng mất khá là thời gian.Từ chiều ba mươi đến
hết ngày mồng ba tết, tất cả những người đi lễ chùa đều đến nhận sớ rồi tự mang
lên tam bảo dâng lễ rồi lại tự mang sớ ra sân chùa để hoá.
Ngày mồng chín tháng giêng đến rồi mà ông Tân vẫn bị mất tiếng chắc chắn là ông
không có thể hoàn thành khoá lễ đầu năm được, trong lúc không thể tìm đâu ra
người thay thế ông đành cố vận động con mạnh dạn đứng ra làm lễ thay mình.
Trong mấy năm qua cậu có đọc thông viết thạo nhưng chỉ là đối với loại chữ quốc
ngữ thôi chứ còn với loại chữ nho thì cậu chả biết một tý gì. Ông Tân liền đưa
cho cậu một quyển kinh bằng chữ quốc ngữ và bảo cậu đọc thử, cậu đọc rất nhanh
nhưng nó dõng dạc quá và chẳng ra thế nào cả. Ông Tân vẫn bắt cậu tập đi tập lại
đến mấy lần, mỗi lần ông bắt cậu đọc lại nét mặt ông nghiêm đến lạnh lùng làm
cho Hằng cũng hoảng. Cậu nghĩ có lẽ lần này nếu cậu không làm được chắc ông cụ
sẽ cho mấy gậy chứ chẳng chơi, mặc dù từ khi bé đến lúc đó cậu chưa hề bị ông
đánh lần nào. Cũng có lẽ chưa bao giờ bị đánh đòn nên cậu rất giát đòn, mặc dù
cái sự miễn cưỡng đến khổ sở cậu vẫn đành phải có tập, cuối cùng thì cậu cũng
đã đọc tương đối giống ông bố của cậu.
Thế rồi ngày mở khoá lễ
khai xuân cũng đã đến, cả hai bố con ông Tân cùng ngồi trên sàn lễ, ông Tân thì
gõ mõ còn Hằng thì đọc kinh thay cho ông trong một quyển sách in bằng chữ quốc
ngữ. Nhiều người khi nghe cậu đọc kinh thì cứ tấm tắc khen có giọng đọc nghe thật
êm dịu, duy chỉ mỗi việc là cậu không đọc được các bản sớ bằng chữ nho nên các
con hương đệ tử chưa được vừa ý lắm. Lần đầu tiên ngồi trên sàn lễ lại
ngay trước mặt rất nhiều các cụ cao tuổi cậu run lắm, nhiều lúc tưởng như bị hụt
hơi không đọc được nữa. Do cậu cũng chưa quen với việc kéo dài giọng ở những từ
cuối và các đoạn nghỉ lấy hơi không được đúng chỗ thành ra nhiều cụm từ cũng bị
cắt rời ra không còn liền mạch. Cũng may những câu kinh viết theo từ Hán nên
khi đọc lên người nghe chỉ thấy âm thanh đều đều như nhau, còn về ý nghĩa thì cả
người đọc lẫn người nghe cũng chẳng hiểu gì, có lẽ vì thế nên chả có cụ nào có
phản ứng cả. Sau khi đọc tên các lá sớ của từng gia đình xong thì cậu được rút
lui khỏi sàn lễ, thật là một phen hú vía. Những ngày sau đó ông Tân vẫn tiếp tục
bắt cậu lên làm lễ vào các buổi chiều. Mỗi buổi cậu lại phải đọc một bản
kinh vẫn bằng cái giọng kéo dài nghe chẳng rõ tiếng nào vào với tiếng nào. Những
hôm ông Tân mệt mỏi không giám sát là Hằng chỉ thắp hương nhanh nhanh,
chóng chóng cho xong rồi lẩn ra phía cổng để vào trong làng chơi với lũ bạn
cùng tuổi.
Từ sau những ngày tết sức
khoẻ ông Tân ngày càng giảm sút, sự đi lại cũng chỉ loanh quanh trong nhà mà
không ra khỏi cổng chùa. Nhiều việc sinh hoạt cá nhân đã thấy cần phải có người
giúp đỡ mới hoàn thành, thế là cậu lại phải nghỉ học ở nhà giúp bố. Ban đầu tưởng
cũng chỉ mươi ngày là cụ Tân sẽ khỏi không ai ngờ được cũng từ ngày đó cụ cứ
suy yếu dần cho đến khi cụ mất.
Phải nghỉ học để ở nhà
trông bố ốm là việc rất cần phải làm, không những thế còn cần phải tự nguyện một
cách hết mình mới thể hiện là một người con có hiếu, giống như lời răn dạy của
các thầy giáo thường ngày trên lớp. Cho dù là vậy nhưng đó là đối với những người
đã lớn, còn đối với các cô cậu nhóc con thì dù có nói thế nào thì cái sự ham
chơi, ham tụ tập cùng với chúng bạn vẫn luôn lôi kéo và cuốn hút không gì cưỡng
lại được. Ngoài cái sự chơi bời còn cái sự học của cậu cũng đang có nhiều điều
tốt đẹp, trong khi cậu rất vui vì được thầy yêu, bạn mến vì cậu học khá mà lại
hay giúp đỡ bạn bè nên cái việc phải bỏ học làm cho cậu buồn hơn cả việc không
được đi chơi. Thế là lại một lần nữa Hằng lại phải bỏ học khi chưa qua hết học
kỳ một của lớp hai trường phổ thông.
Sau ngày bố mất, nhà còn
không biết bao nhiêu là chuyện sảy ra đang cần phải giải quyết. Nào là chuyện nợ
nần chồng chất của mẹ trong khi vay mượn để thuốc men cho bố trong suốt hai năm
vừa qua. Mãi sau này mẹ kể lại cậu mới biết số nợ lúc đó phải trả trong suốt bẩy
năm mới hết, cậu không ngờ số nợ lại lớn đến như vậy. Sau việc nợ lại đến việc
làng muốn nhà cậu phải rời đi để làng đón sư về trông coi chùa cho làng, chả là
vì việc cúng lễ mẹ cậu không làm bao giờ còn cậu thì bé quá, cậu không thể đảm
đương được. Thật là những việc tày trời cả, những việc không thể đừng được nữa,
những việc dường như quá lớn đối với một gia đình của một người đàn bà goá cùng
với những đứa trẻ hết sức ngây thơ. Có lẽ những con người nhỏ bé kia sẽ không
vượt qua được mất nếu như họ không gặp được những điều may mắn mà số phận đã
giành cho.
Ngày làng đón nhà sư nữ Đàm
Thuỷ về chùa thì mẹ con Hằng vẫn chưa tìm được nơi cư trú. Sau mấy ngày đi vắng
vào mãi tận Quan Đình, Quan Độ để thăm hỏi, tìm kiếm vẫn chưa có kết quả, bà mẹ
Hằng đành quay trở nhà để tìm cách khác. Khi về đến nhà thì bà mới biết
nhà sư mới làng đón đã về chùa rồi. Sau một hồi gặp gỡ, bà cũng nói qua cho nhà
sư biết về hoàn cảnh của mình, rồi bà hứa sẽ cố gắng chuyển đi trong thời gian
ngắn nhất. Có lẽ lúc ấy bà cũng cứ nói phóng vậy thôi chứ kỳ thực bà cũng chưa
biết tính thế nào. Mãi đến chiều hôm đó thì nhà sư mới gọi bà ra để nói về quyết
định của sư về việc đồng ý cho gia đình bà cùng ở lại chùa cho đỡ vắng vẻ. Chỉ
có điều là số ruộng trong khu nội tự được tính vào số ruộng mà đội cải cách
chia cho thì gia đình phải nhượng lại một phần cho sư canh tác để lấy lương thực
và giành một phần cho sắm sửa hương đèn. Đang lúc khó khăn về nơi ở mà lại có
được điều này thì đó là sự đáng mừng không còn gì hơn được. Sau chuyện nhà ở là
đến chuyện nợ nần, chuyện này còn nan giải hơn nữa vì nhà cậu đã ở vào trạng
thái nghèo túng đến mức chẳng có gì có thể bán được lấy dăm chục bạc. Không biết
sẽ giải quyết việc này ra sao nếu như bà Thơ Bẩy có ý đòi các khoản nợ mà mẹ cậu
vay mượn trong suốt thời gian vừa qua.
Nói về bà Thơ Bẩy trước hết
phải kể về mối quan hệ của bố Hằng với ông Thơ Bẩy cách đó mười mấy năm về trước.
Ngày ấy Hà Nội và một phần của tỉnh Bắc Ninh vẫn nằm trong vùng tạm chiếm của
quân Pháp, chính quyền của làng xã vẫn theo cách sắp đặt của chính quyền phong
kiến, nghĩa là việc quản lý làng xã vẫn do lý trưởng cùng với các ông chánh phó
hội cùng với các chức dịch đảm trách. Bên cạnh đó là các bộ phận chuyên môn như
trưởng bạ, thơ ký làm các công việc về giấy tờ văn tự, khế ước vv… Các công việc
giấy tờ này ông Thơ Bẩy vẫn thường nhờ ông Tân phụ giúp mỗi khi cần phải trình
lên bề trên vào các dịp cuối năm hoặc cuối các kỳ phu phen thuế khoá. Ngoài các
công việc về tính toán, ghi chép sổ sách, ông Tân lại khá thông thuộc các thuật
dự đoán về vận mệnh thông qua tứ trụ và bốc quẻ dịch nên khi xong công việc hai
ông thường ngồi bàn nhau về lẽ thuận nghịch của trời đất, số mệnh của xã hội
cũng như của bản thân mỗi người. Trước đó ông Tân đã dự đoán về đứa con sắp
sửa chào đời của ông là trai, đến khi bà vợ của ông đã sinh ra một cậu con trai
vừa trắng trẻo vừa bụ bẫm thì ông càng tin tưởng. Cũng từ đấy mối quan hệ của
hai ông càng thân mật hơn và lẽ đương nhiên là có sự quan hệ gần gũi hơn của
hai bà vợ, sau khi ông Thơ Bẩy mất đi, mối quan hệ có thưa đi một chút nhưng
cũng không phải là hoàn toàn mất hẳn.
Trong những năm giảm tô, cải
cách nhà bà Mỹ, vợ ông Thơ Bẩy bị đội cải cách quy thành địa chủ. cũng từ đó
gia đình bà luôn bị giám sát và bị cách ly ra khỏi cộng đồng, mọi người trong
gia đình bà luôn sống cô đơn trong sự ghẻ lạnh của tất cả mọi người trong họ,
ngoài làng. Kể ra mà nói thì chưa hẳn mọi người đã muốn xa lánh gia đình nhà
bà, mà chủ yếu là sợ đội ghép cho tội thông đồng với địa chủ để rồi chuyển
thành tội phạm phản dân, hại nước nên chẳng dám gần. Biết đâu họ chả lại vu cho
là địch để rồi đem đi bắn thì khốn. Cả làng lúc ấy chỉ còn ông bà Tân là dám đi
lại với bà Mỹ bởi vì ông bà Tân là những người quá bần cùng trong suốt cả một
thời gian dài, cái sự bần cùng đã có lúc làm cho ông bà Tân không còn cảm nhận
ra sống tốt hơn hay là chết tốt hơn nữa, cũng chính vì vậy mà ông bà
không còn biết sợ đội là gì nữa, nhất là sau khi đội không cho ông Tân vào Nông
hội, khi ông không nghe theo lời đội tố ông Tổng Tường là một địa chủ ở ngay gần
nhà ông.
Chính từ mối giao cảm ấy mà
sau này bà Mỹ đã đối tốt trở lại với bà Sâm và giúp bà một cách vô tư đến thế.
Ngoài bà Mỹ ra bà Sâm còn nhờ cậy được rất nhiều người khác trong làng nữa nên
số nợ bà vay khi ông Tân ốm đã được hoãn, trả, vay rồi lại hoãn, trả, vay cho đến
khi trả hết kéo dài đến gần bẩy năm liền mà chẳng ai có điều tiếng gì.
9
Mặc dù nhà chùa đã có lời
như vậy nhưng hai mẹ con cậu vẫn muốn tìm cách để sớm có điều kiện mua được
ngôi nhà cho mình, trả lại gian buồng bấy lâu nhà chùa vẫn cho ở nhờ. Trong một
lần toàn xã có chủ trương cấp đất ở cho một số hộ đông con, Hằng đã cùng với mẹ
lên gặp ban lãnh đạo của thôn để xin đất làm nhà. Kỳ họp năm ấy ban lãnh đạo của
xã kết hợp với thôn đã chia đất cho rất nhiều người, mẹ con bà Sâm cũng được
chia mười thước đất để làm nhà ở. Có đất cũng đã là rất đáng mừng, nhưng mà còn
lấy cái gì để mà dựng thành nhà mới là khó.
Trong những năm đầu ra ở
chùa ông Tân đã cùng các con trồng một lứa xoan có dễ đến hai chục cây nhằm để
sau này đốn xuống đem ngâm để làm nhà. Đến khi có đất bà Sâm định cho đốn xuống
đem ngâm thì ban lãnh đạo của làng ra giữ lại. Sau khi nghe mẹ con bà Sâm trình
bày về dự định trồng xoan và cố chứng minh về việc trồng xoan là do gia đình của
bà thực hiện cùng những chứng thực của nhiều người nhưng những người lãnh đạo vẫn
kiên quyết không chấp thuận. Họ ngang nhiên thừa nhận rằng họ có biết số xoan
này là của ông bà trồng nhưng là trồng trên đất của làng nên bà không được lấy.
Trước những phán quyết hết sức cứng rắn của các ngài chức sắc thời mới của
làng, mẹ con bà Sâm đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế là kế hoạch làm nhà của gia
đình Hằng đã hoàn toàn phá sản. Cái sự vui mừng bao nhiêu khi được cấp đất đã
được thay bằng nỗi tuyệt vọng bấy nhiêu khi triển khai kế hoạch làm nhà.
Tuy rằng không làm được nhà
nhưng việc phải rời chùa luôn canh cánh trong lòng Hằng. Nhiều lần Hằng cằn nhằn
với mẹ khi thấy bà cụ hình như không đả động gì đến việc rời chùa. Ngày ấy có một
đôi vợ chồng người con cả của ông lý Xương tên là Long vừa mới xây lại nhà
nhưng chưa ở được bao lâu thì anh Long lăn ra chết. Người vợ bồng bế hai con về
quê mẹ đẻ bỏ lại cho người em chồng ngôi nhà vừa mới xây xong còn chưa sạch mùi
vôi. Người em ấy không ai khác lại chính là anh Phượng, người mà một thời bà
Sâm đã từng làm vú nuôi trông nom anh khi bà đến làm vú cho nhà ông lý Xương.
Tuy làm vú nuôi nhưng bà Sâm coi anh Phượng như con của mình nên ngay cả khi
anh Phượng đã lớn tuổi rồi anh vẫn luôn quý mến bà cụ như người ruột thịt, đến
khi bà Sâm ngỏ ý đến ở nhờ là anh đồng ý ngay. Ngày hôm sau anh Phượng dọn sang
nhà của người anh để ở, gian nhà cũ của anh cũng kề bên cạnh anh nhường lại để
bà Sâm dọn vào. Cũng từ ngày ấy gia đình Hằng không còn ở chùa nữa, tuy nhiên
gia đình Hằng vẫn là người chưa có nhà, một gia đình có hoàn cảnh đặc biệt ở
nông thôn lúc bấy giờ...
ĐI
HỌC
1
Sau ngày ông Tân mất một thời
gian thì cũng đã gần hết năm học đối với các trường phổ thông, thế là Hằng đành
phải bỏ dở hơn nửa năm học, chả biết rồi khi sang năm mới cậu sẽ đi học như thế
nào. Ngày ấy anh cả vừa mới từ bộ đội chuyển ngành về Công ty xây dựng của Bộ nội
thương, đơn vị của anh đóng ở khu Sở Dầu thành phố Hải Phòng khu này rất gần
khu ga Thượng Lý. Công việc hàng ngày của anh là cùng với các công nhân khác
vào sở dầu để xây lắp các bồn dầu bằng thép.
Suốt trong mấy ngày về nhà
lo việc tang lễ xong anh cả lại về đơn vị công tác. Gần hai tuần sau đó anh mới
lại lên bàn với mẹ kế về việc đưa cậu em xuống ở với anh một thời gian. Việc
cho cậu xuống với anh có nhẽ là để cho cậu đỡ buồn và cũng để hai anh em có dịp
gần gũi nhauS, để rồi cùng bàn kế hoạch ổn định đời sống gia đình trong thời
gian tới. Thế rồi Hằng đi cùng với anh cả xuống Hải Phòng gần ba tháng trời
rong chơi khắp nơi trên thành phố cảng. Khi Hằng rời Hải Phòng về đến nhà cũng
vừa dịp bước vào năm học mới nhưng cậu không thể đi học cùng các bạn cùng lớp
cũ vì cậu đã bỏ học thời gian quá dài, chắc gì cậu đã theo được, nhưng điều
quan trọng hơn cả là không ai có quyền cho cậu học tắt. Thấy cậu con trai hình
như có ý không chịu đi học nữa bà Sâm đành vào gặp thầy giáo Chuyên để nhờ thầy
động viên cậu đi học tiếp. Thầy Chuyên vốn có mối quan hệ tốt với gia đình cậu
từ trước nên ông đã ra tận nhà động viên cậu tiếp tục đi học. Ông hứa sẽ nói với
nhà trường về hoàn cảnh cùng với học lực của cậu để nhà trường xem xét chấp
nhận cho cậu cùng lên học ở lớp ba như các bạn khác. Ông nói lớp ba của cậu sẽ
học là do ông Bàng trực tiếp dạy, ông Bàng lại là ông chú của thầy nên thầy sẽ
nói để ông nhận cậu vào. Sáng hôm sau cậu cũng chuẩn bị sách vở đến lớp như các
bạn khác nhưng trong bụng thì luôn lo lắng không biết đến lúc vào lớp thì sự việc
sẽ diễn ra làm sao.
Lớp ba mà Hằng sẽ theo học
được bố trí tại góc bên trái của đình làng Tiền Thôn như lời của thầy Chuyên
nói nhưng không phải do thầy Bàng dạy mà lại do một thầy giáo mới chuyển từ nơi
khác về từ mấy ngày trước đó. Tất cả các bạn đã tập trung đến lớp sớm hơn mọi
khi, trong đó có cả Hằng. Mọi người lại tổ chức các trò chơi như mọi ngày kể cả
khi ở làng cũng như khi đến lớp của năm học trước, chỉ có mình Hằng thì rất lo,
nhất là khi thấy thầy giáo dạy lớp này không phải là thầy Bàng. Cậu cứ nghĩ
không biết thầy Chuyên có biết điều này không, ngộ nhỡ thầy giáo mới hỏi đến
thì mình sẽ nói ra sao nhỉ. Càng nghĩ cậu càng lo lắng, lo lắng đến nỗi bồn chồn
đứng ngồi không yên, lo lắng đến ngao ngán cả người. Có lẽ linh tính của cậu đã
đúng về sự việc mà cậu vừa nghĩ tới và rồi sự việc ấy đã sảy ra. Sau khi thầy
giáo vẫy tay gọi các học sinh về để tập trung, thầy đọc lần lượt danh sách học
sinh của lớp, thầy đọc qua gần hết số học sinh có tên với các chữ cái ở vần Đ rồi
sang các vần khác, Hằng nghĩ có lẽ sắp tới sẽ có tên mình. Thế rồi thầy chuyển
qua hết vần có tên của Hằng mà cũng không thấy, Hằng lại nghĩ có lẽ việc mình
nghĩ đến vừa rồi chả lẽ lại đúng như thế chăng, hay là tên mình sẽ ở cuối cùng
vì đây là trường hợp đặc biệt được bổ sung vào sau. Hằng đang nghĩ ngợi lan man
thì thầy Hiệu đã đọc đến tên học sinh cuối cùng của lớp. Khi thầy rời mắt khỏi
quyển sổ điểm ngước lên thì thầy nhận ra vẫn còn một học sinh nữa chưa vào chỗ
ngồi, thầy hơi bối rối, có lẽ thầy cho là mình đọc sót tên một ai đó, thầy
xin lỗi sau đó thầy hỏi:
- Em tên là gì?
Hằng lý nhí trong miệng nói
tên của mình raH, thầy lại cúi mặt vào sổ điểm để tìm tên của cậu, thầy tìm đi,
tìm lại nhưng vẫn không thấy, trông rõ là thầy rất băn khoăn chưa biết là sẽ sử
lý trường hợp này ra sao. Kể từ khi Hằng biết mình không có tên trong sổ điểm Hằng
đã nghĩ đến việc thầy Chuyên có khi đã quên không nói việc này với thầy Bàng,
hoặc giả thầy Bàng chuyển giao lớp cho thầy Hiệu lại quên không nói về trường hợp
của mình nên đến bây giờ sự thể đã sảy ra như vậy, tuy nhiên lúc ấy Hằng đâu có
nghĩ được mạch lạc như thế. Phần thì lo lắng, phần thì xấu hổ với bạn bè, mặt
thì đỏ gay, đỏ gắt, tay chân thì luống cuống không biết để vào đâu, cậu gần như
phát khóc lên được khi chỉ còn có một mình đứng ở ngoài hàng. Có lẽ phải đến
ba, bốn phút sau cậu mới trấn tĩnh lại được, lúc này cậu lo nhất là thầy sẽ cho
là mình là người gian trá, còn việc có học hay không đã không còn là chuyện
quan trọng nữa vì dù sao cậu đã quyết định nghỉ học rồi, chẳng qua việc cậu lên
nhập học hôm nay là do thầy Chuyên bàn ra và bảo cậu làm chứ cậu có tự nhiên để
lên đây rồi lại chịu xấu hổ như thế này đâu. Sau khi tự tìm cho mình một lý do
mà cậu cho là chính đáng thì cậu mạnh dạn hẳn lên và cậu quyết định nói hết tất
cả cho thầy Hiệu về sự việc mà thầy thấy lạ như vừa rồi. Sau khi nghe Hằng nói
một thôi những câu đứt quãng thì thầy Hiệu cũng vỡ lẽ được phần nào, thế rồi thầy
Hiệu nhanh chóng quyết định nhận Hằng vào Lớp. Thầy chuyển một bạn ở bàn đầu xuống
cuối lớp để xếp cho Hằng ngồi ngay vào chỗ đó. Vừa xếp vị trí cho Hằng thầy vừa
nói với Hằng và dường như thầy cũng nói với cả lớp:
- Trước hết em cứ học buổi
hôm nay, ngày mai tôi sẽ trao đổi lại với các thầy rồi sẽ sắp đặt lại sau.
Sau khi phát biểu với học
sinh về việc thầy vừa chuyển về dạy ở trường và nói thêm về lý do tại sao thầy
Bàng sẽ không dạy ở lớp này như sự mong muốn của các phụ huynh đề nghị hồi cuối
năm ngoái vì thầy Bàng còn phải đi chữa bệnh mất một thời gian. Tiếp theo sau
các phát biểu của thầy là một chương trình ôn tập kiến thức năm cũ, thầy nhắc lại
một số nội dung đã học năm ngoái sau đó thầy kiểm tra. Người được thầy gọi lên
bảng đầu tiên là Hằng, thầy ra một đề toán đố sau đó bảo Hằng giải, thầy còn
yêu cầu viết cả phép tính lẫn lời giải. Lúc nãy mất bình tĩnh bao nhiêu thì giờ
đây cậu lại bình tĩnh bấy nhiêu, các phép tính và lời giải được Hằng viết ra một
cách nắn nót trông đến đẹp làm thầy Hiệu rất hài lòng, thầy cất giọng hỏi:
- Tất cả các em đều có đáp
số như thế chứ?
Cả lớp đồng thanh cất tiếng
(có) âm vang khắp cả một góc đình. Thầy tiếp tục kiểm tra một số bạn khác, cũng
có bạn không làm được nhưng rồi lại có bạn xung phong lên làm thay cuối cùng đều
giải xong các bài tập thầy ra. Buổi học qua đi nhanh chóng và chẳng để lại điều
gì vướng bận, chỉ có mỗi mình Hằng lại phải lo nghĩ trên suốt chặng đường về.
Ngay chiều hôm ấy Hằng nói với mẹ về ý định nghỉ học của mình với sự quyết đoán
đến không ngờ. Nhìn sắc mặt con bà mẹ không khỏi lo lắng, không biết có việc gì
đã làm cho nó bất mãn đến vậy. Có lẽ câu chuyện buổi sớm nay đã làm cậu tổn
thương quá lớn về lòng tự trọng của mình nên sau khi nói xong với mẹ là cậu bỏ đi
chơi ngay mà không có vẻ muốn giải thích gì thêm. Biết tính con bà từ khi còn
nhỏ nên bà không khỏi băn khoăn, bà đoán mãi mà vẫn không biết lý do ra làm
sao, bà nghĩ có lẽ phải hỏi lũ bạn nó thì mới tìm ra được nguyên nhân của việc
này. Thế rồi bà cũng tìm ra nguyên nhân của sự việc, bà liền vào gặp thầy
Chuyên để hỏi xem có cách gì giải quyết được không. Cũng may là hồi này thầy
Chuyên dạy vào buổi chiều nên bà vào gặp được ngay. Sau khi nghe bà nói lại sự
việc thầy Chuyên mới giật mình nhớ ra, thầy dặn buổi chiều thầy sẽ rẽ qua chỗ hội
đồng nhà trường để nói lại với thầy hiệu trưởng, ông còn dặn bà về bảo ngày mai
nó cứ đến lớp kẻo các thầy phiền lòng. Ông còn bảo với bà rằng ông đã nói với
thầy hiệu trưởng và thầy đã đồng ý rồi chắc vì thay giáo viên nên mới xảy ra việc
vừa rồi bà bảo nó cứ yên tâm mà đi học. Chiều tối về nhà cậu nghe mẹ nói vậy
cũng vẫn bán tín bán nghi, tuy nhiên cậu vẫn làm hết các bài tập để ngày mai đến
lớp.
Vừa bắt đầu vào lớp thầy Hiệu
liền điểm danh, khi đọc đến tên của Hằng ở dòng cuối của sổ điểm thầy thông báo
với cả lớp về sự việc của Hằng hôm qua, thầy nói:
- Trong lớp ta có thêm bạn
Hằng nữa là có tất cả sáu mươi học sinh. Bạn Hằng không có học bạ nên danh sách
các thầy chưa kịp đưa vào, lớp có hơi đông các em cố gắng tập trung nghe giảng
hôm sau nhà trường sẽ sắp xếp lại.
Ngay sau thông báo cho cả lớp
thầy Hiệu quay sang nói với Hằng:
-Tối qua thầy Trường hiệu
trưởng đã trao đổi với thầy về việc này, Hằng cứ đi học bình thường cùng các bạn,
trường hợp không theo được thì sẽ chuyển lớp sau.
Buổi học thứ hai bắt đầu bằng
việc kiểm tra vở bài tập ở nhà của một số các bạn, người phải mang vở lên đầu
tiên vẫn là Hằng. Thầy xem vở của Hằng khá kỹ, sau đó mới xem đến vở của các bạn
khác, xem xong thầy bảo với cả lớp:
- Số bài tập thầy cho các
em về nhà làm không khó mà lại nằm ở ngay trong sách giáo khoa vậy mà các em
làm sai cả. Trong bốn em chỉ có Hằng làm hết và làm đúng cả số bài ra, còn lại
hầu như các em làm thiếu và lại sai hết cả.
Sau khi thầy ghi chép vào
các quyển vở của các bạn xong thầy ngửng đầu lên và cất tiềng gọi:
- Em Hằng lên bảng, em giải
bài số hai cho cả lớp tham khảo, các em nhớ ghi lại bài này, số bài còn lại hôm
sau thầy sẽ chữa.
Hằng lại lên bảng để chữa
bài tập như hôm trước, cậu viết nắn nót hơn và trình bầy rất gọn gàng cả vế làm
tính lẫn vế lời giải. sau khi viết xong bài giải lên bảng thầy vẫy Hằng lại đưa
cho số vở thầy vừa thu để kiểm tra lúc đầu giờ, thầy bảo:
- Em trả lại sách cho các bạn
chép bài.
Về đến chỗ ngồi Hằng mới giở
vở ra xem, một hàng chữ viết bên lề vở cứ đỏ rực lên – (Làm bài tốt, cần cố gắng
hơn) Trên mỗi đáp số thầy viết một chữ (Đ) trông như những trái đào đỏ bao trùm
lên trên những con số viết bằng mực tím. Cũng ở bên lề trái của cuốn vở, chỗ
bài tập số hai thầy viết con số mười rõ to, dưới con số là một cái gạch dài kéo
gần hết một phần tư chiều rộng cuốn vở.
Hằng vui lắm với con số mười
đầu tiên của năm học và cũng là con số mười đầu tiên của cả lớp. Từ đấy trở đi
hình như Hằng đã quên đi cái sự đã làm cậu buồn bã suốt hai ngày qua, cậu lại
vui chơi ồn ào cùng các bạn như những ngày nào. Từ sau ngày phải nghỉ học ở nhà
trông nom bố trong hơn sáu tháng qua hình như đây là lần đầu tiên cậu bỏ được
khuôn mặt rầu rĩ để trở lại khuôn mặt rạng rỡ thông minh vốn có.
2
Những năm học lớp ba cũng
qua đi nhanh chóng, trong lòng của Hằng không để lại một chút ấn tượng nào về sự
việc diễn ra hồi đầu năm học. Kết quả của chín tháng học với bẩy lần lên bảng
danh dự đã làm cho các thầy có liên quan đến câu chuyện đặc biệt của Hằng thở
phào nhẹ nhõm. Trong kỳ phát phần thưởng cuối năm học Hằng thật vui khi lên nhận
những quyển vở bìa đỏ mới tinh thơm mùi giấy mà thầy hiệu trưởng trao cho. Cũng
trong năm học ấy Hằng được các anh phụ trách thiếu niên kết nạp vào Đội TNTP của
trường. Ngoài việc sinh hoạt ở Đội TNTP của trường Hằng còn sinh hoạt ở Đội
TNTP ở làng và cũng được các anh phụ trách rất yêu mến và giao cho rất nhiều
công tác. Hàng ngày sau các buổi học về Hằng lại đi chăn bò cùng các bạn, buổi
tối thì tham gia sinh hoạt văn nghệ của Đội thiếu niên ở trong thôn. Anh Thỏ phụ
trách thiếu niên là người rất yêu văn nghệ, anh có chân trong đội tuồng cổ của
làng, anh thường đóng các vai kép nhỏ trong các vở. Hình như máu nghệ sĩ trong
anh đã cuốn hút rất mạnh bọn trẻ trong Đội thiếu niên, nhất là những cậu bé
cũng ham thích ca hát như Hằng. Suốt cả mùa hè năm ấy Hằng ít khi ở nhà bởi những
cuộc vui trang lứa và các cuộc văn nghệ liên miên không khi nào dứt. Hầu như
các đêm khuya sau khi sinh hoạt xong Hằng ngủ ở nhà bạn mà không về nhà. Sau mấy
lần thấy Hằng đi vắng mẹ cũng đi tìm, đến khi thấy Hằng ngủ ở nhà bạn mà không
có chuyện gì sảy ra thì bà cũng yên tâm mặc cho Hằng muốn ở đâu thì ở. Có lẽ phải
đến hơn một năm Hằng chuyên ngủ ở nhà Bộ, về sau Hằng còn ngủ ở nhà Quỳnh và
nhà Đĩnh, đấy là nói chuyện của những năm sau này. Bạn bè của Hằng không chỉ có
những đứa cùng học một lớp mà còn cả những đứa ở làng lớn hơn một chút như Quỳnh
và cả những đứa cùng tuổi nhưng không cùng học một trường như Bộ, ngoài ra còn
cả bọn ít tuổi hơn vài tuổi cũng bị cuốn hút vào cái guồng máy mê chơi và nghịch
ngợm. Nói là mê chơi và nghịch ngợm vậy thôi chứ thực ra tất cả các đứa trẻ đều
rất dễ thương và đáng mến bởi những trò chơi của chúng chẳng làm hại cho ai. Mỗi
ngày chúng vẫn hoàn thành công việc của mình như chăn bò, cắt cỏ, rồi cả các việc
như bắt cua, bắt cá, lấy rau lợn và còn biết bao nhiêu việc khác nữa trong các
việc vặt của gia đình.
Ngày ấy các sinh hoạt văn
hoá hết sức hiếm hoi, ngoại trừ những ngày làng vào đám thì mới có một vài tối
biểu diễn văn nghệ. Những làng có đội văn nghệ thì tự đứng ra biểu diễn lấy,
còn những làng không có đội văn nghệ thì đi thuê ở các làng bên cạnh. Mỗi tháng
cả xã mới được đội chiếu bóng lưu động về xã chiếu cho hai buổi, hoặc giả các
làng lân cận không biết bằng cách nào đó thuê được các đội cải lương Chuông
vàng Thủ đô, đội cải lương Kim Phụng về diễn một vài tối thì vui không thể nào
kể xiết. Những buổi như thế người đi xem thường rất đông, nên cả trẻ con lẫn
người lớn đều cố gắng nấu cơm ăn sớm để đi đến mua vé vào xem. Nhiều khi mua vé
vào sân từ lúc chưa lặn mặt trời, rồi chờ đợi hơn ba tiếng đồng hồ buổi diễn mới
bắt đầu thế mà rồi cũng chả thấy ai ca thán điều gì. Riêng lũ trẻ con thì không
thể chủ động về việc cơm nước được vì bố mẹ chúng có cần gì mà phải nấu cơm vào
lúc nửa chừng nửa vời như vậy, vì thế mà chúng thường nhịn đói để đi xem. Lúc
chờ đợi và lúc xem thì chúng không thấy đói, chỉ đến lúc về thì chúng mới lả
người ra, nhưng lúc ấy chúng cũng đành phải chịu vậy không biết kêu ai, mà kêu
ai cho được, mình làm mình chịu thế thôi. Đấy là nói những đứa có tiền, lại còn
những đứa không có tiền thì chỉ còn cách trốn chui rào để mà vào. Đa số các đội
chiếu bóng cũng như các đội biểu diễn văn nghệ hay thuê các vị trong ban công
an của địa phương hoặc các tổ dân quân du kích canh gác và họ làm rất chặt nên
nhiều khi các cậu nhí không thể có cách nào chui trốn được. Lẽ dĩ nhiên đành phải
đứng ngoài chờ tháo khoán mới được vào xem vớt vát được vài cảnh, vài màn cuối.
Không biết có phải do cách giáo dục ngày ấy nghiêm cẩn hơn thời bây giờ hay sao
mà đa số các đứa trẻ không tiền thì cũng tự chịu vậy thôi chứ chả có đứa nào
dám ăn cắp đồ của cha mẹ đi bán lấy tiền đi xem bao giờ.
Ngày ấy lũ trẻ cũng có rất
nhiều các trò chơi và chúng thường tổ chức chơi một cách nhanh chóng. Những trò
chơi đơn thuần mang tính ăn thua như đánh bi, đánh đáo, thổi diêm, thổi nịt, thậm
chí cả các trò đánh rải ranh, đánh cóc, chơi ô ăn quan, là những trò rất dễ tổ
chức. Ngoài ra còn các trò chơi như đánh bi chọi, đánh khăng; những trò chơi mà
những kẻ thắng có quyền bắt kẻ thua phải cõng, phải kiệu, phải hầu hạ kẻ thắng
một việc gì đó ví thử như dắt trâu, gánh cỏ vv…Cũng có trò chơi cho phép kẻ thắng
bôi lên mặt kẻ thua một vệt nhọ nồi đen kít trông đến ngộ. Trò này rất thịnh với
các ván bài Tam cúc hoặc Tu lơ khơ giữa ba bốn đứa quây tròn cùng đánh trong những
chiều đông rét mướt.
3
Năm nay các học trò lớp bốn
phải lên học nhờ ở một cái đình của làng Thạc Quả. Mấy đứa ở Tiền Thôn, mấy đứa
ở Hậu Thôn đi học gần hơn nên chúng thường đến rất sớm. Hôm nào cũng vậy, khi Hằng
và bọn học trò của làng Đồng Dầu vừa đến là lớp vào học ngay nên không đứa nào
kịp giở sách ra xào qua bài cũ nên khi thầy kiểm tra hầu như các cậu không trả
lời được. Nhất là những hôm trong xã có văn nghệ hoặc có chiếu phim thì càng tệ
hơn vì bọn trẻ càng không kịp học bài cũ, không kịp làm bài tập và lẽ dĩ nhiên
là thường bị thầy phạt bắt ra khỏi lớp đứng ở ngoài đó mà nghe giảng cho đến hết
tiết học mới được vào. Trong số học sinh ở Tiền Thôn luôn bị mắng, bị phạt là cậu
Lực, cậu Thu. Thật ra là các cậu này bận việc nhà quá nhiều nên không có thời
gian mà học nữa. Tuy nhiên khi đã là học sinh thì cho dù thế nào thì việc học
cũng không được trễ nải, cho dù thế nào thì thầy cũng không chấp nhận cho những
học sinh như vậy. Tuy học hơi kém nhưng mà Lực lại rất khéo tay, Lực làm những
bộ râu giả bằng sợi hệt như các bộ râu của phường tuồng, ngoài ra Lực còn làm
những cái gậy nhọn đầu buộc những sợi tơ xanh đỏ cũng giống như các đạo cụ của
phường tuồng trông đến là đẹp. Mỗi hôm đến lớp sớm là Lực đeo râu, mang gầy ra
rồi nhảy từ bàn này sang bàn khác múa hát như một kép hát. Lực đóng đủ các vai
mà Lực biết, khi thì là vai Trương Phi, có khi lại là vai vua, mà cũng không biết
vua của triều đại nào vì vua Đường thì cũng như vua Tống, cũng chỉ có bấy nhiêu
câu hát như vậy mà thôi.
Thế rồi chín tháng học của
lớp bốn cũng đã qua đi một cách nhanh chóng. Đây là năm học cuối cùng của
chương trình học cấp một. Rất nhiều học phần khá cao đã được đưa vào chương
trình để làm cơ sở kiến thức cho bậc học cấp hai sắp tới. Những cô bé, cậu bé
không dễ gì có thể tiếp nhận được nếu không chịu khó học bài và làm các bài tập
một cách đầy đủ. Sang năm nay Hằng học tốt hơn so với năm ngoái. Thầy Vũ Kim
Đàm luôn để ý khá đặc biệt đến cậu trong suốt cả năm học về mọi mặt làm cho cậu
lúc nào cũng như bị căng ra. Không biết có phải vì câu chuyện vào lớp theo kiểu
nhảy cóc của cậu hồi năm trước hay không mà hầu như hiếm có buổi học nào thầy bỏ
quên kiểm tra đến cậu. Có lẽ chính vì thế mà kết quả học của cậu khá tốt so với
nhiều bạn cùng lớp. Ngoài những phần thưởng cậu được nhà trường khen cậu còn được
thầy đã ghi vào học bạ những điều thật tốt đẹp. Thầy còn mạnh dạn ghi vào đó nhận
định của thầy về triển vọng văn học của cậu. Những điều thầy ghi vào học bạ nói
trên cũng mãi sau này cậu mới biết do cậu được nhận lại được quyển học bạ do cô
giáo chủ nhiệm lớp 5c của cậu đưa cho.
Khi ngồi viết những dòng
này trên trang sách cậu không khỏi trạnh lòng khi nghĩ về những dòng nhận xét của
thầy giáo Đàm. Những dòng nhận xét vừa có ý khen ngợi nâng đỡ, vừa mang tính
khuyến khích dường như thầy bảo hãy cố gắng hơn lên. Thế mà cậu đã không làm được
gì, thật không xứng đáng với niềm mong mỏi của một người thầy. Kể ra thì quyển
học bạ cũng đã bị cháy mất cùng với hàng đống sách vở tài liệu mà cậu đã gửi
anh Hiệp trưởng kho vật tư của nhà máy điện Thanh Hoá trước khi cậu đi bộ đội.
Không biết thế nào mà khi cả đống sách vở của cậu cùng với hàng đống các sổ
sách cùng với phiếu xuất kho bùng cháy không sao cứu được thì quyển học bạ lại
vẫn còn. Sau khi cậu rời bộ đội phục viên về đơn vị nghe tin kho bị cháy, trong
đó có cả số sách vở tài liệu của cậu thì cậu cũng chẳng còn muốn đến hỏi anh Hiệp
làm gì nữa. Thế mà đến gần hai năm trời sau anh Hiệp lại đưa cho cậu quyển học
bạ rách bìa này, thành ra mỗi khi cầm đến nó cậu lại tự dằn vặt về những lời thầy
đã ghi trong đó.
4
Từ sau ngày hoà bình lập lại
Đảng và Chính phủ cũng đã tập trung nhiều cho công tác giáo dục, tuy nhiên mọi
sự cố gắng cũng chỉ giúp cho xã Dục Tú có cơ ngơi cho một cấp học mà thôi. Cả
huyện Đông Anh lúc đó mới có ba bốn ngôi trường cấp hai, nên việc đi học cấp
hai buộc các học sinh phải rời trường của xã để đi học nhờ xã khác. Cũng có một
số học sinh sang trường cấp hai Tiền Phong ở thị trấn Yên Viên thuộc huyện Gia
Lâm học nhờ. Mãi đến năm 1962 huyện Đông Anh mới mở thêm một số trường cấp hai
trong đó có một trường cấp hai được mở ở xã Quyết Tâm (bây giờ gọi là xã Cổ
Loa) thì số học sinh lên cấp hai của xã Dục Tú mới chuyển về học ở Cổ Loa. Lúc ấy
trường thường mang tên của các xã, nên trường có tên là trường cấp hai Quyết
Tâm. Tên trường thì có đấy nhưng phòng học của trường thì lại chẳng có cái nào.
Khi ấy các lớp học được gửi ở các ngôi chùa, ngôi đền, thậm chí còn gửi nhờ ở
các nhà dân. Lớp 5c của Hằng được gửi ở đình làng Cổ Loa; nơi ấy tập trung rất
nhiều các di tích lịch sử xây dựng từ xưa. Đầu tiên phải kể đến là cây đa cổ thụ
có trên một ngàn tuổi. Cây đa này có thân mình đồ sộ đến mức người ta đã xây
bên trong thân nó một khuôn cửa tò vò có bề ngang đến một mét rưỡi, chiều cao đến
hơn một đầu một với, nghĩa là chiều cao đến hơn hai mét. Xung quanh khu vực gốc
đa quy vuông đến gần ba trăm mét vuông có đến mười mấy cái rễ từ các cành đa rủ
xuống cắm sâu vào lòng đất, cái lớn nhất cũng phải vừa hết một vòng ôm của người
lớn, cái nhỏ cũng có đường kính trên hai mươi nhăm phân tây. Còn các cành của
nó thì che kín gần hết phân nửa sân đình. Một di tích khá đặc biệt là am thờ
Công chúa Mỵ Châu. Am thờ bé đến nỗi chỉ vừa đủ diện tích để đặt pho tượng đá cụt
đầu, nên mỗi khi vào trong am đi quanh pho tượng cảm thấy rất chật chội. Pho tượng
đá này tương truyền là hiện thân của Công chúa Mỵ Châu được các bậc tiền nhân
khiêng từ nơi khác đem về, sau nhiều lần những người già cả trong làng được
Công chúa báo mộng. Pho tượng đá khá to lớn, có lẽ cũng gấp ba bốn người thường.
Tượng đã bị quân Pháp phá vỡ tạo ra các vết nứt và cũng đã được trám vá bằng chất
liệu xi măng. Vào những mùa hè tượng bị hấp hơi nước ướt rườn rượt, khi sờ vào
mát lạnh cả tay. Không xa bao nhiêu về phía Bắc là cả một quần thể của cả
khu vực đền thờ An Dương Vương cùng với dấu vết của tường thành ốc xưa còn lại.
Lũ trẻ hàng ngày đến Cổ Loa đi học chưa có nhiều kiến thức lịch sử về nơi mình
vẫn đang sinh sống, nhất là lại thường quá quen thuộc với những hình ảnh, đồ vật,
quang cảnh mà họ bắt gặp thường ngày nên đôi khi còn rất coi thường. Nhưng dù
sao thì mỗi ngày qua họ được các thầy, các cô giảng giải nên không biết từ lúc
nào trong lòng mỗi người cũng có sự ngấm nghía để rồi mai ngày lớn lên trong họ
có cái hình, cái bóng của quê hương cùng với những gì tốt đẹp được nhân lên
trong mỗi bước đường mà họ sẽ đi trong cuộc đời đầy sóng gió và cũng đầy vinh
quang rực rỡ trong những năm lao động và chiến đấu sau này.
Trường cấp hai Quyết Tâm về
cơ cấu sẽ có ba khối học, mỗi khối có ba lớp, tuy nhiên trong năm đầu tiên này
thì mới chỉ có một khối đó là khối các lớp 5. Hằng và cả số học sinh của làng Đồng
Dầu được đưa vào lớp 5c do cô Lê Thị Yến vừa làm chủ nhiệm vừa làm giáo viên giảng
môn toán học. Môn văn thì do thầy Trần Ngọc Kim giảng dạy. Hai môn sử địa đều
là của thầy Vũ Tú Nguyên, còn môn sinh vật là của cô Kim Bảo.
Những ngày đầu tiên bước
vào cấp hai thật là vui, riêng Hằng còn vui hơn khi cậu được bầu vào ban cán sự
lớp. Cho dù chẳng hiểu là mình sẽ phải làm gì trong cái chức trách cán sự nhưng
Hằng cũng thấy rất khoái chí. Hằng đâu có ngờ rằng sau này cậu lại bị liên luỵ
quá nhiều bởi cái chức trách hữu danh vô thực này. Hàng ngày cứ đến mỗi giờ học
các thầy, các cô đều nhằm đích vào Hằng. Nào là cả lớp có làm bài tập hay
không, cả lớp đã đóng học phí chưa. Khổ sở hơn nữa là cậu cứ phải đầy đủ bài vở
vì cứ mỗi khi các thày, các cô kiểm tra các bạn mà có độ ba, bốn người không
thuộc là các thầy, các cô sẽ gọi đến Hằng. Đành rằng đi học là phải học bài,
làm bài đầy đủ, nhưng đôi khi các học trò cũng tự cho mình được quên học bài,
quên làm bài tập để vào bãi chiếu phim một đôi lần trong một tháng, bởi
vì có phải dễ gì có được một buổi chiếu phim ở nơi thôn quê đồng ruộng. Tất
nhiên là không thể bỏ học, bỏ làm bài tập để xem phim mà chỉ là ngầm khất
chương trình hôm đó đến hôm sau mà thôi. Nhưng Hằng thì đâu có được làm như thế
bởi cái chức trách lớ ngớ vừa nói ở trên.
Được cái Hằng học khá thông
minh nên kết quả năm học cậu đạt khá cao. Hầu như tất cả các bài kiểm tra của
các môn Hằng đều được điểm 5. Hằng đã đạt học sinh xuất sắc toàn diện ở mức A1.
Các bạn, các thầy chia vui với Hằng. Cái tiếng học giỏi của Hằng bay về tận
làng Đồng Dầu, bay về tận trường Dục Tú làm vui lòng biết bao những người thân
yêu của Hằng, làm thoả lòng biết bao các thầy cô đã dạy dỗ Hằng. Có một người
thầy luôn luôn nhìn Hằng bằng một bên mắt nheo lại như bảo cậu rằng chớ có tự vừa
lòng để rồi phí công tôi đặt niềm tin ở cậu. Đó là thầy Chuyên, người thầy đã
hơn một lần hết lòng vì cái cậu bé nhóc con lầm lỳ ít nói và hay ngồi lặng lẽ
nhìn xa tận phía chân trời.
5
Cứ như thế Hằng học hết ba
năm học cấp hai ở trường Quyết Tâm trong ba năm liên tiếp. Ngày rời trường đã đến
mà mọi người vẫn tưởng chỉ là chia tay về hè như mọi năm thôi. Chả biết mọi người
nghĩ sao còn Hằng thì băn khoăn bối rối không biết tính thế nào. Việc có đi học
tiếp được hay không quả thật là rất khó, bởi trường cấp 3 lại ở mãi trên huyện,
một địa điểm quá xa để có thể đi bộ đến trường vào các buổi sáng, phần thì nhà
Hằng lại quá nghèo, đâu có thể mua nổi một cái xe đạp để mà đi học như mấy đứa
con nhà khá giả. Mỗi ngày nhà Hằng cũng chỉ có gạo ăn ở mức hơi thiếu một tý
cho cả nhà, nếu Hằng mang đi một ít để học trọ thì nhà sẽ bị đói. Như vậy thì
việc học của Hằng sẽ chẳng còn có thể tiếp tục được nữa. Thêm nữa mẹ Hằng đã
già yếu lắm rồi việc làm ăn đã đến lúc cần Hằng san sẻ bớt. Với bằng ấy lý do
đã bắt buộc Hằng không còn cách lựa chọn nào khác hơn là phải nghỉ học.
Không như một số các bạn
khác nghỉ hè rồi vẫn còn được rong chơi để thăm thú bạn bè, bắt đầu vào hè là Hằng
về nhà để đi làm hợp tác. Ngay từ những ngày đầu đi làm hợp tác Hằng đã được bà
con trong đội đề nghị đứng ra làm thư ký đội thay cho người thư ký cũ lên làm
thư ký cho hợp tác xã. Kể ra mà nói thì đây cũng là sự may mắn rất lớn của cậu,
vì cùng lúc đó có khối các cậu cùng về mà bà con lại không tín nhiệm. Nói về
cái học khá của cậu có lẽ chỉ là phần thứ yếu vì công việc làm thơ ký đội chủ yếu
chỉ là ghi chép công điểm cho bà con, thế rồi cộng trừ nhân chia một tý công điểm,
một tý thóc lúa hoa màu mà các xã viên được chia trong từng vụ mà thôi. Cái sự
tín nhiệm ở đây chủ yếu là các ông bà xã viên đã yêu mến cậu ở cái sự vui tươi,
lễ phép và cả cái tính thẳng thắn, ngay từ bé đã không trộm cắp hoặc tham lam của
ai bất cứ thứ gì.
Từ sau ngày nghỉ hè cô giáo
hiệu trưởng Nguyễn Thị Ngọc Anh vẫn xuống thăm chơi nhà của các phụ huynh, cũng
đến mấy lần cô vận động Hằng cùng các bạn tiếp tục đi học lên cấp 3. Bà còn hứa
với bà mẹ của Hằng là bà sẽ dùng uy tín của mình để xin cho Hằng có được học bổng
như khi còn học cấp 2, nhưng vì ngại ngần trong việc nhờ cậy, làm phiền đến cô
nên Hằng vẫn quyết định sẽ nghỉ học. Cô Anh lại phân tích thêm về một số cách học
khác và cuối cùng thì cô động viên Hằng đi học chuyên nghiệp. Thực ra thì Hằng
cũng đã làm hồ sơ xin đi học chuyên nghiệp để gửi về trường ngay từ khi
còn đang học dở cấp 2, tuy nhiên đến lúc ấy thì các trường chuyên nghiệp chưa
nơi nào gọi cả.
Vào trung tuần tháng 8 năm ấy
thì Hằng có giấy gọi đi học trường trung cao cơ điện. Phần vì nghe bạn bè kháo
nhau rằng học trung cao kéo dài đến hơn ba năm, hơn nữa là sau khi ra trường phải
làm cán bộ kỹ thuật, một công việc mà Hằng rất ghét ngay từ khi tiếp xúc với một
số cán bộ kỹ thuật của nhà máy diêm, nhà máy gỗ trong lúc Hằng đi làm thuê những
năm trước đó. Mỗi lần trông thấy họ Hằng chỉ muốn chửi cho họ một trận bởi cái
sự vênh váo của họ trong lúc giao nhận công việc hàng ngày. Rồi đến vài giấy gọi
nữa nhưng Hằng cũng không đi vì một trong các giấy ấy là giấy gọi của trường
trung cấp ăn uống, giấy còn lại là của trường trung cấp dệt, lúc ấy Hằng cho rằng
đây toàn là những công việc của phụ nữ nên chẳng thiết gì đến sự học nữa.
Cũng chính trong thời gian
này ở cục vật tư địa chất đóng ngay ở Dốc Vân lại thông báo tuyển người. Chỉ cần
làm việc trong 6 tháng là sẽ được vào biên chế thành công nhân như tất cả mọi
người. Đang lúc bế tắc lại có cơ hội tốt, thế là Hằng quyết định sẽ đi làm cho
ngành địa chất.
6
Ngay khi vào làm ở địa chất
Hằng cùng các bạn đã được đưa lên ô tô chở một mạch lên huyện Hữu Lũng của tỉnh
Lạng Sơn. Nơi đây được cục vật tư địa chát cho xây dựng một cái kho để chứa
hàng đề phòng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày một tăng lên. Công việc ở
đây ban đầu chủ yếu là phát rừng san đường vào sâu trong dãy núi Cai
Kinh, rồi bốc đá làm đường để cho xe ô tô có thể ra vào được.
Hàng ngày từng tốp công
nhân mới tuyển còn chưa được cấp phát bảo hộ cắm cúi làm việc. Cho dù công việc
chẳng nhẹ nhàng gì, nhưng đa số mọi người trong đội đều là những thanh niên,
thanh nữ trẻ nên họ rất vui. Cho dù là đào hàng khối đất hào rắn đanh đến bốc
hàng chục khối đá từ mỏ đá Núi Voi về công trường nhưng ai cũng say mê với công
việc. Những chàng trai trẻ đều muốn thể hiện sự hơn hẳn của mình trước các cô
gái để mong các cô có chút cảm tình. Còn các cô gái thì lại muốn mình là những
người xinh đẹp chịu thương, chịu khó để lọt mắt các chàng trai. Chính vì thế mà
các anh trong ban lãnh đạo của đội như anh Dậu hầu như chẳng cần phải đôn đốc
mà công việc vẫn chạy băng băng.
Ngoài những vất vả trong
công việc mọi người còn phải đối đầu với nguy hiểm do máy bay địch bắn phá khi
đi trên đường hoặc đến làm việc ở những nơi trọng điểm. Cũng có nhiều lần họ
thoát chết trong gang tấc bởi chỉ nhờ may mắn trong nhanh chậm, giống như lần
máy bay Mỹ ném bom phá huỷ cửa hàng ăn uống chợ Mẹt hay lần chúng ném bom hòng
cắt đứt cầu Mẹt chặn đường giao thông của chúng ta.
Công việc ăn uống của đội đều
do đội tự làm lấy, ngoài mấy món trường ca như bí ngô, cá mắm, lại đến muối vừng,
măng tre hoặc lạc rang để cả vỏ tẩm muối mặn chát. Lâu lắm mới có một ít thịt
con lửng mua được ở các chợ quanh vùng, cũng có khi có một ít thịt trâu mang từ
cơ quan lên khi có các cán bộ về công tác.
Người Nùng ở xã Cai Kinh và
các vùng quanh khu vực đều kiêng ăn thịt trâu, bò và thịt chó. Họ cũng không ăn
hành và một vài gia vị khác nên lúc đầu khi chưa làm được lán còn phải ở
nhờ nhà dân thì sự kiêng khem thật là vất vả. Về mặt ăn uống thì thế
nhưng về tình cảm thì giữa công nhân với nhân dân trong vùng lại thật tốt, nhất
là với đám con gái người Nùng thì sự gắn bó còn khăng khít hơn nhiều. Lấy cớ
giao lưu để học tiếng và tìm hiểu phong tục có vài đôi trai gái hình như bắt đầu
đã có những mối cảm tình hết sức tế nhị.Trong số thanh niên trẻ trong đội chỉ
có Hằng là trắng trẻo thư sinh hơn cả, hơn nữa lại ăn nói khá mạnh dạn nên có rất
nhiều cô gái muốn gần. Lẽ dĩ nhiên là cậu cũng thể tránh khỏi bị cuốn hút vào
cái không khí chung ấy. Sau rất nhiều cuộc gặp gỡ trò chuyện cho dù là chỉ ở
trong nhà của các cô gái cùng với bố mẹ của các cô nhưng cái sự đầu mày cuối mắt
thì vẫn cứ lộ ra.
Người Nùng ở Cai Kinh có một
số đặc điểm rất đặc biệt đó là đa số các chàng trai thì rất đẹp traiN, còn đa số
các cô gái thì lại rất xấu. Những chàng trai cao lớn và trắng trẻo bao nhiêu
thì các cô gái lại đen và nhỏ bé bấy nhiêu. Trong cả một bản có lẽ chỉ được
mươi cô còn có chút ưa nhìn, số còn lại thì thật đáng ngại gặp, ngại gặp không
phải vì họ xấu mà vì đám thanh niên vùng xuôi sợ họ mồi chài. Đã từ lâu người
ta đồn đại rằng các cô con gái ở vùng cao thường có một số loại thuốc hoặc các
loại bùa rất đáng sợ. Nếu chàng trai nào ở dưới xuôi không may mà bị họ thích
là họ sẽ chài, thế rồi các chàng trai này cứ lú lẫn bỏ cả quê hương cha mẹ để
mà ở lại với cô ta cho đến hết đời mà không thể thoát ra được. Ngoài ra họ còn
sợ nhiều thứ khác, giả như họ có thể bị người nhà của các cô gái giết bằng cách
đưa đến các vùng rừng có hổ để cho hổ ăn thịt rồi loan tin là bị hổ vồ. Đến lúc
ấy thì ngay cả chết cũng bị chết oan mà không thể tìm ra tội chứng của kẻ giết
người. Chính vì vậy nên cái sự yêu đương thì hình như chưa cậu nào dám đặt vấn
đề. Còn cái chuyện lợi dụng tình ái khi họ tiếp xúc hàng ngày cùng nhau thì chả
cậu con trai nào dám, kể cả trong khi nói chuyện ở nơi vắng vẻ cũng như khi đi
vào rừng hái quýt, hái ổi riêng rẽ chỉ có hai người với nhau.
7
Trong số các cô gái người
Nùng, có một cô khá xinh xắn có tên là Hoàng Thị Cỏm. Cô mới chỉ mười sáu tuổi
đang đi học văn hoá ở trường nội trú của tỉnh. Ngoài nước da trắng, khuôn mặt
trái xoan cô còn có sức quyến rũ bởi dáng người thon thả và duyên dáng. Cô nói
tiếng kinh khá sõi, nếu chỉ hỏi han trò chuyện trong độ mươi phút thì không ai
bảo cô là người Nùng, ngoại trừ bộ quần áo chàm cô rất hay mặc khi cô về nhà.
Cho dù chiếc áo chàm khá rộng, luôn dài đến ngang đùi che đi phần thân thể của
cô nhưng người ta vẫn nhận ra cơ thể đầy sức quyến rũ của cô.
Trong một lần về nhà cô được
tiếp xúc với đám thanh niên vùng xuôi thông qua sự giới thiệu của các bạn, cô
đã nói chuyện rất nhiều bằng tiếng Nùng với Hằng. Không biết có phải do cô
thích cái anh chàng trắng trẻo này hay là cô chỉ thích nói chuyện với cậu chỉ
vì lúc ấy cậu là người biết nhiều tiếng Nùng hơn so với các bạn.
Lúc chia tay cô ghé sát tai
cậu và thì thào:
- Mình với anh cùng tên,
mình với anh là một đấy nhé!
Hằng không kịp hỏi gì thêm
thì cô ấy đã vụt quay trở vào nhà. Hằng đứng ngây ra đến một lúc lâu mà vẫn chẳng
nghĩ ra được sự thể là thế nào. Chả lẽ tiếng Nùng âm Cỏm là Hằng hay là khi cô ấy
đến trường học cô đổi tên theo tiếng Kinh với cái tên mới là Hằng. Cho
mãi đến về sau này điều thắc mắc ấy cậu vẫn không được ai giải đáp cho.
Họ chia tay cũng không lâu
la gì lắm, chỉ mới qua hết một tuần học đã thấy cô có mặt ở nhà. Anh trai của
cô đã bảo cho Hằng biết trong lúc đi ngang qua lán công nhân để vào rừng đặt bẫy.
Trong số các chàng trai cùng đi làm với Hằng ngày ấy hầu như chỉ có mình Hằng
là hay chơi bời cùng số con trai và cũng hay thăm viếng với các ông ké, bà mế
nên Hằng khá thân thiện với số đông những người trong bản. Riêng về anh trai của
Cỏm thì khá thân hơn vì anh này khá thông minh và lại rất khéo tay. Nhiều lần
anh bảo nhận Hằng làm em rể cho dù Hằng chưa hề gặp cô em ấy lần nào. Lần này
thì không thể tránh được rồi nhất là cái cô em ấy lại hưởng ứng một cách nhiệt
tình sự gợi ý của ông anh. Có lẽ vì thế mà anh vừa tin cho Hằng biết vừa cười một
cách ý nhị.
Thực ra thì Hằng chưa bao
giờ nói gì đến cái sự gắn bó của mình với cô ấy vì Hằng cũng sợ bị cô ấy chài
như ngày nào mẹ Hằng đã kể. Còn cô ấy thì hình như mặc nhiên coi cái sự ấy như
là đã định rồi. Có lẽ việc này là do người anh của Cỏm bịa ra. Phải chăng anh
cũng muốn cho cô em gặp được văn minh của miền xuôi hay là muốn cô em rời xa hẳn
cái cơ ngơi của cha mẹ để sau này anh chẳng vướng bận gì.
Những ngày xa vắng bất chợt
bị cuốn đi để sự rạo rực tràn ngập dồn lại cho những giờ khắc gặp gỡ.Tuy rằng tất
cả cũng chỉ là những câu chuyện cuộc sống cùng với sự động chạm da thịt vào
nhau thôi nhưng sao mà cảm xúc lạ kỳ đến vậy. Nhiều lúc Hằng tưởng như mình bị
tan ra bên sắc màu lam tím của những nếp vải thô ráp nhuộm chàm. Hay là Hằng đã
bị chài rồi! Có lẽ là chưa vì sau những lúc như thế Hằng lại thấy bình tĩnh trở
lại tự điều chỉnh được mình. Mười sáu tuổi, chỉ mới mười sáu tuổi, còn mình nào
có nhiều hơn được bao nhiêu.
Mỗi lần gặp gỡM, mỗi lần
trò chuyện, Hằng thường nghĩ đến những câu chuyện tình yêu từ trong phim ảnh, từ
trong sách vở, từ trong tiểu thuyết. Sự đẹp đẽ đến thánh thiện, đến đắm say và
cả đến oanh liệt nữa cũng dần hé mở lôi kéo đi theo, khuyến khích học theo. Cả
đống những ý tưởng làm họ choáng ngợp, làm họ bối rối; bối rối đến không còn biết
sẽ làm gì nữa.. Họ chỉ dám hôn thật nhẹ vào bất chợt chỗ nào mà họ chạm vào thế
rồi chia tay và tiếc mãi về những gì mà họ cùng khao
khát.
8
Những ngày vui chưa được
bao lâu thì công trình cũng đã sắp hoàn thành. Một số công nhân đã chuyển đi
công trường mới ở tận trên khu vực Đồng Mỏ, số còn ở lại Cai Kinh không còn nhiều,
trong đó có Hằng. Ngoài công việc ban ngày, Hằng còn phải ở lại trông coi lán
vào ban đêm mà không vào bản như mọi khi vì trong thời gian này Cỏm cũng ít về.
Không biết có phải do bận học hay do Cỏm giận vì Cỏm chờ mãi mà chưa thấy Hằng
nói ra cái điều quan trọng kia. Cỏm không biết rằng trong lúc ấy Hằng băn khoăn
đến thế nào về hoàn cảnh của mình.
Ngày ấy nhà Hằng Nghèo lắm.
Rời chùa mới được vài năm, nhà Hằng vẫn phải ở nhờ nhà của anh Phượng. Xin đất
xong, cố mãi nhà Hằng vẫn chưa làm nổi một ngôi nhà. Đồ dùng thì chả có thứ gì
ngoài hai cái giường gỗ tận dụng mà ông bố của Hằng tự đóng lấy từ năm nảo, năm
nào, đến nay thì đã bắt đầu mọt ruỗng ra rồi. Lấy vợ về, vợ sẽ ở đâu! Trong cái
căn nhà không buồng, không vách của nhà anh Phượng. Lại còn công việc làm ăn,
còn miếng cơm, manh áo cho mẹ, cho em và cho cả đôi uyên ương nửa xuôi, nửa ngược
này nữa. Lại còn sự nghiệp vừa mới bắt đầu! Mình còn phải đi! Ai sẽ là người đỡ
đần người vợ trẻ con này khi mình đi vắng. Rồi còn địa phương họ có cho phép
hay không khi cô ấy chưa đủ tuổi. Miền xuôi đâu có thể làm bừa đi như trên vùng
cao thiểu số mà được. Tất cả những điều ấy đã bắt Hằng phải chần chừ, lưỡng lự
mặc dù Hằng biết sẽ chẳng bao giờ Hằng còn có thể tìm được một người con gái đẹp
mê hồn như thế nữa. Tất cả những điều ấy Hằng đâu có thể nói ra với Cỏm và với
gia đình cô ấy.
Chính trong những ngày buồn
bã ấy thì chú Phó cục trưởng đi công tác qua rẽ vào gửi cho mảnh giấy của mẹ nhắn
Hằng về. Không biết mẹ nhắn về để làm gì mà gấp gáp như thế nên Hằng quyết định
sẽ tự mình ra về mà không chờ chú cục phó đón như lời dặn của chú lúc đưa thư
cho cậu.
Vừa đi vừa lạc phải mất hơn
năm tiếng đồng hồ Hằng mới đến được ga Bắc Lệ để lên tàu về nhà. Cuộc ra đi này
của Hằng chỉ có vài người trong ban lãnh đạo của đội biết, bạn bè và cả Cỏm
cũng không sao biết được. Hằng cũng không ngờ lần ra đi này cũng là lần từ biệt
Cai Kinh, từ biệt Chợ Mẹt, Lạng Sơn đến mãi gần bốn mươi năm sau mới lại có dịp
quay trở lại trên một chuyến xe khách chạy sáu mươi cây số lướt đi trên đường,
trong một lần tham quan Trung Quốc.
Về đến nhà Hằng được mẹ đưa
cho một bì thư trong đó là giấy báo đi học của Trường điện lực Thái Nguyên. Nhận
giấy mà Hằng ngạc nhiên đến sững sờ cả mình mẩy vì không hiểu tại sao mình lại
có giấy báo này. Trong kỳ làm hồ sơ đi học chuyên nghiệp Hằng chỉ làm có ba bộ,
đã có ba trường gọi mất rồi. Các trường đều ghi là sẽ không trả hồ sơ vậy thì hồ
sơ này làm sao mình lại có. Sau khi ba trường gọi Hằng không đi, Hằng đã làm
thêm hai bộ nữa lên xin xã nhưng xã nói chỉ có thể xác nhận không quá ba bộ, thế
là Hằng mang về vứt ở nhà, làm gì còn bộ nào nữa đâu mà lại có giấy gọi. Hay là
trường họ nhầm lẫn gì chăng. Hằng xem đi xem lại tờ giấy báo nhưng không thấy
chỗ nào sai kể cả họ tên và nơi ở. Mà cái làng Đồng Dầu này làm gì có ai là Hằng
nữa đâu. Tìm hiểu mãi rồi cũng vỡ lẽ ra do khi Hằng đi làm vắng cô Ngọc Anh xuống
thăm số phụ huynh học sinh cũ đã rẽ vào thăm mẹ Hằng. Sau khi nghe bà mẹ Hằng kể
lại sự tình thế là bà lấy số hồ sơ của Hằng để lại mang lên xã xin xác nhận cho
rồi gửi tiếp về ban tuyển sinh huyện và thế là Hằng mới có tờ giấy báo thứ tư
này. Có lẽ cán bộ xã nể bà giáo là huyện uỷ viên mà họ quen biết trong
các kỳ họp nên đã xác nhận số hồ sơ mà bà mang lên xin hộ.
Khỏi phải nói đến sự hàm ơn
của Hằng đối với cô hiệu trưởng đến thế nào. Vậy mà từ khi ấy cho mãi đến sau
này Hằng không còn có thể gặp lại cô giáo đáng kính của mình nữa. Khoảng cách địa
lý của mỗi người, công việc xã hội, công việc gia đình của mỗi người, đã vĩnh
viễn chia cách cô trò của họ. Cô như là một người mẹ lo cho rất nhiều những đứa
con, chắc cô không còn nhớ những gì đã lo cho Hằng. Còn với Hằng thì không bao
giờ có thể quên được tấm lòng của người mẹ ấy.
9
Sau gần mười ngày lo cắt hộ
khẩu, lo bán lương thực để lấy giấy cắt chuyển lương thực xong là Hằng lên nhập
trường. Cứ như trong giấy báo này thì có đến vô số những con số một bắt buộc
các học sinh phải nhớ và phải thực hiện. Đầu tiên là các học sinh phải đến trường
vào ngày 11 tháng 11 năm 1965, tiếp theo là các học sinh phải hỏi thăm đến số
nhà 111 phố Đồng Bẩm Thành phố Thái Nguyên để vào nhập học.
Hằng lên đường với một cái
ba vuông mà anh cả cho. Đây là vật dùng để đựng quần áo của bộ đội thời
kháng chiến chống Pháp. Nó là một miếng vải bạt cắt theo hình chữ thập. Các góc
được may một miếng vải chéo để khi gấp vào đồ dùng nhỏ không từ các góc rơi ra.
Hai bộ quần áo bằng vải ka ki và vải pôpơlin Nam Định, một cái chăn chiên là tất
cả những gì mà Hằng mang theo.Tuy rằng nhà Hằng nghèo thật nhưng Hằng lại chưa
khi nào phải mặc quần nâu áo vá như nhiều các bạn khác. Đồ đạc mới duy nhất chỉ
có cái màn một và mấy thứ lặt vặt như lọ thuốc đánh răng, cái bàn chải, cùng mấy
quyển sách, quyển vở mà thôi .
Chuyến tàu Bắc, Yên Viên đi
Quán Triều chậm như bò trên đường. Chỉ có hơn bẩy chục cây số mà suốt từ tối đến
quá nửa đêm mới đến được ga Đồng Quang. Trời đêm không đèn, không điện vì tránh
máy bay Mỹ đánh phá, vả lại cũng quá khuya nên đường xá vắng ngắt không một
bóng người. Sau khi đã hỏi thăm khách trên tàu về địa điểm mình sẽ đến, Hằng
cũng đã sơ lược nắm được phần nào quãng đường mình sẽ phải đi. Mò mẫm mãi rồi Hằng
cũng đến được phố Bắc Nam của thị xã Thái Nguyên. Đang không biết tìm ai để hỏi
thăm tiếp thì nghe phía trước có người đang nói chuyện rì rầm. Hằng cố đi thật
nhanh cho kịp mong sao hỏi thăm được về phố Đồng Bẩm, bởi Hằng nghĩ nếu không hỏi
thăm được thì khó có điều kiện gặp được ai nữa để mà hỏi thăm. Vừa ghé sát vào
mặt hai người đi đường để hỏi thăm về Đồng Bẩm thì nghe cả hai cùng nói chúng
tôi cũng về đó mà không biết đường đây. Thật không còn gì chán chường hơn khi
nghe hai người đi đường nói vậy. Dù sao thì từ lúc một mình bây giờ có thêm hai
người nữa thành ba cùng đi nên cũng đỡ buồn hơn. Cả ba đang lếch thếch mò
đi trong đêm tối đen như mực thì đến một chiếc cầu. Một ngọn đèn phòng không
leo lét bên đường làm cho cả ba mừng không thể nào tả xiết. Một người trong họ
buột miệng:
- May quá, có chỗ hỏi thăm
rồi.
Giọng nói của người này hơi
ngòng ngọng, nghe rất quen, hình như mình đã nghe nói khi nào rồi thì phải.
Đang còn phán đoán thì chợt lại nghe người thứ hai cất tiếng hỏi thăm đường.
Ngoài giọng nói rất quen thuộc còn cả địa chỉ hỏi thăm cũng lại quá quen nữa
làm Hằng chột dạ. Hằng nghĩ chả lẽ mấy cậu này cũng đi học như mình. Mãi đến
khi giáp mặt thì cả ba người mới nhận ra nhau là bạn cùng trường.
- Thế nào, có phải các cậu
cũng vào trường điện lực phải không?
Họ hỏi thăm nhau hết chuyện
nọ đến chuyện kia có lẽ phải đến hai mươi phút rồi mới lại tiếp tục lên đường.
Hoá ra hai anh bạn vừa gặp lại chính là Nội và Thảo học ở lớp 7A. Thảo khá nổi
tiếng về sự tinh nghịch, còn Nội thì lại nổi tiếng về các hoạt động tập thể và
có tiếng là lành tính. Nội học cũng vào loại giỏi và lại là một trong những
đoàn viên đầu tiên của chi đoàn học sinh của trường. Nội khá đẹp trai và có nhiều
tài vặt, đặc biệt là rất sát gái. Cứ như sau này Nội nói ra thì hình như ngay
khi còn học ở trường phổ thông Nội đã yêu khá thành thạo, yêu ngay cả những bạn
gái cùng học trong lớp 7A của chính mình.
Ba người lại mò mẫm đi tiếp,
bây giờ thì họ đã đi qua cầu Gia Bẩy, nơi mà họ vừa dừng lại để hỏi thăm và đã
nhận ra nhau. Cây cầu khá rùng rợn vì nó là nơi chứng kiến sự chết chóc của mấy
trăm người trong hai lần giặc Mỹ đem tàu bay phản lực ném bom vào cầu trong
ngày 17 tháng 10 trước đó mới gần một tháng. Mọi người không ai nói gì nhưng Hằng
biết trong mỗi người đang nghĩ về cái chết chóc gớm giếc đó mà căm thù quân giặc,
xót xa cho tất cả những người xấu số. Thật đáng buồn khi mọi người chúng ta đã
không thể làm gì để ngăn cản tất cả những tàn ác mà kẻ thù đang từng ngày trút
xuống đầu những người dân vô tội.
Không thể tìm ra ngôi nhà số
111 và cũng chả hỏi thăm được aiK, ba anh em đành vào ngủ nhờ trên hè của một cửa
hàng bán sách để chờ đến sáng. Mệt mỏi do đi bộ mang nặng lại thức quá khuya cả
ba ngủ như chết cho đến tận sáng banh ra mới dậy được. Vừa thu gọn đồ dùng vừa
nhanh chóng quay đến khu vực tối qua đã đến để tìm. Hằng hỏi thăm mấy người làm
vôi ở ngay con dốc nhỏ cạnh đấy thì được họ cho biết số nhà 111 chính là căn
nhà tranh lụp xụp mà đêm qua ba anh em đã qua lại đến mòn cả chân ở đấy. Căn
nhà ấy không phải là trường mà chỉ là điểm đến hỏi thăm con đường rẽ để vào nơi
trường sơ tán. Từ đây vào đó còn phải đi đến hơn cây số nữa mới đến nơi. Đang
còn hỏi thăm chưa xong thì từ xa đã nghe tiếng củaThảo la ré lên:
- Tìm thấy số nhà 111 rồi
chúng mày ơi!
Mọi người quay về phía phát
ra tiếng nói củaThảo thì thấy Thảo từ mái hiên lụp xụp chui ra. Thảo vừa cười vừa
chỉ ngược vào bên trong mái nhà có ý bảo cái số nhà ở bên trong đó. Thì ra đây
là căn nhà không có người ở, trên tường chả có chỗ đóng đanh treo biển nên chủ
nhà đã gài cái biển số vào bên trong mái hiên, chính vì thế mà mấy anh em tìm
không được.
Lại thêm một lần chán chường
nữa mà không thể nói ra, bởi ai cũng nghĩ rằng ngôi nhà số 111 ấy phải là ngôi
nhà cao ba bốn tầng trông thật nguy nga tráng lệ và rồi hàng ngày họ sẽ cắp cặp
đến học hành và làm việc. Nào ngờ cái trường mà họ học lại ở trong tít mãi ở tận
rừng xanh núi đỏ và còn chưa biết là nó to bé ra sao. Tuy vậy họ cũng đành phải
vào để mà nhập học chứ còn biết làm thế nào bây giờ.
10
Ngay sau khi gặp cán bộ của
trường mọi người mới biết là trường có ba khu học tập. Khu thứ nhất tập kết các
học sinh học về cơ khí và điện ở ngay tại xóm Cổ Rùa. Khu thứ hai ở lùi vào sâu
bên trong một ít gọi là xóm Thác Lở, là nơi tập kết số học sinh học về nghề sửa
chữa lò hơi. Số học sinh học nghề sửa chữa Tua bin thì vào sâu mãi tận khu mỏ
đá Núi Voi (Núi Voi của Thái Nguyên chứ không phải của Lạng Sơn), nơi ấy gọi là
xóm Cầu Đá. Cũng chỉ đi quá ra ngoài một chút đã là phường phố, thế mà nơi Hằng
và các bạn đến lại là thôn bản của rừng rú buồn rứt cả người.
Những ngày học tập, lao động
liên miên làm cho các cậu không còn có thì giờ để chơi bời nữa, thế là việc lên
lớp và nhất là việc đi lao động làm đường sắt sơ tán máy biến thế hoặc đi xúc xỉ
đổ vào sọt treo quanh tường nhà máy để chống bom đạn là những lúc vui hơn cả.
Dù sao thì có lúc như thế họ mới được gặp nhau để mà trò chuyện, để mà tán tỉnh
lẫn nhau, làm khuây khoả nỗi buồn chán ở nơi khỉ ho cò gáy này.
Ngày ấy các học sinh đi học
chuyên nghiệp và cả các sinh viên học đại học cũng đều do nhà nước nuôi không.
Chế độ sinh hoạt đều rập khuôn theo kiểu trại lính, mà không được có ý kiến gì
khác. Mỗi tháng các học sinh được ăn 15 cân lương thực, trong đó có đến ba mươi
phần trăm là chất độn. Chất độn có thể là mỳ bột hoặc ngô say ghế lẫn với gạo.
Buổi sáng, mỗi người được ăn bữa phụ bằng một cái bánh mỳ luộc nhỏ như nắm
tay trẻ con. Mặc dù cái bánh chả ngon gì nhưng vì hàng ngày ăn uống luôn luôn
thiếu nên dù không ngon cũng không ai bỏ. Bữa trưa và chiều thì ăn bữa chính có
cơm và vài món thức ăn. Đang sức ăn, sức lớn bây giờ không đủ no nên hầu như
anh, chị nào cũng thèm cơm. Có một điều không biết tại sao luôn thiếu ăn như vậy
nhưng các cô, các cậu đều cứ lớn vượt trội hẳn lên.
Trong mấy tuần gần đây quân
Mỹ tập trung tăng cường đánh phá vào Thái Nguyên nên mỗi buổi học lớp cứ phải dừng
để ra hầm trú ẩn ba bốn lần. Những lần đi sang nhà máy bây giờ cũng không còn
được an toàn nữa. Nhà máy điện Thái Nguyên bị đánh phá mấy lần liên tiếp. Khu
điều khiển trung tâm và cả cầu vượt từ đó sang nhà máy chính cũng bị làm sập. Rồi
cả khu vực đuôi lò cũng bị bom làm hư hại nhiều. Những tầng tầng, lớp lớp các sọt
xỉ che phủ bên ngoài cũng chả giúp che chở được. Cả khu tập thể và cái căng tin
hàng ngày vẫn bán và phân phối nhu yếu phẩm cũng bị sập đổ tan tành. Số gia
đình công nhân ở trong khu tập thể cũng phải sơ tán vào mãi tận rừng xanh, núi
đỏ.
Ban ngày các lớp đều tập
trung vào học lý thuyết cơ sở và lý thuyết chuyên môn, ban đêm lại sang nhà máy
tham gia lao động. Những kiến thức mà các học sinh hàng ngày được học hầu như mới
mẻ hoàn toàn đối với tất cả mọi người. Phần lý thuyết cơ sở bao gồm có vật liệu
cơ khí, điện học, nhiệt học, vẽ kỹ thuật, nguyên lý và cấu tạo của máy tua bin
và lò hơi cho nghề vận hành và sửa chữa lò, máy. Phần học về chuyên môn thì có
các công nghệ gia công cơ khí với ba bốn năm nghề như rèn, gò, tiện, nguội và cả
nghề hàn điện, hàn hơi. Các bài về sửa chữa gồm thêm cả các phần về tháo lắp,
căn chỉnh và cách sửa chữa từng bộ phận khi chúng bị hư hỏng. Việc học lý thuyết
đối với mọi người xem ra rất mơ hồ, chỉ đến khi thực hành các học sinh mới được
vỡ vạc ra đôi chút. Cuối cùng thì khoá học cũng đến lúc kết thúc sau mười mấy
tháng trời vất vả.
Trong thời gian vừa quaT,
ngoài việc đánh phá nhằm ngăn cản ta về mặt quân sự, bọn Mỹ còn tập trung phá
hoại ta về kinh tế. Các nhà máy điện là mục tiêu hàng đầu ở lĩnh vực này. Trên
miền Bắc có mấy cái nhà máy điện thì bấy nhiêu cái bị đánh phá, nên đa số
các nhà máy đều đang cần khôi phục, sửa chữa ngay để kịp thời cung cấp điện cho
sản xuất và chiến đấu. Lẽ dĩ nhiên là rất cần có thêm các công nhân sửa chữa để
thực hiện nhiệm vụ này. Cũng chính vì vậy nên mới qua một năm các học sinh đã
phải ra trường mà chả cần đủ mười tám tháng như chương trình học đã thông tri
trên giấy gọi.
Năm nay nhà trường
thay phương pháp tổ chức thi tốt nghiệp từ việc làm bài trên giấy bằng vấn
đáp ngay trên hội trường. Các thầy phải đổi khối dạy để tổ chức thi cho khách
quan. Có lẽ các thầy biết khá rõ về kết quả học của Hằng nên hầu như các thầy
chỉ hỏi những câu hỏi chính mà không cần đặt câu hỏi phụ nên Hằng thi rất nhanh
chứ không như các bạn khác luôn bị các thầy vặn vẹo cho đến là khổ. Cùng với kết
quả thi đạt điểm năm cho toàn bộ các môn học Hằng được nhà trường khen và được
cả Đoàn thanh niên khen về thành tích học tập và lao động. Sau này thầy giáo chủ
nhiệm lớp sửa chữa tua bin có nói với cả lớp rằng Hằng là một trường hợp chỉ có
một từ trước đến giờ và có lẽ cả về sau này nữa cũng khó có thể có lại trường hợp
như thế này một lần nữa. Đọc đến chỗ này có thể có người nghĩ đây là truyện ký
và đoạn trên có phần hư cấu theo thể truyện. Cũng xin nói rằng đây là đoạn sự
thật viết theo thể ký. Với toàn bộ các điểm tổng kết và điểm thi của các môn đạt
điểm năm, Hằng là một trong những học sinh học vào loại khá nhất của trường lúc
đó, nên đi đâu Hằng cũng được các thầy các bạn biết đến.
RA TRƯỜNG
1
Tất cả các bạn trong lớp đều
đã có danh sách chuyển về các đơn vị trong ngành. Đoàn thì về ngay nhà
máy điện Thái Nguyên, đoàn thì đi nhà máy điện Uông Bí, đoàn thì đi Hà Bắc,
cũng có một số có cha, anh trong ngành đến tận trường xin chuyển cho con cái của
họ. Lớp của Hằng có đến mười hai người đi Thanh Hoá, số còn lại thì đi Nam Định
và bổ sung con số cho các đoàn khác. Chỉ còn có mỗi Hằng là vẫn chưa có tên ở một
đoàn nào. Số nhà gần thì đã ba lô khăn gói đi ngay từ chiều hôm nghe thông báo,
chỉ còn những người ở xa phải chờ cắt lương thực, hộ khẩu là sẽ lên đường.
Các thầy thì đi vắng cả,
còn lại ai thì cũng bận họp liên miên, chả lẽ lại cứ xông vào chỗ các thầy đang
họp để hỏi thế thì bất lịch sự quá, rõ là sốt ruột mà không biết làm gì. Cũng
đành về nhà cụ Tô Long nằm khèo một chỗ, đánh giấc để chờ vậy.
Giật mình dậy thì trời đã
muộn Hằng vội vàng đi ra Thác Lở để tìm thầy chủ nhiệm. Vừa gặp đã nghe thầy
nói:
- Thầy đi tìm để thông báo
cho em biết quyết định của trường mà không biết em bỏ đi đâu.
Sau khi hỏi han đôi chút về
nguyện vọng thầy kín đáo nói cho Hằng biết quyết định của trường về việc giữ Hằng
lại để làm giáo viên của trường. Thầy dặn cứ bình tĩnh chờ đợi thông báo chính
thức của trường. Lúc chi tay thầy còn nhấn mạnhS, thầy bảo:
- Việc này đã bàn từ
lâu, bây giờ chỉ còn chờ hiệu trưởng duyệt lại một lần để rồi ra quyết định là
xong.
Hằng ra về với sự băn khoăn
lớn mà không biết nói cùng ai. Kể ra mà nói việc được giữ lại ở trường là điều
mong ước của rất nhiều người, chỉ có Hằng là lại không thấy thích lắm. Cái điều
mà Hằng không thích xưa nay là công việc giấy tờ, công việc ngồi bàn giấy vậy
mà ở lại dạy học thì chả phải cái nghiệp bàn giấy đó là gì . Tuy nghĩ vậy nhưng
Hằng không thể nói ra vì nói ra về cái sự thích hay không thích ấy là không yên
tâm công tác, không chấp hành kỷ luật, không chấp hành nhiệm vụ rồi thiếu vững
vàng tư tưởng lập trường. Ngày ấy không kể chỉ có đảng viên, đoàn viên mà cả những
ông bà dân thường khác cũng phải giữ vững lập trường tư tưởng.
Đã qua đi một ngày, số học
sinh còn lại ở trường chả còn lại bao nhiêu vậy mà Hằng vẫn chưa nhận được
thông báo gì về công tác của cậu. Chiều nay các thầy sẽ họp xong nên có thể quyết
định sẽ khá muộn đây, Hằng nghĩ thế rồi đi đi, lại lại từ nhà ra trường để chờ
thầy chủ nhiệm.
Có lẽ Hằng đi lại đến ba lượt
thì mới gặp được thầy. Từ xa nhìn thấy thầy hình như có chuyện gì buồn thì phải
nên Hằng không vội vã đến với thầy như mọi khi. Cậu cố tìm hiểu trong đầu và dự
đoán linh tinh các lý do có thể xảy ra, nào là thầy gặp chuyện buồn trong gia
đình, thầy có khúc mắc với thầy nào khác trong lúc họp chiều nay.
Thế rồi cái sự buồn ấy cũng
được thầy nói ra. Câu nói của thầy có vẻ chậm rãi hơn ngày thường, hình như thầy
cố chọn cách nói thế nào cho nhẹ nhàng nhất:
-Trường mình thế là sẽ phải
giải thể em ạ!
Thầy dừng lại chờ xem Hằng
có hỏi gì không. Có lẽ thầy nghĩ cứ để cho Hằng từ từ hỏi còn thầy giải thích
có lẽ sẽ làm cho câu chuyện đi đến đoạn kết bình ổn hơn chăng!
Thế rồi quả nhiên cách nói
của thầy đã đưa được Hằng vào quỹ đạo của thầy. Chờ mãi mà chưa thấy thầy nói
gì thêm Hằng đành hỏi:
- Có lẽ thế thì trường chẳng
cần thêm giáo viên nữa phải không thầy?
Thầy không trả lời thẳng
vào câu hỏi của Hằng mà thầy lại dùng câu hỏi để hỏi lại:
- Không còn được ở lại trường
nữa em có buồn không?
Lần này thì Hằng lại im lặng
làm cho thầy phải nhìn thẳng vào Hằng như có ý bảo hãy trả lời tôi đi chứ.
Tuy rằng Hằng cũng chẳng có
ham thích ở lại trường nhưng mà từ khi thầy bảo cho Hằng biết, Hằng coi như mọi
sự đã an bài rồi, đến nay lại thay đổi trách nào không thể không thấy cụt hứng,
không buồn, không khó chịu. Hằng cũng không trả lời thẳng vào câu hỏi của thầy
mà lại trả lời thầy bằng một câu hỏi:
- Thưa thầy…Không biết em sẽ
đi đâu?
- Em sẽ đi Thanh Hoá! Trong
ấy họ cần rất nhiều người để khôi phục nhà máy vừa bị đánh phá. Cũng hơi khó
khăn đấy nhưng thầy tin là em sẽ vượt qua!
Đây cũng là buổi nói chuyện
cuối cùng của thầy với Hằng, bởi ngày mai thầy được trường cho nghỉ phép về quê
ở mãi tận Thái Bình đến hơn mười ngày thì phải. Trong câu chuyện tiếp theo giữa
hai thầy trò Hằng nhận thấy hình như thầy muốn khoả lấp cái sự ân hận vì đã
gieo vào lòng cậu học sinh yêu quý của mình một sự mừng hụt quá lớn.
Hằng không còn buồn về cái
sự ở lại trường hụt nữa mà lại nghĩ về cuộc đi Thanh Hóa của mình sắp tới với
bao nhiêu lo lắng, ưu tư. Hằng cũng nói về điều đó cho thầy nghe và khuyên thầy
đừng buồn về sự việc vừa qua vì thực tế Hằng cũng không thích ở lại trường. Chắc
thầy không tin điều đó là thật mà chỉ cho rằng cậu ta nói vậy để cố an ủi mình
mà thôi. Dù sao thì cả hai thầy trò cũng đã tươi tắn trở lại. Hai thầy trò chia
tay chào đi, chào lại trong khi hoàng hôn đang tím dần đi nơi xóm núi Thác Lở đầy
kỷ niệm.
2
Sau một vài ngày về qua nhà
chơi bời với các bạn bè và người thân Hằng lại gói ghém đồ đạc để đi nhận công
tác. Hằng cũng biết là đi Thanh Hoá bây giờ là vào nơi chiến tranh nguy hiểm,
nhưng cái sự nguy hiểm nó đến mức nào thì Hằng không biết, cho dù Hằng đã một
vài lần gặp các cuộc oanh kích của bọn giặc lái Mỹ ở Mẹt, ở Thái Nguyên. Tuy
nhiên sau mỗi đợt bom rơi đạn nổ thì mọi cái lại trở về trạng thái yên tĩnh nên
cái sự chiến tranh cũng chẳng làm Hằng để tâm đến. Mẹ Hằng thì lo lắng lắm
nhưng thấy con trai cứ tươi hơn hớn thì cũng thấy yên tâm hơn. Bà nhắc lại câu
mà bà bảo đấy là lời bố Hằng nói lại sau khi xem đi xem tử vi của cậu từ hồi cậu
còn bé tý.
- Bố mày bảo bỏ mày ở bờ
tre, mày cũng không chết được.
Bà mẹ của Hằng là người
không biết chữ, nhiều điều mà bà hiểu biết thường ngày đều là do bà nghe lại từ
sự truyền khẩu từ người này qua người khác. Lẽ tất nhiên là bà rất tin ở chồng
vì trong con mắt bà, ông là người hiểu biết hơn nhiều người khác nên ông đã nói
là sẽ không sai.
Cũng không biết bà có tin
thật về lời dự đoán của chồng không hay là bà chỉ muốn nhắc lại lời của ông để
tự trấn an mình khi đứa con trai bé bỏng của mình sinh ra trong đói rét rồi lại
nuôi nấng trong khó nhọc lắm mới lớn được ngần này sắp sửa đi vào nơi bom rơi,
đạn lạc chín phần chết mới có một phần sống.
Hằng ra đi vào một buổi chiều
mùa đông ảm đạm chẳng có cỗ bàn chia tay như nhiều người khác và chẳng có ai
cho quà cáp hoặc tiễn đưa. Cũng vẫn là cái ba lô và một số đồ đạc mang từ trường
về, hôm nay lại vẫn nguyên như thế để ra tầu. Chuyến tầu đêm Yên Viên sang Hà Nội
chuyển tầu đi thanh Hoá tại ga Hàng Cỏ vào lúc hơn mười giờ. Tầu thời chiến
không thắp đèn để phòng máy bay giặc phát hiện đánh phá vậy mà cũng chật ních
như nêm cối. Có lẽ tầu quá dài và lại phải chờ các tầu khác nên nó đi chậm rì
rì như rùa bò. Từ trong tàu nhìn ra chỉ thấy một màu đen của bóng tối cùng với
những lùm cây, nhà cửa cũng một mầu đen thoắt hiện thoắt ẩn. Bên trong tầu mùi
hơi người nồng nặc thật khó chịu, nhất là lúc tầu dừng lại chờ đợi hàng tiếng đồng
hồ. Mọi người đều mệt mỏi thiếp đi dựa ngả vào nhau im lặng sau khi đã tranh
nhau kể về chiến thắng này, chiến thắng khác ở miền Nam, rồi lại đến chuyện ta
bắn rơi máy bay ở chỗ này, chỗ khác trên miền Bắc.Thực ra thì những tin tức
trên đã được các đài phát thanh phát cả ngày rồi và có lẽ mọi người đều đã biết,
thế nhưng mà họ vẫn cứ muốn nói để mà tự hào về những gì mà ta đã làm được
trong cuộc chiến giữa một đất nước nhỏ bé với một tên đế quốc đầu sỏ đứng đầu
cái thế lực thực dân, đế quốc của cả thế giới này.
Trời đã sáng rõ dần ra, mọi
người đã tỉnh cả dậy và trở lại không khí ồn ào, ầm ĩ vốn có ở chỗ đông người.
Tầu đã dừng hẳn lại sau một cú phanh giật lên, giật xuống mấy lần. Một giọng
nói ề à theo kiểu nhà tầu cất lên thông báo về điểm trả khách cuối cùng bởi cầu
Lèn bị hỏng chưa chữa xong, đường từ ga Thanh Hoá ra Lèn cũng vừa bị hỏng đêm
qua, nên tầu tăng bo ở ga Thanh Hoá cũng không ra được. Thế là lại phải cuốc bộ
dài dài đây, thật là cái số không may! Sao mà lắm cái không may đến thế.
Đang lóc ca lóc cóc với mấy
thứ đồ đạc trên vai sải bước cùng với mồ hôi toá ra ướt đẫm cả lưng áo thì nghe
có người gọi rối lên ở đằng sau. Kể ra thì nghe gọi đúng là tên mình nhưng cậu
lại nghĩ trên đời này thiếu gì người có tên như thế, hơn nữa chỗ này làm sao
mình có người quen được nên cậu chẳng thèm quay lại. Mãi đến khi có ai đó vỗ
vào vai cậu mới giật mình quay lại. Đang định nổi đoá với cái người vừa làm cậu
giật mình thì cậu lại há hốc mồm ra vì không phải ai khác mà là mấy cậu bạn
cùng học một lớp của trường điện Thái Nguyên.
Trông thấy dáng điệu bơ phờ
lôi thôi, lếch thếch của các cậu bạn làm cậu buồn cười quá, tý nữa thì sặc nước
lên mũi. Cậu nghĩ có lẽ mình cũng giống mấy cậu bạn này nên hết ngẩng lên lại
cúi xuống tự ngắm lại mình. Bắt tay nhau xong rồi tất cả lại cùng vừa đi vừa
trò chuyện. Chuyện ồn ào hơn cả là Thạch Văn Bát quê ở Yên Viên, Gia Lâm. Bát
mang ít đồ nên cậu ta đi rất khoẻ, kể chuyện như một cái máy. Lì xì ít nói hơn
cả là Nguyễn Văn Mở quê ở Vân Trì, Đông Anh. Mở vừa thấp lại vừa bé nhưng gói đồ
thì lại to quá trông cậu ta cứ như một cậu bé con.
3
Quãng đường đi cũng đã
dài mà hình như càng ngày người đi đường lại càng thưa hơn thì phải. Sau
khi vượt qua chiếc cầu sắt không có lan can được kê đỡ bằng những chồng tà vẹt
từ dưới sông lên thì lại đến một chiếc cầu sắt đầy vết đạn cùng những thanh lan
can cong queo rỉ đỏ, những tấm ván gỗ lát sàn bong ra rải rác trên mặt
thì các cậu không còn đường đi nữa. Đang thất thưởng vừa đi vừa ngó nghiêng,
đoán già, đoán non xem đây có phải là cầu Hàm Rồng hay không thì có một người mặc
quần áo gụ, dáng chừng là một nông dân vội vã đi ngang qua đầu cầu, thế là tất
cả đều xô lại để hỏi thăm. Người ấy cũng không dừng lại mà còn đi nhanh hơn, vừa
đi người ấy vừa trả lời:
- Đây chính là cầu Hàm Rồng
đấy, các anh mau đi nhanh xuống phía cầu phao Nam Ngạn mà sang. Bây giờ đã gần
đến giờ cao điểm, nó lại sắp đánh bây giờ đấy, mau đi nhanh lên!
Nghe đến đây thì các cậu mới
giật mình hoảng sợ vội vàng chạy một mạch bên dưới chân một hòn núi đá loang lổ
vết bom đạn để xuống đê tìm cầu phao Nam Ngạn. Đến khi qua được cầu phao rồi
các cậu mới thấy được cái sự mệt mỏi do quá gắng sức. Mãi cho đến lúc này Hằng
vẫn không khỏi ngạc nhiên về chuyện cái cầu và cả quang cảnh yên tĩnh trên suốt
quãng đường đi từ sớm đến giờ. Hằng không thể ngờ rằng mình đã vừa đến được Hàm
Rồng, nơi mà mới chỉ ít tháng trước đây được nhắc đến như là một nơi khốc liệt
của chiến tranh. Còn nữa, nơi mà cả nước ngưỡng mộ bởi những chiến công oanh liệt
vào loại bậc nhất trên miền Bắc của những con người và mảnh đất nơi đây. Cái ngọn
núi lở lói kia có phải là núi Ngọc hay không mà sao tất cả đều im lặng, bình thản
đến lạ kỳ.
Vừa đi vừa quay nhìn lại
nơi mình vừa mới đi qua Hằng nhận ra một khu vực nhà cửa khá đồ sộ nhưng đã bị
bom đánh trơ ra. Các bức tường gạch đỏ nham nhở vết thương bên cạnh là những
thanh sắt như những con rắn ngóc đầu uốn lượn thành những đường cong kỳ dị phô
cái màu rỉ nâu đỏ trông đến thảm hại. Từ xa nhìn lại ta như thấy cả sự hoang
tàn đổ nát của nó hiển hiện trên bầu trời màu chì xám ngắt, có cái gì đó làm
cho ta phải gai gai trong ý nghĩ về những gì rất nguy hiểm sẽ sắp sửa xảy ra.
Cầu phao là những đám tre
luồng, ván gỗ hỗn độn lát trên những thùng phao bằng thép nối vào nhau nổi trên
mặt nước. Những khi yên tĩnh các phao được chắp nối vào nhau cho người và xe đi
qua, những khi có máy bay thì lại được tháo ra sơ tán dọc theo hai bờ đê. Kể ra
mà nói thì đáng lẽ ra lúc này cầu đã phải tháo ra để sơ tán, nhưng vì thời tiết
hôm nay có vẻ xấu, giặc Mỹ cũng ít hoạt động vì thế nên cầu vẫn còn để đến bây
giờ. Số khách qua cầu cũng đã được nhắc nhở đi nhanh để cho các nhân viên tháo
cầu sơ tán.
Con đường đê nối từ đầu cầu
phía nam vòng vào giữa làng Nam Ngạn rồi đi tiếp lên phía thị xã chắc đã nhiều
lần được đổ đá nên bề mặt có vẻ cứng. Rải rác có các đoạn bị bom đánh đã lấp lại
nhưng vẫn tạo ra một khoảng lõm gồ ghề khá lớn chứa trong đó những ổ bụi ngập
qua mắt cá chân, mỗi lần có cậu dẫm phải lại làm cho cả bọn chạy té ra hai bên
để tránh. Vừa mới bắt đầu chạm vào đầu làng Nam Ngạn thì cả bọn gặp hai ông già
mặc áo bảo hộ đạp xe đạp từ phía thị xã đi ra. Hằng nghĩ có lẽ đây là những
công nhân ở trong khu vực này nên hỏi có thể họ sẽ biết cơ quan nhà máy điện ở
đâu. Nghĩ thế nào làm thế ấy cậu liền đứng ra gần giữa đường có ý ngăn họ lại để
hỏi thăm:
- Hai bác cho cháu hỏi thăm
một tý ạ? Hai vị khách mặc áo bảo hộ liền phanh xe dừng lại, một người cao lớn
có khuôn mặt rất vui cất tiếng sang sảng hỏi lại:
- Các anh hỏi gì nhỉ?
Hằng mau mắn trả lời:
- Chúng cháu ở trường điện
lực được cử về Nhà máy điện Thanh Hoá công tác mà tìm mãi vẫn không biết cơ
quan ở đâu, không biết các bác có thể chỉ đường hộ cho chúng cháu được không ạ!
- Thế hả! Chúng tôi là nhà
máy điện đây.
Bác cao lớn vừa trả lời vừa
chỉ tay vào người thấp nhỏ đi cùng với mình và nói như có ý giới thiệu:
- Bác này là bác Hổ tổ trưởng
tổ sửa chữa máy, còn tôi là Long tổ trưởng tổ sửa chữa lò. Có cậu nào học sửa
chữa lò không đấy?
- Dạ, chúng cháu đều là sửa
chữa ạ, có cả lò và máy.
- Thế thì tốt quá rồi, bây
giờ chúng tớ phải ra nhà máy, các cậu cứ theo con đường lớn này mà đi đến ngã
ba Bia thì hỏi thăm đến khu nông lâm thổ sản là nơi phân xưởng cơ điện sơ tán về
đó.
Nói xong hai ông già lại
giơ tay chào rồi tiếp tục lên xe đi ra phía đầu cầu. Tất cả mấy anh em cũng bắt
đầu cuốc bộ về phía thị xã Thanh Hoá.
4
Vừa đi vừa hỏi thăm mãi rồi
cũng đến được phân xưởng Cơ điện. Những người gặp đầu tiên lại chính là các cậu
cùng lớp quê ở Thái Bình và Nam Định. Sau một hồi líu ríu chuyện trò, hỏi han
nhau xong các cậu vào trước dẫn số mới lên gặp lãnh đạo trên phân xưởng. Không
may cho các cậu là ông quản đốc lại lên nhà máy để họp, thế là các cậu đành kéo
nhau về phòng của các bạn để nghỉ. Số bạn vào trước lại xuống nhà ăn báo cơm hộ
rồi cả lũ kéo nhau ra ngoài phố uống nước. Với cái phố thị xã thời chiến lúc
này thì cũng chẳng có gì đáng kể gọi là ngon để mà đãi nhau. Quanh đi thì nước
mía, quanh lại cũng chỉ có nước dừa, uống mãi chỉ tổ đầy bụng, thế là lại về
nhà. Mệt mỏi và buồn Hằng ngủ một mạch đến lúc mấy cậu bạn gọi đi ăn cơm mới dậy.
Xuống nhà ăn cậu thấy ai ai
cũng lạ, mỗi người đều có những bộ cặp lồng hoặc ít ra cũng có mấy cái bát men
to để đựng cơm canh và thức ăn mặn còn Hằng chẳng có một thứ gì. Đang không biết
xoay xở ra làm sao thì có một người mang đến cho mượn bộ cặp lồng men vàng, người
ấy lại bảo:
- Mấy thằng ấy nó ăn xong
đã kéo nhau đi chơi hết cả rồi, chú mang đồ vào lấy cơm ăn đi không có nguội.
Lúc ấy Hằng cũng không biết
anh ấy là ai, mãi đến sau này cậu mới biết người hôm ấy cho mượn cặp lồng là
anh Tảo làm trong tổ máy mà sau này cậu cũng về làm việc ở đó.
Mãi tới chiều hôm sau số
công nhân mới được phân xưởng bố trí về các tổ. Tất cả mọi người đều được bố
trí vào các tổ theo đúng với nghề của mình. Lò về Lò, máy về Máy, chỉ có một
vài người được về các tổ trong mô hình mới của phân xưởng ví như Thảo thì về tổ
Van. Cũng có một số vào trước thì lại bị bố trí sang phân xưởng vận hành như
Nhâm, Hưng, Vũ.
Hàng ngày các tổ đều phải
đi bộ từ nơi ở ra nhà máy để làm việc. Quãng đường đi cắt ngang một cánh đồng
khá rộng, vòng qua làng Đông Tác, bắt vào khe núi Cánh Tiên rồi mới vào nhà
máy. Trên suốt dọc đường là những hố bom sâu hoắm, cái mới giáp vào cái đã cũ,
nếu nhìn từ trên cao xuống ta cảm thấy giống như một cái bánh đa nướng với những
chỗ phồng lên xẹp xuống kề cận bên nhau.
Khu vực nhà máy còn bị tàn
phá càng ghê gớm hơn sau ba ngày từ hai mốt đến hai ba tháng chín năm sáu sáu.
Toàn bộ khu lòng chảo của nhà máy được bao lại bởi phía bắc là khu công nghiệp
máy xay cùng với đường đê nam sông Mã, phía tây là con đường sắt cùng với cầu
Chui chạy dọc chân núi Mắt Rồng, phía nam là dãy đồi Quyết Thắng và phía đông
là núi Cánh Tiên đã bị giặc Mỹ đổ xuống hơn bẩy ngàn tấn bom đạn. Theo như đài
địch tuyên truyền lúc bấy giờ là chúng đã huỷ diệt hoàn toàn nhà máy điện này của
Việt Cộng. Sự thật phải nói rằng hầu như toàn bộ mảnh đất đã bị cày xới, đào
ngoáy lên không còn sót một chỗ nào rộng quá chục mét vuông. Còn việc có huỷ diệt
được như kẻ thù đã nói thì hoàn toàn không, bởi vì sau đó không lâu nhà máy lại
đã phát điện trở lại. Có điều đáng nói là cho dù ác liệt là thế mà đơn vị vẫn
bám lò, bám máy để sản xuất, sự mất mát lớn nhất lúc ấy là sự hy sinh của
một người chiến sĩ tự vệ nhà máy.
Công việc sửa chữa chính
bây giờ là làm sao để nhà máy sớm đi vào hoạt động. Ngoài những việc tháo gỡ
các dầm xà bê tông nặng hàng dăm chục tấn ra khỏi các thiết bị còn có một việc
là phải hàn vá mấy miếng thủng trên mình nồi hơi. Đây là việc nan giải nhất cần
phải bàn bạc, bởi việc hàn vá nồi hơi là việc không được phép làm trong quy
trình quản lý và sử dụng các thiết bị áp lực.
Thực ra những người chủ
trương hàn vá nồi hơi không phải họ không biết điều đó, họ đã nghĩ rằng họ
có thể gặp điều không may do làm sai quy trình, nhưng họ hiểu sẽ còn không may
hơn là nếu không có điện phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu, thì rồi cái sự
tàn sát của kẻ thù còn làm cho cái sự chết chóc lớn hơn thế rất nhiều. Sự quả cảm
và ý chí quyết thắng đã cho họ có một tiếng nói chung là phải làm cho bằng được.
Ngay sau khi có chủ trương
hàn vá nồi hơi là công việc được tiến hành ngay. Những người cán bộ đảng viên
và những bộ phận có chuyên môn này được huy động tới mức cao nhất. Lực lượng
công nhân mới cũng được tập trung vào công việc ngay trong những ngày đầu tiên
về phân xưởng. Đắp lò, cắt phôi, nung phôi cho đỏ rực lên rồi dùng búa cái bẩy
cân thay nhau đánh xuống bề mặt những tấm tôn thép dày gần ba mươi ly để uốn
thành các tấm có hình cong phù hợp với hình dáng của nồi hơi. Rồi cắt gọt, tạo
vát, đánh bóng cả chỗ thủng lẫn miếng vá chuẩn bị cho công nghệ hàn vá. Sau này
Hằng được biết công việc ban đầu mà các cậu đã được tham gia ở một vài công đoạn
đã được thực hiện thành công và được ca ngợi hết lời trong ngành điện.
5
Những ngày sống ở ngã ba
Bia thật là náo nhiệt, náo nhiệt bởi đám trẻ mới từ vùng ngoài chuyển vào
ăn chơi, phá phách. Chỗ nào cũng thấy bóng dáng của họ lồ lộ ra bởi sự khác lạ
trong ăn mặc, đi đứng, nói cười, cả trong lúc đi làm việc cũng như trong khi họ
vui chơi. Nhất là những ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ, họ ở xa không thể về nhà
được, thế là từng đoàn kéo nhau đi rong khắp các phố từ sáng đến chiều.
Từ lâu nay những người dân ở
cái thị xã của khu vực giáp khu Bốn miền Trung này luôn sống rất bình lặng cả về
mọi mặt, thế mà chỉ sau có mấy ngày những cái đầu xoáy tây Đức, những bộ tóc
mai uốn cong, những đuôi tóc rậm rạp ốp vào gáy chờm ra cả bên ngoài cổ áo cứ bất
chợt xuất hiện làm cho lớp người lớn cảm thấy khó chịu khi gặp ngoài đường, còn
lũ trẻ mới lớn thì trố mắt ra mà nhìn với vẻ thích thú và tán thưởng, và
cũng không lâu sau đã gây phiền toái cho những ông thợ cạo về những yêu cầu
mới cho những cái đầu của họ. Lại còn quần áo của họ mới thật đáng sợ, có cậu
thì quần bó sát mông, sát cẳng, có cậu thì lại loè xoè với chiếc quần ống loe
mà lỗ miệng gấu quần rộng đến mức cả con lợn con chui vào cũng lọt.
Chỉ với mức lương bậc hai
thôi nhưng mỗi ngày đến nhà máy là mỗi người lại được thêm tiền đi đường, tiền
độc hại, tiền bồi dưỡng hiện vật thành ra mỗi ngày họ cũng được gần đến một đồng
nữa, nên lương của họ đã tương đương với lương của công nhân bậc năm chứ đâu phải
ít. Lẽ dĩ nhiên là họ tiêu pha xả láng bởi họ đều chưa có gia đình, chưa phải
lo toan cho ai khác ngoài cái bản thân của họ. Nhưng cái chính là họ xa nhà và
lại còn quá trẻ, cái sự ham chơi và cả cái bệnh sĩ diện, thích tỏ ra mình là
người sành điệu ăn chơi theo kiểu thành phố lớn mà ra. Kỳ thực thì đa số họ
sinh ra, lớn lên ở các vùng nông thôn là chính. Trước đó chưa lâu họ cũng
vẫn cày bừa, gặt hái lăn lê ngoài đồng ngoài ruộng như những người dân thôn quê
thực sự chứ cũng chẳng ghê gớm gì đâu. Tuy chơi bời vậy nhưng sự dũng cảm, lỳ lợm
trong bom đạn, sự cần mẫn, sáng tạo trong lao động sản xuất và các việc hoạt động
trong đời sống hàng ngày thì không ai có thể chê họ vào đâu được.
Công việc phục hồi nhà máy
gần xong về cơ bản thì việc phục hồi nhà máy thuỷ điện Bàn Thạch cũng đòi hỏi
phải nhanh chóng hoàn thành, thế là lại phải thành lập một bộ phận mới để làm
công việc này. Một chuyến ô tô tải với đủ cả người lẫn máy chồng chất lên đó để
đi lên Thọ Xuân làm việc đã khởi hành. Hằng và một số bạn ở các tổ khác cùng với
một số công nhân cũ đã lên Thọ Xuân ngay sau cuộc họp phân xưởng buổi chiều hôm
đó.
Sau khi dỡ hàng xong thì mọi
người được phòng hành chính của Bàn Thạch dẫn đi đến các nhà dân quanh khu vực
nhà máy để ở trọ trong những ngày phục hồi nhà máy. Hằng được dẫn đến một gia
đình ở ngay cạnh đường rẽ vào xí nghiệp Công nông của huyện Thọ Xuân cũng sơ
tán gần khu vực nhà máy. Cũng chỉ kịp ném cái túi du lịch bằng bạt cùng với
chăn màn quần áo xuống cái giường mà chủ nhà dành cho mượn xong là vác bát ra
nhà ăn để ăn cơm tối. Ngoài việc ăn uống các cậu trẻ còn chuyện vãn một lúc lâu
nên mãi tối mò mới về đến nhà trọ.
Rửa ráy xong xuôi Hằng mang
từ trong túi ra bàn một gói bánh nướng cùng với một gói nhỏ các loại kẹo của
công ty bánh kẹo Thanh Hoá làm ra và bán phân phối cho cán bộ công nhân nhà nước.
Gọi là bánh nướng cho sang vậy thôi chứ thực ra thì cái chất trong nó chẳng có
gì. Tất cả đều là bột mỳ trộn đường, ngào nước làm vỏ bọc một chút nhân bên
trong cũng bằng bột mỳ lẫn bột khoai với một tý đậu không biết là loại đậu nào
được trộn nhiều đường hơn một chút cho giống kiểu chè kho ở vùng ngoài rồi đem
nướng lên trong lò như nướng bánh mỳ vậy thôi. Còn kẹo thì càng thảm hại hơn nữa,
nó cũng được trộn bằng bột mỳ với đường rồi nhào lẫn với vài mảnh lạc rang, cán
ra cắt thành thỏi vuông bằng ngón tay cái bọc giấy vào là thành. Có lẽ nên gọi
nó là viên chè lam chế biến hơi khô thì đúng hơn, chè lam còn được làm từ gạo nếp
chứ kẹo của Thanh Hoá lúc ấy thì thật đáng ngại. Cánh công nhân trẻ vẫn
quen gọi loại kẹo này là gạch xỉ tro lò bởi nó tuy nhỏ nhưng màu của nó, dáng của
nó có cái kích thước rất tỷ lệ với viên gạch được đóng bằng xỉ lò với một chút
vôi rất chi là khiêm tốn. Kể ra mà nói thì lúc ấy có những thứ ấy cũng đã
là quý lắm rồi vì chỉ ở cơ quan nhà nước mới được phân phối còn ở ngoài thị trường
làm gì có mà mua vì vậy mà mấy đứa trẻ con nhà chủ vẫn rất say sưa ăn đến viên
kẹo cuối cùng, lẽ dĩ nhiên là các cô, các cậu nhí rất thích ông anh công nhân
trẻ và trắng như con gái vừa đến ở nhà mình.
Sau khi hỏi han về gia đình
rồi quê quán của người đến ở trọ xong cả ông lẫn bà đều xởi lởi thông báo về
hoàn cảnh của nhà để cho cậu khách bất đắc dĩ tiện trong sinh hoạt hàng ngày.
Qua thông báo của nhà chủ Hằng biết được nhà có người con lớn là một cô bé mới
độ mười sáu tuổi cao lều nghều vừa chạy ở đâu về là thụt ngay vào buồng với mẹ.
Thế có lẽ cũng tốt, cũng đỡ cho mình khỏi phải giữ ý, giữ tứ; một việc mà cậu vẫn
rất ngại từ trước đến giờ.
Máy thuỷ điện của Bàn Thạch
công suất rất nhỏ, cả ba máy chỉ có chín trăm ki lô oát, được đặt đứng xuyên
qua ba tầng nhà máy. Phần dưới cùng là buồng xoắn cùng với thùng côn, các cửa
hướng nước và ba cánh quạt của tua bin to như những cái nia. Phần giữa là cấu
trúc ổ trục định hướng bằng cao su cùng với các đường nước lọc bôi trơn cho trục
khi quay. Tầng trên cùng là máy phát điện cùng với thiết bị điều khiển và các
máy ngắt. Tất cả tầng trên được che chắn bằng một giàn gỗ xẻ xếp chồng lên mấy
lớp để phòng khi máy bay đánh phá không làm cho máy bị hỏng quá nặng. Lần đánh
phá vừa qua chỉ làm cho các thiết bị ngoài nhà máy bị hư hại, còn nhà máy chính
có lẽ chỉ bị nghiêng đi một chút thì phải. Tuy vậy công việc phục hồi
cũng không thể một sớm, một chiều mà xong được.
6
Các công việc phục hồi cuối
năm 1966 của nhà máy điện được kết hợp với việc vét đất cát trên lòng sông nông
giang khơi thông dòng chảy ở phía thượng lưu nhà máy do địa phương đảm trách
nên cùng một lúc có đến hàng mấy trăm người cùng làm việc trên một khu vực. Những
chàng trai, cô gái vừa làm vừa trêu ghẹo lẫn nhau, tiếng hò, tiếng hát ầm vang
tưởng như đất nước đang ở khung cảnh thanh bình nếu như thỉnh thoảng không có
tiếng rít của các máy bay Mic cất cánh bay lên từ phía sân bay Sao Vàng gần đó
để cảnh giới và chặn đánh bọn Thần Sấm, Con Ma của Mỹ vẫn cắn trộm hàng ngày.
Cũng chỉ không quá mười
ngày thì đám dân công của các xã quanh khu vực nhà máy cũng đã rút hết chỉ còn
trơ lại mấy người công nhân sửa chữa. Công việc phục hồi ở khu cửa điều tiết,
khu âu thuyền và cả các cửa cống thượng lưu tuy nhiều nhưng lại đơn giản nên số
công nhân sửa chữa cũng đã rút bớt về thị xã, chỉ còn bốn năm người của tổ máy
là phải ở lại. Trong số họ hầu như đều đã có gia đình cả chỉ còn ba người chưa
có gia đình thì trong đó Loan đã có người yêu sắp cưới, chỉ còn mỗi anh Khâu và
Hằng là chưa có một tý tình yêu nào. Kể ra mà nói thì cả anh Khâu cũng đã có ý
trung nhân rồi thì phải vì Hằng thấy các anh lớn vẫn nhắc đến để trêu anh Khâu
về một cô Hải nào đó ở cơ khí 250 và một cô Dung nào đó ở trên khối văn phòng của
nhà máy. Thường khi mọi người trêu, anh lại đưa hai tay ra khoanh một vòng từ
trên xuống dưới vẽ ra một không gian dựng đứng thắt nhỏ ở giữa còn hai đầu thì
phình ra cực lớn ý chừng như muốn bảo rằng mấy cô này lùn tịt còn mông và ngực
thì lại quá to nên khó chấp nhận được. Chỉ có Hằng là hoàn toàn chưa yêu ai cả
nên cậu rất vô tư luôn chỉn chu với công việc hàng ngày.
Sau tám tiếng ban ngày lại
đến bốn tiềng ban đêm, về đến nhà là cậu lăn ra ngủ không còn biết giời đất là
gì nữa. Kẻng báo động máy bay khua ầm khắp xóm mà cậu cũng chẳng chịu ra hầm. Hết
bác trai lại đến bác gái chủ nhà vào dựng dậy cậu cũng chỉ nhỏm dậy một tý rồi
lại ngã kềnh ra giường ngủ tiếp. Cũng có lần cậu bị đánh thức thì bất chợt thấy
cô bé Hương con nhà chủ đang lôi tay kéo dậy. Lần ấy vì thấy cô ấy cầm tay kéo
nên cậu đành phải dậy đi ra hầm, tuy vậy nhưng mà cậu cũng chỉ ngồi ngay trên
miệng hầm mà không chịu xuống bên dưới.
Công việc sửa chữa khó khăn
nhất là việc căn chỉnh độ thẳng đứng của cả hệ trục và độ trùng tâm của các đoạn
trục nối với nhau mà từ trước đến nay chưa phải động đến. Lần này do bị đánh
phá nên hệ trục bị sai lệch quá nhiều, nếu không điều chỉnh lại thì không ai
dám quyết định cho chạy máy.
Việc căn chỉnh độ thẳng đứng
và độ đồng tâm của hệ trục được tiến hành bằng cách đo khoảng cách từ trục ra đến
các sợi dây dọi nằm ở bốn hướng quanh trục để biết độ sai lệch mà điều chỉnh.
Việc đo đạc, lấy thông số thường phải làm rất lâu mới xong. Nhưng để có thể căn
chỉnh được thì sai lệch của thông số trong quá trình đo đạc phải ở trong giới hạn
cho phép mới có thể đem ra tính toán được. Việc này không phải là một việc khó,
nhưng lại cần ở người đo có độ thính nhạy và thật sự đồng bộ giữa đôi tay và
đôi tai để đến khi vừa nghe thấy tiếng kêu sột soạt ở tai nghe là dừng tay vặn
Panme thì con số sẽ chính xác. Tuy vậy cái sự thính nhạy ấy không phải ai cũng
giống ai. Chính vì thế mà những người đo có kinh nghiệm nhất cũng chỉ có thể
tóm được một vài lần trong cả chục lần đo. Cái sự căn chỉnh buộc phải kéo dài
có khi cả ngày mà vẫn không xong là thế.
Sau mấy ngày Hằng cầm các cục
pin và tai nghe theo sát người đo mà vẫn không xong được máy nào thì cậu cũng
thấy nản. Lắm khi ngồi chờ đo buồn ngủ đến ríu cả mắt lại. Cứ mỗi lần thay đổi
vị trí là anh Khâu và anh Dưa lại phải gọi cậu dậy để chuyển chỗ. Mỗi lần bị gọi
dậy cậu lại lơ ngơ như mới lạc ở đâu về làm cho các anh ấy buồn cười đến rũ cả
ra:
- Bò lạc của nông trường
đây, chúng mày ơi!
Đo chán lại nghỉ uống chè
và hút thuốc lào, nước thuốc xong rồi lại đo nhưng cũng chẳng hơn gì.
Cũng đã mấy ngày rồi mà vẫn chưa xong lấy một tổ máy, ai cũng thấy mệt mỏi. Vừa
hút xong điếu thuốc anh Khâu vừa thở vừa phàn nàn về công việc với vẻ chán chường,
mệt mỏi. Lưng dựa vào thành Stato máy phát điện, hai chân để soải ra trên mặt đất
anh Khâu ngoái đầu về phía Hằng:
- Này! Da tay mày có vẻ mỏng,
lần này cho mày đo thử để tao cầm pin cho.
Suốt mấy ngày phụ đo vừa rồi
cậu cũng đã hiểu cách đo rồi nên nghe nói vậy cậu cũng chẳng từ chối mà đứng
lên để đo ngay. Cũng phải mất một lúc lâu cậu mới đo xong tám điểm đo.
Anh Khâu đặt bộ pin xuống để cầm lấy bản ghi các thông số của cậu rồi anh lại bỏ
ngay bên cạnh đó để hút thuốc lào vẻ như không tin là cậu ta có thể đo được.
Đang nói chuyện với mấy người
ngồi cạo rỉ cho đỡ buồn ngủ phía cửa ra vào thì nghe anh Khâu gọi váng lên:
- Này, cậu ghi chính xác đấy
chứ?
- Vâng! Em ghi đúng như khi
đo từng điểm một mà lại!
- Thôi lần này cậu đo xong
rồi cậu đọc cho tớ ghi xem sao.
Cũng chỉ trong một thời
gian ngắn cậu đã đo xong tám điểm trên trục, lần đo này có vẻ còn nhanh hơn lần
trước. Vừa tháo tai nghe ra, cậu đang định chạy đến chỗ mấy anh bạn để tiếp tục
câu chuyện dở lúc nãy thì anh Khâu lại gọi giật lại:
- Chớ đi vội, cậu đo lại
cho tớ một vài điểm này nữa xem sao.
Hằng lại tháo dây buộc
Panme đo theo chỉ dẫn của anh Khâu, có đến bốn điểm nữa thì anh Khâu mới bảo dừng
lại và ra hiệu cho cậu đi ra. Sau một hồi tính toán anh lại gọi cậu lại và bảo:
- Này cậu đo ghi đúng đấy
chứ?
- Anh ghi đấy chứ có phải
em đâu!
- Ừ! ấy là tớ bảo cậu không
được đọc số giả đấy nhé!... Kẻo đến khi máy hỏng là cả tớ và cậu đều vào nhà đá
tất.
Dừng một chốc anh Khâu lại
nói tiếp:
- Thôi, hôm nay thắng lợi
cho các cậu nghỉ sớm.
Nhìn đồng hồ trên tường thấy
đã bốn giờ, tất cả đều vòng xuống hạ lưu để rửa tay rồi ra về. Suốt cả mấy ngày
vật lộn với căn chỉnh, mãi đến hôm nay mọi người ra về mới cảm thấy nhẹ nhõm đi
đôi chút.
7
Chiều thứ bẩy hôm nay tất cả
nhóm được xả hơi sau gần một tháng làm liên tục cả ngày sang đêm không nghỉ.
Cái chính là muốn cho một số anh em ở gần về qua thăm nhà chứ còn cái bọn thân
đơn, gối chiếc như Hằng thì chỉ muốn làm nhanh cho xong để về thị xã cho sớm.
Hình như mấy hôm trước anh Côn bên vận hành có hẹn Hằng ở nhà để nói điều gì
thì phải, thế mà đã gần hai giờ chiều rồi vẫn chưa thấy đâu. Chờ mãi sốt ruột Hằng
quyết định đi lên huyện và một vài nơi quanh khu vực xem có gì hay không.
Vừa dạo bước trên bờ đê Hằng
vừa nghĩ nếu như không có chiến tranh phá hoại mà Mỹ đang tiến hành ở trên miền
Bắc thì có lẽ không khí nơi này chắc cũng rất vui. Làm sao không vui cho được với
một vùng quê đẹp tựa tranh như thế này. Làng Tây Hồ ở bên trái còn làng
Xuân Quang ở về mé bên phải của con sông nông giang tràn ngập một màu xanh ngăn
ngắt của dừa và các cây ăn quả khác. Xen kẽ với những tán cây là những mái nhà
lợp lá kè bàng bạc cùng với một đôi làn khói đang lên, ta như thấy có một cái
gì đó thật là gần gũi, gắn bó và thân thiết như chính nơi quê hương của mình vậy.
Lại nhớ hôm nào mới đến, dòng sông nông giang nước trong xanh chảy chầm chậm
bên dưới chiếc cầu xi măng uốn cong bắc qua trông thật nên thơ. Một vài con đò
nhỏ lách cách gõ mái chèo đuổi cá. Cũng có lúc thì cả một đoàn các bè tre nứa,
luồng gỗ nối đuôi nhau dừng trước âu thuyền để chờ dâng nước vào âu đi tiếp xuống
phía hạ lưu. Từng đàn trâu bò gặm cỏ trên các triền đê thoai thoải giống như
trên nền một tấm thảm xanh được gắn vào đấy những bông hoa chấm vậy. Xa xa hơn
nữa là những dãy núi nhấp nhô mờ trong sương khói trông thật huyền diệu. Thật
may mắn cho những người có một vùng quê đẹp như thế làm nơi chôn rau, cắt rốn.
Phố huyện Thọ Xuân cũng chỉ
có một vài ngôi nhà của các cơ quan huyện và các cửa hàng là to lớn hơn cả. Các
ngôi nhà dân thì nhỏ bé, kế tiếp nhau chạy dọc con phố. Có đến hơn một nửa số
nhà dân vẫn là nhà tranh, lá lụp xụp. Ngay tại trung tâm huyện là nơi tập trung
một số cửa hàng của nhà nước như cửa hàng hàng thực phẩm, cửa hàng bách hoá, cửa
hàng công nghệ phẩm xen kẽ cạnh nhau. Hàng hoá chủ yếu được công ty cấp ba phân
phối về để cung cấp cho các cơ quan. Qua hết đợt phân phối là hàng lại hết sạch
không còn gì cả. Các hàng lẻ của tư nhân cũng chẳng lấy gì làm phong phú cho lắm,
vì hàng ở đây cũng đều do được tuồn từ nơi sản xuất của nhà nước ra là chính.
Người bán cũng chỉ muốn ăn chênh lệch một chút gọi là đối với những người
không có tiêu chuẩn cung cấp.
Toàn bộ cái thị trấn ở vùng
trung du này nằm trong diện gần như nghèo nàn nhất trong cả nước. Có lẽ do sống
trong cảnh thời chiến nên họ cũng chẳng muốn củng cố, xây dựng làm gì, vì nay
bom, mai đạn chả biết có được nguyên vẹn hay không. Sau khi vào hàng kem mậu dịch
ăn vài cái cho đỡ nhớ Hà Nội rồi Hằng lại cuốc bộ để về Bàn Thạch.
Cũng đến nhá nhem tối Hằng
mới về được đến nhà ăn tập thể. Bác Trường cấp dưỡng mang cho Hằng một bát cơm
to và một bát canh rau ngót, một chốc bác mới lại mang ra cho cậu một đĩa thịt
kho, bên cạnh lại còn có một khúc cá nheo hầm lá riềng thơm phức.
- Bác Trường ơi! Sao hôm
nay phong phú thế?
- À chả là cậu về hơi muộn
nên tớ để dành hơi khá hơn một chút!
- Thế thì hôm sau cháu lại
về muộn.
- Còn có hôm sau nữa ấy à!
Có mà tớ cho cậu nhịn vì tớ cũng phải về nhà với vợ con tớ chứ.
Đến lúc này cậu mới nhận ra
là cậu đã làm phiền bác Trường thì chuyện đã rồi. Cậu vội nói như là có ý xin lỗi
bác:
- Đến lúc đó bác cứ treo
ngoài bờ rào cho cháu!
- Thế có mà…!
Bác Trường vừa nói đến đây
thì đã nghe ồn ồn ngoài cửa nhà ăn, đúng là giọng ông Khâu rồi! Không biết có
chuyện gì mà hối hả thế không biết được. Vừa thò đầu vào cửa nhìn thấy Hằng là
anh đã phán một thôi một hồi làm cho Hằng không kịp hiểu điều gì ra điều gì cả.
- Này cậu có biết người ta
đợi bao lâu không hả?
- Chiều nay anh cho nghỉ cơ
mà? Có việc gì đột xuất thế anh?
- Này cậu cũng thiên biến vạn
hoá vừa vừa chứ, hôm nọ mới bảo chưa có cô nào thế mà hôm nay có đến hai cô đến
hỏi thăm có chết không chứ?
- Anh nói thế nào chứ mãi
hôm nay em mới được đi chơi làm gì có quen ai mà có người đến hỏi thăm! Có
chăng là mấy cô dân công ở Xuân Thành hôm vào thau bể lọc thì anh cũng biết rồi
còn gì? Với lại hình như họ có cảm tình với anh thì đúng hơn chứ không phải cảm
tình với em.
- Chả lẽ cái cô Ba, Tư nào
đấy tròn như cái hạt mít ấy lại không phải là bạn của cậu?
- Làm gì có! Em thề đấy!
- Hay là cô ấy hỏi thăm Hằng
gò nhỉ? À mà hai cô này là do ông Côn điếc miền Nam dẫn đến mày ạ.
8
Cơm nước xong cả hai anh em
lại cùng ra về. Vừa đi Hằng vừa nghĩ chả lẽ anh Côn hẹn mình chiều nay đến là
vì việc của hai cô này. Không có thể thế được, vì từ khi mình vào Thanh Hoá
mình chưa quen ai, chắc có lẽ là hai cô này quen một Hằng nào khác mà anh Côn
ngộ nhận là mình. Mọi việc rồi cũng qua đi, mãi cho đến chiều hôm sau đang định
theo hẹn đi chơi với mấy anh ở vận hành thì anh Côn đến, anh Côn đến còn dẫn
theo hai cô gái thật, đúng là hai cái hạt mít như anh Khâu nói tối qua. Nhìn xa
thì thấy hình như hai người này cũng hơi quen quen nhưng không làm sao nhớ ra
được. Mãi đến khi ba người vào đến cửa rồi mà Hằng vẫn như người mộng du ở đâu ấy.
Chỉ đến khi một cô gái bật quát lên:
- Không nhớ à! Tuyn, Tuýt,
Tư đây! Đã nhận ra chưa?
Đến lúc nay thì Hằng mới bừng
tỉnh và nhận ra mấy cô gái Thanh Hoá cùng học năm lớp bẩy hồi nào.
Ngày ấy ba cô gái quê Thanh
theo người nhà ra Hà Nội sơ tán. Chả biết thế nào lại vào học cùng lớp với Hằng
ở tận trường Cổ Loa. Tuy Hằng không quen thân lắm nhưng mà cũng đã có lần họ đến
thăm nhà của Hằng. Lúc ấy họ có nói quê ở Thanh Hoá nhưng Hằng chẳng để tâmN,
chỉ là nghe rồi biết vậy mà thôi. Thế mà làm thế nào quả đất quay tròn họ lại gặp
nhau tại nơi xa tít mù tắp này cơ chứ?
- Này thế còn Tuyết cao đâu
mà không thấy?
- Tuyết cao ở lại học tiếp
cấp ba, chỉ có mình và Tư là về nhà thôi.
- Thế chả lẽ quê của các bạn
lại ở đây à? Từ ngày ấy đến giờ các bạn đã làm gì rồi?
Cả hai đều gật đầu thay cho
câu hỏi, mãi sau rồi Tư cũng lại trả lời tiếp:
- Bọn mình về giúp nhà làm
ruộng thôi… Mãi hôm rồi nghe anh Côn nói có cậu ở Cổ Loa vào mình đoán ngay là
cậu nên ra thăm xem đã có gì đổi mới chưa!
Tư vừa nói chửa dứt lời thì
Tuyên đã cướp lời nói tiếp:
- Này, đợi suốt cả chiều
hôm qua mà không thấy về. Chắc đã có cô nào ở gần đây hay sao mà đi kỹ thế
không biết?
Mấy người bạn đã lâu mới được
gặp nhau nên có không biết bao nhiêu là chuyện. Hết người này lại đến người kia
hỏi rồi trả lời. Đầu tiên là hỏi về những người đang có mặt, tiếp sau đó là hỏi
và trả lời về những người bạn mà họ cùng quen biết. Hằng cho họ biết ngoài Hằng
có mặt ở Thanh Hoá còn có cả Nội, Thảo ở lớp 7A cũng đã vào Thanh nhưng họ còn ở
Hàm Rồng. Cánh trẻ mải chuyện đến nỗi gần như quên hẳn sự có mặt của anh Côn,
mãi đến một lúc lâu sau anh Côn mới có dịp chen vào câu chuyện được. Bằng giọng
nói đặc sệt của vùng quê Nam Bộ anh kể về cuộc gặp của anh và Hằng. Cũng qua
câu chuyện của hai người mà anh biết được Hằng có quen với mấy cô gái của làng
Tây Hồ. Bất ngờ hơn cả là việc anh chính là chồng chị Lượng là cán bộ phụ nữ ở
xã Dục Tú của Hằng. Đến lúc ấy thì Hằng mới hiểu ra mọi sự. Thì ra bữa trước
hai anh em kể cho nhau nghe về chuyện của mỗi người thì anh đã biết cái sự quen
biết của mấy người rồi mà anh không nói gì cho Hằng biết, có lẽ anh muốn để cho
Hằng bị bất ngờ như thế mới vui. Câu chuyện lại được chuyển sang những đề tài mới
kéo dài đến mấy tiếng đồng hồ mà hình như vẫn chưa cạn. Đến gần bốn giờ thì anh
Côn nói anh phải đi ca chiều nên anh sẽ về trước, anh dặn Hằng đưa Tuyên và
Tư về sau.
Cứ mỗi lần nhìn hai cô gái
Hằng lại bật cười chả là vì ngày ấy ba cô gái Thanh vào lớp học, Hằng có hỏi
tên của từng người để ghi vào sổ điểm thì cô Tuyên đã mau mồm, mau miệng chỉ
vào từng người rồi cất đúng cái giọng Thanh Hoá của mình lên để giới thiệu:
- Tôi là Tuyn, đây là Tuýt
còn đây là Tư…
Tuyên cũng mới chỉ nói đến
đó thì tất cả những người đứng xung quanh đều đã bật cười ầm cả lên. Chả là vì
tên của họ khi nói bằng tiếng Thanh Hoá đều mất đi chữ Ê thế nên các bạn vùng
ngoài mới bật cười như thế.
Chuyện thêm được một lúc nữa
thì cả hai cô cũng từ biệt để về. Hết chào đi, chào lại rồi lại hẹn đến chơi
nhà mãi rồi mới chia tay được. Hai cô chắc là sợ bạn bè biết được sự quen biết
này sẽ lại trêu đùa nên không cho tiễn mà chỉ tự mình đạp xe lai nhau về. Với lại
nếu Hằng muốn đi tiễn thì cả ba sẽ lại cùng đi bộ vì Hằng đã làm gì có xe đạp.
Đến lúc ăn cơm buổi tối thì
Hằng phải chấp nhận sự quen biết hai cô gái tròn như hai cái hạt mít với anh
Khâu và tất cả mọi người. Tất nhiên là cậu lại phải kể toàn bộ câu chuyện ban
chiều cho cả nhóm cùng nghe. Vừa nghe kể một số anh trong nhóm cũng lại
xen vào trêu cợt:
- Này cậu nói thế nào ấy chứ?
Đã học mãi với nhau, lại đến nhà nhau rồi thế mà lại nhanh quên đến thế cho được!
- Thì em nói thật mà lại!
- Thế nào mà chả có tý cảm
tình hay là cậu định giấu chúng tớ thì bảo. Này đến lúc có chuyện gì… thì đừng
có bảo chúng tớ đứng ra giúp đấy nhé!
Mọi người đều cười ồn cả
lên rồi kéo nhau ra nhà máy làm thêm giờ buổi tối.
9
Công việc phục hồi kết thúc
xong thì cũng đã vào ngày hai mươi sáu tết. Những đồ dùng nặng chuyên dụng đã
được lau chùi bàn giao cho anh Đà là công nhân sửa chữa theo ca của Bàn Thạch cất
vào kho của nhà máy. Một số dụng cụ cầm tay thì anh em có xe đạp đã chở về Hàm
Rồng từ chiều hôm qua. Cả nhóm chỉ còn ba anh em Khâu, Hằng và Loan ở lại chạy
nghiệm thu rồi chờ xe lên đón về sau.
Việc nghiệm thu cũng rất
nhanh chóng vì phần cơ sử lý tốt hơn hẳn so với mọi lần. Máy chạy êm không hề
có một tý rung động nào. Việc hòa điện lên lưới của máy thuỷ vốn đã rất dễ nay
lại càng nhanh hơn. Cánh anh Tiếp kều nhận máy cười tươi rói bắt tay cánh cơ điện
ra ý chúc mừng.
Ba anh em chờ suốt cả ngày
hai bẩy sang ngày hai tám tết vẫn chẳng có xe. Mãi đến gần tối ngày hai tám ông
Huy quản đốc mới báo tin là phân xưởng Cơ điện đang phải tập trung sơ tán khỏi
thị xã lên cây số tám Rừng Thông nên không có xe, các anh em ở lại qua tết hãy
về. Vừa buồn, vừa chán, mấy anh em đi rong khắp nơi quanh khu vực rồi lại về ăn
cơm ở bếp tập đoàn. Xung quanh khu vực từ các nhà dân đến nhà công nhân cơ khí
huyện cũng đang ráo riết chuẩn bị cho đón tết. Nào là các mặt hàng về thực phẩm,
hàng nhu yếu phẩm và cả đến những hàng xa xỉ phẩm dùng cho tết cũng đã được bày
đặt đầy ở các chợ. Các cơ quan cũng đã tổ chức đi lấy hàng từ các cửa hàng công
nghệ về cho đơn vị của mình. Chỉ có ba anh em là phất phơ đây đó chả biết làm
gì.
Tối ấy Hằng đi ngủ muộn nên
đến sáng hôm sau trời sáng rõ rồi mà cậu vẫn còn ngủ say mê mệt. Các bác nhà chủ
cũng không muốn gọi cậu dậy sớm vì họ nghĩ cậu phải ngủ bù đợt phục hồi vừa rồi.
Vẫn đang còn say sưa trên giường thì đã thấy anh Khâu vào kéo dậy.
Vừa bị dựng dậy, còn ngái
ngủ nên Hằng chẳng biết anh Khâu vừa thì thầm bên tai điều gì. Mãi đến hơn mười
phút sau cậu mới hiểu ra câu chuyện anh Khâu kể về nội dung cuộc họp của bộ phận
công đoàn Bàn Thạch bàn soạn về việc tết cho mấy anh em bên Cơ điện mà anh nghe
được tối qua. Chả biết cái sự bàn bạc có những ý kiến thế nào mà anh Khâu bảo
anh đã nghe được có một vài ý kiến không vui vẻ lắm khi phải chia sẻ hàng
tết cho số khách bất đắc dĩ là cánh ta.
Không ai còn lạ gì hoàn cảnh
của cả nước trong những năm tháng chiến tranh. Cho dù chỉ là vài cân ngô răng
ngựa mọt mang ra để trợ cấp thôi cũng phải xét lên, xét xuống mới xong được, huống
hồ đây lại là những hàng nhu yếu phẩm phân phối theo tiêu chuẩn của từng người,
làm sao mà chẳng có ý kiến lên, ý kiến xuống. Tuy vậy khi nghe nói có một người
nào đó cứ cân lên, đặt xuống một cái việc rất chi là vật chất mà lại dính dáng
đến mình thì cũng chẳng lấy gì làm hài lòng cho lắm. Cũng chính vì thế mà sau
khi nghe đến câu chuyện trên thì tất cả ba anh em đã quyết định đi bộ về đơn vị
cũ để tránh làm khó dễ cho đơn vị bạn. Thế là sáng hai chín tết năm 1966 ba anh
em khăn gói quả mướp cuốc bộ gần bốn mươi cây số để về thị xã.
Ngay từ tám giờ sáng cả ba
người đã bắt đầu khởi hành. Đầu tiên đi dọc theo sông nông giang trước nhà máy
để xuôi về Hậu Hiền rồi về tới Ngã ba Chè và đến gần sáu giờ tối hôm đó thì về
đến cây số tám Rừng Thông. Phân xưởng cũng vừa hoàn thành chuyến di chuyển cuối
cùng về sân kho của một địa phương cạnh đường. Ông Tư quản đốc cũng chỉ kịp gặp
bắt tay, hỏi han qua loa ba người xong là lại tiếp tục chỉ đạo công tác quản lý
số hàng ở sân kho. Hàng nhiều nhất chỉ là của bộ phận cơ khí còn các tổ khác
thì chẳng có bao nhiêu. Sau một hồi giúp các tổ thu dọn vật liệu xong thì Hằng
mới đi về nơi ở của tổ ở trong làng Bản Nguyên. Trời thì tối nên Hằng chả biết
cái làng ấy nó rộng hẹp, đẹp xấu ra sao, mãi đến khi vào gia đình ở trọ thì Hằng
mới nhận ra số anh em trong tổ qua ánh đèn dầu. Vừa đặt túi du lịch và các đồ
dùng xuống là cậu ngồi bẹt ngay xuống đất mặc kệ anh chủ nhà kêu đứng lên để
anh giải chiếu.
- Anh cứ mặc kệ em, người
em bẩn lắm, vừa rồi em lại bê vác một số đồ đạc cho tổ cơ khí nên cả tay cũng bẩn
lắm.
Sau khi đã sắp xếp các bộ
phận đâu vào đó thì cũng đã hơn mười giờ. Hằng được bố trí nghỉ ngay tại nhà
anh chị chủ vừa đến mà không phải chuyển đi, thế là cậu lăn ngay ra ngủ một chập
đến tận sáng hôm sau.
Tết đến mà như không ai biết
gì về tết, người ta vẫn phải đi chuyển đồ đạc, còn nhân dân trong vùng thì cũng
đang củng cố hầm hố để đề phòng giặc Mỹ leo thang gay gắt hơn trong thời gian tới.
Bên cạnh đó lại còn việc phải cấy xong lúa chiêm xuân và các hoa màu khác nên hợp
tác cũng chỉ nghỉ có hai ngày tết mà thôi. Tết thời chiến cái gì cũng gấp rút,
cái gì cũng gọn nhẹ, cái gì cũng giảm tiện.
Thế là lần đầu tiên trong đời
Hằng ăn tết ở xa nhà, xa những người thân. Tết mà như là không tết (!)
10
Những ngày tết đi qua thật
nhanh chóng, tất cả mọi người lại tiếp tục với những công việc thường ngày của
mình. Những trận đánh phá của kẻ thù ngày một dầy thêm, ngày một ác liệt thêm.
Rất nhiều nơi xung quanh khu vực Hàm Rồng bị thiệt hại về người và của. Những
trận địa pháo phòng không bố trí ở trên các đỉnh đồi hàng ngày phơi lưng ra để
hứng những trận mưa sắt thép, rất nhiều các chiến sĩ đã hy sinh. Nhưng cũng
chính những con người quả cảm ấy đã từng ngày giữ vững cây cầu nối liền huyết mạch
giao thông từ Bắc vào Nam, từng ngày ghi thêm những chiến công vào trận chiến lớn
lao của cả dân tộc trong cuộc đối đầu với tên giặc hung dữ nhất của thời đại.
Không chỉ có những chiến sĩ
trực tiếp đánh giặc ở phương Nam, không chỉ những chiến sĩ ngồi trên mâm pháo bắn
vào kẻ thù, còn cả những người lao động cũng ngày đêm đứng ở nơi trận địa ác liệt
nhất để giữ vững công việc sản xuất ra thóc, gạo, ngô, khoai, thịt, cá, muối,
rau nuôi sống mọi người họ cũng đã như những người lính xung trận góp phần vào
chiến thắng chung to lớn ấy.
Những người công nhân ngành
điện lại càng gặp nhiều nguy hiểm, khó khăn hơn khi kẻ thù ngày đêm nhằm vào những
nơi như thế để mà đánh phá, để mà huỷ diệt. Mỗi ngày từng kíp thợ lần lượt thay
nhau vào cái pháo đài đầy thương tích để sửa chữa và vận hành khối bê tông, sắt
thép ấy để tạo ra năng lượng điện phục vụ cả xã hội. Tất cả những người từng hiểu
biết về công việc của những người thợ điện đều yêu mến và cảm phục về sự quả cảm
của những người thợ chiến sỹ trong cái “Pháo đài 44 anh hùng” trên quê hương của
họ.
Từ mấy năm qua bọn giặc trời
đã đánh hàng trăm trận bom vào khu vực cầu Hàm Rồng và những vùng lân cận. Nhà
máy điện cũng là một mục tiêu mà bọn giặc luôn tìm cách huỷ diệt nên không lần
nào đi ngang qua mà chúng không sẻ cho nhà máy một vài loạt bom, Rốckét. Điều
đó cho thấy khi bước chân vào nhà máy những người thợ cũng không khác gì một
người lính xung phong cảm tử. Người ta có thể nói về việc quen thuộc của con
người đối với môi trường và sự vật chứ còn nói là quen thuộc với hiểm nguy và
chết chóc nghe ra thật khó chấp nhận. Tuy vậy một khi chung sống với hiểm nguy
và chết chóc nhiều cũng làm cho người ta dạn dĩ hơn, thông minh hơn và biết
cách tránh được một phần những điều không may mắn.
Cũng phải nói rằng sự hy
sinh, quả cảm của mỗi người cộng với sức lôi cuốn của cả một cộng đồng to lớn với
phong trào sản xuất, chiến đấu vì Tổ Quốc đang sôi lên trên cả nước đã tiếp sức
cho họ, nên suốt mấy năm qua chưa có một người công nhân thợ điện nào chịu rời
bỏ vị trí công tác của mình, mặc dù họ biết có thể chỉ ngày mai thôi họ sẽ
không có mặt trên đời này nữa.
Sớm nay 12 tháng 6, trời có
vẻ trong sáng hơn mọi ngày thường, những ngày tháng sáu là những ngày có thời
gian ban ngày rất dài. Cũng chỉ còn gần mười ngày nữa là gặp ngày hạ chí, ngày
dài nhất trong năm. Mọi ngày bằng giờ đã nghe bộ đội trên đồi pháo báo động đến
cả chục lần, vậy mà hôm nay lại có vẻ im ắng khác thường. Những biểu hiện như
trên dường như lần nào cũng dự báo có sự việc nghiêm trọng sẽ xảy ra.
Lãnh đạo đơn vị cũng đã mấy lần qua các nhóm nhắc phải sẵn sàng đến nơi trú ẩn
gần nhất và nhanh nhất khi có báo động. Trong cả cái khối hộp gạch và bê tông sứt
sẹo ấy cũng chỉ có khu hầm lò là có vẻ chắc chắn hơn một chút, còn tất cả đều mỏng
manh chỉ cần có một vật nặng độ vài tạ rơi xuống là đã xuyên thủng mái nhà rơi
xuống đến tận mặt sàn tầng trệt, huống hồ nếu là một trái bom với sức công phá
lớn thì chẳng chỗ nào có thể chịu nổi, kể cả cái hầm lò vừa nói trên kia.
Những người công nhân họ
thường nói đùa với nhau rằng hôm nay chưa chắc bọn giặc đã đến, đến chưa chắc
đã đánh vào nhà máy, đánh vào nhà máy chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã
vào nóc lò, vào nóc lò chưa chắc đã nổ, nổ chưa chắc đã phá được xuống đáy, xuống
đáy chưa chắc đã có thể chết hết được. Thế rồi tất cả cùng cười, cùng động viên
lẫn nhau và rồi chả bao lâu sau đã nghe tiếng kẻng báo yên của bộ đội từ trên đồi
Quyết Thắng, họ lại tiếp tục với các công việc như không có chuyện gì xảy ra.
Những năm tháng ấy thật hào
hùng và thật tươi đẹp. Mỗi người như mỗi bông hoa tươi, trên từng cánh của nó hầu
như không có một tý dập nát, một tý đốm lạ mầu, và cả không có một mảy may quăn
mép. Những con người ở vào những năm sau này sẽ đáng tiếc biết bao khi đã không
một lần được sống trong những phút giây như thế, cho dù họ có thừa mứa về điều
kiện vật chất và những điều kiện hiện đại khác mà ngày đó chưa có được.
Không khí yên tĩnh kéo dài
thường làm cho người ta dễ sinh chủ quan, mất chủ động và chỉ mới chưa hết nửa
hồi kẻng báo động từ đồi pháo thì đã nghe thấy tiếng nổ ùng ục khắp bốn xung
quanh nhà máy. Chưa kịp bám vào cây cột bằng ống kẽm vẫn dựng ở chỗ lỗ thủng của
nền tầng hai cho các công nhân tụt xuống đã nghe từ phía trước nhà máy có tiếng
đổ rất nặng. Vật gì có thể tạo ra được âm thanh nặng nề đến vậy, nếu không phải
là cái ống khói của nhà máy bị đổ. Vừa kịp nghĩ đến đó thì cả cái hầm lò đã tối
đen như mực, bụi than, bụi gạch phả đầy cả vào mồm. Cái câu “chưa chắc đã
trúng” có lẽ không còn hiệu nghiệm nữa, thế nhưng hình như tất cả chưa ai làm
sao cả thì phải. Có nghĩa là “trúng cũng chưa chắc đã làm sao…” vẫn hiệu nghiệm
đấy chứ.
Những hồi kẻng báo yên đã
vang lên và bụi khói trong hầm lò cũng tan dần, mọi người cũng đã nhìn thấy
nhau. Trời ơi! Thật là kinh khủng! Tất cả đều đã đen thui kể cả da thịt lẫn quần
áo, không còn ai nhận ra ai. Tiếng nói thì khẳn đặc thành ra mọi người nhận ra
nhau chỉ còn cách dự đoán qua khổ người và hình dáng đi đứng riêng hàng ngày mà
thôi.
Cột ống khói cao tướng hàng
ngày đã đổ gẫy ra làm mấy khúc, cứ như ai đó nhặt ở đâu những vòng cống khổng lồ
đem về đặt trước nhà máy. Một trái bom hai trăm năm mươi cân đã chui qua khe của
giàn ống đứng không nổ mà tự rách theo chiều dọc rồi nằm kẹt giữa các khe
ống, giống hệt quả bom xuyên qua trần gian máy cũng xé dọc thân mà không nổ,
rơi ở đầu bình ngưng số một vài năm trước đây. Dù sao thì tất cả đều đã không
ai làm sao cả và những câu nói đùa lại có dịp được cất lên rôm rả hơn bao giờ hết.
Thử lửa? Thử lửa ư? Chắc hẳn
là thế rồi…! Cái chết đã lướt qua mạng sườn của họ không chỉ một vài lần. Chỉ
có điều nói đến cái sự thử lửa mà lại hài hước đến vậy thì cái sự thử lửa ấy dễ
làm cho người ta nghĩ là câu chuyện sân khấu. Xin nói với độc giả rằng tôi đã cố
gắng hết sức để diễn cảm ý nghĩ thực lúc đó và không tô vẽ thêm một chút nào.
Sau trận bom nhà máy buộc
phải dừng lại để sửa chữa phục hồi vì không phải chỉ có ống khỏi đổ mà cả khối
giàn ống đứng, giàn ống nghiêng, bộ sấy không khí, bộ hâm và nhiều khối thiết bị
khác cũng bị hỏng hoàn toàn. Những người công nhân vẫn bám chặt lấy lò máy của
họ để rồi nghĩ ra trăm phương ngàn kế phục hồi lại lò máy và họ đã làm được tất
cả.
TÌNH YÊU
1
Công việc sửa chữa phục hồi
nhà máy điện Hàm Rồng lần này có rất nhiều hạng mục. Phần thiết bị đều tập
trung ở khối lò hơi của tổ sửa chữa lò. Phần máy hầu như chỉ phải kiểm tra bảo
dưỡng sơ bộ ở phần thiết bị phụ. Cũng do công việc của lò nhiều quá nên phân xưởng
giao thêm cho tổ sửa chữa máy sửa chữa một số các thiết bị lẻ của lò hơi như hệ
thống thổi bụi cho các giàn ống sinh hơi, giàn ống quá nhiệt, máy kéo ghi, và
chế tạo lại bộ sấy không khí. Công việc của tổ lần này chủ yếu cần nhiều đến sức
khoẻ nên tổ bố trí nhóm công tác gồm các thanh niên là chính.
Vừa ở công trường lắp cụm
phát điện Điêdel ở Đa Nê, Yên Định về đến đơn vị đóng ở làng Vồm được mấy hôm,
Hằng đã phải nhập vào nhóm phục hồi để đi xuống Hàm Rồng công tác. Để cách xa
vùng trọng điểm đánh phá của kẻ địch mà lại gần nơi sản xuất nên đơn vị đã liên
hệ cho các nhóm công tác đóng ở hai làng là Định Hoà và làng Đại Khối. Nếu cứ
chiếu theo đường thẳng thì từ chỗ ở đến nhà máy cũng không quá hai cây số,
nhưng ai có thể vượt qua mấy chục đỉnh núi nên đành phải đi vòng xa đến gần năm
cây số mới tới được nhà máy.
Cũng do Hằng đi công tác về
muộn nên khi xuống Đại Khối phải trọ một mình ở một nhà. Nhà Hằng trọ là nhà một
ông cán bộ huyện, có lẽ ông cũng có chức vị khá nên gia đình ông cũng được xếp
vào loại có kinh tế so với số đông các gia đình trong làng. Chỉ có bà vợ cả và
mấy đứa con nhỏ ở nhà, còn ông cán bộ huyện mà làng xóm vẫn cứ gọi ông là ông
Thơi thì thường vắng nhà luôn.
Hằng được gia đình nhà chủ
bố trí cho nằm ngủ ở một chiếc giường lim kê sát với gian buồng bên phải, kế
theo đó là gian giữa kê bộ bàn ghế gỗ đóng khá chắc chắn, có lẽ cũng được làm bằng
gỗ lim nên nó có mầu đen hơi thẫm. Chỉ từ sau khi Hằng đến ở bộ bàn ghế mới có
vẻ được chăm sóc, còn trước đó có lẽ bộ bàn ghế này hàng ngày hầu như ít ai sử
dụng đến nên mặt ghế có phần khô xác mà không bóng nhẵn như của mọi nhà. Sau
này Hằng mới biết nhà vợ hai của ông Thơi cũng ở không xa hơn nhà bà cả bao
nhiêu, mỗi lần về có lẽ ông Thơi ở nhà bà hai nhiều hơn thì phải.
Qua lại trên đất Thanh Hoá
cũng đã nhiều nơi nhưng không đâu lại có phong tục như làng Đại Khối, ở đây người
ta gọi mẹ đẻ ra mình là chị, còn chị gái thị lại gọi bằng ả. Dò hỏi mãi về sau
Hằng mới biết nguyên do là làng có tục thờ Thánh Mẫu nên họ kiêng gọi tiếng mẹ,
chính vì thế mà họ đã gọi chệch đi hai ngôi nói trên.
Đến làng Đại Khối cũng đã
lâu mà Hằng cũng chẳng đi đâu, ngoài đi làm hàng ngày ở nhà máy. Các buổi tối về
nhà chủ Hằng chỉ chăm chú đọc sách về kỹ thuật và các cuốn tiểu thuyết dày cộp
mà Hằng nhặt được ở các cửa hàng sách và các thư viện dưới thị xã bị đánh phá bỏ
bừa ra đó. Nhà ông Thơi cũng có cô con gái lớn tên là Thảo nhưng cô này lại ở
cùng với bà hai, chỉ thỉnh thoảng mới thấy cô rẽ về nhà mẹ cả vào các buổi tối.
Mấy ngày gần đây làng Đại
Khối tập trung vào việc đánh tranh rạ để lợp nhà và các công trình của hợp tác
xã. Có lẽ vì sân nhà mẹ cả của cô rất rộng nên đã mấy ngày nay cô Thảo về nhà
thường xuyên hơn để bàn với mẹ cả về việc đem rạ về đánh tranh ở nhà mình. Mỗi
lần cô về nhà là cô kéo theo về mấy cô bạn nữa làm cho không khí trong nhà ầm ĩ
cả lên. Những lúc như thế Hằng thường bỏ đi chơi bên nhà cụ Tú để tránh các cô
cho đến khi thấy im ắng rồi mới về nhà. Cũng chỉ tránh được mấy ngày thôi
bởi ngay sau đó cô Thảo đã cho chuyển về nhà hàng đống rạ lớn và cứ tối đến là
cô cùng với cả đám bạn tập trung ở đó đánh tranh.
Bắt đầu là các câu chuyện
rì rào nho nhỏ thế rồi câu chuyện rộ dần lên và chẳng bao lâu sau đó là gọi, là
hỏi, là trêu nhau, rồi thì cười, rồi thì hát, rồi thì hò hét đến inh tai nhức
óc. Cũng đã có một vài cô động chạm đến cái người lúc nào cũng im như thóc ngồi
đọc sách trong nhà bằng những câu hò với những lời bóng gió. Người ngồi trong
nhà cũng biết vậy nhưng cũng cố tình như không nghe thấy và tất nhiên là không
nhìn thấy bởi các cô ngồi dưới bóng trăng suông gần phía cổng vào nhà. Có nhẽ
các cô cũng biết rằng cái anh chàng này không thể nhìn thấy nên mới trêu mạnh
thế chứ nếu lại nhìn rõ được thì đố có dám. Sau mỗi lần có cô nào đó chọn được
một câu khá sắc nhọn một chút hoặc khá rõ ý tứ một chút là có đến hàng loạt những
tiếng cười như xé vải phụ hoạ thêm vào. Cứ mỗi lần như thế bà cả Thơi lại nhìn
Hằng cười mỉm như bảo rằng (cậu đã thấy gái làng Đại Khối chưa). Những lúc ấy Hằng
cũng mỉm cười đáp lại bà thật hiền lành và thân thiện.
Thực ra cậu cũng có để ý đến
các cô nhưng sau mấy lần về phép trước đó xem ý mẹ thì nghe ra bà cụ không muốn
cho cậu lấy vợ ở nơi xa. Có lần cụ nói với con trai rằng:
- Em nó rồi cũng lấy chồng,
nhà chỉ có một mẹ một con, anh lại ở trong ấy chắc rồi tôi cũng chết khô, chết
héo ở ngoài này thôi!
Nhưng cái chính có lẽ là cụ
nghĩ mình chẳng có nhà có cửa, kinh tế lại eo hẹp quá nên việc đưa một cô
dâu ở nơi xa về chưa chắc người ta đã thông cảm và chịu đựng được với hoàn cảnh
của mình và điều đó có thể sẽ làm cho hạnh phúc của con cái đi đến đổ vỡ. Có lẽ
chính vì thế mà bà cụ không muốn cho con lấy vợ ở xa. Hiểu được nỗi lo lắng của
mẹ nên cậu không muốn làm trái ý của bà. Nhất là lần về phép vừa qua bà cụ đã gạn
cho cậu một cô bé ở quê, cho dù cậu chưa đồng ý nhưng hình như hai bên đã có lời
lẽ nên cũng làm cho cậu thật khó nghĩ. Đây cũng là lý do làm cho cậu không muốn
tiếp xúc nhiều với các cô gái của làng Đại Khối.
Sau rất nhiều thủ đoạn mà
các cô vẫn chưa lay chuyển được cái con người quá đáng này thì các cô lại càng
bị kích động bởi sự tò mò muốn biết cái anh chàng này có gì đặc biệt không mà
kiêu kỳ đến thế. Thế rồi các cô kêu khát ầm lên, hết réo gọi Thảo lại hỏi sang
bà cả Thơi xem nước ở đâu rồi kéo nhau vào nhà ra ý đi tìm nước uống. Đến nước
này thì chắc chắn là phải chạm mặt rồi đây...
Hôm nay Hằng đi làm về muộn,
cơm nước xong một lúc lâu Hằng mới về nhà. Ngõ nhỏ lại sâu nên trời rất tối, có
lẽ cũng còn một lý do là hôm nay trăng muộn hơn mọi ngày. Vừa ra khỏi cổng nhà
ăn, tý nữa Hằng đã đâm sầm vào hai người đang đứng giữa đường. Hoảng quá, sau
khi đi quá thêm đoạn nữa Hằng đành đứng lại để cho mắt quen với bóng tối rồi mới
đi tiếp. Thì ra hai người mà tý nữa Hằng đâm phải là hai cô gái đang đứng giữa
đường nói chuyện với nhau.
- Này con trai chi mà trắng
thế không biết, cứ như con gái ấy mày ạ!
Một cô vừa nói dứt lời thì
cô thứ hai đã tiếp một cách hào hứng:
- Chuyện! Trai Hà Nội của
người ta mà lại!
- Chết nhá! Của người ta từ
bao giờ thế hả?
- Vớ vẩn, đấy là người ta
nói đệm vào lại.
- Không nghe! Không nghe! Tối
nay nhất định choa bảo cho chàng biết cái Dụng nó đã nhận rồi.
Liền ngay lúc đó là các tiếng
đấm, tiếng thụi vào lưng nhau cùng với cả tiếng cười cứ réo lên ồn ã cả cái con
ngõ hẻm tối om, tối óp.
Đến bây giờ thì Hằng đã nhận
ra đây có lẽ là mấy cô gái vẫn đến nhà bà cả Thơi đánh tranh các buổi tối, còn
cái con người Hà Nội mà họ vừa đùn đẩy kia không biết là ai? Hằng gai cả người
khi nghĩ đến nếu cái con người kia lại chính là Hằng. Chả lẽ mình lại bị mang
ra bàn luận, đùn đẩy đến mức như vậy sao? Vừa đi Hằng vừa lôi từ trong bộ nhớ
ra xem cái cô Dụng là cô nào mà mãi không thể nhớ ra.
Về nhà được một lúc thì mới
thấy các cô gái kéo đến. Câu chuyện của họ hôm nay hình như có vẻ rôm rả hơn mọi
hôm rất nhiều. Đặc biệt là bọn họ hay trêu một cô nào đó trong nhóm của họ, còn
có một người thì cứ chạy đuổi hết cô này đến cô kia để đấm, để thụi, để càu
nhàu. Có lẽ người từ nãy đến giờ vẫn chạy đuổi các bạn chính là cô Dụng.
- Này! Không nhận hả? Để đấy
nhường cho cái Thảo! Tiện của nhà chả phải đi đâu cho xa!
- Thảo có rồi còn gì! Để đấy
tớ, tớ nhận cho, đến lúc đó đừng có mà tiếc đấy nhé!
Chợt có một giọng rất là
đàn chị của một cô nào đó cất lên khá đanh để ra lệnh cho cả nhóm:
- Này! Làm đi thôi kẻo mai
là hạn nộp cuối cùng rồi đấy! Các cụ ấy mà hét cho thì đừng có mà…
Không khí hơi lặng đi một
chút nhưng chẳng bao lâu sau đâu lại đóng đó, lại ầm ĩ, lại cười, lại hò hát
cho mãi đến tận đêm khuya.
2
Những đêm đánh tranh ở nhà
bà Thơi rồi cũng hết, có điều là từ sau cái buổi tối các cô gái cố tình vào tìm
nước uống để xem mặt cái anh chàng lập dị nọ ra làm sao thì cả hai bên đã có sự
gần gũi hơn, thế nhưng cũng rất lâu sau Hằng mới biết mặt Dụng.
Dụng năm ấy mới vừa đủ mười
tám tuổi. Dụng khá xinh và trắng trẻo, người tròn lẳn như rất nhiều các cô gái
khác. Mỗi lần bất chợt gặp giữa đường Dụng chỉ dám chào lý nhí mà không chào
to. Mỗi lần gặp và chào nhau như thế hình như Dụng có vẻ rất luống cuống và đỏ
mặt lên trông đến ngại. Biết vậy nên Hằng thường chủ động hơn trong các câu hỏi
để cho cô bình tĩnh trở lại. Kể ra cũng lạ, không biết sao từ trước khi biết
nhau họ lại chỉ gặp nhau rất ít, mặc dù nhà Dụng ở ngay trên đoạn đường mà hàng
ngày khi đi làm Hằng vẫn đi qua. Còn từ sau ngày biết nhau rồi thì hầu như
không ngày nào hai người không chạm mặt nhau đến một vài lần.
Nhà Dụng chỉ có hai bố mẹ
cùng với ba chị em. Chị cả tên là Lợi cũng đã hai mươi và hình như đã có người ở
bên Đông Thổ đến xin hỏi cưới, chắc cũng chỉ chờ đến mùa đông hoặc mùa xuân năm
tới là chị sẽ về nhà chồng. Sau Dụng là cậu em út cũng đã lên tám tuổi nhưng
người thì nhỏ bé mà lại cao lều nghều trông đến là ngộ. Bố mẹ Dụng đều là những
người nông dân thuần tuý dễ mến, cho dù Hằng chưa bao giờ tiếp xúc với họ mà chỉ
gặp và chào họ khi bất chợt gặp họ trên đường như với bao nhiêu người khác
nhưng Hằng vẫn nhận ra ở họ có những nét thân tình...
Sau một ngày về nơi sơ tán
của đơn vị để họp tổng kết Hằng đã thấy có cái gì đó cứ bồn chồn, nóng ruột giống
như linh tính cho thấy có ai đó cứ nhắc đến tên mình vậy. Nhiều lúc thấy như
thiếu vắng một cái gì đó mà không thể nghĩ ra được đó là cái gì. Chỉ mãi đến
khi rời làng Vồm xuống Đại Khối, Hằng mới thấy bớt đi sự nóng ruột mà trong suốt
thời gian ngồi họp đã xảy ra. Vừa quăng cái túi đựng mấy thứ vặt vãnh cùng với
mấy quyển sách vào giường thì Hằng nhận ra có ai đó vừa chào bà cả Thơi bước vội
ra sân theo lối cửa của gian nhà kế gian buồng bên trái.
- Bác Thơi đã ăn cơm chưa?
- Tôi ăn cơm rồi, cháu đi họp
về đấy hả?
- Vâng, cháu vừa mới xuống
đến nơi!
- Sao không ở đến mai mà lại
xuống tối thế?
- Cháu cứ thấy sốt ruột thế
nào ấy, với lại nhà bà Ao ở trên Vồm hôm nay có khách nên đằng nào cháu cũng phải
đi ngủ nhờ thế là cơm nước xong là cháu đi ngay đỡ sớm mai phải thức dậy đi sớm.
- Cũng may mà cháu đi có một
ngày chứ nếu đi độ mấy ngày thì choa cũng đến hết hơi về nó!
Còn đang cố lắng nghe xem
bà cả Thơi nói gì thì đã nghe bà tiếp:
- Này! Từ sáng đến giờ nó
xuống hỏi thăm mày có đến bốn lượt rồi đấy!
- Ai thế hả bác?
- Này, các anh chị đừng có
che mắt tôi nhé! Cái Thảo nó bảo cho tôi biết từ bữa trước rồi. Hình như ông bà
ấy cũng không phản đối đâu. Nhà họ có ông em cũng lấy vợ và ở ngoài ấy rồi. Mỗi
lần họ về trông sang trọng và lịch sự, làm cả làng ao ước mà không được ấy chứ!
Ngừng một chút, không kịp để
cho Hằng nói gì bà cả Thơi lại nói tiếp:
- Kể ra mà cái Thảo nhà tôi
nó yêu anh thì tôi bàn với gì nó là cứ cho không.
Đến lúc này thì Hằng cũng
đã đoán ra được phần nào những điều bà Thơi vừa nói và cả cái người bà Thơi bảo
đã đến làm phiền bà đến bốn lượt trong một ngày kia rồi. Tuy nhiên Hằng nghĩ là
mình bị oan nên cố thanh minh:
- Bác nói thế làm oan cho
cháu! Tất cả là các cô ấy gán ghép đấy chứ!
- Này, không có lửa lấy đâu
ra có khói, đừng có mà giấu giếm, rồi đến lúc cần nhờ chúng tôi là khó chứ chẳng
chơi đâu!
Biết có thanh minh nữa cũng
chẳng ăn thua gì nên cậu cười xí xoá với bà Thơi rồi đi ra ngõ, định sang Định
Hoà đi hò với bọn cậu Thảo ở tổ sửa chữa Van .
Trăng đầu tháng lờ mờ nhưng
Hằng vẫn nhận ra có một người con gái đứng ở một góc tường của một gia đình
trong ngõ khi vừa chợt đi qua.
- Anh đi đâu đấy ạ!
Vừa nghe câu chào nhỏ nhẹ Hằng
đã nhận ra đó là Dụng, Hằng cũng vội chào lại:
- Dụng đi đâu về đấy?
- Em định xuống nhà bác
Thơi!
Đang định đi tiếp thì Hằng
lại nghe Dụng hỏi:
- Vừa nãy bác Thơi nói xấu
gì em thế?
- Làm gì có!
- Em ở ngoài sân nghe hết cả
thế mà anh lại còn bênh cho bác ấy!
Nghe đến đây Hằng cũng thấy
chột dạ, không biết lúc nãy mình có động chạm gì đến cô ấy không biết? Có lẽ là
không thì phải.
- Em còn nghe người ta dãy
nảy lên vì bị gán ghép nữa cơ! Chả là người ta là người Hà Nội mà lại.
Biết cô ấy cũng khá lâu
nhưng chưa thấy cô ấy nói nhiều và lại có ý mát mẻ như thế bao giờ nên Hằng
cũng bất ngờ đứng sững lại không biết nói làm sao cho được. Kể ra mà nói trong
con mắt nhìn của Hằng thì Dụng là một cô gái tương đối hợp với ý muốn tìm kiếm của
cậu. Nếu như mỗi lần về nhà cậu không phải nghe mẹ nhắc về việc không muốn cho
lấy vợ ở xa thì Hằng đã chủ động tìm hiểu cô ấy ngay từ bữa trước chứ cần gì phải
để cho sự việc rơi vào hoàn cảnh như thế này. Đang suy nghĩ để tìm cách nói lại
với Dụng thì lại nghe cô ấy lên tiếng, lần này giọng nói của cô ấy nghe có vẻ
buồn hẳn đi:
- Bọn con gái quê mùa lại
ít học như chúng em, các anh có quen biết chẳng qua cũng chỉ làm cho các anh xấu
hổ thêm mà thôi…
Vừa nghe được mấy lời này Hằng
chợt tìm ra được câu trả lời cho Dụng, cậu liền cướp lời nói luôn:
- Em cứ nói thế chứ ai chẳng
như ai. Thanh Hoá anh hùng, nhiều người vùng ngoài ao ước còn không được nữa
là.
Mặc dù biết mình hơi sáo
trong những câu chữ vừa rồi nhưng cậu vẫn cứ tràng giang đại hải để che đậy những
bế tắc từ nãy đến giờ. Chắc cậu vẫn còn diễn thuyết nữa nếu như không có một bà
cụ vừa đi qua trước mặt hai người làm cho cả hai cùng phải né người để tránh. Vừa
tránh Dụng vừa chào với theo bà cụ:
- Bà ơi sao bà về sớm thế?
- Con Dụng đấy hả? Mẹ mày
đang tìm đấy!
- Vâng ạ!
- Em có phải về nhà không?
Hằng hỏi
- Mẹ em lúc nào chả tìm về
để đấm lưng, chả là mẹ em thỉnh thoảng vẫn bị đau lưng khi dở giời mà lại.
Ngừng một chút Dụng lại tiếp:
- Mình đứng đây gặp lắm người
quá hay là đi ngược lại phía bờ ao nói chuyện tiện hơn.
Vừa nói Dụng vừa đi ngược lại
lướt qua bên cạnh, mặc kệ Hằng có đồng ý hay không. Phần vì đường hẹp, phần vì
tối trời nên khi Dụng nhỡ chân cọ sát vào bên sườn của Hằng làm cho cả hai cùng
loạng choạng tý nữa thì ngã. Mặc dù suýt bị ngã nhưng Hằng vẫn cảm thấy có cái
gì đấy thật mềm mại và gợi cảm đến là kỳ lạ mà không thể nào giải thích được.
Bờ ao hợp tác khá rộng và lại
có rất nhiều cây dừa mới trồng tạo thành những cái ô lớn che khuất cả về phía
đường nên nếu ai đi qua mà không để ý thì không nhận ra người đứng ở dưới gốc của
nó, cũng chính vì thế mà hai người đã đứng ở đó gần năm tiếng đồng hồ cùng với
những câu chuyện không đầu, không cuối mà chẳng bị ai quấy rầy. Họ chỉ chia tay
khi câu chuyện đã có phần kết khá thân mật cùng với việc hẹn hò đêm mai gặp lại.
3
Đã lâu lắm mà
Hằng vẫn không ngủ được. Tất cả những sự kiện xảy ra trong thời gian vừa qua
hình thành những câu hỏi luôn lởn vởn trong đầu. Có nên yêu không? Yêu hay
không yêu? Yêu để lấy hay chỉ để cho vui? Những cô gái ở quê có ai bằng cô ấy
không? Hình thức, tính cách? Mặc dù Hằng đã cố gắng không nghĩ đến nhưng vẫn
không thể xua đi hết được. Một chuỗi những suy nghĩ kéo dài đã làm anh mệt mỏi.
Có gì đó như muốn thoả hiệp, muốn buông trôi. Cùng lúc ấy trong anh cũng xuất
hiện một tình cảm lạ, nó óng ánh, nó rực rỡ và khô nóng làm ra sự khao khát đến
cháy bỏng mà không gì dập tắt, không gì ngăn cản nổi. Tự thân trạng thái ấy cứ
thôi thúc buộc ta phải đi theo sự mời gọi của nó để rồi mặc kệ tất cả mọi sự muốn
ra sao thì ra…
Chưa bao giờ một ngày làm
việc lại dài đến thế! Mặt trời thì cứ đứng im mãi ở trên đầu, đôi kim của chiếc
đồng hồ hình như không chịu quay, chiếc kẻng bằng quả bom cũng như bị câm mà
không chịu cất lên những tiếng keng keng làm cho cái sự chờ đợi cứ dài dằng dặc
ra đến mức không còn chịu đựng thêm được nữa.
Đôi trai gái ấy cũng đã có
nhiểu đêm chờ đợi, nhiều đêm gặp gỡ, tuy vậy họ cũng vẫn còn có gì đó tựa như
muốn giữ ý với nhau. Nhưng đến lần hẹn tối hôm qua thì hình như có điều gì đó rất
khác so với những lần trước đó. Chờ đợi mãi thì rồi trời cũng đã tối và cái thời
điểm hò hẹn cũng đã đến. Gốc dừa lại một lần nữa chứng kiến sự gặp gỡ của đôi
trai gái cùng với những gì mà họ chưa kịp bắt đầu từ những đêm hôm trước. Khác
với mọi đêm, đôi trai gái đêm nay có phần dạn dĩ hơn, họ ngồi gần nhau hơn, những
câu chuyện của họ cũng tươi vui hơn mà không còn những câu hỏi có ý thăm dò và
khách khí như những đêm trước nữa. Từ bên trong tâm hồn của mỗi người đều đã nhận
ra cái điều mà họ hiểu sẽ phải xảy ra trong khoảng thời gian đang đến rất gần.
Tất cả những câu chuyện
dùng để làm cái cớ cho sự gặp gỡ hầu như đã không còn cần nữa, cả hai người đều
im lặng đợi chờ và khi hai thân người chợt chạm vào nhau thì mọi ngăn cách hầu
như đã không còn. Những chùm sao trên trời, những chùm sao dưới nước hình như
cùng lúc ánh lên sáng rỡ. Cũng giống như những chùm sao, ánh mắt của cả hai người
như hút vào nhau lúc một gần thêm, gần thêm và chợt ánh lên sáng lấp lánh khi
hai cặp môi gắn vào nhau không muốn rời ra nữa.
Từ sau nụ hôn kéo dài vô tận
ấy họ không còn nói với nhau bằng lời mà bắt đầu nói với nhau bằng mắt, bằng sự
tiếp xúc da thịt của nhau trong vòng ôm đến nghẹt thở. Những gì chất chứa trong
lòng được dịp phơi bày không cần phải giữ gìn gì nữa. Gần một đêm trắng bên
nhau trong yêu, trong khao khát, làm họ ngây ngất trong hạnh phúc tràn ngập và
họ chia tay nhau khi hướng đông đã bắt đầu ửng đỏ, thai nghén một ngày mới trên
trái đất xiết bao rực rỡ.
Những cuộc gặp gỡ cứ liên
tiếp hết đêm này sang đêm khác, trừ những ngày Hằng phải làm thêm giờ hoặc cả
hai gặp những cuộc họp thanh niên, phụ nữ của cả bên cơ quan của Hằng và bên địa
phương của Dụng. Tất cả các cuộc gặp đều như không đủ dài để họ có thể ở bên
nhau lâu hơn, nói với nhau nhiều hơn. Có lẽ cái ý nghĩ đêm hình như bị ngắn đi
đều có ở trong tất cả những người đang yêu.
Bước tiến của bản thân
trong công tác, cùng với tình yêu của Dụng trong những ngày qua như tiếp sức
cho Hằng trong những ngày lao động vất vả, những ngày đạn bom khốc liệt. Mọi
người ở bên cạnh cũng vui mừng cho họ và nhìn họ với sự khích lệ hết sức chân
thành. Thời gian đã gắn kết họ lại đến mức có lẽ không gì có thể làm cho họ xa
nhau được. Công việc khôi phục của tổ máy chỉ còn vài ngày nữa thì xong, ngày
chia tay với Đại Khối càng lúc càng gần. Hai người tranh thủ gặp nhau thường
xuyên hơn để nếu sau này có phải xa nhau cũng đỡ buồn, đỡ tiếc những ngày gần
gũi.
Tất cả mọi đồ đạc Hằng đã gửi
xe mang về Vồm từ mấy ngày hôm trước, hôm nay Hằng chỉ còn mỗi việc từ biệt gia
đình và Dụng nữa mà thôi. Chia tay với bố mẹ Dụng xong là cả hai đứa đưa nhau về
phía cuối làng để rồi từ đó Hằng sẽ đi tắt về Vồm. Cứ mỗi lần chào nhau xong lại
thấy không thể rời nhau ra được. Nào là những hẹn hò xuống thăm vào ngày nọ,
ngày kia lại đến bàn bạc về một kế hoạch nào đấy cho việc cưới xin vào năm tới.
Chán các chuyện nghiêm chỉnh lại đến những trò hờn dỗi, nào là anh về vài bữa
chắc lại quên mất, hoặc là mấy cô cơ quan lúc nào chả đẹp lại sạch sẽ, còn bọn
con gái thôn quê làm sao theo kịp vân vân và vân vân…
Không hiểu thế nào mà mãi đến
khi trăng lên rồi cặp trai gái vẫn còn ở gốc đa trên cánh đồng Đại Khối. Sau
bao nhiêu là chuyện, cả hai người lại im lặng ngắm nhìn nhau, trên má Dụng ánh
trăng soi rõ hai hàng nước mắt tràn trề làm cho Hằng cảm thấy hai bên cánh mũi
cũng cay cay như muốn khóc. Nhìn Dụng lúc ấy sao mà thương yêu đến thế, không
thể cầm lòng được nữa, Hằng ôm chặt lấy Dụng đặt lên lòng rồi hôn lên tất cả mọi
chỗ trên khuôn mặt đẫm ướt.
Cũng như Hằng, Dụng ôm ghì
chặt lấy người yêu như muốn áp toàn bộ thân thể của mình vào người yêu để cảm
nhận tất cả những gì mà chỉ trong vài giờ nữa sẽ phải xa cách, không biết bao
lâu mới gặp lại được. Trong một khoảnh khắc mềm yếu đến tột cùng làm cả hai người
hầu như không còn nghĩ đến điều gì khác, họ hoàn toàn để mặc bản thân hoà vào sự
kêu gọi của bản năng tự nhiên mà không hề muốn cưỡng lại.
Trong ánh sáng huyền ảo của
trăng hạ tuần, cơ thể Dụng mềm mại và đẹp đến mức không bút nào tả hết được.
Toàn thân của cô, cùng với tay chân cứ như những mảnh lụa biết cử động. Những
đường viền rõ nét bao lấy mảng màu trắng mờ tuyệt vời nhất của thế gian. Nơi đẹp
nhất, nơi cuốn hút nhất luôn réo gọi, luôn chờ đợi. Dụng đã muốn dâng hiến tất
cả cho người yêu mà không có ý đòi hỏi một điều gì khác. Bàn tay của tình yêu
đã đặt lên mọi chỗ trên bức tranh của tạo hoá với cảm xúc về sắc thái, về âm hưởng
đến vô cùng, vô tận của tình yêu.
Tất cả chợt tan đi trong một
giây phút rất đặc biệt, cùng với những lời lẽ thật dịu dàng sau một cái hôn dài
ngang với cái hôn lần đầu của họ.
- Chúng mình sẽ là vợ chồng!
Chúng mình sẽ có tất cả trong những ngày không xa nữa!
Nước mắt lại tràn ra trên
khuôn mặt cô gái cùng với câu nói đứt đoạn:
- Em sẽ yêu anh mãi mãi!
Trong tất cả những tháng ngày
đầy kỷ niệm, hình như đây là lần đầu tiên một trong hai người đã nói đến chữ
yêu, đó là lời yêu duy nhất trong một lần yêu muôn đời không quên được…
Cuối năm đó chàng trai trở
về nhà để chuẩn bị cho việc làm nhà, đồng thời chuẩn bị cho bước tiếp theo Bài
ca tình yêu của mình. Cũng đã cố gắng hết sức nhà Hằng mới mua được một ngôi
nhà tranh ba gian ở tận làng Thiên Hội. Cái nhà cũng chẳng tốt gì, mọi cái để
nguyên thì còn, nếu dỡ ra thì chắc sẽ có nhiều cái hỏng. Rất nhiều cái kèo, cái
cột đã ải mục dỡ ra là phải bỏ, vì vậy mà khi dựng lại ngôi nhà chỉ còn đủ được
một gian với hai cái chái. Với cơ ngơi như vậy thật khó có thể nói đây là một
gia đình có cuộc sống tốt đẹp. Điều này cũng chính là sự trở ngại về hoàn cảnh,
khiến người con trai mong muốn có thêm một thời gian nữa để thu xếp ổn định đời
sống trước khi xây dựng gia đình. Nhưng cậu có thể nói gì được trong lúc này và
thế là lịch trình mà một nửa kia chờ đợi đã không được thoả mãn. Cũng chính từ
đó phía đối tác đã hình thành những mối ngờ vực ngày một lớn hơn, không ai có
thể thanh minh cho được và rồi Bài ca tình yêu hay tuyệt đã bất ngờ dừng lại
sau một thời gian phô diễn tất cả những cái tuyệt mỹ trong phần mở đầu của nó.
Vào một ngày đầu tháng hai
năm ấy người con gái đã đến gặp người con trai để mời tham dự chương trình Bài
ca tình yêu mới của cô và rồi từ đó mọi dư âm của bài ca ngày cũ đã không bao
giờ còn vang lên nữa. Lời yêu tắt lịm và chắc còn lâu mới có thể quay trở lại
được.
4
Những ngày tháng buồn bã
kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Cho dù công việc đã cuốn đi hết cả thời
gian nhưng chỉ cần ngơi ra lúc nào là những hình ảnh cũ chợt quay trở lại. Sự hể
hả của bà mẹ, sự vui tươi của ông bố ở thời điểm đầu tiên tăng lên bao nhiêu
thì cũng xẹp đi bấy nhiêu khi kết thúc buổi gặp mặt với chàng rể tương lai sau
khi về quê ăn tết trở vào. Tất cả những câu hỏi từ xa đến gần về công việc cưới
xin mà các cụ gợi ra đã không có được lấy một lời bày tỏ của chàng trai trẻ…
Cô ấy đã đi lấy chồng và
cũng lại phải lấy chồng ở nơi thật xa bởi nếu không thì rồi có không biết bao
nhiêu câu chuyện được thêu dệt ra và điều đó thật là bất lợi cho cô ấy. Chẳng
có người phụ nữ nào dám đứng ra giữa một cộng đồng để nói rằng tôi vẫn còn
trong trắng sau một tình yêu rực lửa mà tất cả mọi người đều đã nghe, đã biết.
Ai còn lạ gì cái sự yêu
nhau của các cô, các cậu! Cái sự quyến luyến dễ làm cho người ta quên đi tất cả
và rồi cái sự động chạm về thể xác chắc hẳn cũng phải xảy ra, ai mà chả thế! Thế
rồi sự ngờ vực sẽ ngày một tăng lên, sự ngờ vực đâu chỉ có ở mấy người già, mấy
cậu con trai trong làng, sự ngờ vực còn có thể ở chính ngay trong lòng của những
người bạn gái thân nhất của cô. Tất nhiên là cô sợ, cô xấu hổ với mọi người, với
bè bạn, cô không còn con đường nào khác.
Cho đến mãi về sau này
chàng trai vẫn cứ tự trách mình về sự ấu trĩ và sự sĩ diện hão của bản
thân. Tại sao lại không thể nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về hoàn
cảnh của mình? Tại sao lại không nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về
cái sự cần thiết phải chờ đợi để cho cậu có thời gian củng cố đời sống gia
đình? Tại sao cậu lại im lặng? Im lặng để rồi mọi cái đều tan nát cả?
Đã từ lâu cậu luôn tự hào về
cái nghèo khó nhưng rất thanh cao của gia đình mình qua những việc làm của người
cha trong thời cải cách. Vậy mà sao đến lúc này cậu lại không thể nói về điều
đó cho họ nghe một cách vô tư được. Có lẽ là cậu đã nhận ra sự chờ đợi của cả
cô gái và gia đình của cô về mối lương duyên này với hy vọng về một cuộc sống mới
ở nơi thủ đô với những gì mà một số người thân của họ có được khi họ nhìn thấy
những người đó trong những ngày về phép. Cậu nghĩ rằng cậu không có quyền làm tắt
đi những hy vọng của họ và cậu cũng không thể đang tâm để mà làm tắt đi sự hy vọng
đó khi cậu nói cho họ hiểu rằng gia đình của cậu còn khó khăn hơn họ đến mấy lần.
Có thể nói một cách chính xác rằng ở vào thời điểm ấy cậu vẫn chưa đủ bản lĩnh
để hiểu thấu đáo về những điều mà người cha của cậu đã làm. Sự thiếu tự tin trước
một quan niệm đã bắt cậu phải trả giá cho việc mất đi mối tình đầu để rồi nhiều
năm sau trong lòng vẫn day dứt khôn nguôi...
Đơn vị lại bước vào một đợt
sửa chữa mới được nhà máy giao cho, đó là việc khôi phục phân xưởng Trung tâm.
Lần công tác này đơn vị không đóng ở làng Đại Khối nữa mà chuyển về làng Định
Hoà. Làng Đại Khối bây giờ có thêm hai lực lượng công nhân của Đoạn đường sắt
phía Nam đến đóng quân tại đó. Khối công nhân đường sắt đóng ở đó gồm
có Đại đội 315 biên chế toàn các thanh niên để làm các công việc nặng và Đại đội
324 lại biên chế toàn là nữ để làm các công việc nhẹ hơn.
Hàng ngày các tốp công nhân
này vẫn đi từ Đại Khối qua ven làng Định Hoà để xuống khu ga Thanh Hoá phục hồi
và sửa chữa các đoạn đường sắt bị hư hỏng. Thường thì họ làm suốt cả ngày đến tối
mới trở về nhà. Mỗi lần đi qua làng Định Hoà họ vẫn cứ hay cất lên vài câu hò để
trêu mấy chàng thanh niên của nhà máy điện.
Số công nhân nhà máy điện
đóng ở Định Hoà cũng khá đông, đa số đều là các chàng trai chưa vợ và cũng khá
lịch duyệt. Rất nhiều người có tài lẻ về thơ ca, hò hát như Thanh ở phố
Lò Đúc Hà Nội, Vĩ ở Vũ Thư, Thái Bình vv… đều là những cây đơn ca của nhà máy
trong các kỳ hội diễn Quân khu Ba, hội diễn tỉnh và cả của nhà máy nữa. Các
chàng trai này đa số đều đã có người yêu nhưng thấy các cô hò ghẹo nhiều lần
thì các chàng trai này cũng cứ hò đối cho vui mà thôi. Thường thì mở đầu các
câu hò khá hay nhưng càng về cuối thì những câu hò thường hay đi vào sự trêu cợt
chọc tức lẫn nhau, thậm chí còn có cả những câu hò khá cợt nhả cùng những câu hò
chửi bới khá thô tục, tuy vậy nhưng chỉ sau buổi hôm ấy rồi các chàng trai lại
lãng quên ngay. Vậy nhưng các cô gái thì không quên đâu, có đến mấy ngày sau họ
còn dò tìm xem cái thằng cha nào hôm trước hò ngoa ngoắt thế không biết.
Từ khi chia tay với Dụng, Hằng
đã tự đặt ra cho mình là phải phấn đấu làm sao để cùng với mẹ lo củng cố gia
đình để nâng cao kinh tế lên rồi mới lo đến chuyện vợ con. Chính vì thế mà cũng
có khối cô gái ở các đơn vị trong nhà máy và cả ở các địa phương Hằng đến trọ
đã để ý đến, Hằng vẫn làm ngơ như không biết. Thực ra Hằng cũng đã rút ra được
bài học từ lần yêu trước, nên không đến mức sợ yêu. Cái chính là tất cả những
cô gái có ý tứ lại không hợp với con mắt của Hằng, mặc dù với mọi người thì các
cô gái được đánh giá là “sạch nước cản”.
Có lẽ Hằng cũng là một người
mang tính cực đoan bởi rất nhiều người cho rằng một cô gái nào đó là rất đẹp
thì Hằng lại không tán thành. Không phải là Hằng hoàn toàn phủ nhận, nhận định
của mọi người nhưng những cô gái đẹp sắc xảo một chút Hằng đều không ưa lắm.
Trong con mắt của Hằng thì ít nhất là cô gái ấy phải có sự hiền lành, nhu mì,
ít nói, tất nhiên là phải không xấu lắm. Nói một cách khác là cô gái ấy phải có
duyên, dễ gần, dễ mến. Hằng thường nghĩ những cô gái như thế sẽ đối xử tốt với
chồng và cả với bà mẹ một đời gian nan vất vả của Hằng. Như thế có lẽ cũng là
có sự kén chọn chứ không đến mức thế nào cũng được. Tuy nghĩ ra thì nhiều nhưng
làm thì không hẳn đã theo được mấy và đấy cũng là nguyên cớ để có cuộc tình tiếp
theo với rất nhiều kỷ niệm.
Mặt trời đã lặn sau những
vòm cây của những làng xóm mờ xa ở phía tây. Màu hồng vẫn còn hắt lên bầu trời
một quầng sáng khá rộng. Vừa thập thững đi dọc con đường ra cánh đồng của làng
Định Hoà vừa chúi mắt vào cuốn tiểu thuyết Ruồi Trâu trên tay thì cậu giật nảy
mình vì những câu chào rõ to của một toán con gái bịt mặt bằng những chiếc khăn
bông lớn. Chẳng khó gì mà không nhận ra các cô ấy là những công nhân đường sắt.
Có lẽ các cô ấy vẫn bực mình vì trận hò thua mấy cậu công nhân trọ bên nhà bà
Sinh chiều qua. Cậy đông và lại được các tấm khăn che kín mặt nên các cô đồng
thanh chào rõ to có ý làm giật mình cho bõ tức. Nhưng rồi các cô ấy cũng nhận
ra là cái anh chàng này không phải là người vẫn hò trêu cợt cùng các cô nên cô
nào cô nấy đều tỏ ra khép nép và có ý hối hận về việc làm của mình.
Hằng miễn cưỡng chào lại rồi
lại tiếp tục cúi mặt vào những trang sách. Chưa kịp tìm ra dấu dòng vừa đọc lại
thấy các cô gái hỏi tiếp:
- Có phải anh ở ngôi nhà đầu
làng kia không ạ?
- Vâng! Tôi ở ngôi nhà đầu
tiên ấy.
- Có mấy anh ở đấy hò hay
thế không biết?
- À! Thế có lẽ các cô là những
người vẫn hò mấy buổi tối hôm trước đấy hả? Thế tối nay có hò nữa không?
- Anh hò với chúng em nhé?
- Được thôi, nhưng mà tôi
hò kém lắm với lại không đối đáp được các cô như mấy cậu ấy đâu!
- Chúng em cũng kém như anh
thôi!
- Không! Tôi cũng đã nghe
các cô hò buổi tối hôm kia rồi! Dữ quá!
Một cô gái mở đầu bằng một
câu hò nói về tình yêu bằng chất giọng miền trong thật cao và ấm. Hằng cũng hò
đáp lại bằng một câu hò nói về tình yêu vận ra từ một bài hát dân ca. Tất cả
các cô đều ồ lên khen hay và ấm. Hò đi, hò lại đối nhau đến bốn năm câu thì trời
tối hẳn, các cô xin phép ra về để còn tắm giặt. Cả bọn líu ríu hỏi tên và hò hẹn
đến chơi.
Một buổi tối đầu tháng
không có trăng sao, Dậu là quân của đại đội 315 quê ở thành phố Nam Định
mà Hằng và Ngữ quen từ hồi trong năm đã dẫn đường sang thăm mấy cô gái vừa làm
quen hôm trước. Nói là quen biết nhưng khi đến nơi thì chỉ có các cô ấy biết
mình chứ còn mình thì lại chẳng biết ai cả vì mình chỉ gặp hình dáng còn khuôn
mặt thì chưa lần nào nhìn được bởi những chiếc khăn che kín mít. Cũng phải nói
chuyện một lúc thì rồi mới nhận được người quen. Người quen của Ngữ là cô Tuyến
cán bộ đoàn thanh niên của đơn vị, còn cô gái có giọng nói miền trong mà Hằng
hò đối hôm trước là cô tiểu đội trưởng Hằng Trường.
5
Trường cứng tuổi hơn các cô
khác, khuôn mặt không xinh lắm nhưng có duyên. Vầng trán rộng làm cho cô có cái
nét mặt của sự thông minh hơn là sự duyên dáng. Trường hình như cũng đã yêu một
người nào đó trong đơn vị, đó là Hằng suy đoán vậy thôi. Không biết mấy cô gái
trong nhóm có biết hay không mà vẫn cứ gán ghép Trường với Hằng bằng cái tên
ghép của Trường, còn Trường thì chỉ cười như không có chuyện gì xảy ra.
Trong khoảng thời gian buổi
tối đầu tiên chủ yếu là những câu chuyện hội đồng giữa tất cả mọi người. Chỉ thỉnh
thoảng mới có một cặp nói chuyện riêng với nhau tranh thủ khi những câu chuyện
tập thể bị lắng xuống. Dù sao thì mỗi chàng trai đến với những cô gái không ai
là không quan sát để tìm cho mình một khuôn mặt mà mình ưng ý, Hằng cũng không
phải là trường hợp ngoại lệ.
Những cuộc thăm nhau qua lại
trong cả tháng trời cùng với những cuộc đưa tiễn sau mỗi lần đến thăm kéo dài đến
cả tiếng đồng hồ trong đêm tối làm cho mỗi người thấy thân mật hơn lên. Mặc dù
sự quen biết ở đây là sự quen biết của cả một nhóm nhưng rồi không hiểu thế nào
chỉ trong một thời gian rất ngắn đã hình thành ra từng cặp một. Cặp đôi Hằng
và Trường cũng có vẻ gắn bó nhưng nếu quan sát kỹ người ta vẫn nhận ra giữa hai
người có cái gì đó vẫn còn chút miễn cưỡng.
Từ trong sâu thẳm tâm hồn của
chàng trai, mối tình cũ cùng với những kỷ niệm cứ luôn trở lại réo gọi. Còn với
cô gái thì luôn bâng khuâng về hai hình ảnh đang cùng lúc lướt qua trong trí
não đòi hỏi phải mau có một quyết định nhận cái nào và bỏ cái nào, còn bản thân
cô thì lại cứ phân vân không tự quyết nổi. Cũng giống như một người đi đường
nhìn thấy hai con cá lớn đang rạch về hai phía, muốn bắt nhưng chưa biết nên bắt
con nào trong khi chỉ còn một vài cái quẫy đuôi nữa là cả hai con cá sẽ trườn
xuống lòng mương mất.
Trong một lần Hằng đến chơi
thì Trường lại bận đi họp, người đón tiếp Hằng là một cô bé người thấp nhỏ
nhưng da trắng và đặc biệt là có đôi mắt ươn ướt tựa như biết nói, hình như cô
nói bằng mắt hơn là nói bằng lời. Trong một khoảng thời gian ngắn nhưng Hằng
cũng đã khai thác được một số nét về gia đình và về bản thân cô ấy.
Quê nhà cô ở một làng chài
ven biển của huyện Hậu Lộc. Nhà cô ở cách bờ biển không quá một trăm mét nhưng
lại không sống bằng nghề đi biển đánh cá. Ông bố cô có nghề cắt thuốc chữa bệnh
bằng các vị thuốc Nam, mẹ cô và em gái thì làm ở hợp tác xã nông nghiệp. Vừa
mới qua tuổi thiếu niên là cô đã xin đi thanh niên xung phong và được bố trí
vào đại đội 324 tổng đội đường sắt phíaNam.
Câu chuyện của hai người hầu
hết là những câu hỏi và những câu trả lời của cả hai người kéo dài đến cả tiếng
đồng hồ nhưng rồi cũng đã đến lúc dần cạn. Ngồi chờ đợi Trường lâu quá làm Hằng
cảm thấy ngại, thế là Hằng đứng lên chào mọi người để ra về. Sau khi giữ khách
lại không được cô gái đành phải đi theo để tiễn khách thay. Quãng đường đi tiễn
đã dài mà hình như cô gái ấy vẫn chưa tỏ vẻ muốn chia tay với ông khách của bạn.
Cũng đã mấy lần ông khách dừng lại bởi đoạn đường đã dài quá rồi nhưng người đi
tiễn hình như không để ý đến điều đó. Cũng chỉ còn vài bước chân nữa là đã đến
gốc gạo ở giữa cánh đồng của hai làng, có nghĩa là đã đến điểm chia đôi khoảng
đường từ nhà chủ đến nhà khách. Sau khi cả hai người đã ngồi lại bên gốc gạo đến
gần nửa giờ thì khách đành nhắc chủ chia tay. Thế là khách lại phải tiễn chủ
quay trở lại.
Cô gái thay Trường tiếp
khách cũng là một người trong nhóm quen biết ngay từ buổi ban đầu, cô có tên là
Nghi, một cái tên rất hiếm gặp ở ngoài đời, ở cô hầu như không thấy có gì là sự
khách sáo. Những câu chuyện của cô có cái gì đó rất tự nhiên và thân mật, tiếp
xúc với cô, Hằng thấy giống như tiếp xúc với một người cùng làng. Sau lần thay
bạn tiếp khách ấy cô còn phải thay bạn tiếp khách đến vài ba lần nữa vì Trường
hay phải đi công tác xa đơn vị, còn ở nhà thì rất hay bận họp. Cuối cùng vỡ lẽ
ra là Trường luôn bị khống chế để phải bận khi có khách đến chơi thông qua một
cán bộ cấp trên đã để ý đến Trường.
Thực ra thì cả hai người
cũng chưa có sự gắn bó nào mà chỉ mới cảm thấy mến nhau mà thôi, nên việc rời
xa nhau cũng không đến nỗi khó khăn lắm, người này thì không muốn làm cho người
kia phải khó khăn trong công tác, còn người kia thì lại cũng không muốn gặp trở
ngại trong việc giao tiếp với người bên trên để còn có điều kiện phát triển bản
thân. Có một điều đáng nói ở chàng trai là anh ta chỉ muốn có một người khả dĩ
thay thế người con gái vừa tuột khỏi tay mình để rồi mau chóng quên đi mối tình
cũ, nên khi thấy mối quan hệ mới có vẻ phức tạp như thế thì cũng thấy nản. Hơn
nữa bên cạnh lại đã có một người mới thay thế nên cái sự rời bỏ cũng không khó
khăn gì.
Hình như trong lĩnh vực
tình yêu người con gái không bao giờ chủ động ngỏ lời trước nhưng một khi đã
quen nhau rồi thì họ lại rất khéo dẫn dắt đối tác đi theo quỹ đạo của họ. Còn
các chàng trai thì cứ tưởng đấy là chương trình do mình đặt ra, thế rồi lao
theo một cách hết sức nhiệt tình. Nhiều khi còn tự hào cho rằng mình là người
chiến thắng oanh liệt, kỳ thực thì họ là người luôn bị dắt mũi và chịu những thất
bại ê chề. Mặc dù cố giữ trạng thái quan hệ bạn bè trong một thời gian khá dài
nhưng rồi việc gì đến sẽ vẫn phải đến. Quan hệ của hai người đã có bước phát
triển khác so với ý định ban đầu. Các cô bạn trong đơn vị đã không còn gán ghép
Hằng với cô Trường nữa, họ đã nhận ra sự thay đổi đối tượng của cặp bạn này.
Cũng trong thời gian này
quân Mỹ đã ngừng đánh phá miền Bắc. Khối công nhân sửa chữa thiết bị lò máy của
nhà máy điện đã được chuyển về khu Lán ổi để đi lại cho nó gần. Những đội viên
của 324 cũng được phân công đi sâu vào phía Nam. Từng bộ phận nhỏ được
chuyển về các ga kéo dài từ ga Thanh Hoá vào đến ga Vinh và xa hơn nữa như ga Đồng
Hới của tỉnh Quảng Bình. Công việc của họ là khôi phục nhanh các ga để thông
tuyến đường sắt vận chuyển của cải, phương tiện từ ngoài Bắc vào giúp cho công
việc xây dựng lại các địa phương đã bị tàn phá trong chiến tranh. Chuyên chở
các phương tiện quân sự và các đơn vị quân đội bổ sung cho chiến trường miền Nam tiếp
tục công cuộc giải phóng đất nước, thống nhất tổ quốc.
Bộ phận của Nghi cũng được
chuyển đến ga Minh Khôi vừa để sửa chữa nhà ga và sửa chữa các cung đường kế tiếp
các bộ phận khác. Sau mỗi tuần làm việc Nghi lại theo tầu về thăm người yêu vào
các buổi chiều thứ bẩy và rồi lại theo tàu vào Minh Khôi vào các chiều chủ nhật.
Những bữa cơm tập đoàn độn ngô cùng với một chút thức ăn mua thêm để cải thiện
cùng với mấy người bạn nhưng vẫn rôm rả không kém những đợt đi ăn cơm tiệm ở Hà
Nội. Những buổi tối dạo chơi trên những bờ đê đẫm sương hoà trộn với hương lúa
đồng thơm ngát cùng với bao nhiêu những dự định về cuộc sống ngày mai sau mỗi
tuần làm việc càng làm cho tình yêu của họ ngày càng đằm thắm. Một ngày nào đó
người chồng sẽ vẫn cứ làm công nhân của nhà máy điện, còn người vợ sẽ làm việc ở
một nhà ga nào đó, để rồi cuối tuần lại trở về gặp nhau với những bữa cơm gia
đình giống như các anh, chị trong đơn vị mà hai người vẫn đến thăm hàng ngày.
Sau khoảng thời gian quan hệ cùng nhau hai người đã bàn nhau tiếp cận hơn nữa về
phía gia đình và một ngày hạ tuần tháng ba họ đã quyết định cùng về thăm nhà cô
gái.
Làng chài Minh Đức xã Minh
Lộc cũng như bao nhiêu làng quê ven biển trên khắp nước Việt Nam, cũng có
bãi biển toàn cát trắng cùng với những hàng phi lao chắn sóng trồng thành những
hàng đều nhau chaỵ dọc theo bờ biển. Những mái nhà ngói chen lẫn những mái nhà
lợp lá kè ngày đêm toả khói giữ nhịp sống cho bao gia đình người dân đất Việt.
Những ông già, bà già nước da nâu bóng đi lại mạnh mẽ trên bãi cát từ sớm đến
chiều say sưa làm việc. Người thì giăng phơi các vàng lưới cắm cúi vá những chỗ
lưới bị thủng, người thì đan sửa lại các thúng sọt để đón cá về vào các buổi
chiều.
Người nhà cô gái đón bạn
trai của cô hết sức vui vẻ và nhiệt tình, ông bố thì nheo mắt ngắm nghía chàng
thanh niên khá kỹ suốt từ đầu đến chân rồi vào nhà pha nước, còn bà mẹ và cô em
gái thì ríu rít mời chàng trai vào nhà, cả bà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên
cũng vội vã sang chơi. Sau khi cô gái dẫn bạn ra giếng rửa chân tay mặt mũi
xong vừa vào đến nhà là hàng loạt các câu hỏi thăm nom với đủ các lĩnh vực. Từ
công việc làm ăn đến hoàn cảnh gia đình rồi thì đến có bao nhiêu anh em cô bác,
chàng trai chưa kịp trả lời xong người này đã lại phải trả lời sang người khác.
Cuối cùng thì cũng đến lượt cậu hỏi lại những người trong gia đình, từ công việc
làm ăn hàng ngày đến bà con họ hàng xóm láng. Đến khi hỏi đến công việc của ông
bố thì cậu đành phải ngồi im để nghe ông kể về việc chữa bệnh của ông. Ông cụ kể
ra rất nhiều những con bệnh mà ông đã chữa khỏi. Hết kể về con bệnh ông lại kể
về cách sử dụng các cây thuốc, trong câu chuyện của ông có cái say nghề của một
người luôn coi công việc mà mình đang làm như là một lý tưởng của cả cuộc đời.
Câu chuyện hàn huyên đang
còn rất sôi nổi thì người nhà đã dọn cơm chiều. Cơm nước xong thì Nghi dẫn bạn
trai sang nhà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên chơi. Chị gái của Nghi tên là Thuận
lấy chồng là bộ đội hiện đang tại ngũ, anh chị đã có hai con nhỏ. Tuy chị chỉ
có một mình nhưng chị làm ăn khá giỏi so với nhiều người khác. Hàng đêm chị đi
đánh moi ngoài biển đến khuya mới về nhà. Chị nói chuyện chả khác Nghi là mấy,
thẳng thắn và không cần khách sáo. Trong lúc Nghi đang chơi với các cháu ở
ngoài sân, chị nói chị sẽ có quà cho hai người khi hai người tổ chức cưới. Vừa
nghe đến đây Hằng chợt giật mình không biết nói thế nào, trong bụng thầm trách
Nghi đã nói chuyện này với gia đình quá sớm.
Vừa về đến nhà hai người
cũng gặp ông bố vừa đi làm thuốc về, ông lại tiếp tục kể về công việc chữa bệnh
của ông cho cả hai người cùng nghe. Từ cách chữa bệnh cho phụ nữ, trẻ em đến chữa
các bệnh đậu mùa, bệnh bỏng nước, bỏng lửa. Ngừng một lúc ông cất cao giọng:
- Chả biết gì chứ lấy con
gái tao thì chắc là vớ được cả mớ những sẹo bỏng ở mông đít.
Nghe xong câu nói này của
ông cụ chàng trai thấy nóng bừng cả người và không còn biết nói sao nữa, cũng
may mà trời đã bắt đầu nhá nhem tối nên chắc ông cụ cũng không thấy khuôn mặt
ngượng ngập của cậu. Trời tối hẳn, trong nhà đã bắt đầu lên đèn, hai người xin
phép ông bố để đi ra chơi ngoài bãi biển. Hai người đi ra đến cổng mới nghe ông
bố dặn với ra:
- Nhớ về sớm đấy nhé!
- Vâng!
Cô gái cất giọng khá to trả
lời ông cụ khi đã bước ra khỏi cổng nhà.
Cũng chả phải đi đâu xa xôi
bởi sau hàng phi lao cạnh nhà đã là bãi cát vừa phẳng, vừa rộng. Từ hàng phi
lao ra tới mép nước biển cách xa đến gần nửa cây số, thoải mái cho hai người đi
dạo. Ra đến sát mép nước thì trời đã tối, hai người cầm tay nhau đi dọc theo
mép nước biển trong màn đêm mờ sáng ánh sao. Đi chán rồi lại ngồi cạnh nhau
trên bãi cát cùng nhìn ra mặt nước nghe từng đợt sóng biển ộp oạp vỗ vào bờ
cát. Giữa khoảng không gian đầy thơ mộng được bóng đêm che phủ không có cặp
tình nhân nào không tranh thủ để mà thổ lộ tình cảm, để mà âu yếm lẫn
nhau. Tay trong tay, mặt kề mặt, hai thân thể nóng bỏng khao khát áp
chặt vào nhau, những cái hôn dài tưởng như không dứt. Những nét thân thuộc trên
cơ thể của nhau lại có dịp được tìm lại sau những ngày xa cách. Bầu trời, mặt
biển, bờ cát cùng những vì sao thêm một lần chứng kiến tình yêu cháy bỏng của
đôi trai gái.
Họ đã ngồi với nhau như thế
rất lâu, rất lâu. Thời gian như ngừng trôi, vũ trụ như ngừng quay và tất cả mọi
người trên trái đất hình như đã ngủ say hết để cho đôi người của họ thổ lộ cùng
nhau lời yêu tha thiết nhất. Phía đông đã hơi ánh lên chút ánh sáng tựa hồ
như từ nơi ấy sắp có một điều gì đó kỳ lạ sắp xảy ra. Cũng đúng lúc ấy từ ngoài
khơi xa có một rền vang giống như tiếng rền của sấm. Nghi giật mình vội đứng dậy
kéo tay người yêu chạy vội vào bờ phi lao. Chàng trai thật sự bất ngờ không hiểu
gì cả nhưng khi thấy người yêu kéo chạy thì chàng trai cũng chạy theo như một
phản ứng dây chuyền vậy. Vừa chạy chàng trai vừa ngoái lại đằng sau thì thấy nước
biển đã dâng lên đuổi sát theo chân của hai người. Vừa lúc hai người ngã nhào
vào bờ phi lao thì nước biển cũng đã ngập bàn chân. Thì ra tiếng sấm rền vừa rồi
là tín hiệu mở đầu cho những đợt thuỷ triều ở những vùng biển mà chàng trai “đường
nhựa” không biết.
QUÂN NGŨ
1
Tất cả những dự định tiếp theo của cặp trai gái chắc chắn đã có thể thực hiện
được nếu như không có một sự kiện đặc biệt đã xảy ra, có lẽ đó là số phận đã
xui lên như vậy. Chỉ mới qua cuộc thăm nhau nhân ngày chủ nhật chưa đầy nửa
tháng thì Hằng nhận được quyết định gọi nhập ngũ của ban quân sự tỉnh. Đợt tuyển
quân lần này gấp rút đến mức các quân nhân không có điều kiện được về nhà chia
tay với gia đình mà phải tập trung ngay về các đơn vị huấn luyện. Trừ những
quân nhân quê ở Thanh Hoá thì còn có thể kịp nhắn cho gia đình và bè bạn đến để
đi tiễn. Còn Hằng và một số anh em quê ở ngoại tỉnh thì chỉ có chính mình tiễn
mình lên đường vào quân ngũ.
Những ngày tháng quân ngũ khép kín với những buổi tập tành, học họp cứ kế tiếp
qua đi. Thời gian quân ngũ đã dài gần bốn tháng mà Hằng cũng chẳng viết thư cho
ai trừ một lá thư gửi về cho mẹ. Trong những năm sống trên đất lửa Hàm Rồng, Hằng
đã nhận ra sự khốc liệt của chiến tranh. Những năm tháng sắp tới mình cũng sẽ
vào cuộc như rất nhiều những chiến sỹ phòng không đã từng sát cánh cùng mình
trong những trận chiến đấu đầy hy sinh gian khổ. Những năm tháng chiến tranh sẽ
còn rất dài, tất cả những người chiến sĩ sẽ chỉ có thể ra về khi chiến tranh kết
thúc hoặc bản thân họ bị thương tích đến mức không còn tiếp tục chiến đấu được
nữa như những thương binh trong các trại mà Hằng đã có lần được gặp. Những người
liên quan đến mình rồi đây sẽ ra sao khi mình là một người tàn phế, hoặc mình
là người sẽ hy sinh không bao giờ còn có thể trở về được nữa. Những chị Hả, chị
Thục ở quê mình, những chị Thuận của nhà Nghi sẽ cô đơn cho đến hết cuộc đời, mỗi
lần nhìn thấy họ mà lòng lại nao nao khôn tả. Chả lẽ mình rồi sẽ lại là một
trong những người đàn ông như những người đàn ông của chị Hả, chị Thục và chị
Thuận mãi mãi không bao giờ trở về nữa. Mình có nên để cho những người thân yêu
của mình phải chịu sự bất hạnh mà mình đã quá biết, quá hiểu này không?
Tuy vậy đôi khi nghĩ đến mẹ, Hằng lại thấy hình như mình có lỗi khi quyết định
sự việc theo cách nghĩ này. Chắc chẳng có người mẹ nào lại không mong muốn mình
có con, có cháu để cho chúng kế tục cái sự nghiệp mà bản thân họ cả một đời nhịn
ăn, nhịn mặc, đổ mồ hôi công sức để gây dựng lên. Huống chi trên đời này cũng
đã có hàng vạn người phụ nữ có hoàn cảnh như vậy mà họ có ta thán gì đâu. Có lẽ
mình cũng nên có một đứa con cho dù bằng cách nào cũng được miễn là người ấy có
thể chấp nhận. Cho đến cuối cùng thì cái lý lẽ không nên làm cho người khác bị
đau khổ đã thắng thế. Hằng đã quyết không báo tin cho Nghi nữa. Sự đời đâu có
theo ý của riêng mình, cái mình muốn nhiều khi tự nhiên vẫn bị thay đổi bởi nhiều
nguyên nhân ngẫu nhiên, ngẫu nhiên đến không thể tượng tượng nổi.
Cũng không biết tiểu đoàn
làm thế nào mà lại được phân phối một con trâu khá to làm thực phẩm. Sáng ấy Hằng
được cử lên tiểu đoàn để phối hợp với các đơn vị khác làm thịt xong rồi nhận thịt
tiêu chuẩn mang về đơn vị. Ăn thịt trâu thì có lẽ đa số mọi người đã từng,
nhưng làm thịt trâu thì số anh em tập trung ở đây chả có ai đã từng trải qua.
Làm sao để cho con trâu ngã ra, chết ngất đi thì mới dễ dàng cắt cổ lấy tiết và
rồi mới có thể mổ bụng, bỏ lòng ruột ra rồi cắt thịt chia cho mọi người được. Mỗi
người đề xuất một kiểu cho đến cuối cùng thì đi đến kết luận là cần phải lấy
cái gì đó thật nặng để đập vào đầu cho nó ngã ra. Nói thì thế nhưng rồi hết anh
này thay anh khác bổ vào đầu trâu đến vài chục nhát búa chim mà nó vẫn không chịu
chết. Không những thế nó còn tự dứt đứt mũi của mình ra rồi cứ nghênh cặp sừng
theo hướng các “chuyên gia” thịt trâu để mà húc làm cho các “chuyên gia” này
không dám tiếp cận nó nữa. Cũng may khi trước đã buộc vào chân nó một sợi dây
chão chứ không thì nó đã phóng đi mất và rồi cả tiểu đoàn sẽ phải nhịn món thịt
trâu đã ở trong tầm miệng. Cuối cùng thì anh cán bộ quân giới của tiểu đoàn đề
xuất là nên dùng súng để bắn cho nó chết, chỉ cần có người nào dám bắn là được.
Nhìn lướt qua một lượt thì thấy đa số các cậu đều là học sinh mới vào quân ngũ
và cũng chưa được một lần bắn súng, cuối cùng thì ông anh Hằng là người nhiều
tuổi nhất lại đã tham gia bắn máy bay rồi phải làm nhiệm vụ bắn trâu. Sau bốn
năm lần kê súng vào đầu trâu rồi mà vẫn không bắn được. Khi thì hướng đạn vào
nhà dân, khi thì đầu trâu cứ ngoảy đi, ngoảy lại không làm sao bắn được. Cuối
cùng thì cũng tìm ra được quy luật ngoảy đầu của nó để rồi dùng phương pháp bắn
đón mới xong. Sau tiếng nổ đanh khô khốc con trâu hung hãn thế mà rồi cũng từ từ
khuỵu xuống.
Chia xong thịt thì cũng đã gần một giờ chiều đang định gánh thịt về thì Hằng
nghe thấy có người tìm mình. Đang còn nghến cổ về hướng đại đội thì đã nghe có
tiếng của Lệ gọi ở phía sau.
- Thế nào xong chưa? Về ngay có khách!
- Vớ vẩn! Tớ thì làm sao có thể có khách được! Vì tớ có cho ai biết đâu mà có
người đến thăm!
- Thôi cứ về rồi khắc biết.
Cũng may là Lệ đi sang bằng xe đạp thế là cậu ta chở hộ thịt trâu để cho
Hằng đi bộ lững thững đằng sau. Bộ quân phục bằng vải chéo Triều Tiên xổ lông của
Hằng dính đầy các loại mỡ màng Hằng cũng mặc kệ chả cần chấn chỉnh làm gì, bởi
Hằng nghĩ là Lệ trêu mình vậy thôi. Mãi đến khi về gần đến nhà trọ thì Hằng nhận
ra cô gái đang đứng chờ bên hàng rào ô rô đúng là Nghi. Làm sao cô ấy biết mình
ở đây mà đến được thế nhỉ? Hay là Lệ quen cô ấy từ trước và Lệ cho cô ấy biết?
Sau một hồi đoán già đoán non mà chả đi đến đâu đã làm Hằng nhận ra rằng cái việc
cô ấy nhờ đâu mà biết địa chỉ bây giờ đã không cần để ý đến nữa, điều cần nghĩ
là bây giờ mình sẽ phải đối xử thế nào với cô ấy trong khi mình đã đặt ra kế hoạch
bí mật từ giã để cho cô ấy quên mình đi, để rồi cô ấy sẽ tự tìm lấy cho mình một
người đàn ông khác. Cuối cùng thì việc Nghi biết được địa chỉ đóng quân để có
thể đến thăm là do cô bạn của Lệ mà Nghi đã gặp được trong khi trở lại khu công
nhân của nhà máy điện để tìm gặp người yêu. Nghi đã đến người anh kết nghĩa mượn
xe để chở cô bạn của Lệ cùng đi.
Chỉ bằng quá trình trở đi, trở lại không biết bao nhiêu lượt từ nơi công tác đến
đơn vị của người yêu rồi lại lần dò để có được địa chỉ rồi đến được nơi người
yêu ở đã làm cho chàng trai xúc động và thương biết chừng nào. Chỉ tiếc rằng
khi ấy lại ở thời điểm ban ngày, rất nhiều bà con trong xóm và đồng đội đang
chia vui nên chàng trai không thể ôm lấy cô gái của mình để rồi không rời ra nữa.
Tất cả những suy nghĩ từ bấy lâu nay đã bị xoá hết để trở lại tình yêu và tình
thương tha thiết như những ngày nào.
Có lẽ trong thời gian chờ đợi người yêu Nghi đã kể chuyện của hai người cho các
anh trong ban chỉ huy nghe nên đơn vị đã cho Hằng được miễn công tác và các
phiên gác từ chiều hôm đó đến hết ngày hôm sau. Từ lúc gặp nhau cho đến buổi tối
hôm đó hai người đã ở bên nhau, câu chuyện của họ vẫn như ngày chàng trai còn ở
ngoài dân sự. Chàng trai vẫn chờ cô gái trách móc về sự ra đi mà không cho mình
biết để đến nỗi mình phải đi tìm vất vả nhường ấy, nhưng trong suốt thời gian gặp
nhau cô ấy hình như không có một lời trách móc nào. Đến lúc ấy chàng trai mới
hiểu người bạn gái của mình thật là một người có nghị lực và có lòng vị tha to
lớn. Với một trái tim như thế, tấm lòng như thế thật khó có thể tìm được người
thứ hai. Tại sao mình lại không để lại cho cô ấy một chút kỷ niệm như mình đã
nghĩ tới. Chỉ cần một lá thư giới thiệu chắc mẹ mình sẽ chấp nhận cô ấy. Mình
hiểu mẹ qua rất nhiều việc mẹ đã làm, từ việc cụ nhận nuôi người chị gái mà cụ
nhặt được trên đường tản cư trong lúc bản thân cụ cũng phải lo kiếm ăn từng bữa,
đến việc nuôi nấng bao nhiêu đứa cháu cho người em họ của chồng, rồi còn biết
bao những cái tốt trong cư xử đối với mọi người trong họ nhà chồng cho thấy
cụ có thừa tấm lòng rộng mở nhất là mình lại có thư giới thiệu rằng đây là dâu,
là cháu của cụ.
Buổi tối gặp nhau sau gần bốn tháng càng làm cho cặp tình nhân khao khát hơn cả
trong những ngày tháng trước đó. Họ ở bên nhau và quện chặt vào nhau, sao mà
vui đến thế, sao mà đẹp đến thế nhưng cũng thật đáng thương bởi chỉ sớm mai đây
họ lại phải chia tay nhau không biết đến bao giờ gặp lại, hoặc cũng có khi họ
không bao giờ còn gặp được nhau nữa.
Chỉ còn một nửa của đêm nay nữa thôi, từ phía cô gái dường như tất cả cũng đã rất
sẵn sàng và những quyết định mới nhất của chàng trai sẽ được thực hiện trong những
giờ phút sắp tới. Đêm lặng lẽ trôi để dần mất đi khoảng thời gian quý báu nhất
mà hai người có được, sự quyết định sao mà vẫn khó khăn đến thế… Điều gì đã
ngăn trở họ có nhau, điều gì đã ngăn trở họ làm cho nhau thoả mãn cả về những
đòi hỏi bản năng lẫn những đòi hỏi về trách nhiệm của một con người trong việc
duy trì nòi giống, duy trì dòng họ và duy trì phiên bản của chính họ trên cõi đời
này? Xin tất cả mọi người đừng bao giờ trả lời cho những câu hỏi vừa rồi. Bởi tất
cả mọi câu trả lời đều sẽ là rất khập khiễng và rất giáo điều.
Họ chia tay vào buổi sáng hôm sau với bao lưu luyến không nói được thành lời.
Người con gái thật là buồn thảm, còn người con trai thì cũng chẳng hơn gì, mặc
dù chàng trai đã cố gắng để không đến nỗi quá buồn trên nét mặt, nhưng bên
trong thì tựa như tất cả đang rớm lệ. Nhưng dù sao thì chàng trai cũng đã chiến
thắng được chính mình, nung nấu thêm cái quyết tâm quên mình cho những người
mình thương yêu nhất.
2
Vào những ngày cuối tháng chín năm 1970 đơn vị bắt đầu làm công tác chuyển quân
từ khung huấn luyện sang cho các đơn vị mới. Toàn đơn vị lúc này đang tập kết tại
khu vực Đồng Nẻ địa điểm cũ của cơ quan nông trường bộ, nông trường Yên Mỹ. Những
buổi học tập chính trị kéo dài đến cả tuần, nào là nghe nói chuyện về tình
hình, nhiệm vụ mới, tình hình chống Mỹ ngày một lan rộng trên thế giới, tình
hình chiến sự miền Nam cùng với những con số rất cụ thể. Rồi thì những
thành tích trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc, phong trào tất cả
vì miền Nam ruột thịt, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược và còn rất
nhiều chương trình khác nữa. Không khí sinh hoạt trong đơn vị hết sức sôi nổi
và hừng hực khí thế. Các chiến sỹ háo hức ra mặt trận ngay để trả thù cho đồng
bào và chiến sỹ miền Nam đang bị kẻ thù đàn áp, ra mặt trận ngay để kịp đóng
góp một phần xương máu của mình cho chiến thắng của dân tộc. Người ta cứ nghĩ rằng
nếu không nhanh thì không còn cơ hội tham gia vào công việc chiến đấu của dân tộc.
Tiếp theo đó là các đoàn viên đăng ký làm đơn tình nguyện xung phong ra mặt trận.
Cuối cùng thì ngày lên đường
chiến đấu cũng đã đến sau mấy ngày tập dượt báo động chuyển quân. Các chiến sĩ
được lệnh bao gói ba lô vào các túi mưa để làm phao vượt vùng nước dài gần năm
cây số ngay từ sáng sớm. Những cơn mưa kéo dài gần cả tuần lễ đã làm cho toàn bộ
khu vực từ thung lũng dưới chân đồi Đồng Nẻ đến ngã ba Chuồng đều ngập dưới hai
đến ba mét nước. Đợt chuyển quân ngẫu nhiên lại hoá thành một đợt thực hành
chuyển quân trên đồng nước mà không phải lúc nào cũng có được. Mặc dù chưa có
kinh nghiệm lại thiếu thốn về phương tiện nhưng đơn vị cũng đã hoàn thành công
việc chuyển quân.
Gần hai tiểu đoàn bộ đội đã
tập kết về các khu vực quanh ga Thị Long nên hầu như nhà nào trong vùng cũng đều
có các anh bộ đội đến ở nhờ. Từ trước đó trên địa bàn đã có một đơn vị công
nhân đường sắt nên lại càng chật chội. Đôi chỗ cả công nhân lẫn với bộ đội đều
cùng trọ chung trong một nhà. Tiểu đội của Hằng có hơn chục người cũng bị chia
nhỏ ra để gửi vào các nhà dân. Nhóm của Hằng chỉ có hai người gồm có Hằng và
Liên tiểu đội trưởng đóng ở nhà của anh xã đội phó. Ngay buổi chiều hôm đó vợ
chồng anh xã đội phó đã tiếp hai anh em bằng những câu chuyện hết sức vui vẻ.
Anh kể rất nhiều chuyện về những vụ đánh án bắt bọn trộm cướp ở ngay tại địa
phương. Câu chuyện của anh ly kỳ như những trận đánh án của công an trung ương
vẫn được kể trên đài.
Sau khi ổn định chỗ ở hai
anh em cùng đi ăn cơm ở bếp đại đội. Mải chuyện với cánh cùng tiểu đội đến khi
về nhà trọ thì trời đã tối. Buổi tối hôm nay Hằng có cuộc họp đoàn triển khai nghị
quyết, hưởng ứng lời kêu gọi thi đua đánh giặc của quân uỷ nên Hằng chào tạm biệt
anh xã đội phó để đến một nhà ở đầu xóm hội ý với cán bộ các phân đoàn.
Trời tối quá nên Hằng dò dẫm
men theo con đường làng nhỏ hẹp lép nhép đất ướt đến một lúc lâu mới đến chỗ tập
kết cuộc họp. Vào đến sân Hằng chưa vào nhà vội mà đi tìm chỗ có lợi gạch gõ
cho bùn đất rụng ra để vào nhà cho đỡ bẩn. Ngay giữa sân có đến bốn, năm người
phụ nữ ngồi bóc lạc trong một cái thúng đều cất tiếng chào, lúc ấy Hằng mới nhận
ra đấy đều là những cô gái trẻ. Hằng đoán có lẽ họ đều là các công nhân đường sắt
ở nhờ. Hằng chào lại một cách chiếu lệ rồi đi vào nhà, ngồi vào bàn triển khai
chương trình họp. Thực ra thì chương trình và nội dung họp đồng chí chính trị
viên phó đã triển khai hôm trước rồi, việc các đơn vị nhỏ lại phải tiếp tục họp
chủ yếu là tập trung con số tránh để các chiến sỹ tự do đi lại làm lộn xộn khu
vực đóng quân, đồng thời cũng là cách ngăn chặn những anh chàng thích tự do trốn
về nhà để khi tập trung lên tàu vẫn giữ được đầy đủ con số. Cuộc họp diễn ra
không quá một giờ thì giải tán, các chiến sỹ lại ai về nhà ấy để triển khai
công việc gác sách.
Sáng hôm sau các tiểu đội
đi nhận quân trang, vũ khí mãi đến quá trưa mới xong. Vừa về đến nhà đã thấy
anh xã đội phó gọi ra cho biết có người đến hỏi thăm, chờ đợi khá lâu không gặp
nên đã vừa về rồi. Đang còn phân vân không biết là ai thì đã thấy anh xã đội
nói to từ ngoài ngõ:
- Cậu ấy vừa về xong, cô
vào ngay đi!
Vừa quay nhìn ra cửa Hằng
đã nhận ra không phải ai khác mà đó chính là Nghi, mặc dù cô che mặt rất kín bằng
chiếc khăn voan màu trắng. Cô nhẹ nhàng bước vào nhà và ngồi vào cái ghế băng để
kề bên cái bàn gỗ tạp kê ở giữa nhà. Hằng để cho Liên ngồi tiếp hộ rồi xuống bếp
rót nước vào cái ca men mang lên mời cô gái uống.
- Làm sao em biết anh ở đây
mà tìm đến?
Nghi mỉm cười rồi nói:
- Anh thấy em có tài không?
- Anh chịu!
Sau vài câu chuyện mở đầu Hằng
bắt đầu giới thiệu cho anh xã đội phó và Liên biết quan hệ của hai người. Sau mấy
câu hỏi xã giao, anh chủ nhà và Liên đều cáo từ rời khỏi nhà có ý để cho hai
người tự nhiên nói chuyện.
- Các anh còn ở đây lâu
không?
- Có lẽ đơn vị sẽ ở lại đây
gần một tuần gì đó.
- Sáng nay em mới biết anh
về đây qua cái Ngọc kể lại, thế là em đã xin nghỉ mấy ngày để tiễn chân anh.
- Làm sao Ngọc biết được
anh đến đây mà anh lại không thấy cô ấy nhỉ?
- Tối qua nó nhìn thấy anh
tổ chức họp ở ngay nhà nó trọ thế là nó bảo cho em biết.
- Thế mà nó chẳng thèm chào
anh một tiếng, hay là nó giận gì anh không biết?
- Nó không dám nhận anh vì nó
sợ bọn trong tiểu đội trêu anh là người yêu của nó, hơn nữa nó cũng sợ mọi người
biết quan hệ của anh với em rồi suốt ngày trêu cợt không làm sao mà chịu được.
Ngừng lại một lúc Nghi lại
nói tiếp:
- Chiều mai em định tổ chức
liên hoan chia tay anh, có cả các anh trong ban lãnh đạo tiểu đoàn của anh cũng
tham dự anh nhớ đến nhé!
- Mấy ngày tới có lẽ anh bận
giải quyết một số thủ tục về giấy chuyển sinh hoạt đoàn cho một số anh em còn
thiếu để kịp lên đường nên chưa chắc anh đã đến được đâu.
- Thế thì em tổ chức vào buổi
trưa vậy, có được không anh?
- Để anh xem thế nào đã, buổi
trưa đơn vị tập trung điểm nghiệm quân tư trang, có lẽ anh cũng không sắp xếp
được...Thôi để khi nào có điều kiện anh sẽ bảo cho em biết sau vậy!
- Mặc anh! Nhất định anh phải
đến đấy! Em sẽ báo cáo lãnh đạo hộ cho anh.
Chia tay với Nghi rồi mà Hằng
vẫn cảm thấy không yên, những dự định và sự quyết tâm khi hai người gặp nhau lần
trước đang có cơ bị thất bại. Lại một lần gặp nhau ngẫu nhiên khác! Hằng không
sao giải thích nổi, có lẽ số phận đã không cho họ rời nhau ra được. Suốt cả buổi
chiều hôm đó rồi cả buổi tối khi hai người ở bên nhau Hằng vẫn cố gắng xây dựng
quyết tâm thêm một lần nữa. Những lúc gần nhau Hằng đều tránh để không chạm vào
người của Nghi, cho dù cô luôn áp sát vào anh như mọi khi. Cứ mỗi lần vô tình
chạm vào nhau Hằng lại lựa khéo để hai người cách xa ra thêm một chút.
Để có thể giữ vững quyết
tâm của mình trong việc rời xa cô ấy để cô ấy giận dỗi từ bỏ mình để tìm một
tình yêu mới. Để cô không phải chịu hoàn cảnh cô đơn và héo hắt trong chờ đợi
như những người chị của cô, Hằng đã quyết định sẽ không gặp cô nữa. Ngay lúc đó
trong đầu Hằng đã hình thành một kế hoạch tránh gặp mặt Nghi. Suốt ngày Hằng đi
hết chỗ này đến chỗ khác để nhắc nhở các phân đoàn tổ chức họp triển khai nghị
quyết của chi đoàn. Hằng nhờ Liên chuẩn bị quân tư trang và mọi thứ hộ còn mình
thì luôn vắng nhà để cô ấy không tìm được. Cuối cùng thì Hằng cũng đã thực hiện
được kế hoạch của mình một cách hoàn chỉnh. Hằng đã lên tàu rồi mà cô ấy vẫn
không tìm gặp được. Cẩn thận hơn, Hằng cũng không về chỗ tập trung của tiểu
đội mà ở lại chỗ của trung đội trưởng Nhận là người cùng quê Đông Anh với Hằng.
Cuộc chia tay ban chiều
không biết có được tổ chức hay không, nhưng Hằng đã không đến. Cô ấy chắc sẽ vô
cùng nóng ruột trong suốt thời gian chờ đợi và sẽ đau khổ biết bao khi thời
gian đã quá muộn mà chàng trai của cô vẫn chưa chịu đến hay nói cho thật đúng
là chàng trai của cô đã không đến. Có một điều mà cô ấy sẽ không bao giờ hiểu
được đó là trong mỗi giây phút mà cô ấy đau khổ thì chàng trai của cô ấy cũng
đang chịu bao sự dằn vặt, đớn đau.
Mặt trời đã khuất sau những
ngọn núi phía xa, hoàng hôn màu tím lan toả trên khắp sân ga. Từ bên hàng cọc gỗ
làm rào ngăn cách nhà ga với làng xóm, có một người con gái đứng lặng lẽ nhìn
lên những toa tàu đầy chặt những chàng trai màu xanh áo lính mà không làm sao
tìm thấy được chàng trai của riêng mình. Cũng trong thời gian ấy từ trên một ô
cửa sổ của con tàu có một người lính cũng cố gắng thu vào tầm mắt như muốn ghi
sâu vào trong tim mình hình ảnh nhỏ bé, cô đơn của người con gái mình yêu trong
những giây phút cuối cùng trước lúc đi ra mặt trận.
Những bánh thép từ từ lăn về
hướng Nam xa tắp chở theo trong đó hàng ngàn những chàng trai đang cất
cao từng đoạn những ca khúc rực lửa chiến đấu. Trong đó chắc không thiếu những
người lính đang nhẩm đọc những vần thơ bi tráng, thấm đẫm tình yêu vĩnh cửu của
riêng mình...
3
Công việc bàn giao quân thật
nhanh chóng vì rất nhiều đơn vị sau chiến dịch xuân 1968 đã mất nhiều quân số,
cho nên số tân binh đã được huấn luyện chu đáo cả về kỹ năng sử dụng các loại
vũ khí và thông thạo về kỹ chiến thuật lại được rèn luyện mang nặng, đi dài là
rất quý cho các đơn vị nhận quân. Số quân của Thanh Hoá lần này được giao cho
sư đoàn 320, một trong bốn sư đoàn cơ động của bộ quốc phòng. Nói là chỉ có bốn
sư đoàn cơ động nhưng thực ra thì không biết lúc đó có mấy sư đoàn cơ động, bởi
vì mỗi sư đoàn chỉ mang một số hiệu nhưng nó còn có thêm những chữ A, B, C, D,
E, gì đó. Chính vì vậy mà quân địch rất khó biết ta có thực lực quân số là bao
nhiêu.
Trừ các cán bộ khung huấn
luyện ở lại, quân số của tiểu đoàn được chia nhỏ ra để bổ sung vào các trung
đoàn và các đơn vị trực thuộc ngay tại khu ga Thị Long. Toàn bộ đại đội huấn
luyện của Hằng được bổ sung vào tiểu đoàn 25 trực thuộc phòng hậu cần sư đoàn.
Tiểu đoàn 25 là một đơn vị vận tải bộ, nhiệm vụ chính của cả tiểu đoàn là vận
chuyển vũ khí đạn dược từ các kho của quân khu về, rồi lại chuyển đến các mặt
trận tiếp tế cho các đơn vị chiến đấu. Ngoài vận chuyển vũ khí đơn vị còn làm
công tác chuyển thương từ mặt trận về các đại đội quân y của các trung đoàn hoặc
chuyển về tiểu đoàn quân y của sư đoàn. Ngoài các công việc trên, đơn vị còn thực
hiện các công việc khác nữa mà phòng hoặc sư đoàn yêu cầu đột xuất.
Những ngày đầu tiên về đơn
vị mới lại là các việc học chính trị và rèn luyện. Cán bộ cấp trên luôn lấy việc
chấp hành quân phong, quân kỷ là mục tiêu giáo dục các chiến sĩ. Cùng với những
nội dung trên là hàng loạt các hoạt động như việc làm báo tường, xin vật liệu về
làm các giá đỡ súng, thậm chí là vào rừng chặt cây về làm nhà, làm bếp. Tất
nhiên là các đồng chí lính mới rất hăng say làm suốt ngày, suốt đêm mong sao để
được đẹp hơn các tiểu đội, đẹp hơn các trung đội khác. Họ cũng không ngờ rằng tất
cả những công việc ấy chưa kịp hoàn thành thì đã lại phải báo động chuyển quân
đi nơi khác. Đương nhiên là lãnh đạo cấp trên họ đã biết rất rõ là như thế những
họ vẫn phải triển khai. Cũng có nhiều cán bộ cấp trên nói rằng cứ phải bắt làm
cho thật nhiều để tránh cái việc “nhàn cư vi bất thiện”. Tất nhiên là như các cụ
ta xưa đã nói một câu cưả miệng là “nước sông công lính” nhưng nghĩ cho cùng
thì từ cách nghĩ, việc làm như trên cũng là một cách giữ gìn bí mật. Biết đâu
trên địa bàn chả có các nhóm gián điệp hàng ngày chỉ thăm dò hiện tượng chuyển
quân để mà dự đoán ra kế hoạch tác chiến để bố phòng lực lượng đối phó làm thất
bại kế hoạch của ta.
Ngay khi rời ga Thị Long
đơn vị của Hằng đi một mạch vào tận xã Quảng Hưng, Quảng Trạch, Quảng Bình.
Ngay những ngày đầu tiên đơn vị đã triển khai công tác huấn luyện. Thao trường
luyện tập là một cánh đồng cát trắng bao la bát ngát của xã Quảng Hưng. Bài học
chủ yếu là cách cứu chữa, băng bó cho các chiến sỹ với hầu hết các dạng vết
thương trên mọi chỗ của cơ thể. Tiếp theo là cách buộc võng cáng thương binh kết
hợp vận động trong các tình huống. Gian nan nhất là việc khênh thương binh chạy
trên các địa hình với quãng đường đủ dài để rèn luyện sự dẻo dai của chiến sỹ.
Việc khênh nặng chạy trên cát quả thật là một việc không phải dễ dàng. Cứ mỗi
bước chân lên được hai mươi phân thì khi bàn chân tiếp cát lại lún xuống mất mười
phân. Nhưng mệt nhất là việc mỗi bước chân lại phải kéo theo lượng cát nằm trên
mu bàn chân. Nhiều lần kéo cát như thế bàn chân cứ như muốn rời ra khỏi ống
chân.
Từ mấy tháng nay chính quyền
nguỵ nhiều lần hô hào trên các phương tiện phát thanh và báo chí về
kế hoạch Bắc tiến. Chúng đưa hai chiếc tàu khu trục ra vùng biển ven vịnh Bắc Bộ
làm như sẽ chuẩn bị tiến công ra miền Bắc. Mặc dù chúng đã nhiều lần gào thét
như vậy nên chả ai thèm quan tâm đến những điều chúng nói. Người ta thừa hiểu rằng
ngay trên mảnh đất chúng còn đang chiếm giữ, chúng đã chẳng thể nào giữ nổi huống
gì chúng lại mưu toan làm những việc tầy đình này. Mặc dù vậy nhưng hình như lần
này cấp trên có vẻ rất chú trọng và có phần nào khẩn trương trong tổ chức phòng
thủ dọc bờ biến suốt từ Quảng Bình ra mãi vùng Quảng Ninh, Uông Bí.
Tiểu đoàn 25 vận tải cũng
được huy động vào công tác phòng thủ cùng với các đơn vị khác trong sư đoàn.
Sau đợt chuyển các hòm gỗ dùng để đựng đạn pháo và đạn cối ra vùng biển Cảnh
Dương xong thì cả đơn vị lại lên xe hành quân ra Thanh Hoá. Khi hành quân vào
các đoàn xe đều buông bạtT, còn khi ra thì chẳng thấy nói gì về việc giữ bí mật
mà có vẻ như cấp trên còn muốn khoa trương thanh thế cho mọi người cùng biết rằng
ta đang phòng thủ đây. Đồng thời cũng ngầm răn đe kẻ địch về sự chuẩn bị này để
chúng hiểu rằng tiến ra Bắc là sẽ chỉ có con đường chết.
Những ngày cuối năm đang đến
gần, hôm nay đã là ngày tết ông Táo hai mươi ba tháng chạp rồi, không khí tết
đã rộn rã trên khắp các vùng quê. Từ các ngả đường thôn xóm người đi lại có vẻ
gấp gáp và khẩn trương hơn. Các chợ trong vùng đông đúc, tấp nập khác hẳn những
ngày thường. Nhiều mặt hàng ngày thường không có hôm nay cũng bày bán khắp cả
chợ. công việc chặt cây rừng về làm nhà cũng đã gần hoàn chỉnh. Một số
trung đội đã cắt đủ tranh để lợp nhà. Cứ tưởng chuyến này sẽ được ăn tết ở vùng
rừng núi Như Xuân, vậy mà sớm nay đại đội lại phải lên đường để vào lại Quảng
Bình. Lần này thì đơn vị tập kết ở vùng Tuyên Hoá, miền tây của Quảng Bình.
Công việc chính của đại đội
2 là nhận hàng từ kho của sư đoàn về trang bị cho trung đoàn 64 đi B dài
trong thời gian tới. Kể ra cũng lạC, bởi quân tư trang của 64 lần này không giống
với đồ dùng của các đơn vị đi B dài khác. Những bộ quần áo mới thì chẳng nói
làm gì bởi nó vẫn như quần áo mọi khi. Nhưng tăng võng và các trang bị khác như
thuốc men và các thứ hàng hoá cấp kèm theo thì rất sơ sài. Nhiều người nghĩ rằng
có lẽ nhà nước mình có khó khăn do kháng chiến kéo dài nên cũng thiếu thốn hơn
chăng.
Chỉ đến khi cuộc chiến đã mở ra và toàn thắng ở vùng đường 9 Nam Lào người ta mới
hiểu rằng mọi công việc mà cánh lính tráng hậu cần chúng tôi làm trong mấy
tháng qua chỉ là động tác nghi binh trong chiến thuật mà thôi. Người ta càng
không thể ngờ rằng sư đoàn trưởng Kim Tuấn đã vào khảo sát vùng chiến trường từ
trước đó khá lâu. Người ta càng không thể ngờ rằng trung đoàn 64 của sư đoàn
320 chẳng đi B dài mà là vào đón lõng tại một vùng hiểm yếu để tiêu diệt toàn bộ
quân địch định bất ngờ đánh vào hậu phương của ta mà chúng đặt tên là chiến dịch
Lam Sơn 719. Có một điều càng không thể ngờ được đó là kẻ địch tưởng ta đã bị
chúng nghi binh thu hút lực lượng vào cuộc phòng thủ miền Bắc. Chúng có biết
đâu rằng ta đã chờ chúng hàng mấy tháng trời tại cái nơi mà chúng tổn hao không
biết bao sức lực vào đó để rồi hàng ngàn quân, hàng ngàn ô tô, xe tăng, trọng
pháo và cả những máy bay lên thẳng đã không kịp chạy thoát thân. Bản tin chiến
sự đã mô tả cuộc rút chạy hỗn loạn ấy không khác nào một đàn vịt bị săn đuổi.
Hàng ngàn những ô tô, xe tăng vẫn đang nổ máy còn bọn lính lái xe đã tháo chạy
không biết tự bao giờ. Cả đống những phương tiện chiến tranh bị bỏ lại trên đoạn
đường dài mấy cây số. Trong cái mớ hỗn độn ấy người ta còn thấy cả những chiếc
máy bay lên thẳng hạ xuống rồi không kịp bay lên trốn chạy. Trung đoàn 64 là một
trong những đơn vị lập công lớn trong chiến dịch. Có một điều đặc biệt hơn là
trung đoàn còn bắt sống được đại tá Thọ lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù, một trong những
người đứng đầu chiến dịch Lam Sơn 719 của quân địch. Nghe đâu Thọ còn là một
nhân vật của CIA, cục tình báo trung ương Mỹ.
Sau khi hoàn thành cuộc nghi binh chiến thuật, khối hậu cần trong đó có tiểu
đoàn 25 vận tải và một số các đơn vị chiến đấu của trung đoàn 48 được điều vào
tiếp ứng để chặn đánh một số bộ phận quân địch chạy tán loạn khắp vùng lân cận.
Đại đội 2 của Hằng được đưa lên xe chở vào vùng Cự Nẫm của địa phận của tỉnh Quảng
Bình rồi sau đó hành quân bộ đi sâu vào miền rừng khọc của Tỉnh XaVaNakhệt trên
đất của nước bạn Lào. Cuộc hành quân của đại đội 2 dừng lại ở vùng Na Thông, Na
En để phối hợp với các đơn vị chiến đấu tiến đánh các cứ điểm ở khu vực Pha
Lan, Đồng Hến. Cho đến tháng 6 năm 1971 thì tất cả mọi lực lượng tham gia cuộc
tập kích của quân địch ra đường 9 năm 71 mà chúng lấy con số năm 71 cùng với địa
danh đường 9 ghép lại đã hoàn toàn bị tiêu diệt.
4
Những ngày đầu tháng sáu âm lịch vừa mới bắt đầu thì cũng là những ngày mở màn
cho những trận mưa đầu mùa trên đất bạn. Cả đại đội hàng trăm người vừa mới mạnh
khoẻ là thế mà giờ đây đang lên cơn sốt rét run lên cầm cập. Ban chỉ huy đại đội
2 cả từ chính trị viên, đại đội trưởng đến các thành viên khác cũng bệnh tơi bời.
Hai cậu liên lạc trẻ Tâm và Luận khoẻ thế mà cũng nằm rên hừ hừ mỗi thằng một xó.
Cũng không biết thế nào mà Hằng lại nằm ở con số bốn người trong đại đội không
bị sốt. Ba trong số bốn người không bị sốt thì đều đã từng sốt ở Thượng Lào năm
trước còn có thể nói là có sự miễn dịch chứ Hằng thì đâu đã sốt bao giờ. Sau
nhiều năm nghiên cứu về bệnh nhiệt đới nhiều học giả người nước ngoài đã cho biết
Nam Lào là vùng tập trung của các loại bệnh sốt rét do muỗi gây ra vào diện đứng
đầu thế giới, thế mà Hằng lại không bị sốt thì quả thật là lạ.Tất nhiên là
không sốt thì phải cáng đáng toàn bộ mọi việc cho những người ốm. Đâu là việc
chăm lo cơm nước, giặt dũ áo quần, thậm chí cả việc gác sách đêm hôm cũng phải
cáng đáng nhiều hơn. Cũng may là cụm công tác của Hằng chỉ có mỗi một anh Nhu đại
đội phó cùng với mấy người, chứ nếu ở đại đội bộ phía trong bãi đá Na En thì chắc
là cậu chạy tướt bơ cả ngày sang đêm không hết việc.
Còn đang dọn dẹp một vài thứ vũ khí của anh em để bên miệng hầm kèo thì đã nghe
có người gọi từ bên hầm của đại đội phó, Hằng đứng lên thắt lại dây lưng quần rồi
chạy sang nhận lệnh. Vừa thấy mặt, tham mưu trưởng sư đoàn Phát đã giao cho cậu
một thư lệnh bảo phải gấp rút đưa vào cho tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quý ở mãi tận
Na En. Nhận thư xong Hằng nhét thư vào ngực áo rồi chạy về hầm của mình để chuẩn
bị lên đường. Đường đi vào Na En chỉ độ hai chục cây số và hầu như cũng rất an
toàn, nên Hằng cũng không cần chuẩn bị gì nhiều. Vừa khoác khẩu AK báng gấp lên
người định đi thì đại đội phó gọi lại bắt mang thêm khẩu K54 với đủ ba băng đạn
nữa rồi mới cho đi.
Cũng thật may cho Hằng là hôm nay trời tương đối khô ráo nên đường xá quang
đãng có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ ở khá xa nên không lo bị địch phục kích. Mặc
dù vừa đi vừa chạy gằn nhưng Hằng không khỏi lo lắng sợ rằng mình đến không kịp
thời gian quy định. Trong suốt thời gian tập luyện các cán bộ khung đã nhấn mạnh
đến trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ trong bất kỳ hoàn cảnh
nào. Đặc biệt là nhiệm vụ giao thông liên lạc, chuyển mang tài liệu trong chiến
đấu. Các tài liệu phải được bảo đảm hoàn toàn bí mật, không để lọt vào tay kẻ địch,
phải mang đến nơi nhận đúng địa điểm, đúng thời gian. Đây cũng là lần đầu Hằng
làm nhiệm vụ này nên trách gì không khỏi lo lắng dọc đường.
Đang vừa đi vừa suy nghĩ, chợt Hằng thoáng nghe trong gió hình như có tiếng người
từ phía trước mặt vọng lại. Nhanh như một vận động viên chạy việt dã Hằng vượt
qua khoảng trống để lẩn nhanh vào khu vực cây cối um tùm của một ốc đảo. Dựa
mình vào một cái rễ cây khá lớn đủ che khuất người rồi tập trung quan sát ra bốn
phía xung quanh. Ngón tay cái khẽ khàng ấn khoá hãm của khẩu AK báng gấp
rồi đặt ngón trỏ vào vòng cò súng. Có lẽ là số lượng của nhóm người này khá
đông nên tiếng ồn ào nghe khá rõ. Cũng không phải đợi lâu thì người đi đầu đã
xuất hiện. Một người đàn ông mặc áo rằn ri, tiếp theo là một người đàn ông mặc
một cái áo cộc ba lỗ, bên dưới quấn xà rông, kế đến là hai người phụ nữ mặc váy
hoa. Phía sau hình như còn có mấy đứa trẻ con lũn cũn sau đám cỏ tranh. Đã gần
lắm rồi, có lẽ chỉ còn cách hai trăm mét là cùng! Một trăm rưởi mét! Một trăm
mét! Gần quá rồi, có lẽ phải bắt đầu thôi. Nhưng sao thế nhỉ? Tất cả họ đều
không mang súng hoặc một thứ vũ khí gì mà chỉ có các loại dao, gùi, ống nước!
Có lẽ đây là một gia đình người Lào đi thăm người hoặc ra nương thì phải. Chỉ
còn độ năm mươi mét nữa là chạm nhau rồi. Chợt ba đứa trẻ con vùng chạy đuổi
nhau lao nhanh về hướng Hằng phục kích. Chúng chạy nhanh quá và chợt đứng sững
lại vì chúng đã nhận ra có người lạ ở bên gốc cây trước mặt mình. Cả ba đứa
cùng la eo éo và chỉ tay về phía Hằng báo cho những người lớn biết. Nói thì lâu
chứ thực tế thì từ khoảng thời gian Hằng phát hiện ra nhóm người đó cho đến lúc
lũ trẻ vọt chạy đuổi nhau kéo dài chỉ độ năm sáu phút. Ngay cả những ý
nghĩ chợt đến, sự liên hệ tình hình ở trong đầu đến khi đánh giá xong sự việc để
đi đến hành động cũng chỉ nhanh chóng lướt qua trong vài mươi giây là cùng.
Những người lớn trong nhóm
sau khi nghe lũ trẻ la lối cũng dừng lại cả và thận trọng nhìn về phía Hằng. Họ
đứng nguyên với tư thế khi họ bất chợt dừng lại mà không dám thay đổi tư thế
khác vì sợ bị đối phương hiểu lầm về hành động của họ. Họ có vẻ lo lắng hoảng sợ
khi thấy Hằng hướng mũi súng về phía họ. Sau giây phút bị bất ngờ vì lũ trẻ
phát hiện ra mình thì Hằng cũng đã trấn tĩnh lại và quan sát kỹ cả nhóm người đứng
trước mặt, trong khi tay vẫn chạm sát vòng cò súng. Trong lúc cả mấy người vẫn
đứng nguyên tại chỗ Hằng đã nhìn lại người mặc áo rằn ri, người này vào khoảng
bốn mươi, còn người già thì không thể đoán ra tuổi được bởi mặt mũi thì nhăn
nhúm, lưng lại còng gập xuống. Cái áo rằn họ mặc cũng đã quá cũ, nhiều chỗ trên
vạt đã rách sơ ra chỉ còn cái vệt xanh đen khoang khuở thì vẫn còn nhìn khá rõ.
Cũng giống như Hằng, sau cú chạm mặt bất ngờ làm cho nhóm người ấy sợ sệt đôi
chút nhưng họ thấy người cầm súng không có ý làm hại đến họ thì họ có vẻ an tâm
hơn. Sau một lúc cả hai bên im lặng nhìn nhau thì chợt nghe thấy cả mấy người
trong nhóm léo xéo với nhau mấy câu gì đó rồi thì tất cả bằng ấy người nối theo
nhau rẽ xiên về phía bên trái để vòng xa người cầm súng một chút. Hai người đàn
bà có vẻ rón rén hơn, vừa đi vừa túm tay lũ nhỏ lôi theo làm cho chúng không
còn chạy nhảy được như lúc trước. Hằng thở phào nhẹ nhõm khoá súng lại rồi đi
tiếp khi nhóm người của gia đình người Lào ấy đã đi khuất hẳn phía sau.
Gần một giờ đồng hồ vừa đi
vừa chạy Hằng mới đến được bờ một con suối lớn. Nghe số các đồng chí đã đi qua
nói lại thì con suối này là điểm chia đôi khoảng đường từ trạm trung chuyển nơi
Hằng ở đến bãi đá Na en là nơi tập kết của cả đơn vị. Con suối mà anh em kể
nghe thật nhỏ bé, còn con suối Hằng gặp sao lại lớn quá thế này. Thậm chí nó có
thể là sông chứ không còn là suối, bởi chiều ngang mặt nước rộng đến hơn bốn
mươi mét. Còn dòng nước của nó thì cuồn cuộn chảy trông thật hung hãn và đầy
thách thức đối với những người muốn vượt qua nó. Cùng với những xoáy nước đục
ngầu là những đợt sóng chồm lên vật xuống lao đi với hàng ngàn tiếng ồn ào đinh
tai nhức óc. Tuy nhiên điều đó còn không đáng sợ bằng những những cây gỗ, cây
tre và hàng ngàn các vật nhọn có, kềnh càng có đang thi nhau vun vút lao đi
trên khắp mặt nước với tốc độ ghê người.
Sau một thoáng phân vân lo
là mình bị lạc đường thì Hằng cũng nhận ra dấu của anh em đi công tác hàng ngày
để lại như lời dặn lúc ra đi. Thế là bây giờ chỉ còn mỗi một việc là làm thế
nào để vượt sang bên kia nữa mà thôi. Việc phải bơi qua là điều tất nhiên rồi
nhưng mà có thể qua được bên kia không hay là bị gỗ thúc vào người và vĩnh viễn
nằm lại ở đáy sông mới là điều cần phải nghĩ đến. Thời gian! Thời gian không
cho mình nghĩ lâu hơn nữa và việc phải bơi qua sông đã được dự kiến trong đầu.
Kiểm tra lại công văn một lần nữa rồi thắt lại bao súng ngắn. Khẩu AK báng
gấp cũng được quàng qua người rồi lại buộc vào ngang lưng bằng một đoạn dây dù.
Một gốc cây lớn với những
khúc rễ, cành cồng kềnh vừa trôi tới. Không còn nghĩ gì nữa Hằng lao người thật
nhanh ra mặt sông men theo những cành cây rườm rà trước mặt. Thật không thể ngờ
được là Hằng không thể bám kịp được vào đám cành rễ đó bởi vừa khi chuẩn
bị bám vào đám cành lá thì một súc gỗ ở đâu đó bất ngờ nổi lên theo xoáy nước
lao thẳng vào Hằng. Ngay lúc đó Hằng buộc phải láng về bên phải để tránh khúc gỗ
ma quái kia. Một xoáy nước rút Hằng xuống khỏi mặt nước, Hằng vẫn còn cảm thấy
hình như bề mặt vỏ xù xì của khúc gỗ trượt qua mạng sườn bên trái. Cũng
may cho Hằng là cái xoáy nước sau khi lôi Hằng xuống khá sâu thì nó lại thả Hằng
ra để cho Hằng trồi được lên mặt nước. Đến lúc này thì đành phải mặc kệ mọi
điều nguy hiểm ở cả hai bên người, Hằng chỉ còn biết bơi và bơi cho nhanh bất
chấp điều gì có thể xảy ra.
Có lẽ khi đã là một vật như
bao vật khác cùng trôi trên sông thì tốc độ của mọi vật cũng ngang nhau mà Hằng
có khác gì một vật đang trôi nên ngay phía trước, phía sau, bên trái, bên phải
Hằng ngồn ngộn là những vật lớn có, nhỏ có mà vẫn không thấy chạm vào người. Hằng
nhận ra rằng mình không nên cố vượt các vật cản mà nên lựa theo chúng rồi tranh
thủ né mình hướng về bờ sông bên trái, đồng thời cố gắng tránh xa các đợt sóng
cùng những xoáy nước thỉnh thoảng xuất hiện ngay bên cạnh là sẽ thành công.
Cũng không biết thời gian kéo dài bao lâu, chỉ đến khi áp sát vào bờ sông bên
kia Hằng mới tin là mình còn sống. Sau khi cởi tất cả quần áo ra để vắt bớt nước,
ngồi nghỉ một lúc cho lại sức, Hằng mặc lại bộ đồ ướt rồi tiếp tục lên đường. Hằng
đi ngược lại theo chiều nước chảy có lẽ phải đến gần nửa cây số mới gặp lại con
đường mòn đơn vị vẫn đi công tác hàng ngày. Như vậy thì quãng đường mà nước cuốn
Hằng đi cũng khá là xa đấy chứ!
5
Sau khi trao công văn cho
lãnh đạo, lại kể cho bọn Tâm và Luận nghe câu chuyện vượt sông xong mới thấy mệt
và đói. Vừa mỉm cười nghe ông anh “đường nhựa” nói về cái việc vượt sông chả lấy
gì làm ghê gớm âý, Luận vừa vào bếp mang ra một cái xoong đựng cơm và nưng bát
thịt kho lõng bõng. Đặt xoong cơm và bát thịt trước mặt Hằng, Luận bảo:
- Anh may nhé! Hôm nay bắt
được một con nhím nên nấu hơi nhiều cơm! Biểu dương thành tích bằng bát thịt
nhím này đấy nhé!
Vừa cơm nước xong thì đã thấy
bên trung đội ba của anh Giao hò la ầm ĩ. Hằng chột dạ hỏi Tâm và Luận:
- Này! Không sợ lộ bí mật nơi
đóng quân à!
- Bọn nguỵ chạy sạch cả rồi!
Làm gì còn thằng nào mà phải bí mật.
- Này, tớ vừa gặp một gia
đình Lào lúc đi vào đây, tý nữa thì tớ xả súng diệt gọn. May mà trong đám ấy có
ba đứa trẻ con chứ không thì …!
- Dân ở đây lỳ lắm, họ còn
vào cứ điểm vừa đánh xong để vét chiến lợi phẩm đấy anh ạ!
Đang còn nói chuyện với
nhau thì đại đội trưởng đã về đến. Vừa vào đến lán anh đã hô bọn Tâm, Luận thu
dọn quân tư trang. Cả bọn còn đang ngơ ngác chưa biết gì thì đã nghe đại đội
trưởng bảo:
- Thế nào? Có ra không thì
bảo!
Luận nhanh mồm hỏi lại:
- Ra hẳn hay tạm thời hả thủ
trưởng?
- Đã ra lại còn có cả ra tạm
thời nữa à? Riêng cậu ra tạm thời còn chúng tớ thì ra hẳn.
Cũng chỉ đợi có thế là Luận
vỗ tay hét lên ầm ĩ. Thì ra không biết nghĩ thế nào mà trưa nay Luận bảo không
nên giặt quần áo để tránh phải bỏ quần áo ướt vào ba lô. Còn Tâm thì không
nghe, đã đem cả hai bộ nhúng nước giặt phơi ngoài bờ suối bây giờ vẫn còn ướt
rườn rượt.
Đến lúc này thì Hằng mới biết
công văn mà mình mang vào lúc nãy là lệnh rút quân mà trên đưa xuống. Hằng vội
gặp đại đội trưởng trình bày về tình hình sông nước vừa gặp lúc đi vào. Nghe
xong đại đội trưởng bảo:
- Không sao đâu! Có khi
mình ra đến nơi thì suối đã cạn khênh rồi ấy chứ. Vùng này thỉnh thoảng nước lũ
vẫn tràn về như vậy nhưng chỉ ba bốn tiếng là lại cạn ngay.
Dừng một lúc đại đội trưởng
lại hỏi Hằng:
- Thế vừa rồi cậu đi vào bằng
cách nào?
- Đành phải nhảy xuống mà
bơi thôi chứ còn biết làm thế nào hả thủ trưởng!
Nghe đến đây thì đại đội
trưởng ngạc nhiên thực sự, anh vừa quét mắt nhìn khắp một lượt trên người của Hằng
vừa bảo:
- Thế mà cậu chả dìm luôn cả
người lẫn công văn xuống suối để chúng tớ lại bị một phen đi tìm bở hơi tai thì
mới vừa.
- Làm thế nào được! Ông
Phát bảo phải kịp thời, không thì ông ấy cho ra bã!
- Mà cũng phải…! Thôi cậu dẫn
đường đi, cậu giúp thằng Tâm mang mấy bao gạo ra luôn ngoài ấy.
Không lâu sau toàn bộ lực
lượng của sư đoàn đã rút quân ra tận Kỳ Tây, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tiếp tục những
ngày học tập và huấn luyện, chuẩn bị cho những nhiệm vụ tiếp theo ở một mặt trận
nào đó mà không ai có thể dự đoán được.
Về Kỳ Tây mới chỉ được mấy
hôm đơn vị đã lại bắt đầu đi vào học tập và rèn luyện. Những bài tập bắn bia được
ôn lại từ đầu như khi mới vào bộ đội. Từ bia số 4, số 6 đến bia số 7, bia thằng
còm di động, chả thiếu loại bia nào. Các buổi tối không sinh hoạt thì tập bắn
đèn ở sân kho của hợp tác xã. Cũng chẳng biết thế nào mà ngay hôm tập bắn đèn đầu
tiên cậu Long ở trung đội 2 lại cho nổ một viên đạn. Cũng may là viên đạn không
gây sát thương cho ai mà chỉ làm vỡ cây cột cái bằng luồng của một nhà dân ở
bên trái sân kho. Làm mất công trung đội phải đi thương lượng xin lỗi gia đình
bị nạn. Sau vụ này đơn vị họp lên họp xuống để tìm nguyên nhân mà vẫn không tìm
ra nguyên nhân của sự việc. Trung đội trưởng trung đội 2 nói anh đã cho khám
súng rất cẩn thận trước khi vào huấn luyện lại có cả chính trị viên phó cùng
tham gia buổi tập xác nhận. Mãi về sau này, khi sự việc đã dần lãng quên rồi
người ta mới đoán rằng có lẽ có cậu nào đang ở phiên gác đã đi qua bãi tập rẽ
vào rồi để lẫn súng gác với súng tập. Những người gác hôm ấy thì cũng có đến mấy
người, nhưng người làm lẫn súng thì mọi người cũng đã biết. Có điều sự việc đã
nhạt rồi nên ban chỉ huy chỉ gọi cậu ta lên để phê bình rút kinh nghiệm một lúc
rồi cũng thôi không kỷ luật nữa.
Công tác đoàn cùng với các
chương trình văn nghệ đã làm cho Hằng bận suốt ngày không hết việc, nay lại
càng bận thêm với cái chức phó chủ tịch hội đồng quân nhân của đại đội mà Hằng
vừa được bầu vào trong đợt củng cố đơn vị lần này. Nào là tổ chức dạy những bài
hát truyền thống, nào là viết kịch bản và dàn dựng các vai kịch cho tổ văn nghệ,
rồi thì tập huấn diễn viên. Lại còn khổ hơn khi chả có ai muốn đóng vai cố vấn
Mỹ vừa nham hiểm, độc ác, vừa đểu giả với các cô gái trong cốt kịch do Hằng viết
ra. Thế là Hằng đành phải vào vai kịch này vậy.
Cuối cùng thì đơn vị cũng tổ
chức thành công buổi biểu diễn văn nghệ với hàng chục các tiết mục từ tấu nói đến
ca hát tập thể, ca hát cá nhân và cuối cùng đêm diễn là vở kịch viết về các chiến
sĩ biệt động miền Nam tổ chức đánh Mỹ ngay tại nội đô Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngoài
các khán giả là cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị ra còn có rất đông thanh niên và
nhân dân của địa phương cũng đến xem. Mỗi tiết mục kết thúc là tiếng vỗ tay lại
vang lên không ngớt, làm cho không khí của một vùng quê như bừng dậy sau rất
nhiều thời gian im lìm vắng lặng của những năm chiến tranh bom đạn.
Suốt trong mấy ngày nay
trên đài nói nhiều về mức nước sông Hằng, sông Đuống ngày một lên to. Những người
quê ở gần các vùng sông này luôn lo lắng về một cuộc vỡ đê có thể sảy ra. Trong
những năm Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng cũng đã nhiều lần
đánh vào đê đập và các công trình thuỷ lợi. Nhiều chỗ mới chỉ kịp hàn vá mà
chưa củng cố được nên rất xung yếu không biết vỡ lúc nào. Thế rồi cái việc luôn
lo lắng ấy cũng đã sảy ra ở đê sông Đuống. Đê làng Tình Quang thuộc huyện Gia
Lâm chính là điểm vỡ lớn nhất. Cả một khu vực rộng lớn bao gồm cả mấy huyện của
Hà Bắc, Hải Hưng và Hà Nội đều bị ngập lụt có chỗ sâu tới ba, bốn mét nước. Đơn
vị cũng có rất nhiều chiến sĩ quê ở trong vùng bị lụt nên cũng đã báo cáo lên cấp
trên cho về phép đặc biệt. Các đề nghị cũng đã được sư đoàn chấp nhận và giao
cho các đơn vị bố trí.
Sau cuộc họp điểm danh buổi
tối xong anh Huynh chính trị viên phó nháy Hằng ra cổng doanh trại không biết để
làm gì mà nghe có vẻ rất bí mật. Đoán chắc lại bàn về công tác thanh niên nên Hằng
lừng chừng mãi không chịu ra. Vừa lúc ấy hai cậu liên lạc cùng với y tá Cứ lại
rủ đánh bài bôi nhọ nồi thế là Hằng quên luôn không ra cổng nữa. Chờ mãi không
thấy Hằng, anh Huynh lại quay trở vào nhà kho. Vừa thấy Hằng đang quỳ trên chiếu
anh liền dùng hai đốt ngón tay dọi cho một cái vào đầu rồi bảo:
- Lúc họp nói thế nào mà lại
không ra thế hở?
Lúc ấy Hằng mới nhớ ra, bèn
xếp bài lại tiện tay đưa cho anh nuôi trưởng Toán rồi theo anh Huynh ra ngoài cổng.
Thì ra anh Huynh gọi Hằng ra để báo cho biết là cậu được về phép đặc biệt vào
sáng ngày mai. Hằng vừa nghe được đã định hét toáng lên thì anh Huynh giơ ta bịt
mồm lại:
- Này cả đơn vị chỉ có mỗi
một mình cậu được đi thôi đấy! Đừng làm ồn lên ảnh hưởng đến đơn vị.
Ngừng một lúc anh lại nói
tiếp:
- Xuống ngay chỗ cậu Binh
quản lý thanh toán tiền đi đường cho kịp mai đi sớm. Chốc nữa tớ gửi mấy bức
thư mang về ngoài đó bỏ cho nhanh.
- Thủ trưởng yên tâm em sẽ
bỏ ở nơi bưu điện lớn nhất tỉnh để thư đến cho nhanh.
- Thôi không phải về tỉnh
mà chỉ cần bỏ ở Hà Nội là được, Hà Tây nhà tớ ở ngay cạnh Hà Nội còn gì!
Công việc thanh toán cũng
chả lâu la gì vì hình như Anh Binh quản lý đã được biết trước nên đã chuẩn bị sẵn
rồi.
Đêm sao mà dài thế đến thế!
Hình như Hằng chưa thấy có một đêm nào dài đến thế bao giờ. Vừa thao thức nhớ về
nhà vừa bị mấy cậu liên lạc lạo xạo viết thư trong góc nhà không sao yên tĩnh
được nên Hằng đành giương mắt thao láo ra để chờ sáng.
Thực ra thì có rất nhiều
người quê ở vùng lụt nhưng chỉ mỗi một mình Hằng được về thì đó quả là một điều
đặc biết. Có lẽ Hằng là người ở trong đại đội bộ nên các thủ trưởng cũng tin tưởng
hơn số anh em khác. Bởi vì khi cho một chiến sĩ về nhà cách xa đơn vị đến hơn bốn
trăm cây, rồi chiến sĩ ấy có trả phép đúng hẹn hay không hoặc giả có thể cậu ta
đảo ngũ không trở lại thì sao? Có lẽ ngoài lý do trên các thủ trưởng cũng như
có ý thưởng công cho Hằng vì những cố gắng trong mấy tháng qua về công tác
đoàn, công tác báo chí và công tác hoạt động văn nghệ. Thôi thì vì cái gì cũng
được miễn là mình là người được về thăm nhà thế là quý lắm rồi.
Trời còn chưa sáng rõ mặt
người, Hằng đã ba lô khăn gói từ biệt các thủ trưởng và các bạn trong đại đội bộ
lên đường. Chặng đường từ Kỳ Tây lên thị trấn Kỳ Hoa cũng khá dài và lại chẳng
có loại xe chở khách nào nên Hằng đành phải đi bộ. Chưa đi được năm sáu cây số
Hằng đã gặp đến năm, sáu cái ngầm. Ngầm nào cũng ngập nước thế là Hằng cũng chẳng
buồn thay quần nữa mà cứ mặc ướt để đi. Đang mừng vì sắp đến Kỳ Hoa thì lại gặp
ngay một cái ngầm nữa. Ngầm dài đến hơn ba chục mét mà nước thì lại có vẻ rất
sâu. Những khối nước không biết từ đâu dồn về lao đi cuồn cuộn va vào bờ đá
tung bọt trắng xoá, cùng với những khối nước sẵn có từ trước xoáy cuộn ào ào chảy
từ bên này đường rồi đổ xuống bên kia đường với độ cao đến năm sáu mét. Chẳng dễ
gì trụ lại trên những xoáy nước mặt đường mà không bị khối nước kia hắt xuống
bên kia đường rồi trôi tuột đi đâu không biết. Thế là lại phải đợi mất mấy tiếng
đồng hồ chờ nước cạn. Chắc chắn lại nhỡ chuyến xe đêm nay rồi, thật là ngán ngẩm
hết chỗ nói.
Dòng nước vẫn chảy dường
như không có dấu hiệu của sự thuyên giảm. Đường đồi vắng ngắt không một bóng
người. Từ trên một sườn núi cách đó không xa vẫn còn đó hai sợi dây cáp của cây
cầu treo thời đi bộ hành quân vàoNam. Thực ra cái thời vừa nói đến cũng chẳng
xa gì bởi con đường 559 cũng mới được bắt đầu khai thác trong vòng sáu năm đây
thôi. Bởi con đường từ KỳTây đi lên Kỳ Hoa cũng vẫn còn nguyên màu tươi mới của
đất đồi đỏ dọi. Đâu đây hình bóng những cô gái mặc áo phòng không vẫn còn đâu
đó ở trên đường cùng với những cuốc xẻng, quang gánh bên một đoạn đường đầy hố
bom sâu hoắm. Những người con gái chỉ mới vừa mười sáu tuổi đã bước chân
vào cuộc chiến với sự quả cảm ít người sánh nổi. Trên đoạn đường ngầm này thôi,
không biết đã có bao nhiêu người đã ngã xuống, không bao giờ còn trở lại quê
hương được nữa.
Đang mải nhìn lên những sợi
dây cáp trên đỉnh núi cao và suy nghĩ linh tinh nên Hằng không để ý từ phía bên
kia ngầm đã xuất hiện hai người đàn ông, một già, một trẻ, đang đứng ngó
nghiêng quãng đường ngập nước. Sau khi nghe hai người ở phía bên kia vừa trao đổi
với nhau mấy câu bằng cái giọng của địa phương miền trong vừa sắn quần, sắn áo
thì Hằng đoán rằng họ đang định vượt sông. Đến lúc này thì Hằng chăm chú theo
dõi xem họ sẽ vượt sông như thế nào để rồi mình cũng sẽ bắt chước. Dù sao thì
những người sống ở những vùng quê như thế này chắc họ sẽ biết được độ sâu nông,
mạnh yếu của dòng nước hoặc ít ra thì họ cũng có kinh nghiệm vượt ngầm hơn
mình.
Chưa đi được mấy bước thì cả
hai người đã ngã nhào xuống mé đường, cũng may là đầu đường bên ấy khe nước
không sâu lắm chứ không thì họ đã gặp nguy hiểm. Lóp ngóp lên bờ trong bộ quần
áo ướt, trông họ thật đáng ngại. Cũng còn may là hôm nay trời không mưa rét chứ
không thì họ cũng gặp nguy hiểm không kém. Mình thật là hy vọng hão huyền!
Còn đương dõi mắt nhìn về đầu
ngầm bên kia thì đã có mấy người từ phía đằng sau tiến lại. Cũng không hiểu họ
rẽ ra từ con đường nào mà trong đó lại có một cô bé mang theo một chiếc xe đạp.
Có lẽ họ ở một khu nào đó ở giữa khoảng đường từ cái ngầm trước cái ngầm lớn
này. Vừa nhìn thấy Hằng thì một người có độ tuổi trung niên cất giọng ồm ồm hỏi:
- Anh bộ đội đã đến đây lâu
chưa hè?
Có lẽ người ấy muồn hỏi thế
để dự đoán thời gian nước sẽ cạn xem có nên chờ hay là quay trở lại. Hằng chưa
kịp trả lời thì người ấy lại hỏi tiếp:
- Rứa anh bộ đội đã có cách
chi đi qua chưa?
Khi nghe hết hai câu hỏi vừa
rồi Hằng chỉ mủm mỉm cười đáp lại và chỉ sang phía bên kia ngầm vừa kể cho cả mấy
người nghe về vụ vượt ngầm không thành của hai người ở bên kia ngầm.
- Bác thấy đấy! Cháu cũng
chưa nghĩ ra cách nào để vượt qua được đâu.
Nghe thấy Hằng nói vậy khuôn
mặt người ấy cũng như buồn hẳn đi. Tuy vậy ông vẫn cất tiếng như là nói với
mình:
- Chả lẽ phải quay trở lại…Thế
thì nhỡ hết cả việc!
Chính trong lúc Hằng cùng
người nhiều tuổi nói chuyện thì cả nhóm người vừa đến cũng rì rầm trao đổi với
nhau. Cho đến khi câu chuyện của Hằng cùng ông già vừa kết thúc thì tất cả cũng
đồng loạt im lặng, làm cho không khí càng nặng nề hơn. Cũng phải mất mấy phút
không ai nói với ai lời nào mà chỉ còn mỗi tiếng nước chảy của con ngầm như sôi
lên trong lòng mọi người.
Có lẽ mọi người đã chẳng
còn hy vọng gì vào việc vượt ngầm nữa nên họ lại quay ra để hỏi thăm nhau. Người
này thì hỏi người kia là người ở đâu đến người nọ thì hỏi người này là sẽ về
đâu. Chỉ có mỗi Hằng cùng ông già là đứng im lặng nhìn dọc cái ngầm đang sôi
lên từng đợt sóng. Vừa lúc đó ông già lại cất giọng ồm ồm lên cắt ngang dòng
suy nghĩ của Hằng:
- Làm sao mà kỳ ni nước lâu
rút vậy hè!
Trong khoảng thời gian tư
duy ngắn ấy Hằng chợt nảy ra một ý nghĩ khá táo bạo, thế là Hằng trao đổi với cả
sáu người mới đến về cách vượt ngầm của mình. Thực ra cũng chẳng có gì phức tạp
lắm về cách vượt ngầm mà Hằng đề xuất. Cái chính là Hằng muốn lợi dụng việc người
nọ lấy người kia làm cọc chống để chống lại sức nước mà thôi.
Nghe xong phương án vượt ngầm
của Hằng, ông già lúc nãy liền đồng ý ngay. Tức khắc ông lại cất cái giọng
ồm ồm lên để đôn đốc mọi người:
- Choa biết các anh bộ đội
là giỏi lắm he! Bây chừ tui sắp thế ni! Tui với anh bộ đội đứng ở mạn nước
xuôi, cậu thanh niên tê thì đỡ cái xe đứng vô giữa, còn lại thì người ni nối
người tê rồi cùng xuống một lượt nghe!
Ngay khi vừa mới xuống mọi
người nghe có vẻ rất chới với, nhất là cô gái có cái xe đạp thì hình như run bắn
cả lên. Thế nhưng đi được độ mươi bước thì cái vòng người có vẻ ổn định trở lại.
Trong vòng tròn thì chỉ có tiếng của ông già, còn từ đầu bên kia là tiếng của
hai người đàn ông hô hoán ầm ĩ át cả tiếng nước chảy.
Cuối cùng thì tất cả mọi
người cũng sang được phía bên kia, mặc dù tất cả đều ướt như chuột lột. Nghỉ được
một lúc, mọi người định đi thì lại phát hiện ra hai người ở bên này còn chưa đi
được, thế là cả nhóm, trừ cô con gái, còn tất cả lại phải đưa hai người quay
sang bờ bên kia rồi mới quay trở lại. Cả sáu người bắt tay chào nhau xong là hối
hả lên đường. Nhìn những khuôn mặt hể hả vui tươi chào mình Hằng chợt nhớ lại lời
ông già nói trước lúc chia tay:
- Choa biết, cứ khi nào có
khó khăn mà gặp các anh bộ đội là choa không lo chi hết mô! Cách chi các anh ấy
cũng vượt qua được!
Dù sao thì cũng phải có mọi
người cùng chung sức, chứ nếu chỉ có một mình thì anh bộ đội của ông cũng cứ là
phải chờ thôi đấy ạ! Một loạt những ý nghĩ trong đầu về dân vận và về nhiều điều
khác nữa trong những năm tháng quân ngũ cứ lướt qua như những trang sách. Tất cả
hầu như đều là những điều tốt đẹp và thật cao thượng.
Hằng đến Kỳ Hoa vừa kịp mua
vé xe ra Bắc và chỉ sau một đêm quãng đường đã được rút ngắn lại, cho dù tầu hoả
cũng vẫn chậm rề rề như mọi khi. Lọc cọc suốt hai ngày đêm rồi Hằng cũng đã về
đến Hà Nội. Xuống tầu thì trời đã chiều nên Hằng không vào chỗ thím Đối mà về
ngay nhà. Từ ga về nhà có lẽ cũng phải hơn chục cây số. Quãng đường như vậy đối
với một đồng chí bộ đội đã từng rèn luyện đi Nam lại đã trải qua chiến
đấu trên mặt trận Nam Lào thì mười cây số có đáng kể gì.
MẶT TRẬN
1
Cũng thật là may cho đồng
chí bộ đội vì vừa bước chân lên cầu Long Biên thì gặp ngay một ông cán bộ dân sự
quần áo trắng tuốt đang cưỡi trên chiếc xe máy JaVa dừng lại ngay trước mặt mời
lên xe cùng đi. Cho dù chiếc ba lô cứ giật bình bịch sau lưng mỗi khi xe đi vào
các ổ gà nhưng Hằng cũng chả để ý. Trong đầu cậu chỉ còn nghĩ làm sao để có thể
về nhà gặp mẹ và mọi người trong nhà nhanh hơn mà thôi. Vừa đi người cán bộ vừa
hỏi anh bộ đội về tình hình chiến trường trong thời gian vừa qua. Suy nghĩ một
thoáng rồi Hằng cũng kể một vài chi tiết về chiến thắng của quân ta cho người
cán bộ vừa lòng. Có lẽ Hằng cũng chỉ có thể nói ở mức như đài đã nói mà thôi,
vì nếu nói nhiều hơn nữa có khi lại vi phạm kỷ luật giữ bí mật của quân đội thì
thật là không đáng. Đã có không ít những câu chuyện về giữ gìn bí mật trong tiết
mục kể chuyện cảnh giác ở trên đài mà mọi người vẫn được nghe. Có điều để đối xử
với một người tốt với mình như thế này thật không thể không làm cho họ có một
chút hài lòng về những điều mà họ đang mong mỏi muốn biết. Chả lẽ mình lại có
thể máy móc đến mức quá đáng thế chăng. Dù sao thì mình cũng là một quân nhân,
kỷ luật buộc mình phải nghĩ và làm như vậy, cũng mong đồng chí thông cảm cho.
Vừa bắt đầu vào Ô Cách đã
thấy quang cảnh lụt lội hiện ra ngay trên đường quốc lộ. Hàng ngàn những bao tải
đất, cùng với những hòn đất nặn tròn như những cái bánh tàu hoả nằm rải rác
trên khắp cánh đồng trước mặt và cả hai bên đường quốc lộ. Đây đó ngay bên vệ
đường cũng xếp từng đống lớn những thứ mà nước đã cuốn chúng từ chỗ đê bị vỡ về
đây. Có lẽ các địa phương có sông đi qua đã được lệnh chuẩn bị những thứ như vậy
để phòng lụt và bây giờ đã được mang ra sử dụng. Có điều đáng lẽ tất cả những
thứ này phải nằm ở chỗ đê bị vỡ thì mới chặn được nước, thế mà lại bị đẩy đi xa
đến hàng chục cây số thế này thì chắc là chỗ vỡ to lắm. Bất chợt Hằng nghĩ
không biết ở nhà có ai làm sao không? Căn nhà tranh nhà mình ọp ẹp quá không biết
có bị trôi đi hay không? Gần cả đời mẹ mới có một căn nhà cho mình và các con,
nếu lại bị đổ nát hoặc bị nước cuốn trôi đi mất thì chắc là bà buồn lắm.
Cuối cùng thì Hằng cũng về
đến nhà, sau một hồi lặn lội từ đường quốc lộ vào làng. Có lẽ cũng phải đến gần
một cây số Hằng phải đội ba lô lên đầu rồi dò dẫm trong nước mãi mới về được đến
cổng làng. Ngôi nhà tranh nhà Hằng chưa bị đổ nhưng nước ngập ngang cột hiên. Cả
khu xóm mới này vắng ngắt không một bóng người, không biết hỏi ai được về tình
hình mẹ và em gái ra sao. Nghĩ lại trận lụt năm 1957 Hằng tin rằng có thể mẹ và
em vào ở nhà anh Chìu chị Mão vì nơi này cao nhất làng từ trước đến giờ. Hằng
đang bươn bả đi vào nhà anh rể thì gặp chị cả đi từ trong nhà anh rể đi ra. Hai
chị em mừng rỡ túm lấy nhau hô hoán ầm ĩ cả lên. Thì ra chị nghe tin trên nhà lụt
to nên cũng vội vàng thu xếp việc nhà rồi vội vã theo tàu lên từ mấy hôm trước.
Hai chị em vào nhà thì thấy
mọi người tập trung khá đông đủ ở đây, mọi người hỏi thăm lẫn nhau ồn ã đến một
lúc lâu mới tạm lắng đi. Lên thăm lụt kỳ này còn có ông bố và người anh chú
Thành, chồng cô Hà cũng từ Thái Bình mới lên sớm nay. Cũng may cho kỳ phép đặc
biệt lần này mà Hằng gặp được người nhà chú Thành, bởi khi hai người tổ chức cưới
nhau Hằng ở chiến trường nên chẳng được biết tý gì.
Ngay hôm sau số khách các
nơi ai nấy đều đã về cả bởi đã biết việc lụt lội cũng đã khá ổn định lại rồi huống
gì việc ăn ở cũng rất chật chội. Hằng ở lại nhà mấy ngày với mẹ và em rồi lại
cùng anh cả về Nam Định. Việc về Nam Định lần này là do anh cả đề xuất nhằm mục
đích tìm cho Hằng một cô vợ để sau này Hằng sẽ ở lại quê để gây dựng cuộc sống
cùng với anh cả gánh vác việc họ, việc nhà. Cũng thật không may là anh cả lại
dính vào dịch đau mắt đỏ thế là chả đi được đến đâu, mọi dự định đành phải bỏ dở
lại cả. Hai chú cháu Hằng rong chơi quanh làng, ngoài chợ vài ngày cho đến hết
mấy ngày phép rồi Hằng lại lên đường về đơn vị.
2
Gần một tuần lĩnh nhận quân
tư trang và các loại nhu yếu phẩm, thuốc men, súng đạn kết hợp với học tập chính
trị, toàn đơn vị đã bắt đầu lên đường làm nhiệm vụ. Vẫn là tiến vào vùng Cự Nẫm
để rồi lên xe đi vào tuyến lửa. Những năm chiến tranh kéo dài không riêng gì
các miền đất phải đương đầu với bom đạn là gặp khó khăn gian khổ. Những vùng
quê miền trung quanh năm hạn hán kéo dài cũng khó khăn không kém những miền quê
khác. Mỗi ngày các ông già bà cả, kể cả bọn con nít cũng chỉ có khoai và sắn. Vậy
mà cả khoai và sắn cũng phải ăn dè, hạt tiện mới có thể tùng tiệm qua ngày. Cứ
sau mỗi đợt chuyển quân Hằng lại đến một gia đình và Hằng lại thấy những người
giống y như thế. Khó khăn là thế nhưng mỗi khi các gia đình có một vài anh bộ đội
đến ở thì cả nhà náo nhiệt vui không thể nào nói hết. Có lẽ vì thế mà mỗi ngày
xa gia đình những người lính phần nào vơi đi những nỗi buồn để phấn chấn hơn
chuẩn bị cho những ngày ra đi sắp tới.
Nhớ lại ngày đầu tiên khi Hằng
đến ngôi nhà lá của cụ Thêm ở Kỳ Thượng lại thấy buồn vui lẫn lộn. Khi Hằng và
anh Như người Thái Bình vác ba lô đến thì chỉ thấy cụ chủ nhà đi thoáng qua rồi
không trở lại. Thế là hai anh em phải chờ gần ba tiếng đồng hồ vẫn chưa có chỗ
nghỉ ngơi, trong khi cả đại đội đều đã ổn định xong chỗ ở. Mỏi quá Hằng để cả
ba lô trên hè rồi ngồi dựa vào bờ vách bằng gỗ ngủ thiếp đi. Khi thức dậy không
thấy anh Như đâu cả đang định đi tìm thì thấy ba lô của anh vẫn để ngay bên cạnh.
Đang chưa biết làm thế nào thì anh Như lò dò về đến sân, cùng đi với anh còn có
trung đội trưởng Giao vừa đi vừa cười rổn rổn. Không biết có chuyện gì mà vui đến
thế không biết, trong khi các tướng đã ăn ngon ngủ yên còn hai anh em người ta
vẫn loay hoay ở một đầu hè.
- Tất cả là tại cậu đấy!
Thấy anh Giao vừa nói vừa
nhìn vào mình, Hằng đâm nghi hoặc hỏi lại.
- Cái gì mà tại em hả anh
Giao?
- Tại cậu là dân Hà Nội.
- Hà Nội thì làm sao?
- Chả là mấy năm trước có mấy
toán thanh niên xung phong đến làm đường, họ chơi bời phóng túng quá mà bọn này
toàn là dân Hà Nội thành ra cụ ấy có ác cảm với dân Hà Nội của các cậu.
- Nhưng mà em đã gặp …ông cụ
ấy bao giờ đâu!
- Thì thế mới nên chuyện!
Chả là khi phân phối nhà ở ông Nhu nhà mình lại còn giới thiệu thêm những cái tốt
của cánh lính tráng chúng ta. Đâu là có văn hoá, có trình độ, sinh ra lớn lên ở
những nơi có truyền thống để cho bà con dễ chấp nhận, nào ngờ nói đến cậu sinh
ra lớn lên ở thủ đô thì ai cũng ngài ngại. Ông cụ chủ nhà các cậu lại đang ở đó
thế là ông cụ kiên quyết tẩy chay, thế mới chết chứ!
Ngừng lại một lúc để lấy
hơi vì sợ người khác chê nói dài, mà quả là cũng dài thật còn gì, anh Giao lại
tiếp tục giảng giải
- Chỉ tý nữa là cụ chủ về
thôi, chúng tớ đã giải toả tâm lý cho cụ ấy rồi, cứ yên tâm chờ đợi! Thế thôi tớ
về nhé!
- Thế còn cơm nước thế nào?
- Thì tý nữa sang nhà trung
đội ăn cơm! Lâu nay cậu có háu ăn, háu uống như thế bao giờ đâu? Nay mai vào
trong ấy có khi còn nhỡ bữa đôi ba ngày là chuyện thường ấy chứ!
Lại tràng giang đại hải, hỏi
mỗi nửa câu mà trả lời đến mấy câu liền, khiếp thật. Ông ấy mà là chính trị
viên thì chỉ những họp rồi lê thê mà mệt chứ chẳng chơi. Nghĩ vậy nhưng thật ra
trong lòng Hằng, anh Giao là người mà cậu rất tin yêu và quý mến. Từ ngày
về trung đội của anh, Hằng chưa bao giờ thấy anh nóng giận ai bao giờ. Cho dù
là mấy cậu lính đồng hương Hải Phòng của anh luôn trốn trại đi chơi làm anh mất
mặt, đến cánh lãnh đạo cấp trên ít tuổi hơn anh hay làm phách phê phán này nọ
anh cũng chỉ cười ồ ồ rồi bỏ đi nơi khác. Anh có biệt tài hoà giải mọi người
trong khi bất đồng quan điểm, kể cả khi bàn công việc lẫn khi đỏ mặt tía tai
trên những bàn cờ đang vào nước bí. Cũng không biết thế nào mà khi các đối thủ
đang căng nhau anh lại đưa tay vào bàn cờ của họ để rồi gỡ hộ bên này một nước,
hoặc mách cho bên kia một vài nước mà họ lại đều để mặc cho anh thao túng. Cứ
như thế cho đến khi các đối thủ say sưa trở lại cuộc chơi một cách êm thắm.
Chuyện ngày thường là thế nhưng khi vào nhiệm vụ thì anh lại thay đổi khác hẳn.
Từ việc phân công, giao nhiệm vụ đến việc kiểm tra kết quả công tác anh không bỏ
sót một chi tiết nào. Đôn đốc nhắc nhở chi tiết, kỹ lưỡng đến chân tơ kẽ tóc,
phê bình khiển trách cụ thể, sát sàn sạt đến tận mặt không vị nể một ai. Vậy
nhưng hầu như chưa ai bất bình về những việc mà anh đã quyết định có liên quan
tới họ, kể cả đó là những lời phê phán khá là nặng nề. Mọi người thấy anh luôn
tròn trặn và không bận tâm nhiều về anh vì anh thật giản dị. Sự có mặt của anh
trong đơn vị giống như là khí trời vốn dĩ lúc nào cũng sẵn có trong tự nhiên vậy.
Một người lãnh đạo như thế tựa như của hiếm trong ngàn vạn con người. Ai sẽ là
người nhận ra những viên ngọc sáng đẹp ấy để mà xếp vào đúng cái vị trí của nó.
Những người tuyển ngọc vốn dĩ không là ngọc, thế thì họ biết thế nào về màu sắc,
hình dáng của ngọc!
Cơm nước xong được một lúc
thì đại đội tập trung điểm danh như thường lệ. Kể ra nếu như ở vùng gần nơi phường
phố thì cái sự tranh thủ te tắt để ngó nghiêng quang cảnh một tý là cái việc
thường xảy ra nên không hiếm những buổi đơn vị phải tổ chức đi tìm người. Còn ở
nơi xa lắc này, chỉ toàn rừng rú thì việc kiểm tra con số cũng chỉ là làm theo
nguyên tắc mà thôi. Thế nên cũng chỉ độ ba mươi phút là đơn vị đã giải tán, ai
về nhà ấy. Đang định theo anh Như về nhà trọ thì cậu Luận xô đến bên:
- Thế nào rồi anh?
- Thế nào thì anh biết cậu
hỏi cái gì?
Chưa kịp nghe Luận giải
thích về câu hỏi vừa rồi đã nghe từ phía sau có giọng nói cất lên:
- Thì cái việc nhà trọ ấy?
Té ra là Kiệm thư sinh,
không biết cũng đã đến bên cạnh từ lúc nào.
- Xong rồi! Xong rồi!
Cũng đã lâu lắm mấy anh em
không có dịp trò chuyện cùng nhau, nhất là vừa rồi Hằng lại vừa về phép qua nhà
vào. Sau một hồi trả lời hàng loạt câu hỏi của hai chàng trai trẻ Hằng cũng kể
thêm sự gặp mặt với mấy cô gái Hà thành làm cho các chàng trai trẻ thích thú
không khác gì nghe đọc tiểu thuyết tình yêu. Sau những câu chuyện của Hằng, những
câu chuyện riêng của từng cậu cũng được bộc lộ với vẻ lo lắng bần thần.
- Không biết cô ấy có còn
nhớ em không biết!
- Mới xa nhau chưa được một
năm, làm gì mà đã nhanh quên đến thế!
- Anh không biết đâu! Bên cạnh
cô ấy có đến ba bốn đứa nhằm vào, em lại ở xa! Cự ly như thế chắc là bất lợi rồi
anh ạ.
- Đừng bi quan và cũng đừng
coi thường chị em phụ nữ. Một khi người ta đã yêu thì họ phải say mình một điều
gì chứ không phải họ yêu theo cảm tính đâu, thế nên các cậu chỉ cần chăm viết
thư về là được.
- Thế mà vừa rồi em lại cứ
phân vân mới chết chứ. Em sợ nói chuyện tình cảm nhiều rồi đến khi họ lấy người
khác họ đem ra đọc cho nhau nghe rồi họ cười với nhau thì chán chết.
- Không bao giờ đâu! Cậu chỉ
lo bò trắng răng mà thôi. Một khi đã đi với người khác họ lại lo cái người mới
biết chuyện cũ còn hơn là lo gặp hổ đón hơi ấy chứ.
- Thế thì em phải viết thư
ngay hôm nay mới được anh ạ.
- Thế còn thằng này thế
nào?
Kiệm chậm rãi trả lời:
- Em thì chỉ mới thích cô ấy,
chứ còn cô ấy thế nào thì em không biết.
- Thế thì đâu đã có gì được.
Này nhưng lúc cậu lên đường đi bộ đội cô ấy đối với cậu thế nào?
- Từ khi em trúng tuyển
nghĩa vụ, chiều nào cô ấy cũng sang chơi. Còn thằng Lượng ở ngay bên cạnh cũng
đi với em một đợt mà chả thấy cô ấy đến thăm hỏi lần nào.
- Thế là yêu rồi! Sao mà dốt
thế không biết! Người ta đợi cậu nói ra đến đỏ con mắt mà lại không nói gì có
chết không cơ chứ.
- Không biết thế nào mà lúc
chia tay em chỉ nói với cô ấy là thỉnh thoảng bạn đến chơi cho mế tớ đỡ buồn,
cô ấy nói đồng ý thế rồi cô ấy cũng buồn lây theo em mà rơm rớm nước mắt anh ạ!
- Đồ con khỉ! Cô ấy làm gì
phải buồn lây vì cậu mà cô ấy buồn vì phải xa cậu! Hiểu chửa đồ con khỉ?
- Thật thế hả anh?
- Chứ còn sao nữa!
Rõ là anh loà lại dẫn anh
mù! Một anh chàng chưa yêu nổi một mối tình nào cho trọn vẹn lại đi hướng dẫn về
tình yêu cho những người khác nghe thật tức cười. Nhưng dù sao thì giữa xứ mù
có một anh chột cũng đã là có sự hơn hẳn rồi, nhất là anh ta lại có cái mốc tuổi
đời nhiều hơn họ đến ba bốn năm chứ chẳng chơi.
Câu chuyện của những chàng
trai trẻ chưa vợ thì có rất nhiều, nhưng vốn dĩ vẫn là những câu chuyện mang đề
tài tình yêu là chính. Xin cũng đừng trách cứ họ thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí
trong lúc đất nước đang từng ngày hướng đến một mục đích lớn lao hơn, trong lúc
xã hội đòi hỏi ở họ những điều to lớn hơn về trách nhiệm của những người lính
mà họ lại nghĩ nhiều đến cái sự tư riêng như vậy. Tuổi trẻ thường là thế, cho
dù bất kỳ ở thời nào họ vẫn luôn yêu hết mình, nhưng không phải vì thế mà họ
không dám quên mình cho sự nghiệp chung của đất nước. Cho dù ngay sau những
giây phút say đắm với những kỷ niệm thân thiết họ vẫn vững vàng lao vào cuộc
chiến cho dù họ biết họ có phải hy sinh.
Ngay từ những ngày tập
trung huấn luyện ở tỉnh đội bộ ba một già, hai trẻ này vẫn luôn gắn bó với
nhau. Cũng không thể nói họ gắn bó với nhau vì một lý do nào cả vì họ đến với
nhau rất tự nhiên không hò hẹn thề thốt kết nghì, kết ngãi. Tất cả sự gắn bó tựu
trung lại chỉ là sự đồng cảm nào đó mà mọi người và cả chính họ cũng không thể
nhận ra. Nhưng có một mối quan hệ mà ai cũng phải thừa nhận giữa họ đó là
những người đồng đội.
3
Mới sáng ngày ra mà đã thấy cụ Thêm
đi từ trên nương về. Chả biết có cái gì quan trọng mà thấy cụ đặt cái rổ xuống
bên sân một cách khá thận trọng, trước khi vít cái cần tre cho cái gầu hạ xuống
múc nước để rửa tay chân. Mặc dù cụ sống ở vùng thôn bản khá xa chợ búa và các
vùng phường phố nhưng cụ cũng biết khá nhiều kiểu sống của các tầng lớp dưới
xuôi. Qua câu chuyện cụ kể lại người ta tưởng cụ chỉ là người vùng xuôi lên
chơi với con cháu ở trên này mà thôi. Sự kiện buổi đầu cụ gây ra cho anh Như và
Hằng hầu như mọi người đã quên hẳn rồi. Mấy ngày gần đây cụ đối xử với hai anh
em khá gần gũi và thân thiện. Tuy vậy cụ lại vắng nhà luôn nên cả hai anh em vẫn
chưa có dịp ngồi với cụ, loại trừ vài lần cụ mang nước chè xanh ra mời hai anh
em uống. Nước chè xanh thì Hằng không ham lắm nhưng anh Như thì có vẻ thích, nhất
là vào buổi sớm và sau khi ăn cơm ở nhà bếp về. Cụ bà mất cũng đã khá lâu, các
con gái thì đã về nhà chồng cả cho nên cụ chỉ có một mình. Sáng thì đi nương,
trưa lại về nhà lo cơm, lo nước. Cái vòng tròn ấy hình như đã theo cụ từ lâu,
bây giờ đã thành nề, thành nếp mất rồi. Những quan niệm về cách sống, cách cư xử
của cụ giản dị như mọi người vùng cao khác trên đất nước mình. Quan niệm ấy đã
truyền từ đời này sang đời khác cho dù nhiều năm gần đây phong trào Hợp tác xã
đã mở ra nhiều mối giao tiếp giữa những người trong cùng thôn bản và rồi cũng
có nhiều đơn vị, cơ quan sơ tán về cùng sống đưa đến khá nhiều kiểu văn minh và
cũng mang đến khối chuyện phiền toái và không hợp với đạo lý của vùng quê này.
Cũng không biết thế nào mà cách đây mấy năm có một đơn vị
Thanh niên xung phong nói là ở Thủ đô vào ở nhờ một thời gian để chữa đườngC, đến
khi rút đi rồi lòng dân có vẻ bất mãn quá, đến mức chỉ nghe nói là người Hà Nội
là đã mất hết thiện cảm như cụ Thêm chủ nhà mà Hằng và anh Như trọ trong những
ngày đầu khi hai anh em mới đến.
Sau một hồi loay hoay cạnh cái giếng cụ Thêm cũng đã vào nhà với cái rổ trong
tay. Cụ đi thẳng tới trước mặt hai anh em và chìa cái miệng rổ ra nói với anh
Như:
- Bên vườn có quả mít chín,
ta mang về mấy ông con cùng ăn.
Anh Như vội xua tay nói:
- Cụ để cho các cháu bên
các chị ấy dùng, anh em chúng con cũng đã ăn bên cụ Phúc hôm qua rồi.
Cụ Phúc là chủ nhà anh Giao
trọ, cụ có đến vài chục cây cối các loại trong vườn, riêng mít cũng có đến sáu
bẩy cây. cụ Thêm biết vậy nhưng cụ vẫn cố ép hai anh em cùng ăn:
- Bên nhà chúng cũng có, với
lại hôm rồi ta cũng cho chúng một quả to rồi, cái này là cho ông con mình nếm
xem quả vụ này có khá hơn không.
Nói chưa dứt lời cụ đã đi
xuống bếp để lấy dao lên bổ mít.
Từ khi đến đóng quân ở vùng
này Hằng cũng đã nhận thấy đây là vùng quê có khá nhiều khó khăn về kinh tế.
Thóc gạo xem ra không có mấy, thức ăn thường ngày của cả vùng là những bữa cơm
độn một gạo có đến hai, ba ngô hoặc sắn khô. Thức ăn thì hầu như không mấy khi
mua ở chợ . Phần vì chợ xa, vả lại người dân ở đây cũng rất hiếm tiền, chính vì
vậy nên ra rừng kiếm được cái gì thì ăn cái đó. Khi thì là con cầy, con rúi săn
được, nhưng mà rất hiếm, còn lại chủ yếu là các con vật nuôi trong nhà cùng với
đôi ba vạt rau còi cọc vì thiếu nước trồng ở trong vườn. Thoảng hoặc có thu hoạch
được vài loại hoa trái thì lại đem xuống chợ bán lấy tiền mua lấy ít muối, đường
cùng các vật dụng cần thiết khác. Món mít xanh cũng là một nguồn thức ăn dự trữ
của mọi nhà ở các dạng muối, xào, kho để có chút mặn mồm nuốt trôi đôi ba bát
cơm độn thường ngày.
Mỗi lần qua bếp anh nuôi ăn
cơm xong Hằng cũng hay lọ mọ xuống chỗ anh Toán anh nuôi trưởng ngồi chơi. Thực
ra thì Hằng xuống xem có cái gì ăn được là Hằng xin về cho cụ Thêm. Anh Toán
cũng biết vậy nên hôm thì ít muối, ít mỡ xào rán còn lại, cũng có khi là một phần
của hộp thịt đã chia cho các mâm còn lại anh cũng đưa cho Hằng. Những khi có
chút gì Hằng mang về cho cụ Thêm đều cất đặt khá kín đáo rồi cái thì đem cho mấy
đứa cháu, cái gì ít ỏi một chút thì cụ để lại cho mình. Cũng không phải ngay từ
đầu cụ Thêm đã nhận những thứ Hằng mang về ngay đâu. Cụ ngờ vực Hằng bớt xén để
mang về rồi đơn vị sẽ phê bình, về sau nghe Hằng giải thích mãi cụ mới thôi
không cật vấn nữa.
Cũng phải đến gần một tháng
ở trong nhà cụ Thêm, giờ đây hai anh em mới lại tìm thấy nét tươi vui hài hước
của cụ. Những câu chuyện về gia đình và bản thân cụ lần lượt được cụ kể lại cho
hai anh em nghe. Đâu là chuyện đi săn thú trên rừng, chuyện vui tết của ngày
xưa, cả chuyện cụ phải lòng cụ bà như thế nào cũng được kể ra. Thế rồi cụ lại
nói đến đám người ngày xưa đã trọ trong nhà cụ, từ việc họ ôm ấp nhau ra sao đến
chuyện họ gần gũi quá đáng cùng nhau làm cho cụ thấy nó khó nhìn và đáng xấu hổ.
Mỗi lần nghe đến đó Hằng lại phì cười rồi bao biện cho đám người nọ:
- Đó là bố chưa quen gặp cảnh
này bao giờ mà thôi! Người nước ngoài họ cho đó là chuyện bình thường bố ạ.
- Đấy biết ngay mà! Đã là
dân Hà Nội anh nào chả thế! Chẳng qua là cánh Hà Nội kỳ này chỉ có mỗi mình cậu
nên cậu bất lực mà thôi. Cho dù thế nào thì bố cũng không tán thành cách sống
như vậy. Vừa lúc đó anh Như xen vào:
- Bố có biết cái Xoan cháu
ngoại của bố đang nhắm vào đứa nào không? Nó đấy bố ạ! Cậu ấy còn phải trốn
không dám gặp để tránh sự phê bình của ông Giao đấy!
Vừa nói đến đây thì cụ Thêm
bật quát lên:
- Này anh đừng tưởng anh là
người văn minh mà anh coi thường cháu tôi đấy nhé! Cả bản chỉ có mình nó là
xinh nhất thôi đấy, anh còn đòi gì hơn nữa nào.
- Thế nhớ! Nếu mà mai đây
nó lại mang văn minh đến cho cháu của bố thì làm thế nào?
- Cháu của ta chắc hẳn là
nó không như thế chứ…!
Cụ Thêm hơi lưỡng lự vừa
như trả lời anh Như, vừa như tự nói với mình về sự ngờ vực không biết cháu mình
nó có tránh được cái sự ấy không? Cái Huyền nhà bà Tám chả bảo chín chắn đó sao
thế mà rồi cũng trốn nhà đi biệt có thấy về đâu.
- Này thế mày đã thế nào với
cái Xoan hả?
- Bố cứ yên tâm đi cô ấy
còn ít tuổi, mà con cũng có người yêu rồi.
- Chả lẽ cháu của ta không
bằng người yêu gì đó của cậu à?
- Không phải thế, chỉ là
cháu làm sao lại có thể bội bạc với ngườì yêu của cháu được!
- Cậu ấy và cô bạn gái đã
chia tay từ nửa năm trước rồi, nó chẳng còn cô nào nữa đâu bố ạ.
- Thế sao cậu lại dám dối bố
thế nhỉ?
- Chả là tại bố cứ lo cháu
của bố hư hỏng nên…
Cụ Thêm vội cướp lời:
- Này cái việc ấy thì bố
cũng đã xem trên chiếu bóng rồi. Liên Xô họ cũng thế thì chắc cũng không có gì
là xấu. Nhưng dù sao thì cũng ở chỗ kín chứ cứ đứng giữa đường mà cũng thế thì
người ta phải phê phán thôi.
- Có nghĩa là bố đồng ý cho
nó được ấy... chứ gì?
- Ấy là thế nào? Chỉ được
hôn nhau thôi nhưng mà không được cho ai nhìn thấy, nhỡ sau này các cậu không về
đây nữa, bỏ rơi nó thì làm thế nào?
Cụ Thêm nói một thôi một hồi
mà vẫn sợ hai người này không hiểu ý mình. Chẳng qua là cụ cũng kết một cậu
cháu rể như kiểu này rồi nhưng lại sợ cháu mình cũng quá yêu rồi để quá ra thì
mang tiếng nên cụ không biết nói như thế nào cho thoả đáng. Thấy cụ có vẻ lúng
túng anh Như cũng thôi không trêu cụ nữa, anh bảo với ông cụ:
- Bố yên tâm đi, đơn vị
chúng con là đơn vị chủ lực của bộ nên cán bộ, chiến sĩ không ai được vi phạm kỷ
luật đâu.
Mặc dù cái việc đơn vị chủ lực là gì, nó có quan hệ thế nào đến mối tình của bọn
con trai, con gái hay không thì đến người nói ra cũng chẳng hiểu nữa là cụ
Thêm, nhưng dù sao thì câu nói đó cũng làm cho cụ yên lòng hơn.
- Chuyện rông dài mãi, ta phải đi mượn cái thang để lấy cái gầu lên kẻo không
có cái gì múc nước nấu cơm bây giờ đây.
- Sao bố không làm cái dây bằng sắt cho chắc mà lại làm bằng dây rừng cho hay đứt.
- Dây sắt cũng không chịu được đâu, ta cũng đã làm rồi mà không được vì nó cứ oải
cái móc ra, thế là lại tuột.
- Không sao đâu, con đã làm cho nhiều người rồi, múc cả thùng to vẫn không đứt,
không tuột được. Con đã thấy bố có đám dây thép tráng kẽm kia rồi, bây giờ chỉ
cần một cái chạm chặt và một cái búa là xong thôi.
- Các thứ thì có nhưng không biết cái dây có chịu được không?
- Bố cứ yên tâm đi, con làm nhiều lần rồi mà.
Thế là ông cụ bê cả đám đồ nghề bụi bặm trong gậm giường ra cho cậu, tuy rằng
trong bụng vẫn không tin là cậu có thể làm được. Có lẽ cụ cũng định cứ để cho cậu
thất bại, rồi quyết đoán là cậu nói ngoa để rồi lấy cớ răn đe cô cháu gái nên cụ
chấp nhận tốn ít dây thép mà cụ nhặt nhạnh từ hồi còn chiến tranh để lại.
Hằng tìm trong đống đồ cũ đưa ra hai đoạn sắt phi sáu dài đến mười phân rồi đóng
xuống tấm gỗ dầy mà cụ Thêm vẫn làm đòn kê. Từ một cái cọc sắt Hằng quấn một
vòng tròn vào đó xong rồi kéo sang cái cọc sắt thứ hai quấn tiếp hai vòng
tròn khác. Cứ như vậy mà quấn sau một hồi cậu đã có đến hàng chục đoạn dây thép
với hai vòng tròn ở hai đầu dính liền vào nhau. Sau khi đã quấn được nhiều các
đoạn dây giống nhau Hằng liền tháo các đoạn dây rồi chặt từng cái rời ra. Cứ để
nguyên như thế Hằng bẻ gập chỗ giữa của đoạn dây để hai vòng tròn hai đầu chập
vào nhau. Cứ hai vòng đầu của đoạn này móc vào đoạn uốn giữa của đoạn kia rồi
dùng búa gõ cho kín các vòng tròn đầu lại thế là các đoạn nối liên tiếp với
nhau kéo dài mãi ra. Hằng làm chỉ trong một buổi nghỉ mà được hơn mười mét vừa
đủ độ dài của giếng.
Cũng không ngờ cuộc thử dây lại náo nhiệt đến thế. Hàng xóm có, bộ đội có, con
cháu của cụ Thêm nghe tin cũng đến, lẽ dĩ nhiên là có cả cô Xoan cháu gái của cụ
Thêm với đôi mắt lúc nào cũng ánh lên tia sáng như muốn thiêu cháy cái anh bộ đội
ở nhà của ông mình. Sau khi đã gắn vào dây cả cái thùng gánh nước, một chàng
thanh niên thả thùng xuống giếng rồi thì lắc, giật một lúc lâu mà cái thùng
cũng chẳng chịu rời ra và thùng nước đã được kéo lên đầy ắp. Cũng không thiếu
những người còn chưa tin về sự chắc chắn của dây, họ vẫn kéo giăng ra để tìm
xem có chỗ nào khả dĩ có bị oải ra không. Cũng không bao lâu sau người ta đã thừa
nhận là cái dây có thể chịu đựng được sức vóc của thùng nước và rồi họ cùng cười
chia vui với cụ Thêm. Lẽ dĩ nhiên là cụ Thêm đã quên từ lâu cái sự nghi ngờ đối
với chàng trai nọ. Cụ không còn ngại về cái việc cháu gái của cụ mê say anh
chàng bộ đội quê ngoài Hà Nội đang ở nhà mình nữa. Còn một điều mà cụ để ý kỹ
hơn xem cái con cháu gái của cụ có mê trai thật hay không. Tất nhiên là cụ phải
thừa nhận thôi vì cụ đã thấy cháu của cụ chả để ý gì đến thử dây mà suốt cả buổi
con bé chỉ hút mắt vào cái bóng xanh biêng biếc nọ. Cụ thở dài: Thế có chết
không cơ chứ!
Không quá ba tháng sau đơn vị lại rời quê hương của cụ Thêm để lên đường đi chiến
đấu. Anh Như thì đã chuyển đơn vị về tuyến sau, chỉ còn mỗi một mình Hằng chia
tay với ông cháu của cụ Thêm. Câu chuyện say đắm của cô Xoan cháu cụ Thêm cũng
chưa kịp phát triển bởi Hằng luôn cố gắng xa lánh cho dù cô Xoan đã cố tìm cách
thể hiện mối cảm tình của mình mà chàng trai nọ vẫn cứ lơ lửng vậy. Điều này
thì Hằng biết nhưng mà Hằng có sự quyết tâm từ nhiều lần trước đã thành kinh
nghiệm rồi nên mọi sự rồi cũng qua nhanh chóng. Cô Xoan cũng chỉ nước mắt lưng
tròng một chút vậy thôi.
Chỉ còn ba mươi phút nữa là đơn vị sẽ xuất phát. Trong mấy ngày qua Hằng đã thu
thập được một số quần áo dư thừa của mình và cả của mấy cậu bạn mà không phải
thu cũ đổi mới gói vào một bọc khá to. Hằng lại xin được một cái mũ cối còn khá
mới gói vào một tờ báo cũ để lại trên tấm phản mà Hằng và anh Như vẫn nằm ngủ.
Bắt đầu nghe còi của anh Giao cất lên ở đầu xóm Hằng mới gọi cụ Thêm lại để đưa
cho cụ số đồ dùng nọ. Cụ cứ ngần ngại từ chối, Hằng phải động viên mãi cụ vẫn
chưa chịu nhận:
- Tất cả những thứ này cho dù có thu về rồi cũng huỷ bỏ mà thôi, con muốn để lại
cho bố và mọi người dùng cho khỏi phí, huống chi ở mình còn nhiều người rách rưới
quá, ngay bố cũng vá víu nhiều như thế cơ mà.
- Bố ngại rồi trong thôn bản họ sẽ không nghĩ như thế, họ cho là bố lợi dụng!
- Biết vậy nên con đã viết giấy nói rõ việc này rồi lại còn có cả ý kiến của
anh Giao trong ấy nữa đấy bố ạ. Ai hỏi bố cứ đưa giấy ra cho họ là được.
Vừa lúc đó anh Giao cũng vào đến cửa:
- Thế nào! Hai bố con chia tay xong chưa, ra tập trung thôi chứ!
Cả hai cùng chào ông cụ Thêm rồi bước ra, cũng vừa lúc ấy ông trưởng thôn vào đến
trước cửa, ông cất giọng nói với cụ Thêm:
- Việc này chúng cháu đã biết rồi, cụ cứ nhận để mà dùng cụ ạ!
Từ trên khuôn mặt già nua của cụ Thêm phảng phất một nỗi buồn mà cụ ít khi thể
hiện ra ngoài mặt, cụ giơ tay lên như vẫy chào tạm biệt hai người chiến sĩ, mồm
mấp máy không nói thành lời, mắt thì nhìn về một nơi xa đến vô cùng, vô tận. Có
lẽ cụ nghĩ về cái nơi mà những người chiến sĩ sắp đến, cụ hiểu rồi những con
người tốt ấy sẽ gặp chuyện gì và rồi cụ cầu khấn mong cho họ tránh được mọi sự
nguy hiểm, luôn gặp được những điều may mắn. Đoàn quân đã ra đi và chàng trai
Hà Nội ấy cũng không có điều kiện để trở lại vùng quê ấy nữa. Trong lòng của
chàng trai ấy vẫn luôn nhớ về một vùng đất nghèo về vật chất mà giầu tình người.
Câu chuyện về tình dân như thế đâu có gì đặc biệt và đâu chỉ có ở riêng một
vùng nào.
4
Gần đến sáu giờ chiều đơn vị mới bắt đầu tập kết về bãi xe để chuẩn bị lên đường.
Suốt cả buổi chiều mọi người làm các công việc chuẩn bị mà có vẻ như vẫn chưa
xong. Đâu là vài cuốn sổ, cây bút máy, đâu là mấy bộ quần áo lót, rồi thì tăng
võng, hộp thuốc cá nhân. Vài anh nghiện thuốc lào thì còn nhiều thứ nữa, đâu là
cái bật lửa, bình xăng để tra bật lửa. Những gói thuốc dự trữ được vò đi ép lại
sao cho nhỏ nhất để ba lô còn đựng thêm trăm thứ bà rằn khác nữa. Những thứ bắt
buộc ai cũng có như súng đạn, bao gạo thì không thể làm thay đổi khối lượng được
nên mọi người chẳng để tâm đến việc sắp đặt làm gì, chỉ cần khoác lên thế là
xong. Hằng kiểm lại chiếc ba lô của mình lần cuối để tránh bị bỏ lại những thứ
cần thiết cho sau này. Hai bộ quân phục, hai bộ đồ lót, cả cái áo sợi có hàng
khuy trước ngực màu cỏ úa mà anh em quen gọi là áo bà Định. Bà Định không là ai
khác mà là bà Nguyễn Thị Định Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam lúc bấy giờ.
Cũng không biết cơn cớ gì mà anh em chiến sĩ lại gọi đó là áo mang tên của bà.
Những chiếc áo sợi kiểu này khá giống những chiếc áo len hoặc sợi vẫn bán ở miền
Bắc cho các bà các cô dùng. Một mặt nó lại chỉ được cấp khi họ sắp làm quân giải
phóng của bà nên có lẽ vì thế mà họ gọi đó là áo bà Định. Ngoài những thứ của
riêng, Hằng còn phải mang cho đại đội một số quân cụ và còn có cả một bọc khá lớn
mềm trơn. Có lẽ đây là các loại cờ quạt, giấy má mà đại đội cần dùng cho các cuộc
học họp. Công việc chuẩn bị chỉ kết thúc khi tất cả đã lên xe để đi vào mặt trận.
Đoàn xe đã bắt đầu chuyển bánh từ từ lượn trên những đoạn đường cuối của miền đất
phương Bắc. Những bãi khách đã không còn ai ở đang trơ ra những hàng cọc buộc
võng mà mọi người để lại từ những đêm trước. Không riêng gì đơn vị của Hằng ra
trận, bởi có nhiều bãi khách vắng như thế này.
Tất cả những người lính hầu như đều im lặng ngồi trong xe và nhìn ra hai bên đường
như cố thu vào tầm mắt những hình ảnh thân thương của miền Bắc trước khi bóng tối
che đi tất cả mọi thứ. Những gì đã sảy ra trong những ngày gần nhất và cả những
gì đã sảy ra trong quá khứ hầu như đều hiện lên tất cả trong đầu. Thế rồi đến
hình ảnh của những người thân, những bạn bè và cả những người phụ nữ đã quen biết
trong những ngày qua cũng hiện lên cùng với những hình thân mật trìu mến nhất của
họ mà Hằng đã cảm nhận và có ấn tượng ở họ. Có rất nhiều cuộc ra đi đã từng sảy
ra trong mỗi đời người ví như rời nhà đi chơi đâu đó ở nơi họ hàng dăm ba ngày
rồi lại về. Có những lần ra đi xa nhà lâu hơn như đi học nghề, đi làm việc
nhưng rồi cũng lại trở về cho dù có lâu hơn một chút cũng đã làm cho ta xao xuyến,
nhớ nhung.Tuy nhiên những khoảnh khắc ấy nhanh chóng tan đi, nhường cho các trạng
thái bình thường trở lại để con người vui vẻ và cởi mở như trạng thái vốn có.
Nhưng lần ra đi này đã không như thế bởi ngoài cái xao xuyến, nhớ nhung còn một
điều ta phải nghĩ đến đó là lần ra đi này đã đành là rất lâu mới trở lại và rồi
còn có thể trở lại được nữa không mới là điều đáng phải nghĩ đến. Ta hiểu sự hy
vọng vượt qua được sự nguy hiểm và cái chết trong chiến tranh là điều không tưởng,
sự hy vọng ở đây chỉ còn là sự cầu may mà thôi. Tuy nhiên như vậy nhưng con người
ta không chỉ nghĩ về một điều đó, sự lôi cuốn của cả xã hội, sự hứng khởi vì một
sự quang vinh, sự thù hận vì một hành vi tàn ác đối với đồng loại, sự ganh đua
cho cái hơn hẳn của cá nhân, của đồng bọn, đồng phe với mình cũng là những xúc
tác để con người dẹp bỏ đi tất cả mọi điều để dành cho điều đó. Những lúc ấy
cái nguy hiểm và cả cái chết cũng bị coi là nhỏ, nhờ thế mà có bao sự tích anh
hùng làm cho chính ta và cho cả kẻ thù của ta cũng phải nể phục. Tất nhiên là họ
ngạc nhiên và nể phục bởi vì họ đâu có ở trong cái không khí đầy chặt ý niệm
như vậy, họ đâu có đau thương, đâu có mất mát gì để mà phải cố giành giật lại.
Cái của họ là chiếm lấy bằng sức mạnh, chiếm lấy để thoả mãn sự tham lam vô lối
mà thôi. Tuy vậy họ cũng không phải không cố sống, cố chết để giữ bằng được những
thứ mà họ sắp sửa chiếm được, vì họ cũng đã mất nhiều công sức cho cái mưu đồ
nhơ nhuốc ấy, họ cũng đã mất không ít của nả, công sức và cả sự sống nhiều người
của chính họ. Một điều đáng kể nữa là họ đã bị nhục nhã khi cái sức vóc hổ, báo
của họ lại bị thua bởi con giun, cái kiến và rồi còn bao con giun, cái kiến
khác đã ở trong tay họ, đang ở trong tầm ngắm của họ cũng sẽ tuột khỏi, cũng sẽ
coi khinh họ, như thế thì làm sao mà họ không cố sống, cố chết trong cuộc chiến
này… Cũng chỉ là tự mình nghĩ ra mọi chuyện như thế, rồi lại tự đưa mình đến với
cao trào của sự yêu thương, sự bất bình, sự căm thù và rồi chỉ còn lại một điều
duy nhất đó là sự quyết định rằng ta không thể tiếc xương máu trong cái sự nghiệp
lớn lao này của dân tộc. Ta sẽ chiến đấu thật dũng cảm và không ngại ngần hy
sinh một cách anh dũng như những người đồng đội đã đi trước vì mọi người, vì
gia đình và Tổ quốc.
Những chiếc xe Vọt Tiến của Trung Quốc viện trợ dùng để chuyển quân cứ nối tiếp
nhau lao đi trên những quãng đường rừng, đường đèo tối om om dài như vô tận. Những
quầng sáng đèn gầm chỉ nhỏ bằng cái sàng làm sao có thể soi nổi con đường phía
trước, thế mà những người chiến sĩ lái xe vẫn chẳng cần giảm tốc độ. Có lẽ họ
đi theo sự quen thuộc trong đầu chứ không phải dựa vào bóng sáng nhỏ nhoi kia.
Những cú xóc tung lên, hạ xuống cứ liên tiếp xảy ra làm cho người ngồi trên xe
cũng nảy lên, nảy xuống như xóc ốc. Những cú ngoặt tựa hồ như muốn hắt người từ
góc này sang góc khác nếu như họ không bám chặt vào thành xe và không ngồi sát
vào nhau. Ánh sao mờ tỏ trên những khoảng rừng thưa như hé mở cho ta nhìn thấy
sự nguy hiểm hầu như lúc nào cũng có thể xảy ra, bởi khi đầu xe đã nhô ra sát
mép bờ vực mà vẫn chưa thấy đoạn đầu cua ở đâu. Quả thật nếu không quen thuộc
chắc là cả xe và người đã xuống thám hiểm đáy vực từ lâu rồi. Những gì có thể
nói về người chiến sỹ lái xe hết đêm này sang đêm khác vẫn đi, về trong hiểm
nguy, trong bom đạn. Đâu có phải cứ ôm súng lao vào cửa mở mới là những anh
hùng!
Sau rất nhiều lần bò lên những cái dốc dài vô tận đoàn xe cũng đã lên đến một đỉnh
cao. Từ đây đã nghe thấy tiếng máy bay L19 của địch lượn lờ, cùng những chùm
đèn dù vàng ệch ma quái trên đầu. Những đám cháy lân tinh xanh lét ngún khói
trên những thân cây đen xì chồng đống lên nhau. Cả một bầu không khí chứa đầy
mùi thuốc bom khét lẹt.
Chỉ đi thêm một đoạn nữa thì cả đoàn xe phải dừng lại vì phía trước con đường đầy
bùn nước không sao tiến lên được. Một khẩu lệnh nhỏ truyền từ người này sang
người khác: Tất cả mang quân trang, súng đạn xuống xe! Tất cả mang quân trang,
súng đạn xuống xe!... Thế có nghĩa là đã đến chiến trường rồi đấy! Có nghĩa nơi
ta đang đứng đây cũng chính là gianh giới của hoà bình và chiến tranh! Gianh giới
của hoà bình và chiến tranh chỉ là một quãng đường ô tô không quá ba tiếng đồng
hồ vậy thôi sao? Thực ra gianh giới của vùng này sang vùng khác cũng chỉ là ước
lệ vậy thôi. Với từng gia đình thì bên này hàng rào là sân vườn nhà mình, còn
bên kia hàng rào là sân vườn nhà khác. Thế nhưng gianh giới của hai làng, hai tỉnh,
hai nước nhiều khi chả có cái rào nào để mà ngăn chia. Gianh giới của hoà bình
và chiến tranh cũng vậy thôi. Mọi cái luôn ở cạnh nhau, mọi cái luôn ở trong
nhau, luôn hoà trộn vào nhau. Mái đồi bên này khô khan chết cây, cháy lá, mái đồi
bên kia mưa chảy nước trôi. Mái đồi bên này là hoà bình yên vui, còn mái đồi
bên kia là chiến tranh, bom đạn.
Có lẽ mùa mưa phía sau dãy Trường Sơn đã bắt đầu khá lâu rồi nên ngay trên đỉnh
đồi mà bùn vữa ngập ngụa đến là khủng khiếp. Vừa mới đi được một đoạn ngắn mà
anh nào anh ấy cũng đã thấm mệt. Mà không mệt sao được khi mỗi bước chân đều ngập
trong bùn sâu gần đến háng. Đang mải miết bước lên cho kịp hàng quân phía trước
thì nghe tiếng cậu Luận gọi réo lên ở phía sau:
- Anh Hằng ơi lại kéo em một tý, chân em mút chặt xuống bùn rồi!
- Đợi một tý, anh cũng đang dính chặt dưới bùn rồi đây.
Không biết làm sao vừa mới bước đi ngon thế mà mới chỉ dừng lại nghe cậu Luận gọi
thì chân lại dính chặt xuống bùn thế này không biết.
- Cậu phải tự tìm cách thoát lấy thôi, ông anh của chú cũng như có nhựa gắn xuống
bùn rồi đây này.
- Thế chả lẽ cứ đứng mãi ở đây hả anh!
Hằng đang cố sức xoay bàn chân cho đám bùn vữa rộng ra nên cũng chẳng kịp trả lời
Luận nữa. Hết ngả người ra phía trước, rồi lại ngả người về phía sau mà đám bùn
cũng chỉ rộng ra một chút. Dù sao thì cũng cứ thử rút chân lên xem sao. Sau một
hồi cố hết sức bình sinh thì chân cũng đã rút lên được một tý nhưng mà chỉ là
chân thôi còn giầy thì nằm lại không chịu theo chân lên nữa.
- Này Luận ơi! Cậu làm thế
nào cho giầy nó tụt ra là rút chân lên được đấy.
- Thế thì làm gì có giầy mà
đi hả anh?
- Đành vậy thôi, đơn vị đi
xa quá rồi.
- Nhưng mà em buộc chặt quá
không sao rút ra khỏi giầy được.
- Thì cố xoay cho bùn vào
trong khe chân là nó tuột ra thôi.
Cũng phải mất một lúc thì
hai anh em mới thoát ra khỏi vũng bùn, đành chịu để đôi giày ở lại. Cái lỗi này
là do mình gây ra mà thôi, trách ai bây giờ. Thực ra thì khi sức nặng cơ thể dồn
vào chân làm cho nó lún sâu xuống bùn thì đồng thời cũng tạo ra một cái lỗ, nếu
ngay sau đó rút ngay lên thì không sao, nhưng nếu để một lúc thì bùn xung quanh
dồn đầy vào, một mặt chặn lên trên, đồng thời vùng đế giày lại bị rút hết khí
thành chân không, thế là lại bị ép mạnh hơn. Cách tốt nhất là cựa chân sao cho
có khe hở cho khí tràn vào là rút lên được. Có điều là ngoáy mãi chân thì bùn
vào cả khe chân và giày làm trơn tuột chân lên còn giày thì nằm lại. Một cách lấy
cắp giày của ông thần bùn thật là hữu dụng, không chê vào đâu được.
Sau mấy giờ đi bộ trong bùn
vữa dưới ánh sáng lờ mờ của các vì sao thì trời cũng dần dần sáng. Hết len lỏi
qua các rặng cây lại leo thang qua các vách đá, hết bám dây song co mình lên dốc
đứng, lại sờ xẩm, dò dẫm lội dọc suối, rồi thì buộc phao bơi vượt qua sông, mãi
đến khi đi cắt ngang đường Chín thì trời đã sáng rõ. Nếu không có tiếng máy bay
ì ầm trên đầu thì với quang cảnh ấy cũng chỉ như đi dã ngoại trong tập luyện ở
ngoài Bắc mà thôi. Điều đáng để nói là từ đây mới thật sự bắt đầu vào đường dây
ra trận. Từ đây đã bắt đầu là chiến trường, mà chiến trường thì không thể nói
chơi được. Chiến trường là chiến đấu, là gian khổ, là xương máu hy sinh, đâu có
giản đơn như diễn tập.
Khi cả đơn vị về đến bãi
khách tiếp theo thì trời đã tối, mọi người vội vàng buộc tăng võng lên những
thân cây đã nhẵn thín vì các đoàn quân đi trước đã cọ quệt, đã chà xát sau mỗi
đợt quân vào. Sau bữa cơm dã chiến cả trung đội tập trung để nghe quán triệt
nhiệm vụ cho những ngày sau. Thật may là vị trí bãi khách của đơn vị tập kết lại
không gặp mưa nên các chàng trai đều đã lên võng nghỉ ngơi. Bộ quần áo ngâm bùn
đêm trước đã được gột sạch trong lúc lội suối giờ cũng đã khô và cứng còng. Hằng
nằm yên trên võng thả lỏng người để lắng nghe những âm thanh xung quanh, mặc kệ
các lớp vải cứng cứ cọ vào da thịt. Đôi chân đã rời rã sau một ngày bươn trải với
một cường độ cao nhất từ trước đến giờ cũng không thèm động đậy. Tuy vậy nhưng
Hằng cũng không thể ngủ ngay được bởi phiên gác đầu tiên nơi bãi khách lại là
phiên gác của Hằng và Lượng sẽ phải bắt đầu sau mươi phút nữa.
Những ồn ào của hàng trăm
người đã át đi mọi âm thanh khác của rừng đã có sẵn từ cái thời nguyên thuỷ xa
xôi nào đó, giờ đây chợt vang lên như một bản hoà tấu với trăm ngàn cung bậc
khác nhau. Rất nhiều âm thanh không biết của loài nào lại cứ ri ri rỉ rỉ. Cũng
có âm thanh cứ buông ra đều đặn tiếng một tựa như tiếng gõ nhịp trong các bài
hát dân ca. Cũng có nhiều âm thanh rất quen thuộc giống như những âm thanh vẫn
phát ra sau vườn nhà những khi còn nhỏ đã từng nghe thấy trong khi chơi trò trốn
tìm vào những đêm trăng sáng. Đôi chỗ vẫn còn vài cậu chưa chịu ngủ, thoảng hoặc
lại lào thào với nhau không biết chuyện gì đó bên cánh võng ở cuối của bãi
khách…
Đã hết phiên gác lâu rồi mà
Hằng vẫn chưa sao ngủ được. Những hình ảnh thân thuộc về quê hương§, nơi người
cha của cậu đã sinh ra và lớn lên ở đó. Cái làng Tây Lạc cùng những cái ao đầy
bèo tấm và khoai nước liên tiếp nối nhau vừa lướt qua, lại đến những hình ảnh gần
gũi về con đường đất với hàng xà cừ cao lớn, cùng với khu đầm sen rõ rộng, luôn
toả hương thơm trong những mùa hè đầy nắng và gió ở cái làng Đồng Dầu, một vùng
đất thuần nông của ngoại thành Hà Nội, nơi Hằng đã sống cùng với cha mẹ và những
người thân suốt cả một thời tuổi nhỏ.
Mảng trời sao lộ ra từ tán
rừng thưa cũng chả khác gì bầu trời sao của làng Tây Lạc trên quê hương Nam Định,
lại càng không khác với bầu trời sao của làng Đồng Dầu trên đất ngoại thành Hà
Nội. Từ trên những bầu trời sao ấy người lính thấy như lại được trở về gần gũi
với những người thân của mình vậy. Bầu trời sao ấy đã theo những người lính ra
mặt trận hôm nay và còn theo người lính trong những ngày sau nữa để mà an ủi, để
mà vỗ về trong khi họ xa vắng những người thân. Có thể cùng trong lúc ấy người
lính cùng những người thân của họ cũng đang nhìn lên những ngôi sao để nhớ
nhau, để nghĩ về nhau và nói cùng nhau những lời tha thiết nhất. Chính vì thế
nên không chỉ riêng ai, bầu trời sao đã trở nên thân thiết với tất cả những người
lính trong những năm tháng chinh chiến ở xa.
Giấc ngủ của Hằng đến rất từ
từ sau rất nhiều những hình ảnh thân yêu của mẹ hiện ra. Bà lặng lẽ đi tìm những
đoạn dây để nối dài ra, buộc vào bốn góc của cái màn xô căng trên chiếc chiếu
giải dưới sân nơi cậu con trai của bà đã ngủ quên không chịu mắc màn…
5
Sau gần một tháng, ngày đi
đêm nghỉ đơn vị cũng đã vào đến nơi tập kết. Kể từ khi cả đoàn quân vượt sông
Xê Bang Hiêng thì tất cả những người lính chỉ còn biết rằng mình đang đi vào hướng Nam mà
thôi. Những cánh rừng nghỉ tạm sau một đêm không tên không tuổi cũng tuột ra khỏi
bộ não mà chẳng để lại chút gì gọi là vương vấn. Nhiều chỗ đoàn quân đi qua rồi
mới nghe một đôi người kháo rằng đấy là vùng ngã ba biên giới hoặc một địa danh
nào đó do những người đã vào ra một đôi lần nói lại thế thôi. Thực ra mấy người
này cũng đoán già, đoán non khi thấy những khoảng rừng có vẻ giông giống vậy
thôi chứ cũng không dám khảng định một cách thật đúng. Chỉ có cái tên bằng số
là không có thể sai được bởi hàng ngày lãnh đạo cấp trên phát lệnh hành quân đều
nói đến trong lúc xuất phát.
Bãi khách T73 đêm mới rồi bị
máy báy địch đánh phá nên cả đoàn lại phải đi thêm một quãng khá xa để vào bãi
khách dự phòng. Đây cũng là trạm cuối của đường dây Xã hội chủ nghĩa mà đơn vị
đi qua, ngày mai đoàn quân sẽ đến binh trạm 1 của đường dây Giải phóng. Theo
như dự đoán của mấy cậu thạo tin thì đơn vị còn phải hành quân qua 15 binh trạm
nữa thì mới đến hậu cứ của đơn vị. Thế thì đôi chân chưa thể được nghỉ ngơi mà
còn phải đi dài dài hơn nữa. Dù sao thì ở đâu cũng đều là đất mình cả vậy thôi,
chẳng có gì cần phải phân vân điều này, điều nọ cho mệt. Nói như mấy cậu người
Mường Cẩm Thuỷ thì (khắc đi, khắc đến). Đã lâu không thấy ai hỏi đến ngày,
tháng nên cũng chẳng biết khi đơn vị vào đến cứ là ngày bao nhiêu. Có điều chắc
chắn là vào khoảng cuối tháng mười một sang đầu tháng mười hai âm lịch, vì suốt
mấy buổi tối chẳng thấy bóng dáng ông trăng đâu cả.
Cũng không ai ngờ được
trong suốt thời gian ở Đường 9 Nam Lào Hằng không bị sốt rét, ngay cả khi ra
ngoài Bắc củng cố mấy tháng liền Hằng cũng không biết sốt rét là gì, thế mà vừa
đặt chân vào hậu cứ Tây Nguyên lần này thì Hằng lăn ra sốt. Việc đào hầm hố Hằng
chả tham gia được tý nào, từ việc đào đắp đất đến chặt gỗ làm nóc hầm kèo đều dồn
cả vào hai ông y sỹ là Cứ và Bình. Chẳng những thế hai ồng này còn phải để mắt
đến Hằng, sợ Hằng biến chứng sang sốt rét ác tính. Mấy ngày sau đó Hằng cũng
không cất mình lên được, việc ăn uống đều nhờ vào anh Toán là anh nuôi trưởng của
đại đội. Gần nửa tháng chiến dịch Hằng không được tham gia một buổi nào cả bởi
cơn sốt cứ kéo dài liên miên không dứt. Sau mỗi ngày đi chiến dịch về Luận, Tâm
và Kiệm lại sang hầm nói chuyện với Hằng về đánh đấm của các tiểu đoàn mà đại đội
2 của Hằng phối thuộc. Công việc của đại đội vẫn chỉ là tiếp đạn, chuyển thương
là chính, thoảng hoặc có gặp địch thì lại phải lựa để tránh không phải đọ súng,
có thế mới bảo vệ được thương binh. Sau hàng loạt những chuyện vui về chiến thắng,
bao giờ về cuối các cậu ấy cũng tỏ vẻ bực dọc vì khi ao ước làm bộ đội là để có
dịp đánh giặc thế mà đến khi giặc ở ngay trước mắt lại phải tránh đi thì cớ gì
mà họ chả bực mình.
Hôm nay đã là ngày thứ ba Hằng
cắt cơn sốt. Đề nghị mãi đại đội phó Nhu mới cho đi chiến dịch. Anh Nhu cho Hằng
đi cũng chỉ là mang theo một khẩu súng đỡ cho vài người khi phải khênh cáng quá
nhiều và dự phòng khi có người bị thương thêm thôi chứ không giao nhiệm vụ gì
quan trọng cả.
Cao điểm 1049 cũng
như muôn vàn những cao điểm khác với tầng tầng, lớp lớp những cây cổ thụ,
xen lẫn những vạt rừng le cuốn thành những vòm mái che phủ kín cả mặt đất. Rồi
thì các loại nứa tép, vầu, tre gai cao vút trên khắp cả một dải rừng chuyển tiếp
làm cho ta chẳng thể nhận ra đâu là đỉnh của cao điểm. Thực ra cao điểm 1049
chính là đỉnh Ngọc Rinh Rua cao nhất của cao nguyên miền Trung mà ngày còn học
phổ thông có lần thầy Vũ Tú Nguyên đã gọi lên chỉ nó trên bản đồ địa lý. Cao
nguyên miền Trung còn có một cao điểm nữa là cao điểm 1015, sách địa lý gọi nó
là đỉnh Ngọc Tô Ba. Đây cũng là một địa danh mà quân ta đã tiêu diệt mấy tiểu
đoàn quân trong năm1968.
Kể từ ngày vào chiến trường
đến nay mọi người hầu như lúc nào cũng nhớ nhà, nhớ người thân. Những người đồng
đội nói chuyện với nhau cho dù là đề tài gì thì sau một hồi thế nào cũng lại quay
lại đề tài gia đình, bè bạn. Những câu chuyện cho dù ở ngoài Bắc có kín đến đâu
thì đến bây giờ cũng bị lôi ra để mà góp vào không khí chung của mọi người. Có
những người được tiếng là kín nhất như chính trị viên Sinh và chính trị viên
phó Huynh cũng đã tham gia vào tiết mục kể chuyện này. Chuyện về người thân mà
người chiến sĩ đề cập đến nhiều nhất là chuyện về người yêu của họ. Cũng chẳng
ai biết những người con gái ấy có thật xinh đẹp hay không nhưng qua lời kể của
các chàng trai đang yêu thì họ đều như tiên cả. Tuy vậy cũng có những chàng
trai đã bị lộ “bem” bởi người yêu cũng đã từng đến thăm và lẽ dĩ nhiên là nhiều
người đã gặp. Lại còn cái đám cùng quê thì họ chả còn lạ gì những cô gái của
nhau, thế nhưng họ vẫn muốn nói cho nhau nghe về những cô bạn ấy với những tình
tiết hết sức đặc biệt mà theo họ thì những tình tiết của các cô ấy chỉ có thể
dành riêng cho người con trai của các cô ấy mà thôi. Những câu chuyện như thế
thì thật là chỉ còn biết nghe kể và cười vui phụ hoạ.
Cũng không biết làm thế nào
mà câu chuyện Hằng tránh gặp bạn gái trước khi đi chiến đấu dạo nào cũng đã bị
mấy chàng thạo tin kháo ra từ ngay những buổi đầu tiên có tiết mục này. Trong rất
nhiều những nhận xét mà Hằng nghe được thì hình như có rất nhiều ý luôn đối nghịch
lẫn nhau. Người thì cho đây là một mối tình cao thượng hiếm có không mấy ai làm
được. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong việc này thì chàng trai là người đã
quá tự đề cao mình mà phủ nhận những điều tốt đẹp của người khác. Những ý kiến ấy
nêu ra kèm theo hàng loạt những đánh giá thật cao đẹp về người phụ nữ. Đâu là sự
dũng cảm không thua nam giới, đâu là sự hy sinh chịu đựng hết cuộc chiến tranh
này đến cuộc chiến tranh khác. Nhiều đêm Hằng nghĩ về điều này và tự vấn lòng
mình về sự vô tư trong suy nghĩ. Đúng là Hằng chỉ muốn làm sao cho người thân
yêu của mình không phải côi cút như bao người phụ nữ và bao đứa trẻ khi gặp cảnh
éo le để rồi khốn khổ trong cảnh vợ nọ con kia. Hằng đâu có tự đề cao mình lên
như nhiều đồng đội đã đánh giá như vậy. Có điều dù có nói thế nào đi nữa thì việc
làm của Hằng cũng cứ lồ lộ ra dưới sự xét đoán theo hướng như vậy. Sự thật thì
Hằng cũng đã thấy, đã biết có đến hàng vạn người phụ nữ của thời chín năm kháng
chiến, hàng vạn người phụ nữ của cả hai miền Nam Bắc đã mất chồng, mất con sống
trong cảnh goá bụa mà đã có bao giờ họ sợ điều đó đâu. Họ vẫn yêu, vẫn chờ đợi,
vẫn hy vọng cho dù hy vọng thật nhỏ nhoi. Họ đâu có cần những ai phải lo cho họ!
Họ đâu có cần ai thương hại họ! Cho dù những ý kiến này chưa ai nói thẳng với Hằng,
nhưng Hằng nghĩ nếu có lần thứ hai như thế thì nhất định Hằng sẽ phải cân nhắc
sâu sắc hơn nữa. Nhưng thôi, mọi sự đã xảy ra rồi làm sao có thể thay đổi được
nữa.
Đơn vị chuyển địa điểm đến
một vùng khác sau mấy ngày đường hành quân bộ, để rồi lại tiếp tục với việc phục
vụ chiến đấu. Lần này đơn vị phải chuyên chở đạn, gạo qua sông PôCô cho các đơn
vị đánh vào phía Nam CôngTum nên gặp khá nhiều khó khăn vất vả. Sau những trận
đánh giằng dai giữa ta và địch thì sự ác liệt lại tăng lên khi cả hai bên đều
muốn đi đến những thắng lợi nhất định, bởi khi mùa mưa đến việc di chuyển và tiếp
tế lương thực, súng đạn sẽ bị cản trở. Lẽ dĩ nhiên là khi chiến dịch càng ác liệt
thì đơn vị của Hằng cũng chung chịu với các đơn vị chiến đấu. Những trận B52 rải
thảm, những trận pháo bầy liên hồi kỳ trận của địch luôn chặn vào đầu và quét
vào đuôi đội hình của các trung đội, tuy vậy đơn vị cũng chưa có thương vong
nào.
Đêm nay đơn vị lại tiếp tục
lên đường cùng với trung đoàn 48 để tiến đánh vào Công Tum. Đạn cối 120 nặng đến
17 cân một quả, mỗi người phải mang 3 quả, đạn cối 82 mỗi người phải mang đến 6
quả. Rồi thì đạn K56 dùng cho súng AK, đạn Nổ, đạn xuyên lõm cho DKZ 75, DKZ
82. Cao cấp hơn còn có đạn pháo D74, DKB, hoả tiễn H12, Hoả tiễn B72, mỗi loại
đều khá nặng và cồng kềnh khó mang vác. Vũ khí bộ binh thì có lựu đạn tấn công,
thủ pháo, thuốc nổ TNT, CH4, đạn B40, B41 vv…Cũng không thiếu mìn phóng
MF 1A, mìn Định hướng DH 35 để phá hàng rào và diệt bộ binh địch.
Mỗi lần vận chuyển cho dù cả
đơn vị cố sức cũng chả được bao nhiêu, thế mà chỉ cạch, oành một cái đã đi đứt
một quả đạn cối. Thật là nhanh và tốn kém quá đi mất. Thôi thì cũng đành vậy chứ
còn biết làm sao cho được khi kẻ địch còn xài gấp cả chục lần chúng ta xài.
Chúng ta đâu có muốn làm như vậy trên chính mảnh đất của chúng ta. Cuộc chiến
như chúng ta biết thật là buồn, thật là tàn bạo và thật là không đáng có. Chúng
ta đã cố gắng hoà hoãn trong nhiều lần ký kết các hiệp ước và gần nhất là ký kết
hiệp định Giơ ne vơ của hơn mười năm trước. Tất cả đã không thể dừng lại được
và vận mệnh dân tộc lại phải trải qua những ngày tháng đạn bom cực kỳ man rợ.
Những người chiến sĩ phải
hoàn thành nhiệm vụ của mình, đó là trách nhiệm lớn nhất. Còn việc dũng cảm,
xông tới và chiến thắng đối phương đó là công việc của người lính, vì nếu không
thế thì cần gì phải có họ. Tuy nhiên cũng nhờ thế mà họ bảo vệ được đồng bào, bảo
vệ được tổ quốc và tự bảo vệ được chính mình. Họ có quyền tự hào vì sự hy sinh
của họ cho dân tộc, cho đất nước vì điều đó là nhân văn lớn nhất của thời điểm
lúc bấy giờ. Còn trước đó và cả về sau này, mỗi thời điểm lại có một mục đích ý
nghĩa riêng của nó. Đừng bao giờ bắc đồng cân để mà đong đo thời này, thời khác
bởi như thế thì thật là khập khiễng, thật là không phải.
Chiến dịch ngày càng khốc
liệt hơn trong những ngày đầu năm 1972. Đại đội 2 cũng đã di chuyển chỗ đóng
quân mấy lần liên tiếp. Hình như mặt trận ngày càng rộng ra nên đơn vị cũng bị
chia sẻ thành nhiều bộ phận để phối thuộc. Riêng đại đội bộ thì vẫn tập trung ở
một chỗ, khi có trận đánh lớn thì mới cử cán bộ trực tiếp chỉ huy. Cơ bản vẫn
là đại đội trưởng Điền và chính trị viên trưởng Sinh, còn chính trị viên phó
Huynh và đại đội phó Nhu thì đã đi chỉ đạo trực tiếp ở các trung đội 1 và 2. Chỉ
có anh Giao ở trung đội 3 luôn chỉ có một mình trong mọi việc.
Chiến dịch dường như đã có
những chuyển hướng khác với nhiệm vụ ban đầu. Nhiều đơn vị được phân tán để
căng địch ra làm cho chúng không thể tập trung được. Trong khi đó các đơn vị
luôn xuất hiện với đủ mọi cái tên vốn đã quen thuộc nhưng lại ở quá nhiều địa
điểm khác nhau, thành ra đi đến chỗ nào kẻ địch cũng thấy là quân của sư 320,
quân của sư 2, sư 10 và nhiều sư đoàn khác nữa. Kẻ địch chắc phải hoang mang thật
sự vì mới sớm nay chúng chạm mặt 320 ở Tây Nguyên thì ngay chiều hôm đó chúng lại
chạm mặt với 320 ở Quảng Trị. Chúng biết 320 có A, có B nhưng chúng lại không
biết họ có C, có D hay không. Điều này là một bí mật chiến lược làm sao mà
chúng biết được.
RA BẮC
1
Sáng mai Hằng được phân
công đi cùng trung đội 2 tách khỏi đại đội đến phối thuộc với trung đoàn 52 về
vùng dưới. Cũng may là ở trung đội 2 còn có Yên là người cùng sở Điện Thanh Hoá
với Hằng nên cũng đỡ buồn. Hai người vừa đi vừa nói chuyện về gia đình của nhau
trên suốt dọc đường. Yên không gầy nhưng khuôn mặt của Yên cứ phô ra cái sự gầy
bởi cái cằm của Yên cứ đua ra nhòn nhọn, hai má thì hóp vào, hố mắt thì sâu
thành ra ai cũng bảo Yên còm cõi. Không biết Yên có thêm gì của riêng mà ba lô
của cậu ấy cứ to kềnh, to càng ra làm cho bước đi của Yên cứ nghiêng hết
cả về phía trước.Vậy nhưng Yên vẫn chuyện rất rôm rả, thoảng hoặc lại pha trò
cười hin hít nghe thật là ngộ.
Suốt từ hai hôm trước Hằng
lại lên cơn sốt, y sĩ Bình đã tiêm cho Hằng mấy ống thuốc trợ sức và cả mấy ống
Qui nin trị sốt rét vậy mà hình như cơn sốt vẫn không chịu giảm cơn. Cũng không
biết thế nào mà mỗi khi sốt rét thân nhiệt lên rất là cao, có người lên đến 41
độ vậy mà xem ra cũng vẫn chẳng hề hấn gì. Còn chuyện 40 độ trở xuống thì mọi
người cứ coi như là không sốt, vẫn gùi gạo, gánh đạn và khênh thương binh đi
thoăn thoắt.
Chặng đường đi có lẽ cũng
đã được gần hai giờ đồng hồ mà Hằng vẫn không thấy đỡ. Trước mặt lại là một cái
dốc dựng đứng đầy bùn đất và lá khô vụn mủn, chỉ mới vòng qua một đoạn cua ngắn
đường bằng mà Hằng theo mãi vẫn chưa thấy đội hình, có lẽ mình phải chạy mới
theo kịp nhóm đằng trước. Chỉ mới kịp nghĩ lướt qua trong đầu Hằng đã thực hiện
ngay thế mà phải gần hai mươi phút sau Hằng mới bắt kịp đội hình. Có lẽ thấy Hằng
tụt lại lâu quá nên lãnh đạo đại đội đã cử y sĩ Bình lùi lại để chờ Hằng chứ
đơn vị thì đã đi xa rồi.
Vừa gặp Hằng ì ạch chạy đến
Bình đã sờ tay lên trán của Hằng để xem có nóng quá không. Mới sờ vào trán Hằng
đã thấy cậu ta rụt tay lại để lấy thuốc ra tiêm cho Hằng. Sau phát tiêm vào
cánh tay cậu ta lại bắt Hằng ngồi nguyên đó kéo quần xuống chọc ngay Seranh thuốc
vào mông. Có lẽ cũng đành tiêm ngồi như thế bởi đất dưới chân chả khác gì bùn
nhão thì nằm ra sao được. Không tiêm thì Hằng còn chịu được, tiêm rồi thì mắt
hoa đầu váng mỗi lúc một tăng làm Hằng không còn gượng dậy được, thế rồi Hằng
thấy tối sầm lại, không còn biết gì nữa. Cũng không biết sau bao nhiêu thời
gian Hằng mới tỉnh trở lại, chỉ đến khi mở mắt ra thì Hằng đã thấy cả một đám
đông vây kín lấy Hằng. Anh Điền đại đội trưởng cũng đang dòm nom ngay sát bên cạnh.
Cũng chỉ kịp thoáng nhìn thấy trong một vài phút rồi Hằng lại lịm đi.
Cũng không biết Hằng đã sốt
như thế nào mà mấy ngày sau khi tỉnh lại chỉ thấy mỗi một mình nằm trên một cái
sạp nứa trải trong một căn nhà hầm ẩm thấp. Cuộc điều trị có lẽ phải mất hơn một
tháng mới đỡ, tuy là đã đỡ nhưng Hằng còn rất yếu nên cũng chỉ chống gậy đi bộ
xung quanh trước lán mà thôi. Mỗi ngày Hằng lò dò theo mọi người đi qua lán nhà
bếp để ăn cơm. Tiêu chuẩn của người ốm nặng khá hơn các bệnh nhân khác ở chỗ có
thêm mấy miếng thịt hộp của miền Bắc đưa vào còn lại thì cũng chỉ có măng le,
cá khô và ruốc bông. Hàng ngày Hằng ăn cũng không được nhiều nên khi ốm Hằng ăn
càng ít. Cơm canh còn lại đã có mấy cậu lính bị thương giải quyết hết nên cậu
cũng chả cần lo rửa, bát rửa đũa mà chỉ chào các bạn là lại lò dò về lán.
Vừa qua bên lán 6 chợt nghe
thấy tiếng hò hét ồn ào náo nhiệt không biết là có chuyện gì. Chờ mãi mới thấy
mấy cậu bên khoa ngoại về qua cho biết bên ấy có một cậu sốt rét ác tính nhiều
lần biến chứng tâm thần. Nghe vậy Hằng càng lo không biết rồi đây mình có thể lại
như cậu ấy hay không. Cứ nghĩ đến mấy cô gái điên Hằng vẫn gặp ở quê ngày nào Hằng
lại thấy gai gai sợ. Tóc tai các cô ấy rũ rượi, mặt vêu vao đầy ghét bám. Bàn
tay khẳng kheo gầy giơ ra mò mẫm ở rãnh thoát nước, gặp gì cho vào mồm ăn nấy.
Những miếng vải xơ xưới lua tua không còn biết gọi là màu gì choàng từ cái cần
cổ cứ đuỗn đuồn ra lao về phía trước. Cặp mông lép kẹp sần sùi những vẩy thoảng
hoặc lại phơi ra khi cô ấy bước đi hoặc khi gió đánh tạt về một phía. Cái thảm
hại hơn có lẽ lại là việc mấy đứa trẻ con lúc nào cũng theo đằng sau trêu chọc.
Đứa lành hơn thì cũng lấy cái que đánh bò khều vào bộ giẻ trên người cô ấy. Đứa
dữ dằn hơn chúng chả nể nang gì mà không quất một vài roi vào cái thân hình quắt
queo đen đúa người không ra người, ma không ra ma ấy. Chả lẽ rồi có một ngày ta
cũng điên như thế bởi những cơn sốt rét ác tính mà người bạn bên lán 6 vẫn đang
gào thét ngoài kia.
Đang suy nghĩ luẩn quẩn một
mình chợt tiếng chân chạy huỳnh huỵch từ mé sau nhà vọng đến làm cắt đứt luồng
suy nghĩ của Hằng. Vừa chống cái gậy tre đi về phía sau nhà đã thấy cậu bạn tâm
thần đang vắt vẻo trên một cây bứa khá cao ngay đầu hồi phòng làm thuốc. Vừa
khoa chân, khoa tay cậu ta vừa hô xung phong ầm ĩ tưởng như sẽ nhảy ngay xuống
đất làm cho các y tá, bác sĩ đứng dưới luống cuống mà không biết làm gì. Có một
anh y sĩ đang đứng bên cửa nhà thuốc tay lăm lăm một cái võng mồm thì gọi mấy
anh từ trong nhà thuốc ra giúp sức. Cũng đã mấy lần anh bạn tâm thần doạ sẽ nhảy
từ trên cây xuống làm cho mọi người cứ cuống cả lên. Những cành bứa xoè tán hết
tầng này đến tầng khác đâm ngang ra xung quanh có làm cản trở anh ta rơi xuống,
nhưng thân gỗ của nó kiêng gì đầu, mình, chân, tay mà không làm cho cái sự va
chạm để rồi dẫn đến gẫy, vỡ, toác, để rồi có thêm những chấn thương về thể xác
hợp với sang chấn về tinh thần đưa anh ta đến chỗ chết hoặc tàn phế hơn nữa. Những
tiếng thét xung phong, những âm thanh giả làm tiếng nổ của anh như cứa vào lòng
mọi người. Một cái gì đó vừa bi thương, vừa oanh liệt cứ như khía vào quả tim của
những người đang đứng cùng anh ngay phía bên dưới gốc cây bứa với những cành
ngang vô cảm.
Sau mấy tuần điều trị với đủ
các loại thuốc, đâu là DDS, NIVAQUIN, B1, B12, KINACRIN rồi thì tiêm QUY NIN đến
ù cả tai mà sức khoẻ Hằng cũng chẳng thấy khá hơn. Đã hơn một tuần nay uống
viên phòng số 2 là loại khá mạnh trong thuốc điều trị mà cũng chẳng khả quan
hơn tý nào. Mãi đến hôm kia anh Điều y sĩ mới quyết định điều trị cho Hằng
phác đồ mới là viên phòng số 3 màu đỏ. Xem ra loại thuốc này hợp với Hằng hơn.
Những ngày tập đi với chiếc gậy tre rồi cũng đã qua, Hằng đã có thể đi lại bình
thường. Cái gậy tre mà anh Điều đưa cho bữa trước đã bị bỏ xó không còn cần đến
nữa. Nói là đã đi lại bình thường nhưng tốc độ di chuyển của cậu hình như vẫn
còn rất chậm. Mỗi lần đi lại cũng chỉ vài trăm mét cậu đã thấy mỏi chân giống
như ngày nào hành quân từ Bắc vào Nam.
Vừa cắt cơn sốt là Hằng đã
lang thang đây đó mà chẳng chịu ngồi yên một chỗ. Khi thì Hằng sang chỗ đồng
chí Điều bên khu quân y sĩ, khi thì Hằng sang khu thương binh hỏi xem có ai là
người Hà Nội hay không. Sớm nay đồng chí Điều xuống điều trị có nói cho Hằng biết
về kế hoạch giám định sức khoẻ cho thương bệnh binh trong kỳ tới. Bên hành
chính của viện đã lập danh sách báo về các bộ phận rất nhiều các đồng chi
thương binh bị mất hoặc hỏng các chức năng nhìn, nghe, đi lại, cầm nắm và cả
các trường hợp tâm thần. Phía các bệnh binh sốt rét quá yếu cũng phải giám định
một vài trường hợp. Hằng nghe nói vậy thì biết vậy, cậu cũng chẳng hiểu cái việc
giám định như vậy để làm gì. Có chăng là việc cậu mong sớm giám định để kịp về
với đơn vị không thì khi về đơn vị đã di chuyển là cậu lại phải đi đơn vị khác
thì thật là phiền. Nghĩ thế nào làm thế ấy, cậu liền hỏi thăm dò:
- Không biết em đã được
giám định chưa anh Điều nhỉ?
- Tớ thấy có một Hằng trong
danh sách nhưng không biết là Hằng nào vì ngay trong diện điều trị của tớ cũng
còn một cậu Hằng bên lán 4, lại còn có đến 2 Hằng khác ở nhóm điều trị nội khoa
khác.
- Em chỉ lo khi về đơn vị
đi vào sâu quá không còn tìm được, lại phải về một đơn vị nào đó của miền thì
chán ngắt. Dẫu sao thì làm quân chủ lực trong sư cơ động vẫn hay hơn anh ạ.
- À không! Tớ nói giám định
đây là giám để đưa về hậu phương vì mất sức chiến đấu chứ không phải giám để
cho xuất viện.
- Lại hậu phương, em đã
chán với cái cảnh hậu phương, hậu cứ rồi. Đành rằng đâu cũng là nhiệm vụ thế mà
một đằng bom pháo hy sinh ở phía sau với lại một đằng trực tiếp ngoài chiến hào
đánh cho thật đã rồi hy sinh thì chỗ nào hơn?
Nghe Hằng nói anh Điều chỉ
mỉm cười lặng lẽ, khá lâu sau anh mới nhẹ nhàng nói:
- Thế cậu bảo tất cả chúng
tớ chả lẽ không nghĩ vậy hay sao...
- Nhưng các anh lại có
chuyên môn khác chúng em nên phải theo đúng chuyên môn chứ.
- Chả nhẽ chúng tớ không trải
qua bắn súng, ném lựu đạn và thả cối chắc? Chúng tớ cũng muốn trực tiếp lập chiến
công chứ đâu có muốn kể ra rằng chưa bao giờ cầm súng xông lên đánh giặc trong
khi mình là một người chiến sĩ ra đi chiến đấu để giải phóng đất nước.
Có lẽ những lời hùng hồn mà
anh nói ra không phải chỉ để nói với Hằng mà hình như anh nói với cả anh nữa.
không khí im lặng đến không ngờ sau những tuyên ngôn của anh Điều chợt bị phá vỡ:
- Mà cậu cũng là một dạng
chuyên môn đấy chứ?
- Không em chỉ là bị bắt
cóc lên làm trong thời gian nào đó mà thôi.
- Này, tý nữa thì quên! Chỗ
hành chính của viện họ nhờ hỏi xem cậu có cách nào hàn được cái nồi cất bằng
nhôm hay không?
- Hàn nhôm phải có máy và
môi chất, ở trong này chả có cách nào hàn được đâu anh ạ.
- Thế thì gay go quá, không
biết lấy gì để vô trùng dụng cụ mổ xẻ và hấp bông băng được. Hay là cậu cứ xuống
xem xem thế nào.
- Thế lỗ thủng có to không
anh?
- Chỉ là lỗ của mấy viên bi
xuyên qua, lỗ to thì lọt ngón tay còn lỗ bé thì vừa lọt chính viên bi mà thôi.
- Thôi được để em xuống xem
thế nào.
Hai người đi vòng vèo qua
ba bốn cái lán cho đến khi gặp con suối nhỏ thì dừng lại trước một căn nhà hầm
nửa chìm, nửa nổi, bên trong khá rộng nhưng chỉ thấy dụng cụ, còn người thì đi
đâu không rõ. Loanh quanh một lúc lâu vẫn chẳng có ai về, anh Điều bực dọc lẩm
bẩm:
- Nói mãi mà vẫn không rút
kinh nghiệm. Đi đâu thì cũng phải có một mống ở nhà để mà gác sách chứ, đừng tưởng
đây xa địch mà chủ quan, đến khi thám báo nó đến tận nơi thì mới trắng mắt ra!
Chờ mãi chẳng được anh Điều
đành vào trong nhà lôi ra vài thứ dụng cụ đun nấu. Trong số đó có một cái nồi
nhôm khá lớn, nắp đậy bằng nhôm đúc dày, có bốn cái đinh khuy kẹp chặt với miệng
nồi. Chỗ gần miệng có mấy lỗ nhỏ bằng đầu ngón út miệng loe ra như hoa rău muống.
Vừa lúc đang ngắm nghía cái nồi nhôm ấy thì anh Điều quay trở lại.
- Cái này thì làm được anh ạ!
Em chỉ cần nói qua là họ làm được thôi. Trước hết anh bảo họ lấy cái kẹp đạn
mài sắc sau đó khoét hai bên miệng lỗ loe thêm ra, còn ở giữa để nguyên sau rồi
lấy đuôi cánh bom cắt lấy một đoạn nhỏ đập cho tròn rồi cho vào lỗ tán hai bên
cho chặt thế là xong anh ạ.
- Tớ sợ khi áp lực cao chỗ ấy
không chịu nổi.
- Không sao đâu anh ạ.
- Ừ thôi thế cũng được, lát
nữa tớ bảo các cậu ấy làm thử xem sao.
Hai anh em lại lọc cọc quay
về lán điều trị, cả hai đều không nói gì nữa. Mỗi người đều có những suy nghĩ của
riêng mình .
2
Gần một tuần vừa làm thuốc
vừa ăn uống với tiêu chuẩn cao, sức khoẻ của Hằng đã khá hơn mọi khi, nhưng
nhìn chung thì cậu vẫn xanh và gầy. Kể ra thì cậu cũng mới chỉ cắt sốt mấy hôm,
trong thời gian ngắn thế làm sao mà béo tốt ngay được.
Chả biết có chuyện gì mà sớm
nay anh Điều bắt số bệnh binh tập trung về hội trường ngay từ sớm. Hằng vì mệt
mỏi hơn ngày thường nên đến khá muộn, khi đến nơi thì hội trường chỉ còn độ ba
chục bệnh binh với bốn ông bác sĩ còn ngồi ở đó. Hằng nghe loáng thoáng hình
như có ai đó gọi tên mình mà không biết có phải hay không. Cũng chẳng biết thế
nào mà sau khi uống mấy viên phòng số ba rồi thì tai ù đặc hết cả.
Thế rồi cả đám bệnh binh đều
đã khám hết chỉ còn trơ lại mỗi mình mới thấy một ông bác sĩ hỏi đến Hằng. Ông
ta hỏi tên tuổi và cả quê quán của Hằng sau khi đã khám đi, khám lại con người
của Hằng sau đó thì ra hiệu cho Hằng về lán.
Vừa đi vừa nghỉ rồi Hằng
cũng đã về đến lán của mình. Vừa về đến lán đã thấy bốn năm anh em chờ mình ở
bên trong xô ra hỏi han loạn xạ chả hiểu ra thế nào. Người thì hỏi kết luận của
anh ở loại nào, người thì hỏi rằng anh có được ra không, cũng chẳng biết cậu ấy
bảo ra đâu. Cũng phải rất lâu Hằng mới hiểu ra những câu hỏi của mấy anh em
cùng cảnh sốt rét ác tính như mình. Nói là hiểu thế thôi chứ thực ra Hằng cũng
không biết mình ở loại ba hay bốn, chỉ thấy đồng chí viện trưởng xem đi xem lại
bệnh án rồi hỏi về tình hình ăn uống sinh hoạt của Hằng. Cuối cùng thì đồng chí
ấy ghi gì vào bệnh án mà thấy đầy những chữ là chữ. Một lúc lâu sau đồng chí viện
trưởng cũng ngẩng đầu lên rồi động viên vài câu đại loại là “cố gắng ăn uống
cho nó tăng hồng cầu lên một tý, không thì rồi đi cũng không nổi đâu đấy...”
Hằng cũng không ngờ lần đi
viện này lại là lần xa đơn vị mãi mãi, bởi chỉ gần một tuần sau đó Hằng đã phải
chống gậy theo đoàn quân ra Bắc. Trên đường đi ra Hằng còn phải vài lần cấp cứu
nữa, mà lần nào cũng cứ mê man nóng rét rồi co giật làm cho mọi ngưòi phát hoảng.
Cũng không hiểu thế nào mà
đến Binh trạm T. 14 ngoài bữa ăn khá thịnh soạn với rất nhiều đồ hộp, mỗi người
được phát một ít kẹo bánh và đường sữa, rồi thì còn có cả thuốc lá bao miền Bắc
hẳn hoi. Hỏi ra mới biết hôm nay chính là ngày mồng một tết âm lịch năm 1975.
Thế là đã gần năm năm trôi
qua, năm cái tết chiến trường, năm cái tết giữa bom rơi đạn nổ. Những gì là vui
Hằng đã nếm qua, những gì là buồn Hằng cũng đã nếm qua. Cho dù là thế nào thì
những năm tháng này cũng là những thời khắc đặc biệt mang dấu ấn trong cuộc đời.
Những gì đã đi qua sẽ không bao giờ trở lại, cho dù điều đó là khốc liệt, là
tàn lụi, là chết chóc. Bởi chính từ nơi đó ta hiểu được cái “bản ngã” của chính
ta, nó là dũng cảm ngoan cường hay là sự run sợ yếu hèn mà bất kỳ người nào
cũng phải có trước cái sự thực chết chóc, hy sinh trong cuộc đấu tranh một mất
một còn của những người chiến sĩ. Qua những năm tháng ấy cho ta nhận ra chính
ta. Rồi đây sau bao năm tháng đã đi qua, có một khi nào đó ta ngồi ta nghĩ về
mình, ta sẽ nói gì với con cái. Ta có thể cao giọng dạy bảo chúng rằng hãy sống
cho ra sống như bố mẹ chúng đã từng sống.
Cũng nhờ có cái đài của mấy
anh cán bộ ở các đơn vị mặt trận cùng ra nên anh em trong đoàn biết được nhiều
tin tức về tết và đặc biệt là nhiều tin về chiến sự trên khắp miền Nam. Không
khí mấy ngày này có cái gì đó rất lạ, giống như cái không khí hừng hực của bẩy
năm về trước, không khí của những cuộc tổng tiến công nhằm vào kẻ địch. Trên đường
không chỗ nào không nói về điều đó cùng với những dự đoán khác nhau. Tuy
nhiên tất cả các dự đoán đều có ý như đây là cuộc chiến sau cùng để thống nhất
đất nước giành độc lập dân tộc, điều mà mỗi người con dân đất Việt đã mong đợi
hàng ngàn năm nay.
Bắt đầu ra đến đất Bắc thì
không còn phải hành quân bộ nữa mà đi bằng ô tô. Vẫn những cái xe Gát mang nhãn
hiệu Trung Hoa như ngày nào đã chở người vào, nay lại chở người ra. Đường xá mấy
năm giặc đánh phá vẫn chưa sửa được nên những cái xe chả khác nào cái rổ cứ xóc
những người ngồi trên nó như là xóc ốc. Qua trạm 10 Quảng Bình mấy ngày thì mọi
người được nhận quân trang mới. Những cái màn vải xô nhuộm xanh, những bộ quân
phục cũng màu xanh, rồi thì mũ dày, ba lô cũng vẫn xanh một màu như thế cả.
Cũng từ đây người ta đã phân chia quân nhân tỉnh nào về tỉnh ấy và rồi từng người
lại đi tiếp về các đoàn an dưỡng của các tỉnh. Hằng không kê khai nơi mình nhập
ngũ mà khai nơi sinh và thế là Hằng được đưa về Đoàn 869 của Hà Nội. Vừa về đến
đoàn an dưỡng Hằng đã phải đi điều trị ở Viện 12. Cũng vẫn bệnh sốt rét là
chính, ngoài ra còn thêm cả bệnh sưng phổi đã phát triển trên dọc đường hành
quân trước đó.
3
Cũng do ốm yếu quá nên dù rất
gần nhà nhưng suốt từ ngày về đoàn an dưỡng Hằng vẫn chưa dám về nhà gặp mẹ. Sớm
nay chủ nhật, đại đội tập trung chiến sĩ phổ biến một số nhiệm vụ sau đó công bố
cho một phần ba số chiến sĩ ở gần được đi tranh thủ về qua nhà.
Sau mấy tháng vừa điều trị
vừa an dưỡng, Hằng cũng đã cắt cơn sốt rét, nhìn người cũng đã thấy có da có thịt.
Hôm cân trọng lượng kiểm tra sức khoẻ cậu cũng đã đạt được trọng lượng cân của
ngày nhập ngũ. Cũng nhờ có nước da khá sáng sủa nên dù đã gần ba mươi tuổi
nhưng chợt nhìn người ta ngỡ cậu mới độ hai ba, hai bốn là cùng.
Ba lô quần áo, chăn màn và
cả số bánh kẹo, đường sữa tiêu chuẩn đơn vị phát cho Hằng vẫn để dành để làm
quà khi về nhà cũng đã được gói buộc xong, vậy mà cậu vẫn chưa chịu rời đơn vị
ra về. Có bao nhiêu điều cậu tưởng tượng ra khi gặp mẹ và em gái. Đâu là chuyện
mẹ sẽ chạy vội ra để ôm lấy cậu, sờ nắn trên người cậu xem có bị thương tích gì
không. Còn cậu sẽ cũng chạy thật nhanh đến bên mẹ lau giúp mẹ những giọt nước mắt
sung sướng cứ chảy ràn rụa mãi không ngừng. Họ sẽ nói với nhau những gì là
thương nhớ thật tha thiết và cảm động...
Thế nhưng ngay sau đó cậu lại
phủ nhận tất cả những điều cậu vừa nghĩ ra trước đó. Bởi cuộc đời mẹ đã có bao
nhiêu lần gặp gỡ, bao nhiêu lần từ biệt người thân. Thậm chí là bao nhiêu lần
vĩnh biệt những người mà bà thương yêu nhất. Cùng với những khổ cực về tinh thần
và vật chất mà bà từng chịu đựng hết năm này qua năm khác, làm cho bà thêm chai
sạn, thêm cứng rắn và rồi mọi điều vui buồn trong lòng bà được nhìn nhận ở mức
độ trầm tĩnh đến không ngờ. Dù sao thì việc nghĩ vẫn cứ phải nghĩ, bởi đó là
thói thường của tất cả mọi người trước khi họ làm một việc gì.
Cuộc gặp gỡ xảy ra hoàn
toàn khác với cả hai quang cảnh mà Hằng đã tưởng tượng ra, bởi ngay khi mở tấm
liếp tre làm cánh cổng rồi vào đến sân Hằng chẳng gặp một ai. Chỉ đến khi bước
vào căn nhà tranh tối tranh sáng, gỡ được hai quai ba lô đặt xuống mặt giường Hằng
mới kịp nhận ra có một người đang ngồi trên tấm phản kê ở gian nhà phía hồi bên
trái. Cũng phải mất một lúc Hằng mới nhận ra đó là một người đàn ông lạ mặt có
mái tóc bạc có lẽ cũng sấp sỉ ở tuổi bẩy mươi. Hằng vội cất tiếng hỏi:
- Cụ ơi, cụ có biết bà cụ
chủ nhà này đi đâu không nhỉ?
Ông già tóc trắng cũng bất
ngờ không kém khi thấy có một chàng bộ đội tự nhiên cứ như vào nhà mình vậy, đã
thế lại còn hỏi chủ nhà đi đâu nữa chứ. Mãi đến khi bình tĩnh trở lại cụ già mới
thủng thỉnh trả lời:
- Cụ tôi vừa ra chùa làm lễ
anh ạ!
Nghe xong câu trả lời Hằng
cũng chào qua quýt cụ già nọ rồi cứ thế đi vội ra ngoài mà cũng chả nói cho ông
cụ biết mình là ai và đến để làm gì. Cuối cùng thì người Hằng gặp đầu
tiên lại không phải là mẹ, chả biết đó có phải là điều không may hay không.
Sau khi quét quanh làng một
vòng, gặp một loạt cả già lẫn trẻ cùng với hàng chục câu hỏi và câu trả lời thì
rồi Hằng cũng về gặp mẹ. Có lẽ khi về nhà nghe ông lão tóc bạc kể lại chắc mẹ
đã đoán được chàng trai bộ đội ấy là ai nên khi hai mẹ con gặp nhau thì chỉ thấy
mẹ đứng im để nhìn cậu mà chẳng vồ vập hoặc tỏ ra bất ngờ một tý nào. Sau khi
đã ngắm khá kỹ cậu con trai của mình rồi thì cụ cũng cất tiếng nhưng là để nói
với ông lão tóc bạc mà không phải là nói với Hằng:
- Đây là thằng anh con Hà đấy!
Sau khi nghe mẹ nói như vậy
thì ông lão tóc bạc vội đứng lên như có vẻ muốn bắt tay Hằng. Ông cất giọng chậm
rãi nói:
- Thế thì con phải gọi ông ấy
bằng ông mới đúng.
Mẹ Hằng hình như cũng cho
là đúng mà không cải chính thêm điều gì. Đến lúc này Hằng mới biết và mới gặp
được một người cháu của mẹ mình.
Không giống như nhiều nhà
khác, cuộc trở về của Hằng thật giản dị, thật bình thường. Đó có phải cách sống
đúng, sống tốt hay không thì không biết, tuy nhiên với hoàn cảnh ít họ hàng
thân thích, lại khó về kinh tế thì có lẽ gặp mặt như thế là thích hợp.
Gần một tuần ở nhà thật là vừa vui, vừa buồn, vui vì được gặp mẹ, gặp các anh
chị em và các cháu, rồi thì còn cả số bạn bè cùng trang lứa, cùng học một lớp
ngày nào. Còn buồn vì số đông bè bạn đều bận bịu gia đình mà không qua lại
thăm hỏi chuyện trò lâu được. Bọn họ còn phải lo làm, lo nuôi con cái và cả lo
cha già, mẹ yếu.
Cũng may trong suốt những ngày nghỉ có cậu Hợp thương binh cứng khớp hay đến
chơi bời trò chuyện. Hợp còn ít tuổi bởi cậu là em thứ ba của Thu, mà Thu thì
cũng còn kém Hằng đến hai tuổi chứ có ít đâu. Dù sao thì Hợp giống Hằng ở chỗ
đang còn là trai tân chưa vợ đang ở vào diện cần phải đi đây đi đó để tìm mối
cho mình.
Trong đời bộ đội lúc nào cũng đều là quân phong, quân kỷ, đêm thì hội họp gác
xách, ngày thì ra thao trường, chí ít cũng là tập đội ngũ, còn không thì lăn lê
bò toài ngắm bắn bia, tập chiến thuật vân vân và vân vân với mọi vấn đề. Chỉ có
ở đoàn an dưỡng mới được thoải mái đôi chút, nhờ đó Hằng hầu như chả ở đơn vị mấy
mà chỉ ở nhà. Sau mấy tuần chơi bời, Hằng bắt đầu tham gia làm hợp tác giúp mẹ
kiếm thêm ít công điểm. Mùa vụ thì cũng đã qua nên cũng chỉ còn mỗi việc gánh gạch
vào lò, gánh gạch ra lò. Thôi thì có tý việc làm vừa đỡ buồn lại có thêm công
điểm cho mẹ.
Ngay từ nhiều năm còn ở độ tuổi trẻ con Hằng chẳng mấy khi tiếp xúc với nhiều
người lớn, hơn nữa lại xa làng xóm ngay từ khi mới lớn, nên cậu ít hiểu về họ.
Gần đây đi làm cùng với mọi người trong làng Hằng mới có dịp ngồi lâu với họ và
phần nào cậu đã hiểu về họ hơn. Những câu chuyện chiến đấu mà Hằng kể cho họ
nghe, làm cho họ thấy thật cảm phục, còn những câu chuyện đời thường hài hước
mà những người này kể về những người kia không có mặt tại đấy nghe thật buồn cười
thật là vui làm cho công việc có phần nhẹ nhõm hơn nhiều.
Cùng đi làm hợp tác cũng còn có vài cô bé người làng vừa mới lớn lên mà Hằng chẳng
biết là con nhà ai. Ngay từ khi bước chân ra khỏi nhà họ đã bịt kín mặt bằng những
tấm khăn bông trắng nên Hằng chỉ còn biết trả lời những câu chào của họ khi gặp
mặt mà không thể chủ động hỏi han gì họ được. Họ chỉ hơi hé mở ra lau mồ hôi những
khi giải lao rồi lại trùm kín lại nên đã mấy ngày rồi mà Hằng chẳng biết họ là
ai. Tuy nhiên qua đôi mắt của họ Hằng cũng đã nhận ra vài cô có cái nhìn hết sức
ý nghĩa. Những khi giải lao họ ngồi gần Hằng hơn và không ít lần chăm chắm nhìn
sang hoặc vội vàng nhìn ra phía khác khi bất chợt gặp ánh mắt dò hỏi của Hằng
nhìn vào khuôn mặt họ.
4
Không phải chỉ riêng Hằng thấy được ý tứ ấy ở các cô gái mới lớn kia mà cả mấy
ông bà già cũng đã nhận ra được những ánh mắt đưa tình ấy. Cũng chả ngại ngần
gì mà họ không cất lời trêu chọc các cô:
- Chiến sĩ đấy! Đứa nào có cảm tình thì ra mặt đi chứ không lại lỡ mất thời cơ.
Vừa nghe đến đấy các cô liền ngúng nguẩy ra vẻ thẹn thùng kéo nhau bỏ chạy ra
xa rồi cấu chí nhau la oai oái, họ giống như một bầy trẻ nhỏ vô tư lự mà ta vẫn
gặp trên đường. Trong số đó có một cô bé không cao lắm có vẻ dạn dĩ hơn, các bạn
vẫn gọi tên là Mận thường phải đổi vai với Hằng. Cũng chính nhờ thế mà hai người
có điều kiện nói chuyện với nhau nhiều hơn so với những cô khác. Chả biết cô ấy
có cảm tình như các bạn vẫn trêu hay không nhưng Hằng cũng cứ hẹn cô ấy ra chơi
và cô ấy đã đồng ý.
Ngay tối hôm đó và liền mấy tối hôm sau Mận đã ra nơi hẹn để gặp Hằng, họ đã đi
chơi nói chuyện hàng mấy tiếng đồng hồ mỗi ngày trên dọc con đường từ nhà Hằng
xuống đình làng. Tất cả những câu chuyện hai người nói với nhau trong những
lần đầu tiên đi chơi ấy thật chả ăn nhập vào đâu. Tuy nhiên đó lại là những cuộc
gặp gỡ mở đầu cho mối quan hệ sau này của hai người.
Mất mấy hôm Hằng phải về đơn vị để duy trì con số theo quy định. Chiều nay anh
Đạt đại đội phó lại cho cậu tranh thủ về nhà. Cơm nước xong có lẽ cũng đã gần
tám giờ tối, Hằng đang định đi vào phía trong làng thì thấy Mận bước vào cổng
thế là Hằng đành phải quay trở lại. Ánh đèn dầu vang khè không đủ để soi rõ
khuôn mặt của cô gái nhất là cô ấy lại hơi có ý đi vào góc khuất làm cho việc
nhìn rõ khuôn mặt của cô càng khó khăn hơn. Tuy vậy bà mẹ của Hằng đang ngồi giần
gạo ở giữa nền nhà vẫn nhận ra cô bé và cất tiếng chào trước:
- Cái Mận ra chơi đấy hả
cháu?
- Vâng ạ!
- Cứ ngồi chơi nói chuyện với
anh nhé, bác phải giần nốt mẻ gạo để mai có cái thổi cơm cháu ạ.
Sau khi chào hỏi mẹ của Hằng
cô gái ghé mình ngồi xuống chiếc giường gỗ kê ở gian nhà phía bên trái. Hằng đi
rót nước từ cái ấm tích ra để mời cô gái thì mẹ Hằng cũng mang cái đèn dầu nhỏ ở
gần chỗ cụ đang giần sảy đến để vào cái ghế đẩu đặt trước mặt hai người. Thấy
chỗ làm của mẹ bị tối và cũng muốn để cho cô gái tự nhiên hơn Hằng lại mang cái
đèn trở lại cho mẹ nhưng bà bảo bà không cần đèn vẫn làm được, thế là Hằng lại
mang cái đèn ấy về chỗ cũ. Câu chuyện giữa hai người dường như có sự dè dặt,
đôi lúc họ hoàn toàn im lặng không biết nói với nhau điều gì. Những lúc như thế
bà mẹ Hằng lại chen vào một câu hỏi để cho không khí cởi mở hơn. Điều làm Hằng
khó nói chuyện nhất là cô gái không cùng lứa tuổi với Hằng, chính vì vậy mà khi
Hằng hỏi một vài thông tin về các bạn của mình cho có chuyện thì cô ấy chả biết
tý gì. Cũng phải thôi, vì khi cô ấy lớn lên Hằng đã không còn ở quê nữa. Hằng
đã rời quê khi cô ấy mới độ sáu bẩy tuổi đến nay đã mười năm có lẻ, lẽ nào cô ấy
chả lạ lẫm. Hằng cảm thấy buồn vì sự dè dặt và không hiểu biết của cả hai người.
Nhìn kỹ cô gái dưới ánh đèn Hằng càng thấy ngần ngại khi mình đã trót mời cô ấy
ra chơi. Sau một loạt những khoảng trống kế tiếp nhau thì Mận cũng thấy ái ngại,
cô đứng lên chào mẹ Hằng rồi xin phép ra về. Hằng xin phép mẹ rồi ra đưa tiễn Mận
về nhà, hai người vừa đi vừa tiếp tục câu chuyện đang dở, cách nhà khoảng độ gần
ba trăm mét, cậu đang định chào lần nữa rồi về nhưng cậu thấy hình như Mận chưa
muốn ra về thì phải. Chính cái lúc Hằng định nói lời cuối thì cô ấy lại hỏi rất
nhiều chuyện, đâu là chuyện chiến đấu ở miền Nam rồi chuyện học hành ngày bé của
của Hằng. Quãng đường hai người đi dần dần càng gần vào đoạn cổng chính của
làng, dự đoán nơi ấy chắc khá đông thanh niên nam nữ nên hầu như cả hai đều có
ý đi chậm lại, nếu không nói là đã dừng hẳn lại để nói chuyện mà không đi nữa.
Ngay lúc đó có mấy người đi ngược ra bắt gặp hai người, tuy họ không biết hai
người này là ai bởi trời quá tối, nhưng họ cũng có ý đi gần hơn xem bọn này là
con cái nhà ai mà lại chuyện trò đêm hôm như thế. Có lẽ Mận cũng không thích cảnh
này nên cô khẽ nói:
- Mình ra xa làng một chút anh ạ!
Đến đây thì Hằng nhận ra rằng Mận chưa muốn ra về, việc chào mẹ Hằng để về chẳng
qua là muốn hai người nói chuyện được tự do hơn mà thôi. Thế là hai người lại
quay lại con đường cũ và lần này thì họ vượt qua nhà Hằng để tiến ra xa làng thật
sự. Đêm nay trời trở gió làm cho không khí khá lạnh, có lẽ đây là đợt rét cuối
cùng của mùa đông mà ta quen gọi là rét Nàng Bân. Hằng luôn đi về phía bên phải
của Mận có ý như muốn che đỡ cho cô những cơn gió lạnh thỉnh thoảng quét qua
hai người. Chả biết đi đi lại lại thế nào hai người lại dừng ngay trước cái lò
gạch mà ban chiều hai người đã cùng làm ở đó. Hằng vẫn đứng che gió cho Mận như
khi nãy, mặc dù anh chẳng thể nào che hết được những cơn gió ngày càng mạnh hơn
thổi từ đầm nước trước mặt. Đi qua, đi lại một lúc thì họ cũng tìm ra được một
chỗ khuất gió đó là cái ô cửa đốt lò phía nam dài, rộng mỗi chiều chừng hai
mét. Họ ngồi sát nhau trên một khúc gỗ đốt lò tìm được ở gần đó và tiếp tục câu
chuyện. Câu chuyện ở nhà miễn cưỡng bao nhiêu thì bây giờ lại say sưa bấy
nhiêu. Những câu hỏi và những câu trả lời với nhiều đề tài khác nhau nhưng có vẻ
đã rất gắn bó mà không còn rời rạc như trước. Chả biết lúc ấy do lạnh hay do ít
ngồi gần bọn con trai mà mỗi lần người Hằng chạm vào thấy Mận cứ run rẩy đến lạ,
Hằng vội hỏi khẽ bên tai của Mận:
- Em có lạnh không?
- Không anh ạ!
Bàn tay Hằng đặt nhẹ lên vai Mận khi thấy cô phả hơi thở nóng hổi thì thào trả
lời câu hỏi bên tai của anh. Có lẽ cô ấy xúc động về bàn tay của Hằng đang đặt
trên vai cô và hình như bàn tay ấy đang từ từ nắm chặt hơn. Sự gần gũi của hai
người làm cho họ như trôi đi trong cảm giác thật đặc biệt, mở đầu cho một điều
gì đó mới mẻ dường như không cưỡng lại được và nó sắp phải xảy ra. Bắt đầu là
bàn tay, rồi đến cả cánh tay của Hằng đã vòng qua vai của Mận, vẫn không thấy
cô có một sự phản đối nào. Chả bao lâu sau cả vòng tay của Hằng đã ôm cả thân
hình nóng ấm của Mận vào lòng, còn Mận thì thả lỏng toàn thân dựa hẳn vào Hằng.
Một cái hôn thật dài như chưa bao giờ dài thế khởi đầu cho một cuộc yêu đương
đã phải xảy ra.
Sau giây phút ấy Hằng cứ tự trách về sự quá dễ dãi của mình, cùng với ý nghĩ đó
là sự phân vân về sự quá nhanh, quá gấp gáp khi cô ấy chấp nhận những gì vừa xảy
ra giữa hai người. Cô ấy còn quá trẻ, cô ấy có thể yêu nhưng chắc gì đã đủ chín
chắn để trở thành một người vợ, một người bạn đối với một người đàn ông hơn cô
quá nhiều tuổi. Cô ấy sẽ hành động ra sao khi những điều tình tứ, hoa lá, tươi
trẻ trong yêu của những tâm hồn trẻ như cô ấy còn chưa được phát tiết hết? Sự
nuối tiếc về những gì mà con người ta chưa được một lần hưởng thụ có thôi thúc
cô ấy quay trở lại khi cô ấy đã làm vợ, làm mẹ hay không? Cái gia đình nhỏ
bé ấy rồi sẽ ra sao? Có lẽ cũng cần phải xem lại cho thật cẩn thận! Họ ra về
cùng với những lời hẹn gặp lại đêm sau khi đã cảm thấy quá khuya và trời thì
ngày một lạnh thêm gấp bội.
Hằng khẽ kéo cánh cửa bằng liếp ra rồi nhẹ nhàng lách người vào nhà. Anh cố hết
sức tránh gây ra tiếng động để mẹ khỏi thức giấc vì người già thường ít ngủ, nếu
mẹ bị thức dậy là mẹ sẽ không ngủ lại được nữa. Một điều thật bất ngờ là vừa mới
chui vào nhà còn chưa kịp nhìn rõ những gì trong nhà, anh đã nghe tiếng của mẹ
cất lên:
- Nhà ấy nó không chịu cho
con nó về nhà mình đâu!
Hằng thật không thể ngờ anh
đi đâu mẹ anh cũng biết, chưa chừng bà cụ thức từ tối đến giờ đợi anh về cũng
nên.
- Mẹ vẫn thức từ tối đến giờ
cơ à?
- Tao cũng đã ngủ được một
giấc rồi, nằm mãi nhạt mồm tao dậy ăn miếng trầu cho ấm.
- Sao mẹ lại nghĩ là nhà họ
sẽ không đồng ý?
- Tao ở làng này mấy chục năm nay rồi, ai thế nào mà tao chẳng biết.
- Nhưng nếu cô ấy quyết không nghe thì sao?
- Con bé ấy đần đần là, bố mẹ nó quát một tiếng là im như thóc, chả dám hé răng
đâu!
Dừng một lúc bà lại nói tiếp:
- Nhà nó chỉ ưa giầu sang
phú quý, chứ nghèo như nhà ta thì ...
Nói đến đây thì bà dừng lại,
liền sau đó là một tiếng thở dài thay cho phần câu nói còn dang dở.
- Đi ngủ đi, mai là thứ hai
lên đơn vị cho sớm không người ta lại phê bình cho đấy.
Hằng làm theo lời mẹ như một
cái máy mà không nói lại điều gì. Nằm xuống giường đã lâu nhưng anh cũng vẫn
chưa có vẻ buồn ngủ. Những câu nói của mẹ vừa rồi làm cho anh rất phân vân và
không biết tin vào lời mẹ hay tin vào tình cảm của Mận với những gì mà cô ấy đã
hưởng ứng với Hằng trong buổi tối hôm nay.
Ông Chắn bố của Mận là một
người còn trẻ, ông thích văn nghệ và đã từng đứng ra làm trưởng đoàn cải lương
của làng. Ông là người thích làm các công việc có tính tươi vui trong cuộc sống
và lúc nào cũng tỏ ra vồn vã cởi mở đối với mọi người. Ngày xưa mỗi lần Hằng đến
nhà ông xem tập cải lương ông vẫn tươi cười đón tiếp và còn rất muốn Hằng tham
gia vào đội của ông. Một người vui vẻ hoà nhã như vậy chả nhẽ lại thủ cựu đến mức
có thể bắt con gái mình từ bỏ tình yêu chỉ vì người nó yêu không giầu có hay
sao?
Cứ nhắm mắt lại Hằng lại tưởng
tượng ra trước mắt hình ảnh ông Chắn luôn tươi cười khi anh cùng một người bạn
cùng tuổi gọi ông Chắn là cậu ruột đến chơi nhà. Rồi còn những lần xem tập cải
lương ở nhà ông, xem ông đi đánh lưới săn những con chim giẽ kiếm ăn trên đồng
làng. Có cả những đêm các cậu còn theo ông ra tận đồng Thốp để rình săn lũ chim
lạc sau khi được thả bay trong hội không tìm được đường về đã hạ xuống đó để kiếm
ăn và uống nước.
Từ mấy hôm trước Hằng chỉ
ngại ngần về việc Mận còn quá trẻ, hơn nữa từ trước đến giờ anh vẫn gọi bố mẹ Mận
là anh chị, nếu bây giờ phải đổi cách xưng hô thì cũng đáng ngại thật. Ngờ đâu
điều đáng ngại không phải là điều đó mà lại là chuyện mối tình có thể bị ngăn
trở của gia đình cô ấy. Càng nghĩ anh càng cảm thấy buồn chán và bế tắc, lúc
lâu sau anh chậc lưỡi thầm nói với mình: Thôi chẳng nghĩ nữa, mặc kệ sự đời muốn
ra sao thì ra! Cố chợp mắt để mai còn lên đơn vị.
Sau buổi tối hẹn gặp Mận
không thành Hằng có linh cảm câu chuyện mà mẹ nói có thể đã xảy ra, tuy vậy anh
vẫn hy vọng Mận sẽ xuất hiện đột ngột trước mặt anh như những câu chuyện tình
lãng mạn mà anh vẫn đọc hàng ngày. Nhưng rồi cái điều tưởng tượng ấy chẳng bao
giờ xảy ra vì Mận không biết đã đi đâu vắng biệt tăm hơi. Có lẽ cô ấy đã bị
giam lỏng ở đâu đó hoặc đã bị đưa đến nhà ai đó ở quê ngoại để cách ly cô ấy với
Hằng. Có một điều mà Hằng không tưởng tượng nổi là có lần Hằng kiếm cớ cùng
cháu của ông Chắn vào nhà chơi có ý xem Mận có nhà hay không thì vẫn thấy ông
niềm nở và chuyện trò rất thân tình như không có việc gì xảy ra. Đến lúc này
thì Hằng thấy mẹ đã đánh giá đúng con người ông Chắn, thế mới biết ông quả là một
người kín đáo và sâu sắc. Hằng không đến nỗi buồn bực quá lâu vì dù sao câu
chuyện tình của anh với cô Mận cũng chưa đến nỗi nào, hơn nữa với tính cách của
ông bố Mận đã làm cho anh thấy không còn muốn gần gũi với họ nữa.
Trong những ngày tháng
giêng, tháng hai âm lịch hàng năm của các vùng quê Kinh Bắc cũ vẫn thường có lệ
mở những hội hè đình đám. Trước hết là tế lễ Thành hoàng hoặc suy tôn công đức
của tiền nhân có công với làng với nước, sau đó là các trò vui, mừng một năm
làm ăn thịnh vượng. Bên cạnh đó nhiều làng còn có các lễ hội mang màu sắc riêng
khác ví như hội pháo mồng bốn tháng giêng của làng Đồng Kỵ, hội hát Quan họ của
bốn mươi chín làng Quan họ, mà hội lớn nhất là hội ngày mười ba tháng giêng
vùng chùa Lim. Ngoài ra trong hội còn có rất nhiều các trò chơi dân gian náo
nhiệt mà làng nào cũng có. Đáng kể nhất vẫn là nghi thức tế lễ của các cụ trong
trang phục tế với những chiếc mũ hình hộp, những bộ áo thụng đỏ, đen, vàng,
xanh tuỳ theo tục lệ của mỗi làng trông thật kính cẩn và trang trọng. Sau mỗi
câu xướng lên các vị chủ tế, bồi tế cứ lần lượt tiến lên dâng hương, dâng các vật
phẩm lên bàn tế.
Còn về phần hội thì càng
phong phú hơn với các trò vui gồm đủ loại, đâu là các sới vật với đủ các giải
lèo, giải chính. Cho dù giải chỉ là cái mâm đồng, cái chậu thau chả lấy gì làm
to lắm nhưng vẫn thu hút rất nhiều các đô vật ở khắp các vùng về tham dự. Đâu
là các đô Đình Sấm, các đô Gia Lược, đô Đồng Kỵ, đô Trung Mầu và nhiều vùng tận
Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây cũng về tham dự. Những trò vui này vừa mang tính giải
trí trong dân gian nhưng trong đó còn có ý muốn duy trì tinh thần thượng võ của
cha ông truyền lại.
Ngoài ra các hội làng còn tổ
chức chọi gà, đánh cờ, đốt pháo và cả tổ chức các vở tuồng đồ, tuồng pho kéo
dài hết cả ba ngày, ba đêm hội với những vở tuồng kinh điển như Lã Bố hý Điêu
Thuyền, Sơn Hậu đệ nhất, Sơn Hậu đệ nhị, Rồi thì Bao công xử án Quách Hoè, Bao
công xử án Bàng Quý phi vv... Ngoài tuồng cổ còn có cả các loại chèo cổ, chèo cải
biên và không hiếm các vở cải lương với nhiều tình tiết ly kỳ anh hùng cái thế
hoặc đầy nỗi niềm thương cảm cùng với sự chiến thắng của những người hiền, những
chính nhân quân tử cho dù trước đó họ có gặp bao nhiêu gian nan, trở ngại. Hầu
hết những vở hát dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều phê phán cái ác, cái sai
trái, ca ngợi cái đúng, cái hiền, định hướng cho con người ta về cách sống,
cách suy xét sao cho phải ở đời. Mỗi vở diễn là một bài học nhân văn lớn cho tất
cả mọi người, mong sao cứ giữ mãi được nền nếp sinh hoạt như vậy làm đẹp và làm
vui cho đời trên những làng quê thanh bình yên ấm. Những ngày hội, những đêm
văn nghệ đã làm dịu đi nỗi buồn trong lòng của Hằng. Anh quyết định sẽ dừng lại
tất cả các việc yêu đương để tập trung vào việc lo công việc làm sau khi nhận
công tác mới hoặc nhận quyết định ra quân.
5
Rời sân khấu tuồng của làng
Nghĩa Vũ, Hằng lững thững theo đoàn người đi ra phía đầu làng để ra đường cái
chính. Làng Nghĩa Vũ cùng một xã với làng của Hằng nhưng ở cách xa làng của Hằng
gần một cây số rưỡi. Kể ra thì từ làng Hằng sang đó quả cũng quá xa đối với những
người nhiều tuổi, nhưng với lớp trẻ và lại trai tơ như Hằng thì quãng đường ấy
chả đáng là bao. Vừa đi vừa nghĩ về vở tuồng mới xem nên Hằng chẳng để ý đến
ai, mãi đến khi ra khỏi làng Nghĩa Vũ, Hằng mới thấy những người đi xem xa như
Hằng không phải là ít. Trời thì tối, với lại nếu có gặp ban ngày thì chưa chắc
Hằng đã biết ai là người làng nên Hằng cứ đi một mình như vậy. Hằng rời nhà đi
công tác lâu quá rồi, mà số các chàng trai, cô gái son rỗi hôm nay thì lại vừa
mới lớn lên, những thay đổi về vóc dáng làm cho người ta lạ hẳn đi so với thời
con trẻ. Nếu có người nào đó giống bố, giống mẹ thì khả dĩ Hằng mới nhận ra,
còn thì Hằng đâu có biết ai. Hằng thả lỏng mọi tâm sự, tạo cho mình sự thoải
mái rồi cứ thế lững thững đi trong bóng tối nghe các câu chuyện của các cô, các
cậu trêu chọc nhau trên dọc đường. Nhiều câu chuyện làm Hằng rất muốn cười
nhưng lại sợ các cô, các cậu chạm nọc nên đành cứ nín lặng cố nhịn để đi. Phía
trước Hằng là hai cô gái vừa đi vừa tâm sự, tuy chỉ nghe tiếng được, tiếng
không nhưng xem ra câu chuyện của họ có vẻ khá rôm rả.
Câu chuyện của họ chỉ tập
trung vào mỗi một đề tài là nói về các chàng trai mà họ cùng quen. Hầu như họ
chỉ nói với nhau những nhận định của họ về hình thức và tính cách của các chàng
mà không nói gì đến điều khác. Những nhận xét của họ xem ra hết sức thật tình,
tuy nhiên những người trong câu chuyện đều ở một cái tên bí mật mà họ tự hiểu với
nhau, còn tên thực thì ngoài họ chắc không ai biết. Sau rất nhiều nhân vật mà họ
nói ra Hằng chẳng mấy chú ý lắm vì Hằng đâu có biết họ là ai. Nhưng đến một
nhân vật bộ đội được nhắc đi nhắc lại thì Hằng giật mình, linh cảm cho thấy
hình như mấy cô này nói đến ai đó giống mình. Tất nhiên là anh chẳng nghe rõ hết
được mọi chi tiết câu chuyện của họ, còn những mẩu đối thoại nghe ra rất suôn sẻ
được viết ra sau này chẳng qua chỉ là sự góp nhặt những điều nghe được rồi ghép
lại sao cho hợp lý mà thôi.
- Chị xem cái tay bộ đội mới
về ấy trông cũng được đấy chứ?
- Hình như hắn cặp với cái
“mờ” ở xóm nhà mày hay sao ấy.
- Tắt rồi bà chị ạ.
- Có chắc không đấy?
- Gớm làm gì mà tìm hiểu kỹ
thế? Hay là đã kết người ta rồi đấy?
- Vớ vẩn, biết người ta thế
nào mà kết với chẳng quả, tao thì thụi cho mấy quả bây giờ.
Cùng lúc đó hai cô gái díu
vào nhau để cấu, véo trêu nhau rồi kêu la oai oái.
- Này im đi, có người đằng
sau đấy, khéo người ta nghe thấy người ta cười cho.
- Không phải người làng đâu
mà sợ.
- Sao biết?
- Người ấy đi phía sau đã
lâu lắm rồi, nếu người làng thì đã lên tiếng.
- ừ nhỉ! Có lẽ là người ở
xóm Lẻ mày ạ...Sao họ đi xem xa thế nhỉ?
Hình như cô bạn kia chả
nghe hay sao mà thay cho việc trả lời lại là một câu hỏi:
- Này hình như ngày trước
anh ấy học cùng với anh cả của chị thì phải?
- Có lẽ thế.
- Mấy đứa bạn em nói ngày
xưa anh ấy học giỏi lắm, mấy lần thi học sinh giỏi thành phố cơ đấy, chắc vì
nhà nghèo quá nên phải bỏ học để đi chuyên nghiệp chứ nếu không thì ...
- Không biết anh ấy có bị
thương không nhỉ?
- Chắc là có, hình như anh ấy
đang ở trạm an dưỡng trên huyện thì phải.
- Anh ấy trông cũng được đấy
chứ, chỉ tội chả có họ với ai trong làng cả. Hình như nhà anh ấy ngày xưa nghèo
lắm, toàn phải đi xin ăn thì phải.
- Em nghe mẹ em bảo ngày ấy
vùng mình có hàng trăm, hàng ngàn người ăn mày, ăn xin ấy chứ. Lúc đó làm sao
có thể sống được là quý, cần gì phải tính toán này nọ. Này thế chị có kết không
để em bảo mấy đứa ở gần đó nó giới thiệu cho.
- Sao mày không tự giới thiệu
cho mày ấy.
- Em chỉ sợ em xấu xí quá
anh ấy không để ý đến thôi chứ, nếu mà anh ấy đồng ý thử xem.
- Thôi chả nói nữa nhỡ đến
tai người ta thì xấu hổ chết mất... Không biết ông nào đi mãi đằng sau mà không
lên tiếng thế nhỉ?
- Chị thử quay lại hỏi
xem... em đố chị dám đấy.
- Sợ gì, mày mất gì tao hỏi
cho mà xem, tao cứ hỏi người ta về đâu là được chứ gì?
- Em chịu một cái véo tai.
- Mười cái?
- Hai cái thôi.
- Được, để tao hỏi.
Sau câu chuyện thách đố giữa
hai cô gái là một khoảng thời gian im lặng không ai nói gì. Phía trước hai cô
có ý như đi chậm dần lại để chờ người đi sau tiến kịp. Tựa như vô tình người đi
sau vẫn giữ nguyên tốc độ nên chỉ độ mấy phút cả ba người đã đi gần như ngang
nhau. Cô có hình dáng cao hơn bất chợt quay hẳn lại gần như chạm mặt vào người
phía sau vừa tiến đến:
- Anh về...?
Cô gái định hỏi anh về đâu
để cho họ đi cùng nhưng chưa kịp hỏi phần sau của câu hỏi đã giật mình sững người
lại khi đã nhận ra người cô hỏi chả phải ai xa lạ mà chính là cái anh chàng bộ
đội mà họ đã bàn tán suốt từ nãy đến giờ. Tuy nhiên cô cũng nhanh ý hỏi tiếp:
- Anh cũng đi xem ạ?
- Vâng! Tôi cũng đi sang
đây lúc tối.
- Anh đi có một mình ạ?
- Tôi đi với mấy người
nhưng sau đó không gặp lại, hình như họ đi trước mất rồi.
- Thế thì họ bỏ rơi anh rồi,
thôi anh về cùng với chúng em cho vui.
Vừa nói về cùng với chúng
em, cô nhìn lên phía trước có ý tìm cô bạn cùng đi với mình, nào ngờ phía trước
bây giờ chả còn ai nữa. Chắc rằng khi thấy tình huống vừa rồi cô bạn của cô sợ
lộ chuyện nên đã chạy trốn mất, để mặc bạn mình với cái người đáng ngại nọ. Để
chữa thẹn cô bạn đành nói với theo vào khoảng không một câu đe doạ :
- Ngày mai dứt khoát phải
đòi nợ mười cái véo tai
- Làm sao mà cô có vẻ tức tối
với cô ấy thế?
- Nó dám bỏ em lại một
mình.
- Vẫn có tôi cùng đi như vừa
rồi đấy chứ?
Cô gái không nói gì nhưng
hai vai như đang rung lên và hình như cô đang cố ghìm lại tiếng cười cứ muốn bật
ra.
- Này nhưng mà cô tên là gì
ấy nhỉ?
- Em là Phương.
- Có phải cô là em của Cầu
không nhỉ?
- Dạ phải ạ.
Sau mấy câu hỏi vừa rồi hai
người có vẻ bớt bỡ ngỡ hơn, vì dẫu sao thì ít nhất thì họ cũng biết về nhau, với
người này thì là bạn cùng học với ông anh của mình. Còn với người kia thì đây
là em gái của anh bạn cùng học với mình. Mỗi người đều có một tự nhận như thế
và cảm thấy như giữa họ có sự gần gũi lên rất nhiều và câu chuyện hầu như cứ
tràn chảy không ngừng. Hết người này hỏi về tình hình của người kia lại đến người
kia hỏi lại với bao nhiêu chuyện từ chuyện nhà đến làng xóm rồi đến chuyện đi học,
đi làm của cô gái, chuyện về đời lính của chàng trai.
Câu chuyện có lẽ sẽ còn dài
nữa nếu như phía trước chưa phải là cái cổng làng sừng sững chắn ngay trước mặt.
Hai người dùng dằng một lúc rồi cũng đành phải từ biệt với lời hẹn đến thăm
nhau trong những ngày sắp tới.
Một buổi trưa không hẹn trước,
Phương và một người bạn gái nữa đột ngột vào chơi nhà Hằng. Ánh sáng ban ngày
giúp Hằng nhìn rõ Phương hơn. Cô ấy không đẹp lắm nhưng rất có duyên, đôi mắt
hơi sâu có viền đen làm cho người ta rất dễ có cảm tình. Hình như cô ấy cũng đã
một vài lần yêu nhưng không biết thế nào vẫn chưa chịu lấy ai. Mấy ngày nay cô ấy
đang học thêu ở dưới đình làng, nơi ấy lại khá gần nhà Hằng nên tranh thủ về sớm
kéo theo cô bạn vào chơi. Tính ra có lẽ cũng đến mười năm Hằng không gặp cô ấy,
nếu nói cho đúng thì có thể còn hơn mười năm vì hồi Hằng đến nhà Cầu thì cô ấy
mới mười hai, mười ba tuổi là cùng. Cánh thanh niên thời ấy hầu như hơi ngố
trong quan hệ với giới nữ và chắc chắn chả bao giờ để ý đến các cô nhóc ấy làm
gì. Trong bụng họ chỉ thấy khó chịu vì các cô em ấy chỉ hay nhõng nhẽo và nhất
là hay mách lẻo để bố mẹ mắng mỏ làm khó cho mình. Cuộc viếng thăm dù rất ngắn
ngủi với lý do về lo cơm nước để kịp đến lớp buổi chiều nhưng vẫn đầy đủ thủ tục,
ngoài ra lại còn hẹn gặp nhau buổi tối hôm ấy mới là điều đáng nói. Linh cảm
cho thấy cái số đào hoa của Hằng vẫn chưa cho dừng lại được, đành phải chấp nhận
vậy thôi.
Cuộc tình mới với Phương đến
cũng nhanh chóng và hầu như không có trở ngại gì đáng kể sau mấy lần đi chơi tối
cùng nhau. Mỗi ngày hai người vẫn gặp nhau mỗi khi Phương đến lớp và cả khi
Phương rời lớp học về nhà. Họ gặp nhau cả ở trên lớp thêu vì ngoài thời gian
lên lớp là thời gian thực hành học viên tự quản. Những người cùng học với
Phương đều là người làng cả, họ đều muốn vun vào khi thấy hai người nhiệt tình
với nhau như thế. Còn với những buổi tối thì hầu như họ không thiếu nhau bao giờ.
Những buổi tối say mê thường làm cho họ quên cả việc về đi ngủ, nhiều hôm đi
chơi về muộn Phương toàn về ngủ với cô em họ nhà cậu mợ của Phương ở ngõ Ngách.
Được cái cô em họ lại đồng tình với bà chị họ nói thác với bác là chị Phương vẫn
về ngủ với cháu nên bố mẹ Phương cũng quen dần với việc Phương luôn không ngủ ở
nhà.
Một buổi chiều khi Hằng từ
đơn vị về nhà thì thấy mấy cậu bạn bảo cái Phương nó tìm cậu gắt quá không biết
để làm gì. Đến ba giờ chiều hôm ấy thì hai người gặp được nhau. Phương ôm chặt
ngay lấy Hằng rồi hồi hộp nói với người yêu:
- Bố mẹ em bảo anh đến nhà
để nhà xem ý kiến anh thế nào.
- Thế em đã nói chuyện của
chúng ta cho bố mẹ em rồi à?
- Em nói bữa trước...mà
không nói thì chuyện cũng đã đến tai các cụ ấy rồi làm sao em giấu được.
- Nhưng ý các cụ ấy thế
nào?
- Tối nay anh cứ đến thì biết,
em chả nói nữa.
Vừa nói Phương vừa ngúng
nguẩy bỏ đi giả như dằn dỗi. Mới được một đoạn đã thấy ngoái cổ lại:
- Anh nhớ đến sớm sớm đấy
nhé, đừng để các cụ ấy phải chờ.
Nghe Phương báo tin này Hằng
thấy thật bất ngờ tự nhủ: Chả lẽ câu chuyện về số đào hoa đáng ngán của mình đến
đây là kết thúc được rồi chăng (?)
6
Ánh đèn dầu trong nhà có vẻ không được sáng lắm nhưng từ ngoài cổng Hằng đã
nhìn rõ trong nhà, anh tự hỏi:
- Sao lại chả có ai ngoài bố
mẹ của Phương thế nhỉ (?)
Nghĩ quanh quẩn một lúc
không ra cái gì cả, Hằng chỉ còn biết tin vào lời Phương và mạnh dạn bước vào cất
tiếng chào:
- Cháu chào hai bác!
Hai bố mẹ Phương có lẽ cũng
bất ngờ ngước nhìn lên chào lạiH:
- Anh đến chơi!
Vừa đáp lại lời chào của Hằng,
ông bố Phương xê dịch cái ghế để cho Hằng ngồi xuống, vừa lúc ấy mới thấy
Phương xách ấm nước từ nhà dưới đi lên. Đổ xong ấm nước nóng vào cái phích sơn
đỏ cô liền di chuyển sang đứng cạnh Hằng. Có lẽ cô nghĩ nếu có cô ở bên cạnh
thì người yêu có thể mạnh dạn hơn, hoặc giả cô định làm như thế để khảng định về
ý kiến ban chiều là hoàn toàn đúng đắn.
Vừa rót nước ra chén ông bố
của Phương vừa nhẹ nhàng nói với Hằng:
- Mấy hôm trước tôi thấy
cái Phương nó về nói với gia đình về việc anh và nó có sự tìm hiểu với nhau.
Chúng tôi cũng tán thành việc ấy, tuy vậy chúng tôi cũng phải báo qua trong nội
tộc rồi mới có ý kiến chính thức. Tôi định trong vài ngày tới tôi hỏi ý kiến
trong họ cho phải phép là được. Việc này chỉ là làm cho có lệ mà thôi còn việc
chính là chúng tôi đã quyết được rồi.
Ông bố Phương đã dừng nói
đã khá lâu mà Hằng vẫn chưa đáp lại được một lời nào. Sốt ruột quá Phương đá
vào chân Hằng mấy cái liền để nhắc nhở, đến lúc ấy Hằng mới chợt tỉnh, anh dè dặt
nói:
- Chúng cháu còn ít tuổi lại
chả biết thủ tục thế nào nên có gì thì hai bác chỉ dẫn.
- Thôi được rồi, cứ đến thứ
tư tới này rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy cả thôi.
Câu chuyện còn được tiếp tục
thêm một lúc nữa về công ăn việc làm của Hằng cùng với một vài câu hỏi về quê
quán, anh em của Hằng nữa thì buổi gặp mặt kết thúc. Trong lúc Hằng chào bố mẹ
Phương thì Phương đã ghé vào tai Hằng nói nhỏ:
- Nhớ chờ em ở đầu ngõ đấy.
Có lẽ chưa bao giờ Hằng ở
trong hoàn cảnh căng thẳng đến như thế, kể cả khi đến chơi và tiếp xúc với bố mẹ
của Dụng và bố mẹ của Nghi năm, bẩy năm về trước. Nên sau khi chào bố mẹ Phương
thêm một lần nữa thì Hằng đi nhanh ra ngoài cổng, vừa đi vừa mong sao cho chóng
thoát khỏi không khí căng thẳng vừa rồi. Theo lời dặn của Phương, Hằng đứng chờ
có lẽ phải đến gần nửa tiếng mà vẫn chẳng thấy Phương ra, anh đoán là bố
mẹ còn giữ Phương lại để hỏi thêm nhiều chuyện khác nên chưa chắc Phương đã ra
được, thế là Hằng cứ một mạch đi thẳng về nhà không đợi nữa.
Về đến nhà Hằng mới thấy vắng
vẻ, anh cũng chẳng thắp đèn lên nữa mà ngồi yên lặng trên mép giường như thế để
nghĩ về những sự việc đã qua. Chiều nay mẹ vào chơi nhà chị hai rồi ở lại
trong ấy không về nên những điều vừa rồi Hằng chẳng biết nói với ai. Còn
đang suy nghĩ miên man thì nghe có tiếng bước chân từ phía ngoài sân, anh vội đứng
lên xem đó là ai mà lại dám vào nhà mình khi đang tối mò như thế, lại còn chẳng
chịu đánh tiếng mới lạ chứ. Vừa thò đầu ra ngoài còn chưa kịp hỏi thì anh đã nhận
ra người đó là Phương cùng với câu trách móc tuy rất nhỏ nhưng khá là gay gắt:
- Đã bảo chờ em thế mà lại
cứ đi tuột về nhà... sao mà nhà tối thế?
- Cứ đứng chờ đấy để anh thắp
đèn.
- Này, thế bu anh đã ngủ rồi
cơ à?
- Không, bà cụ đi vào trong
chị hai đến chiều mai mới về cơ.
- Thế thì đừng thắp đèn nữa,
cứ ngồi tối nói chuyện cũng được anh ạ.
Nghe theo lời của Phương
anh cũng không thắp đèn nữa, thế là hai người ngồi ngay xuống mép giường của
gian nhà bên trái để nói chuyện.
- Sao lâu thế? Anh tưởng bố
mẹ không cho em ra nữa.
- Em phải nói khối lý do ra
bố mẹ mới cho đi đấy.
- Coi chừng cũng phải về sớm
kẻo các cụ ấy lại tế cho một trận đấy.
- Không sao đâu, em đã nói
với bố mẹ là em sẽ về nhà cậu mợ để ngủ, các cụ ấy im lặng không nói gì chắc là
tán thành rồi.
- Này thế các cụ ấy không
nghi ngờ gì thật à?
- Có gì mà nghi ngờ chứ,
hơn nữa đã có cái Hoan nó xác nhận hộ nên chẳng có gì đáng ngại anh ạ.
Buổi tối hôm nay mặc dù
không có trăng nhưng do bầu trời có khá nhiều sao nên ngoài trời cũng không tối
lắm. Tuy không nhìn thật rõ mặt nhau nhưng họ vẫn nhìn thấy hình dáng lờ mờ của
nhau. Trong một khoảng thời gian ngắn thôi nhưng họ đã nói với nhau rất nhiều
chuyện. Những chuyện về yêu đươngB, những kế hoạch về cưới xin và nhiều nhiều dự
định khác. Họ nói với nhau giống như một đôi vợ chồng vẫn bàn bạc với nhau về công
việc sau một ngày làm việc trở về. Có lẽ do mải mê nói chuyện nên đến khi
Phương chợt đứng lên đòi về Hằng mới nhận ra là trời đã quá khuya, anh phân vân
nói với Phương:
- Chắc em Hoan không còn thức
để chờ em nữa đâu, em cứ ngủ ở đây mai về sớm một tý là được.
- Em sợ có ai nhìn thấy thì
chết mất anh ạ.
- Cũng chỉ còn thời gian ngắn
nữa là mọi việc đâu vào đó, lúc ấy chắc chả còn ai nói gì nữa, với lại từ tối đến
giờ chả ai thấy chúng mình ngồi với nhau thì còn sợ gì.
Những câu nói vừa rồi chắc
đã thuyết phục được Phương nên không thấy cô nói gì thêm nữa. Cùng lúc ấy Hằng
thấy hình như Phương không những đã ngồi sát mà còn dựa hẳn vào người anh để ngủ.
Hằng nhẹ nhàng đỡ cho Phương nằm xuống giường và buông chiếc màn màu xanh phòng
không xuống. Kế đó Hằng ra ngoài hiên kéo tấm liếp đóng kín cửa rồi vào nằm xuống
bên cạnh Phương.
Hằng cũng đã nhiều lần nằm
cạnh những cô gái mà Hằng đã yêu nhưng chưa bao giờ Hằng thấy cảm giác lạ như lần
này. Chả biết có phải anh cảm thấy yên lòng khi anh đã coi Phương như là người
vợ của mình thông qua cái quyết định của bố mẹ Phương lúc tối hay là Hằng thấy
mình nằm cạnh một cô gái ở ngay trong nhà mình với một ý nghĩ hoàn toàn yên tâm
rằng không có ai làm cản trở đến việc này.
Ngay sau khi nằm xuống cạnh
Phương với ý định ngủ lấy một lúc thế nhưng khi nằm cạnh cô ấy hai mắt anh cứ dựng
lên mà không sao có thể ngủ được. Anh nghiêng người về bên trái vòng tay ôm lấy
Phương và kéo cô ấy nằm sát vào với mình. Những cảm giác đặc biệt cứ trào dâng
lên làm anh thấy thật khó chịu, vòng tay anh cứ xiết chặt dần thêm.
Mặc dù không thấy Phương có
một cử động nào có ý cưỡng lại nhưng cùng lúc ấy anh nghe thấy tiếng Phương nhỏ
nhẹ nhưng tỉnh bơ ngay bên má, chẳng có một tý dấu hiệu ngái ngủ nào:
- Sao anh ôm chặt thế?
- Em vẫn chưa ngủ à?
- Ở bên cạnh anh em chẳng
thể nào ngủ được, chỉ khi về nhà thì ngủ lăn, ngủ lóc quên cả trời đất.
Sau câu nói vừa rồi hơi thở
của Phương hình như gấp gáp hơn, cả Hằng hình như cũng hồi hộp chả kém Phương
là mấy. Trong một khoảnh khắc rất ngắn cả hai người họ chợt ôm ghì lấy nhau và
hai cặp môi của họ dính chặt vào nhau... Không biết từ lúc nào mọi thứ vải vóc
trên người của họ đã không còn nữa, chỉ còn da thịt ấm nóng chạm vào da thịt ấm
nóng. Hai bàn tay của họ thay cho ánh mắt thăm dò đến mọi chỗ của nhau cùng với
những cảm xúc thật là bay bổng. Những gì cần phải đến đã đến với họ trong sự
hưng phấn đến tột độ không cần phải miễn cưỡng bởi bất kỳ một điều gì.
Họ giật mình tỉnh dậy và thật
sự lo lắng sợ rằng ngoài trời đã sáng, nhưng thật may mắn khi Phương nhòm qua
khe liếp thấy trời vẫn còn mờ tối. Họ thu dọn lại những gì bừa bộn mà họ đã gây
ra trong đêm qua rồi cứ ngồi như thế ôm nhau để mà chờ sáng. Ngoài trời vừa mới
mờ sáng Phương đã rời nhà để về nhà cậu, cô ấy sợ lúc về mà cậu mợ gặp thì không
biết nói ra sao. Còn Hằng cũng đóng cửa, đóng cổng lại rồi đi lên đơn vị. Sớm
nay đơn vị sẽ thông báo về việc tuyển dụng lao động của một số đơn vị sản xuất ở
quanh huyện và một số trường chuyên nghiệp đóng ngay trên đất Hà Nội.
RA QUÂN
1
Từ sáng thứ hai đến hôm nay đã gần ba ngày, có đến mấy đơn vị vào gặp đoàn mà Hằng
vẫn chưa tìm cho mình được một công việc vừa ý. Cũng có chỗ có công việc ngay
như xí nghiệp ốc vít Tây Mỗ thì công việc sản xuất ở đó nhàm chán, không phù hợp
với tính cách của mình. Việc chuyển sang học nghề sửa chữa xe máy thì họ đòi phải
học lại từ đầu. Hằng đã học nghề, đã làm bao nhiêu năm ở ngành điện rồi lại về
làm quân giới mấy năm liền ở sư đoàn, bây giờ lại đi học từ đầu thì sao có thể
chấp nhận được.
Còn một chỗ tuyển làm ngay
là về làm nhân viên thuế vụ thì Hằng càng không thích. Đành rằng đây cũng là
công việc nhà nước, nhưng Hằng vẫn ngại công việc này từ xưa đến giờ, bởi công
việc này va chạm với rất nhiều người. Hơn nữa công việc này dễ làm cho người ta
thay đổi tính tình từ chỗ hiền lành trở thành ác độc, từ ngay thẳng trở thành
tham lam khi tiếp xúc với của cải vật chất. Chưa nói đến việc có bao nhiêu kẻ
dùng tiền của hối lộ nhờ cậy mình bỏ qua cho họ những việc làm ăn phi pháp. Đến
khi không thể mua nổi mình chúng có thể dùng các thủ đoạn ác độc để ép mình đi
vào con đường ấy. Bản thân mình đâu phải là người đã được miễn dịch đối với các
loại khuẩn độc đầy rẫy khắp nơi. Cho dù cái truyền thống không tham của người,
từ ông bố có di truyền lại và cả một quá trình tu dưỡng của bản thân đã chắc gì
vượt qua được cái bả vật chất mỗi ngày cứ gậm nhấm vào mình trong khi mình đang
vướng bởi cái nghèo, cái khó và vì nó mình đã phải bỏ dở bao nhiêu điều tốt đẹp
cả trong tiến thân và trong tình yêu hạnh phúc. Mình đâu có phải là người có bản
lĩnh siêu việt, để không phải bị quyến rũ vào cái vòng đó. Điều tốt nhất là nên
tránh xa những chỗ như thế thì hơn.
Đang lúc buồn chán vì chưa
tìm ra được công việc gì phù hợp cho mình thì Hợp đến. Mấy ngày vừa rồi Hợp
không phải ở lại đơn vị vì Hợp là thương binh bị thương cứng khớp gối. Tất
nhiên là những công việc kia Hợp không thể tham dự được, có chăng là phải có một
ngành nào đó có công việc ít phải di chuyển mà lại không cần đến chân mấy thì Hợp
mới làm được, vì vậy nên cậu ấy vẫn cứ phải chờ đợi.
Hợp đến lần này có vẻ không vui lắm, hình như có chuyện gì đó phiền muộn mà Hợp
không muốn nói ra. Hằng đoán chắc là có việc gì nghiêm trọng nên cố gạn hỏi:
- Có gì không vừa ý mà bần thần ra thế?
- Cũng khá nghiêm trọng đấy anh ạ.
- Thì cứ nói xem nào.
- Em không biết anh với Phương quan hệ thế nào nhưng xem ra có chuyện rồi. Buổi
tối hôm thứ ba em qua đấy thấy nhà Phương không biết có chuyện gì mà ầm ĩ
cả lên anh ạ.
Nghe Hợp nói vậy Hằng cũng chẳng biết đầu cua tai nheo ra sao mà trả lời. Chuyện
của hai người thì bố Phương đã nói rõ rồi làm gì lại có thể thay đổi nhanh thế
được, còn chuyện qua lại của hai người thì không ai biết, với lại dẫu sao họ
cũng sẽ lấy nhau, thế thì có gì đáng phải làm cho lớn chuyện.
- Này thế cậu có nghe được cái gì không thì nói cho tớ biết để tớ tìm cách xử
lý chứ.
- Nói chung là rất tệ, những lời họ nói chắc anh sẽ rất khó chịu.
- Thì cậu cứ nói cho tớ nghe xem nào.
- Họ nói thì nhiều nhưng có mấy ý này là căng nhất. Thứ nhất là họ bảo nhà anh
không có gốc ở đây, chẳng biết ở đâu cả. Ngày xưa đã phải đi ăn xin, ăn mày,
còn bây giờ hoàn cảnh vẫn quá khó khăn. Nếu để con cái nhà mình vào đó thì chắc
là sẽ khổ. Nhưng cái chính mà họ không muốn nói ra ấy là hai nhà không môn đăng
hộ đối.
Nghe Hợp nói từ đầu đến lúc ấy Hằng chỉ lặng lẽ nghe mà không nói một lời nào,
sau cùng anh thở dài và nói như trong mộng:
- Cũng chả khác gì nhau cả...
Hợp thấy Hằng lẩm bẩm vội hỏi lại:
- Anh bảo cái gì cơ?
- Chả có gì đâu, chú cứ về
đi.
Vừa nói Hằng vừa đứng lên
đi về phía cổng của đơn vị, cũng chẳng để ý đến Hợp đang gọi ở phía sau lưng.
Mãi đến khi ra đến cổng mấy anh bạn đứng gác gọi lại rồi chỉ về phía sau Hằng mới
nhận ra. Anh đi vội trở lại phía Hợp, có lẽ anh không muốn để Hợp phải cà nhắc
đi đến với anh là chính, đến khi đối diện với nhau Hợp mới nói:
- Phương nhờ em dặn anh là
sáng mai cô ấy sẽ trốn nhà lên gặp anh, anh nhớ đón cô ấy ở cổng chợ Sa đấy
nhé.
Hằng nghe Hợp nói xong chỉ
gật đầu nhẹ rồi lại quay ra phía cổng doanh trại. Vừa bước chân qua cổng mấy cậu
gác lại hỏi giật giọng:
- Về nhà đấy hở?
Vừa nghe hai cậu gác đánh
tiếng Hằng liền quay lại bốt gác, tay thì móc bao thuốc đã bóc dở ném cho hai cậu
này, miệng thì thủng thẳng nói:
- ừ, tớ về qua nhà tý, anh
Đạt C phó đồng ý rồi.
Thực ra Hằng không về nhà
mà đi lang thang dọc con đường từ doanh trại vòng ra đường chính lên ngã ba Trạm
biến thế 110 KV. Trong đầu anh có hàng chục giả thiết về nguyên nhân sự việc và
cùng với nó là hàng chục những phương án để nhằm cứu vãn mối tình của hai người.
Nhưng cứ nghĩ đến những người như ông Chắn và những người trong họ nhà Phương
anh lại bực giận về những lời nói của họ. Họ đâu có hiểu được bố mẹ Hằng và cả
Hằng nữa đã sống trong sáng đến thế nào. Họ đâu có hiểu gia đình nhà Hằng thà sống
khổ cực mà không cần nhận một tý vật chất nào của làng xã cấp cho trong thời
gian cải cách. Đành rằng có lúc những người thân của Hằng đã phải chìa tay đi
xin những phần vật chất rất nhỏ để độ thân, để tồn tại trong cái thời cả dân tộc
đói.
Trên đất nước Việt Nam này
có được bao nhiêu người từng phải sống như con vật trong suốt những năm phong
kiến, thực dân. Có bao nhiêu người từ kiếp tôi đòi giờ đây được Cách mạng đưa lại
cho quyền làm người. Họ đâu hiểu được đã có bao nhiêu người từng một thời làm
vua, làm chúa và rồi đã có lúc phải xuống làm nô tỳ, làm nàng hầu, làm con sen,
thằng ở sống nơi bếp gio, thùng trấu. Trên đời này còn có bao người phải chết
đói bởi không làm nổi một kiếp ăn mày.
Anh sẽ phải từ bỏ con gái họ
để họ hiểu rằng anh đâu có muốn đến làm thân với họA, đâu phải vì cái đông đàn,
đông lũ, vì cái danh giá tông tộc của họ. Nhưng còn Phương? Phương sẽ thế nào
khi trong lòng cô ấy đã hoàn toàn tin vào mối tình giữa cô ấy và Hằng. Sự đổ vỡ
khác nào xé nát cõi lòng cô ấy. Chả lẽ mình cũng trở thành một người thù hận
bình thường như những con người kia chăng, dù sao cũng phải gặp Phương vào ngày
mai đã. Những ý nghĩ tích cực trên đã giúp Hằng cảm thấy nhẹ nhõm đi một phần
nào. Anh quyết định gặp Phương vào sớm ngày mai như đã hẹn.
Chợ Sa vào đúng phiên nên
khá đông, tuy vậy Hằng vẫn nhận ra Phương đang đứng với cô em họ bên gốc
cây đa đầu chợ. Khi hai chị em Phương gặp Hằng rồi thì cô em họ chia tay vào chợ
mua hàng. Hằng cầm tay Phương đi qua chợ để lên khu đồi trồng cây nằm phía bắc
chợ Sa. Thực ra khu đồi này chính là dấu tích Loa Thành của vua An Dương Vương
mấy ngàn năm về trước, giờ đây người ta trồng những cây trám, cây mít, cây ổi
và một vài loại cây ăn quả khác. Bên dưới gốc các cây to ngưòi ta trồng một vài
trăm hom sắn, mỗi năm thu hoạch một ít củ để ăn. Ngoài ra đồi còn mọc tự nhiên
lên một số loại cây hoang dại làm thành những bụi rậm cao gần ngập đầu người vì
thế nên Hằng và Phương đi vào đó cũng ít có người nhìn thấy được. Hai người chọn
một chỗ khá xa làng xóm để tránh gặp người lui tới.
Cả hai người cứ lặng lẽ đi
mà chẳng ai chịu cất tiếng làm tăng thêm sự căng thẳng. Chỉ đến khi dừng lại
nhìn vào mắt Phương mới thấy hình như cô khóc quá nhiều. Cứ mỗi lần nhìn vào
hai mắt của Phương là trong lòng Hằng lại cảm thấy như có muối xát. Chưa bao giờ
anh lại cảm thấy lòng mình xót xa đến như vậy. Anh dùng cả hai tay kéo Phương gần
lại với mình, chỉ chờ như vậy là Phương ôm chặt lấy người yêu rồi im lặng để
cho nước mắt chảy dài trên má. Hằng cũng ôm chặt lấy Phương để mặc cô khóc
trong im lặng, anh nghĩ có như vậy cô ấy mới có thể trấn tĩnh lại được. Quả
nhiên anh đã đoán đúng điều đó, vì chỉ sau mươi phút thả lỏng mình trong lòng
người yêu cô đã không còn khóc nữa. Hai tay cô lỏng dần, ngước lên nhìn vào mặt
Hằng và nói chậm từng tiếng một:
- Em biết là anh rất giận
những người trong họ nhà em, mong anh thông cảm cho họ, để rồi em sẽ nói cho họ
hiểu ra.
- Anh cũng mong là thế.
- Em cũng không ngờ được
anh ạ! Mọi việc tưởng như đã ổn thoả cả, vậy mà sau lúc em xuống dưới bếp tự
nhiên thấy ầm ĩ cả lên, thậm chí bố mẹ em cũng không còn bình tĩnh được nữa.
- Sao anh nghe nói cả bố và
mẹ em cũng đã tuyên bố không chấp nhận quan hệ của chúng ta.
- Em cũng không biết người
ta đã nói những gì trong lúc em không có ở đó. Có lẽ có một người nào đó đã
khơi ra cái quy ước cũ của họ nhà em.
- Theo em thì nên làm như thế nào bây giờ?
- Em sẽ thuyết phục bố mẹ
em dần thôi anh ạ.
- Anh sợ em không làm được,
vì cái chuyện môn đăng hộ đối, rồi thì giầu nghèo từ lâu đã ăn sâu vào họ.
- Chỉ cần anh chờ đợi, mấy
lại đừng nổi giận với họ là được.
Dù nói với nhau như thế
nhưng trong lòng họ cũng không tin lắm vào những dự kiến của mình. Tuy nhiên
trong lúc này thì họ cũng chỉ còn biết chờ đợi chứ còn biết làm gì. Họ chia tay
nhau sau rất nhiều cử chỉ âu yếm để tự động viên, an ủi nhau vượt qua trở ngại.
Tuy rằng bố mẹ Phương cấm
cô gặp Hằng nhưng bằng cách này cách khác cô vẫn đến gặp được anh. Khi thì
tranh thủ đến lớp sớm hoặc về trước giờ để vào gặp người yêu. Mỗi lần như thế họ
lại hỏi về xem tình hình đã tiến triển đến đâu rồi và lại thở dài chờ đợi.
Đã gần một tháng trôi qua
trong tình trạng gặp gỡ tranh thủ như vậy mà Phương vẫn chưa thuyết phục được bố
mẹ và những người trong họ. Mỗi lần gặp nhau họ cũng chỉ còn dành cho nhau chút
tình yêu như ban đầu vậy thôi.
Tuần này cũng đã là bốn tuần
Hằng lấy giấy giới thiệu đi liên hệ công tác. Anh đã đi đến hàng chục nhà máy
xí nghiệp mà vẫn chưa xin được ở đâu. Chỗ nào họ cũng đòi hỏi hộ khẩu gốc ở Hà
nội, mà hộ khẩu của Hằng thì lại ở Thanh Hoá.
Chiều nay anh dự định sẽ
vào Xí nghiệp sửa chữa thiết bị điện Đông Anh để xin việc, đây là một đơn vị
trong ngành điện, đơn vị cuối cùng có công việc hợp với ngành học cũ của anh. Gần
ba mươi phút chờ đợi mới thấy ông trưởng phòng tổ chức đi họp về. Sau mấy câu
chào hỏi thủ tục ông cầm đơn của Hằng lên xem rồi ông hồ hởi nói luôn:
- Thế này nhé! Tớ sẽ nhận cậu
về làm việc được chưa nào. Hộ khẩu à, không cần đâu chỉ cần quyết định ra quân
và hồ sơ của cậu là được.
Hằng mừng quá đến nỗi không
biết nói gì với ông trưởng phòng có giọng nói miền Nam này, anh cứ ú ớ trong miệng
mà mãi không thoát ra được.
- Thôi cứ về chuẩn bị đi,
thứ tư này mang đến cho tớ xong là đi làm ngay đấy nhé, thôi về đi bây giờ tớ
cũng phải sang Hà Nội để họp đây.
Nói xong ông nhanh nhẹn bước
ra khỏi phòng trước cả Hằng. Đến lúc Hằng quay ra thì chỉ còn một người vẫn ngồi
ở chiếc bàn kề ngay cửa ra vào. Anh cất tiếng chào chiếu lệ rồi bước nhanh ra
khỏi phòng lòng mừng khấp khởi.
Ra khỏi cửa anh lại giật
mình chợt nghĩ R: Lại thứ tư! Vừa mới thứ tư “khủng hoảng” xong bây giờ lại thứ
tư dễ lại xôi hỏng bỏng không lắm!
Thứ tư cùng với sự mong đợi
cháy ruột, cháy gan rồi cũng đã đến, Hằng đến cửa phòng tổ chức sớm hơn đến gần
ba mươi phút và phấp phỏng chờ đợi ở một cái ghế ngoài hiên. Thời gian mỗi lúc
một dài, từ lúc có đôi ba người đến các phòng ban bên cạnh làm việc đến lúc các
phòng ban này đã đầy người vẫn chưa thấy ông trưởng phòng tổ chức ấy đâu. Nhìn
đi, nhìn lại vẫn chỉ thấy có mỗi một ông nhân viên ngồi gần phía cửa hôm trước
đi vào mà chẳng thấy có ai vào thêm nữa. Đến lúc này thì Hằng không còn cách
nào hơn là vào hỏi ông nhân viên nọ xem sao. Bước chân vào cửa phòng anh chợt nhận
ra rằng ông nhân viên hôm nọ không ngồi ở chỗ cũ mà ngồi ngay vào chỗ của ông
Hược trưởng phòng vẫn ngồi. Hằng khẽ dặng hắng đánh động để cho ông nhân viên
ngẩng đầu lên, thế là Hằng tranh thủ ngay lúc đó để cất lời:
- Anh cho hỏi bác Hược hôm
nay có đi làm không ạ?
Ông nhân viên vừa ngắm Hằng
như muốn cố nhớ xem người này là ai rồi từ tốn hỏi lại:
- Anh gặp bác Hược có việc
gì thế?
- Tôi được bác ấy hẹn gặp để
làm thủ tục xin vào xí nghiệp ạ.
- À thế thì tôi biết rồi,
hôm thứ bảy tuần trước anh đến làm việc với bác ấy có phải không?
- Vâng đúng thế ạ!
- Rất tiếc cho anh là bác ấy
phải đi Nam để nhận nhiệm vụ mới từ chiều hôm trước mất rồi.
- Thế còn công việc của
tôi, bác ấy có trao đổi lại với ai không ạ?
- Hôm ấy tôi cũng đã biết ý
kiến của bác Hược nói với anh, nhưng do mới tiếp cận công tác này nên tôi cũng
chưa biết cách xử lý ra sao với trường hợp không có hộ khẩu gốc ở Hà Nội. Tuy
nhiên tôi có thể hứa với anh rằng tôi sẽ ghi nhớ việc này để đưa vào kế hoạch
xin điều động của công ty trong năm tới. Lúc ấy chỉ cần có quyết định là có thể
nhập khẩu được.
- Vấn đề là từ nay đến sang
năm tôi sẽ phải làm thế nào để có quá trình công tác liên tục được.
- Có lẽ anh cứ về đơn vị cũ
sau đó để địa chỉ lại, tôi hứa sẽ giúp anh thật sự.
- Cũng đành phải chấp nhận
vậy thôi, địa chỉ đơn vị cũ tôi cũng đã ghi đầy đủ trong đơn và hồ sơ rồi, xin
gửi lại nhờ anh giúp hộ vậy.
Sau một vài câu trao đổi và
hứa hẹn, Hằng bắt tay ông trưởng phòng mới của Xí nghiệp thiết bị điện Đông Anh
rồi ra về. Trên dọc đường từ xí nghiệp ra đến đường chính Hằng chợt lại nhớ đến
sự linh cảm hôm nọ, anh cũng không hiểu thế nào mà sự việc lại linh nghiệm đến
thế. Thôi thì cứ trở lại Thanh Hoá để làm việc trong một thời gian đã, vừa là để
chờ đợi, vừa để cho có thời gian dài hơn một chút cho Phương vận động gia đình.
Rời khỏi Xí nghiệp sửa chữa thiết bị điện, Hằng liền về đoàn an dưỡng đăng ký
xin phục viên về đơn vị cũ. Ban chính sách cũng chẳng có khó khăn gì khi ghi lại
ý kiến của anh vào phần ghi nguyện vọng của quân nhân.
Anh về đến nhà thì trời đã
nhá nhem tối. Đặt mình lên chiếc giường xong liền ngủ thiếp đi lúc nào không biết.
Đến khi mẹ đi chơi trong chị ba về thì trời tối đã lâu rồi. Anh chỉ giật
mình choàng dậy khi thấy mẹ đang bỏ màn xuống cho anh, anh vội lên tiếng:
- Con chưa ngủ đâu, mẹ cứ để
đấy cho con.
Nghe nói thế bà cụ lại vén
màn trở lại rồi ngồi xuống bên cạnh con trai:
- Thôi con ạ! Để rồi tìm chỗ
khác. Khối người thiên hạ về làm dâu làng này chẳng những tháo vát lại khéo cả
đường ăn ở ví như mấy chị ở xóm Giữa, xóm Đình ấy.
Hằng không nói gì về những
lời khuyên của mẹ, anh buồn rầu nói:
- Sắp tới con phải trở lại
Thanh Hoá. Con chỉ mong có người đỡ đần mẹ trong lúc con đi vắng là được.
- Chả lẽ lại không xin ở gần
được à?
- Con cũng cố gắng lắm
nhưng không được.
- Chắc anh lại bực mình mà
xin đi xa chứ gì!
- Không phải đâu mẹ ạ!
- Thôi đấy là tuỳ anh, bây
giờ các anh đã có lông, có cánh bay đâu mà chả được, vợ con không lo để trơ lại
cái thân già này chết khô chết héo chứ gì?
Nghe mẹ nói thế Hằng cũng cảm
thấy cay cay ở sống mũi, anh cố trấn tĩnh vừa cười vừa trêu bà cụ để cho không
khí trong nhà đỡ nặng nề hơn:
- Cụ ơi! Chỉ sợ rồi cụ lại
réo lên rằng tôi mệt quá rồi, sao mà các anh, các chị đẻ nhiều đến thế không biết
được.
- Được thế thì phúc nhà tôi
đã to bằng cái đình.
Cứ nghe giọng nói của cụ, Hằng
đoán cụ không còn giận mình nữa, cụ chỉ nói dỗi vậy thôi. Biết vậy là đã ổn, Hằng
đứng lên chào mẹ rồi đi vào trong làng.
- Nhớ về mà coi nhà đấy,
tao đi ngủ sớm, mai còn phải vào trong anh Thiện để giúp cho vợ chồng nó vài buổi
cỏ.
Hằng mới đi khỏi nhà chưa
quá trăm thước đã gặp Phương chờ ở đó:
- Đã hẹn thế sao mãi mới
ra, tý nữa thì em về mất.
- Anh nằm chờ tối hẳn rồi
chợp mắt ngủ quên mất, bà già không động vào màn thì có lẽ vẫn đang còn ngủ.
Thực ra Hằng là người rất ít
ngủ, mỗi ngày anh ngủ không quá sáu giờ đồng hồ nhưng vẫn thấy bình thường. Có
thời gian thức liền hai ba ngày sửa chữa nhưng anh cũng không phải ngủ bù. Chắc
do thời gian vừa qua gặp nhiều chuyện phải suy nghĩ căng thẳng nên thần kinh có
vẻ mệt mỏi mà thôi. Phương đâu có biết Hằng gặp bao nhiêu là chuyện trong thời
gian qua.
- Tình hình ở nhà em bây giờ
thế nào rồi?
- Vẫn thế thôi, em muốn cho
tình hình lắng dịu đi một chút anh ạ.
Hằng thấy sốt ruột, tuy vậy
anh lại không muốn làm Phương buồn nên anh chẳng nói gì thêm.
- Hôm nay anh bị bà cụ mắng
cho một mẻ tý nữa thì to chuyện, về sau anh phải tìm cách làm dịu đi rồi mới ra
đây được đấy.
- Mẹ anh mắng vì lý do
gì thế?
- Chung quy vẫn chỉ là chuyện
không chịu lấy vợ, với lại hình như hồi này cụ yếu hơn dạo trước nhiều.
- Thế anh nói với cụ thế
nào?
Dù vẫn nghe Phương hỏi
nhưng anh lại không trả lời mà nói sang đề tài khác:
- Thực ra việc ấy chưa hẳn
làm cụ buồn phiền bằng việc anh phải quay lại cơ quan cũ ở Thanh Hoá.
Vừa nghe Hằng nói phải đi
Thanh Hoá, Phương giật mình vội hỏi lại ngay:
- Anh lại đi Thanh Hoá? Thế
còn chuyện của mình anh tính thế nào?
- Anh cũng đã đi xin việc
khắp nơi mà không được, nên đành phải chấp nhận vậy thôi. Phần vì anh muốn mình
xa nhà một thời gian để em có cơ hội vận động bố mẹ và họ nhà em khách quan
hơn.
- Em sợ xa nhau rồi mọi cái
sẽ ...
Không để Phương nói hết câu
Hằng lại tiếp luôn cái kế hoạch mà anh chợt nghĩ ra:
- Anh định vào đấy một thời
gian, nếu công việc dễ xin thì xin cho em vào đó. Khi đã ở trong cơ quan rồi
mình tổ chức, chắc là không ai ngăn cản.
- Em sợ, có khi mình cũng
phải...nhanh kẻo lỡ ra sẽ không kịp anh ạ.
- Chả lẽ em đã...
- Kỳ vừa rồi em không...với
lại em thấy có vẻ khang khác thế nào ấy!
Câu chuyện đến đây đã làm cả
hai người lo lắng thực sự, tuy vậy Hằng vẫn động viên Phương:
- Nếu vậy em cứ theo anh
vào Thanh Hoá là mọi sự sẽ giải quyết được hết.
- Chắc nhà chẳng chịu cho
em làm thế đâu anh ạ.
- Em cố tìm xem có cách nào
không.
- Độ bao giờ thì anh đi?
- Chắc là vào đầu tháng mười
tới, em sẽ đi tiễn anh chứ?
- Hồi này các cụ ấy giám
sát chặt lắm, không biết em có đi tiễn anh được hay không. Em sợ các cụ ấy làm
dữ rồi ảnh hưởng đến anh.
- Thôi thế để sau viết thư
cũng được.
Hai người chia tay sau một
loạt những đoạn kể lể và trêu chọc lẫn nhau không đầu không cuối. Trời về khuya
không khí đã hơi lạnh thổi vào cơ thể hai người, họ dùng dằng một lúc rồi mới
chịu rời nhau ra, mỗi người đi về một ngả.
2
Sau khi chen chúc đến ngột
thở Hằng cũng mua được chiếc vé tầu đi Thanh Hoá. Tiếp theo là một cuộc vạ vật
trên những bao ngô của một toa tầu có hai ghế chạy dọc thành toa. Loại toa
chuyên dùng cho những con buôn hàng cồng kềnh vào Nam ra Bắc. Hằng xuống ga khi
trời vừa sáng được một lúc, anh đi dọc con đường nhựa đã bong gần hết để vào trụ
sở của nhà máy điện. Ngày anh đi bộ đội nhà máy còn đóng nhờ nhà dân nơi sơ
tán, đến bây giờ thì nhà máy đã có cơ sở mới thật khang trang. Các phòng ban
làm việc ở trong những gian nhà ngói khá rộng và sạch sẽ, so với thời chiến
tranh thì bây giờ đã tốt lắm rồi.
Người tiếp anh là ông trưởng
phòng tổ chức mới mà anh không biết tên. Ông cán bộ này khá niềm nở và nhiệt
tình, ông nói:
- Anh chờ một chút phòng sẽ
viết quyết định tiếp nhận. Về công việc thì nhà máy có thể giải quyết theo hai
hướng, một là có thể về chính đơn vị cũ hai là bố trí về đơn vị mới theo nguyện
vọng.
Ông dừng lại như có ý chờ
xem anh có ý kiến gì không, thấy anh không tỏ vẻ khó chịu và xem ra còn có phần
ưa chấp hành hơn là đòi hỏi, ông liền cất tiếng tiếp tục:
- Nếu anh thấy sức khoẻ
không tốt thì có thể về làm nhân viên ngay ở phòng tổ chức, phòng hiện vẫn đang
cần bổ sung thêm vài người nữa.
- Báo cáo đồng chí trưởng
phòng, tôi vốn quen với công việc trực tiếp, có lẽ cứ cho tôi về đơn vị cũ.
- Thôi thế cũng được, anh cứ
cầm giấy giới thiệu này về gặp ông Đính quản đốc phân xưởng cơ điện ở khu Lán ổi
cũ rồi chúng tôi sẽ gửi quyết định sau.
Hằng lại về tổ sửa chữa máy
của phân xưởng cơ điện, nơi ngày xưa Hằng đã làm việc tại đó, và cũng từ nơi đó
Hằng đã ra đi suốt sáu năm qua. Những người của tổ máy cả cũ, cả mới, rồi thì cả
phân xưởng đều đến thăm hỏi và chúc mừng Hằng. Những câu chuyện chiến trường của
Hằng thu hút mọi người suốt từ tối đến đêm khuya. Những bác thợ già tóc bạc, những
người bạn cùng trang lứa với Hằng, cả những bà chị trong khu công nhân còn đem
cả lũ trẻ đến chơi. Những thay đổi từ ngày Hằng đi vắng được dịp nói ra để cho
Hằng và tất cả mọi người cùng nghe. Cuối cùng thì cũng có người đặt ra một câu
hỏi về chuyện vợ con của Hằng. Câu hỏi tuy rất thông thường nhưng lại hoá ra
quan trọng, quan trọng đến nỗi có người suýt xoa rằng:
- Đấy, bao nhiêu là chuyện
mà vẫn quên cái đoạn này đấy nhớ!
- Thì cũng phải dần dần chứ,
một lúc nói sao cho hết được.
Hằng còn chưa kịp trả lời
câu hỏi đã có người đã tiếp ngay:
- Chắc là có rồi chứ? Ba
mươi rồi còn gì!
- Dạ... cũng do cứ ở chiến
trường suốt nên vẫn chưa có gì cả ạ.
- Thế thì phải nhanh lên chứ
không lại cha già con cọc như tớ thì chán chết.
- Số cùng lứa với cậu có đứa
đã hai con rồi đấy.
Những đợt thăm hỏi và những
câu chuyện rồi cũng thưa dần. Hằng đã trở về với hình ảnh cũ, còn mọi người rồi
cũng bận với công việc chung, công việc riêng nên không còn quan tâm mãi đến Hằng
được. Xung quanh Hằng bây giờ chỉ còn những người bạn cùng khoá và những người
cùng làm trong một tổ sản xuất. Có chăng thêm vài người cũng quan tâm đến Hằng
là mấy cô, mấy chị ở tổ sửa chữa điện; những người hàng ngày vẫn làm cùng một
chỗ với tổ của Hằng.
Điều làm cho họ gần gũi với
Hằng vì một lý do rất dễ hiểu đó là tình thương luôn đầy đặn của người phụ nữ
nói chung với những người có hoàn cảnh éo le và không may mắn cũng như những
người luôn bị thiệt thòi, kém cạnh do đồng loại gây ra. Đối với những người bị
thiệt thòi, kém cạnh do phải hy sinh quyền lợi của mình cho dân cho nước thì lại
càng làm họ yêu quý và cảm thông dẫn đến thương yêu nhiều hơn nữa. Cũng chính
vì điều đó nên ở đâu và bất cứ chỗ nào họ cũng cố tìm ra trong bè bạn, trong đồng
đội xem có ai đó có con gái, em gái để mà giới thiệu cho Hằng. Họ mong sự giúp
đỡ của họ phần nào đó để Hằng cũng có hạnh phúc như họ. Thế còn những người đồng
giới với Hằng họ có ý nghĩ đó không? Cũng có đấy, thậm chí những điều họ muốn tạo
ra cho Hằng những gì là hạnh phúc còn cao hơn, nhiều hơn những người phụ nữ.
Người ta gắn bó với nhau,
thân quý nhau và nhớ mãi về nhau cũng bởi cái tình đồng cảm và cao hơn là sự lo
lắng cho nhau, quan tâm đến nhau mà chẳng ai phải yều cầu, chẳng ai phải ra lệnh.
Đó chính là cái người nhất của con người vậy! Hằng cảm thấy mình thật hạnh phúc,
thật biết ơn mỗi khi nghĩ về điều ấy. Có lẽ đấy là chất xúc tác nuôi lớn thêm
lòng yêu người, lòng vị tha của Hằng trong những năm sau này.
Cũng từ những quan tâm của
mọi người mà lắm phen Hằng rối hết cả lên và rồi chẳng còn biết thế nào mà hưởng
ứng nữa. Hôm thì phải tiếp cô Mão cháu bà Nhung làm ở Đường sắt, lúc lại phải
tiếp cô Lạn trưởng cửa hàng thực phẩm. Lắm người còn rỉ tai bảo Hằng đến tán tỉnh
mấy cô bé con của mấy anh chị cùng trong phân xưởng mới độ mười bẩy, mười tám
tuổi vẫn gọi Hằng bằng chú mới chết chứ. Họ dẫn ra khối cặp vợ chồng lệch nhau
đến hai mươi tuổi để bảo rằng việc đó là không sai. Những lúc như thế Hằng chỉ
còn biết cười tủm, gật đầu lấy lệ rồi chào mà đi chứ còn biết làm sao được.
Công việc sửa chữa ngày một
nhiều thêm làm cho cả tổ bận tối tăm cả mặt mũi. Công việc cuốn Hằng đi như những
ngày nào làm cho Hằng tạm quên đi nhiều điều còn đang mắc mớ trong lòng. Tuy vậy
Hằng cũng đã tranh thủ về qua Minh Đức để xem Nghi bây giờ thế nào. Mọi cái
hình như đã khác trước nhiều, mà cũng phải thôi, đã hơn sáu năm rồi còn gì. Bãi
cát, và hàng phi lao chắn sóng vẫn còn đó nhưng nhà thì không thấy đâu. Thực ra
Hằng cũng không muốn sẽ gặp Nghi trực tiếp bởi Hằng sợ làm gia đình Nghi khó
nghĩ khi Hằng ở mặt trận về, còn Nghi thì đã không chờ nữa hoặc giả người chồng
của Nghi sẽ nghĩ thế nào về vợ mình khi tự nhiên lại gặp một người đã từng gần
gũi với vợ của mình và rồi mọi tưởng tượng, mọi ngờ vực sẽ làm rạn nứt hạnh
phúc của họ. Hằng đi loanh quanh một lượt, chợt gặp một quán nước ven đường, Hằng
quyết định vào đó uống nước để rồi tìm cách hỏi thăm về Nghi.
Sau khi đã uống được một nửa
cốc nước chè xanh, Hằng đặt cốc xuống giả như vô tình hỏi bà chủ quán:
- Ngày xưa, hình như cháu
thấy nhiều gia đình sống ở gần bể lắm thế mà nay sao lại không thấy bác nhỉ?
- Họ ngại gió bão với lại hợp
tác đã cho họ chuyển đi chỗ khác rồi anh ạ.
- Họ ở có xa đây không bác?
- Cũng không xa lắm đâu,
anh quen nhà ai tôi chỉ cho.
- Cũng không quen lắm bác ạ,
chỉ có lần đi tham quan cháu nghỉ nhờ nhà một ông cụ chuyên chữa thuốc Nam mà
có cô con gái tên là Nghi ấy ạ.
- Thế thì nhà ấy đã chuyển
lên kia kìa.
Hằng đứng lên ngó theo tay
bà cụ gật đầu ra vẻ đã nhận ra rồi hỏi tiếp:
- Chả biết cô con gái ông cụ
có còn công tác hay đã về rồi bác nhỉ?
- Nó lấy
chồng ở đâu xa lắm cách đây đã mấy năm rồi còn gì.
- Có chắc không bác?
- Sao không? Chỉ có điều là
nhà chồng nó thì tôi không biết.
- Thế còn cô em cô ấy bác
có biết không?
- Tôi lạ gì nó, cũng có gia
đình rồi.
Hằng còn hỏi bà cụ thêm một
vài câu hỏi về địa danh các vùng lân cận để cho câu chuyện tự nhiên hơn rồi đứng
dậy trả tiền nước.
Về đến nhà thì trời đã muộn,
anh lấy cơm tập đoàn về nhà rồi ngồi ăn ngay trước cửa. Mấy anh chị ở khu gia
đình đi qua vừa cười, vừa trêu làm cho Hằng quên đi bao buồn bã trong lòng. Trở
lại Minh Đức lần này thực ra chỉ để xác nhận lại những điều anh Yên là người ở
Ngư Lộc đã cho biết từ mấy hôm trước mà thôi. Dù sao thì mọi việc đã đúng như dự
định của Hằng khi anh chia tay Nghi đi chiến trường ở ga Thị Long năm ấy.
Hằng đi xem phim ở bãi Hàm
Rồng về đã hơn mười giờ mà Đoài vẫn chưa về nhà. Hằng vừa dọn giường vừa lẩm bẩm:
Không biết cậu này họp hành gì mà muộn thế không biết? Cũng chưa kịp buông màn
đi ngủ thì nghe gõ cửa, Hằng đoán là Đoài về liền cất tiếng:
- Cửa khép hờ đấy, cứ đẩy
mà vào.
- Đã ngủ rồi cơ à, sao sớm
thế? Dậy mà nhận thư đây này.
Hằng bật dậy đón lá thư từ
tay Đoài ném cho, chỉ mới nhìn dáng chữ ngoài bì Hằng đã nhận ra đó là thư của
Phương, anh vội xé bì thư mở ra đọc.
- Thư của cô nào mà chữ đẹp
thế không biết?
- A... à thư của cô em đấy
mà.
Hằng mong bức thư này lắm,
vì có thể trong đó sẽ có tin về sự thay đổi của gia đình và họ hàng nhà Phương,
hoặc không thì cũng có ý kiến của Phương về việc có đi vào Thanh Hoá hay không.
Những hàng chữ xiên xiên
màu xanh đều đặn lướt nhanh dưới mắt của Hằng, anh sốt ruột đón nhận các tin tức
nên chẳng để ý đến những mở đầu tình tứ mà lướt qua một lượt từ đầu đến cuối,
sau đó anh mới đọc lại từ đầu. Anh cũng không biết vui hay buồn khi Phương
thông báo về “sự cố” hôm trước đã không có gì xảy ra. Tất cả những điều Phương
muốn nói với Hằng là xin hãy chờ đợi cô ấy... Điều anh mong đợi là nếu không có
sự cải thiện về không khí căng thẳng của gia đình Phương thì “sự cố” đó là sự
đã rồi để mọi người sẽ phải chấp nhận và cô ấy sẽ vì nó mà mạnh dạn hơn, có thế
mọi việc mới có thể tiến triển được. Nhưng việc đó đã không xảy ra.
Anh không lạ gì tính cách của
tất cả mọi người ở cái làng quê ấy, đó là sự an phận làm ăn tại nơi chôn nhau,
cắt rốn mà chẳng muốn đi đâu. Cho dù tại cái nơi quê ấy thật sự vẫn còn rất
nghèo túng và khá lạc hậu về văn hoá. Mỗi người, mỗi nhà chỉ mong sao nhà mình
có cót thóc đầy hơn nhà khác mà chẳng bao giờ nghĩ rằng mình còn thua xa những
người ở các làng trong một xã. Những người con gái như Phương dễ gì dám bỏ làng
để đi, bởi có bao cô gái làng lấy chồng ở nơi khác nào đã thấy ai khá giả được
đâu. Khi ra đi đã vậy còn lúc cha mẹ, anh chị em có công kia việc nọ, lúc phải
quay về.
Cái sợ bóng, sợ gió qua những
lời đàm tiếu, chê bai của người làng trong bao câu chuyện hàng ngày. Huống chi
thân gái dặm trường, biết đâu số phận thế nào... Những điều Hằng nghĩ và dự
đoán thường ít khi sai lắm và chính vì thế mà anh thật là buồn. Hằng lặng lẽ
buông màn rồi tắt đèn đi ngủ, ở giường trong chắc Đoài cũng đã ngủ, tiếng ngáy
nhè nhẹ của Đoài đã đều đặn cất lên.
Đêm đã trôi qua gần hết mà
Hằng vẫn không sao ngủ được bởi bao điều vương vấn trong lòng. Anh thầm nghĩ và
tự phàn nàn về những trở ngại mà anh đã trải qua. Có bao điều khi mở đầu thật
là sáng lạn ấy vậy mà về sau thì lại cứ chuội ra khỏi cái quỹ đạo đẹp đẽ ấy, tất
cả giống như những thước phim lần lượt hiện về.
***
Sáng nay chủ nhật, Hằng lấy
xe đạp của Đoài xuống thư viện thị xã mượn vài cuốn sách để về nhà đọc. Cô gái
coi thư viện khá quen với Hằng ghé mắt nhìn anh lật giở các tấm thẻ ghi tên
sách rồi khẽ khàng nói:
- Loại sách mà anh hay mượn
hầu như chả còn bộ nào nguyên vẹn đâu.
Hằng cũng chẳng thèm ngước
lên mà trả lời như một cái máy:
- Cô giới thiệu cho một vài
cuốn có nội dung khác xem nào.
- Anh thử xem một số truyện
ngắn của ta xem sao, số tác phẩm mới này có nhiều chủ đề phong phú lắm anh ạ.
- Tôi lại ưa đọc các tiểu
thuyết dài hơi hơn...! Cô có biết “Sông Tha Mi trong xanh” này có nội dung gì
không?
- Hình như đó là truyện viết
về các lãnh tụ của Mông Cổ thì phải anh ạ.
- Thế thì cô cho tôi mượn
cuốn này vậy.
Hằng mang thẻ và giấy kê
tài liệu cho cô thủ thư rồi cầm lấy cuốn sách dầy cộp lên ngắm nghía. Anh chào
cô thủ thư rồi bước ra khỏi thư viện sau khi đã ký nhận vào thẻ mượn.
Đang lang thang dọc đường
khu phát hành sách để về nhà Hằng chợt thấy hai cô gái không quen vừa vẫy, vừa
gọi rối rít về hướng đi của mình. Anh quay đi quay lại thấy chẳng có ai ngoài
mình ra, thế là anh dừng xe tiến về phía hai cô gái.
- Anh ơi...nhờ anh xem giúp
cho em cái khoá xe một chút ạ.
- Thế nó bị làm sao?
- Dạ... em mở mãi không được
ạ.
- Thế có nhầm chìa khoá
không?
- Chúng em chỉ có mỗi một
cái này thôi ạ.
Hằng cúi xuống cầm chiếc
chìa khóa vặn đi vặn lại mãi mà cái khoá vẫn cứ im như thóc. Hết lôi ra lại cắm
vào đến toát mồ hôi mà cũng chẳng ăn thua gì. Chán nản, anh đã định khuyên các
cô khênh xe đến chỗ ông thợ khoá nhưng rồi lại cúi xuống cố thêm một lần nữa. Lần
này anh hơi ấn cái chìa xuống một chút rồi mới vặn. Vừa mới hơi xoắn một chút
đã nghe thấy cách một cái thế là cái càng khoá đã được mở ra. Đến lúc này Hằng
mới nhận ra rằng loại khoá này dùng lâu và dùng nhiều lượt nên đã bị mòn các
răng cưa, chỉ ấn xuống một chút là mở được. Anh thử đi thử lại sau đó hướng dẫn
hai cô gái tập mở một vài lượt rồi mới dừng tay.
Vừa loay hoay tìm cách lau
mấy ngón tay bẩn anh vừa hỏi:
- Các cô công tác ở đơn vị
nào thế?
- Chúng em ở Công ty xây lắp
điện anh ạ.
- Công ty đóng ở đâu mà sao
tôi chẳng thấy có tiếng tăm gì nhỉ?
- Công ty đóng ở Hàm Rồng
anh ạ.
- Chả lẽ nó ở mấy cái nhà
trên đồi hướng ra sông Mã ấy à?
- Dạ đúng đấy ạ.
- Thế các cô về thăm nhà lên
à?
- Chúng em đi họp ở ngoài
đó về đấy chứ.
- Thế sao các cô lại đi ngược
lại?
- Chả là khu công nhân của
chúng em lại đóng ở Mật Sơn anh ạ... Lúc nào rỗi mời anh vào chơi.
- Nhưng biết các cô có tiếp
không.
- Có chứ! Thế nào anh cũng
đến nhé.
- Nhưng mà biết hỏi ai mới
được chứ.
Nghe đến đây thì bỗng nhiên
hai cô gái chợt hơi lặng đi một chút rồi thì thầm nói với nhau điều gì không
rõ. Đến lúc Hằng đã lên xe mới thấy hai cô vừa cười vừa nói:
- Anh cứ hỏi thăm tên là
Thái ở tổ lắp điện là đến anh ạ.
- Được rồi, nếu có dịp thuận
tiện tôi sẽ vào chơi.
Hằng vừa đạp xe vừa nghĩ luẩn
quẩn về hai cô gái hỏng xe vừa thấy buồn cười vì chỉ một tý nữa thôi là mình bắt
các cô ấy khênh xe đến hiệu khoá. Mà hình như Công ty này là nơi vợ cậu Đạc
công tác thì phải, thật toàn những chuyện gặp gỡ ngẫu nhiên không thể tưởng tượng
được. Hai cô gái này cũng khá đấy chứ, để rồi hỏi thăm cậu Đạc xem thế nào...
Mấy hôm trước Hằng đã nói
chuyện cho Đạc nghe cuộc gặp gỡ với hai cô gái và nhờ cậu ta thăm dò xem cô
Thái này thế nào. Cũng chẳng biết vợ chồng cậu Đạc thế nào, không những chẳng
tìm hiểu được gì mà còn nói hết tất cả cho cô ấy biết, thế là cô ấy hẹn gặp cho
bằng được. Duy chỉ có một điều hơi lạ là Đạc đã kể khá tỷ mỉ về tình tiết gặp mặt
hôm ấy nhưng Thái vẫn chẳng nhớ Hằng là ai. Cũng không còn cách nào hơn là phải
ra mặt để tỏ rõ mọi việc vậy thôi. Thật không may cho Hằng là suốt mấy ngày nay
lại phải làm cả ngày lẫn đêm để xử lý sự cố của nhà máy nên đành phải viết
thư cho Thái hẹn gặp vào dịp khác.
Gần một tháng trôi qua
trong bận rộn, hôm nay mọi việc nhà máy mới xong. Chiều qua Hằng đã dặn Đạc hẹn
với Thái là sẽ đến thăm vợ chồng Đạc, sau đó sẽ sang thăm Thái. Cũng không hiểu
thế nào mà hôm vừa rồi nhận được thư thấy cô ấy nói vẫn chưa nhớ được cuộc gặp
gỡ ấy ở đâu. Hằng cứ phân vân không hiểu tại sao, chả lẽ sự việc xảy ra chưa đến
một tháng rưỡi mà cô ấy đã quên ngay được hay sao. Dù sao thì cũng cứ gặp cái
đã rồi tính sau.
Sáng nay chủ nhật, Hằng đi
cùng với hai người bạn vào thăm nhà Đạc ngay từ sáng sớm. Hai vợ chồng Đạc ra tận
cổng khu tập thể để đón ba người vào nhà. Chỉ mới vừa vào đến cửa nhà Đạc, Hằng
đã thấy hình như có rất nhiều cặp mắt ở các chỗ kín đang nhìn ngắm mấy ông
khách trẻ. Biết vậy nhưng Hằng vẫn cứ tự nhiên bước vào nhà Đạc giả như không
có chuyện gì xảy ra.
Cũng chỉ sau mươi phút hàn
huyên với vợ chồng Đạc đã thấy mấy cô khách cùng trong khu tập thể bước vào. Hằng
lướt qua một lượt nhưng chẳng thấy cô nào quen cả, có lẽ Thái bận gì đó nên
chưa đến. Hằng còn đang suy nghĩ lung tung thì thấy vợ Đạc hỏi:
- Thế nào, Thái đã nhận ra
người quen chưa?
Vừa nghe đến đây Hằng chợt
giật mình nghĩ ngay đến việc hai cô bé hôm nọ chắc đã lừa trêu mình. Anh vừa buồn
cười vừa giận hai cô bé vì đã chẳng cảm ơn người ta sửa xe cho lại còn gây chuyện
rắc rối cho người ta nữa, bây giờ biết tính sao đây. Vừa lúc ấy một cô gái có
khuôn mặt trái soan trắng trẻo và rất ưa nhìn chợt lên tiếng:
- Mình nhận ra rồi.
- Ai nào?
- Anh ấy mặc áo kẻ.
Sao thế nhỉ? Chả lẽ mình lại
quên hay sao! Cô Thái mình quen sao có thể là cô này được. Dù sao thì cô ấy
cũng có tên là Thái và cô ấy cũng đã giúp mình qua sự rắc rối nếu như cô ấy nói
không biết mình là ai.
Cũng trong lúc nghe hai người
hỏi và trả lời nhau Hằng đã nhìn kỹ Thái hơn. Hằng dễ nhận ra một đặc điểm khác
của Thái là cô ấy có sự tăng hoóc môn nam tính nên trên ria mép có dấu đen mờ của
lớp lông tơ dày hơn người bình thường, và đôi lông mày thì thật là đen đậm ôm
kín đôi con mắt lá răm tình tứ. Tất cả những nét trên khắc hoạ lên một khuôn mặt
xinh đẹp ít gặp trong cuộc sống. Nhưng cũng từ đó đã giúp Hằng khảng định cô
gái ấy không phải là Thái mà Hằng đã gặp. Tuy sự việc đột ngột là thế nhưng Hằng
cũng khá nhạy cảm khắc phục hoàn cảnh rắc rối này bằng cách đứng lên đi về phía
Thái, tựa như anh cũng đã xác nhận sự quen biết giữa hai người. Chỉ cần mấy
bước chân Hằng đã đứng trước mặt Thái, anh chìa tay ra để nắm lấy tay của Thái
kéo cô đứng lên. Lúc đầu Thái luống cuống định rụt tay ra, nhưng anh nắm khá chặt
nên cô không tài nào rụt tay ra được. Hằng dùng sức kéo mạnh để đưa Thái ra
phía ngoài sân, cũng lúc đó hình như Thái đã nhận ra ý tứ của Hằng nên cô không
còn cưỡng lại nữa và đó chính là nguyên nhân làm cho Thái bị nhào theo ôm lấy
người của Hằng. Mọi người được thể cười rộ cả lên làm cho cả hai người cùng ngượng
nghịu đỏ mặt đứng trơ ra giữa cửa nhà Đạc. Cũng ngay lúc ấy ai đó chợt lên tiếng:
- Bạn bè cả, không việc gì
mà ngại, ngày xưa chúng tớ cũng thế cả thôi.
Vừa lúc đó vợ Đạc cũng chen
vào:
- Thôi hôm nay hai người là
nhân vật chính nên cho được đi chơi, miễn phải vào bếp.
Được lời như cởi tấm lòng
thế là Hằng và Thái tay trong tay đưa nhau ra ngoài ngõ để tâm sự. Vừa đi khuất
mọi người Hằng đã vội buông tay Thái để tránh sự hiểu nhầm là Hằng cố ý lợi dụng,
còn với Thái thì buông hay không cũng chả cần nữa vì cô đã thả lỏng tất cả ngay
từ lúc còn ở trong nhà. Để tránh cho sự ngượng ngập vừa qua Hằng buộc lòng phải
lên tiếng trước:
- Tôi xin lỗi Thái...có lẽ
cô Thái mà tôi biết là người khác trong công ty.
- Cả công ty này chỉ có
mình em là Thái...làm gì có ai khác nữa?
- Chả lẽ còn một công ty
xây lắp điện nào nữa...?
- Anh hãy tả cô Thái của
anh cho em xem nào.
Hằng lại kể cho Thái nghe
toàn bộ câu chuyện cách đây gần một tháng rưỡi, rồi mô tả thật kỹ hình dạng hai
cô gái Hằng gặp hôm đó cho Thái nghe. Anh vừa dứt lời thì cũng nghe Thái bật ra
câu nói hết sức tự tin:
- Thế thì em biết rồi anh ạ!
Nó không phải là Thái mà nó là...
Nói đến đây thì Thái đột
nhiên dừng lại, sau một lúc cân nhắc Thái nói tiếp:
- Hẳn nào mấy hôm ấy mỗi
khi nhìn thấy em từ xa chúng nó gọi rối rít rồi cứ tủm tỉm cười, làm em rõ tức...
em phải đấm cho bọn này một trận mới được.
- Chớ đấm họ đấy nhé, dẫu
sao các cô ấy cũng giúp cho mình quen biết với nhau.
- Đó là em nói thế thôi chứ
có khi còn phải bảo chúng im mồm đi chứ không thì các anh, các chị ấy cười chết
mất.
- Tôi cũng không ngờ sự việc
lại xảy ra như thế, Thái thông cảm cho tôi và chấp nhận sự làm quen này của tôi
nhé.
Thái không nói gì mà chỉ
hơi gật đầu tỏ vẻ đồng ý và cúi xuống ngượng ngập thật sự. Vừa lúc đó vợ Đạc đã
ra gọi hai người về ăn cơm. Hằng nắm tay Thái, nhẹ tay kéo cô theo sau để quay
vào nhà. Bữa cơm thật giản dị nhưng cũng thật vui vẻ, tất nhiên là Hằng và Thái
là mục tiêu cho tất cả mọi người trêu đùa và yêu quý. Dù chỉ mới quen thôi
nhưng khi chia tay cả hai cũng bịn rịn khó nói thành lời. Những câu nói vun vào
của mọi người tựa như lời cầu thân của chàng trai và cũng như lời tán thành của
cô gái vì cả hai người chỉ có cười trừ mà chẳng hề có một lời phản đối nào. Lẽ
dĩ nhiên là những người bạn họ đều đã tự ngắm hai người và họ nhận ra được cái
ý tứ ấy. Nhiều người cũng đã nói đến cái sự thăm nhà, hỏi cưới và bao thứ khác
nữa bởi họ yêu quý cả hai người, họ muốn hai người cũng có hạnh phúc, họ coi đó
như là sự mong muốn chia xẻ của những người đã có ít nhiều hạnh phúc cho người
chưa có một tý gì. Từ những việc làm như thế cho ta thấy xung quanh ta mọi con
người đều thật tốt đẹp, thật nhân hậu. Nếu giữ mãi được như vậy thì cuộc đời
này hạnh phúc biết bao và tươi đẹp biết bao!
Sau lần gặp ấy họ còn hẹn gặp
riêng nhau mấy lần nữa, rồi thì thư đi, thư lại, dẫu chỉ là nhờ đưa qua tay giữa
vợ chồng Đạc. Họ yêu nhau nhanh chóng quá và nói với nhau những từ yêu thương
thật là đẹp trong khi gặp gỡ và cả trong thư. Không biết có phải cái gì đến quá
nhanh thì đi cũng quá nhanh hay chăng mà cuộc tình của họ đã tan trong chỉ có mấy
tháng trời. Cái sự tan vỡ bất ngờ mà mau mắn đến nỗi Hằng chẳng biết nguyên cớ
từ đâu. Nếu như gần một năm sau Hằng không gặp một chàng Chí “Sở Khanh” do vui
câu chuyện làm lộ ra.
Trong một lần gặp gỡ Thái vào
một đêm trời tối ở bên bờ đê cầu Hạc, Thái đã nói với Hằng toàn bộ hoàn cảnh của
mình từ gia đình, bè bạn và cả những người Thái đã yêu trước đó. Có một chi tiết
mà Thái thật sự mạnh dạn nói ra đó là việc Thái đã có lần rơi vào cặm bẫy của một
tên lừa đảo nào đó nên cô đã không còn sự trong trắng của người con gái nữa.
Ngay sau khi nghe cô ấy nói Hằng lặng người đi và cảm thấy thật là buồn. Anh
phân vân thật sự khi nghĩ rằng người mình yêu đã là một thứ thừa ế của người
khác, như thế thì làm sao có thể chấp nhận được. Một sự chán nản đến cực độ đã
trào ra làm cho anh không còn tỉnh táo được nữa. Bên cạnh anh, Thái cũng im lặng,
không biết cô ấy đang nghĩ gì. Có lẽ cô ấy tự giận mình vì sự thật thà đến ngây
ngô của cô ấy, hay là cô ấy đang tự trấn an mình về những gì tốt đẹp mà cô đã
xác định mình phải chấp nhận kể từ sau sự mất mát quá lớn của đời con gái trong
cô. Có lẽ sự im lặng đã giúp họ tự ổn định lại tình cảm và lý trí của mình.
Chính trong khoảng rất lâu đó Hằng đã tìm ra cái lý do rất hợp lý để tự bào chữa
cho việc mình có thể chấp nhận được người con gái đã không còn nguyên vẹn này nữa.
Một điều mà Hằng nhận thấy đó là khuôn mặt đẹp, hình dáng đẹp của cô đã làm anh
say mê. Rồi thì sự khéo léo của cô trong bếp núc, trong thêu thùa, may vá và
trong giao tiếp hàng ngày. Còn cái sự thẳng thắn của cô ấy có phải cũng là một
cái đẹp đó chăng? Trên đời này dễ có mấy ai dám nói ra cái sự thực bất hạnh như
vậy, thế mà cô dám. Cứ như cụ Nguyễn Du đã viết trong Kiều: “nước vỏ lựu, máu
mào gà - mượn màu chiêu tập vẫn là còn nguyên” đấy sao. Mấy ai biết được
và như thế cô ấy có quyền giấu giếm những ai đó để rồi vẫn còn nguyên chứ sao!
Cuối cùng thì Hằng lại nghĩ thế còn những người đã với Hằng thì sao, những người
đến sau Hằng họ sẽ nghĩ gì. Đành rằng cái sự của Hằng làm ra hoàn toàn mang động
cơ trong sáng và không hề có ý chối từ cái người Hằng đã cùng với họ, thế nhưng
sự đời đã chẳng chiều người và cái người đã cùng Hằng có khác gì Thái hôm nay vậy.
Với ý nghĩ này đã thực sự bào chữa cho mình để có thể chấp nhận Thái kể cả khi
có người biết cái sự này của hai người. Nghĩ thế nào Hằng nói cho Thái nghe như
thế ấy. Thái vừa nghe vừa lặng lẽ khóc, cô gục đầu vào ngực của Hằng. Có lẽ cô
buồn lắm trong suốt thời gian chờ đợi câu nói của Hằng. Thế nhưng mọi việc đâu
có suôn sẻ như những gì ta đã nghĩ, đã tự đấu tranh để có được khi có một người
nào đó cứ khoét sâu vào những điều còn chưa được đứng vững trong lòng người,
còn đang chao đảo.
3
Cái công ty xây lắp điện nào có ở xa gì khu tập thể của Hằng, chính vì vậy mà
ngoài những người sống ở khu tập thể Mật Sơn công ty vẫn còn có một số đi theo
công trình và còn có cả một số sống ở ngay ở trụ sở công ty để tiện công tác,
trong đó có Như. Như là một cô gái khoảng hai mươi bẩy tuổi, cô vừa là một công
nhân trực tiếp nhưng lại là một cán sự đoàn của công ty xây lắp điện. Cô vẫn
thường đến chơi với một vài người quen ở trong khu tập thể của Hằng. Là một
cán sự đoàn nên cô ta có điều kiện được biết rất nhiều việc của những người tuổi
trẻ trong công ty. Phần thì do phải trực tiếp xử lý mọi việc của tổ chức này
nên cô được quyền tìm hiểu, phần vì được các cấp lãnh đạo phía trên trao
đổi tin tức để có kế hoạch uốn nắn các đoàn viên của mình. Chính vì vậy các việc
của Thái thì nhiều người không biết nhưng Như thì lại biết khá rõ.
Cũng không biết do đâu mà
Như biết được mối quan hệ giữa Hằng và Thái. Có lẽ do cô nghe được từ những câu
chuyện trong số chị em ở công ty bàn tán hàng ngày. Một phần vì Như cũng là một
cô gái khá nhiều tuổi trong công ty đang rất cần có một mối lương duyên để xoá
đi cái cảnh cô đơn buồn bã nên cô cũng hay để ý tìm hiểu đối với những nhân vật
giống như Hằng, nên cô đã biết được câu chuyện quan hệ của hai người. Cô có tốt
hay không thì không biết, nhưng có vài lần cô đến chơi với mấy người quen sống
bên cạnh, Hằng thấy cô cũng không đến nỗi nào. Nhiều lần gặp nhưng Hằng chả muốn
làm quen với Như thế mà rồi Hằng cũng vẫn phải tiếp chuyện với Như.
Không biết thế nào mà mỗi lần
Như đến thăm người quen thì luôn gặp lúc người quen của Như đi vắng và chẳng ai
có thể ngăn cô đi thẳng vào nhà Hằng để hỏi thăm về những người quen của cô . Lẽ
dĩ nhiên là cô có thể ngồi nhờ nhà Hằng để chờ những người quen của mình trở về.
Khi đã có những câu hỏi thì sẽ phải có những câu trả lờiK, đó là phép lịch sự tối
thiểu trong xã giao và rồi cả những câu hỏi thăm đối với người đối diện cũng được
tiếp tục đặt ra. Nhiều lần gặp tất nhiên là phải quen, đã quen thì việc đến ngồi
nhờ đã không còn là lý do khó hiểu nữa.
Những câu chuyện trong khi
Như ngồi nhờ chờ đợi người quen cứ tiếp tục được kể ra. Đâu là phải quan tâm đến
sự phấn đấu của mọi người. Đâu là nếu muốn phấn đấu thì phải tránh xa những người
xấu. Trong các ví dụ về người xấu mà Như kể ra có rất nhiều trong đó có cả những
người có hoàn cảnh như Thái. Hình như cô ấy muốn nói rằng đây là cái xấu nhất của
các cô gái chưa chồng. Sự nhấn mạnh dường như cứ dần dần lộ ra cái chủ ý của cô
qua những đoạn đối thoại giữa hai người:
- Em nghe nói anh quen rất
thân với Thái ở công ty em phải không?
- Làm gì có chuyện ấy?
- Không những thế em còn biết
hai người còn quan hệ ở mức cao hơn nữa kia.
- Không có đâu, bạn nghe nhầm
đấy thôi.
- Em hỏi thật anh nhé?
- Cô cứ nói đi.
- Em không biết khi quen với
Thái anh có tìm hiểu kỹ không nhưng em cũng tín hiệu cho anh biết Thái có nhiều
“phốt” lắm đấy anh ạ.
- Tôi nghĩ ở trên đời ai mà
chẳng có khuyết điểm, tuy nhiên từ chỗ quen biết và hiểu sự việc đến giúp đỡ để
họ trở thành người tốt thì càng quý chứ sao.
- Không, em nói là có những
cái không còn có thể giúp đỡ sửa chữa được nữa kia.
Hằng chợt giật mình khi
nghe Như nói như vậy, anh nghĩ chả lẽ cô ấy lại muốn nói cho mình biết cái chuyện
tình xưa cũ của Thái chăng? Vì sao Như lại muốn cho mình biết điều ấy nhỉ? Phải
chăng hai người có ác cảm với nhau nên cố ý muốn phơi bày những cái xấu của
nhau ra nhằm gây hại cho nhau? Hôm nọ Hằng có hỏi Thái về Như, anh thấy Thái
nói về Như toàn là những điều tốt cả. Cô ấy nói về công tác đoàn thể của Như và
lại còn khen Như nữa. Trong khi đó, nói như Chí “Sở Khanh” thì Như đã quá nhiều
lần với cậu ta, mặc dù Chí “Sở Khanh” đã có vợ, có mấy con sờ sờ ra đấy. Biết vậy
nên Hằng càng tỏ ra như không hiểu biết gì về sự gợi ý của Như và cuối cùng thì
Như đã nói cái chuyện không đáng nói của Thái ra cho cái người đang muốn tìm hiểu
Thái biết. Hằng lờ mờ nhận ra cái ý của Như và anh cố ý tỏ ra đã biết để làm
cho Như cụt hứng, chừa cái thói thóc mách hại bạn bè:
- Cứ tưởng là có chuyện gì
khác, chứ việc ấy… Thái đã nói cho tôi biết rồi.
- Anh nói thật đấy chứ?
- Đúng thế mà.
- Chả lẽ anh cũng chấp nhận?
Hằng suy nghĩ một lúc rồi
anh quyết định nói với Như những điều mà Hằng đã nói với Thái. Thực ra Hằng
cũng muốn ngoài việc tỏ rõ quan điểm của mình về sự việc ấy và còn muốn nói với
cô ấy rằng nếu cô ấy chịu tu sửa mình thì rồi cũng sẽ gặp được những người có
thể thông cảm cho mình. Có lẽ cô ấy đã không nhận thức được, hoặc giả có nhận
thức được thì cô ấy cũng không có ý muốn tự sửa mình.
Thế rồi không biết bằng
cách nào đó Như đã làm cho Thái hiểu nhầm về quan điểm của Hằng và sự tan vỡ bắt
đầu như thế. Kết cục chẳng tốt đẹp ấy có phải là tại Như hay không? Có lẽ phần
lớn là do cô ấy, nhưng cái chính là Thái không đủ tự tin và cả do Hằng chưa có
kinh nghiệm để làm cho người khác tin vào mình với một chủ đề khá nhậy cảm và
hóc búa vào bậc nhất trong tình yêu đôi lứa.
Những bức thư với tiêu đề
khô khan thay cho những từ “thương yêu” đã nhiều lần xuất hiện trên những trang
giấy Pơluya màu hồng trước đó. Cuộc tình ngắn ngủi dễ gặp, dễ tan dù sao cũng
làm Hằng phiền muộn, bởi chưa một lần nào Hằng có ý đùa cợt trong tình yêu với
những cô gái mà anh đã gặp. Người đời có thể nghi ngờ và không tin rằng lại có
một người có sức yêu đầy đặn cho đến cả chục lần như thế, đấy là quyền của họ,
nhưng xin đừng lớn tiếng bài bác vì đó là sự thật. Có bao kẻ chỉ biết vì mình
và cũng không thiếu những người suốt đời chỉ nghĩ đến người khác cho dù họ luôn
gặp tráo trở và phản bội.
VÙNG ĐẤT CŨ
1
Mùa đông
năm 1976 đang dần đến, từng cơn gió bấc đã tràn về báo hiệu mùa đông năm nay chắc
sẽ lạnh. Hằng vừa xuống thị xã để lấy chiếc áo rét anh mới đặt may hồi đầu
tháng. Mấy năm gần đây người ta thường may các loại áo rét theo kiểu Blujông của
Đức, kiểu áo này khá gọn và phù hợp với thanh niên. Chiếc áo được may bằng loại
vải nhung kẻ màu xanh da trời vừa lịch sự vừa hợp với khổ người của Hằng nên khối
cậu con trai cứ tra hỏi xem may ở đâu để cũng may một cái. Một điều quan trọng
là loại vải này lại không thu tem phiếu nên số phiếu vải được cung cấp vẫn có
cơ hội mua thêm một bộ mới. Số anh em còn đang bàn tán về kiểu cách quần áo ở
các thời kỳ khác nhau thì anh Khâu bước vào.
- Này, có gì mà ầm ĩ thế? Chuẩn bị để thứ hai đi Thọ Xuân đấy nhé.
- Sao bảo sang tháng mới đi cơ mà anh?
- Lần này phải làm cải tiến nên đi sớm.
Mấy cậu tổ van, tổ lò thấy ông Khâu nói về công việc liền từ từ kéo nhau về hết
thành ra vừa mới đông đúc là thế mà thoắt cái đã trơ lại có hai anh em. Đến lúc
này anh Khâu mới ngồi xuống để phàn nàn về cái quyết định cải tiến gối trục của
nhà máy:
- Tao chẳng hiểu thế nào mà mấy thằng cha ấy lại tán thành cái việc thay lớp
lót cao su bằng gỗ.
Thì ra cái bố này vẫn bức
xúc về cái chuyện lấy gỗ lim làm lớp lót thay lớp lót cao su của các gối trục
trục tua bin thuỷ điện Bàn Thạch. Cứ như anh ấy nói thì lớp gỗ này chỉ cần chưa
xoay nổi một vòng đã vỡ toang ra, làm sao mà chịu cho được. Đã biết tính anh
Khâu từ hồi sáu sáu, sáu bẩy nên Hằng mặc kệ cho anh ấy nói để cho nguội bớt
cơn đi mà không chịu tiếp lời. Nhưng chính vì thế anh ấy lại càng bức xúc mà
nói to hơn nữa, nào là dốt nát, phi kỹ thuật, rồi thì thế nọ thế kia, nghĩa là
anh không muốn làm để rồi đến khi không thành mang tiếng là ngu dốt cả mẻ vân
vân và vân vân...
Đến lúc này thì Hằng phải
lên tiếng, tuy nhiên Hằng biết anh Khâu cũng đã có tý men nên Hằng khá dè dặt:
- Dẫu sao mấy ông “cốp”
cũng đã quyết rồi nên có nói vẫn cứ phải làm thôi anh ạ.
- Có thế thì mới tức.
- Nhưng em nghĩ người ta
cũng đã xem xét qua kinh nghiệm ở nơi nào đó rồi người ta mới quyết chứ anh...
- Tao thì tao mặc kệ, lần
này mày cứ căn chỉnh cho tốt để cho bọn nó không dám bảo hỏng là do chất lượng
căn chỉnh kém là được.
- Anh yên tâm đi, lần này
phải có biên bản kiểm nghiệm từng phần một rồi ký kết để không ai bắt bẻ ta được.
- Mẹ nó, sao rét thế không
biết được.
Hằng tủm tỉm cười:
- Cho lắm nước vào bụng làm
sao chẳng rét.
- Có mỗi hai chén con tý tẹo,
làm gì có nhiều đâu mà uống.
- Theo em thì dùng gỗ có
khi được đấy anh ạ.
- Lại mày nữa.
- Em thấy mấy cái ổ trục xe
trâu chở đến hàng tấn thế mà chạy mãi cũng có mòn đâu.
Vừa nghe Hằng nói dứt câu
anh Khâu đã vùng vằng:
- Đã thế tao cho mày ở ban
cải tiến luôn.
Thấy anh Khâu cắu quá Hằng
chỉ cười trừ mà không nói thêm gì nữa. Giữ nguyên bộ mặt khó chịu như thế anh
Khâu quay ra mà chẳng thèm chào hỏi gì nữa, cho dù Hằng có hỏi với theo:
- Anh về đấy à?...
Đúng như tuyên bố hôm nọ
anh Khâu đã đưa danh sách Hằng vào ban cải tiến, mặc dù anh vẫn bắt Hằng phải
hoàn thiện phần việc của tổ giao cho như những ngày xưa. Thế là Hằng cứ phải cắm
cúi vào mà làm hết mọi việc chẳng còn thời giờ đâu mà đi hỏi thăm mấy cô bạn học
ngày xưa nữa. Thực ra thì Hằng cũng không muốn đến thăm bọn con gái ấy vì sợ họ
đã có chồng con rồi bây giờ mà đến thì vừa làm mất thì giờ của họ, hơn nữa nhỡ
gặp phải anh chồng hay ghen thì rồi gia đình của họ sẽ cơm chẳng lành, canh chẳng
ngọt, như thế thì thăm nom mà làm gì.
2
Cũng đã gần một tháng vừa đại
tu vừa chuẩn bị cho cải tiến, hôm nay Hằng mới có điều kiện được nghỉ một buổi
tối. Cũng chẳng phải mình Hằng bận tối mắt, tối mũi như thế mà tất cả mọi người
trong tổ và cả anh Khâu cũng cắm cúi mà làm cho hoàn thành với tiến độ, để kịp
cho việc xả nước về làm vụ đông xuân.
Tắm rửa xong Hằng định đi
chơi quanh mấy nhà ngày xưa Hằng ở nhờ, vừa có tính chất thăm hỏi để tỏ ra rằng
mình vẫn nhớ, vẫn giữ nguyên vẹn tình cảm ngày xưa đồng thời cũng thông báo là
mình vẫn còn sống trở về. Chỉ mới mặc xong cái quần thì lại nghe ngoài cửa có
khá nhiều tiếng con gái. Hằng vừa thò đầu ra xem có việc gì thì đã thấy sáu bẩy
cô gái đứng chắn trước mặt. Thôi thì nạ dòng có, con gái có cứ như ong vỡ tổ
tràn vào gian nhà lá mà Hằng được phân xưởng Bàn Thạch bố trí ở trong những
ngày sửa chữa. Cô thì chào anh, cô thì chào chú làm cho không gian chợt ồn ã cả
lên. Hằng còn chưa nhận ra ai với ai đã thấy ai đó sụt sịt khóc, làm cho Hằng
thật sự bối rối. Anh vừa chào hỏi mọi người vừa để tâm xem ai đang sụt sịt ở
phía cuối cái giường một của Hằng, Cũng phải một lúc Hằng mới nhận ra đấy là
Hương, con gái nhà chủ mà Hằng đã trọ cách đây hơn sáu năm trời. Anh vừa tìm mấy
cái chén, vừa lấy cái ấm đựng nước gạo rang lấy từ nhà bếp về để mời mọi người
uống nước. Sau khi đã đưa chén nước cho một vài người rồi Hằng mới đi đến bên
Hương, anh đặt tay vào hai vai của Hương đang rung lên theo nhịp khóc rấm rứt vừa
cười vừa nói:
- Thế là được rồi hà hà...!
Cô bé Hương dũng cảm, hay trêu mọi người ngày xưa sao hồi này lại mau nước mắt
thế không biết được?
Vừa nói trêu Hương, Hằng vừa
định xoay hai vai Hương để cô đối diện với anh, nhưng anh chợt nhận ra cô Hương
bây giờ đã không còn là thiếu nhi nữa, thế là anh vội buông tay ra khỏi vai cô
gái. Cũng vừa lúc đó Hằng nhận ra Văn, người mà có lần Hương đã làm mối cho
anh. Văn vừa ngồi ở chỗ xa nhất lại quàng một chiếc khăn len mỏng chùm kín một
nửa mặt nên anh không nhận ra ngay từ đầu.
- Văn phải không?
Văn nhỏ nhẹ:
- Vâng ạ! Anh có khoẻ
không?
- Anh mắc mấy trận sốt rét
nên cũng không được khoẻ lắm.
Dừng lại một chút Hằng lại
nói tiếp:
- Công việc bận quá mãi hôm
nay mới được nghỉ, đang định vào trong đó xem sao thì các em ra đây.
Mới vừa nói đến đó thì nghe
có ai vừa cất lời với vẻ trách móc:
- Anh là anh tệ lắm đấy
nhé!
Thì ra người nói câu ấy là
Hương, cô đã thôi không khóc nữa ngay sau khi anh nói chuyện với Văn.
- Tệ làm sao nào?
- Thì lúc anh đi bộ đội anh
có nói cho ai biết đâu.
- À...À... hồi đó gấp rút
quá...cả đến gia đình anh cũng chẳng kịp báo nữa là.
- Thì viết thư về không được
à.
- Kể ra thì thế, nhưng mà
các anh có ở chỗ nào yên đâu.
- Chúng em nghe tin anh ở
vùng Như Xuân, thế là hai chị em vừa đi vừa hỏi thăm suốt mấy ngày mà không gặp.
Nghe đến đây thì Hằng thấy
chột dạ thực sự, anh nghĩ: “Thế mà các cô ấy lại tìm được chỗ mình ở và rồi lại
gặp Nghi ở đó thì nguy to”. Thực ra thì câu chuyện của Hằng nói với Hương hồi
đó và cả việc đến chơi nhà Văn cũng chỉ là làm sao để sự quan tâm của cô bé ấy
không bị dội nước lã vào mà thôi, chứ thực tình anh đâu có biết chỉ dăm ba lần
qua chơi mà các cô ấy tưởng anh đã có tình ý thực với họ. Dù sao thì đến lúc
này anh cũng chẳng muốn thanh minh làm gì, vì như thế tình anh với họ chả hoá
ra bạc bẽo quá sao. Nghĩ vậy anh đành cười trừ cho xong rồi động viên mọi người
bằng việc kể các câu chuyện trong thời gian bộ đội cho mọi người cùng nghe. Anh
cũng hỏi han tình hình của các cô gái cùng đi với Văn và Hương theo xã giao.
Tuy nhiên qua câu chuyện anh biết cả Văn và cô Hương bé tý ngày nào giờ cũng đã
có gia đình cả rồi. Văn thì lấy cậu Vinh râu ở bên đường dây chuyển tải, người
mà có lần Hằng đã gặp khi vào chơi nhà Văn từ mấy năm trước. Thực ra thì Văn
chưa bao giờ yêu Vinh râu vì Vinh râu trông chả có tý hình thức nào, trong khi
Hằng thì lại có đủ mọi điều. Tuy nhiên cái chính vẫn là sự kiên trì của cậu ta
cùng với sự vắng bặt tăm hơi thậm chí có thể tắt hẳn tăm hơi của người tình
trong mộng đã khiến cô gái xiêu lòng. Bây giờ thì Văn cũng đã có một cô bé con
khá lớn, có nghĩa là Văn đã lấy Vinh ngay sau khi cùng với Hương đi tìm Hằng mà
không gặp. Còn với Hương thì câu chuyện lại còn dài dòng và rắc rối hơn nhiều,
đó là câu chuyện tâm sự của Hương khi cô còn một mình ở lại.
Từ lúc năm, sáu các cô gái
cùng chui vào căn nhà Hằng đã thấy không hiểu vì sao mà Hương và Văn lại đưa
các cô gái mà Hằng không quen đến nhiều làm vậy, mãi khi chia tay Hằng mới nghe
Văn nói:
- Mấy đứa vừa rồi đều là
các em và các cháu của em cả đấy anh ạ. Em biết là em đã không chờ anh được nên
em định sẽ không đến gặp anh, nhưng sau khi em nói chuyện với mấy đứa, thì
chúng nó bảo:
- Ngày xưa chị mê anh ấy
như thế thì chắc anh ấy phải đẹp trai và ga lăng lắm. Nếu mà thế chưa chừng rồi
chúng em cũng mê ấy chứ. Cứ để chúng em đến chơi, nhỡ ra phải duyên, phải số
thì cũng là sự đền bù của chị với anh ấy chứ sao.
Nghe Văn nói đến đây thì Hằng
buồn cười thực sự, anh vừa nhịn cười vừa bắt chước câu nói khá quen thuộc của
người Thanh Hoá vào những năm về trước:
- Tức là bắn súng không nên
thì đền đạn chứ gì?
Nói xong cả hai người cùng
cười vui vẻ rồi chào nhau chia tay ngay trước hiên nhà.
3
Chờ cho mấy chị em, cô cháu
của Văn đi khuất Hằng mới bước chân vào nhà, đang định sắp xếp lại bộ ấm chén
bày bừa ra lúc nãy thì thấy Hương vẫn còn ở đó. Cô úp hết số chén cuối cùng xuống
cái khay men xong thì vừa lúc Hằng quay trở lại. Cô cứ đứng trân trân như thế để
nhìn anh không chớp mắt, bất chợt cô lao đến ôm chặt lấy anh và lại rấm rứt
khóc, cô nói trong nước mắt:
- Thư thì không viết...về
thì lại muộn...!
Hằng chỉ kịp nghe loáng
thoáng câu nói đứt đoạn của Hương rồi vội vàng gỡ tay Hương ra, còn Hương
thì quyết không chịu buông.
- Em buông anh ra, kẻo có
ai nhìn thấy thì rồi sẽ rắc rối cho em đấy.
Vẫn cái giọng hờn trách và
bất cần như xưa:
- Mặc kệ em! Hắn lỳ lợm,
dai như đỉa làm hỏng mọi việc của em. Nếu anh về trước đó vài tháng thì hắn chả
là gì cả.
Thì ra Hương không được thoả
mãn về mối lương duyên với chồng của cô, vì thế khi nghe tin Hằng còn sống quay
về cô càng thất vọng, cô lấy cớ về thăm nhà để gặp lại anh. Trong lương tâm anh
đã có ý định sẽ khuyên giải để Hương thu xếp ổn thoả với hoàn cảnh của mình. Dẫu
sao thì cái sự lạnh nhạt cũng chỉ do một mình Hương gây ra mà thôi. Điều Hằng
không hiểu là vì sao Hương luôn trách anh, cho anh là một trong những nguyên
nhân khiến cô có hoàn cảnh hiện nay. Phải chăng cô có gì đó bất ổn về tinh thần
nên đã biến thành bệnh, nghĩ vậy nên Hằng buột miệng:
- Nhưng dẫu sao thì em cũng
lấy người ta rồi.
- Kệ! Em phải trả thù hắn...hắn
lừa đảo em, hắn bảo thằng anh con ông bác hắn biết anh và bảo cho nó biết là
anh đã hy sinh, nên em mới đồng ý cưới.
Hằng không ngờ câu chuyện lại
xoay hướng ra như thế này, anh vừa nói vừa lựa một lúc lâu mới gỡ được tay
Hương ra. Anh đặt hai tay lên vai Hương nhẹ ấn cô ngồi xuống, sau khi cô đã ngồi
yên trên mép giường, anh tiếp tục thuyết phục Hương một lần nữa:
- Bây giờ mọi việc đã thế,
với lại anh nghĩ hoàn cảnh của anh chưa chắc đã cho em có được cuộc sống hạnh
phúc. Em nên về nhà, không cậu ấy đi tìm mà gặp thì rồi mọi việc sẽ phức tạp ra
thêm.
- Em đang tức với hắn, em bảo
về mấy hôm nên hắn đâu biết em ở đây, sớm mai em về sớm, hắn chẳng mừng quýnh
lên ấy chứ.
Hằng cố gắng ngó sang các
phòng khác xem có ai không để tìm cớ đưa Hương về nhà, những chẳng có ai cả vì
số anh em ở khu này đều gần nhà nên họ tranh thủ về nhà hết sau mấy tuần tối
tăm bận rộn. Anh nghĩ thế là gay go to rồi, tuy vậy anh vẫn cố gắng tìm cách
thuyết phục. Thời gian trôi đi thật là nhanh, cái đài công cộng đã tắt từ lâu lắm
mà Hương vẫn chưa có ý định ra về. Từng đoạn hồi ức đang trở lại trong cô như
dòng suối cứ tuôn chảy, tuôn chảy mãi không ngừng:
- Anh có biết em yêu anh từ
bao giờ không?
- Em không nói làm sao anh
biết được.
- Em yêu ngay từ ngày đầu
tiên anh đến nhà em.
- Lúc ấy em còn bé tý thế
này mà.
Hằng vừa nói vừa có ý pha
trò, anh xoè lòng bàn tay ra rồi lật úp xuống, hết nâng lên lại hạ xuống xuống
gần sát mặt giường.
- Làm gì có chuyện ấy, lúc
đó em cao gần bằng anh rồi.
- Nhưng mà em vẫn là thiếu
niên...
- Nhưng có ai cấm thiếu
niên yêu đâu.
- Thế sao em lại giới thiệu
anh với chị Văn.
- Đó chính là điều em giận
em nhất! Bực nhất là khi chị ấy đi lấy cái lão Vinh, làm em giận không sao mà
nói ra được. Giận quá em bảo chị ấy: “Sao chị không nói trước với em...! Chị có
biết em đã phải đau lòng thế nào khi phải giới thiệu người mình yêu cho người
khác hay không! Thế rồi chị ấy cũng ngạc nhiên: Mày yêu anh ấy...? Chứ sao nữa,
chỉ tiếc là em còn ít tuổi quá anh ấy không để ý đến nên đành chịu mà thôi”.
Đến lúc này Hằng mới biết
thì ra cái cô bé Hương ngày ấy luôn im lặng khi nhìn anh nhưng lại hay nổi đoá
với lũ em thật ra là vì cô ấy yêu người mà không được người yêu trở lại. Nghĩ đến
đây trong lòng Hằng chợt bâng khuâng tiếc nuối, anh thấy hình như mình vừa đánh
mất vật gì đó thiêng liêng và quý báu.
Cô bé Hương vẫn ngồi đó,
đôi mắt và cả cơ thể thanh xuân của cô như đang rực lên thiêu đốt Hằng cháy
thành than. Thêm một lần nữa Hằng lại phải dàn xếp với chính mình để bảo vệ hạnh
phúc cho người khác. Anh có thể dàn xếp được không khi anh đang cảm thấy khoảng
cách giữa anh và Hương đang gần lại. Cái giường một, nơi họ đang ngồi dường như
cũng co rúm lại bởi bão giông có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trong những phút
giây ấy Hằng mong có ai đó trở thành cứu cánh giúp họ bình tĩnh trở lại. Thế mới
biết rằng những điều cao đẹp bao người đã làm được ví như sự quên mình cho nhân
loại có lẽ cũng phải có điều gì đó hoặc ai đó luôn đứng ra nhắc nhở khuyên can
và cả bức bách nữa thì rồi những con người ấy mới đi đến cái quang vinh mà nhân
loại đã và đang còn ca ngợi cho đến khi nào trái đất tan vào vũ trụ mới thôi.
Một phút chốc ngắn ngủi lan
man trong những suy nghĩ không đầu, không cuối đó đã làm cho Hằng quên đi Hương
đang ở ngay bên cạnh, chỉ đến lúc cả tấm thân mềm mại bất chợt choàng lên người,
Hằng mới giật mình trở lại thực tại. Anh phân vân không biết có nên dùng sức của
mình gỡ Hương ra một cách thô bạo hay không. Cô ấy đâu có phải kẻ thù, cô ấy đẹp
và đầy sức sống, cô ấy chỉ si mê và yêu mình, chứ đâu có phải giết mình,
hãy nhẹ nhàng với cô ấy để rồi lựa dần vậy thôi.
Không biết đã bao nhiêu thời
gian trôi qua, khuôn ngực nở nang luôn có tiếng gõ nhẹ của trái tim trong đó.
Vành môi nóng ấm trượt qua, trượt lại trên mặt và trên môi của Hằng. Vòng tay
ôm ngang lưng và truyền hơi nóng vào chính cái phần da thịt mà nó chặn lên. Những
cơ quan nhạy cảm nhất đã có xu hướng bắt đầu khởi động ở mức cao nhất. Có lẽ những
gào thét của xác thịt sẽ rất nhanh buộc họ phải chung đụng với nhau. Cuộc vật lộn
bằng tư tưởng đã hoàn toàn thất bại, hai người đã thay đổi tư thế cho nhau để bắt
đầu trong những tiếng đếm cuối cùng cho cuộc chạy việt dã và thật bất ngờ, ngay
đâu đó rất gần có tiếng gà gáy gọi sáng rất to vừa được cất lên.
Tiếng gà cất lên thật vừa
lúc, tiếng gà đã thức tỉnh hai con người đang say mê đến cùng cực quay trở lại
với bản ngã của mình. Chàng trai giúp cô gái gài lại những gì vừa mới bung ra,
còn cô gái thì sau vài phút bần thần cô nói trong nước mắt:
- Dù thế nào em cũng không
thể mất anh được!
Câu nói mỗi lúc một nhỏ dần
theo bởi khoảng cách của cô ngày một xa gian nhà lá, bên trong đó có một chàng
trai đang đứng nhìn theo cô trong lờ mờ sương sớm.
4
Sớm nay tất cả các bộ phận
đã thu xếp đồ đạc để nếu chạy thử thành công là sẽ chuyển về Hàm Rồng để tiếp tục
sửa chữa máy ở dưới đó. Việc chạy máy nghiệm thu ở Bàn Thạch thường rất nhanh
chóng vì khi máy đã ổn định thì hoà đồng bộ chỉ trong vài phút là xong. Việc
nâng điện thế, nâng tần số chỉ đơn giản là vặn khoá điều khiển như vặn quả đấm
khoá cửa để mở thêm nước vào là xong. Nhưng lần này thì khác vì bộ gối trục tua
bin đã được thay lớp lót bằng gỗ lim mà nhóm thợ cơ khí làm suốt mấy tuần qua.
Chính vì vậy nên mọi người đều rất hồi hộp, lo lắng không biết việc cải tiến có
thành công hay không. Có một người chẳng cần để ý đến việc này vì anh tin rằng
chẳng bao giờ có thể lấy gỗ thay cho cao su được.
Cuộc chạy máy nghiệm thu đã
được bắt đầu theo quyết định của quản đốc nhà máy Bàn Thạch và cán bộ phòng kỹ
thuật của nhà máy. Mọi người ai vào việc nấy chỉ có bọn sửa chữa như Hằng là lởn
vởn ở vòng ngoài chờ đợi khắc phục những chỗ khiếm khuyết. Sau một vài câu trao
đổi ngắn nhân viên vận hành đã tiến hành lần lượt các thao tác theo đúng với
quy trình. Thế nhưng khi mở nước vào máy thì máy cứ ì ra không chịu nhúc nhích
một tý nào. Anh Khâu được thể cứ lắc đầu quầy quậy:
- Tao đã bảo mà, có mà bò
cũng không nổi chứ chạy với chả chạy cái con khỉ. Chỉ khổ mấy thằng sửa chữa lại
phải bò lê, bò càng ra ôm lấy cái cổ trục chết dẫm này thôi.
Cuộc thử nghiệm đã bị thất
bại hoàn toàn và người phải tổ chức tháo gỡ cái trò cải tiến này không ai khác
lại là nhóm công tác của Hằng.
Lắp vào đã khó nhưng đến
khi tháo ra lại càng khó bởi vì cả cái gối trục đã ôm cứng lấy trục, muốn tháo
tách gối trục ra thành hai nửa thì phải kéo cả gối lên cao gần ba chục phân, mới
có chỗ đưa dụng cụ vào để tháo các bu lông bắt hai bên thành của gối trục, thật
là một cuộc vật lộn thật sự chứ chẳng phải dễ dàng gì.
Nhóm công tác của Hằng hết
bắt quai sắt và đòn gánh vào rồi vặn các bu lông kích cũng chẳng ăn thua. Cũng
đã thay đến mấy lần bu lông kích mà ren vẫn cháy hết. Ngay từ đầu nhiều người
cũng muốn đứng lại chờ tháo ra để tìm hiểu xem nó vướng cái gì mà không chạy được
nhưng rồi thấy lâu quá nên cũng chuồn dần hết về khu tập thể. Sau khi kích kéo
mãi không được Hằng cũng thấy nản nhưng rồi anh vẫn cố tìm các cách khác xem
sao. Đâu là vam đòn vào vỏ gối để quay xem có nhúc nhích hay không, nhưng hình
như cái lớp gỗ lim đã dính liền với trục thì phải. Hằng đành cho cả nhóm lên tầng
nghỉ giải lao một chút để lấy sức làm tiếp các “đỏ” sau. Còn lại một mình ngồi
trên cái phễu côn đó với điếu thuốc trên tay Hằng nghĩ có lẽ cái giống gỗ này
khi có nước là nó nở ra nên có khi phải làm khô đi thì mới tháo ra được. Hút
xong điếu thuốc Hằng lại tiếp tục công việc, nhưng lần này anh không tìm cách mở
bu lông gối trục mà tìm cách tháo số nước chứa sẵn trong hộp gối trục. Cũng may
bên dưới đáy hộp chỉ là lớp chèn bằng cao su nên anh dùng cái lá căn dày vừa phải
uốn cong ấn vào khe hở nhỏ tý teo đó là số nước ở đó cạn dần, việc còn lại là
làm thế nào cho gối trục chóng khô là được. Vừa lúc ấy số anh em trong nhóm
cũng đã đi xuống để tiếp tục làm việc. Mấy cậu thợ mới gọi xuống hỏi:
- Đã tiến triển tý nào chưa
anh ơi?
- Cậu nào lên mượn anh Hậu
hộ tớ cái đèn khò, với lại lấy cho tớ một tấm gioăng Amiăng nhé.
Một lúc sau các thứ đã được
mang xuống, tuy nhiên các cậu này cũng có vẻ không tin tưởng lắm nên uể oải
ra mặt. Biết thế nên Hằng cũng chẳng bảo các cậu ấy làm gì mà tự mình làm lấy
các công việc còn lại. Buộc xong tấm gioăng Hằng lấy môt miếng vải thấm nước bọc
thêm vào cổ trục để cho trục khỏi bị nóng trong quá trình hơ nóng gối trục. Anh
bật lửa đốt đèn khò rồi hơ quanh gối trục từng lớp một. Ngọn lửa đèn khò phun
ra xanh lét kêu phè phè làm cho mấy ông già ở tầng trên cũng xuống xem, anh Dưa
người Miền Nam trêu:
- Chui cha, thằng này đốt
máy chúng mày ơi.
Hằng ngẩng đầu lên cười với
anh Dưa:
- Đốt cho nó đỏ lấy vận may
anh ạ.
Có lẽ Hằng cũng đã hơ đến
hơn nửa giờ đồng hồ rồi còn gì. Anh vặn nhỏ đèn xuống rồi sờ thử vào gối trục:
- Nóng thế này có khi là được
đây.
Vừa lẩm bẩm một mình, Hằng
vừa nắm tay vào cái đòn quay vẫn gắn vào gối trục quay thật mạnh.
- Ái chà! Thật không ngờ nó
lại trơn đến thế làm mình tý nữa thì nhào theo nó.
Vừa nghe thế, mấy cậu thợ phụ đang định đi ra phía phòng điều khiển lại vội
quay lại. Xem ra các cậu có vẻ phấn khởi phục lăn ông anh nhóm trưởng và cũng
chẳng cần ai bảo các cậu ấy lao ngay xuống phễu côn để thay cho Hằng lên nghỉ.
Hằng mang các thứ vừa tháo ra lên sàn máy rồi mang đèn khò lên giả anh Hậu. Việc
tháo gỡ và thay mới cũng chỉ tròn hai tiếng là xong, nhưng các bộ phận chạy máy
đã giải tán, số anh em trong nhóm của Hằng đành phải ở lại chờ chạy máy rồi về
vào hôm sau vậy.
Tuy gặp trở ngại trong lần đầu
tiên nhưng xem ra cấp trên vẫn quyết tâm để thử nghiệm và thế là Hằng và Độ phải
ở lại với anh Uyển ở phòng kỹ thuật để tiếp tục chương trình. Sau mấy lần bàn bạc
Hằng đã đưa ra ý kiến là phải khử độ nở khi gặp nước của lớp lót bằng gỗ. Anh
cho rằng cần phải tiện sơ bộ rồi ngâm khúc gỗ vào trong nước để gỗ nở hết cỡ,
ngay cả khi gia công trong ngày chưa xong cũng phải tháo chúng đem ngâm vào nước.
Thậm chí còn phải ngâm liên tục trong nước sau khi đã tiện hoàn chỉnh.
Có một điều quan trọng là mỗi khi tháo ra cặp vào có định tâm đúng như cũ được
hay không. Phải nói rằng nhóm thử nghiệm mới, tập trung hầu hết là những người
khá sáng tạo. Vấn đề chế tạo một bộ gá để sử dụng trong suốt quá trình đã được
anh Đà vừa là tổ trưởng sửa chữa ca của Bàn Thạch, vừa là thợ tiện đề xuất giải
quyết, tuy nhiên lại cần một chiếc mâm cặp bốn vấu mới đủ độ lớn để kẹp và điều
chỉnh bộ gá và thế là Độ lại phải trở về tổ cơ khí mượn mâm cặp bốn vấu.
Trong lúc Độ về Hàm Rồng lấy mâm cặp, anh Đà phải tiện sơ bộ các khúc gỗ để đem
ngâm, còn Hằng thì phải vào nhờ xí nghiệp Công nông rèn mấy cái đục vũm để làm
rãnh nước bôi trơn. Sau hơn một tuần ngâm nước các khúc gỗ hầu như đã ngấm no
nước vì mấy lần Hằng mang lên đo thấy không biến đổi kích thước nữa. Thế là
nhóm thử nghiệm quyết định hoàn thiện phôi đầu tiên sau một ngày chủ nhật chơi
bời thoải mái.
Tất cả các loại gối trục đều có lớp lót gắn vào vỏ gối, kể cả loại lớp lót bằng
hợp kim ba bít, bằng đồng, bằng gang cho các thiết bị ở trong điều
kiện khô ráo có chế độ bôi trơn bằng dầu. còn các loại gối trục có vòng quay thấp
và ở môi trường nước lã thì thường được làm bằng cao su dán chắc vào vỏ sắt,
sau đó cả tấm lót này lại được lắp vào gối trục bằng gang pha thép. Như vậy thì
lớp gỗ cũng phải được dán chặt với vỏ thép mới được, tuy nhiên nếu nước nhà có
thể mua được loại keo dán này thì đem cao su mà dán cần gì phải dùng gỗ, vì vậy
nên gỗ phải gắn vào vỏ bằng cả một hệ thống vít chìm dầy chi chít phân đều trên
bề mặt cung tròn của tấm lót.
Bề mặt lắp ghép với lớp vỏ đã được tiện đúng với kích thước, việc còn lại là Độ
và Hằng phải khoan cả vỏ sắt và lớp lót gỗ hàng loạt các lỗ Phi 5 mm, sau đó lại
mở rộng phần miệng lỗ trên lớp lót để vừa với các đầu vít nhưng phải để độ dầy
theo đúng quy định để sau này khi tiện bề mặt lớp lót tiếp xúc với cổ trục mà đầu
vít không lòi ra va chạm vào cổ trục, nhưng cũng không thể để lớp gỗ còn lại
quá mỏng làm cho tấm lót bị nứt vỡ vì gỗ thường rất dễ nứt theo chiều dọc thân.
Các lỗ trên vỏ phải được tarô các lỗ ren M6 để vặn vít vào kẹp chặt lớp lót bằng
gỗ vào với vỏ sắt.
Cuối cùng thì chiếc gối trục đầu tiên đã hoàn thành, tuy nhiên việc bóc lớp gỗ
bên trong đã phải làm rất nhiều lần sau đó lại ngâm nước xem có biến dạng hay
không. Việc ngâm nước dưới sâu thì quá dễ dàng, tuy nhiên vị trí làm việc của gối
trục lại chỉ có chút ít nước nên lại phải thực nghiệm bằng cách ngâm trong môi
trường tương tự. Một điều khả quan là độ giãn nở của gối hầu như đã ổn định. Vấn
đề còn lại chỉ là thử nghiệm nữa mà thôi, còn vấn đề quy trình chế tạo gia công
đã được hoàn thiện triệt để.
Gần hai tuần qua trong lo lắng tính toán từng đường đi, nước bước đã kết thúc.
Gối trục bằng gỗ lim đã được lắp vào đúng vị trí, các khe hở giữa lớp lót với cổ
trục vẫn được theo dõi chặt chẽ hàng ngày, thậm chí mỗi ngày còn dùng Pa lăng
kéo trục lên quay thử, trục vẫn trơn cho dù mấy ngày ngâm trong ổ trục.
Các bộ phận chạy máy lại triển khai đầy đủ như mọi khi. Anh Uyển tuy không thể
làm trực tiếp nhưng anh thường xuyên ghi chép, nhắc nhở về quy trình gia công.
Chắc anh ấy cũng lo lắng lắm nên mặt thì rộc rạc đi, răng thì nhô ra trông thật
đáng ngại. Dù sao thì anh cũng là người chịu trách nhiệm chính của công trình
nên lo lắng gầy người đi là phải.
Tám giờ ba mươi phút sáng công việc giao ca mới xong, mọi vị trí đã thống nhất
các mệnh lệnh để tiến hành thử nghiệm. Tay vặn mở máy đã được xoay đến chỉ số định
mức, bánh vít quay chầm chậm làm cho cần dẫn động thụt sâu vào ống dẫn hướng.
Cánh tay đòn chuyển động để xoay các cánh tĩnh mở nước chảy vào buồng máy. Trục
máy quay nhẹ êm như không có gì khác với những kỳ chạy máy trước đây. Tất cả mọi
người trong ca và tổ thử nghiệm hoàn toàn im lặng trong suốt quá trình chạy thử
giờ đây mới hết lo lắng, ai cũng muốn được nói một vài câu làm cho không khí
như vỡ oà ra trong gian máy chật hẹp.
Ba ngày sau máy dừng để kiểm
tra lớp lót và cổ trục. Tất cả hầu như vẫn chưa có gì thay đổi trừ một vài vết
bóng trên lớp lót biểu hiện việc đã có một vật tựa vào nó mà quay thế thôi. Gối
trục được lắp trở lại và máy tiếp tục vận hành lâu dài chờ kỳ kiểm tra sau ba
tháng.
Sau ba tháng, sáu tháng, và
hơn một năm sau tấm lót gỗ vẫn đảm bảo vận hành ổn định. Tuy nhiên việc kiểm
tra và định kỳ thay thế sẽ phải dầy lượt hơn vì ai biết khi nào thì lớp gỗ bị mủn
ra và khi nào thì có một cái ốc giữ vỏ bị mòn vết tán trên vỏ để rồi lỏng dần
ra cọ vào cổ trục. Dù sao thì ta cũng đã giải quyết được những khó khăn tưởng
như không thể nào khắc phục được.
Còn đến bây giờ đây loại
keo dán cao su ta đã có rồi, công nghệ làm gối trục cao su đã đơn giản vô cùng.
Nghĩ lại cái thời đó, ta không khỏi không trạnh lòng khi Phan Trọng Hiệp báo
cáo về chế tạo cao su chịu dầu và chế phẩm cách điện tại hội nghị sáng kiến
toàn Công ty điện lực ở sở hai Hải Phòng giống như là một phát mình vĩ đại vậy.
5
Sáng nay Hằng lắp tiếp đoạn
ống xả hơi chèn kín trục cho phần cao áp của tua bin, đây là phần việc cuối
cùng trong đợt đại tu thiết bị của phân xưởng Trung tâm. Công việc này cũng
không phức tạp lắm nên Hằng làm thoáng cái là xong. Vừa hoàn thành Hằng liền
sang bên gian lò để hỏi thời gian chạy máy và tán dóc với mấy cậu bạn ở tổ lò.
Chẳng biết mấy cậu này đang bàn nhau cái gì mà khi thấy Hằng đến thì liền im cả,
có vẻ như muốn giấu Hằng. Biết vậy, Hằng cũng giả tảng như mình không biết gì
và không nghe thấy gì cất giọng hỏi một cách vô tư:
- Mấy bố này có vụ việc gì
mà có vẻ bí mật thế?
Người thì trả lời thế này,
người thì trả lời thế nọ, xem ra các câu trả lời chẳng ăn nhập với nhau. Vừa
lúc đó thì bác tổ trưởng từ đuôi lò vòng lại:
- Làm gì có gì mà bí với chả
mật! chẳng qua là mấy cậu ấy đang tính cái chuyện vợ con cho cậu nhưng chưa
xong nên chưa muốn cho cậu biết đấy thôi. Với lại cậu cũng nên chủ động kẻo lại
cha già con cọc như chúng tớ thì vất lắm.
- Lại cái chuyện vợ con ấy
à? Xem ra cháu vẫn chưa đứng đầu đứng số thì phải. Cứ động đến vụ nào là vụ đó
lại cứ chuội ra, thế mới tức chứ.
Một cậu bạn cùng lớp cũng
phụ hoạ:
- Chẳng qua là cậu hơi kén
chọn quá mà thôi, cứ vớ vẩn mãi rồi đến lúc cả
mấy con mẹ nạ dòng nó cũng ngán ngẩm chẳng chịu tiếp cậu đâu.
- Chả lẽ mình lại vô duyên
đến thế?
- Thì đấy có mấy con bé nó
mới về thực tập đấy cậu thử tán để chúng tớ xem nào.
- Tán để lấy chứ tán để cho
các cậu xem thì có mà...xin kiếu.
- Được, lần này chúng tớ phải
cột chặt cậu vào một con bé nào đó mới được.
Đối thoại với mấy ông bạn một
lúc thì rồi cũng chả đi đến đâu, thế là Hằng lại bỏ mấy ông bạn nhọ than này để
lên khu nhà gianh của tổ điện ở trên đồi. Kể ra mà nói thì Hằng cũng đã biết việc
phân xưởng tiếp nhận một đoàn học sinh trường điện của tỉnh về thực tập, nhưng
cậu chưa gặp vì mấy cô cậu này thường hay ra muộn và lại về sớm nên khi Hằng rời
chỗ làm ra về thì tất cả đã vắng ngắt. Đón cậu chỉ còn mấy chị lớn tuổi là người
của phân xưởng mà thôi. Thành thực mà nói từ khi rời nhà đi học nghề rồi lại
qua mấy năm quân ngũ nhưng hầu như ở đâu Hằng cũng được mọi người rất quý. Từ
những người thợ già khó tính nhất đến cả lũ trẻ con còn chưa biết gọi mẹ cũng đều
thân thiện với anh. Còn với mấy chị thợ điện này thì còn phải nói vì có nhiều
hôm chủ nhật Hằng không đi đâu, mấy chị lại mang con đến nhờ Hằng trông giúp để
giặt giũ chăn màn quần áo. Lũ trẻ vì gặp mặt luôn nên cũng chẳng sợ hãi gì chú
Hằng. Với lại chỉ sau mươi phút nghe chú Hằng ca cẩm vài câu là chúng đều ngủ
khá say sưa. Lẽ dĩ nhiên với các chị có con mọn thì chú Hằng là nhất, làm gì mà
các chị ấy chả mong giúp cho cậu em đã từng bị mất mát, thiệt thòi so với mọi
người.
Còn cách tổ điện một khoảng
xa Hằng đã nghe các chị tổ điện tranh nhau phát thoại. Người lạ mới đến tưởng
là các chị đang cãi vã lẫn nhau. Cho dù Hằng đã vào đến cửa mà cuộc cãi vã vẫn
cứ tiếp tục. Cuộc tranh luận dường như quyết liệt hơn chỉ vì một chị cho cô
Chân nào đó xinh hơn, còn người kia lại cho cô Thanh nào đó xinh hơn. Thế rồi
cô này có vẻ hiền lành, cô kia có vẻ chanh chua, cô nọ ở gần, cô kia lại ở quá
xa...Thôi thì nâng lên, đặt xuống bắc đồng cân, đồng lạng tựa như đang mua,
đang bán vậy. Nghe một lúc thì Hằng cũng nhận ra cuộc cãi vã này nhằm vào việc
giới thiệu bạn gái cho Hằng. Đến lúc này thì Hằng nhận thấy hình như mọi người
trong đơn vị đều thật sự yêu mến Hằng. Họ muốn Hằng cũng có cuộc sống hạnh
phúc, có gia đình như họ bởi anh là người cuối cùng trong đơn vị đã ba mươi tuổi
mà vẫn còn cô độc.
Buổi chiều nay tưởng sẽ chạy
máy nhưng rồi lại bị hoãn vì số đông các đồng chí lãnh đạo về kỹ thuật đều bận
họp. Hằng cùng với mấy bác già đi soát xét lại từng chỗ một lần nữa để tránh xảy
ra những thiếu sót. Cùng lúc ấy có bốn năm cô con gái trẻ theo bác tổ trưởng tổ
điện lên xem thiết bị. Bác tổ trưởng có tiếng là nhẹ lời đã lần lượt nói về thiết
bị điện mỗi khi đi qua từng chỗ một. Hằng đoán đây là mấy cô bé về thực tập nên
cậu cũng cố nhìn xem có cô nào giống như mấy chị sửa chữa điện mô tả hay không.
Kể ra thì các cô cũng khá gọn ghẽ và rất trẻ trung, cái sự trẻ trung làm bộc lộ
cái duyên dáng ưa nhìn. Vừa lúc đó có mấy cô mạnh dạn tiến lại gần Hằng, các cô
chào hỏi xong thì tỏ vẻ muốn nhờ anh chỉ dẫn một vài thiết bị trông khá hoành
tráng mà cụ tổ trưởng tổ điện đã quên không giới thiệu vì nó không phải là phần
thiết bị của nghề sửa chữa điện. Thấy các cô gái có vẻ dạn dĩ nên Hằng cũng
không ngại cùng trò chuyện với mọi người. Thực ra thì sự mạnh dạn của mấy cô
gái về thực tập làm cho Hằng hơi bất ngờ vì đến ngay cả anh nếu cần tiếp xúc
làm quen với một người lạ anh cũng thấy ngại, nhất lại là một cô gái thì càng
ngại hơn. Trong tâm thức của mỗi người ta đều có cái sự ngần ngại cố hữu là sợ
người khác đánh giá mình là người quá xuồng sã, quá dễ dãi và cả trơ tráo nữa,
nghĩa là cần phải từ tốn và kín đáo và đừng có tỏ ra săn đón quá. Mới hôm qua
đây thôi anh chàng Quơi mới về tổ hồi tháng trước, trong lúc tâm sự với Hằng đã
trút sang cho Hằng một loạt những quan điểm về cách tìm bạn gái, cậu ta cứ xơi
xơi những là: “Cậu bây giờ khá tuổi rồi phải áp dụng lối nhất bạo nhì dai, chứ
cái thứ tam tài, tứ đức thì lâu quá không dùng được”. Ngày bấy giờ mấy anh bạn
của Hằng vẫn hay truyền tụng câu nói cửa miệng giống như là lời tổng kết về
cách tìm hiểu bạn gái của các đấng nam nhi mà hôm qua Quơi đã bật ra. Câu nói
nghe ra có vẻ rất vần nhưng khi đọc lên cứ thấy có cái gì đó gờn gợn trong lòng
vậy.
Thực ra thì Hằng cũng đã để
ý đến một vài cô trong cái đám con gái hàng ngày vẫn cứ léo nhéo ở trên mấy
gian nhà của tổ điện. Cũng chẳng có cô nào “sắc nước hương trời” đến mức đáng để
phải theo đuổi. Cô thì mặt gẫy lại có bộ ngực đồ sộ đến mức chưa nhìn thấy người
đã nhìn thấy ngực, cô thì lùn tịt như một chị vịt bầu, có cô cao thì lại cao
quá. Thực ra thì đó chỉ là những nét điển hình vậy thôi, điều này cũng dễ xuê
xoa bởi vì đa số các cô mới chỉ độ mười tám đôi mươi, cái duyên của sự trẻ
trung, tươi tắn vẫn tạo ra những nét ưa nhìn. Sau một loạt những lần yêu không
có kết quả Hằng cũng đâm nản, anh cũng muốn làm sao đó nhanh kết thúc những
ngày này để sớm có một gia đình. Có một điều anh lo hơn cả đó là chuyện mẹ anh
vừa trải qua một cơn ốm nặng thập tử nhất sinh, tưởng không qua được. Sau đợt ốm
cụ già đi đến hơn mười tuổi, trông cụ xuy xụp quá, anh sợ nếu anh không cưới vợ
nhanh thì chưa chắc cụ có còn được biết mặt cô con dâu của cụ hay không.
Sáng nay công việc cũng
chưa có gì mới, cả tổ chỉ làm vệ sinh thiết bị dự phòng. Anh Khâu kêu Hằng lên
kho lấy thêm ít dụng cụ bổ sung để sắp tới lại đi Hoằng Xuân đại tu Điedel tại
đó. Không biết ông Thuỵ thủ kho đi đâu mà Hằng tìm mãi không thấy. Còn đang ngơ
ngáo nhìn ngược, nhìn xuôi thì chị Dung gọi vào hỏi:
- Này thế chuyện hôm nọ chị
bảo thế nào rồi?
- Chỉ bảo chuyện gì cơ ạ?
- Thì cái chuyện con Thơ ấy.
- ...
- Tao trông nó cũng được đấy!
Nó lại là con nhà nghèo nên chịu thương chịu khó, nhưng cái chính là nó không
kênh kiệu khi gặp cảnh nhà chồng nghèo.
- Em cảm thấy không hợp với
cô ấy. Người gì mà tiếng cứ lanh lảnh, nghe đến khiếp chị ạ.
- Hay là cái Chân? nó thì
ngay bên cầu đây thôi?
- Cô ấy trẻ quá chị nhỉ?
- Thế nhưng nó lại rất
thích chú đấy.
- Sao chị biết?
- Hôm trước cái Hoa nói
chuyện về cậu, chị thấy cô ta nghe rất chăm chú, không những thế khi nói đến việc
tìm cho chú một đứa thì nó cứ hỏi lên, hỏi xuống xem chú ưng đứa nào. Sau đó mấy
đứa tổ chị cứ thu vén cho cái Thanh thế là cô ta xị mặt ỉu xìu ra ngồi một xó.
- Thật thế hả chị?
- Thật quá đi chứ lại.
- ... Hôm kia cô ấy mời em
sang nhà chơi chị ạ.
- Thì đấy, tao đã bảo mà.
Câu chuyện có lẽ còn dài nữa
nếu như anh Thuỵ không từ đường cái đi vào.
Câu chuyện tìm người yêu của
Hằng xem ra đã loang rộng ra khắp phân xưởng. Khối người muốn giới thiệu làm
cho Hằng không còn biết đâu mà nhận lời. Thôi thì ế ẩm, tồn kho, nhỡ lứa, thậm
chí có cả mấy cô vợ liệt sĩ chưa con cũng được lôi ra. Đâu là em, là cháu, là bạn
thời chăn trâu cắt cỏ, chỗ nào cũng chỉ thấy cái hay trong ý nghĩ của những
ông, bà mối một mùa. Mấy tháng trước nhóm bạn cùng quê miền ngoài sau một thời
gian áp đặt thấy không kết quả đã nới lỏng cho Hằng tự tìm hiểu, đến giờ này thấy
tình hình có vẻ nan giải và phức tạp nên cậu Vy bàn với cả nhóm liền quyết định
vào cuộc lần thứ hai. Đúng ra thì Hằng chẳng có ý định gấp rút trong chuyện
này, anh vẫn muốn chờ Phương dàn xếp với gia đình, nhưng xem ra cô ấy có vẻ hơi
nhút nhát nên hầu như cô ấy chả dám làm gì. Còn với Hằng thì anh cũng không còn
có thể chần chừ hơn được nữa, mẹ anh có thể nằm xuống bất kể lúc nào. Còn cái
nguồn mà anh hướng tới có lẽ không có chỗ nào hơn là đám học sinh thực tập kia.
Tuy vậy sau mấy lần qua lại chỗ mấy cô gái Hằng thấy anh cũng có nhiều đối thủ
chứ không phải đơn giản gì đâu. Số bạn cùng lớp của các cô cũng có khối cậu
“cao to, béo mượt” ra dáng lắm, dễ gì các cậu ấy lại chẳng có ý tứ.
Cũng chẳng biết do vô tình
hay hữu ý mà chiều hôm thứ năm tuần trước anh đang đi thì nhận ra có một cô gái
phía trước nom có vẻ khá quen. Hình như cô ấy có ý như muốn đi chậm lại để chờ
anh nên dù anh vẫn đi bình thường nhưng khoảng cách hai người hình như càng
ngày càng gần lại. Đến khi chạm mặt thì anh nhận ra đấy chính là Thơ. Họ buộc
phải dừng lại một lát để mà chào nhau theo kiểu xã giao. Quãng đường không dài
nhưng họ cũng đã hỏi thăm được đôi chút về hoàn cảnh của nhau. Cuối cùng thì
anh hiểu rằng Thơ cố ý về sau để đợi gặp anh nhờ viết mấy chữ vào cuốn sổ tay của
cô. Tất nhiên là anh nhận lời vì tối ấy có đến ba cô gái cùng mời anh xuống nhà
chơi.
Buổi tối hôm ấy qua đi thật
là nhanh chóng, nhưng xem ra cũng từ hôm ấy họ có vẻ thân mật với nhau hơn. Thơ
cũng đã cùng các bạn đến chơi tận phòng ở của Hằng một vài lượt và còn nhờ anh
viết giúp một vài thứ vào các quyển sách học kỹ thuật của cô. Trong ánh mắt, lời
nói đã có dấu hiệu của sự gần gũi đồng cảm.
Những ngày tháng buồn bã cứ
tiếp tục qua đi cùng với sự chờ đợi đến nao lòng, vậy mà sao Phương cũng chẳng
có tín hiệu nào khả quan hơn. Những đối tượng mới thì lại cứ tiến gần hơn cả về
cự ly và cường độ. Chiều nay mấy cô gái lại hẹn Hằng đến khu trọ của họ chơi,
anh phân vân một lúc rồi cũng nhận lời. Một khoảng thời gian không dài nhưng số
các cô gái trẻ hầu như đã thất bại trong chiến lược tình cảm của mình. Sự phân
hoá bởi chiến lược của mấy cô nhiều tuổi hầu như đã thắng trong việc chinh phục
chàng trai chưa vợ gần như duy nhất ở cái đơn vị công nghiệp mà các cô đã về đó
trong bước đầu tập làm thợ của mình. Các cô gái trẻ thất bại còn bởi mấy bà chị
khôn khéo hơn đã tranh thủ mấy chị công nhân lớn tuổi trong cái tổ điện lắm điều
nhiều lời kia. Nhưng có lẽ đây là số phận họ không có duyên với nhau nên mọi việc
cứ tự nhiên mà rời rạc ra vậy thôi chứ nếu không thì làm sao cái anh chàng cô độc
nọ lại cứ gần gũi hơn mấy cô gái già kia. Nói như thế cứ tưởng mỗi nhóm các cô
chắc là đông lắm nhưng thực tế đã không phải như thế. Nhóm các cô gái trẻ thì
có bốn, còn nhóm các cô gái già thì chỉ có ba cô mà thôi. Một cô có dáng đàn chị
hơn thì có khuôn mặt gẫy đến khắc khổ, cái hấp dẫn của cô là nước da rất trắng
và bộ ngực đồ sộ cứ ưỡn ra phía trước. Cô lại đã qua trường đời khá phong phú ở
một đội Thanh niên xung phong nào đó. Nhìn cô người ta thấy toát ra sự từng trải
và cả sự thông thuộc trong tình trường của cô và sự thực thì hình như cô cũng
đang yêu, có chấp nhận sự quen biết người khác có lẽ là có ý muốn lựa chọn xem
có thể có người khác khá hơn người mình đang gắn bó. Cô thứ hai thì có dáng người
hơi cũ kỹ và quắt queo đến khó hiểu, cô còn lại chính là Thơ mà ta đã nói đến ở
trên. Thơ là con cả trong một gia đình có đến sáu người con, bốn trai hai gái.
Ông bố là cán bộ đang công tác ở một đơn vị an dưỡng của công an võ trang. Có lẽ
cô cũng đã qua một vài lần yêu đương gì đó với vài cậu bạn cùng quê hoặc vài
chàng bộ đội ngày còn chiến tranh vẫn hành quân qua làng của cô để rồi đi ra mặt
trận. Cho đến lúc này, cô có còn người yêu nào nữa hay không thì có trời mới biết
được. Cô có khuôn mặt bình thường nhưng dễ nhớ bởi hai bên lưỡng quyền nhô cao,
tướng mặt này nếu nói như mấy ông thầy tướng thì khá là cao số. Cũng may cô
cũng có nước da khá trắng và thân hình khá uyển chuyển cùng với duyên con gái
nên chợt nhìn cũng dễ chấp nhận.
Cũng không biết sao mà buổi tối hôm nay khi Hằng đến chơi như mọi lần nhưng cả
nhóm con gái tiếp đón hơi khác mọi khi. Anh cứ phân vân trong bụng và tự mình
nghĩ lại tất cả mọi việc xem mình có nói gì hay làm gì để họ phật ý hay không,
nhưng anh chẳng thấy gì cả. Thế rồi mọi việc cũng qua đi nhanh chóng khi cả mấy
cô nháo nhào đi tìm nước và mượn cốc chén của mấy anh chị công nhân ở trong khu
tập thể. Độ mươi phút sau có ai đó bá vai Thơ lôi về phòng thì người tiếp Hằng
đã chuyển giao sang tất cả cho Thơ. Ngay cả khi Hằng chào mọi người ra về thì
sau cả loạt câu chào lại, người tiễn anh vẫn chỉ có một mình Thơ. Suốt chặng đường
về Hằng cứ tự vấn về chuyện mấy hôm trước các cô vô tư là thế mà sao hôm nay cô
nào cô ấy cũng dè dặt giữ ý sao đó không biết, có lẽ họ ngầm thu vén cho Hằng
và Thơ thì phải.
Gần nửa tháng qua Hằng khật
khừ mỏi mệt khác hẳn mọi khi, lúc đầu anh tưởng anh đi làm thêm giờ và thức đêm
nhiều nên mỏi mệt. Cho đến hôm nay thì anh đã nhận ra sự việc không phải vậy mà
chính là căn bệnh sốt rét tưởng đã dứt điểm ở khu an dưỡng nay lại tái phát. Những
cơn rét run ập đến chẳng khác nào phong ba bão táp, mấy anh bạn cùng khóa đã
mang đến ba cái chăn bông chồng lên mà Hằng vẫn cứ run lên bần bật. Những người
chưa gặp sốt rét lần nào thì phát hoảng cả lên lo đưa đi cấp cứu, bộ phận y tế
của phân xưởng thì cũng bế tắc vì trong cơ số thuốc thông thường của họ không
có loại thuốc này. Cũng may cho Hằng là khi rời đoàn an dưỡng anh có xin thêm
được mấy viên phòng số ba màu nâu vẫn để trong cái hộp nhựa đựng thuốc cất ở
trong rương. Mặc dù Hằng đã mang thuốc ra uống rồi nhưng cũng phải có thời gian
nhất định thuốc mới công hiệu. Nghe Hằng bị sốt quá cao lại run bần bật nên nhiều
các anh chị trong phân xưởng đều ghé vào thăm làm cho cả căn phòng gần như đầy
chặt cả người. Ông y tá già của phân xưởng hò hét mãi rằng phải để cho bệnh
nhân thở họ mới chịu ra bớt. Cuối cùng thì căn phòng cũng vắng vẻ vì đã đến giờ
ra nhà máy làm việc, trong nhà chỉ còn vài người có trách nhiệm trông coi Hằng ở
lại.
Lại một cơn rét run nữa
đang kéo tới, lần này có vẻ còn ghê gớm hơn mấy đợt trước đó. Hằng đang kêu mấy
anh bạn trong tổ đắp thêm cho mấy cái chăn nữa thì Thơ vào. Cô đi có một mình từ
nhà máy về rồi vào thẳng nhà Hằng trong bộ áo bảo hộ xanh chéo thường ngày.
Nhìn cô dở muốn đến bên giường của Hằng, dở không dám đến vì sợ mấy anh bạn
trong tổ của Hằng phát hiện ra tình ý của cô nên cô thật lóng ngóng. Một lúc
lâu sau chắc là đã cố gắng trấn tĩnh được nên cô đến ngồi cạnh giường của Hằng
vừa dém lại những cái chăn đang chồng lên đống lên người Hằng vừa lí nhí hỏi
han Hằng về bệnh tật. Cuộc thăm hỏi của Thơ chỉ kết thúc khi chuẩn bị hết giờ
làm việc. Có lẽ cô sợ mấy cô cậu cùng khoá phát hiện ra việc này rồi trêu cợt
nên sau câu chào là cô vội vã rời phòng ở của Hằng...
Một cuộc hẹn gặp như bao
nhiêu cuộc hẹn trong một buổi tối mùa thu êm ả đã xảy ra sau nhiều lần lỡ hẹn.
Hằng đón Thơ ở cổng cơ quan rồi hai người đi dọc con đường xuôi về phía thị xã
Thanh Hoá. Cái thị xã miền Trung này ngày xưa có tiếng là đẹp và rộng rãi chạy
dọc theo con đường quốc lộ số một từ Bắc vào Nam. Cái thị xã một thời là địa
danh oanh liệt nhất trên miền Bắc về chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chống
chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, giờ đây đang hối hả trong thời kỳ xây dựng lại.
Về ban đêm chỉ có đôi chỗ ở trước các cơ quan công quyền trong thị xã có vài ba
cột đèn đường thắp chiếu lệ tạo ra những vầng sáng mờ nhạt. Các địa hình còn lại
thì tối om, tối óp chẳng nhìn thấy gì mỗi khi màn đêm buông xuống.
Bóng tối chẳng giúp gì cho
ai ngoài việc làm cho người ta dễ ngủ để tái tạo lại sức khoẻ sau một ngày lao
động cật lực. Cũng có thể còn nhiều cái lợi nữa nhưng mà cũng chẳng nên kể nhiều
ra thế để làm gì ngoài việc kể ra một tác dụng khá hấp dẫn là nó giúp cho những
người, những việc không muốn bộc lộ, không muốn công khai ví như giúp cho bọn
du thủ, du thực, bọn trộm cắp dễ hoành hành và cho những anh chị muốn qua lại
tình tự với nhau được tự nhiên hơn.
Đã có điều kiện tối trời rồi
nhưng người ta còn muốn vắng vẻ nữa thì mới thật sự tiện lợi. Cũng chính vì thế
nên cặp đôi Hằng và Thơ đã rẽ ngay đầu cầu Hạc đi vào con đê cụt bên trái con
đường quốc lộ. Hình như họ chưa quen thuộc nhau lắm nên suốt dọc đường họ chỉ
nói với nhau rất ít, còn thì cứ đi và đi bên cạnh nhau như vậy. Những câu hỏi
thường là của người con trai, còn người con gái thì trả lời, đa số các câu hỏi
tập trung về hoàn cảnh gia đình là chính. Cũng có lúc người ta chỉ nghe thấy tiếng
cô gái mà không thấy tiếng của chàng trai, đấy là lúc cô kể chuyện về gia đình
cô và kể về bản thân cô. Tất nhiên là chỉ với những nội dung giản đơn thôi chứ
có những điều thuộc về bí mật của cô như đã yêu ai hoặc đã gần gũi với ai thì
chắc là cô chẳng bao giờ nói.
Mỗi người sinh ra, lớn lên
thường phải tiếp xúc với nhiều người, ngoài những người là ruột thịt họ còn phải
tiếp xúc với những người ngoài, phần vì công việc xã hội có liên quan, phần vì
cùng ở chung một chỗ, làm chung trong một công việc. Những quan hệ qua lại hoặc
cùng đi đâu đó trong đồng giới thì chả nói làm gì, thế những với người khác giới
thì tất phải có lý do nào đó. Nói thế để hiểu rằng Hằng và Thơ cũng đã có chút
gì đó cần phải gặp gỡ, cần phải tìm để biết về nhau và điều giải thích sau cùng
là họ đã muốn có nhau.
Con đường đê này không dài lắm nên họ đi chả mấy chốc đã gặp đoạn cuối cùng và
lẽ dĩ nhiên là họ phải quay trở lại. Câu chuyện của họ cần biết về nhau vẫn
chưa nhiều nên họ vẫn chưa muốn ra về và thế là họ đành phải ngồi xuống bên vệ
đường để tiếp tục câu chuyện. Sương đêm đã bắt đầu làm ẩm lớp áo ngoài và cái lạnh
đêm thu đã khiến họ xích gần lại với nhau hơn. Tuy nhiên họ chưa thể có gì gần
gũi hơn được vì từ phía cô gái cái việc quá chủ động là điều không nên xảy ra,
còn phía chàng trai thì cũng luôn phân vân chán chường vì bao nhiêu lần yêu mà
không thành tựu. Họ ngồi như vậy khá lâu rồi cùng đứng lên tiếp tục đi vì từ
phía đầu con đê có hai bóng người cũng đang đi nhanh về phía họ. Cô gái chia
tay với chàng trai cùng với lời hẹn mời chàng trai về thăm quê và gia đình
trong một ngày chủ nhật của tuần sau đó. Cuộc hẹn không thành vì chàng trai bận
đi công tác đột xuất đến gần một tháng. Khi trở lại cơ quan thì số học sinh thực
tập đã kết thúc, số học sinh này hình như đã tốt nghiệp và được bổ sung về các
đơn vị công nghiệp trong tỉnh. Thơ cũng ra đi như các bạn của cô kết thúc những
gì đã xảy ra trong những ngày thực tập.
GIA ĐÌNH
1
Câu chuyện
quan hệ của Hằng và Thơ đã lắng xuống và gần như bị quên hẳn nếu như sau đó mấy
tháng một người bạn không mang về cho Hằng một bức thư dán kín trong một chiếc
phong bì tự làm bằng giấy thếp. Bức thư ghi rõ tên họ người nhận nhưng địa chỉ
thì chỉ ghi là gửi về nhà máy. Cũng may mà anh bạn Hằng nhìn thấy tên họ chứ
không thì thư không biết sẽ đi về đâu vì trong nhà máy có đến hàng chục người
cùng tên Hằng, biết của Hằng nào mà chuyển đến.
Bức thư người bạn mang về cho Hằng nét chữ không quen lắm, nhưng có một điều chắc
chắn đây là thư của con gái, nét chữ khá nắn nót cho thấy người viết thư rất cẩn
thận đồng thời có ý muốn người đọc thư hiểu được tình cảm hết sức trang trọng của
người viết. Khó có thể đoán được đây là thư của ai khi chưa mở thư ra, trong
khi đó thì mấy cậu bạn cứ hỏi quáng lên và còn muốn giằng lấy để bóc ra ngay,
làm cho Hằng cũng sốt ruột. Tuy vậy anh vẫn giấu kỹ được vào trong người rồi đi
về phòng của mình.
Cũng chẳng cần dao kéo làm gì cho phiền phức Hằng dùng móng tay lựa theo mép bì
thư để xé ra cho đỡ rách các tờ bên trong. Đến khi hai tờ thư được lôi ra thì Hằng
mới biết đây là thư của Thơ. Anh lặng lẽ đọc những dòng mực màu xanh trên nền
giấy trắng. Sau khi đọc xong lá thư Hằng đọc tiếp sang tờ thứ hai, mới đầu anh
chẳng hiểu cô ấy nói gì, mãi đến khi đọc được gần một nửa anh mới nhận ra đây
là một bài thơ, đương nhiên có thể gọi là thơ vì nhiều câu có vần điệu tuy
không phải là hay về mặt nghệ thuật nhưng có thể nói rằng bài thơ là chứng tích
của sự xúc cảm, tựa như có một lúc nào đấy niềm vui tràn ngập ta tự thốt ra lời.
Lá thư của Thơ dường như một tiếng nói nhẹ nhàng gợi lại một thời gian đã qua,
nó như tiếng ngân của chiếc đồng hồ báo thức, đánh động cho Hằng nhớ về một người
mà anh đã từng có sự tiếp xúc và từng quen biết, không phải là vô cớ. Lá thư
cũng như là một tờ thông điệp báo tin về cô ấy cùng với những công việc và nơi
cô ấy đang ở. Những tin tức đó đâu phải là ngẫu nhiên mà nó chính là cái ý muốn
nói rằng tôi đang ở đó và anh có thể đến với tôi.
Đọc thư xong Hằng còn đang hồi tưởng lại những lần gặp gỡ với Thơ trước đó thì
nhóm bạn đã ăn cơm chiều xong đang ồn ào kéo tới. Tất nhiên là trong lúc ăn cơm
đám bạn này đã đoán già đoán non nhiều về tác giả lá thư nhưng chưa ai cầm chắc
cho nhận định của mình nên đến tận cửa phòng vẫn có cậu cố cãi chưa chịu nhau.
Vi vẫn là người nhạy cảm nhất trong bọn đã phán xanh rờn rằng đấy nhất định là
thư của mấy cô thực tập rồi, nhưng là ai thì cậu ấy còn lưỡng lự giữa hai cô
gái mà cậu ấy đang lấy ý tứ của mình ra mà chọn. Tất nhiên đến lúc này thì Vi
cũng chẳng cần dự đoán làm gì vì dứt khoát Hằng phải báo cáo tình hình rồi.
Thế rồi cũng chẳng cần Hằng có đồng ý hay không lá thư đã được đọc cho cả hội đồng
nghe. Cùng với giọng đọc khá hài hước là những nhận xét khá lý thú về cuộc dự
đoán lúc trước của cả đám bạn. Lá thư vừa mới đọc đến chỗ Thơ nói về nơi làm việc
của cô ấy thì Chinh đã reo lên:
- Rồi, rồi...cứ về với tớ là đâu vào đấy tất.
- Về với cậu là thế nào?
- Chỗ ấy gần nhà tớ mà, chỉ một đoạn là tới.
Đến giờ mọi người mới hiểu ra những điều Chinh vừa nói. Thì ra là Chinh bảo nếu
có đến thăm Thơ thì đi với cậu ấy vì nơi Thơ đóng quân là hội trường huyện Hoằng
Hoá ở thị trấn Bút Sơn ngay quê của Chinh.
Thế là một cuộc bàn kế hoạch để cho Hằng đến thăm Thơ lại được nhóm bạn đặt ra.
Tất nhiên là nhiều ý kiến nhưng cuối cùng thì các bạn cũng tán thành cho Hằng
đi thăm Thơ vào chiều thứ bấy tuần tới. Xe thì lấy của Đại, rồi đi cùng với
Chinh về Bút Sơn, chỉ tiếp xúc với đối tượng ở cơ quan còn tối thì về nhà Chinh
ngủ, sáng thứ hai lại đi cùng với Chinh về đơn vị...
Cuối cùng thì Hằng cũng phải chấp hành “nghị quyết” của bạn bè đi gặp Thơ để
“triển khai” tiếp mối quan hệ đã gián đoạn từ mấy tháng trước. Quãng đường từ
Hàm Rồng xuống Bút Sơn cũng không xa lắm nên chỉ độ ba mươi phút là Hằng đã tìm
đến hội trường uỷ ban huyện Hoằng Hoá. Đêm ấy Hằng ở lại với những người công
nhân trong đội xây lắp điện của Thơ. Cũng không ít người trong đội đã có chồng,
có vợ nên họ cũng mừng cho Thơ và cố tạo điều kiện cho hai người có thời gian
tâm sự. Hằng chia tay Thơ vào cuối ngày chủ nhật cùng với lời hẹn sẽ về thăm
nhà Thơ thay cho lần lỡ hẹn mấy tháng trước đó.
2
Đường về nhà Thơ cũng không
xa lắm và hầu hết đều là đường ô tô nên cũng thuận tiện. Qua cầu Quán Nam ở cuối
thị xã chỉ một đoạn ngắn là đã đến đường rẽ về Nông Cống. Đoạn đường tiếp theo
chính là con đường đá được mở rộng từ thời chiến tranh trước đó. Những chuyến
xe tải trọng mươi mười lăm tấn vận tải lâm sản từ các vùng rừng núi về đã làm
cho lớp đã bong lên và nằm lổn nhổn trên đường. Người đi bộ, đi xe đạp chỉ có
thể dựa vào lối mòn hai bên để mà đi. Lúc một lại có những chuyến xe ô tô đi
qua cuốn theo cả một quầng bụi kéo dài đến hàng nửa cây số làm cho người
đi đường phải nhắm mắt, nhắm mũi để tránh bụi. Nếu không có những trận mưa thỉnh
thoảng xuất hiện thì có lẽ những mái nhà, cành cây hai bên đường phủ đầy đất đỏ.
Chiếc xe đạp như con ngựa vía láng đi, láng lại để tránh những hòn đá mồ côi thỉnh
thoảng mọc lên ở giữa lối mòn cũng không làm cho cặp trai gái nọ khó chịu. Công
việc của họ cần chính là việc phải vượt qua con đường ấy mới có thể về được đến
nhà. Mặc dù mệt nhoài cả người trên quãng đường đầy bụi, đầy đá Hằng vẫn không
quên dự tính cho mình những tình huống khi gặp người nhà của Thơ. Anh nghĩ ra
khá nhiều phương án để đối phó với những tình huống có thể xảy ra khi gặp người
nhà của Thơ, ví dụ anh sẽ chào thế nào với bố mẹ, ông bà của Thơ. Biết đâu lúc
đó có thể gặp một vài người khá tinh quái họ có thể sẽ hỏi về quan hệ cụ thể của
anh và Thơ và cùng với nhiều câu hỏi khác hóc búa hơn nữa, mà anh không thể
không trả lời vì người đó lạ là cô gì chú bác của Thơ. Tuy nhiên anh cũng tự
tin vào mình vì anh cũng đã trải qua khá nhiều tình huống của giao tiếp hàng
ngày cùng với sự giao tiếp của anh trong những lần gặp gỡ người nhà của những
người bạn mà anh đã quan hệ trước đó.
Còn đang suy nghĩ lung tung
mọi việc thì anh nghe Thơ bảo đã đến đường rẽ vào làng. Ngõ nhà Thơ là một đoạn
đường đất không rộng lắm, có lẽ chỉ vừa cho hai người tránh nhau. Hai bên đường
trồng toàn những cây ô rô, cây ruối làm hàng rào ngăn nhà với đường. Làng quê của
Thơ cũng giống như bao làng quê khác mà anh đã từng gặp, từng qua trong những
năm còn trong quân ngũ. Còn đang lúng túng với chiếc xe đạp bị kẹt phanh thì Hằng
chợt nhìn thấy ngay đầu ngõ trước mặt có một người đàn ông khá trẻ mặc quần đùi
áo cộc đang tập trung vào việc dọn dẹp rơm rác, cây que ngay trước cổng. Hằng
đoán đây là những người có nhà ở cùng ngõ của nhà Thơ. Anh nghĩ đã là hàng xóm
của gia đình nhà Thơ thì mình cũng nên có sự chào hỏi thân thiện để nhận được sự
cảm mến ban đầu. Anh nghĩ ở độ tuổi này cũng không còn trẻ nhưng cũng chưa già,
mình nên chào là anh cho thân mật. Vừa định cất tiếng chào thì đã nghe Thơ cất
tiếng chào trước:
- Bố về hôm qua ạ!
Hằng thật sự giật mình tự
nghĩ trong bụng “thật là may cho mình, là cô ấy đã chào trước.” khi nghe Thơ
chào người đó là bố, Hằng cũng chuyển ngay sang câu chào khác:
- Cháu chào chú!
Ông bố của Thơ vừa bị đánh
động bằng câu chào của con gái chợt ngẩng đầu lên và ông cũng ngạc nhiên không
kém khi nhận ra đi cùng con gái mình còn có một chàng trai lạ mặt. Ông đứng im
mất một lúc rồi mới mời chàng trai vào nhà.
Những câu chuyện thân mật
giữa Hằng với mọi người trong gia đình của Thơ ngay sau đó cứ kéo dài hết
đề tài này sang đề tài khác. Hỏi han nhiều hơn cả về gia đình của Hằng vẫn là
ông nội của Thơ. Hằng cũng đã thoáng thấy có nhiều những đôi mắt của những người
làng từ một góc khuất nào đó nhìn vào anh. Có lẽ họ muốn xem cái chàng trai mà
Thơ mang về có khá hơn bọn trai làng hay không, hoặc khả dĩ họ có thể tìm ra một
vài đặc điểm nào đó để cân lên đặt xuống về sự lựa chọn bạn của Thơ khi cô rời
nhà đi thoát ly ra ngoài làng, ngoài xóm. Cho đến lúc hai người xin phép rời
gia đình để về đơn vị thì chiều đã muộn.
Hằng và Thơ ra đến Hàm Rồng
thì trời đã tối đã khá lâu, cho dù có muốn đi ngay về Bút Sơn thì Thơ cũng
không làm sao có thể đi được nữa, hai người đành về khu tập thể của Hằng tìm chỗ
cho Thơ nghỉ lại. Số phòng ở tập thể hầu hết đều khóa kín cả vì số anh em quê
Thanh Hoá đều về nhà chưa lên. Hai phòng còn lại thì chỉ có phòng của Hằng và Đại
là có hai người, phòng đầu cùng thì lại là phòng đặc biệt giành cho y tế của
phân xưởng vừa ở vừa cất giữ thuốc men. Cuối cùng thì Đại phải sơ tán sang
phòng đầu nằm chung với y tế để Hằng và Thơ ngủ lại phòng của hai người.
Đi lại cả ngày như thế chắc
hẳn ai cũng mỏi mệt dễ chừng họ sẽ ngủ ngay nhưng Hằng và Thơ hình như chẳng biết
mỏi mệt là gì, họ đang bận nói chuyện về buổi thăm quê Thơ sáng nay. Có lẽ còn
có những chuyện gì quan trọng nữa nên thoảng hoặc họ vẫn còn nghe thấy từng đoạn
đối thoại ngắn của hai người. Có lẽ phải đến hơn hai giờ sau phòng của họ cũng
đã tắt đèn. Đêm trôi đi nhè nhẹ như mọi khi cùng với tiếng côn trùng rỉ rả bốn
xung quanh ngôi nhà tập thể. Không gian có lẽ sẽ hoàn toàn yên tĩnh nếu như từ
đồi cây phía sau nhà không thỉnh thoảng cất lên những tiếng lục khục do các
cành va vào nhau khi gặp gió.
3
Cũng chỉ còn hai tháng nữa
là đến tết âm lịch, thế mà mẹ Hằng vẫn phải nằm viện. Cụ già đi và gày guộc
trông thật đáng ngại. Những điều cụ thường xuyên nói với Hằng vẫn là giục cậu
xây dựng gia đình để nếu cụ có mệnh hệ nào thì cũng đã biết mặt con dâu của cụ.
Hằng không vội sao được khi thấy mẹ mình nói đã đến điều. Nghĩ đến việc này anh
lại sốt ruột vì đã gần hai tuần qua vẫn không nhận được tin tức gì của Phương.
Tín hiệu gần nhất mà anh nhận được qua một người bạn thì hầu như tình hình quan
hệ của Hằng và Phương vẫn bế tắc và vô hy vọng.Việc anh sẽ phải làm gì trong
hoàn cảnh hiện nay thật khó có thể rành rẽ được. Tình cảnh của Phương, sự nhiệt
thành của Thơ? Đành rằng anh vẫn chưa một lần nói với Thơ về tình cảm của anh,
nhưng anh nghĩ dẫu sao anh cũng đã gieo vào lòng cô gái này sự hy vọng nào đó.
Anh vừa có ý lên án mình vì đã có sự quyết tâm nhưng lại không thật mãnh liệt lắm
trong việc thuyết phục Phương theo anh vào Thanh Hoá, thậm chí anh còn có ý
nghĩ tìm cô gái khác để thay Phương. Cái giận từ gia đình Mận, gia đình Phương
đã làm anh không còn tỉnh táo được hơn. Bao lời đàm tiếu của những người trong
xóm, ngoài làng khiến anh buồn và đã có lúc nghĩ đến việc trả thù đời. Điều này
cũng không thể đổ hết cho anh được khi anh cũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé trong
cái xã hội loài người, anh đâu có là vĩ nhân, là thần thánh. Sau khi đã nghĩ
đi, nghĩ lại không biết bao nhiêu lần về việc này, anh đã quyết định xuống Bút
Sơn để gặp Thơ.
Hằng xuống Bút Sơn rồi hỏi
thăm vào đến hội trường Uỷ ban huyện Hoằng Hoá vào khoảng gần chín giờ sáng. Hội
trường vắng vẻ quá làm anh chột dạ, anh nghĩ nhóm thợ của xí nghiệp lắp điện có
lẽ đã di chuyển, tuy vậy anh vẫn cứ vào xem thế nào. Thật may mắn là nhóm thợ vẫn
còn ở đấy nhưng Thơ thì lại đi dự đám cưới vắng nhà. Sau khi nói chuyện với mấy
người phụ nữ cùng làm với Thơ một lúc thì anh đứng dậy ra về. Giữ anh ở lại mãi
không được, hai người phụ nữ đành bảo anh nên đi về theo con đường lớn hướng
nam để may ra có thể gặp cô ấy trên đường về.
Hằng cũng chẳng tin lắm vào
lời của hai cô phụ nữ ấy nhưng anh cũng đi về theo con đường mà họ đã dặn. Vừa
đi anh vừa nghĩ có lẽ số phận vẫn chưa muốn cho anh có gia đình, thôi thì đành
vậy. Có lẽ anh sẽ không yêu ai nữa trong vòng mấy năm tới để tập trung vào việc
tiếp tục học văn hoá. Cũng đành mắc lỗi với người mẹ già nua hết một đời gian
nan vất vả vì chồng, vì con, vì cháu, vì mình. Từ lâu anh đã hiểu về cuộc đời của
mẹ gian nan thế nào, cực khổ thế nào từ tấm bé cho đến lúc về già qua những
câu chuyện bà kể cho mấy chị em nghe trong những đêm đông giá rét. Chỉ còn một
đoạn ngắn nữa là đã đến con đường rẽ, anh sẽ quay về Hàm Rồng và quyết thực hiện
những điều anh đã tâm niệm. Có lẽ anh cũng không có duyên với Thơ như lâu nay
anh vẫn nghĩ.
Anh vòng tay lái theo đường
rẽ và nhìn lần cuối về hướng con đường đi từ Sầm Sơn về Hoằng Hoá. Từ phía xa lắc
xa lơ Hằng chợt như thấy có một người đang đi lại phía mình. Anh dừng lại như
có ý chờ đợi nhưng cũng không hy vọng lắm về sự ngẫu nhiên của anh và Thơ. Gần
mười phút trôi qua, bóng người ngày càng rõ ràng hơn, Hằng đã nhận ra người đi
đó là một cô gái khá trẻ, mặc một cái áo vét ka ki màu đất tay xách một cái túi
nhỏ. Hằng thất vọng đang chuẩn bị đạp xe đi thì cô gái ngước mắt nhìn lên. Hằng
thật là bất ngờ vì khuôn mặt quá quen thuộc, người ấy lại chính là Thơ. Hai người
chào hỏi nhau xong liền quay lại uỷ ban huyện. Mấy người bạn dường như cũng ngỡ
ngàng và mừng cho hai người vì đã gặp được nhau.
Suốt dọc đoạn đường quay trở
lại Hằng cứ luẩn quẩn trong đầu về sự gặp gỡ ngẫu nhiên vừa xảy ra. Anh tự hỏi
không biết có phải đây là số phận hay không mà sao cái hy vọng mỏng manh như vậy
vẫn đến. Cuối cùng thì anh cũng quyết định sẽ tiếp tục với cái kế hoạch mà anh
đã trù tính mấy hôm nay. Cũng chẳng màu mè gì nhiều, anh bình tĩnh nói với Thơ
về dự định của mình bằng những lời chẳng lấy gì làm văn hoa cho lắm. Cũng chẳng
phải chờ đợi lâu la gì anh đã nhận được sự đồng ý của Thơ ngay trong lúc hai
người trên đường quay lại hội trường uỷ ban huyện Hoằng Hoá...
Sáng nay Hằng và Thơ đưa
nhau về Côn Sơn để hỏi ý kiến gia đình của Thơ về việc xin tổ chức cưới. Hằng
cũng lo lắng rất nhiều chuyện nhưng rồi mọi sự cũng qua đi nhanh chóng. Cũng
không hiểu sao hôm nay Hằng lại bình tĩnh đến thế. Những nội dung đề xuất của
anh đã được nói ra thật rành rẽ. Từ việc gia đình neo đơn không có người lớn
vào gặp đến hỏi ý kiến về các thủ tục cưới hỏi. Ông nội của Thơ vẫn là người tiếp
chuyện anh, lần gặp này dễ dãi và thân tình hơn rất nhiều. Cụ băn khoăn lắm mới
nói ra được yêu cầu của nhà gái:
- Công việc này cháu cứ yên
tâm, ông đã đồng ý thì bố nó cũng tán thành, có điều các cháu vẫn phải xuống chỗ
bố nó công tác để nói cho bố nó biết.
Hằng cũng sẵn sàng tiếp nhận
yêu cầu một cách vui vẻ:
- Chúng cháu sẽ xuống ngay
chiều nay ạ!
- Các cháu cứ xuống sớm cho
bố nó mừng, còn việc tổ chức thì cũng phải chu đáo để cho làng họ khỏi chê. Lâu
nay mình cũng đã ăn của người ta khá nhiều rồi, cái Thơ lại là con đầu cháu sớm
nên không thể sơ sài được.
- Ông cứ cho cháu biết cụ
thể để cháu chuẩn bị.
- Thế này cháu ạ! Mày cứ
cho tao một tút thuốc lá, với một ngàn cau là được, còn trầu, chè thì tao bảo mẹ
nó sang chợ mua mấy nón là xong.
Chưa nghe dứt chữ xong Hằng
đã phát hoảng lên vì những yêu cầu của ông nội Thơ. Một tút thuốc lá thì chả có
khó gì nhưng một ngàn cau thì anh sao có thể lo nổi. Mấy hôm trước anh nghe ai
nói cau năm nay mất mùa, mỗi quả cau gần bằng bao thuốc lá chứ có rẻ đâu. Vừa
thầm tính toán anh vừa nghĩ: có lẽ mình phải hoãn lại vì không thể lo nổi số lượng
cau khủng khiếp kia. Nghĩ sao nói vậy, anh vừa định cất lời thì ông cụ lại nói
tiếp:
- Ông thấy ngoài cửa hàng tổng
hợp họ có cau của miền Nam đấy. Cũng chỉ độ một cân là đủ cháu ạ!
Lúc nãy Hằng phát hoảng bao
nhiêu thì bây giờ anh mừng bấy nhiêu. Anh không ngờ, quê Thơ lại có tục chia
quà cưới bằng cau khô. Thế là hai người ra cửa hàng mua hẳn hai cân cau khô và
một tút thuốc lá Lạch Trường mang về cho ông cụ.
Hằng và Thơ xuống đến khu
an dưỡng của bộ công an ở Sầm Sơn có lẽ cũng vào khoảng hơn một giờ chiều. Đây
chính là nơi ông bố của Thơ làm việc, ông là một trong bốn vị lãnh đạo của đoàn
an dưỡng. Hằng vừa đánh tiếng hỏi thăm một đồng chí chiến sĩ của đoàn thì anh
ta đã chạy ngay đi để báo tin.
Hằng đang tính trong đầu
xem mình nên mở đầu câu chuyện ra sao thì ông cụ đã đến ngay sau lưng. Vừa nghe
Thơ cất tiếng chào bố anh liền giật mình quay lại thì đã nghe ông cụ hỏi:
- Các con chưa ăn cơm phải
không? Để tao bảo mấy cậu cảnh vệ lấy cơm xuống ăn cho đỡ đói.
Vừa dứt lời xong thì ông
cũng nhón chân quay đi chẳng cần nghe Hằng có chào hỏi hay không. Đang còn lúng
túng không biết chào hỏi nói năng ra sao thì ông cụ lại đã đi ngay làm cho Hằng
gần như mở cờ trong bụng vì có thêm thời gian để mà chuẩn bị. Có một điều thật
sự may mắn là ông cụ đã nhanh chóng đánh tiếng trước, hơn nữa trong câu nói của
ông không biết vô tình hay cố ý đưa vào cặp từ “các con” làm cho không khí dường
như đã rất thân tình, tựa như là ông đã nói cho Hằng biết ông đã thừa nhận sự
quan hệ của anh với con gái ông ngoài ra ông còn có ý muốn bảo rằng: “chàng
trai ơi, cậu đừng ngại gì cả, hãy nói chuyện với tôi theo mối quan hệ như cậu
đang nghĩ là được”. Đó là Hằng tự suy luận ra thế chứ thực tế có phải là thế
hay không thì anh cũng chẳng biết được. Biết đâu ông cụ cũng có phần lúng túng
khi mình chưa đến năm mươi đã có một người sắp xưng là con, gọi mình là bố khi
anh ta cũng chỉ kém mình mười lăm, mười bảy tuổi là cùng. Thôi thì dù thế nào
thì bằng sự mở đầu như vậy cũng đã tạo ra những thuận lợi cho cả hai người.
Đang còn suy nghĩ lan man quanh chủ đề ấy thì mấy anh cảnh vệ đã mang cơm và thức
ăn đến mời Hằng và Thơ vào ăn cơm. Hằng và Thơ cảm ơn mấy anh cảnh vệ rồi cầm
đũa ăn cơm ngay tại phòng ăn của đoàn an dưỡng
Hình như các đồng chí trong
đơn vị của ông cụ cũng không muốn làm hai người mất tự nhiên nên họ cũng ít qua
lại thành ra Hằng và Thơ ăn uống tự nhiên hơn. Hằng và Thơ ăn xong đang xếp bát
đũa lại thì một anh trong đơn vị đã đến giúp mang đi. Đến lúc này thì một số
anh khác mới đến hỏi chuyện hai người. Vốn dĩ Hằng là người đã tiếp xúc với khá
nhiều người trong xã hội, lại quen với công tác tập thể nên anh nhanh chóng
bình tĩnh trở lại. Anh thẳng thắn nói chuyện với những người lính trong đơn vị
một cách thật tự nhiên. Anh cũng không giấu giếm mục đích của mình khi xuống
đây để gặp ông bố của Thơ. Có một chú khá nhiều tuổi hỏi thăm về công tác của Hằng,
anh cũng không ngại gì khi nói mình vốn cũng đã là lính chiến ở chiến trường
ra.
Câu chuyện nhanh chóng kết
thúc khi ông bố của Thơ từ trên nhà khách đi xuống để gặp hai người. Ông tự
mình kéo một chiếc ghế ở bàn bên để ngồi cạnh hai người rồi từ tốn nói chuyện:
- Hôm nay đơn vị liên hoan
tổng kết năm nên cỗ bàn khá chu đáo, đơn vị cũng vừa mới ăn xong lúc các con đến.
Bố bận chào khách mất một lúc nữa, nên bây giờ mới xuống được!
Đến lúc này thì Hằng đã thật
sự bình tĩnh, anh nhẹ nhàng nói chuyện cùng ông cụ:
- Chúng con vừa vào trong
quê xin ý kiến bố mẹ và ông bà cho phép chúng con được tổ chức đám cưới trong
thời gian tới. Ông bảo chúng con xuống đơn vị gặp bố để bố hướng dẫn mọi việc.
- Ông bảo làm thế nào thì
các con cứ làm như thế là được. Chỉ nên tổ chức theo đời sống mới, chứ cũng
không nên bày vẽ làm gì để đoàn thể người ta phê bình...
Dừng một lúc dường như để
suy nghĩ tiếp điều gì đó rồi ông lại nói tiếp:
- Các con nên tổ chức ở đơn
vị. Bố sẽ nhờ một ông bác ra đại diện gia đình là xong. Nhà mình hoàn cảnh khó
khăn, bố cũng không cho đơn vị biết để tránh chuyện mừng mọt, ăn uống tốn kém.
Hằng lặng lẽ nghe ông cụ
nói rồi vâng nhẹ sau mỗi lần ông cụ dứt câu, cuối cùng thì anh chẳng nói được
gì thêm sau câu mở đầu lúc nãy. Hằng không ngờ anh lại có ông bố vợ thật là dễ
tính. Tác phong của ông thật giản dị và thân tình. Ông gặp gỡ nhanh, nói chuyện
nhanh và kết thúc cũng thật nhanh bằng sự giục giã:
- Mọi việc cứ như thế là được,
đã có ông bà và mẹ các con ở nhà lo lắng, bố bận ra Hà Nội họp chắc không về được
đâu, thôi các con về nhanh kẻo tối...
Chiều hai mươi tháng giêng
Hằng và Thơ đem giấy tờ về quê của Thơ để làm thủ tục kết hôn. Cán bộ uỷ ban xã
lại có họ với gia đình của Thơ nên ông ấy đưa cả tờ khai và giấy đăng ký kết
hôn cho hai người mà chẳng cần đợi một tuần như quy định lúc bấy giờ. Khi cầm tờ
giấy kết hôn trên tay cả Hằng và Thơ đều cảm thấy rất ngỡ ngàng, họ ngỡ ngàng
vì một điều hết sức mới mẻ đó là giờ đây họ đã là một gia đình, họ đã thành chồng
thành vợ một cách nhanh chóng đến không ngờ được.
Thứ Hai, 7
tháng 7, 2014
4
Đám cưới của Hằng và Thơ được tổ chức theo đời sống mới đúng như lời dặn của
ông bố. Phía nhà trai có anh cả vào đại diện, bên nhà gái thì có một ông bác họ
và cậu em trai của Thơ ra dự lễ. Cứ tưởng tổ chức cưới theo đời sống mới như thế
thì đơn giản, nhưng thực tế lại chẳng đơn giản chút nào. Đâu là lo tổ chức lễ
cưới ở cơ quan của Hằng, báo hỷ ở cơ quan của Thơ, rồi còn phải về quê báo cáo
với làng xóm họ hàng nữa chứ, thành ra đám cưới phải mất bốn lần tổ chức. Cứ mỗi
lần nghĩ đến ngày cưới trong lòng lại vừa vui, vừa buồn không sao tả nổi.
Không biết có phải do tình
yêu hay do cái gì khác nữa mà hai con người ấy cứ lặng lẽ cùng nhau lo toan,
cùng nhau cố gắng làm mọi việc mà chẳng một lời phàn nàn, cho dù có bao nhiêu sự
khó khăn, cản trở tưởng như không vượt qua được. Để chuẩn bị cho cái tổ ấm bé
nhỏ của mình, cả hai ngưòi đều đã xoay như chong chóng với bao nhiêu công việc.
Lúc thì nhờ cậy bạn bè cố mua lấy một cái ruột chăn bông tiết kiệm, lúc thì gom
phiếu để sắm lấy cái vỏ chăn, cho dù chỉ là mấy mét vải xanh chéo xù lông ngoài
cửa hàng tổng hợp. Khó khăn nhất là việc phải báo cáo công đoàn giúp cho vài chục
gói chè hạng bét và vài chục bao thuốc lá cũng chẳng lấy gì làm ngon lắm, rồi
thì xuống chợ mua từng quả trứng, để dành ít cân bột mỳ, tiết kiệm mấy tháng đường
tiêu chuẩn thuê làm hơn chục cân bánh Bích quy để chia cho trẻ nhỏ trong cơ
quan lúc tổ chức cưới, bởi chú rể còn là cán bộ đoàn kiêm phụ trách các cháu
thiếu nhi trong đơn vị.
Nói về hoàn cảnh của đôi
trai gái này thì còn nhiều chuyện khá là khác người hơn nữa. Đã sắp thành một
gia đình rồi mà họ chưa có một chỗ nào để mà nương thân trong một vài ngày để
mà xếp đặt, để mà sắm sửa. Của cải, tài sản thì mỗi anh chị một ba lô, một túi.
Cái xe đạp để lo chạy việc cưới xin, Hằng cũng phải mượn của anh cả. Ngay cả quần
áo cưới Hằng và Thơ cũng không có tiền, không có tem phiếu vải để mà may. Giường
cưới là giường cá nhân của Hằng do tập thể cấp, buồng cưới thì chính là phòng ở
của khu tập thể mà các bạn phải đi ngủ nhờ phòng khác để nhường cho. Bữa cơm tổ
chức ở nhà gái cho dù chỉ có vài mâm người nhà, bữa cơm thân mật ở cơ quan cũng
chỉ mời được mấy người trong tổ của Hằng và người nhà của hai bên vào dự cưới,
nhưng cũng đâu có dễ dàng gì khi cả hai người đều chưa có một đồng xu tích luỹ
nào trong túi. Có điều may mắn là Hằng và Thơ có được một bức ảnh đen trắng chụp
chung làm kỷ niệm trước ngày cưới mấy hôm.
Nói đến viêc tổ chức buổi lễ
cưới của họ lại càng có nhiều chuyện khá lộn xộn đáng để mà nhớ mãi. Trước tiên
là sự nhiệt thành của mấy anh bạn cùng khoá trong việc chuẩn bị khu nhà ăn tập
thể làm phòng cưới sớm quá làm cho sáu, bảy chục người cứ phải mang cơm ra ăn ở
ngoài bãi cỏ. Đến việc trang trí thì đi mượn mãi mới được cái lọ đựng hoa tốt tốt
một tý, chả hiểu thế nào các cậu ấy lại để rơi vỡ mất. Cứ ngỡ rằng đám cưới
của hai người sẽ có thêm tiết mục ca hát nhờ cái đài băng kèm theo cả bộ micro
của một người bạn đi Nga về để cho các đại biểu nói cho to, cho lịch sự, nào ngờ
nó cũng bị vướng vào khăn, màn gì đó rồi rơi xuống nền gạch không sử dụng được
nữa. Tất nhiên là lúc tổ chức xong cả nửa tháng sau Hằng nghe lén mới biết rõ sự
tình chứ lúc cưới thì cả Hằng và Thơ đều không ai biết.
Những người bạn thân thiết
của Hằng không biết đã bàn bạc với nhau thế nào mà họ đã giấu quá kín tất cả mọi
sự, họ muốn tự giải quyết mọi việc mà không muốn cho Hằng và Thơ buồn. Có điều
những sự đổ vỡ ấy đã làm hỏng đi những đồ vật quá tốt, quá hiếm làm cho chủ
nhân của những món đồ ấy quá thiệt thòi. Thực ra nếu các bạn có nói cho Hằng biết
thì Hằng cũng chả biết kiếm đâu ra những đồ dùng quý hiếm cả ngàn người mới có
một cái ấy để mà trả lại.
5
Cuộc sống
gia đình của đôi vợ chồng trẻ hầu như chưa khi nào ổn định vì Thơ luôn phải
theo tổ sản xuất của mình đi hết nơi này đến nơi khác. Chỉ trong sáu tháng thôi
mà Thơ đã phải đi đến ba cơ sở. Chưa kịp hoàn thành việc lắp điện cho trụ sở
huyện Hoằng Hoá đã phải về lắp điện cho Xí nghiệp Động Lực, mới xong nửa công
trình ở Xí nghiệp Động Lực đã lại lắp điện cho Nhà máy cơ khí của tỉnh. Công việc
của những đơn vị xây lắp vốn dĩ vẫn là vậy. Phần nhiều công nhân của họ đều ở
các công trường, thoảng hoặc lắm mới về trụ sở của xí nghiệp ở Nhồi họp hành độ
nửa buổi rồi lại ra đi.
Cũng may là các công trường
chỉ loanh quanh khu vực thị xã nên vợ chồng Thơ có thể ở cùng nhau, cho dù nơi ở
của hai người chỉ là mấy mét vuông lợp tranh nứa và thưng bằng những tấm cót mỏng
dính mà xí nghiệp làm tạm thời bằng kinh phí lán trại. Với điều kiện như thế
nên tất cả các gia đình kể cả những người đã cưới nhau đến hơn mười năm cũng chẳng
sắm sửa được thứ gì, ngoài mấy cái túi du lịch bằng vải bạt hoặc cái rương con
bằng gỗ bán ngoài chợ mỏng tang sơn đỏ loe, đỏ loét để đựng mươi bộ quần áo và
các đồ lặt vặt. Tuy đơn sơ vậy nhưng chẳng ai cảm thấy phiền lòng vì mọi người
ai cũng như vậy cả.
Từ đầu tuần Hằng được nghỉ bù mấy ngày sau gần một tháng đại tu lò máy. Hai hôm
trước Hằng đi lang thang các nơi quanh thị xã tìm mua vài ba thứ phụ tùng còn
thiếu lắp ráp cho xong cái xe đạp. Chiếc xe mượn của anh cả để lo chạy công việc
cưới cũng đã đến lúc phải đem trả vì thời gian cũng đã quá lâu. Cho dù anh cả bảo
cứ để dùng bao giờ trả cũng được, nhưng Hằng cũng chẳng yên tâm vì anh biết chị
dâu và các cháu ở nhà cũng cần cho công việc sản xuất hàng ngày.
Sớm nay anh tranh thủ ra
phân xưởng để nhờ gia công vài thứ phụ tùng không thấy bán ở ngoài chợ. Còn
đang mải mê cưa cắt, gò uốn ở bàn cơ khí thì nghe tiếng Đại gọi ở ngoài cổng gọi
vào. Mặc dù đã Nghe thấy tiếng Đại gọi hối hả nhưng Hằng cũng chỉ ngước nhìn
lên rồi lại cúi xuống, cứ thế anh nói ngược trở ra :
- Có gì cứ nói đi, tớ đang
dở tay một tý, với lại tay tớ bẩn lắm.
- Cứ bỏ đấy đã, việc này
quan trọng lắm không phán bừa ra được.
Nghe vậy Hằng miễn cưỡng để
mọi thứ xuống mặt bàn nguội rồi lững thững đi ra. Vừa đi Hằng vừa nhìn vào mặt
Đại, anh ngạc nhiên khi thấy hình như hôm nay Đại khác hẳn mọi ngày.
- Có gì mà phải bí mật thế
?
- Thì cứ đến tận nơi đã.
- Lại sự cố ở đâu đó cần phải
đi làm chứ gì ?
Đại không trả lời câu hỏi của
Hằng mà ghé sát vào tai Hằng để nói :
- Tao vừa mới ở trên nhà
máy về... Lần này nhà máy được cung cấp ba cái xe đạp, tao đã đề xuất phân cho
mày một cái, về chuẩn bị tiền đi, mai lên trên ấy lấy giấy để đi mua.
- Thế sao không mang về
ngay lại để ở trên ấy làm gì ?
- Mang cũng được nhưng ngại
người ta lại bảo cảm tình bạn bè, không khách quan... Mà này, cũng đừng nói cho
ai biết đấy nhé. Có đến hàng trăm người thừa tiêu chuẩn hơn cả mày, họ mà thắc
mắc là dễ hỏng đấy. Tao phải viện cớ lúc mày đi bộ đội mày đã nhường tiêu chuẩn
lại, giờ chỉ là cấp bù tiêu chuẩn thế là họ mới xuôi cho đấy.
Không được phân xe dĩ nhiên
là rất khó khăn rồi, vì mua xe ngoài thì quá đắt và còn phiền hà hơn là việc
làm giấy, làm tờ để đăng ký. Nhưng mà được phân xe thì một lúc không biết lấy
tiền đâu cho đủ để mà mua. Lương tháng của cả hai vợ chồng Hằng cũng không nhiều
lắm, nhất là việc đi lại lưu động nên chả dư rãi gì. Thế rồi hai vợ chồng vay mỗi
chỗ một ít cũng được ba trăm đồng bạc để đi lấy xe.
Cũng may cửa hàng kim khí
hoá chất chuyên bán xe cung cấp ngày trước sơ tán lên vùng chợ Dủn thuộc huyện
Đông Sơn nay đã về trung tâm thị xã nên chưa đến nửa giờ Hằng đã mua được
xe mang về. Nhìn cái xe đạp mới thật thích mắt, đâu là đôi vành mạ kền sáng
bóng, màu sơn xanh biếc cùng với hàng chữ Thống Nhất viết hoa trên gióng khung
sao mà nét đến thế. Có một điều rất đặc biệt mà lúc đó Hằng chưa biết là
chiếc xe Hằng được cung cấp cũng là đợt cung cấp cuối cùng của nhà nước cho
công nhân, viên chức. Từ đó về sau chế độ bán xe đạp cung cấp đã hoàn toàn bị
xoá bỏ để chuyển sang chế độ bán giá cao đồng loạt, tuy nhiên vấn đề đăng ký và
gắn biển số thì vẫn được duy trì nhiều năm về sau nữa.
Phải mất hơn một tuần Hằng
mới sửa chữa xong chiếc xe mượn của anh cả. Anh cũng mong muốn trả xe sớm
cho các cháu lấy xe đi lại. Số phụ tùng mua để lắp chiếc cho chiếc khung miền
Nam mà Hằng mua lại của cậu Núi đều dồn vào chữa xe của anh cả nên phải hơn
tháng sau anh mới lắp xong chiếc xe miền Nam để cho Thơ đi lại. Nói là lắp xe
cho Thơ đi lại nhưng cô ấy lại cũng chả đi lại được nữa vì cũng chỉ độ non nửa
tháng nữa là Thơ phải về nhà nghỉ đẻ.
CON GÁI
1
Thơ về nhà ông bà ngoại nghỉ đẻ đã hơn một tuần mà vẫn chưa có tin tức gì làm
cho Hằng rất sốt ruột. Công việc sửa chữa của tổ lớp này lại cũng khá nhiều nên
dẫu có đến hàng chục công thêm giờ mà Hằng cũng không thể về được. Thực ra thì
Hằng có về hay không cũng chỉ là thăm nom cho có tình cảm để Thơ khỏi tủi thân
thế thôi chứ Hằng cũng có giúp được gì. Những thứ cần cho sinh nở cô ấy cũng đã
được bà mẹ và cả bà cố bảo ban sắm sửa từ trước. Quần áo sơ sinh và tã lót thì
cô ấy cũng đã may được một ít. Nghĩ cho cùng thì tất cả trăm ngàn vạn mớ đều do
người đàn bà tự lo lấy hết. Mấy ông chồng vô tích sự nào có giúp được gì, ấy thế
mà đứa con sinh ra lại mang họ của những ông bố và rồi ngàn vạn năm sau người
ta vẫn cứ cho thế là đúng. Thật đáng phẫn uất thay cho những người phụ nữ trên
cái lục địa này.
Gần hai giờ chiều ngày mười sáu tháng chín thì Hằng mới về đến nhà bố mẹ vợ. Cụ
cố bà vừa thấy thoáng bóng ngoài ngõ đã ra đón Hằng vào nhà. Vừa đi cụ vừa kể lể
về cái nết ăn, nết ngủ của đứa bé. Rồi thì chuyện cháu gái cụ đẻ dễ, đẻ lành.
Cuối cùng thì cụ bảo mọi sự đều tốt đẹp cả.
Hằng vào đến trong nhà thì đã thấy cả nhà cũng đang quây quần trong gian nhà
bên trái. Hình như mọi người muốn cho hai mẹ con Thơ ngủ thêm nên rất ít nói.
Anh chào mẹ vợ và các em rồi đến bên giường của hai mẹ con Thơ. Mặc dù trong
nhà hơi tối nhưng anh vẫn thấy mặt Thơ có vẻ còn hồng hơn cả mọi khi. Nhất là đứa
bé nằm bên cạnh thì cả mặt mũi tay chân lại còn đỏ hơn cả mẹ nó. Hai mẹ con đều
cùng đang ngủ im lặng, chẳng hay biết gì. Hình như họ đang ngủ rất say khác hẳn
mọi khi. Bà mẹ vợ và cụ cố cũng đã nhận ra sự phân vân trên khuôn mặt của Hằng.
Cuối cùng thì bà cố cũng dè dặt nói cho Hằng biết :
- Cháu cứ yên tâm đừng đánh thức mẹ con nó. Chúng nó ngủ hơi lâu vì bà cho con
mẹ nó uống một tý thuốc phiện để cho nó mau sạch sẽ. Cái tang này bà cũng được
các cụ ngày trước bảo cho biết, bà và mẹ cháu đã dùng nhiều lần, không có gì ngại
đâu.
- Vâng ạ ! Cháu cũng đã nghe nói, nhưng không biết mẹ con cô ấy có ngủ lâu nữa
không ạ ?
- Giờ đến chiều là tỉnh hết thôi cháu ạ.
Hằng vén lại chăn cho vợ con rồi quay ra sân mang túi bánh kẹo vào nhà đưa cho
mẹ vợ để chia cho các em rồi nói chuyện với hai bà phụ nữ. Câu chuyện cũng chỉ
xoay quanh chuyện đẻ, chuyện nuôi con sau này mà các cụ muốn sang tai cho cái
người lần đầu làm bố. Chuyện được một lúc thì thấy bà mẹ vợ nhắc đến việc đặt
tên cho đứa bé, bà bảo Hằng :
- Bố mày xem đặt cho con bé một cái tên để cho bệnh xá người ta làm chứng sinh.
Nghĩ ngợi một lúc Hằng lại
đùn đẩy việc đặt tên con cho mẹ vợ :
- Con nghĩ mãi cũng chẳng biết đặt là gì, hay là mẹ đặt tên cháu hộ.
- Đứa đầu thì bố nó cứ đặt đi để tránh lẫn tên với các cụ ngoài ấy.
Hằng nghĩ mãi mà chả biết nên đặt tên con là gì. Có lẽ đến gần nửa giờ đồng hồ
anh vẫn im như thóc cân nhắc hết tên này lại sang tên khác mà vẫn chưa xong.
Lúc thì anh định đặt tên là Loan, là Phượng nhưng anh thấy có nhiều cô
Loan, cô Phượng tính tình không mấy chín chắn. Lúc thì anh lại định đặt tên là
Lan, là Huệ thì lại vướng tên mấy bà gì vợ. Thế rồi anh lại lướt qua hàng loạt
tên của bạn bè nhưng rồi lại vẫn cứ phân vân. Bất chợt anh nhớ về những năm vẫn
còn đi học với bao nhiêu con người nhiều thân thương và nhiều kỷ niệm. Anh nghĩ
đến các thầy cô giáo đã dạy anh trong những ngày tháng đó. Đâu là thầy Chuyên,
thầy Đàm, Thầy Kim, rồi cô Anh, cô Sâm, cô Bảo, cô Yên và còn rất nhiều các thầy,
các cô khác nữa. Trong đó có lẽ cô Yên là người gần gũi nhiều với Hằng. Cô là
chủ nhiệm lớp của anh suốt ba năm học cấp hai ngày ấy.
Trong một thoáng suy nghĩ ngắn ngủi anh chợt loé lên quyết định lấy tên cô Yên
để đặt tên cho con gái. Anh không biết nếu cô Yên biết anh lấy tên của cô để đặt
tên cho con của mình thì cô có bằng lòng hay không? Nhưng anh biết cô rất hiền
và yêu học trò, còn việc anh lấy tên cô đặt cho con gái thì việc ấy hoàn toàn
xuất phát từ lòng yêu quý của anh đối với cô nên anh chẳng thấy có gì đáng ngại.
Nghĩ vậy anh liền quay sang nói với bà mẹ vợ về cái tên anh đặt cho con và hình
như bà mẹ vợ cũng có vẻ thích cái tên này thì phải và thế là anh quyết định đặt
tên con gái là Yên. Từ đây cô bé sẽ mang cái tên ấy để mà sống, mà lớn lên, mà
trưởng thành. Cô bé có theo công việc của người ấy hay không? Cô bé có làm được
điều gì tốt đẹp hay không với cái tên bình dị và thân mật ấy để xứng với những
điều mà người cha của cô bé hằng mong mỏi!
Cũng chỉ loáng một cái đã hết
hai tháng nghỉ đẻ theo tiêu chuẩn và một tháng xin được nghỉ không lương. Hai vợ
chồng Hằng đành phải rời gia đình bên ngoại để đưa con ra cơ quan cho Thơ đi
làm. Cũng không biết người ta dựa trên cơ sở nào mà đặt ra chế độ nghỉ đẻ chỉ
ngắn ngủi như vậy. Nếu chấp hành thật đúng thì người phụ nữ phải nghỉ trước khi
đẻ một tháng và nghỉ sau khi đẻ một tháng. Đã có một vài ông chính sách của cơ
quan đã máy móc tuyên bố rằng nếu các bà, các cô không nghỉ trước đúng như thế
thì chỉ cho nghỉ sau khi đẻ một tháng còn số ngày trước đó phải bị cắt tiêu chuẩn.
Những ông chính sách này muốn những người đàn bà kia phải thực hiện chính sác
như thế mới đảm bảo sức khoẻ cho người nhà nước. Lập luận của họ nghe ra rất thấu
tình đạt lý, rõ ràng đây là sự quan tâm rất rất bản chất và rất rất hợp lẽ. Họ
đâu có ngờ rằng họ đã làm khó cho bao nhiêu đồng loại. Với một tháng nghỉ sau
khi đẻ thì các cháu sơ sinh quả là còn rất yếu và người mẹ cũng chưa kịp hồi phục
sau lần vượt cạn với bao sự nguy hiểm kề cận bên mình. Thôi thì mọi người công
nhân nhà nước đều thế cả nên cũng chẳng có ai dám bắt bẻ các nhà làm luật.
Nhưng dù sao thì cũng thật đáng thương cho những đứa trẻ phải xa mẹ, phải nhịn
sữa trong mấy giờ đồng hồ liền. Cứ nhìn chúng khóc ngằn ngặt trong mấy ngày đầu
đi trẻ mà chảy nước mắt.
Cũng may là cái bé con của
vợ chồng Hằng hay ăn, chóng lớn và lại rất ngoan nên phần nào cũng thấy đỡ sót
ruột. Tuy vậy cứ mỗi lần mẹ về cho bú giữa giờ thấy nó bập ngay vào vú mẹ cố
mút lấy, mút để mà thương. Cũng vì con bé không hay quấy khóc nên nhiều khi các
cô bảo mẫu cũng quên để ý đến nó. Có lần nó đi ngoài ra nôi mà các cô cũng
không biết, đến khi mẹ về thấy phân vàng dính cả vào má, vào mặt. Đành rằng lúc
ấy cũng giận các cô bảo mẫu nhưng rồi nghĩ đi, nghĩ lại thấy chỉ có vài cô mà
trông đến mấy chục trẻ nên cũng đành bỏ qua cho họ.
Không biết kinh nghiệm của
bà ngoại và cụ cố đến đâu mà thấy họ bắt Thơ phải kiêng khem đủ thứ. Nào là
không được sờ tay vào nước trong suốt ba tháng ở nhà. Nếu có làm sạch cơ thể
thì cũng chỉ được dùng khăn cho vào nước nóng có pha muối để lau là chính. Cái
ăn, cái uống hàng ngày họ còn bắt Thơ phải kiêng cữ kỹ hơn. Họ chỉ cho Thơ ăn
khô mà không được ăn canh. Các loại cá từ cá đồng đến cá biển thì đều phải nướng
kỹ lên rồi mới đem kho mặn mà ăn. Việc kiêng cữ như vậy cũng làm cho Thơ quen dần,
nên khi ra đến cơ quan cô vẫn giữ nguyên cách ăn uống, tắm rửa kiêng khem như vậy.
2
Từ sau khi từ chối làm việc ở phòng tổ chức nhà máy, Hằng lại trở về làm việc ở
tổ sửa chữa máy của phân xưởng Cơ điện. Mặc dù anh không có chức trách gì trong
công tác quản lý nhưng anh lại được tất cả mọi người từ cũ đến mới, từ
già đến trẻ luôn yêu mến và nể phục. Cái nể phục của mọi người còn lan sang các
tổ khác trong phân xưởng vì anh rất nhiệt tình với công việc, hết ngày này sang
ngày khác mà không hề so đo hơn thiệt, khôn dại với cả tập thể và với tất cả mọi
người. Còn một điều mà họ quý anh ở chỗ anh làm đến cùng mọi công việc mà không
chịu thua bất cứ một khó khăn nào.
Sự sáng tạo trong công việc
của anh giúp cho công việc nhẹ nhàng đi và rút ngắn về thời gian nên nhiều người
rất thích cùng anh làm chung trong một nhóm. Số sáng kiến được mọi người biết đến
thực sự có hiệu quả về kinh tế và đặc biệt là khắc phục được tình trạng không
có thiết bị, vật liệu thay thế trong lúc bấy giờ. Những năm ấy anh luôn phải
lên diễn đàn hội nghị để trình bày những công việc của mình và của đơn vị. Từ Hội
nghị sáng kiến của tỉnh Thanh Hoá, đến hội nghị sáng kiến của Công ty điện lực
Miền Bắc tổ chức ở Hải Phòng, ở Hà Nội hầu như không vắng mặt anh. Mặc dù vậy
hàng ngày Hằng sống thật vô tư và giản dị nên mọi người vẫn gần gũi và thân
quý...
Vừa rời Bàn Thạch về đến
Hàm Rồng lại phải tiếp tục với công việc đại tu lò máy mà không được nghỉ bù.
Máy móc bây giờ hầu như đã rệu rão hết cả do nhiều năm chạy cố, chạy tận dụng.
Mọi cái nếu như không động đến thì thôi nhưng nếu đã động đến thì đều nát vụn
ra cả. Những năm đầu tiên của thời kỳ Tổ quốc thống nhất, vui thì thật là vui
nhưng khổ thì cũng thật là khổ vì mọi cái đều thiếu thốn. Cơm gạo thiếu phải độn
đến chín chục phần trăm là sắn khô, khoai khô, là hạt mạch, là ngô răng ngựa. Đồ
dùng thì phân phối từ cái kim, cuộn chỉ đến cái nồi, cái bát. Đồ ăn thức uống
thì cũng phân phối từ cân đường, miếng thịt đến gói chè, bao thuốc. Còn nói về
máy móc thiết bị thì thiếu từ con bu lông đến miếng giấy nhám nói gì đến những
thiết bị tinh vi phức tạp. Người ta rất quen với cụm từ Tự lực cánh sinh và vấn
đề chủ động sáng tạo. Vì không như thế thì lấy gì mà chạy máy, lấy gì mà sản xuất
ra điện. Đợt đại tu lần này tổ máy lại gặp phải một việc khá hóc búa, đó là những
gối trục vừa mới mang đi thuê đúc lại ở một cơ sở chuyên ngành mang về lớp lót
lại không ăn chân với vỏ gang của nó. Việc đúc lại lớp lót hợp kim ba bít B-83 ở
nhà máy này là việc chưa ai thực hiện bao giờ. Cũng chả phải nghĩ ngợi gì nhiều
vì chắc chắn rằng mấy cha “sáng này, sáng nọ” sẽ phải đứng ra mà đảm trách.
Sách vở về món đúc thì có đấy
nhưng mà là đúc gang, đúc nhôm chứ còn đúc cái loại này thì tài liệu hiếm lắm,
thôi thì cứ làm từng đoạn vậy. Hôm qua anh Khâu mang đến một quyển sách in ấn
các nội dung sửa chữa trong ngành mà anh được phát trước đây rồi dở dở, lật lật
tìm đến đoạn nói về đúc gối trục. Thế là mấy anh em châu đầu vào ngắm nghía rồi
thì phán này, phán nọ đến hết cả buổi mà vẫn chẳng vỡ vạc ra được tý gì.
Sớm nay Hằng được giao cho
làm công tác chuẩn bị vật tư, vật liệu. tuy vậy anh cũng vẫn xuống tổ rèn xem lại
mấy cụ thợ điện tráng thiếc các đầu kim thu lôi cho đường dây. Anh cũng muốn
tham khảo thêm về việc tráng thiếc những khi hỏi đến kinh nghiệm thì mấy cụ thợ
điện bảo:
- Chúng tớ cũng chẳng có
công nghệ nào đâu. Những thứ này cũng cứ theo các cụ đi trước làm cho xem rồi cứ
thế mà làm vậy thôi.
- ...
- Chúng tớ chẳng phải giữ
nhiệt này, nhiệt nọ mà làm gì, thiếc thì cứ cho chảy ra, sắt thì đánh sáng hơ
nóng nhúng vào “át xít” rồi lau đi là được.
Thế là Hằng chẳng thu lượm
được tý gì ngoài mấy câu chuyện vui với mấy cụ thợ già tổ điện.
Gần một tuần mày mò tìm kiếm
đất, cát rồi thì làm khuôn, làm nồi nấu thiếc, Hằng cũng đã làm bóng mấy vỏ gối
trục chuẩn bị cho việc đúc. Số hợp kim và muối Amonium cũng đã mang đến khu nhà
lò rèn của phân xưởng.
Nào lau, nào rửa, nào sấy,
nào chà, nào xát, mùi Axit clo, mùi muối Amonium vừa khai, vừa khét bốc lên làm
cho mấy vị thợ rèn lắc đầu bịt mũi càu nhàu với nhóm đúc của Hằng. Cũng không
ít người không ưa mấy anh chàng lúc nào cũng nháo nhào nhào lên làm họ cũng phải
chạy theo trong khi họ chỉ muốn im lặng “tối ngày đầy công” về với vợ con bù
khú. Lúc thì nửa kín, nửa hở, lúc thì ra mặt ra ý chẳng cần phải kiêng dè:
Chuông khánh còn chẳng ăn ai...nữa
là...!
Và những điều dèm pha như
thế được thể bung ra khi những lớp tráng thiếc của Hằng từ từ lóc ra khỏi lớp
gang đen xỉn. Tiếng kẻng báo giờ nghỉ đã vang lên nhưng hình như Hằng không
nghe thấy, anh vẫn cắm cúi mải cạo gọt và chà xát với mấy cục gang cóc cáy chả
lấy gì làm thiện cảm. Hằng cắm cúi làm đến mức ông bí thư và ông quản đốc phân
xưởng vào đứng mãi mà vẫn không hay. Anh chỉ giật mình khi ông quản đốc cất tiếng
ngay ở bên cạnh :
- Thế nào, công việc không
thuận lắm phải không? Hỏng thì làm lại, đừng có ngại ngần gì. Tớ tin là cậu sẽ
thành công được!
- Kể ra thì cũng khó thật,
không biết chúng cháu có làm được không nhưng chúng cháu sẽ cố gắng hết mức.
Đến lúc này thì cả ông bí
thư cũng xen vào:
- Nếu dễ mà mọi người đều
làm được thì cần gì phải giao cho các cậu. Chi bộ tin ở cánh thanh niên các cậu
lắm đấy, nếu cần giúp đỡ gì thì chú cứ nói, chúng tớ sẽ hết lòng ủng hộ.
Hằng chẳng lạ gì những câu
động viên của những người lãnh đạo trong đơn vị. Họ có thể giúp được gì cho các
anh hay không, làm sao anh không biết. Dù sao thì như thế cũng là sự động viên
của tập thể đối với Hằng nhất là khi anh đang thất bại, đang bế tắc chưa tìm thấy
nguyên do của sự thất bại vừa rồi.
Đêm đã khuya lắm mà Hằng vẫn
còn thức bên ngoài thềm của cái căn hộ bằng nửa gian nhà tập thể mà cơ quan của
Thơ đã phân cho mẹ con Thơ. Hằng cũng chỉ như bao chàng trai thời bấy giờ sống
nhờ cơ quan vợ. Không biết có một ông “trên” nào đó của nhà nước đã quy định chỉ
cấp nhà, lương thực, cấp thực phẩm và các chế độ cho con cái theo người vợ. Dĩ
nhiên là các đức ông chồng mãi mãi ở hộ tập thể tại cái nơi cơ quan của ông sẽ
chẳng bao giờ là chủ hộ. Trừ khi ông cưới một người vợ cùng cơ quan, lúc đó họ
sẽ cho tách hộ, nhưng ông và các con chỉ là các khẩu có quan hệ nào đó với bà vợ
chủ hộ mà thôi. Chỉ khi các bà vợ không may có cuộc sống ngắn để trơ lại đức
ông chồng với mấy đứa con thì ông mới được quyền thay. Nhưng nếu chỉ cần tái
giá với bất kỳ người đàn bà nào khác thì chức chủ hộ của người đàn ông sẽ lại mất
liền. Còn với bà vợ mới nếu mà ở cơ quan nào thì ông chồng lại mang con chạy về
cơ quan đó. Nếu bà vợ mới này lại ở thôn quê thì tất yếu là anh chồng cũng đổi
khẩu về quê ngay tắp lự, còn bản thân anh thì lại phải nhập vào cái hộ khẩu tập
thể vốn sẵn có của bất kỳ một cơ quan nào của nhà nước trong lúc bấy giờ.
Hằng thường ít ngủ, nên dù phải làm thêm đến mười một giờ khuya mới về đến nhà
thì anh cũng thức thêm hai, ba tiếng nữa rồi mới đi ngủ. Nếu lại còn vướng bận
những việc như hôm nay thì anh có thể trắng đêm luôn để nghĩ về công việc đó.
Có đến chín mươi phần trăm những sự sáng láng trong công việc của ngày hôm sau
được khai mở vào những lúc này, lúc mà nhà nước không một lần trả lương mặc dù
chính lúc đó mới là lúc người ta làm việc cho nhà nước hiệu quả nhất.
Hằng lặng lẽ ngồi hút hết điếu thuốc lá rồi mới giở phần tài liệu kim loại màu
ra để xem. Cuốn sách này anh mượn được của Đô bên tổ cơ khí chiều nay. Đô học
cơ khí luyện kim nên các loại sách về vật liệu của cậu ấy khá nhiều. Điều quan
trọng nhất mà anh cần tìm ngay trong đêm là nguyên nhân của việc bong lớp thiếc
mà anh đã tráng gần hết buổi sáng mới xong. Sau một hồi nhấp nước bọt vào tay lần
dở từng tờ giấy một anh cũng tìm ra phần tính chất lý hoá của hợp kim Ba bít
B83. Anh phân vân khi biết rằng sự chảy lỏng của thiếc chỉ độ 220 độ là cùng,
còn hợp kim thì lại cao đến trên 300 độ. Có lẽ vì thế mà khi sấy khuôn lớp
tráng thiếc liền bong ra mất. Hằng đã nghĩ đến việc tráng lớp lót bằng chính hợp
kim dùng để đúc nhưng không biết nó có tính hàn như các loại thiếc thông dụng
hay không. Một nguyên nhân mà Hằng dự đoán là việc mấy cậu thợ phụ nung khuôn
không đều, chỗ quá nóng thiếc sẽ chảy ra và trôi mất. Cuối cùng thì anh
cũng đã tìm ra nguyên nhân thất bại sáng nay.
3
Một vỏ lò bằng đất với những khe nhỏ để luồn vào đó những dây điện trở vẫn dùng
làm bếp đun đã được làm sẵn. Vỏ gang của gối trục được đánh sáng bóng, rửa đi,
rửa lại bằng A xít và nước cất đã được đưa lên khung quay trên ngọn lửa lò rèn
cho nóng đều. Số ba bít B83 cũ đã được cho vào nồi thép để nấu chảy ở lò bên cạnh.
Cùng lúc ấy thì vỏ gang cũng đã nóng đều đến độ làm chảy được ba bít. Hằng rắc
dung môi bằng bột Amonium vào bề mặt vỏ gang và chà mạnh các thanh ba bít lên
đó. Lớp bạc đính đều trên toàn bộ bề mặt mà không sót một điểm nào.
Việc chuyển khuôn xuống để
lắp phần khuôn chứa ba bít nóng chảy bên trong gối trục và đưa cả gối trục vào
lò giữ nhiệt là việc thật khó khăn và phức tạp. Cái khó khăn, phức tạp chính là
gối trục thì quá nóng, phần khuôn lại nhiều chi tiết che chắn, cách nhiệt, vỏ
lò điện giữ nhiệt cũng nóng và quá chật hẹp rất dễ bị chạm vào dây điện trở.
Tuy nhiên công việc lắp ráp đã kết thúc và ổn định nhiệt cho gối trục. Dòng ba
bít chảy lỏng được Hằng rót đều vào khe máng trục êm như rót mật vào bát không
một gợn bọt...
Những người biết việc đúc gối
trục hầu như đều mong biết được kết quả. Họ sờ mó lật lên, lật xuống đưa cả bàn
tay lên bề mặt ba bít để lau bụi xem màu trắng bạc của nó. Ông quản đốc hầu như
chẳng để ý đến mọi người xung quanh, còn mọi người thấy ông thì đều phải giãn
ra để cho ông vào, vì ông mới là người có quyền chấp nhận hay không chấp nhận
cái sản phẩm này. Khi vào đến cạnh phôi đúc ông quản đốc liền móc trong túi rồi
cầm ra một cái cờ lê mở ốc nhỏ. Khuôn mặt ông hình như có hơi căng thẳng và
trang trọng chứ không cười nói rộn rã như mọi khi. Ông gõ nhè nhẹ lên khắp bề mặt
lớp lót và chăm chú nghe. Thấy ông quản đốc làm như thế với vẻ rất trang trọng
thành ra tất cả sự ồn ào lúc nãy chợt tắt hẳn và người ta nghe rõ từng tiếng gõ
của ông. Cuối cùng thì ông cười một cách hể hả và nhận xét:
- Tiếng kêu thanh đều mọi
chỗ, chứng tỏ là dính chắc. Ta đâu có kém hơn những người chuyên nghiệp, phải
không các cậu ?
Chỉ chờ có thế là tất cả lại
ồn ào trở lại và lần lượt tranh nhau sờ mó, ngắm nghía và soi xét. Mất hơn nửa
giờ đồng hồ nữa Hằng mới mang được phôi đúc vào bàn nguội để gia công mép và lắp
ghép bu lông. Mãi đến lúc này Hằng mới được vừa làm vừa xem xét lại một lần nữa
xem có khuyết tật nào không. Anh còn lo lớp lót bị rỗ do có bọt khí bên trong
sau khi tiện mới lộ ra.
Hằng không phải là người hiếu
danh nhưng anh lại thích phải khắc phục được tất cả những gì là khó khăn mà mọi
người chán nản và muốn từ bỏ. Anh muốn những việc anh đã nói và đã làm sẽ phải
có kết quả chứ không thể để người khác cho anh là kẻ phét lác, viển vông vô
tích sự. Đây cũng là cái nghiệp đã quàng vào anh từ những khi anh mới vào đời.
Ai bảo anh cứ học giỏi hơn người khác? Ai bảo anh cứ làm tốt hơn người khác? Ai
bảo mọi người cứ đưa anh lên để rồi anh không thể xuống được nữa? Anh đã bị
hại bởi điều đó và anh biết tất cả những điều đó mà không tìm ra được cách chống
lại. Điều đó cho thấy anh cũng chẳng giỏi gì !
Sáng nay anh Khâu đi họp
trên phân xưởng về không có vẻ vui, anh kéo Hằng ra phía ngoài sân than mà chẳng
nói gì. Hằng biết tính anh từ lâu nên cũng cứ mặc kệ mà không hề phản ứng nhưng
anh biết như thế là có sự rồi đây.
Anh Khâu móc vào túi áo bảo
hộ lấy ra bao thuốc rồi đưa cho Hằng một điếu, anh lại chìa điếu thuốc của mình
ra cho Hằng châm rồi thủng thẳng nói:
- Đoạn đầu hút tuần hoàn rụng
mẹ nó xuống sông rồi, các ông ấy lại bắt mình tìm cách sửa.
- Sao em thấy bơm vẫn chạy cơ mà?
- Thì vẫn...nhưng mà khi nước
lên, còn lúc nước xuống thì miệng ống gần mặt nước quá, tạo chân không, không được.
Đến đây thì Hằng đã thấy rõ
cái sự lôi kéo của anh Khâu là nhằm vào mục đích gì rồi. Hằng chợt nghĩ đến việc
trêu cho ông này một mẻ cho bõ tức:
- Việc này thì anh cứ giao
cho bọn thằng Hiền, thằng Nhị là được chứ lo gì.
- Bọn này chú còn lạ
gì...có để giải thưởng lớn cũng đành đứng chảy rãi mà nhìn.
Hằng bật cười nghĩ: ông này
lại giở bài cũ ra đây mà. Trước tiên là làm ra vẻ bí mật rồi thì tỏ ý chỉ có thể
bàn với một mình người này, người nọ để tỏ ra là mình đánh giá người ấy rất cao
để họ cảm thấy mình thật sự là quan trọng, mình thật sự là hơn hẳn và đã là vậy
thì mình đâu còn dám từ chối. Chả nhẽ mình lại tự nhận mình là kém, là không hiểu
biết hay sao. Đương nhiên là phải hết lòng, hết sức thực hiện những gì ông ấy
giao cho, ông ấy đặt niềm tin vào vừa là thể hiện mình trước bàn dân thiên hạ.
Thực ra thì chính anh Khâu
cũng bị những người bên trên xỏ mũi bằng cách ấy và rồi anh ấy lại áp dụng cách
ấy cho quân của chính mình. Anh ấy hoàn toàn có quyền từ chối những công việc
không có đủ điều kiện do thiếu nguyên nhiên vật liệu, do không đủ điều kiện an
toàn. Vậy nhưng anh ấy vẫn nhận vì anh ấy cũng muốn thể hiện mình hơn hẳn trước
những người bạn cùng học với mình, thậm chí còn học sau mình thế nhưng họ đã
làm việc này việc nọ ở các đoàn thể mà anh chỉ là thành viên trong đó, thậm chí
còn là thành viên hạng dưới cùng tại đoàn thể ấy. Anh ấy tự đặt ra cái tiêu chí
của người thợ là sự giỏi nghề chứ không phải là giỏi nói, giỏi gần gũi lãnh đạo
để rồi nhờ họ quan tâm đưa lên chức này, chức nọ. Anh cố làm điều đó và từng bước
lôi kéo bọn đàn em bên dưới theo anh nghĩ như thế và làm như thế. Cũng không phải
chỉ có anh Khâu nghĩ và làm như thế. Cái ngang tàng của vô khối bậc sĩ phu thời
xưa chả đã để lại nhiều tấm gương khảng khái đó sao. Họ nói họ không hợp tác với
những người không dám ngang tàng chống lại những thế lực có quyền, có thế.
Nhưng kẻ quyền thế thời ấy là một bọn người chỉ chuyên đục khoét dân tình, làm
mục ruỗng rường cột đất nước. Còn giờ đây mọi sự đã khác hẳn vì chính quyền là
của dân, do dân, vì dân, mặc dù không phải tất cả những ông lãnh đạo đều thực
hiện đúng với “của, do và vì” như đã nói.
CÔNG
VIỆC
1
Chiều sông Mã thật là mát mẻ
bởi gió theo mặt sông thổi ràn rạt lên bờ. Nước triều đang lên chầm chậm, mặt
sông dường như cứ rộng dần ra. Cây cầu năm xưa cũng đã được sửa chữa và
sơn lại tuy vậy người ta vẫn dễ dàng nhận ra những vết sứt sẹo do mảnh bom bắn
vào trên những thang ngang, thanh chéo trong thời chiến tranh phá hoại của Mỹ.
Nhớ lại ngày nào còn chiến tranh, bom đạn, Hằng và mấy anh em tổ máy đã chết hụt
ba bốn bận ở đây mà thấy rợn cả người. Những quầng lửa đỏ khé và khét nẹt cùng
với bụi đất, cát phả vào sau mỗi trận bom làm mọi người ngạt thở, thế mà đã qua
gần chục năm rồi.
Đang bận bịu về những hồi
tưởng nên Hằng không thấy Đại cũng đã ra đến trạm bơm. Mãi đến khi nghe vật gì
đổ vật ngay sau lưng anh mới quay lại thì ra chiếc xe đạp của Đại để không vững
trên bờ đê sườn bò chợt đổ ra. Đại cũng chẳng thèm dựng chiếc xe đạp dậy vì sườn
đê chỗ nào chả nghiêng nghiêng, thoai thoải như thế cả. Đại cầm hòn đá ném ra
ngoài sông như có ý bảo cho Hằng biết vị trí của giỏ ống hút là ở chỗ ấy.
Đại biết khá rõ vì nhiều năm sau khi Hằng đi bộ đội thì Đại vẫn ra sửa bơm ở
ngoài này. Hơn nữa kế hoạch sửa đầu hút của bơm chắc là đã thông qua cấp uỷ trước
khi giao nhiệm vụ cho các tổ. Đại vừa là thư ký công đoàn của cơ sở, lại là đảng
uỷ viên nhà máy phụ trách khối Cơ điện nên mọi việc hầu như cậu ấy đều phải biết
trước. Hằng đồ rằng ngay cả giao việc cho tổ máy Đại cũng biết trước cả anh
Khâu tổ trưởng.
Hai anh em đứng ngó nghiêng
cái đầu hút được một lúc thì cùng ngồi xuống vệ cỏ của con đê để nói chuyện. Họ
quan tâm đến nhau nhiều hơn bình thường bởi cả hai đều cùng ở trường điện về
đây. Phần nữa họ lại là đồng hương cùng tỉnh Nam Định và sống với nhau khá lâu
dài. Cái sự gắn bó gần gũi giữa hai người vốn còn nhiều yếu tố khác nữa, những
gắn bó đó còn phát triển về sau này nữa.
Mải mê
chuyện trò nên cả hai người đều giật mình khi thấy nước sông đã lên khá cao đến
nỗi bọt sóng túa cả lên đầu, lên mặt hai người. Đại vội đến nhấc cái xe để dong
lên mặt đê, còn Hằng thì vẫn đứng tại chỗ mặc kệ Đại gọi và mặc cho nước bắn
lên dữ dội. Hằng đã phát hiện ra một điều đặc biệt và anh đang muốn đưa điều ấy
vào công việc sửa chữa sắp tới mà lâu nay anh đang rất phân vân. Đó chính là việc
dùng loại thiết bị gì để mang cái đầu hút nặng hơn ba tạ ra lắp vào đầu ống hút
cách bờ đê đến hơn hai chục mét. Anh đang ước tính xem độ cao mực nước
triều là bao nhiêu và sức đẩy của cái bè chở ống rộng bao nhiều thì vừa. Rồi
thì việc gá lắp đầu ống cao bao nhiêu thì vừa với mặt bích đầu ống. Khi Hằng
lên đến chỗ Đại thì anh ấy đã về tự lúc nào.
Đêm đã khuya hơn mọi khi
nhưng Hằng vẫn còn nằm bò trên góc thềm của gian nhà tập thể. Mấy ông bảo vệ của
xí nghiệp xây lắp đi rẻo qua cũng rẽ vào xem cái chàng con rể của xí nghiệp làm
gì mà thức khuya đến thế. Thực ra thì họ tiện đường mà ghé vào thôi chứ cũng
không phải nghi ngờ điều gì. Họ gặp cảnh này luôn từ khi chàng ta về ở cùng vợ
con ông tại cái khu công nhân của xí nghiệp. Đận trước thì chàng ấy học bổ túc
rồi thì đến thi đại học. Thậm chí có lần cánh bảo vệ rẽ vào thì thấy chàng ta
đang kỳ cạch lắp ráp vài cái quạt hoặc cái máy khâu rỉ ghét không biết lôi ở
đâu về.
Thấy cánh bảo vệ xí nghiệp
rẽ vào Hằng liền dừng tay để tiếp kiến:
- Các bác trực đêm đấy à,
vào làm điếu thuốc cái đã rồi hẵng đi.
Vừa cất lời mời Hằng vừa bỏ
gói thuốc Sầm Sơn ra để mời. Chỉ có anh bảo vệ trẻ là đón lấy bao thuốc rút ra
một điếu, còn hai người già hơn thì lại vớ lấy cái điếu cày Hằng dựng ngay ở
cây cột hiên bằng gạch. Thấy vậy Hằng lại kéo cửa lấy ra cái hộp thuốc lào bằng
nhôm rồi tiếp tục mời:
- Bác dùng loại này hở, em
cũng có đây.
Thấy ông khách có ý thò tay
vào túi của mình Hằng lại tiếp tục thông báo:
- Các bác thử loại này xem,
chính gốc Quảng Thành, Quảng Xương đấy nhé.
Nghe Hằng nói vậy ông ta lại
cất hộp thuốc của mình vào túi rồi đón lấy hộp bằng nhôm mà Hằng đưa cho, mở ra
vê lấy một điếu cho vào điếu rồi rít một hơi làm cho cái điếu réo lên như tiếng
còi trong đêm khuya vắng. Người già còn lại trong lúc chờ đến lượt thì cúi xuống
ngó vào mấy tờ giấy Hằng vừa vẽ, viết còn nằm ngay trên chiếu.
- Chà, cái tang Quảng Xương
chính hiệu có khác, làm tớ say đứ đừ ra.
- Thôi đưa đây cho tớ, lâu
la quá đấy.
Đón lấy cái điếu từ tay bạn,
ông cũng nhét vào nõ điếu một nhúm thuốc của mình rồi đón tiếp cái đóm mà Hằng
đã chuẩn bị cho. Cũng không kém ông bạn lúc trước, ông ta còn kéo mạnh và dài
hơn làm vang khắp dọc hiên khu nhà tập thể.
- Này, chả nhẽ đêm nào ông
cũng thức làm việc khuya thế à?
- Cũng tuỳ lúc thôi bác ạ!
Khi có việc quan trọng em mới phải tính toán tí ti cho nó chắc chắn, còn không
thì cứ làm đến đâu nghĩ đến đó.
- Thế sao tôi thấy đêm nào
cậu cũng thức rất khuya làm việc.
Còn chưa kịp trả lời ông
này thì ông kia đã cướp lời xen vào:
- Không biết cậu vẽ gì mà
nó cứ lòng vòng thế này, làm tớ ngó mãi vẫn chẳng hiểu được?
- Cái này nó là một cái
phao tự chế, với lại nó chỉ ở dạng phác thảo nên các bác chưa nhận ra được,
nhưng nếu mô tả bằng lời thì các bác nhận ra ngay thôi.
- Này tớ thấy hình như nó
là những cái thùng phi thì phải?
- Đúng đấy bác ạ.
- Thế sao không dùng thuyền
hoặc xà lan mà chở lại làm lắm thùng phi như thế làm gì cho phức tạp ra?
- Chả là cái vật em chở là
đoạn ống khù khoăm dài gần bốn mét, lại phải để dựng đứng nên phải để lỗ ở giữa
rồi xỏ nó vào, nên phải làm thế mới được.
- Cậu nói thì cánh tớ biết
vậy thôi chứ cũng chẳng hiểu được cái việc của các cậu.
Hằng không nói chỉ cười trừ
đưa ống điếu mời họ hút tiếp tỏ vẻ thông cảm với mấy ông bảo vệ của xí nghiệp.
Họ đứng lên bắt tay chào Hằng rồi lại tiếp tục với công việc trông coi xí nghiệp.
Mấy ông bảo vệ đi rồi nhưng Hằng vẫn chưa đi ngủ được vì anh còn đang phải nghĩ
cách buộc thế nào để cho khi nước lên đến độ cao nhất định thì hai bích phải
trùng vào nhau tương đối. Anh sợ đoạn cút cong sẽ dồn trọng lượng làm bích
nghiêng đi không lắp gu giông vào được. Nhìn sang cái đồng hồ báo thức Trung Quốc
đã thấy chỉ hai giờ sáng, Hằng đành thu hết giấy tờ rồi dọn dẹp vào nhà đi ngủ.
Hằng nằm trên giường đã lâu
mà vẫn chưa nhắm mắt được, anh cố nằm im để vợ con khỏi bị thức giấc nên chân
tay mỏi dừ dẫn. Nghe tiếng vợ thở đều ngay bên tai anh chợt lại thấy thương cho
cô ấy. Từ khi lấy chồng rồi có con, cô ấy cũng vẫn phải lao động đủ tám tiếng một
ngày, ngoài ra lại phải phục vụ chồng con với hàng trăm những việc vặt vãnh.
Nào là giặt giũ, nấu ăn, chợ búa, rồi thì thuốc men đau ốm, thậm chí còn phải
xúm vào với chồng lo thiếu tiền, thiếu gạo, lo vay mượn, lo trả nợ. Biết vậy
nhưng anh không muốn nói ra, bởi nói ra rồi mà không giúp được gì hơn cho cô ấy
thì có khác gì nói đãi bôi. Cái sự nịnh đầm bằng những lời nói ngon, nói ngọt vốn
rất xa lạ trong đời sống vợ chồng. Điều những người phụ nữ muốn là họ mong chồng
tiến bộ để rồi cậy vào cái tiếng của chồng mà tự an ủi mình trước bè bạn, trước
mọi người. Còn có cả sự tự hào đến rơi nước mắt vì những điều đó nữa mà chẳng cần
phải phàn nàn lấy một điều gì.
Nghĩ chán chuyện vợ con Hằng
lại nghĩ đến cái phao đỡ ống anh đang thiết kế vẫn còn dang dở. Anh nghĩ có thể
mang theo một ít đối trọng bằng các khối sắt khác buộc thêm vào mé phao không
có ống để làm cân bằng lại. Nhưng anh lại nghĩ đến việc vận chuyển phao và ống
đi xa gần cây số từ xưởng ra đã vất vả lại chuyển thêm khối đối trọng kia nữa
thì thật gian nan, hơn nữa nếu buộc không cẩn thận để phao lộn thì thật nguy hiểm.
Còn đang nghĩ ngợi lung tung thì nghe tiếng va chạm của sành sứ ngay ở góc nhà,
có lẽ là có chuột chạy qua va phải. Anh cũng đoán thế nên cứ nằm im không cựa
quậy, chợt anh nghe vợ gọi nhỏ nhẹ ngay bên cạnh:
- Anh nằm ngoài dậy xem hộ
em cái bát mỡ để ở góc nhà xem chuột có đẩy vung ra thì chặn lại cho em.
Nghe đến đây anh mới biết
Thơ đã dậy từ lúc nào mà anh không biết. Thì ra người phụ nữ thường rất tỉnh ngủ,
họ có thể giật mình tỉnh ngay khi những đồ vật của mình bị đe doạ bởi sự hư hỏng
phá phách. Hằng nghe vợ nói vậy anh cũng lựa thật khẽ để tránh làm con gái thức
giấc. Cái cặp lồng mỡ không còn nhiều được đặt trên một chậu nước để chống kiến
đã bị nghiêng đi do một chú chuột nào đó đã cố tình đẩy cái nắp ra ngoài mép. Mỡ
trong cặp lồng bị dồn về một phía chính là nguyên nhân làm cho cặp lòng nghiêng
hẳn về một bên. Chỉ trong giây lát nhìn vào cặp lồng mỡ Hằng đã mơ hồ tìm ra được
giải pháp làm cân bằng phao chở ống. Anh thử lại việc dồn mỡ về bên kia của cặp
lồng và góc nghiêng lại chuyển về hướng đó. Thế là đã rõ rồi, anh sẽ lấy nước
sông đổ vào các phi ở phía đối diện ống hút để cho phao được cân bằng.
Sáng nay Hằng sẽ tổ chức lắp
đoạn ống hút tuần hoàn ngay trên bờ sông Mã đúng theo như kế hoạch. Các phao ở
phía đối diện với đoạn ống hút đã được đổ nước vào làm cân bằng. Phần ống bị đứt
rơi mất còn một đoạn đã được tháo ra để lắp đoạn mới. Phao chứa ống hút vẫn cứ
bập bềnh trên sóng chờ nước triều lên. Gần hai giờ chiều thì mặt bích gần tương
ứng với nhau, Các đầu thép nhọn đã chuẩn bị sẵn liền được lồng vào các lỗ trên
bích ống và các gu giông lần lượt được thay thế bắt chặt lại.
2
Lại một năm nữa sắp qua đi
cùng với bao nhiêu công việc của tập thể và của cá nhân bề bộn. So với thời
gian của cuộc đời thì một năm cũng chưa dài lắm. Nhưng nếu không để ý đến thì số
năm ấy cứ tăng dần và đến một lúc nào đấy người ta mới nhận ra là thời gian đi
quá nhanh. Cứ mỗi năm một lần người ta phải dừng lại để làm cái việc mà người
ta quen gọi là tổng kết năm. Thôi thì thượng vàng hạ cám đều được nêu ra trong
các bản báo cáo của tất cả những đoàn thể có trong một địa phương hoặc một đơn
vị. Có điều những công việc này thật chả đáng bao nhiêu nhưng tất cả các đoàn
thể đều nói đến trong báo cáo của mình. Chi bộ Đảng thì có công lãnh đạo, chính
quyền thì tổ chức thực hiện, công đoàn thì lo quan tâm đến đời sống của mọi người,
thanh niên, phụ nữ thì động viên xây dựng phong trào, thành ra tất cả đều chung
tất tật. Sau báo cáo là những phương hướng công tác không biết dựa vào đâu.
Tiếp theo là các buổi họp
kéo dài trong suốt cả tuần, nhỏ nhất là các tổ rồi sau đó là các phòng, ban,
phân xưởng và cuối cùng là nhà máy. Ai cũng phải tự mình kể ra những cái tốt và
cả cái xấu rồi sau đó là tự mình nhận lấy một cái danh hiệu trong ba thứ hạng
khác nhau. Những công việc như vậy người ta gọi là bình bầu danh hiệu thi đua
cuối năm. Phụ nữ thì có danh hiệu của phụ nữ, nào là “Đảm việc nhà, giỏi việc
nước” hoặc là phụ nữ hai giỏi, Phụ nữ tiên tiến, Phụ nữ xuất sắc vân vân. Cách
đấy vài năm người ta có những phong trào riêng cho các bà, các cô là Ba đảm
đang hay là Ba đảm nhiệm; những danh hiệu dành cho phụ nữ trong thời chiến.Thanh
niên thì Ba sẵn sàng, Ba xung kích, Ba tình nguyện, đó là nói chung vậy. Trong
thanh niên có đến chín mươi chín phần trăm là những người đã được kết nạp vào
Đoàn thanh niên Lao động và bây giờ là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đi
liền với tổ chức này bao giờ cũng có danh hiệu là Đoàn viên tiên tiến, Đoàn
viên xuất sắc.
Trong cơ quan nhà nước còn
có một tổ chức riêng của những người lao động đó là tổ chức Công đoàn. Những
người lao động là đoàn viên công đoàn cũng phải phấn đấu thi đua sao cho đạt là
Đoàn viên công đoàn tiến tiến, Đoàn viên công đoàn tích cực. Trong mỗi đơn vị
còn có một tổ chức quan trọng bậc nhất đó là tổ chức chi bộ Đảng Cộng sản. Những
người là Đảng viên Cộng sản càng phải cố gắng hơn trong hoạt động về công tác Đảng
và cũng phải phấn đấu theo cái mức tiên tiến, xuất sắc giống các đoàn thể khác.
Cuối cùng là tổ chức chính quyền, một tổ chức quản lý cơ bản của các tập thể những
người lao động lúc bấy giờ. Những danh hiệu về chính quyền thì tất nhiên là rất
quan trọng; trong đó danh hiệu đầu tiên là Lao động tiên tiến, trên mức đó là
danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Từng thời gian một người ta đặt ra mấy loại Chiến
sĩ thi đua đó là Chiến sĩ thi đua ngành, Chiến sĩ thi đua tỉnh và Chiến sĩ thi
đua toàn quốc. Trong nhiều năm về trước và cả những năm sau này với khoảng thời
gian nhất định người ta có thể còn được đề nghị tặng danh hiệu Anh hùng lao động.
Mỗi người công nhân thời ấy hầu như đều có đến ba tổ chức đòi hỏi họ phải thi
đua, Nếu người đó là Đảng viên thì đương nhiên phải có đến bốn tổ chức.
Những cuộc họp tổng kết và
bình bầu như trên cứ liên tiếp được mở ra làm cho tất cả mọi người luôn căng thẳng.
Sau những báo cáo dài dằng dặc của người lãnh đạo là những bổ sung của các
thành viên. Mỗi thành viên sẽ nói cái ý của mình để mà bổ sung cho báo cáo và cả
bổ sung cho tất tần tật mọi cái mà anh ta chợt nghĩ ra. Tuy nhiên trong cái tập
thể ấy không phải ai cũng muốn có ý kiến bổ sung mà chỉ tập trung vào mấy người
đã quen thuộc từ những năm trước. Nghĩa là hình như đã có nếp từ trước rồi, những
người năm trước phát biểu thì năm sau cũng lại phát biểu còn những người không
phát biểu thì hình như chả bao giờ phát biểu, hết năm này qua năm khác. Sau tất
cả những việc ấy tất cả mọi người đều phải có ý kiến tự kiểm điểm mình. Họ kể lể
những gì mà họ đã làm được trong năm rồi tự nhận lấy một danh hiệu đã được phân
ra thành ba loại khác nhau. Sau cái sự thành khẩn của người đó, chủ toạ lại đề
nghị mọi người đóng góp ý kiến rồi giơ tay biểu quyết xem cái danh hiệu mà người
ấy tự nhận có xứng đáng hay không. Xứng đáng hay không xứng đáng điều đó không
ai tự quyết định được bởi mỗi người đều có kẻ yêu, người ghét. Kẻ yêu thì chưa
xứng đáng họ cũng biểu quyết xứng đáng rồi, còn nếu ghét thì tốt mấy họ cũng chẳng
tán thành dù có biết vậy những cũng chẳng ai làm gì được vì đó là quyền của họ.
Có điều rất nhiều người tốt vẫn phải chờ cái sự tán thành của mấy người chưa tốt;
chưa tốt hoặc cũng có thể nói là không tốt. Vậy thì người ta chờ đợi được gì ở
họ? Thế cho nên cái sự được phong này, phong kia cũng phải chịu cái may rủi chứ
không phải cứ đường đường chính chính mà dự phần vào đó.
Cũng chính vì thế mà cũng
khối lần Hằng được bầu vào làm Chiến sĩ thi đua do có một chút công trạng và cả
do cái sự yêu mến của nhiều người. Như trên đã nói, Hằng là người luôn không gặp
may về con đường quan lộ, không gặp may trong cái sự được ban phát lợi lộc nên
Hằng chẳng chờ đợi điều gì. Thực ra mà nói Hằng chỉ nổi trội về cái sự say mê với
công việc và có nhiều thành tích vì công việc, còn nhiều thứ khác nữa cần thiết
hội tụ đủ thì anh lại thiếu, thành ra mọi cái với anh chỉ chàng màng là vậy.
3
Mấy ngày nay Thơ có vẻ mệt
mỏi khác thường, cô ăn uống kém, hay kêu bị ngứa tay chân. Nhân tiện đơn vị vãn
việc Hằng xin nghỉ bù mấy ngày ở nhà trông coi con cái và nấu cơm nước giúp
Thơ. Nhìn cô ấy suốt ngày gãi ngứa Hằng bảo:
- Có lẽ em bị dị ứng do thời
tiết nên chỉ cần uống chút lá mát thì rồi sẽ khỏi.
- Theo anh thì uống lá gì
được?
- Anh sợ hồi này đang có dịch
sốt xuất huyết nên chỉ uống Kim ngân, quả Ké hoặc lá Nhọ nồi là được. Trước mắt
cứ uống lá Nhọ nồi vì nó không hại gì nếu như mình bị xuất huyết.
Thế là ngay chiều đó hai
người hỳ hục kiếm lá nhọ nồi, rồi kỳ cạch giã lấy nước uống. Có lẽ phải đến mấy
ngày liền mà bệnh cũng chẳng giảm đi. Chiều ấy Hằng ra nhà máy lấy tiền lương
tháng, lại vui bạn vui bè mãi đến trưa mới về.
Vừa về đến nhà đã thấy Thơ
nằm dài trên giường chẳng ăn uống gì cả. Hỏi mãi mới Thơ bảo sáng nay lên y tá
xin thuốc thế rồi chẳng biết họ nói thế mào mà y tá cứ bảo có triệu chứng sốt
xuất huyết thế là cho mấy mũi tiêm với lại ít thuốc viên. Cũng từ lúc ấy Thơ cứ
mệt nặng thêm. Biết Thơ ngại đi viện nhưng bệnh cứ thế này thì chắc là không thể
khỏi được. Thấy tình hình ngày càng xấu đi Hằng quyết định bắt Thơ đi viện cho
bằng được. Cũng may có cô Huấn nhà trẻ sống ở tập thể rất quý Hằng và Thơ, với
lại cũng thích cái bé con nhà Hằng nên giúp trông coi cái bé chứ không thì
không biết gửi vào đâu.
Viện thì cũng chẳng hơn gì
mấy vị y tá của cơ quan, có khi còn tệ hơn vì họ chẳng để tâm gì vào người bệnh.
Cũng chẳng biết họ có khám xét gì không mà một nước đưa ngay Thơ xuống khoa
lây. Chắc là họ cũng đoán là Thơ bị sốt xuất huyết.
Suốt mấy ngày liền điều trị
mà bệnh của Thơ không những không giảm mà lại tăng lên. Lắm lúc hình như Thơ
còn bị choáng gần như đã ngất đi. Cứ mỗi lần như thế Hằng lại lên phòng trực của
bệnh viện nhưng rồi họ cũng chẳng làm gì khác được. Hằng buồn bực và giận đám
thầy thuốc không sao nói lên được vì anh chả hiểu gì về bệnh tật và thuốc men.
Hơn nữa anh lại ít khi ốm đau nên chả quan tâm đến việc này nhiều. Đang ngồi bần
thần bên cạnh vợ anh chợt thấy Thơ mấp máy môi nhợt nhạt bảo cho cô ấy đi giải.
Vừ đỡ vợ trên tay anh vừa nghĩ : nếu cứ nh thế này thì có lẽ cô ấy sẽ chết mất.
Nghĩ đến đây anh thấy trong lòng mình có gì đó dâng lên đắng chát. Hai bên cánh
mũi cay cay, lòng rưng rưng muốn khóc. Anh đỡ Thơ ngồi xuống để cô đi giả trong
khi hai tay vẫn phải ôm ngang mình Thơ, vì nếu buông ra thì Thơ không tài nào
trụ vững được nữa. Suốt ngày nay Thơ vẫn ra máu không lúc nào ngừng. Thuốc men
của bệnh viện không còn làm gì được nữa sau mấy lần hội chẩn. Vừa lúc đó Hằng
thấy hình như Thơ đã ngất đi sau khi có một cục máu đông bằng bao diêm rớt xuống
sàn. Thế là Hằng hối hả đỡ vợ về phòng cấp cứu kêu gọi các y bác sĩ. Chính
trong lúc ấy bệnh viện đã quyết định chuyển Thơ về bệnh viện tỉnh. Nhìn đồng hồ
thấy đã 5 giờ Hằng lo lắng:
- Tại sao từ sáng các anh
không cho chuyển? Bây giờ mới cho chuyển là thế nào?
- Anh thông cảm cho, hiện
bây giờ viện không có máu để tiếp cho bệnh nhân.
- Thế sao các anh chuẩn bị
lâu thế?
- Hiện nay không có người hộ
tống trên đường anh ạ!
- Thế nếu không có người đi
theo nhỡ người nhà tôi nguy hiểm thì làm thế nào? Tôi đề nghị các anh tập trung
cứu chữa ngay tại đây.
Vừa lúc đó có một bác sỹ đứng
tuổi vừa đến nói chen vào:
- Ban lãnh đạo đã hội chẩn
ba lượt rồi nhưng vẫn bế tắc, có lẽ anh nên đồng ý với chúng tôi nên đưa chị ấy
đi sớm may ra mới cứu được.
- Thế sao đã mấy ngày nay
các anh chị không quan tâm đế cô ấy...Trong khi đó mỗi ngày tôi lên gặp gỡ đề
nghị mấy lượt chứ có phải ít đâu.
- Thật tình chúng tôi cũng
đã cố nhưng...việc ấy chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm sau, anh nên cho chị ấy đi sớm
thì tốt hơn, vì chị ấy đang trong tình trạng ra máu không cầm được. Chúng tôi sẽ
có một y tá đi hộ tống.
- Tôi đề nghị phải có bác
sĩ, tôi mới cho đưa người đi.
Hình như những cán bộ y tế
của viện đã nhận thấy những thiếu sót của họ nên họ luôn mềm mỏng chấp nhận yêu
cầu của Hằng. Nhìn vợ ngày một lả đi Hằng giận những người cán bộ y tế nọ không
biết chừng nào nên đành thoả hieepj với họ để đưa Thơ lên bệnh viện tỉnh. Anh bỏ
mặc những ngưòi cán bộ y tế đứng đó chạy vào buồng cấp cứu lấy đồ đạc. Trong đầu
anh đã nghĩ đến việc có lẽ con gái anh sẽ mất mẹ vì trận ốm và sự vô trách nhiệm
của mấy người cán bộ y tế nọ. Thực ra thì trong mấy ngày vừa qua Thểua máu như
các kỳ kinh mà thôi. Mãi đế lúc đưa Thơ đi giải lúc chiều thì tình trạng xuất
huyết mới ồ ạt đến vậy. Cũng chính trong lúc vừa lo lắng ấy không hiểu sao Hằng
lại nghĩ đến lần Thơ hay bị ngứa mẩn khi Thơ mang thai con bé lớn. Thế rồi Hằng
lại nghi ngờ chuyện xuất huyết khối như vừa rồi là hiện tượng sảy thai thì đúng
hơn. Nghĩ đến đây Hằng lại phủ định lại mình khi nhớ rằng Thơ bảo kỳ kinh trước
đó vẫn có, cho dù từ ấy đến nay mới quá chưa đến một tuần. Có thể Thơ chậm kinh
do ốm mà thôi. Tuy vậy anh cũng vẫn phân vân : nhỡ ra ngay sau kỳ kinh Thơ có
mang thì sao? Nhưng sao mới chỉ có một tháng mà mầm thai đã lớn như khối máu vừa
rồi được chăng? Cuối cùng thì anh cũng quyết định chạy sang sản khoa gặp bà chủ
nhiệm khoa sản. Tất nhiên bà bác sĩ này không lạ gì cái việc viện đã ba lần hội
chẩn, nhưng khi nghe phân tích khá kỹ về các nhận định của anh thì bà đã tán
thành đưa Thơ về buồng sản để thăm khám. Vừa mới xem qua trong mấy phút bà đã
kêu lên:
- Đúng là sẩy thai rồi,
nhân viên buồng sản đâu chuẩn bị gấp dụng cụ về phòng số 5 ngay.
Hầu như tất cả những người
cán bộ y tế ở gần khu vực phòng khám, phòng trực đều đi vội đi vàng sang phòng
sản. Có lẽ cái số của Thơ có thể vượt qua hiểm cảnh nên chỉ sau hai mươi nhăm
phút thì việc nạo nhau đã xong. Cùng với việc nạo xong thì Thơ cũng không còn
ra máu nhiều nữa. Mọi người bệnh biết việc này đều mừng cho vợ chồng Thơ, còn
những người cán bộ của viện thì cũng thở phào nhẹ nhõm. Họ không bình luận gì
nhiều như mọi khi, tuy vậy nếu nhìn trên nét mặt thì nhận ra rằng họ muốn nói
nhiều điều trong cái sự vui mừng vừa mới xảy ra trước mắt họ. Những người hộ lý
đẩy xe đưa Thơ trở lại phòng trực cấp cứu và tổ chức tiêm thuốc cũng như xếp đặt
lại những đồ đạc của Vợ chồng Thơ để lộn xộn khi Hằng quăng tạm đó để tìm bà
trưởng khoa sản.
Một đêm thức trắng trong lo
âu về những gì có thể xảy ra đối với Thơ cũng đã đi qua. Hằng vừa chăm chú theo
dõi tình trạng bệnh của Thơ vừa suy xét lại đoạn đối thoại của anh với viện xem
có gì tệ hại quá hay không. Anh biết là lúc ấy anh rất khó chịu, vì ở hoàn cảnh
ấy ai mà không thế. Nhưng cũng may là anh chưa có gì xúc phạm quá mức với những
người cán bộ y tế của viện. Có thể nói gì được khi mỗi ngày ở cái bệnh viện nhỏ
này có bao nhiêu người cần đến họ, còn họ thì túi bụi, tất bật với mọi người
trong khi ở nhiều cơ quan đàn ông chỉ chuyện phiếm, đàn bà thì đan len cho mình
hết ngày này sang ngày khác.
Còn chưa đến giờ làm việc
mà đã có nhiều bác sĩ đến thăm Thơ. Những người này chắc là có gia đình ở ngay
cạnh viện. Hằng tươi vui trở lại kể về tình trạng bệnh của Thơ cho họ nghe, mặc
dù họ chỉ cần hỏi hai nhân viên trực tại phòng cấp cứu thì đã biết quá rõ chứ cần
gì đến một vị người nhà bệnh nhân. Tuy nhiên Hằng nhận ra rằng trong con mắt họ
có gì đó hơi nể Hằng. Chắc có lẽ là họ muốn xoá đi cảnh đối đáp căng như dây
đàn buổi chiều hôm trước.
Dù Thơ đã tỉnh táo trở lại
nhưng viện vẫn cho nằm tại phòng trực cấp cứu, như có ý quan tâm bù đắp cho sự
chưa phải của những ngày trước đó. Thậm chí cho đến khi xuống khoa nội, cả khi
về cơ quan rồi mà Hằng đến xin cho Thơ nghỉ thêm, viện cũng vẫn cấp giấy cho.
Còn có một điều may hơn nữa là trong những ngày chung sống với mọi người ở công
trường vợ chồng Hằng luôn tốt với mọi người nên khi nhà Hằng gặp khó khăn thì
ai nấy đều ra sức giúp đỡ. Chính vì vậy mà gần nửa tháng trời Thơ bị ốm, con bé
con vẫn được cô Huấn giữ trẻ cùng với mọi người chăm nom chu đáo.
4
Suốt năm 1978 qua đi trong nhịp sống bình lặng với những công việc cơ
quan và công việc gia đình.. Thơ thì đã khoẻ lại, đi làm cùng với mọi người. Hằng
vẫn bận bịu với công việc tại cơ quan nhiều hơn là chăm lo cho gia đình. Cũng
may là Thơ cũng là người yêu chồng, thương con nên cô chẳng bao giờ phàn
nàn điều gì cả. Có lẽ cô cũng tự hào với bè bạn khi chồng mình luôn tiến bộ
trong công tác và tốt nết trong cư xử với mọi người xung quanh hàng xóm, được mọi
người yêu quý.
Chiều nay Hằng được đồng
chí cán bộ công đoàn mời lên gặp không biết có chuyện gì. Công việc đại tu đang
vào tiến độ cuối nên mãi chiều muộn anh mới lên gặp đồng chí cán bộ công đoàn.
Cũng may là anh ấy còn đang họp nên chưa về. Thế là Hằng lại phải đợi đến gần
cuối giờ mới gặp được. Vừa mới gặp anh đã nói để thanh minh:
- Tớ bận họp thành ra cậu lại
phải chờ, thông cảm cho tớ nhé.
- Không sao anh ạ.
- Thôi anh em mình trao đổi
một tý thôi. Tinh thần công việc như thế này. Ngày kia vào bẩy giờ cậu đến hội
trường hai mươi lăm bê (25 B) để dự hội nghị sáng kiến do tỉnh mời.
- Thế có ai đi nữa không
anh?
- Có có, có anh Kháng phó
giám đốc đại diện đơn vị là khách mời. Còn cậu là đại biểu chính thức đấy nhé. Nhớ
chuẩn bị nội dung, để nếu họ yêu cầu phát biểu thì lên nói được ngay.
Cũng phải đến bẩy rưỡi hội
nghị sáng kiến của tỉnh Thanh Hoá mới bắt đầu khai mạc. Sau một số công việc
khánh tiết thì những đơn vị có nhiều sáng kiến lên báo cáo thành tích. Hết nông
trường Sao Vàng lại đến đơn vị trong ngành công nghiệp của tỉnh và các đơn vị của
Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh. Tiếp theo là các cá nhân lên phát biểu. Có lẽ
thời gian còn lại quá ít nên nhiều báo cáo hội nghị buộc phải công bố dừng lại
và hứa sẽ in trên báo Thanh Hoá để mọi người đọc. Hết phần báo cáo đến phần đọc
quyết định khen thưởng các tập thể và các cá nhân. Hằng được tặng một bằng khen
và được nhận một món quà là một chiếc quạt điện cơ ba mươi hai oát. Quạt này là
loại hàng quý hiếm khó mua được vì nó nằm trong danh mục cung cấp nên bên ngoài
không có bán.
Rất nhiều năm gia đình Hằng
chưa bao giờ có cái quạt nào, những khi nhìn thấy nó ở một số gia đình ở trong
khu tập thể Hằng chỉ ao ước làm sao có một cái để quạt cho con bé con gái của
anh, nhưng có lẽ là không bao giờ đến lượt anh mua. Cách đó hơn một năm cả đơn
vị được phân một cái, phân xưởng cân nhắc mãi mới phân cho anh Cầu thợ hàn, từ ấy
đến nay chẳng có thêm lần nào nữa. Hằng thật phấn khởi khi lên ban tổ chức nhận
chiếc quat về. Còn gì mừng hơn khi bỗng dưng ao ước Hằng đạt được.
Khi Hằng vừa mang chiếc quạt
về nhà anh đã cắm điện cho quay thử. Một làn gió mát từ chiếc quạt thổi thẳng
vào mặt anh làm cho mớ tóc bù xù đã rối lại càng thêm rối. Anh ngồi nghĩ đến
con gái hôm nay sẽ không còn kêu nóng, Thơ không còn phải cầm cái quạt nan phì
phạch nữa mà vui ngầm trong lòng. Chiều muộn Thơ mới đi làm về. Cô đón cả con
bé con về từ nhà trẻ về nhà. Vừa vào đến nhà cô ngạc nhiên sững cả người vì
không biết quạt của ai lại để trên giường nhà mình. Mãi lúc sau Hằng kể chuyện
quạt đó là phần thưởng của anh thì cô mừng ra mặt. Hai mẹ con cứ ngồi hóng gió
và ngắm cái quạt, quên cả việc phải lo bữa cơm chiều.
Hình như nhà nước chỉ đạo tất
cả các địa phương, các cơ quan triển khai cái việc tổng kết sáng kiến thì phải.
Chiều qua lại thấy tổ thông báo cho Hằng đi dự hội nghị sáng kiến tại Công ty
điện lực miền Bắc ở Hà Nội. Hằng càng phấn khởi hơn vì về Hà Nội nhất định Hằng
sẽ được về thăm mẹ. Sau một đêm đi tàu hoả Hằng đã đến địa điểm tổ chức Hội nghị
sáng kiến của Công ty. Hằng được bố trí ở một phòng trên khách sạn Giảng Võ với
một người nào đó mà anh không biết. Mãi sau khi ăn cơm chiều về Hằng mới gặp
ông bạn ở cùng, anh ấy là một người Việt gốc Hoa. Anh là một cán bộ chủ chốt ở
phòng kỹ thuật của nhà máy điện Lào Cai. Anh có cái tên là Phùng Tầu Cam, một
cái tên rất là Trung Quốc. Buổi họp cũng khá dài và nhiều báo cáo khá độc đáo
ai nghe thấy cũng phấn khởi. Vui nhất là các bữa ăn tập trung tại khách sạn đều
thịnh soạn không phải đóng tiền và tem phiếu, lại gặp nhiều đồng chí cán bộ to
của ngành. Hằng vừa ngồi xuống ghế thì có một đồng chí béo lùn đến ngồi cạnh. Hằng
đon đả mời đồng chí cán bộ ngồi xuống. Sau nhiều câu hỏi thăm mọi người Hăng mới
biết đồng chí ấy là Vũ Hiền, giám đốc công ty điện lực miền Bắc...
Đúng là năm nay Hằng gặp
may hơi nhiều. Mới có cái quạt của tỉnh Thanh Hoá tặng bây giờ lại được một cái
quạt nữa do Công đoàn Công ty điện lực miền Bắc tặng. Thế là anh sẽ có cái quạt
nữa cho mình mà không phải nằm ké hai mẹ con Thơ. Những năm này tuy cả nước còn
thiếu điện nhưng các cơ quan nhà nước vẫn chưa đặt vấn đề thu tiền điện mà chỉ
trừ vào lương với một chỉ số rất nhỏ còn ai dùng nhiều ít thì cũng chẳng ai bảo
sao. Tuy nhiên việc dùng điện chủ yếu là cho quạt mát và thắp sáng là chính.
Còn việc đun nấu bằng bếp điện thì hầu như các các cơ quan đều cấm cả.
Từ cuối năm ngoái Thơ đã được
điều về xí nghiệp để làm việc ở tổ cơ khí vì bận con nhỏ. Thế là Hằng lại phải
khăn gói quả mướp theo vợ con về khu tập thể của Xí nghiệp xây lắp đóng ở làng
Nhồi. Gọi là khu tập thể của xí nghiệp nhưng hầu như các nhà ở cũng chả hơn ở
công trường là mấy. Khổ nhất là các căn hộ đều quá chật hẹp nên nhà nào nhà nấy
cứ như là cái lò nung mỗi khi hè đến. Còn mùa đông thì chả khác gì cái cửa hàng
bán đồ trẻ con vì nhà nào nhà nấy đều giăng đầy khăn, tã lót và quần áo trẻ con
từ ngoài hiên vào đến trong nhà
ĐI PHẢ LẠI
1
Những người ra Phả Lại được chở trên một chiếc xe tải có mui bằng tôn hoa. Số
anh em ra đi hầu hết có một mình, chỉ có Hằng và anh Khâu là chuyển cả gia đình
ra đơn vị mới. Về phía gia đình Hằng thì đã rõ vì lý do thu gọn gia đình về
cùng một cơ quan, hơn nữa Hằng muốn về gần nơi bà mẹ đẻ ra anh đang cư trú để
có cơ hội trông nom, trong khi cụ đã già yếu. Còn anh Khâu thì chẳng có lý do
nào để anh phải mang cả gia đình ra ngoài này trong khi vợ con anh đang sống
ổn định cùng một cơ quan và hình như lại đang xin đất làm nhà riêng ở gần khu tập
thể. Bố mẹ anh em thì vẫn sinh sống ở Thanh Hoá, nơi mà gia đình anh đã coi như
quê thứ hai của mình. Cũng có một vài dư luận cho rằng anh bị thất sủng với mấy
vị cấp trên nên họ cố ý điều anh đi với danh nghĩa là điều những thợ giỏi cho
cơ sở mới. Số còn lại đều là các anh em tập thể, với lý do điều động ra xây dựng
đơn vị mới trong ngành. Lẽ dĩ nhiên là họ không muốn rời quê hương để đi xa như
thế nhưng do chính sách của trên nên phải chấp hành mà thôi. Lần đi này chỉ có
Hằng là mang theo hai đứa con gái ra cùng, còn anh Khâu thì vợ con vẫn còn ở lại
ra sau. Hằng luấn quấn xếp đi xếp lại cái rương, cái tủ và mấy cái cái thùng
xong thì chiếc xe tải cũng bắt đầu chuyển bánh chở theo đám người mệt mỏi vì lo
nghĩ và chờ đợi. Sau một hồi léo nhéo với nhau hai đứa con của Hằng đã bắt đầu
ngủ gà, ngủ gật. Hằng kéo cái Uyên ngồi gần lại bên cạnh rồi giơ hai tay ra đón
cái Viên từ tay anh khâu đưa cho. Anh kéo lại quần áo cho con khỏi xộc xệch rồi
để con bé vào lòng. Nó đã gà gật ngay từ lúc ra xe, nhưng vì thấy đông mọi người
với lại sung sướng vì được đi ô tô nên giờ đây nó mới ngủ say hơn khi cái xe
rung đều đều như đưa võng.
Hằng tựa lưng vào thành tủ quần áo, hai mi mắt khép lại nhưng không tài nào ngủ
được. Anh chưa hình dung được trong những ngày tới ba bố con anh sẽ ăn ở ra
sao. Lại còn Thơ và thằng cu Tiến còn đang ở Thanh Hoá chờ quyết định ra sau.
Những người giao quân số thì đi bằng một chiếc xe Com măng ca mui bạt, loại xe
bốn hoặc năm chỗ ngồi do Rumani sản xuất, dành cho các cán bộ đi công tác.
Quãng đường thật là dài bởi chiếc xe đi khá chậm chạp và xóc do đường quá xấu
và có nhiều xe lưu thông. Trên dọc đường đi người ta nhận ra sự xuống cấp quá độ
từ những mảng vá víu chằng chịt, cùng những cây cầu cũ kỹ còn đầy dấu tích bom
đạn chiến tranh. Qua Hàm Rồng một đoạn là đến cầu Tào, cầu Đò Lèn, cho dù mới
được sửa chữa nhưng cũng không khá hơn được bao nhiều.
Hằng cũng thiếp đi cùng với sự lắc lư của chiếc xe tải trong một thời gian khá
dài. Anh chỉ tỉnh dậy khi con bé cái Viên cọ quạy sờ vào bụng bố đòi uống nước.
Hằng với cái phích vỏ sắt màu ghi của ông bố vợ gửi cho hồi mới có cái Uyên.
Cái phích đến được với gia đình nhà Hằng cũng chẳng dễ dàng gì trong cái thời
buổi khan hiếm lúc đó. Cái phích ông bố vợ cho ban đầu chỉ có mỗi cái ruột người
ta quen gọi là cái Téc mốt, nếu mua phân phối chỉ độ sáu đồng rưỡi mà thôi,
nhưng đây là hàng chỉ có nhà nước mới có nên rất quý hiếm. Để có thể đựng nước
được, Hằng phải mua một cái vỏ đan bằng nan tre để lắp vào. Có lẽ phải đến mấy
tháng sau anh mới dùng tay nghề lâu nay phục vụ nhà nước để gia công cho mình
được một cái vỏ bằng tôn hoa tiết kiệm được sau những lần gò khay, gò chậu cho
đơn vị. Cái vỏ phích hình ống bằng tôn không được lăn ren nên chụp trên được gò
mép cố định, còn dưới đáy thì được bắt ba cái vít giữ tấm sắt lót cao su đỡ cái
ruột phích. Về hình thức cái vỏ Hằng gò khá giống với cái vỏ của nhà nước nên
ai cũng thích. Khối người có ý muốn nhờ anh làm giúp một cái như vậy để thay những
cái vỏ tre đan. Thế mà mới chỉ dùng được hơn hai tháng Hằng đã phải cho đi vì
anh may mắn được ông bố vợ gửi cho cái vỏ của nhà nước chế tạo, cho dù bông hoa
phong lan không được nổi lắm trên nền màu ghi tối của cái vỏ. Giờ đây thì cái
chụp và cái đế nhôm đã nhom nhem màu nước chè vàng xỉn.
Mãi gần hai giờ chiều Xe ô tô chuyển quân của Thanh Hoá mới dừng lại trước cổng
của trụ sở Công ty điện lực miền Bắc ở hai mươi Trần Nguyên Hãn. Hai đứa con
gái của Hằng được một phen thả xuống đường Hà Nội cứ chạy hết chỗ này đến chỗ nọ
làm Hăng cứ phải để mắt vào chúng. Hằng mua cho các con hai cốc nước chè xanh
pha đường trong khi chờ cán bộ nhà máy vào liên hệ với Công ty. Lũ con của Hằng
không thích nước lắm mà chỉ thích cầm các cục đá lạnh để nhai ngau ngáu để mặc
cho nước chảy cả ra ngực áo. Thấy lũ trẻ thích đá, anh Khâu cũng lựa các viên
đá trong cốc của mình ra đưa cho hai đứa trẻ nhà Hằng.
Sau khi trao đổi với Công ty xong thì số cán bộ trên chiếc xe con chia tay với
mọi người để quay trở lại. Chỉ có một cán bộ nhân sự lên xe tải cùng đi với mọi
người về Phả Lại. Con số trên xe tải cũng bớt đi một người với lý do dừng lại ở
Công ty để gặp người quen trong lãnh đạo, xin trở lại đơn vị cũ.
Có lẽ cũng phải gần bốn giờ chiều xe mới đến được bến phà Phả Lại. Từ đây đã thấy
được không khí nhộn nhịp của công trường xây dựng với những ồn ào của tiếng nói
của hàng trăm con người đang gọi nhau, ra lệnh làm một việc gì đó. Tiếng ồn ào
của máy móc chuyển động quay tròn, nâng lên hạ xuống, của xe rú ga lên dốc, của
tiếng mìn nổ phá đất đá ở chân núi xa xa. Chiếc xe tải vẫn cần mẫn bò qua các
doi đất bị dồn bởi hai lằn bánh xe đi cạnh nhau là cho mọi thứ như muốn bị xô
xuống mặt đường. Hằng nghĩ có lẽ mấy thứ dễ vỡ và có phần ọp ẹp của nhà mình chắc
lần này sẽ không còn giữ được nữa. Người ta nói với nhau rằng:"Ba lần chuyển
nhà bằng một lần nhà cháy"có lẽ cũng đúng chứ chẳng sai. Chẳng nói gì xa
xôi đến như nhà Hằng vừa qua cũng phải bán đi chiếc giường lim mới mua được, vì
sợ mang đi trên ô tô sẽ bị gẫy hỏng. Rồi thì còn bao nhiêu thứ gom nhặt mua sắm
để dùng cũng phải cho đi vì không mang được. Cho dù những vật vặt vãnh ấy giá
trị sử dụng không là bao nhưng nếu không có là không có cái để dùng.
Khi chuyển hết được đồ đạc từ trên xe xuống thì trời cũng đã tối. Trong lúc các
anh em tập thể xuống bếp tập thể ăn cơm thì Hằng bắc bếp dầu nấu cơm cho các
con ăn. Cũng may là anh đã mua sắm thức ăn trước lúc lên xe nên bây giờ có cái
để nấu ăn. Cũng có một số anh em ở các đơn vị khác đến trước đến giúp anh một số
việc như mượn giường chiếu. Có mấy cô gái thì đón hai cái tý con ra rửa chân
tay mặt mũi. Cũng may là mấy đứa trẻ nhà Hằng không lạ người ngoài nên không quấy
quả trong lúc anh bận nấu cơm. Khi hai cái tý ăn xong mấy cô lại dẫn đi chơi
nên Hằng mới có thời gian để dọn dẹp tiếp những đồ đạc cất trong tủ và trong
các thùng tôn. Cũng may là anh chèn chặt nên mọi thứ còn nguyên vẹn.
Một ngày bận bịu với con cái và các đồ vật cũng đã qua đi. Khi tất cả đã chìm
vào bóng đêm khá lâu Hằng mới có điều kiện ngồi một mình để rồi nghĩ lại về tất
cả các công việc trong đợt di chuyển vừa qua. Anh cũng không ngờ được cái vùng
Phả Lại lại cách quá xa cái làng quê nhỏ bé mà gia đình Hằng đã coi như là quê
thứ hai. Gọi như vậy bởi vì ta vẫn thường coi nơi quê cha là quê chính, tuy
nhiên cái quê chính ấy nhiều khi cả ông bà cha mẹ ta cũng chả ở đó được bao
nhiêu thời gian. Thành ra cái ước muốn về gần nhà để có điều kiện chăm sóc mẹ
trong lúc tuổi già cũng khó thực hiện được nhất là gia đình Hằng hiện vẫn phải
sống xa nhau. Cái cơ ngơi mà Gia đình Hằng ở tạm cũng vẫn chỉ là một gian nhà tập
thể của một cơ quan sơ tán trong thời chiến tranh nhượng lại cho nhà máy sử dụng
để đón tiếp công nhân về làm việc với nhà máy sau này. Hằng còn phiền muộn hơn
khiThơ và cu Tiến vẫn chưa chuyển ra được do cán bộ tổ chức của nhà máy gây cản
trở. Càng nghĩ đến những ngày anh gặp ông Hiên và ông Lọng ở Công ty mấy bữa
trước anh lại thấy buồn.
Khi còn ở Thanh Hoá anh thấy nhiều người nói vùng này khá gần Hà Nội, cũng
chính vì thế nên anh đã nhờ Đại gửi danh sách của anh vào nhóm đề nghị được ra
Phả Lại trong khi anh Sước quản đốc phân xưởng Cơ điện thì lại muốn để anh lại
làm nòng cốt cho tổ sửa chữa máy sau này. Anh có ngờ đâu sau khi lên tầu ra Hà
Nội rồi phải đạp xe mấy chục cây số theo đường Dâu, Keo lên ngã tư Đông Côi rồi
mới đến bến Than. Thế mà từ bến Than sang Phả Lại còn phải qua một tầm đò
dọc dài gần hai tiếng đồng hồ. Quãng đường đi tắt mà cũng đã gần năm mươi cây số
như vậy thì sau này về thăm nom mẹ cũng chẳng được thường xuyên. Cái việc xa
xôi cách trở ấy dẫu sao cũng không quan trọng bởi tháng tháng anh vẫn có thể về
với mẹ được, không như trước đây cả năm chưa chắc đã về nổi một lần. Điều phiền
muộn mà anh nghĩ đến là sự bất đồng ý kiến của anh với ông trưởng phòng tổ chức
trong lần tiếp xúc ban đầu. Nơi mà sau này sẽ nắm giữ vai trò trọng yếu mọi mặt
đời sống và quyền lợi của anh.
Hằng cũng không may mắn cho lắm ngay trong buổi đầu tiên bởi mấy lần lạc đường
trở đi, trở lại nên khi đến bến Đại Than thì vừa lúc nhà đò nghỉ trưa ba tiếng
đồng hồ, chờ sang chiều mới lại chở tiếp. Một mình nằm bên những cây đay vừa chở
từ bãi ngập nước lên bờ mà lòng buồn không bút nào tả được. Đến khi đò vượt hai
sông sang đến cống Phao Tân thì đã gần ba giờ rưỡi. Hỏi thăm được đến phòng tổ
chức nhà máy đóng ở Đồi Cao thì đã thấy các cán bộ nhân viên rục rịch ra về
thành ra việc gì cũng vội vàng không kịp nghĩ suy cân nhắc.
Ông cán bộ tổ chức có tên là Hiên, một cái tên nghe đến hiền lành và thân thiện.
Ông có khuôn mặt đầy đặn và sáng sủa hứa hẹn một sự phát đạt cao hơn hiện tại.
Hình như những người làm cán bộ tổ chức đều có vẻ mặt khá giống nhau về nhiều
phương diện. Nhìn họ ta không hiểu họ yêu hay họ ghét mình. Riêng ở ông Hiên
thì khuôn mặt còn tỏ ra sự dễ dãi và thông cảm đến không ngờ. Thế nhưng chỉ sau
vài câu tiếp xúc ta nhận ra cái sự cứng rắn đến ghê người của ông thông qua những
câu hết sức ngắn gọn. Cái sự ngắn gọn đến mức làm cho ta hết hy vọng nài nỉ, cầu
xin những điều cần thiết ở nơi ông. Cũng có thể vì Hằng là người lạ mà lại chỉ
là một người công nhân cấp dưới nên ông tỏ ra thế chăng. Còn khi ông gặp những
người thân cận hoặc cấp trên khuôn mặt có sự biến đổi khác chăng nên mãi cho đến
sau này nhiều người vẫn khen ông là người hiền lành và nhã nhặn thậm chí còn bảo
ông rất tốt với mọi người. Hằng chắc cũng sẽ nhận định chung như mọi người nếu
như Hằng và gia đình Hằng không là nạn nhân của ông trong mấy chục năm sau đó.
Biết là đã muộn giờ nên sau những câu chào xã giao thông thường Hằng liền đề cập
đến mục đích mà anh đến gặp ông:
- Báo cáo anh, tôi là Hằng hiện công tác ở sở điện Thanh Hoá xin gặp anh một
lát ạ.
- Anh gặp về việc gì?
- Hôm trước cán bộ nhà máy ta về Thanh Hoá đã đồng ý tiếp nhận nhà tôi, nhưng
vì lúc ấy nhà tôi chưa chuyển về nhà máy điện Thanh Hoá nên các anh ấy bảo cứ cắt
chuyển về Phả Lại rồi trực tiếp ra lấy giấy tiếp nhận là có thể chuyển cả gia
đình trong cùng một lúc.
- Thế thì việc điều chuyển này hiện nay vẫn chưa có chủ trương anh ạ.
Nghe ông Hiên nói thế Hằng giật mình đứng ngây ra một lúc không biết ăn nói ra
sao với vị cán bộ nọ. Anh lục trí nhớ trở lại mấy ngày trước và anh nhớ rằng
ông cán bộ của công ty đã nói rõ về chủ trương tiếp nhận vợ, chồng công nhân
ngoài ngành nhưng học và làm nghề điện đấy thôi. Chẳng những thế ông cán bộ tổ
chức sở điện Thanh Hoá cũng đã nói rất rõ về điều này, thế mà sao giờ đây lại...vừa
nghĩ đến đây Hằng đã nói ngay:
- Thế sao hôm trước cán bộ nhà máy đi nhận người nói tôi có thể đến nhà máy trực
tiếp lấy giấy tiếp nhận, thành ra tôi đã cắt chuyển cả rồi .
- Thế nhưng nhà máy ta đang thiếu nơi ăn ở nên việc này tạm thời chưa nhận. Anh
đợi thêm mấy tháng nữa rồi chúng tôi sẽ giải quyết.
- Nếu thế thì đề nghị các anh cứ cho chuyển, chỗ ăn ở chúng tôi sẽ tự thuê tạm
vậy.
- Không làm thế được anh ạ.
- Anh bảo khó khăn nơi ở thì tôi sẽ tự lo được mà.
- Biết vậy nhưng việc này hiện vẫn phải chờ chủ trương chung rồi mới giải quyết
được anh ạ.
- Hôm gặp cán bộ nhà máy về xin người, ông ấy nói sẽ tạo điều kiện tiếp nhận
ngay vợ con công nhân về ngành để cùng chuyển về nhà máy ta...thành ra nhà máy
trong đó chỉ tiếp nhận rồi chuyển tiếp mà không bố trí công việc.
- Chúng tôi cũng biết vậy nhưng các anh cũng thông cảm với nhà máy chờ thêm một
thời gian nữa nhé.
- Báo cáo anh, hiện nhà tôi đã nghỉ chờ đợi! Tôi sợ thời gian công tác của cô ấy
không liên tục, với lại việc nhập và cắt hộ khẩu cùng với lương thực, thực phẩm
cũng cần có quyết định tiếp nhận mà nhà máy trong đó không thể thực hiện được
do giới thiệu di chuyển lại viết về nhà máy ta rồi anh ạ.
Sau nhiều lần Hằng nói đi, nói lại về hoàn cảnh khó khăn của gia đình mình
nhưng ông Hiên vẫn không thay đổi ý kiến, ông lạnh lùng đáp lại lời Hằng:
- Tôi chỉ có thể trao đổi với anh như vậy, việc anh đề nghị hiện nay chưa giải
quyết được. Anh hãy chờ đợi điều động sau mấy tháng rồi sẽ đến.
- Thế trong mấy tháng ấy gia đình tôi sẽ lấy lương thực, thực phẩm ở đâu để sống?
- Cái đó thì tôi không thể giải quyết được. Tôi chỉ có thể tiếp nhận chị ấy sau
ba tháng nữa, đấy là thời gian ngắn nhất có thể. Nếu anh không chấp nhận thì
lên gặp công ty trên Hà Nội để bàn với chúng tôi và công ty vào sáng thứ
hai tới.
Cũng chẳng cần Hằng có đồng ý hay không ông Hiên đã kẹp cặp tài liệu vào tay
quay ra cửa để lên xe ô tô về khu tập thể. Hằng buộc lòng quay ra bến phà đạp
xe để về Hà Nội kẻo trời cũng đã sắp tối.
2
Mặc dù chân tay vẫn còn rời rã do mới đạp xe hàng trăm cây số trong ngày hôm thứ
bẩy nhưng Hằng vẫn dậy sớm để ra Hà Nội. Cũng may nhà anh chỉ cách Hà Nội có
non chục cây số nên anh ra đến Tổng Công ty Điện lực cũng khá sớm. Hằng gửi xe
xong liền lên trụ sở của Phòng Bẩy để gặp ông Lẫm trưởng phòng. Hằng đã đến
Phòng Bẩy mấy lần, ngay từ khi ông Thực người Thanh Hoá còn làm trưởng phòng
nên chẳng lạ gì nơi ấy.
- Báo cáo anh, em là Hằng ở Sở điện Thanh Hoá thuộc diện điều động về Phả Lại,
xin gặp anh một lát ạ.
Ông Lẫm còn đang ngắm nghía chàng trai đứng trước mặt để xem anh ta là ai hoặc
đã gặp ở đâu chưa thì Hằng đã lại tiếp tục nói thêm.
- Hôm trước em đã lên Phả Lại gặp anh Hiên và anh Lọng xin giấy tiếp nhận để
chuyển cho nhà em và các cháu cùng ra, nhưng các anh ấy chưa nhận lời. Các anh ấy
có hẹn hôm nay gặp tại Công ty để giải quyết ạ.
- Việc này Công ty đã phân cấp cho các đơn vị giải quyết rồi em ạ. Em cứ bám
sát các anh ấy để lấy giấy rồi chuyển cô ấy ra thôi mà. Ngoài này đang thiếu
nhiều công nhân lắm em ạ.
- Trường hợp của nhà em là chuyển từ một đơn vị ngoài ngành về nhà máy của em rồi
mới đi Phả Lại anh ạ.
- Thì chính vậy anh mới bảo chú gặp nhà máy Phả Lại để lấy giấy chứ trong ngành
thì thì Công ty điều là xong.
- Nhưng các anh ấy bảo sau ba tháng nữa mới tiếp nhận được anh ạ.
- Lý do?
- Họ bảo chưa có nhà ở.
- Có khi họ cũng khó khăn đấy, chú cố gắng đợi một chút có được không?
- Cái khó là cả nhà em sẽ đong gạo ở đâu để sống trong mấy tháng ấy?
- Thôi được anh đang dở một tý việc, chú cứ ra ngoài ấy chờ họ đến rồi anh em
cùng bàn xem sao. Hôm nay họ có lịch làm việc ở đây đấy em ạ.
- Họ có hẹn gặp em ở Tổng Công ty vào hôm nay để giải quyết mà.
Mặc dù Tổng Công ty đóng ở ngay đầu đường Trần Nguyên Hãn, cách bờ hồ Gươm có một
con đường nhưng anh cũng không thể ra mà ngắm cảnh hồ được vì sợ mấy ông cán bộ
Phả Lại xuống sẽ không gặp. Hết đứng rồi lại ngồi ở cổng Tổng Công ty gần hai
tiếng mà Hằng vẫn chưa thấy xe của Phả Lại đến. Anh đang định vào nhà gửi xe để
lấy xe ra về thì chiếc ô tô con của Phả Lại đỗ ngay trước cổng. Từ trên xe bước
xuống chính là ông Hiên và một người nữa mà anh cũng đã gặp hôm lên Phả Lại đó
là ông Lọng trợ lý giám đốc. Một người có khuôn mặt khá đanh thép và ẩn chứa
nhiều toan tính. Con mắt nhìn vừa có tý tinh nghịch nhưng đó là sự tinh nghịch
ác hiểm. Cái trán cao và hẹp trên lớp da mặt đen xạm càng làm cho khuôn mặt ông
bí hiểm hơn.
Không để mất dấu, Hằng xuất hiện ngay trước mặt hai ông và bám sát hai ông cùng
vào công ty. Lẽ dĩ nhiên là hai ông này đã nhận ra Hằng, họ gượng gạo bắt tay
anh và bảo anh cùng đi lên tầng hai vào Phòng Bẩy ở ngay cửa cầu thang gác.
Sợ hai ông này bận công tác khác nữa nên vừa ngồi xuống ghế Hăng chủ động đề
nghị công việc của anh ngay với ông Lẫm :
- Em báo cáo với các anh về trường hợp của em...
Hằng còn chưa kịp nói hết câu ông Lẫm đã giơ tay ngăn lại:
- Việc của chú tôi nắm được rồi, tôi đã trao đổi với anh Sủng bên nhân sự, tý nữa
sẽ thảo luận với các anh ở Phả Lại, cứ uống nước đi đã.
Thế là sau một lúc hàn huyên giữa chủ và khách tất cả lại đứng lên phân tán về
các nơi trong khu vực của tổng công ty. Hằng ngồi ở ghế mà trong lòng nóng như
lửa đốt vì chờ đợi. Ông Sủng thì cũng đang chúi mũi vào các trang sổ sách nên Hằng
cũng ngại hỏi, sợ làm ông bị phân tán. Dẫu sao thì ông ấy sẽ phải nói với Hằng
về việc Hằng đã đề nghị như ông Lẫm vừa đã nói lúc nãy. Có lẽ phải đến gần hai
mươi phút ông Sủng mới ngẩng đầu lên :
- Có tý việc gấp rút phải báo cáo, cậu thông cảm cho mình nhé!
- Không sao anh ạ!
Nói vậy nhưng trong bụng Hằng như có muối xát. Sau khi xếp lại đống sách vở ông
Sủng lại giở tiếp những quyển vừa mới lấy từ cái ngăn tủ ra. Ông chăm chú lật
giở dường như muốn tìm loại văn bản nào đó mà ông đã xếp chồng đống trong đống
giấy tờ nọ, cuối cùng thì ông cũng reo lên:
- Đây rồi, danh sách của Thanh Hoá đây rồi!
Nói là vậy nhưng ông vẫn cứ lật giở từng tờ một để tiếp tục tìm kiếm.
- Cậu nói vợ cậu tên là gì ấy nhỉ?
- Lê Thị Thơ anh ạ!
- Không thấy có là thế nào nhỉ?
- Trường hợp của nhà em được chuyển theo một văn bản riêng vì cô ấy chuyển từ
đơn vị ngoài ngành điện về rồi mới làm văn bản điều động anh ạ.
- Thì ra thế! Có lẽ các anh Phả Lại ngại nhận người không có chuyên môn chứ gì?
- Nhà em là công nhân điện học chính quy và lại đã làm trực tiếp hơn ba năm rồi
đấy chứ.
- Thế thì tốt quá còn gì? Thế sao không bảo đồng chí cán bộ tuyển người làm thủ
tục ngay cho?
- Lúc ấy nhà em chưa có giấy di chuyển nên chưa nhập về sở điện Thanh Hoá. Đến
khi lấy được giấy thì các anh ấy đã đi rồi.
- Thế bây giờ cậu đề nghị thế nào?
- Thì chỉ cần Phả Lại cho giấy tiếp nhận là em chuyển nhà em từ sở điện Thanh
Hoá ra ngay thôi anh ạ.
Hai anh em mới trao đổi đến đó thì ông Lẫm cùng hai ông cán bộ Phả Lại trở về.
Sau khi ổn định chỗ ngồi được một lúc thì ông Sủng lên tiếng:
- Vừa rồi tôi đã xem giới thiệu của ban tuyển dụng về trường hợp của vợ cậu Hằng
rồi. Cô ấy là công nhân điện bậc ba đã trực tiếp hơn ba năm như vậy là phù hợp
với chủ trương đề nghị các anh Phả Lại xem xét giải quyết cho cậu ấy.
- Không phải chúng tôi không giải quyết nhưng nhà máy hiện không có chỗ ở nên
phải chờ đợi mấy tháng.
Nghe ông Hiên nói vậy, Hằng nhận ra sự thực là ông Hiên không muốn chấp nhận vợ
anh chứ chẳng phải vì trở ngại gì mà cần phải về tổng công ty bàn bạc mới thông
suốt được. Giờ đây Tổng công ty cũng đã gợi ý chấp nhận thế mà ông ấy vẫn cố
tình từ chối thì cái ý của ông đã rõ rồi. Anh định nhắc lại việc anh nói với
ông ấy hôm ở trên Phả Lại là sẽ tự lo nhà ở trong lúc nhà máy chưa có nhà nhưng
lại thôi. Anh thở dài nói dỗi:
- Nếu đã khó khăn đến thế thì cần gì phải ép bao nhiêu công nhân ở trong đó phải
gấp rút rời bỏ vợ con để ra ngoài này...nếu đã khó khăn đến thế thì sao không
nói để người ta ở lại. Đến khi đã cắt hết cả hộ khẩu, lương thực rồi mới thế
này thế nọ!
- Việc này chúng tôi chưa có ý kiến gì cả.
- Người của các anh nói... những là vì ngành điện, vì nước vì dân, rời quê
hương, gia đình...còn tôi may là về gần nhà hơn một chút thì khó khăn đến
vậy!
Thấy Hằng có vẻ nóng nảy ông Lẫm vội lên tiếng:
- Em cứ bình tĩnh, để rồi mọi người cùng suy nghĩ, thế nào cũng sẽ có hướng khắc
phục.
- Em đề nghị anh huỷ bỏ quyết định điều động của em để em về trong đó vậy.
Thấy tình hình ngày một căng thẳng lại Nghe Hằng nói vậy ông Sủng cũng lên tiếng:
- Cậu này thật là... Làm gì có chuyện đã báo cáo con số viết quyết định rồi lại
huỷ đi được. Cậu phải bình tĩnh để giải quyết chứ. Mà cậu cũng biết, giám đốc tổng
công ty có quyền điều động cậu mà không điều động vợ cậu! Chả lẽ cậu không sợ kỷ
luật à?
- Kỷ luật à? Bốn năm trời sống với bom đạn ở Hàm Rồng vì ngành điện. Đâu là lao
động tiên tiến, chiến sĩ thi đua. Lại hơn sáu năm liền thay mặt công nhân ngành
điện vào chiến trường chiến đấu. Vừa ra quân về đến nhà máy cũ lại phong trào
sáng kiến, hết của tổng công ty, của bộ, lại đến của tỉnh, rồi lại lao động
tiên tiến, lại chiến sĩ thi đua; đang là người như vậy bây giờ tự nhiên chống lại
mệnh lệnh cấp trên, tự nhiên tiêu cực, tự nhiên trở thành người xấu. Chắc cũng
có người hỏi nguyên nhân vì sao chứ, phải không anh? Với lại em nghĩ vừa rồi chỉ
là anh hỏi thử vậy thôi chứ, những người như các anh đã là cán bộ tổ chức ở cấp
cao... đạo lý của các anh, tâm tư của các anh làm sao có thể để một người như
thế gặp cái sự bất công được?
Trừ có ông Hiên và ông Lọng là ngồi im còn cả ông Lẫm lẫn ông Sủng đều phá lên
cười. Hai ông này buồn cười đến vậy chắc là vì động tác của Hằng giống
như một chú bé đang hờn dỗi, làm mình làm mẩy hơn là đấu khẩu với các ông ấy.
Sau khi hết cười ông Lẫm ghé sát vào tai Hằng nói:
- Cậu hơi thẳng thắn quá đấy!
- Tính em từ trước đến giờ vẫn như vậy anh ạ.
- Tất nhiên thẳng thắn là tốt nhưng thẳng thắn đến mức như vậy làm cho người ta
cảm thấy e ngại, khó gần. Thôi cứ về đi từ nay đến giữa tháng tớ sẽ điều cô ấy
ra.
Tuy là hai người trao đổi riêng với nhau rất nhỏ nhưng nếu chú ý thì cũng vẫn
nghe được. Hằng đứng dậy chào mọi người ra về. Vừa nghe chào anh Sủng đã vội bảo:
- Vào ăn trưa với các anh luôn thể, anh dặn lấy cả tiêu chuẩn cho chú đấy.
Đến lúc này Hằng mới nhìn đến đồng hồ, thì ra đã hơn một giờ chiều rồi. Anh vừa
quay ra cửa một cách vội vã vừa nói:
- Thôi em về luôn để kịp lên tầu về Thanh Hoá.
- Mãi đêm mới có tầu cơ mà.
- Em phải về qua nhà ở bên kia cầu Đuống rồi mới ra tầu anh ạ!
3
Cuộc gặp của Hằng với mấy ông tổ chức cả cấp bé lẫn cấp lớn của ngành điện đã
qua đi gần một tháng rồi mà vẫn chẳng thấy quyết định điều động của Thơ gửi về.
Mấy lần anh định lên hỏi ông Hiên nhưng anh lại nghĩ chắc nếu có thì họ sẽ báo
cho mình chứ họ giữ làm gì. Hay là ông Lẫm lại quên mất rồi không biết. Chờ mãi
càng sốt ruột sáng nay thứ tư, anh quyết định báo nghỉ buổi sáng để lên hỏi
phòng tổ chức xem sự thể ra sao. Vừa lên đến Đồi Cao anh gặp ngay ông Hiên đang
đi xuống dốc, anh cất tiếng chào làm ông Hiên giật mình đứng lại. Anh sợ ông ấy
bận đi nên cất giọng hỏi luôn:
- Không biết nhà em đã có quyệt định chưa bác nhỉ?
- Vẫn chưa thấy gì đâu chú ạ!
- Sao thế nhỉ?... Bác ấy bảo sau mấy hôm bác ấy sẽ điều mà. Hay là bác xem lại
xem có lẫn vào đâu không.
- Vẫn chưa có mà! Nếu có thì tôi đã biết.
- Vâng! Thế thôi chào bác.
Vừa đi vừa nghĩ ngợi lung tung nên Hằng chẳng để ý đến xung quanh, chợt có ai
đó chạm vào lưng anh.
- Thế nào đã có giấy của cô ấy chưa?
Vừa nghe nói anh đã nhận ra tiếng ông quản đốc của mình, anh liền quay lại:
- Vẫn chưa có anh ạ...Có lẽ xin anh cho nghỉ cả ngày, lên tổng công ty xem thế
nào.
- Được, cứ đi đi...có xe chưa hay là lấy xe của tôi mà đi.
- Em có xe để dưới kia rồi.
Cũng chỉ kịp nói với anh quản đốc mấy câu như thế là Hằng cắm cúi xuống chân đồi
để sang phà về Hà Nội. Gần bốn tiếng đồng hồ Hằng mới đạp xe về đến Hà Nội. Mặc
dù mỏi nhừ mỏi nhẫn cả người anh vẫn cố nhảy mấy bậc lên thang gác để vào phòng
bẩy. Cũng may vừa vào đến cửa thì chạm mặt ông Lẫm đang đi ra. Vừa nhìn thấy Hằng
ông đã hỏi:
- Thế nào? Vợ con đã ổn định rồi chứ?
- Đã có giấy tờ gì đâu mà ổn được.
- Vớ vẩn! Quyết định tớ đã có nửa tháng nay rồi cơ mà. Hay là cậu không hỏi chỗ
ông Hiên?
- Em vừa mới hỏi ông ấy trước khi về đây anh ạ.
- Hay là họ để lẫn vào đâu?
- Ông ấy đã khảng định là chưa có, nếu có ông ấy đã biết.
- Cậu không tin tớ chứ gì? Tớ lấy quyết định lưu cho cậu xem.
Đọc tờ quyết định Hằng thấy rõ ràng là quyết định đã viết cách đây nửa tháng thật.
- Hay là các anh quên chưa gửi?
- Quên thế nào được! Tớ viết hôm phái đoàn tớ làm việc ở dưới ấy chứ có phải viết
ở đây gửi xuống đâu.
- Thế nhưng ông ấy cứ khăng khăng bảo không có thì làm thế nào? Thôi cho em mượn
mang về dưới đó rồi hôm sau em lại mang về giả.
- Ô cái thằng...quyết định lưu có một bản làm sao lại cho cậu mượn được.
Cũng chẳng thèm nghe ông Lẫm nói gì nữa, Hằng gấp tờ quyết định lao vội xuống cầu
thang mặc ông Lẫm đứng một mình trên đó. Cũng không cần cơm nước Hằng tiếp tục
đạp hơn sáu mươi cây số trở về Phả Lại. Khi dắt chiếc xe đạp thống nhất lên đến
chân Đồi Cao thì Hằng mới thấy thấm mệt. Gần một trăm hai mươi cây số đạp xe
trong một ngày làm gì mà chẳng mệt. Anh giận ông Hiên và chỉ mong chóng gặp để
nói vào mặt ông ấy những lời thật cay độc vì những gì ông ấy đã gây ra cho anh.
Còn chưa kịp nghĩ mình sẽ nói câu gì với ông ấy thì đã thấy ông ấy từ trên đồi
đi xuống, mặt tươi hơn hớn:
- Chú Hằng đấy hả? Lúc nãy mấy cậu ấy đã thấy quyết định của cô ấy rồi. Chú lên
trên phòng lấy về để làm thủ tục chuyển cho cô ấy.
- Tôi tưởng anh không thấy, tôi đã mang quyết định từ công ty về đây này.
- Chú lên Hà Nội về à? Làm sao các ông ấy lại cho chú lấy bản lưu ấy được?
Hằng không còn đủ bình tĩnh nữa anh định nói tất cả những gì tồi tệ nhất nhưng
không hiểu sao anh không thể cất lời lên được. Cuối cùng thì anh cũng nói được
một câu vừa như trả lời, vừa như muốn nói rằng dù thế nào thì ông cũng không cản
tôi được:
- Anh không tin à?
Vừa hỏi Hằng vừa lôi từ trong túi ra tờ quyết định mà anh đã lấy ở tổng
công ty về giơ cho ông Hiên xem. Lẽ dĩ nhiên là ông Hiên đã nhận dạng được ngay
vì những tờ quyết định này chính từ chỗ ông đã phát hành ra. Họ chào nhau thật
là miễn cưỡng và mệt mỏi chả thể nào diễn tả ra được.
4
Chiều nay Hằng đã cắt xong tất cả giấy tờ và chế độ thì đột nhiên anh thấy người
gây gấy sốt. Đã lâu lắm anh không sốt rét tái lại thế mà sao hôm nay lại sốt mới
chết chứ. Mà cũng lạ cho cái kiểu sốt lần này. Sốt thì cũng chỉ có ba chín độ
mà sao Hằng cảm thấy thật ghê sợ. Đầu đau như có ai cầm búa bổ vào, người thì
rã rượi mê man tựa như muốn lả đi. Cũng đã gần một tuần trong tình trạng
dở mê dở tỉnh hôm nay anh mới thấy hình như bệnh có giảm đi chút ít. Cứ nghĩ lại
mấy ngày vừa rồi anh càng cảm thấy thật là bi quan, nhất là sau khi đã uống hết
liều thuốc sốt rét mà không cắt cơn được. Nghe tin anh về đơn vị đón vợ con để
chuyển ra Phả Lại mọi người trong đơn vị cũ đến thăm khá đông. Nhiều anh chị ở
xa khu tập thể hàng vài chục cây số cũng cố tranh thủ lại thăm. Ai cũng muốn biết
về tình hình xây dựng nhà máy ngoài Phả Lại, động viên Hằng mau khỏi bệnh.
Chiều nay thứ bẩy cuối tuần làm việc mọi người tập trung khá đông về sân của
khu tập thể để xem hai đội bóng của khối cơ quan gián tiếp và khối phân xưởng
trực tiếp sản xuất đá bóng giao hữu. Hằng cũng ra trước cửa ngồi xem với mọi
người. Mấy anh em vừa mới ở nhà máy về cũng lại gần với anh vừa ngồi xem vừa hỏi
han tình hình bệnh tật của Hằng. Đang nói chuyện Hằng cảm thấy ngứa ở dưới bụng
chân anh kéo ống quần lên để gãi. Cùng lúc ấy Quang tổ rèn chỉ trỏ vào chân Hằng
ra hiệu chớ buông quần vội. Quang chỉ vào các vết chẫm đỏ dày đặc dưới chân Hằng
nói:
- Bệnh kia chứ đâu! Xuất huyết dưới da nhiều thế cơ mà.
Nghe Quang nói vậy ngay cả Hằng cũng bất ngờ cúi xuống nhìn những chấm đỏ dày
di dày dít dưới hai bắp chân. Thì ra Hằng bị sốt xuất huyết mà chính anh cũng
không biết. Trong lúc sốt nhiều, lại thay nhau nóng rét nên anh chỉ nghĩ là
mình bị sốt rét tái phát mà không nghĩ là mình bị sốt xuất huyết. Có lẽ vì thế
mà nhiệt độ sốt không cao lắm nhưng Hằng đã thấy ghê sợ khác hẳn các kỳ sốt rét
trước đây.
Dứt cơn sốt Hằng nghỉ thêm vài ngày cho lại sức rồi mới thu vén đồ đoàn để ra
Phả Lại. Buổi tối anh đi chia tay với mọi người trong khu tập thể và khu gia
đình mới thực sự bồi hồi vì cái sự xa cách sắp xảy ra giữa anh cùng với mọi người
trong đơn vị. Có cái gì đó như nuối tiếc, như xót xa và buồn bã. Những năm sống
chết bên nhau trong thời chiến tranh; những ngày gian nan thiếu thốn nhưng vẫn
vui vẻ thân thiết đầy kỷ niệm đã sắp xa rồi. Hằng là người sống thiên về tình cảm
nên anh rất dễ xúc động, nhưng anh cũng là người không thích bộc lộ nên những
chuyện đau buồn anh đều muốn cố giấu mọi người. Cái sự giấu kín ấy nhiều lần
tích tụ lại khiến trong lòng anh càng u uất, càng lặng lẽ. Đôi khi anh cố tỏ ra
ồn ào, cười nói nhưng thực ra chỉ là để che giấu những tâm sự của mình. Anh
không muốn người khác luôn chú ý và lo lắng đến mình
Sau một ngày đêm ăn chờ, nằm đợi ở các bến xe ga tầu, vợ chồng Hằng mới về đến
nhà. Cũng thật ít khi gia đình nhà Hằng được đoàn tụ với đủ mọi người, nhưng rồi
cũng phải chia tay vì Hằng đi Thanh Hoá cũng đã khá lâu. Mặc dù Hằng đã nói trước
với đồng chí quản đốc về thời gian có thể dài hơn dự kiến do trở ngại về việc
thanh toán giấy tờ nhưng anh vẫn cảm thấy nể, vì thời gian anh ở lại do sốt xuất
huyết đã dài gấp đôi dự kiến mà không có cách nào báo lại được.
Hai vợ chồng Hằng cũng phải dùng dằng mãi mới chia tay với bà mẹ được, bởi bà
cháu cứ quấn lấy nhau không chịu rời ra. Sau mấy ngày các cháu ở với bà nay lại
chia tay chắc mẹ anh buồn lắm, anh nhận ra điều đó khi thấy mẹ anh ôm cả hai
con bé lớn cùng với cu tý vào lòng và áp bên má già nua vào hai bên má bầu bĩnh
của lũ trẻ, không muốn rời ra.
5
Gia đình nhà Hằng được phân hai gian nhà ngói tường xây gạch xỉ ngay sau hai
gian đầu hồi của một người thuộc Viện Mỏ. Đây là những căn nhà cấp bốn, xây dựng
bên bờ phía đông của một hồ chứa nước dùng để tưới cho nông nghiệp của xã Văn
An, nơi mà cơ quan Viện Mỏ đã sơ tán về từ năm năm trước. Những căn nhà của Viện
Mỏ cũng giống nhiều căn nhà của các cơ quan khác của nhà nước. Phần vì
xây dựng cẩu thả, tạm bợ, phần vì thời gian xây dựng cũng đã lâu nên chúng xuống
cấp nghiêm trọng. Cũng đã có những căn nhà như thế ở bên tây hồ đổ tường đầu hồi
sau vài cơn mưa mùa hạ. Cũng may mà mọi người đi vắng cả nên không ai bị thương
tích. Tuy vậy sự việc này cũng đã làm khối người xanh mắt, lo lắng không yên. Họ
mong sao chóng rời khỏi cái nơi heo hút và không an toàn nọ.
Hai gian nhà Hằng cũng không to tát mấy nhưng nhà Hằng chả có của cải gì nên
cũng không chật chội lắm. Ngoài cái tủ gỗ cũ Hằng mua lại của nhà anh Khâu để dựng
quần áo. Cái thùng tôn đựng gạo và đôi thùng gánh nước Hằng gò lấy từ ngày còn ở
Thanh Hoá mang ra thì hai cái xe đạp của vợ chồng Hằng là đáng giá nhất. Đương
nhiên còn phải kể đến hai cái quạt cóc và cái đồng hồ Trung Quốc Hằng mới
mua ở cửa hàng bách hoá Văn An dùng làm nhân vật đánh thức hàng ngày để đi làm
đúng giờ, nữa chứ.
Cũng may khi mới ra Hằng đã lên phòng hành chính mượn được hai cái giường một bằng
gỗ tạp nên mới có cái để mà nằm. Đôi giường này cũng được chia ra để ở mỗi gian
một cái. Cái để trong buồng được ghép thêm một miếng ván cốp pha làm chỗ ngủ
cho cả nhà Hằng. Cái còn lại để ở gian ngoài phòng khi có ai đến thì nằm nghỉ
trên đó. Trước nhà Hằng còn có một gian nhà tre nhỏ nữa dùng làm nơi nấu ăn
hàng ngày.
Mỗi ngày Hằng phải theo xe ô tô của nhà máy lên công trường để tìm hiểu thiết bị,
còn Thơ thì dẫn ba đứa nhỏ sang nhà trẻ của nhà máy bên tây hồ rồi mới đi làm.
Công việc của Thơ là phụ với mấy cô gái khác nấu ăn cho nhà ăn tập thể ngay tại
Văn An. Kể ra mà nói trong thời gian này được làm việc ngay gần nhà để có
điều kiện lo việc gia đình thì cũng tốt. Hằng nghĩ có lẽ tay Hiên này chắc đang
mưu tính điều gì chứ chắc anh ta chả tốt đến mức tạo điều kiện để Thơ làm gần
nhà tiện chăm sóc gia đình đâu. Hằng cũng đã định lên gặp anh ta xem sao nhưng
nghĩ đi nghĩ lại lời anh Lẫm nói hôm trước về cái sự quá thẳng thắn của mình
anh lại thôi và có ý chờ thêm một thời gian nữa xem sao. Dẫu sao thì anh cũng
không muốn duy trì mãi cái sự căng thẳng vốn đã xảy ra hơn tháng qua.
Công việc của Hằng trong thời gian này cũng không vất vả lắm nhưng hầu như
không thể cứ nghỉ tràn đi được. Gần ba chục công nhân vừa mới ra trường được
phân công về do anh quản lý đều mới chỉ học lý thuyết sơ cấp về vận hành một
cách vội vã để kịp có người cho Phả Lại, nay đưa sang sửa chữa, hầu như chưa hiểu
biết gì nhiều. Ngoài thời gian đi tìm hiểu thiết bị Hằng còn phải lên lớp thêm
cho số anh em này một số bài về căn chỉnh thiết bị và thực hành các công việc bằng
tay như gò, rèn, làm nguội cho quen. Ngoài công việc chuyên môn Hằng còn phải
lo thêm bao nhiêu thứ khác như việc tổ chức lớp học quy trình cho cả khối công
nhân vận hành để chuẩn bị cho việc khởi động nhà máy; bởi phân xưởng của Hằng
là phân xưởng cấp nước cho cả nhà máy, mà nước trong nhà máy điện thì đó là thứ
nguyên liệu đầu tiên cần đến nó.
Việc Hằng về phân xưởng thuỷ lực cũng là việc hết sức miễn cưỡng, vì nghề chính
của anh là sửa chữa tua bin hơi chứ đâu có sửa mấy cái bơm nước. Cũng nhờ mấy
anh cán bộ lãnh đạo khuyên nhủ nên anh mới nhận lời ở lại. Dấu sao thì các anh ấy
cũng rất chân tình khi nói về môi trường sạch sẽ của thiết bị nước, ngoài ra
các anh ấy còn bảo Hằng cũng chẳng nên tìm đến chỗ gian nan vất vả làm gì.
Nhưng điều quan trọng là khi lên đề nghị việc gì thì cũng chạm mặt ông Hiên, mà
con người này thì nhiều lý lẽ lắm và chắc là chẳng dễ dàng gì.
THAM QUAN
1
Không biết từ đâu mà mấy hôm nay trong nhà máy chỗ nào cũng ồn ào bàn về việc
đi thực tập Liên Xô. Chỗ thì nói thành phần này được đi, chỗ thì lại nói thành
phần kia được đi, chả biết đâu mà tin được. Thực tình mà nói cái việc đi sang
Liên Xô nói là để thực tập nhưng thực tập thì chả quan trọng gì lắm mà việc
sang đó sẽ có cơ hội mang các thứ rất rẻ của ta sang bán cho bạn, rồi lại mua
những thứ hiếm hoi từ bên đó mang về. Nhiều người đồn đại việc đi Liên Xô sẽ
mang về được nhiều quạt điện, bàn là, tủ lạnh rồi thì sẽ giầu lên rất nhiều,
chính vì thế nên ai cũng muốn được đi, thậm chí còn bày kế để giành quyền đi
cho mình bằng bất kỳ thủ đoạn nào. Đã có nhiều anh tố cáo các khuyết điểm của bạn
để lôi nhau ở lại bằng cách dựng lên những phi vụ không hề có.
Hằng cũng không thể nằm ngoài cái không khí nói trên, nhưng anh không bộc lộ ra
ngoài mặt như mấy cậu cán bộ đoàn thể trong phân xưởng. Ai mà chả thấy phấn khởi
khi được đi máy bay trên chín tầng trời và rồi lại được đến, được biết, được tiếp
xúc với con người và cảnh vật ở cái nơi mà cả đời cũng chỉ nhìn thấy qua phim ảnh
thì sao chẳng thích. Chẳng những thế lại còn có được số của cải mang về cho bản
thân, gia đình một cách hợp lý thế thì người ta khao khát, người ta muốn giành
lấy là phải.
Cũng có khối người gặp Hằng và có ý bàn về cái sự này, phần vì họ muốn biết
quan điểm của anh trong việc xét duyệt thành phần nào sẽ đi trong đợt này.
Trong suy nghĩ của họ thành phần đáng được đi phải là lực lượng vận hành vì vận
hành thuỷ lực sẽ triển khai trước nhất trong nhà máy. Cũng không thiếu người
khách quan hơn khi họ đánh giá sự việc khác xa những anh em vừa nói ở
trên. Họ nói trắng ra rằng cái sự hay ho kia trước hết họ sẽ ưu tiên mấy ông
cán bộ với nhau chứ cái thứ công nhân thì còn xa lắm. Họ còn chỉ ra khá nhiều vụ
những người là quản lý nhà ăn, rồi cán bộ công đoàn, hành chính thì có cần gì
thực tập thế mà họ cũng đã đi chán ra rồi đấy. Vận hành và sửa chữa chắc chả có
thể sơ mú vào được.
Thế mà không biết từ đâu người ta đã quyết định sẽ đưa mấy vị đốc công sửa chữa
vào diện mới lạ chứ. Có lẽ họ muốn những người này phải thực tập thật để biết
cách làm mai này. Hằng cũng là đốc công sửa chữa nhưng anh nghĩ lực lượng của
anh không phải lực lượng chủ chốt của nhà máy nên chưa chắc đã được đi. Hôm qua
Hằng qua chỗ cơ khí để mượn một vài cái kìm rèn mang về cho số anh em công nhân
mới tập rèn mấy buổi. Vừa vào đến tổ cơ khí, còn chưa kịp hỏi mượn kìm đã thấy
anh Khâu ở đâu chạy đến vẫy ra chỗ vắng rỉ tai:
- Này đã biết tin gì chưa?
- Tin gì đấy hả anh?
- Tao mới nghe tin sắp tới tao và chú sẽ bay đấy.
- Có chắc không hả anh?
- Sao không! Tao đã đọc được danh sách ở chỗ mấy ông lãnh đạo bên tao lúc đi
giao ban buổi sáng.
Trên đường rời phân xưởng cơ khí để về trạm tuần hoàn, Hằng vẫn cứ băn khoăn dở
vui, dở buồn. Vui vì được đi còn buồn vì chả biết lấy tiền đâu để mà mua hàng
hoá để mang sang đó. Về đến tuần hoàn thì Hằng được anh Tham quản đốc báo tin
chính thức. Hai anh em vừa qua xem mấy cậu công nhân lắp đoạn đường ống nước dẫn
vào trong trạm vừa trao đổi với nhau về kinh nghiệm đi Tây. Anh Tham đã đi hồi
năm ngoái nên đúng là có kinh nghiệm.
Cũng không biết thế nào mà Hằng cứ thấy không yên tâm lắm về cái chuyện đi Tây
của anh, nên trong suốt chặng xe từ nhà máy về anh chỉ ngồi im một chỗ. Nhiều
người mong manh biết tin có hỏi nhưng anh chỉ ậm ừ:
- Tớ là thành phần không được "hảo" với lãnh đạo nên làm gì có may mắn
đấy.
- Chắc chắn đấy anh ạ, bên em họ đã thông báo cụ thể rồi mà. Bên thuỷ lực chỉ
có mỗi anh là Hằng chứ còn ai nừa đâu mà bảo nhầm lẫn.
- Nói chung là tớ chưa thật hy vọng lắm.
Khi về đến nhà anh cũng chưa định nói với Thơ về tin này, vì anh sợ cô ấy mừng
hụt. Thôi thì cứ để đến lúc nào cụ thể sẽ hay.
Thế rồi việc gì đến sẽ phải đến không sao tránh được, khi bất ngờ sáng nay anh
San vẫy Hằng ra ngoài hồi nhà:
- Chú biết đấy anh ra đây chỉ là tạm thời thôi, chỉ đến khi máy vận hành là anh
sẽ về trong đó. Hôm qua anh đã gặp kỹ sư chính và anh ấy cũng đã đồng ý để anh
đi đoàn 1 còn chú sẽ chậm lại một chút đi với đoàn 2.
Nghe đến đây Hằng thấy điếng cả người, anh chẳng biết nói gì với anh San
nữa, nhất là khi anh ấy đã thẳng thắn đến vậy. Anh San là người luôn có cảm
tình với Hằng ngay từ khi hai anh em còn ở Thanh Hoá. Sau khi bị thương trong
lúc phục vụ chiến đấu anh đi học đại học rồi về ban nhiệt của cục điện lực. Có
lẽ anh cũng cạy cục lắm mới rời ban nhiệt để về Thanh Hoá. Anh muốn vợ bỏ nghề
giáo viên về ngành điện để có điều kiện giúp đỡ nhau mà xin xỏ mãi không được.
Cũng nhờ cái việc anh được ông kỹ sư chính là trưởng ban cũ xin điều động trực
tiếp nên anh có cớ đề nghị xin vợ về sở điện. Tuy nhiên anh đâu có muốn ở Phả Lại
lâu dài trong khi anh lấy lý do thương binh rồi cậy có thủ trưởng cũ giúp sức
nên kế hoạch thứ nhất anh đã hoàn thành. Cái việc đi Tây này chỉ là sự việc thứ
hai anh tính đến mà thôi. Cũng chính vì thế mà Hằng chẳng chuẩn bị tiền nong
làm gì nữa.
Mọi việc chắc chẳng còn gì thay đổi nữa nếu như đợt đi không bị hoãn lại một thời
gian do chưa liên hệ được với các cơ sở bên nước bạn. Sau cuộc tráo đổi danh
sách giữa anh San và Hằng, anh cũng buồn mất vài ngày rồi lại vui vẻ hoạt động
trở lại. Anh mừng vì linh cảm đã cho anh biết cái sự trục trặc này nên anh đã
không quá vui, quá ồn ào để rồi bị tẽn trước bàn dân thiên hạ. Câu chuyện sẽ chả
đi đến đâu nếu như sau đó vài tuần có một ông giám đốc mới về nhậm chức. Theo
nhiều nguồn tin thì ông giám đốc này là người Thanh Hoá, ông khá là thẳng thắn
và rất quan tâm đến tầng lớp lao động bên dưới. Điều đầu tiên ông làm là ông đã
đòi lại bốn xuất thực tập mà công ty cố ý để lại cho mấy vị ăn theo trong
ngành. gọi là ăn theo vì họ đâu có quyền lợi gì thế mà cũng đòi đi cho bằng được.
Lẽ dĩ nhiên là ông đã đòi được cả bốn xuất thực tập về cho nhà máy.
Cũng chính nhờ có ông giám đốc mới mà Hằng lại có tên trong danh sách. Kể ra
thì đây cũng là dịp may cho anh vì dẫu sao thì anh cũng được sang một nước ở rất
xa với nước mình. Anh sẽ có dịp nhìn thấy những hình ảnh thật về một đất nước
mà lâu nay đã được coi như cái nôi văn minh đứng hàng đầu thế giới. Điều quan
trọng là anh sẽ thấy được số đông những người Nga anh dũng của cuộc chiến vì
hoà bình vì Chủ nghĩa xã hội của gần bốn mươi năm trước. Tuy vậy anh cũng có
cái buồn là anh không có tiền, chắc chắn là anh sẽ chả có gì quà cáp cho ai được
giống như nhiều người đã đi sang trước anh.
Từ mấy tháng trước, một lần nói chuyện với ông Đát bên Tây hồ thấy ông muốn mua
một cái xe đạp tốt một chút để đi lại, nhường xe của ông cho vợ, Hằng cũng nói
đùa:
- Thế có dùng cái đồ cung cấp cũ này không ?
- Anh bán thật chứ ?
- Đói quá, cũng muốn bán để lấy cái ăn đây!
Hằng nghĩ câu nói trên chỉ là nói trêu cho vui thôi, không ngờ ông Đát tưởng thật
ông cúi xuống xem xét ngay. Ông lắc cái vành xe, quay cái tay láiãyem màu sơn,
vết mà kền ở mọi chỗ. Anh chắc là ông thích vì cái xe của Hằng luôn được anh
chăm chút chu đáo kể cả về hình thức lẫn độ chắc chắn nhằm giúp cho việc đi lại
hàng ngày.
- Thế anh định bán bao nhiêu?
- Không biết có được độ bốn nghìn không ?
- Cao quá! Đến cái xe của Đức còn chưa được thế nữa là.
- Xe Đức thì chỉ đẹp dùng đi chơi thôi, chứ vật vã như cái này thì mấy mà tàng
hả anh.
- Thì có thế tôi mới kết nó chứ.
Đến đây thì Hằng không dám đùa nữa, anh sợ anh Đát tin là thật rồi sau anh ấy sẽ
giận. Người khu bốn là họ thật thà như đếm chứ không đùa cợt như người vùng
ngoài đâu.
- Nói vậy thôi chứ anh bảo ba đứa trẻ còn bé tý, nay ốm, mai đau, với lại rồi
hai vợ chồng tôi cũng phải ra ngoài nhà máy, biết đi bằng gì.
- Thế mà tớ cứ tưởng đằng ấy có cái khác nên muốn bán cái này đi.
Câu chuyện sẽ chả có gì đáng nói nhưng đến bây giờ thì lại là chỗ anh hy vọng
có thêm được ít tiền để gộp vào số tiền Thơ vay nóng được của mấy người bạn làm
lộ phí cho anh đi công du ngoại quốc. Cũng thật may vì ông Đát vẫn kết cái xe đạp
của Hằng, tuy nhiên nó chỉ đáng có hai ngàn rưởi mà thôi.
Thực ra anh không muốn bán chiếc xe vì nó là vật có giá trị lớn nhất trong nhà,
nó còn là vật kỷ niệm của gia đình anh. Vả lại nó cũng rất cần cho đi lại của vợ
chồng anh trong những tháng ngày sắp tới khi Thơ phải đi làm ở ngoài nhà máy,
nhưng trong lúc này cũng đành phải bán vậy.
Những ngày chờ đợi ở Hà Nội giúp cho mọi người có điều kiện đi mua sắm các loại
hàng hoá để mang theo sang nước bạn. Sau đợt mua hàng hoá Hằng mới vỡ lẽ ra đôi
chút về trình độ cao siêu trong tính toán làm ăn của nhiều người bên cạnh mình.
Họ biết rất kỹ cách mua hàng gì rẻ mà lại bán được nhiều tiền, còn Hằng thì vừa
ít tiền lại hiểu gì nên cứ đi theo mang đồ hộ là chính.
Đang bế tắc về vấn đề hàng hoá thì anh Khâu ở đâu đó sang chơi.
- Hàng hoá thế nào rồi?
- Em chẳng biết mua bán cái gì cả.
- Thôi đi xuống con em dâu tao nó giúp cho. Mấy năm nay nó vẫn mua bán các loại
này cho bọn đi ngoại quốc nên nó rành lắm.
Nghe vậy Hằng mừng lắm nhưng anh lại nghĩ anh ấy là người nhà, còn mình là người
ngoài nhờ cậy thế thì người ta còn kinh doanh gì nữa. Thấy Hằng còn lưỡng lự
không quyết anh sốt ruột:
- Chúng nó là em ruột tao, không ngại gì đâu. Nếu mà nó có ý kinh doanh với chú
thì anh không để yên đâu mà sợ, thôi đi đi.
Thế rồi Hằng cũng nhờ mua được ba cái quần bò Lesvit cỡ 33, đây là cỡ quần khá
lớn hợp với số đo của người Nga. Cũng không biết thế nào mà đến lúc Hằng mua lại
có loại quần cỡ to chứ mấy chục anh em mua hôm trước chỉ có quần cỡ nhỏ hơn một
chút. Đến khi Hằng nói chuyện về đổi chọn cỡ quần mọi người mới suýt soa:
- Chán thế không biết, tớ chỉ mua
được loại nhỏ thôi, chắc chắn là sang đó bán khó hơn.
Cũng
chả biết thế nào ngay cả anh Khâu cũng chỉ mua được loại quần nhỏ, anh bảo với
Hằng:
-
Thế thì tớ phải bảo bọn nó đổi lại, mà không biết có đổi được không!
-
Em thấy chị ấy bảo chị ấy lấy của người quen nên chắc là đổi được thôi.
Chiều
nay Hằng một mình qua chợ Hàng Đào để mua mành tre, đây là những cái mành nhỏ kết
bằng sợi cước vẽ hình trên đó. Hình có khi là một con hổ màu trắng, màu vàng,
cũng có khi là một đàn hạc đang kiếm ăn trên một dầm lầy. Cũng có loại vẽ phong
cảnh mùa đông, mùa hè trên đó nhưng rất ít người mua. Kể cả về mành thì Hằng
cũng chẳng biết người Nga họ thích thế nào nên anh cứ mua mỗi thứ vài bộ. Anh
mua khá nhiều các loại mành phong cảnh mùa đông với các bức tranh chỉ có hai
màu đen trắng. những con công, con cò và con hạc thì anh không mua được mấy vì
nhiều người đã mua hết trước đó. Ngoài quần bò và mành tre vẽ hình, Hằng cũng
đi mua được mươi cái kính đổi màu mắt to tướng giống như của mọi người. Sau khi
xếp hàng vào hộp giấy Hằng xem lại túi thì tiền cũng đã cạn thế là Hằng kết
thúc nội dung hàng hoá với ba loại vậy mà thôi.
2
Hằng
theo đoàn người lên thang để vào máy bay mà lòng còn bao nỗi ưu tư buồn bã chưa
thể dứt ra được. Những làn hơi nước trắng đục, mát dịu có mùi rất lạ toả ra che
phủ khắp máy bay, làm cho Hằng thấy hơi khó chịu. Hằng ngả mình trên ghế nhìn
qua cửa sổ xuống dưới đường băng, nhớ về mấy đứa trẻ ở nhà. Các con anh chắc
đang còn ở bên nhà trẻ, mẹ nó sẽ phải túi bụi vì chúng vào mỗi buổi sáng đi
làm. Anh nghĩ nhiều đến việc làm thế nào để con anh sẽ được sung sướng hơn bố mẹ
chúng. Ngày mai đây khi chúng lớn lên, xã hội có còn được như bây giờ không hay
lại chiến tranh, lại thất nghiệp. Thất nghiệp, chỉ vì thất nghiệp thôi mọi giá
trị nhân cách con người sẽ tiêu tan mất, giống như những ngày nào mà cha mẹ anh
đã từng phải chịu đựng. Người ta cần phải sống và sự sống buộc người ta làm con
mèo, con chó hay làm bất kỳ cái gì đó để có thể không phải chết đói, chết rét.
Thậm chí cái chết đối với con người cũng không đáng sợ, nhất là khi người ta chỉ
có một mình. Điều đáng nói là bên cạnh họ còn những người thân, những đứa trẻ mới
đang chập chững vào đời, lúc nào cũng coi họ là chỗ dựa. Cái đau đớn nhất là
nhìn chúng chết đi trước sự bất lực của chính mình. Có phải vì thế mà bao người
đã dám chết trong cuộc đối đầu với cái ác trong suốt năm chục năm qua. Đã có
lúc Hằng lấy cái ý cho rằng mình có thể chết đi nhưng những người thân của mình
sẽ hạnh phúc để trấn tĩnh bản thân trước những khốc liệt của hàng trăm trận bom
pháo, hàng trăm lần trong tầm đạn của kẻ thù.
Hằng
chợt bị ngắt khỏi dòng suy nghĩ khi thấy mọi thứ dưới chân đang cựa quậy đang
chuyển động và từ từ cất lên cùng với tiếng ù mơ hồ trong hai lỗ tai. Chỉ đến
khi hai tai anh trở lại bình thường thì anh đã ở bên trên những thành phố, cánh
đồng xanh bát ngát không biết ở đâu nữa. Lần đầu cất mình lên khỏi mặt đất với
một độ cao như vậy ai mà không xúc động, ai mà không thấy ngỡ ngàng.
Không
biết người ta đi tàu thuỷ ra biển thế nào chứ đi máy bay có vẻ cũng xóc chứ chẳng
êm lắm đâu. Cái xóc của máy bay mà Hằng nhận thấy là những cú hẫng hụt nôn nao
trong người giống như đang bị rơi trong không khí vậy. Suốt từ lúc lên máy bay
Hằng hay để ý đến bên cánh luôn chắn trước mặt. Những cử động của nó làm anh
luôn cảm thấy hình như nó gắn không được chặt với thân của máy bay. Mỗi lần gặp
một đám mây thì cả cái máy bay dọ dẹo cứ như cái lờ đơm cá vậy. Bên cạnh anh là
Kiền ở phân xưởng điện, từ lúc ngồi vào ghế đã cuộn tròn lại vì say. Bao nhiêu
cơm rau, cá, thịt ăn lúc trước đã cất cả vào túi giấy rồi mà hình như vẫn còn
muốn nôn thêm nữa. Hằng và anh San thì xem ra không bị cái vụ này nên chỉ ra
công lau chùi, thu dọn cho Kiền.
Sau
khi ăn bữa chính xong thì ngoài trời đã tối, bên dưới máy bay là những vùng
sáng rực rỡ của các thành phố nối tiếp với nhau hiện ra. Hằng thấy choáng ngợp
cả người trước những cảnh hùng vĩ mà anh chưa thấy bao giờ. Trong đầu anh một
vài tứ thơ bất chợt hình thành nhưng không hiểu sao anh không thể nào nghĩ ra
được câu mở đầu, thế là đành để mặc cho cảm xúc trôi qua mất. Đang mơ mơ màng
màng Hằng chợt thấy đầu anh lại có gì đó phát ra tiếng ù ù nhẹ. Không lâu sau
là một loạt những tiếng chấn động bên dưới máy bay, rồi máy bay dừng hẳn. Có một
tràng tiếng nước ngoài phát ra từ một cái loa nào đó mà anh không nhìn thấy. Có
một vài người đã đi một vài lần nói đấy là thông báo về việc chờ đợi máy bay lấy
thêm xăng, bổ sung các loại đồ dùng và thực phẩm. Có điều là ở ga này nhà nước
ta đã thoả thuận với nước sở tại về việc không cho khách xuống đất. Lý do chính
là người ta không muốn để xảy ra lần nữa trường hợp bỏ trốn của một vị cán bộ cấp
cao người Việt, chính tại nhà ga này cách đây mấy tháng.
Hết
ăn, lại ngủ rồi cũng kết thúc khi máy bay hạ cánh xuống sân bay ở Mạc tư khoa.
Cho dù lúc mới xuống nhiều người có vẻ lâng châng một chút nhưng rồi quãng đường
đi bộ loanh quanh chờ cán bộ tiếp đón cũng làm cho mọi người nhanh nhẹn trở lại.
Cũng không biết thế nào mà suốt từ lúc máy bay gần xuống thì tự nhiên Hằng thấy
có gì đó như rất háo trong người. Anh muốn nhanh chóng có một cốc nước mát để
hoá giải tình trạng trên mà không biết tìm bằng cách nào. Mấy anh cán bộ và
phiên dịch đều bận đi đây, đi đó để tìm người đến tiếp nhận, thành ra anh chẳng
biết nhờ ai.
Đang
ngó nghiêng tìm kiếm thì Hằng thấy có một người đang đẩy một cái xe thùng đi tới.
Trên thùng xe vẽ một cậu bé khá to và bụ bẫm đang áp miệng vào một cái hộp nhỏ
và cũng chẳng khó khăn gì không nhận ra vật đó với hàng chữ Crem tô màu sặc sỡ.
Hằng đến bên người đẩy xe thùng và đưa cho họ mấy đồng tiền lẻ của Liên Xô và
chỉ vào cái thùng xe nọ. Tất nhiên là người chủ nọ hiểu ý của anh ngay, mặc dù
anh chẳng thể nói với bà ấy câu gì. Sau khi ngắm nghía mấy đồng tiền nọ người
có cái xe thùng thu lấy một số các tờ tiền giấy và trả lại anh những đồng xu
màu đồng, tiếp theo bà ta đưa cho anh một chiếc hộp giấy tựa như bánh xà phòng
thơm của ta. Hằng đón lấy và cố gắng nói câu cảm ơn bằng tiếng Nga sai bét rồi
mở hộp giấy, bên trong hộp là một khối kem mềm và ngọt.
Mọi
người còn đang lo lắng không biết bao giờ có người đón thì từ phía cửa ga có một
người Nga cao lớn, mặt đỏ tía đang cười nói với đoàn trưởng. Không lâu sau mọi
người đã biết hành trình tiếp theo là đi ăn cơm chiều rồi lên tàu hoả về vùng
nào đó của Xibêri xa xôi đến cả ngàn cây số. Cho dù thế nào thì mọi người cũng
đã đến Liên Xô thật sự chứ không phải là xem trên phim ảnh và vô tuyến. Sau gần
ba ngày, ba đêm liên tục trên xe lửa thì Hằng và mọi người cũng đã đến khách sạn
của một thị trấn nhỏ. Nơi có nhà máy điện ở vùng Belopscai thuộc tỉnh Kemerôvơ
xa lơ xa lắc.
Hằng
được ghép đôi với một cậu kỹ sư hiệu chỉnh người Hải Phòng có tên là Nhiếp vào ở
cùng một phòng trên tầng ba. Chàng thanh niên này thật là trẻ và trắng trẻo, chỉ
tội hơi gầy nên cậu đi đứng cứ lòng khà lòng khòng tựa như e thẹn, ngượng ngập.
Tuy cùng nhà máy nhưng lại ở các bộ phận khác nên Hằng cũng không biết gì nhiều
về Nhiếp. Để có thể thông cảm với nhau suốt ba tháng thực tập, trong lúc Hằng vừa
dọn giường chiếu, sắp xếp đồ đạc, Hằng cũng hỏi thăm một vài điều về
gia đình của Nhiếp.
Nói
là dọn dẹp đồ đoàn chứ thực ra thì chỉ là cất đặt mấy thứ áo quần và hàng hoá
cho gọn mà thôi. Tiện tay Hằng cũng giở hộp giấy đựng mành trúc ra xem có bị hư
hỏng hay không. Anh lấy một cặp mành phong cảnh mùa đông treo lên cửa sổ và ngồi
ngắm nghía. Cũng chính lúc này anh mới thấy bức tranh trên mành thật là đẹp. Một
dòng sông nhỏ gợn sóng, bãi bồi với những nhánh cỏ dày nổi lên trên nước. Vài
mái nhà tranh ẩn hiện bên cây rừng, xa xa núi non trùng điệp tạo thành đường
chân trời. Những đám mây vần vũ bên trên đỉnh núi trông thật gợi cảm.
Còn
đang mải ngắm tranh Hằng không biết có người đã vào phòng. Mãi đến khi anh nghe
thấy tiếng thở mạnh sát bên anh mới giật mình quay lại. Một người phụ nữ nga chừng
năm mươi tuổi trông rất điềm đạm đang mỉm cười nhìn anh từ phía đằng sau. Ngay
khi anh quay lại thì người phụ nữ ấy cũng lên tiếng. Có lẽ bà ấy muốn nói với Hằng
một điều gì đó mà anh không hiểu, thế là cả hai đành cùng cười một cách thân
thiện với nhau vậy. Hình như những điều người phụ nữ nọ nói với Hằng là những
câu hỏi vì phần cuối của câu nói luôn có những âm tiết cất cao hơn.
Đang
chả biết làm thế nào để hiểu được ý tứ của người phụ nữ nọ thì Nhiếp trở về
phòng. Có lẽ Nhiếp đã nghe được người phụ nữ nói những câu cuối nên vừa vào đến
nơi cậu ta đã bảo:
-
Bà ấy khen tranh của anh rất đẹp và bà ấy muốn mua, anh có bán cho bà ấy không.
-
Có nên bán không nhỉ? Hằng bật hỏi lại Nhiếp
-
Thì mình mang sang để bán thì cứ bán chứ để lại làm gì hở anh.
-
Tớ sợ mình vừa mới đến...
-
Chả sao đâu anh ạ.
-
Thế thì Nhiếp bảo bà ấy giúp hộ.
-
Bà ấy hỏi anh lấy bao nhiêu tiền.
-
Tớ chẳng hiểu gì về giá cả mới chết chứ.
-
Bà ấy bảo trả năm rúp một cái anh ạ.
-
Thế có được không?
-
Tốt quá rồi anh ạ! Em nghe các anh ấy nói đợt trước họ chỉ bán được ba rúp một
cái là cùng.
-
Hay là Nhiếp cứ bán trước đi, của anh có ít để bán sau cũng được.
-
Em có hỏi nhưng bà ấy không thích công, cò, hạc mà lại chỉ thích loại tranh của
anh mà thôi.
-
Thế thì nhờ Nhiếp bán hộ.
Vừa
nghe Nhiếp nói đồng ý bán là bà khách đến cuộn ngay hai bức mành lại, rồi quay
sang Nhiếp hỏi thêm mấy câu nữa. Nhiếp quay lại dịch cho Hằng nghe:
-
Bà ấy muốn mua nhiều để tặng bạn bè, nếu còn thì anh bán thêm cho bà ấy.
Hằng
cũng không ngờ cái thứ mà số đông các anh em cùng đi chê ủng, chê eo bảo không
hợp với sở thích người Nga thì đột nhiên lại đắt hàng đến thế. Thế là có bao
nhiêu mành phong cảnh Hằng mang ra bán hết. Những bức còn lại chỉ là mấy con hổ
và mấy con hạc mà Hằng may mắn mua vét lại được hôm ở Hà Nội. Sau khi trả tiền
xong người phụ nữ nọ hình như còn muốn hỏi điều gì đó mà Hằng không hiểu. Nhìn
qua cách ra hiệu bằn tay Hằng đoán bà ấy muốn nói đến quần áo thì phải. Cuối
cùng thì Nhiếp lại vẫn phải quay lại dịch cho Hằng nghe:
-
Bà ấy hỏi anh có quần bò bán không.
-
Chắc bà ấy buôn bán hay sao mà mua nhiều thế?
-
Bà ấy là nhân viên của khách sạn anh ạ, người ngoài sao có thể vào đây được.
-
Tôi bán nhiều quá rồi, còn quần bò thì nhất định nhường chú bán trước.
-
Bà ấy không mua của em vì số nhỏ, con bà ấy mặc không vừa.
-
Chả lẽ lại không có cái nào cỡ lớn hay sao?
-
Của em toàn 29, 30 thôi anh ạ.
-
Của tớ có ba cái lại toàn cỡ 33 chú ạ.
-
Thế thì tốt quá rồi còn gì, để em bảo bà ấy.
-
Bà ấy hỏi giá anh ạ.
-
Em cứ bảo hơn hai trăm một cái.
-
Sao nhiều thế anh?
-
Cái này thì anh biết, loại 31 trở xuống cao nhất chỉ độ trăm tám là cùng. Nhưng
loại hàng anh mua là hàng chính hiệu nên bán như vậy mới đủ giá.
-
Bà ấy nói hơi cao nhưng nếu con gái bà ấy mặc vừa thì bà ấy sẽ mua. Bà ấy nói định
mua cho con gái lâu rồi mà vẫn chưa có cái nào vừa.
Hằng
nghe vậy thì lấy trong cặp ra một cái quần ống hơi loe cho bà khách xem. Vừa
nhìn thấy bà khách đã có vẻ ưng ý. Vừa xem xét bà khách vừa trao đổi với Nhiếp.
-
Bà ấy bảo anh chờ bà ấy một chút và giữ cho bà ấy để bà ấy gọi con gái lên anh ạ.
-
Thôi chờ một tý cũng được, mình cũng chẳng đi đâu mà lo.
Bà
khách đi rồi Nhiếp mới nói với Hằng:
-
Lúc em nói giá bà ta ngần ngại lắm, bà ấy bảo bữa trước bà ấy chỉ mua có độ
trăm hai đến trăm rưỡi là cùng. Mãi đến khi bà ấy nhìn thấy quần anh mang ra
thì có lẽ bà ấy đã nhận ra loại này khác hẳn loại bà ấy mua hộ mấy đứa cháu bữa
trước nên vội hối hả đi ngay.
Vừa
nói chuyện với Hằng vừa cầm quần lên xem Nhiếp chợt nói với Hằng:
-
Anh mua cái này bao nhiêu vậy?
-
Hai ngàn ba chú ạ.
-
Em mà gặp loại này, cỡ nhỏ hơn một chút thì em cũng mua một cái để mặc... đúng
là loại xịn anh ạ
-
Tớ phải nhai nát đoạn chỉ may để xem thử có phai không thì tớ mới lấy.
-
Sao lại phải thế hở anh?
-
Nói thật với chú, cái loại rởm thì chỉ may bở bục mà phai đỏ tay ra ngay. Thiếu
gì các loại áo lông đức, quần bò Thái được mua vải về máy tại Việt Nam.
Vừa
nói đến đây thì hai mẹ con bà khách lúc nãy quay trở lại. cũng chẳng cần chào hỏi
gì, cô con gái tốc váy lên rồi nhặt quần mặc thử ngay. Vừa cài khuy cô vừa nhún
nhảy nghiêng bên này ngả bên kia rồi chạy sang nhà vệ sinh soi mình vào gương
ngắm lên ngắm xuống. Cũng như khi vào, cô cứ để cả váy, cả quần bỏ đi ngay
không thèm ngoái đầu trở lại. Chắc là cô ấy ưng ý vì chỉ cần nhìn cô ấy mặc vào
đã thấy đẹp rồi. Vừa lúc ấy bà khách quay lại trả tiền cho Hằng đúng hai trăm
rúp. Thế là chỉ mới chưa đầy tiếng rưỡi đồng hồ Hằng đã bán được khá nhiều hàng
hoá. Anh đang nài Nhiếp xuống căng tin của khách sạn để ăn uống một chút gì đó
gọi là mừng cho thành công của Hằng nhưng Nhiếp không đi. Còn đang nói đi nói lại
với nhau thì bà khách lúc nãy quay trở lại cùng với hai người phụ nữ nữa. Lần
này thì hai bà khách mới đòi lấy nốt hai chiếc quần còn lại. Hằng cũng bảo cho
họ biết có một cái là ống côn chứ không loe, nhưng họ vẫn giật ngay lấy mà
không cần nghe anh nói gì. Thế là chỉ trong buổi chiều mà Hằng đã hết sạch mọi
thứ hàng hoá...
Chiều
tối đoàn họp để thông qua chương trình thực tập và bàn bạc về các hoạt động
giao lưu giữa đoàn và nhà máy của bạn. Những thứ đoàn mua gửi mọi người hôm trước
như rượu lúa mới, bánh đa nem, hạt tiêu, gừng, tỏi được lục từ các
túi cá nhân xếp thành đống trong phòng của đoàn trưởng. Đoàn cũng gửi mỗi người
hai đôi mành để bán lấy tiền tổ chức tiệc mừng nhân Quốc khánh ngày 2 tháng 9.
Mọi
người đều phải tập trung thành từng đoàn để theo các cán bộ chuyên môn của bạn
vào các vị trí thực tập, chỉ riêng có một mình Hằng là đi với một kỹ sư thuỷ
công trong nhà máy. Ngay buổi đầu tiên ông kỹ sư thuỷ công đã dẫn Hằng xuống ba
trạm bơm tuần hoàn của nhà máy. Cũng do có ít phiên dịch nên ở chỗ Hằng hầu như
phải tự tìm hiểu lấy là chính, vì thực tế Hằng chỉ đọc được tài liệu một cách
lõm bõm còn giao tiếp bằng lời thì anh tịt mít. Tuy vậy giữa ông kỹ sư thuỷ
công và Hằng hình như có hiểu ý nhau ngay trong buổi tham quan đầu
tiên của đoàn.
Đầu
tiên ông kỹ sư đến thư viện lấy về một số tài liệu có nhiều các bản vẽ để cho Hằng
xem. Vừa mới nhìn qua các bản vẽ anh đã nhận ra các thiết bị quen thuộc trong
dây chuyền của nhà máy nhiệt điện. Anh lần lượt vẽ ra giấy những mô hình đâú nối
của nó trong dây chuyền hoạt động và hầu như lần nào ông kỹ sư cũng chìa ngón
tay cái ra có ý bảo tốt lắm. Đến khi nói về bơm tuần hoàn thì Hằng viết tên của
loại bơm đang lắp tại Phả Lại. Sau khi đọc xong ký hiệu ông kỹ sư liền lấy bút
vạch xoá lên dòng tên của những cái bơm của nhà máy của bạn rồi ông vẽ đôi kính
vào cái bơm to chiếu thẳng vào cái bơm bé rồi ra hiệu với ý nói rằng việc
nghiên cứu bơm này đã không cần thiết nữa. Ông kỹ sư thuỷ công viết mấy dòng chữ
vào một mảnh giấy được xé ra từ quyển vở học trò rồi đưa cho Hằng. Anh nhìn vào
thấy ngay những chữ ghi ngày giờ của buổi sáng ngày mai, anh đã đoán ra đây là
giấy hẹn gặp ngày mai giữa hai người. Có điều anh không biết địa điểm ở đâu nên
anh kéo tay ông kỹ sư để ông nhìn vào tờ giấy của anh với dấu hỏi to tướng trên
nền bản đồ hình ảnh của nước Liên Xô. Ông kỹ sư bất chợt cười rất to và lấy tay
chỉ vào trán của Hằng rồi kéo tay anh giơ lên vòng một vòng quanh hồ chứa nước,
rồi chỉ tay vào trạm bơm mà hai người vừa vào lúc trước. Đến đây thì anh đã hiểu
ông kỹ sư bảo sẽ đi xem các hồ chứa, kênh đập và bắt đầu từ trạm bơm vừa mới đến.
Hằng gật đầu tỏ ý đã hiểu và chia tay với ông kỹ sư để về khách sạn.
Chiều
muộn Hằng mới lên chỗ anh San để đưa cho anh mảnh giấy của ông kỹ sư, anh San
còn biết nhiều tiếng Nga hơn Hằng nhưng cũng chẳng hiểu ông ấy viết gì, anh lại
phải nhờ phiên dịch mới biết được ông kỹ sư hẹn mai sẽ đưa Hằng đi thăm cống,
kênh, đập và các công trình thuỷ công bằng chiếc thuyền máy của phân xưởng. Biết
vậy anh San liền bảo mai anh ấy sẽ cùng đi với Hằng một thể để sau này có về
thuỷ điện Sông Mực sẽ có kinh nghiệm hơn.
Đúng
là anh San và Hằng gặp may, được đi khắp các công trình thuỷ công của nhà máy.
Nào là hồ chứa nước tái tuần hoàn để nâng nhiệt độ nước tuần hoàn vào mùa đông.
Những cái cánh cống uốn cong rộng đến bẩy tám mét còng lưng ngăn không cho nước
từ hồ chảy ra sông. Một vùng nước bao phủ trên khoảng đất rất rộng không có
bóng dáng một thôn xóm nhỏ bé nào.
Chiếc
thuyền máy vẫn tiếp tục lao đi dọc theo kênh dẫn nước tiến dần ra một hồ lớn
khác nữa. Từ xa đã nhìn thấy những cái cột dựng đứng cạnh nhau trên bờ hồ. Phía
dưới mặt nước là những đoạn cầu phao bằng gỗ nối vào một trục chính chạy dài
hàng năm bẩy trăm mét. Nhìn xa như cái xương sống của một con cá với rất nhiều những
xương con gắn vào nó. Chiếc thuyền máy gần như giảm tốc độ đến mức tối đa để tấp
vào một đầu cầu phao cho cả bọn lên cầu. Hai người cán bộ của bạn đi trước dẫn
Hằng và anh San tiếp tục đi bộ trên sàn gỗ tiến sâu vào đoạn giữa của cái xương
sống. Loáng thoáng trong tiếng nói chuyện ồn ào của hai đồng chí bạn Hằng nghe
như ở đâu đó có rất nhiều tiếng vùng ở dưới nước. Anh đoán trong những ô vuông
dọc theo cái xương sống chắc có cá ở bên trong. Vừa khi vào sâu trong cầu thì Hằng
nhận ra là mình đã đoán không sai. Những cái ô vuông kia thực chất là những cái
lồng bằng lưới dùng để nuôi cá. Trong mỗi cái lồng có đến hàng trăm con cá chép
đang lượn lờ đợi bữa ăn trưa. Anh cũng nhận ra những cái ống cao chót vót mà
anh nhìn thấy hôm qua chính là khu vực chế biến thức ăn cho cá. Những mẩu thức
ăn được đúc thành thỏi như những viên phấn gãy ra từng mẩu bằng đốt ngón tay được
đổ vào những cái thùng sắt treo lơ lửng trên mặt nước. Mỗi thùng lại có những
cái đáy thả tự do trong đó để khi cá nhao lên chạm vào những cái chuôi gắn ở
đáy làm cái đáy bị kênh lên thế là lại có những mẩu thức ăn rơi xuống. Lẽ đương
nhiên là hàng trăm con cá lại quẫy đuôi thùng thùng chồng chận lên nhau để
tranh ăn. Có lẽ lũ cá đã quen với việc động chạm vào cái đáy thùng để cho thức
ăn rơi ra, nên cứ hết thức ăn lại có vài chú cá chạm vào tấm đáy. Cách nuôi cá
bằng thức ăn làm sẵn ở đây thật là hiện đại, Hằng chưa thấy ở đâu trên đất Việt
Nam có cách nuôi cá như vậy cả.
Về
đến nhà rồi Hằng vẫn thấy vui như đang đi trên thuyền máy đến trại cá, anh rất
muốn mọi người trong đoàn đều được xem cách tổ chức nuôi cá ở nước bạn để rồi
sau này nếu ai đó có điều kiện thì học cách này mà làm ở nước mình. Chiều hôm ấy
anh gặp cậu phiên dịch chính của đoàn và nhờ câu ấy đến gặp ông đốc công thuỷ lực
để đề xuất việc này. Rất may là ông ấy đã nhận lời đưa cả đoàn đến thăm hồ cá.
Chỉ có điều là mọi người phải đi bằng xe ô tô, vì thuyền máy bé quá. Hằng nghĩ
dù sao thì cũng có được chuyến đi vãng cảnh nên anh cũng tán thành rồi về trao
đổi với đoàn trưởng.
Thế
là sớm hôm sau hơn hai chục người trong đoàn đều lên ô tô để đi thăm hồ cá. Tất
nhiên là mọi người đều rất thích thú về chuyến đi chơi ngoại khoá không phải
đoàn nào cũng may mắn có được. Một số người đi vắng nghe kể lại chuyến đi thăm
hồ cá cứ xuýt xoa tiếc mãi. Những người bạn Liên Xô cũng vui lắm, họ thấm thía
về tình cảm của những người bạn Việt Nam xa xôi. Những người bạn không những
luôn yêu mến con người của bạn mà còn thích thú và trân trọng đến cả
những công việc thường ngày của bạn. Từ phía bạn, một sự cởi mở hết sức mới đã
được mở ra cùng với sự giúp đỡ thật là thiết thực cho những người bạn Việt Nam.
Nhiều thứ hàng hoá to lớn như tủ lạnh đều được bạn giúp mang về kho vật tư của
nhà máy để bảo quản hộ. Sau này trong lần cân hàng để gửi qua đường biển, nhiều
người lo quá trọng lượng sẽ phải để lại, người phụ nữ làm việc này đã nói:
-
Các bạn Việt Nam đang khó khăn, họ chỉ có một cái thùng hàng nhỏ. Cho dù mua
quá một số đồ dùng cũng không làm cho Liên Xô nghèo đi. Vài chục cân quá tải trọng
cũng không chìm tầu được, cứ để thế mà chuyển không cần cân nữa. Thế mới biết
khi đã yêu mến nhau, người ta dễ bỏ qua cả nguyên tắc để vì nhau là vậy.
Hàng
hoá đã hết nên Hằng chẳng bận gì, suốt ngày anh đi theo các nhóm sửa chữa trong
nhà máy để xem cách làm một số công việc mà anh chưa có dịp làm tại Việt Nam.
Anh đã leo lên tận đỉnh nhà máy để chui vào các buồng phân ly than, chui sâu
vào buồng lò đang đại tu để ngắm các giàn ống đỏ như tôm luộc. Xuống gian máy
anh cũng vào đẩy cần mở các đai ốc của bơm nước cấp, giữ khoan ngang để khoan
chốt cánh tua bin. Còn một cái may mắn nữa là anh đã cùng với bạn tiến hành cân
bằng tĩnh và cân bằng động tua bin mới sửa chữa. Anh tự tay đi lấy độ rung
ngang, độ rung dọc và ghi vào bảng thông số. Những chuyên gia cân bằng
từ Trung tâm sửa chữa của ngành điện Liên Xô đã chỉ bảo cho anh rất nhiều trong
công việc.
3
Chiều
nay tất cả đoàn đều được nghỉ thực tập để đi nhận quần áo rét từ một cửa hàng
bách hoá ở ngay trong thị trấn. Hằng đến cửa hàng thì số đông anh em đều đã nhận
xong mọi thứ. May mà chỉ còn một vài người do số quá to đang tìm đổi lại nên
công việc mới chưa kết thúc.
Việc
Hằng đến muộn không phải do lỗi ở anh mà vì đoàn báo giữa buổi trưa, trong khi ấy
thì Hằng lại đi thăm một bà mẹ người Nga mà Hằng đã gặp hôm thứ tư tuần trước.
Hôm ấy anh đi ra khu vực ngoại ô thị trấn để xem quang cảnh làng xóm và đồng ruộng
của bạn thì gặp một bà mẹ người Nga đang xách hai cái túi lưới khá to với nhiểu
hoa quả ở trong đó. Hình như bà cụ thu hái hơi nhiều nên quá sức mang vác của
mình. Thấy tình cảnh ấy Hằng đã đến bên và xách đỡ bà cụ một túi. Mặc dù chỉ có
thể nói chuyện ra hiệu bằng tay với bà cụ nhưng cụ cũng biết anh là người ở
khách sạn điện lực trong thị trấn. Hình như bà cụ bảo chỗ ở của cụ gần đó nhưng
anh chẳng hiểu gì. Chỉ đến khi bà cụ bắt anh cởi áo ngoài ra, dốc vào đó hàng
tá dưa chuột và táo rồi lại đưa cho anh miếng giấy mà cụ ấy mới viết thì anh hiểu
là cụ ấy cảm ơn và hẹn thứ tư tuần sau gặp lại. Chính vì thế mà khi Hằng về đến
nhà thì mọi người đã đi hết cả. Cũng bằng ra hiệu với mấy bà nhân viên khách sạn
mà anh biết được đoàn của anh đến cửa hàng để lấy áo rét.
Vừa
gặp số anh em mang áo rét và dầy dép đi ra Hằng đã thấy buồn cười không sao dừng
lại được. Cũng vì sợ ảnh hưởng đến mọi người nên anh cứ phải bịt mồm lại và
khùng khục ở trong đó. Hằng không cười sao được khi hầu hết anh em Việt Nam người
thì nhỏ bé lại mang những cái áo to xụ dài đến quá đầu gối. Hằng hình dung họ
như những chú chim cánh cụt của miền bắc cực đang đi lại giữa các quầy hàng
hoá. Cũng có một vài người đổi được một vài cái áo ngắn hơn nhưng lại quá mỏng
mảnh và hình như là của nữ giới vì cúc cài đều đơm ở bên vạt trái. Đến lúc Hằng
vào thì số quần áo to dài kia cũng không còn nữa, anh nhờ phiên dịch hỏi hộ xem
nên giải quyết như thế nào. Thế là cửa hàng bảo anh cứ lấy một cái đắt nhất để
sau này cất về nhà hai hôm nữa sẽ mang sang đổi lại. Hằng nghĩ lúc đi anh đã mượn
được cả một cái áo len dày , với lại trời cũng chưa rét lắm nên anh đồng ý làm
như vậy. Anh đi dọc mấy hàng quần áo nhìn mãi mới thấy có một cái áo to lớn
nhưng dáng áo và các túi thiết kế khá cách điệu với đường may khá đẹp, giá đến
một trăm lẻ bốn rúp, thế là anh quyết định lấy chiếc áo này. Giầy thì anh chọn
một đôi giá sáu mươi bảy rúp khá đẹp, tất nhiên là anh đi không được vì quá rộng.
Thế mà số tiền quần áo được phép lấy là hai trăm rúp vẫn chưa hết được. Anh buộc
lòng phải lấy thêm một cái mũ lông độ mười lăm rúp nữa rồi trở về
nhà.
Ba
hôm sau anh mang gói quần áo sang cửa hàng để hỏi xem đã có hàng mới về chưa để
đổi thì vẫn chưa có. Phiền lòng quá anh liền cứ xách cả đống quần áo ấy để lên
xe buýt đi huyện lỵ Belovo. Thực ra thì anh cũng chỉ muốn lên trên ấy xem có loại
quần áo nào phù hợp với mình không chứ cũng chẳng định mua gì. Huyện lỵ nhiều cửa
hàng chắc là có đủ các loại chứ chắc không thiếu như dưới thị trấn.
Hằng
cũng đã lang thang vào mấy cửa hàng nhỏ nhưng những thứ anh cần hầu như cũng
không có. Lần này anh quyết định vào một cửa hàng thật lớn xem sao. Bước chân
vào cửa hàng lớn chưa được mươi bước đã thấy một người mặc đồng phục màu xanh,
đội mũ lưỡi trai đi đến chạm tay vào người anh chỉ trỏ và nói như máy. Mãi đến
khi anh ta biết là anh không biết tiếng Nga thì anh ta phì cười giơ hai tay lên
và dang ra ngang ngực tỏ vẻ không biết giải thích thế nào. Thấy người đàn ông
không thể diễn đạt được cho ông khách này hiểu thì đến một người phụ nữ tiến
ra. Chị phụ nữ không nói mà chỉ khẽ cười rồi giơ tay chỉ vào một cái biển rồi cầm
tay Hằng kéo nhẹ dẫn anh đến trước hàng loạt các tủ sắt có chìa khoá rồi chị ra
hiệu đưa cái gói giấy của anh vào đó khoá lại và bỏ chìa khoá vào túi. Đến đây
thì Hằng biết là người phụ nữ nọ bảo anh cất đồ vào đó rồi hãy vào cửa hàng. Hiểu
thì đã hiểu nhưng Hằng không làm theo vì anh thấy phiền phức quá, hơn nữa anh
cũng chẳng mua gì thế thì ra thôi chứ vào để làm gì. Nghĩ thế nên anh giơ tay
chào mọi người rồi quay ra cửa. Vừa ra đến cửa thì anh thấy từ phía sau lại có
ai đó kéo anh trở lại. Anh quay lại đang định tìm cách phân bua với họ thì anh
thấy hầu như gần hai chục nhân viên đều im lặng quay về phía anh như chờ đợi phản
ứng của anh. Vẫn cô gái lúc nãy khẽ cười và chỉ vào cái gói giấy của anh rồi vẽ
một dấu hỏi vào không gian trước mặt anh. Cũng không hiểu cô ấy nói gì nhưng
anh đoán họ nghi ngờ về cái gói của anh nên anh đành phải giải thích cho họ hiểu
vậy.
Anh
nghĩ đầu tiên có lẽ mình phải cho họ biết mình là ai rồi mới giải thích được.
Thế là anh vẽ hình ảnh lá cờ sao vàng của Việt Nam rồi chỉ vào mình. Điều này
thì họ hiểu ngay và quay lại nói với nhau rất nhiều. Anh chờ cho họ thôi bàn bạc
rồi đọc tên cái khách sạn mà anh đang ở. Lẽ dĩ nhiên là họ gật đầu tỏ vẻ rất biết.
Tranh thủ lúc còn yên lặng anh lấy tay vẽ hình một cái áo rồi làm ra vẻ khoác
lên mình nhưng rồi cúi xuống ra hiệu rằng nó quá dài rộng rồi làm bộ cởi ra và
lắc đầu tỏ vẻ không thể sử dụng được. Nói đến đây thì anh hết cách giải thích
vì làm thế nào để nói cho họ biết việc mang tạm đồ không dùng được để đổi lại
sau. Đang còn lúng túng không biết diễn đạt thế nào anh liền đến mở gói giấy ra
lấy cái áo khoác lên người rồi chỉ cho họ thấy cái trở ngại của nó là vậy. Cô
gái lúc nãy đến cầm lấy chiếc áo Hằng mới cởi ra và xem xét khắp lướt. Cô gọi
thêm hai người bạn nữa đến xem rồi cầm áo treo vào mắc của cửa hàng. Hằng còn
đang ngơ ngác chưa hiểu ra sao đã thấy cô ấy kéo tay dẫn anh đến các quầy để
xem hàng tại đó. Đến lúc này thì anh hiểu là họ đã bàn nhau đồng ý đổi cho anh
một cái áo khác trong quầy của họ. Thế nhưng tìm đến trợn cả mắt Hằng cũng
không thấy cái nào vừa cho anh cả, anh đành rời các quầy trở lại gặp lại họ.
Khi thấy anh không tìm được cái áo nào vừa với mình thì họ cùng cười rồi chỉ
cho anh thấy bức hình một chú bé trong quầy dụng cụ thể thao cạnh đó rồi chỉ
sang cửa hàng ở cuối đường phố này. Đến đây thì anh cũng đứng ngây ra rồi cười
cùng với họ. Ngay sau đó cô gái lúc nãy lại cầm tay anh đưa đến chỗ cô gái đang
ngồi cạnh cái máy tính. Cô gái nhấn tay vào các nút trên máy rồi quay cái tay
quay làm cho cái máy kêu xoành xoạch, lát sau nó nhả ra một tờ giấy nhỏ, cô gái
trao cho anh và dẫn anh đến góc quầy nhận tiền. Số tiền anh nhận được là một
trăm lẻ bốn rúp, đúng bằng giá tiền cái áo của anh. Anh cảm ơn họ rồi đi ra khỏi
cửa hàng, họ cũng đáp lại lời anh nhưng vì họ đông quá nên anh cứ nghĩ họ đang
hô khẩu hiệu để chào anh. Trên đường về anh thầm nghĩ có lẽ mình sẽ là câu chuyện
vui của họ sau nhiều ngày nữa. Tuy nhiên anh nhận thấy những người Nga anh đã gặp
sao mà thân thiện và nhiệt tình đến vậy. Đâu là sự vui vẻ của bà già hái trái
cây, nay lại có thêm các cô gái bán hàng bách hoá suốt cả tiếng đồng hồ giúp
anh tìm áo.
Theo
sự chỉ dẫn bằng hình của những người bán hàng Hằng tìm đến cửa hàng quần áo trẻ
em và cũng không khó mấy khi chọn được một bộ comlê màu xám và một chiếc áo man
tô dày và nặng. Trước lúc ra về anh còn vào một cửa hàng giầy để đổi đôi giầy
quá khổ mà anh lĩnh hôm trước. Đôi giầy mới anh chọn không những vừa chân của
anh mà lại còn có lớp lông bên trong rất dày. Người bán hàng cũng cầm đôi giầy
của anh xem kỹ rồi đặt vào giá xếp giầy của cửa hàng. Hằng biết đôi giầy anh lấy
khá tốt nhưng không hiểu tại sao giá lại rất rẻ. Anh nghĩ có lẽ chính phủ Liên
Xô có trợ giá cho các thiếu nhi nên mới có giá ấy. Dẫu sao thì anh cũng đã có
giầy mới thay cho đôi giầy mang từ Việt Nam sang bây giờ đã cứng quèo vì lạnh.
Vừa
bước chân ra khỏi cửa hàng thì chị hàng giầy túm áo lôi lại. Hằng giật cả mình
nghĩ không biết mình có sai sót gì không, hay là đôi giầy của mình đã có vết cọ
sát nào đó trong quá trình đi thử mấy vòng ở khách sạn. Cuối cùng thì anh nhận
ra những lo nghĩ của anh cũng bằng thừa vì chị bán giầy kéo anh vào là để lấy lại
số tiền chênh lệch của hai đôi giầy. Thế là anh lại có thêm một khoản tiền nữa
để mua sắm thêm một vài thứ cho nhà.
Về
đến khách sạn thì anh thấy Nhiếp đang lấy chìa khoá phòng. Khi đã nằm dài trên
giường xả bớt cơn mệt mỏi Hằng mới kể cho Nhiếp nghe câu chuyện đổi áo, đổi giầy.
Đầu tiên Nhiếp còn cười vì các chi tiết ngô nghê của Hằng khi chạm trán mấy cô
bán hàng, Nhưng đến khi câu chuyện kết thúc thì Nhiếp tròn cả mắt vì ngạc
nhiên:
-
Em không ngờ anh chả biết một tý nào tiếng của họ mà lại thành công đến thế.
Ngừng
một lúc Nhiếp lại nói tiếp:
-
Trong khi đó suốt buổi sáng nay, em đi tìm cách đổi hoà mà cũng không ai đổi
cho.
-
Có lẽ anh là loại khù khờ nên được thánh nhân đãi chăng.
-
Cái đó thì chưa hẳn! Nhưng có điều trông anh hiền lành mà lại chậm rãi nên chắc
là họ có cảm tình?
-
Anh cũng chịu... Nếu thế mai anh dẫn chú đến đó xem sao.
-
Có lẽ em không đổi áo nữa vì chiếc áo này tuy rộng nhưng em cao nên trông cũng
khá vừa.
-
Thế thì đổi giầy vậy?
-
Nhưng mà... Anh chỉ cần ghi địa chỉ cho em là được.
-
Anh đâu có để ý đến tên cửa hàng, chỉ biết nó là cửa hàng to nhất thị trấn là
được. Nhưng tốt nhất là anh dẫn chú đi.
-
Em sợ nếu anh đi cùng với em, có thể họ cho là buôn bán thì chưa chắc họ sẽ đổi
cho đâu.
-
Thế thì chú đi một mình và nhớ đừng nói gì cả mà chỉ có ra hiệu thôi đấy nhé.
Nghe
tin Hằng đổi được quần áo và giầy tốt mà lại có thêm tiền chênh lệch, nhiều anh
tiếc vì đã đổi chác ở đâu đó mà không biết làm theo cách của anh.
Mùa
đông đã bắt đầu đến làng Iscoi, nơi có nhà máy điện Hằng đang thực tập. Đầu
tiên là những mảng nước đã đọng lại trên đường mỗi buổi sáng, cùng với những
cơn gió lạnh và khô. Những ngày sau đó lớp nước đá trên đường cứ dày thêm và một
tuần sau đó thì trên cây và trên các bức tường dọc đường vào nhà máy đã có nhiều
bông tuyết trắng mềm đậu lại. Hằng cũng không thấy rét lắm có lẽ vì anh được ăn
nhiều chất và đã có đủ quần áo ấm. Mỗi ngày anh vẫn đến nhà máy đều đặn mà chẳng
phải đi bán hàng như nhiều anh em khác. Có chăng là anh cũng ra chợ bán giúp
cho đoàn một số mành mà thôi. Cũng không hiểu sao anh bán rất chạy trong khi
các anh em khác cũng bán cùng một thứ.
Sau
khi thống nhất với anh San và phiên dịch Ích, ngày mai mấy anh em sẽ đến thăm
nhà ông kỹ sư thuỷ công đang hướng dẫn Hằng thực tập. Chương trình chính là
thăm hỏi và tổ chức làm một bữa cơm Việt Nam mời ông bà kỹ sư, luôn thể cảm ơn
ông bà đã nhiều lần tổ chức tiếp mấy anh em trong suốt mấy tháng qua. Cũng may
là Hằng khá thành thạo trong chế biến các món ăn chứ nếu cứ như anh San thì chắc
là cũng chịu.
Chiều
qua Hằng đã đi mua thịt bò và một số gia vị ở chợ. Nói là mua gia vị chứ cũng
chỉ là mấy củ tỏi, củ hành mà thôi. Còn gừng, húng lìu, bánh đa nem, miến và mộc
nhĩ thì Hằng đã mang từ Việt Nam sang từ lúc rời quê Việt. Tất nhiên là Hằng đã
chế biến theo đúng quy trình của Việt Nam với món xào thịt bò với hành tây. Món
nem Sài Gòn với nhân là thịt băm cùng miến trứng và mọc nhĩ. Hằng còn bóp gừng
và húng lìu với thịt bò rồi nướng trên than hoa thơm đến nhức mũi. Anh cũng chế
thêm món bắp cải trộn dấm và muối giả làm dưa chua để chống ngán thức ăn có nhiều
dầu mỡ. Đương nhiên là hai vợ chồng ông kỹ sư lúc nào cũng chỉ còn biết giơ
ngón tay cái ra để mà xác nhận cái lạ, cái ngon của món ăn thuần Việt. Ông cũng
mang ra nhiều thức ăn khác của nhà nhưng hầu như ít ai đụng đến. Thực ra thì Hằng
khá thích thú với món đậu Hà Lan đóng hộp vì ăn nó rất bùi và món dưa chuột muối
đóng lọ do bà kỹ sư chế biến. Vừa vui vẻ tâm sự trong khi ăn nhưng bà kỹ sư
cũng luôn để ý xem các món bà chuẩn bị các bạn Việt Nam có thấy thích hay
không. Khi thấy Hằng ăn nhiều hai món đó thì bà mừng lắm. Bà cười luôn miệng và
không ngăn ông kỹ sư chúc rượu với mọi người. Cũng đã có đến vài lần bà kỹ sư cố
ý nhìn ông hơi lâu như ngầm ra hiệu điều gì đó nhưng ông cứ mặc kệ. Ông khề khà
nói với anh phiên dịch về ý tứ của bà ấy và ông mạnh dạn tuyên bố rằng hôm nay
ông không chấp hành nghị quyết của bà nữa vì cái món rượu cô nhắc ba trăm năm rất
quý. Tất nhiên là bà kỹ sư cũng cười vui rồi quay sang thì thầm chuyện gì đó mà
Hằng không thể biết được. Bữa cơm khách kéo dài hơn ba tiếng mới xong. Ai cũng
vui, cũng thân tình và cởi mở. Bà kỹ sư cứ bắt Hằng ôm về sáu bẩy lọ mứt quả mà
bà tự tay chế biến.
Chiều
nay Hằng mới có thời gian rỗi rãi một chút để chuẩn bị chuyển sang thực hành sửa
chữa bơm cấp nước. Thực ra thì Hằng đã làm chán các bơm cấp khi còn ở Thanh
Hoá, nhưng biết đâu các nhà máy lớn bơm sẽ khác đi chăng. Nhưng mà thôi chả
nghĩ làm gì nữa vì dù sao thì ngày mai anh sẽ được thấy hết, bây giờ cần thiết
là phải tăm xem ở đâu có quạt điện để mà mua chứ không thì lại về nước tay
không thì chán chết. Hằng cũng biết đi tìm mua quạt trong mùa rét cũng là chuyện
ngược đời, nhưng nếu không thế thì biết mua gì.
Từ
lúc xuống xe buýt Hằng đã đi đến ba cửa hàng công nghệ phầm nhưng cũng chỉ thấy
có mấy cái quạt nhựa Orbita hỏng mà cửa hàng chưa cất đi. Biết vậy nhưng Hằng vẫn
cứ đòi cửa hàng cho xem bằng được bất chấp mấy cô cửa hàng hết nói lại giơ tay
làm hiệu. Thấy anh quyết tâm quá thế là cô gái cứng tuổi nhất cũng đành lôi ra
một cái đưa cho anh xem. Vừa cầm lấy cái quạt Hằng đã nhận ra cái quạt chẳng hỏng
gì cả mà chỉ bị lỏng hai cặp ốc gông mà thôi. Tiện tay anh mượn cái tuốc nơ vít
bắt lại rồi mang ra gần cửa cắm vào ổ điện chạy thử. Mấy cô nhân viên tròn cả mắt
khi thấy cái anh chàng nhỏ bé da vàng này chỉ mới loáng một cái đã làm cho cái
quạt chạy được. Cũng có một cô tiến đến ra hiệu hỏi Hằng vì sao mà lại cần mua
quạt đến thế. Hằng chỉ cần nhìn nét mặt cô gái đã hiểu ý, anh lấy một mảnh giấy
rồi vẽ vào đó một ông mặt trời rồi ghi vào đó con số 38 có ý muốn nói ở nơi
chúng tôi rất nóng. Tuy vậy cô vẫn ra hiệu to ý hỏi vì sao có nhiều người mua
và lại mua nhiều đến thế. Hằng cũng chỉ cười rồi vẽ lên giấy hai hình người to
và sáu bẩy người bé từ cao đến thấp ra ý bảo nhà tôi đông người lắm. Khi anh
ngước lên nhìn cô gai thì thấy cô vừa cười vừa le lưỡi tỏ vẻ ngạc nhiên lắm. Hằng
cũng cười theo rồi tiện bút khoanh nhóm người kia lại rồi viết thêm con số hàng
chục vào đó có ý bảo chúng tôi còn có nhiều anh em và bè bạn khác nữa. Có lẽ cô
gái cũng hiểu, cô gật đầu mỉm cười và giơ tay nắm lấy tay Hằng mà chẳng có gì
ngại ngần rồi cứ thế cô kéo anh ra bàn làm việc của cô. Sau khi đã buông tay Hằng
ra cô lại lấy bút giấy và viết vào đó mấy hàng chữ rồi gấp nhỏ lại bỏ vào túi
anh. Hằng đoán cô muốn bảo anh mang giấy về cho người khác đọc hộ cho anh. Anh
cũng lại đọc một câu cảm ơn bằng tiếng Nga duy nhất mà anh thuộc rồi rời cửa
hàng lên xe buýt về khách sạn. Vừa về đến cửa khách sạn thì Hằng gặp anh San
cũng từ nhà máy về đến đó, Hằng liền móc túi lấy tờ giấy lúc nãy đưa cho anh
San. Có lẽ cũng phải đến gần mười phút vừa đọc vừa luận anh San mới biết nội
dung tờ giấy, anh nói:
-
Thế ai đưa cho cậu tờ giấy này thế?
-
Một cô nhân viên ở cửa hàng công nghệ phẩm anh ạ... thế họ bảo gì đấy?
-
Tớ cũng chỉ hiểu họ bảo chú đến một chỗ cửa hàng to nào đấy vào ngày thứ tư tuần
tới cùng với họ.
-
Thế thì em hiểu rồi.
Anh
San nghe Hằng nói có khi còn ngạc nhiên hơn cả khi anh đọc được mấy chữ trong tờ
giấy Hằng đưa cho, anh nói:
-
Tớ vẫn chả hiểu gì cả thế mà cậu lại bảo đã hiểu rồi, thế là làm sao?
Hằng
cười thành tiếng rồi ghé tai anh San nói nhỏ:
-
Họ hẹn đến cửa hàng chính để mua quạt vào thứ tư tới đấy anh ạ.
-
Thật thế hả?
-
Em đoán như vậy.
-
Thế thì may quá, tớ vẫn chửa mua được cái nào.
Mặc
dù suốt ba ngày nghĩ ngợi lung tung và không tin lắm vào tờ giấy hẹn, bởi chưa
chắc cô gái ấy đã nhớ và giữ đúng lời hứa vì có bao nhiêu việc sẽ đến với cô
trong mấy ngày qua. Thế rồi mọi lo nghĩ của anh cũng bằng thừa, vì thứ tư ấy Hằng
và anh San đã có xe đưa đến tổng công ty để lấy quạt điện.
Không
những thế Hằng còn phát hiện ra tại nơi này còn có rất nhiều tủ lạnh Saratop,
thứ mà đoàn đã tìm mãi vẫn chưa có chỗ nào đủ ba mươi cái để mua đồng loạt cho
cả đoàn. Chỉ hai ngày sau đó nhờ Hằng giới thiệu đoàn thực tập đã mua được đủ
ba mươi cái tủ lạnh trong sự hoan hỷ của tất cả mọi người.
Những
ngày thực tập đã kết thúc nhanh chóng mặc cho những người bạn Việt có hiểu được
gì không khi chữ thì không biết và tiếng thì cũng chẳng thể nghe. Điều quan trọng
là mỗi người đều đã nhìn thấy những cái máy mà cả đời người mới gặp được tại
đây và rồi mai ngày không đến nỗi phải bỡ ngỡ khi nhìn thấy những đồ
vật mới này. Việc trông coi vận hành thì cứ theo sách để mà thuộc lòng, việc sửa
chữa thì đã có chuyên gia kèm ngay bên để mà chỉ dẫn. Thế thì việc đi học vốn
dĩ đã không còn là chủ yếu mà nó đã phải xuống hàng thứ yếu. Cái chủ yếu lại là
việc mua được bao nhiêu thứ để mang về nước sử dụng và bán đi một ít lấy tiền
dùng vào việc cải thiện đời sống sau này.
Sau
mấy tháng thực tập ở tận miền Xibêri giá lạnh và heo hút, đoàn được nghỉ tại Mạc
tư khoa ba ngày để tham quan và chờ máy bay về nước. Do có kế hoạch báo trước
nên mỗi người đều giữ cho mình chút ít tiền để mua sắm, chính vì thế mà vừa về
đến khách sạn Vostok họ đã kéo nhau ra xe để lên Gum, Sum ngắm cảnh và mua hàng
hoá.
Hằng
cũng còn khá nhiều tiền nên anh mua thêm được một vài thứ. Nhưng cái chính là
anh mua thêm một ít quà bánh về cho con, vì các thứ ở bên này rất ngon mà về
nhà thì không sao có được. Anh cũng mua thêm mấy cây thuốc lá ngon để về làm
quà cho bạn bè. Cũng không thiếu người chỉ đi ngắm không vì chẳng còn tiền nữa.
Họ đã cố mua thêm một ít hàng hoá để gửi tầu biển mang về bán lấy tiền.
Khó
có thể nói các gia đình có người đi thực tập vui như thế nào khi sau mấy ngày
tết họ lại được đón người thân trở về. Một điều quý hơn nữa là về cùng với những
người thân là số hàng hoá họ mang theo về nước. Các con của Hằng sướng nhất
là là bố mang về cái đài đĩa xinh xắn và nhiều bánh kẹo. Những cái kẹo thật ngọt
và thơm mà chúng chỉ được ăn vài lần khi bố chúng mang từ nhà máy về trong các
dịp lễ tết mà các chuyên gia làm quà cho số cán bộ lãnh đạo trong đơn vị. Hôm
nay thì khác vì chúng được ăn thoải mái hơn trong lúc nghe đài ca hát. Hằng
cũng cố mang về cho vợ con mấy quả táo của Liên Xô, thứ mà nhiều người Việt
Nam chưa bao giờ nhìn thấy. Những người bạn xung quanh cũng vui lây cùng với
họ khi nhận được những phần quà thật là bé nhỏ. Cho dù chỉ là mươi cái kẹo
cho trẻ con và một vài sợi dây điện trở làm bếp đun nấu hàng ngày.
4
Hằng
trở lại công việc của mình với chức danh đốc công sửa chữa như đã có từ lúc
hình thành đơn vị. Đây là chức danh mới có ở một vài nhà máy trong ngành điện.
Một chức danh thật chả đáng có vì người ta chẳng có chương trình cụ thể nào
cho chức danh này. Nói cho đúng ra thì chức danh này chỉ là tổ trưởng của một
tổ sản xuất lớn mà thôi. Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại nếu không có những
người đã có kinh nghiệm trong thực tiễn thì cũng khó có ai dám đảm bảo rằng số
học sinh mới ra trường với một mớ lý thuyết sẽ làm được mọi việc khi họ còn
chưa biết cái máy nó hoạt động cụ thể ra sao.
Bên
dưới chức danh này là các tổ sản xuất mới hình thành do những công việc cụ thể
của đơn vị mà đồng chí quản đốc đã giao cho Hằng lựa chọn. Đành rằng Hằng chưa
hiểu gì nhiều lắm về chủng loại máy móc hiện nay của Phả Lại nhưng anh đã kinh
qua rất nhiều các loại máy khác ở nhà máy cũ nên cũng đã hiểu được những phần
cơ bản của thiết bị. Bản thân anh cũng đã nhiều lần tổ chức các đợt sửa chữa, đại
tu nên anh biết cần gì cho công việc và cách quản lý mọi người dưới quyền
mình. Ngoài ra kinh nghiệm tổ chức các hoạt động đoàn thể, các hoạt động xã hội
từ khi còn là một cậu niên đội trưởng, một cán bộ đoàn cũng đã giúp Hằng một
phần trong công tác quản lý mới mẻ này.
Việc
tuyển chọn số công nhân cho các kíp vận hành thì Hằng đã cùng với anh San phó
quản đốc và anh Tham duyệt từ khi mới tập kết quân từ các nơi về đơn vị. Thực
ra thì lúc ấy Hằng cũng mới chỉ được phân xưởng đề bạt lên làm đốc công và có
khác một chút là anh cũng là một trong bốn đảng viên trong đơn vị nên mới được
bàn bạc công việc này.
Sau
nhiều lần di chuyển qua các đơn vị khác nhau, kẻ cả những đơn vị có sẵn phiên
hiệu và quân số đến những đơn vị mới bước đầu thành lập thường thì rất đơn giản
vì chưa có ông cán bộ nào muốn ra mặt độc đoán để quyết bao giờ trừ vài trường
hợp anh ta có những người thân cận cần được xếp đặt để tạo sự liên minh sau
này. Cũng chính vì thế mà số công nhân từ các đơn vị chuyển về được coi là những
người đã có kinh nghiệm và phải được chọn trước. Số còn lại chắc chắn rằng
phải chọn theo kết quả học tập hoặc chọn theo một tiêu chí nào đó cao hơn mà mấy
ông cán bộ ban đầu này cùng thống nhất. Cũng chính vì suy nghĩ như thế nên Hằng
đề xuất đến đâu là mọi người đều tán thành cả.
Lần
này việc chọn các tổ trưởng, tổ phó cho bốn tổ sửa chữa quả có làm Hằng bận
tâm hơn hồi trước. Cũng may là có ít công nhân cũ và một số học sinh được đào
tạo từ Liên Xô về nên anh dễ lựa chọn hơn. Không quá hai ngày sau Hằng đã có thể
hoàn chỉnh danh sách cơ cấu của bộ phận sửa chữa và cũng chẳng cần gì mà anh
Tham không duyệt ngay danh sách đó. Có điều là cả Hằng và bộ phận lãnh đạo đều
không biết rằng bên trong cái sự chấp hành kia cũng còn có nhiều những phản ứng
âm ỉ đã bắt đầu hình thành do quan niệm họ cũng chỉ là cá mè một lứa mà thôi.
Cũng
không biết các đơn vị khác lớn hơn họ làm những công việc gì trong suốt thời
gian chờ đợi khởi động tổ máy đầu tiên ngoài việc đi thâm nhập thực tế ngoài
công trường lắp ráp thiết bị. Còn phân xưởng của Hằng thì rối hết cả lên vì
nơi ăn chốn ở và cả kế hoạch vận hành thiết bị cấp nước cho thi công và sinh
hoạt. Cũng phải thôi vì phân xưởng của Hằng là khâu đầu tiên trong dây chuyền
vận hành thiết bị.
Đã
có vận hành là phải có hư hỏng và những điều chỉnh, sửa chữa cần thiết cho các
thiết bị ấy. Những đợt sửa chữa nhỏ trong đơn vị bất đầu thì Hằng nhận ra rằng
số công nhân của mình hầu như chưa quen lắm với các việc về cơ khí, một trong
những kỹ năng tối thiểu để hoàn thành công việc. Những người công nhân mới chỉ
được vài lần đứng bên bàn nguội để thay nhau sử dụng mấy cái dũa cũ thì làm
sao đã quen công việc được. Thảm hại hơn là cả việc cầm cái búa để đóng vào một
vật có bề mặt khá lớn mà cũng trượt ra ngoài. Còn việc cầm búa cái thì không
thể nói gì hơn vì nếu không cẩn thận là họ choảng vào đầu thợ cả chứ chẳng
chơi. Chưa nói đến chuyện họ quai búa xuống đe cứ như là đập đất vậy, nhát nặng,
nhát nhẹ hụt hẫng chả ra kiểu cách gì. Mỗi khi nhìn thấy cái sự ấy là Hằng lại
nhớ đến những ông thầy của mình ngày xưa để rồi buồn bực không gì tả nổi.
Hai
tuần sau Hằng bắt đầu cho nổi lửa học rèn bằng những cái lò, cái quạt và cả những
cái kìm, cái búa do anh tự chế lấy. Anh cũng dần vui trở lại khi đã có vài cậu
học trò thay anh cầm kìm cho bạn nghề đánh búa rèn ra vài cái đục để dùng. Anh
cũng dạy họ rèn những con dao để dùng trong công việc của đơn vị như anh đã
rèn ngày nào trong quân đội, cùng với kinh nghiệm mà anh đã đổ mồ hôi sôi máu mắt
bao năm qua mới có được để bảo cho họ cách tôi, ram dụng cụ mà hầu như họ chưa
có một chút khái niệm thực tiễn nào.
Công
việc từng lúc đã dần dần ổn định về mọi mặt dù đơn vị bây giờ chỉ có anh Tham
quản đốc và Hằng là đốc công vừa lập kế hoạch vừa triển khai thực hiện. Số
cán bộ kỹ thuật cho dù có tham gia chỉ đạo thì cũng chỉ với danh nghĩa kỹ thuật
đơn thuần trong vận hành thiết bị. Anh Tham thì lo đi họp suốt cả sáng, trưa,
chiều, tối chẳng còn thì giờ đâu mà dòm ngó đến công việc, cũng chính vì thế mà
trăm công ngàn việc đều do Hằng cáng đáng. Hàng ngàn phiếu công tác trong mỗi
năm, chưa kể những việc chỉ trao đổi bằng miệng hàng ngày đều qua tay Hằng cùng
bộ phận sửa chữa thực hiện.
5
Để
chuẩn bị tốt thiết bị cho tuần tới và tránh phải huy động sửa chữa trong ngày
chủ nhật, Hằng đã cho củng cố tất cả các thiết bị dự phòng. Sớm nay thứ bẩy dưới
vận hành chỉ yêu cầu sửa chữa phần chèn của bơm cứu hoả số hai, thì Hằng đã
giao cho tổ 1 thực hiện chắc giờ này họ đang khoá phiếu công tác rồi cũng nên.
Đang thu dọn những quyển sách trên bàn lại để xuống kiểm tra lần cuối trước khi
về nghỉ thì Tuần vội vã bước vào. Nhìn vẻ mặt hơi tái cùng với chân tay dính đầy
cáu bẩn Hằng đoán chắc có trở ngại gì đó trong công việc. Anh lặng lẽ tiến ra cửa
như có ý đón đợi cậu ta vào phòng. Vừa đi ra anh cũng vừa chăm chú
nhìn vào mặt Tuần như có ý dò hỏi xem đó là việc gì. Vừa đi gần đến, anh đã
nghe Tuần nói như đứt hơi:
-
Anh..anh ạ... Cái đĩa chặn tét bị gẫy mất rồi...
Hằng
vừa nghe đến đấy đã sững người lại và lo hoảng còn hơn cả Tuần nữa. Anh cũng
không ngờ sự việc lại xảy ra lớn đến thế.
-
Cái đĩa chặn to và dầy thế mà sao các cậu lại bẻ ra được thế hả?
-
Em cũng không biết nữa...Tuần nói như người hết hơi, cậu ta phải dừng lại một
lúc mới lại nói tiếp được ... Em thấy vẫn rò, xiết thêm có một một cái thế mà
đã gẫy rồi...
-
Dặn mãi rồi...nó làm bằng gang nên dễ gãy...bây giờ biết làm sao được (?)
Tuần
biết là Hằng giận lắm nên cậu ta im bặt không dám trả lời cứ đứng lòng khòng giữa
nhà trông thật thảm hại.
Thực
ra thì Hằng cũng chỉ nói để mà nói vậy thôi chứ trong đầu anh đang cố lục tìm
xem có cách nào để khắc phục hay không. Anh chẳng lạ gì cái việc hàn gang chẳng
qua chỉ để liền lại thôi chứ mối hàn đâu có chịu nổi sức ép của hai cái gu jông
M16 vẫn dùng để ép nó vào các dây chèn cổ trục giữ cho áp lực nước trên 10 ký
không chảy ra ngoài. Chưa nói đến việc hàn gang không phải ai hàn cũng được và
cứ hàn là được nếu không sấy ủ vật hàn đúng cách thì mối hàn vừa nguội đã lại gẫy
rời ra. Rồi thì mối hàn ấy có thể còn bị vướng không lắp vào ổ trục đượcđể mà
dùng.
Nhìn
hai miếng gang mỏng mảnh với các vòng tiện tròn của ống nén bị gẫy làm đôi, Hằng
càng chán nản. Anh giận Tuần và mấy cậu sửa bơm hôm đó không biết để vào đâu.
Anh không lạ gì mấy ông cán bộ cấp trên luôn thích nâng cao quan điểm và cũng
thích phê phán và phạt phiệc đối với những người có lỗi. Trong thời điểm nhạy cảm
lúc đó việc làm hỏng thiết bị là một tội khá nặng. Loại trừ việc cố ý phá hoại
sản xuất thì cũng là tội vô trách nhiệm rất nghiêm trọng. Với Hằng thì có chăng
chỉ bị nhắc nhở là thiếu kiểm tra mà thôi, nhưng với Tuần thì khác hẳn. Tuần có
thể bị phê bình, cảnh cáo, hạ bậc lương; nhưng những điều tệ hại còn ở phía sau
kia mà không ai biết sự việc sẽ làm khổ cậu ấy đến bao lâu nữa. Mỗi khi xét thi
đua, xét lương hình như người ta vẫn hay nhớ đến những thiếu sót để mà cảnh tỉnh
và cả để gieo vào công chúng cái sự phải cân nhắc với trường hợp này cho dù cái
việc ấy đã xảy ra ba, bốn năm về trước. Càng nghĩ Hằng càng thương Tuần, nếu
như anh không nghĩ ra được cách khắc phục nào khả dĩ giải quyết được và sẽ phải
báo cáo lên anh Tham quản đốc và cả trên nhà máy để đặt hàng hoặc gia công chế
tạo mới. Cũng phải đến hơn nửa tiếng xăm soi với hai mảnh gang gẫy Hằng mới tìm
ra giải pháp khắc phục. Anh cũng chẳng lạ gì khả năng tay nghề của Tuần nên
đành sắn tay áo để mà làm hộ cho cậu ta vậy. Có lẽ cậu ấy cũng rất lo sợ nên
khi Hằng bảo đi kiếm vật liệu và lấy dụng cụ thì hối hả đi ngay.
Gần
hai giờ cặm cụ chặt tôn, dũa lỗ Hằng đã lồng được một vòng thép vào ống nén khá
căng chặt. Đây cũng là điều khó nhất trong việc cố định hai miếng gang thành một.
Việc tiếp theo là chặt tấm ốp ngoài và khoan các lỗ kẹp cái đĩa này vào giữa.
Mãi đến khi bắt chặt cái đia chèn Hằng mới ngước lên tìm Tuần. Anh vừa bắt êcu
hãm vừa giảng giải thêm cho Tuần về cách bắt sao cho đều cả hai bên. Tất nhiên
là cậu ta chỉ còn biết đứng im mà nghe vậy.
Về
đến nhà thì trời đã tối, Hằng lặng lẽ ngồi ăn bát cơm đã nguội và nghe lũ trẻ
con trêu ghẹo nhau. Kể từ khi đưa vợ con ra Phả Lại, cuộc sống gia đình Hằng đã
khá hơn chút ít bởi kinh tế đã có sự tập trung. Tuy vậy hàng ngày anh vẫn chẳng
giúp đỡ được gì cho Thơ vì công việc ở đơn vị cứ nối nhau không dứt. Thường thì
mọi người chỉ cần lo xong công việc trong ngày là có thể phó mặc cho mọi sự, thế
nhưng với Hằng thì hình như anh luôn có cách làm việc khác hẳn mọi người. Cho
dù chả phải chịu trách nhiệm gì nhưng anh vẫn cứ lo lắng công việc của đơn vị
như là của mình vậy. Chính vì thế mà anh luôn tính sao cho mọi việc đều hoàn
thiện, thậm chí trên cả hoàn thiện anh mới yên tâm. Phải chăng vì thế mà dây
chuyền vận hành cho dù rất phức tạp nhưng vẫn chu đáo hơn nhiều đơn
vị khác. Ngược lại với điều đó thì Hằng lại rất kém trong công việc của chính
nhà mình. Trong khi nhiều người chỉ cần thoát ra khỏi công việc là họ đã mưu
tính cho gia đình họ. Họ nhặt nhạnh những gì có thể dùng được cho dù rất nhỏ bé
như là vài tấm gỗ thùng, mấy đoạn giây thép, thậm chỉ vài cái đanh hay một tý dầu
nhờn thải ra đã đen xì đen xịt. Số người cần cù hơn thì suốt ngày lo rau bèo
cám bã để nuôi lợn, nuôi gà. Nhưng người có mánh, có mối thì rang lạc cho vào
túi hoặc cuốn thuốc lá bán giao cho các quán quanh vùng. Những người có đầu óc
hơn thì mua đi, bán lại một vài thứ đồ dùng để kiếm lời.
MẤT
MẸ
1
Tết
năm 1985 đã qua đi không lấy gì làm vui lắm vì Hằng bị chó cắn vào chân . Ngay
ngày mồng 2 tết anh cũng phải sang Hải Dương để tiêm phòng. Cũng may là nhà máy
cho anh Miễn lấy xe ô tô chở đi chứ nếu đạp xe thì chả biết có tiêm được hay
không vì tết nhất, thế nào những người trực chả hay đi muộn về sớm, thậm chí chỉ
đến cho có mặt rồi biến đi chơi khắp đường cùng, ngõ hẻm, chẳng ai tìm được.
Công
việc trong tết cũng có chùng xuống một chút để mọi người cùng vui, đến bây giờ
thì không khí làm việc bình thường đã bắt đầu trở lại. Hàng ngày các cán bộ,
công nhân lại leo lên những chiếc xe tải để ra nhà máy làm việc. Những cánh đồng
lúa hai bên đường đang bắt đầu bén chân xanh lên từng đợt. Đây đó còn vài dược
mạ làm đất cấy muộn cũng đã kín cả rồi. Xa hơn về phía đông là khu phố mới Sao
Đỏ cũng đang vào kỳ xây dựng tấp nập xe cộ qua lại trên đường. Những vườn cây
đang ra tiếp những đợt lá mới xanh xanh, vàng vàng bên những mái nhà tranh. Xa
hơn nữa là con sông Thái Bình đầy những xà lan đưa than về nhà máy. Những đống
than bên trong nó phản ánh trời tạo lên trước mắt những tia chói loá. Lúc một từ
bên kia đường Mười tám những chiếc đầu tầu đang kéo cả một dãy toa thấp chở
than từ Quảng Ninh lên. Thoảng hoặc một hồi còi báo ré lên những tiếng u...
u...
Ra
giêng được gần tháng thì mẹ lên chơi với với vợ chồng Hằng. Xem ra kỳ này có thể
cụ ở lại khá lâu hay sao mà mang theo khá nhiều đồ dùng và quần áo. Cứ nhìn một
đùm lớn những gói cau và sợi vỏ khô thì biết cụ đã chuẩn bị khá chu đáo cho những
ngày ở lại sắp tới. Cũng đã mấy lần vợ chồng anh bảo cụ trả ruộng hợp tác rồi
lên ở với con cháu nhưng chưa lần nào cụ chịu nhận lời. Cứ mỗi lần cụ lên là Hằng
lại giở cái điệp khúc ấy ra để nói với cụ:
-
Chúng con ra đây cốt là để trông nom mẹ, chứ không thì chúng con ra làm gì.
Và
rỗi cụ lại thẽ thọt nói với con trai:
-
Thì tao còn làm được, cũng cố một tý để đỡ cho vợ chồng mày. Chứ lên đây rồi miệng
ăn núi lở, hết phần con phần cháu, để chúng nó nheo nhóc tao không chịu được.
-
Thì cụ ăn uống hết bao nhiêu mà cứ phải lo?
-
Ăn đã vậy, còn mặc, còn giầu vỏ. Anh tưởng ít lắm đấy à.
-
Thì cứ có đủ giầu vỏ cho cụ là được chứ gì?
-
Dưng mà còn giỗ chạp, nhà cửa dưới đấy ai lo hộ cho tôi.
-
Thì đã có anh chị Mão ở ngay đó trông coi là được chứ gì.
-
...
Cứ
mỗi lần như thế mẹ anh đều không nói thêm gì nữa. Hai con mắt lờ mờ của cụ như
nhìn vào đâu xa lắm. Khuôn mặt như già nua hơn cả ngay trước đó vài giây. Cũng
không biết vì sao trong lòng Hằng chất đầy tình thương yêu mẹ nhưng anh lại
không thể tỏ ra mềm mỏng âu yếm như nhiều người con khác. Đau buồn đấy, tê tái
đấy nhưng anh cứ đè nén bên trong mà không muốn nói ra. Có lẽ anh thừa hưởng ở
bố anh cái tính cao ngạo, trọng nghĩa khinh tài và cả cái sự chịu đựng đến tím
tái trong lòng bởi những mất còn, sống chết mà đời cụ đã trải qua...
Riêng
lần lên chơi cuối năm ngoái thì khác hẳn mọi lần. Chỉ vừa mới nghe Hằng nhắc lại
cái câu muôn thuở kia thì cụ đã vừa cười vừa nói:
-
Tôi chỉ sợ anh chị nuôi tôi được mươi bữa đã kêu trời kêu đất lên chứ lại...
-
Thì cụ đã lên đâu mà biết.
Cụ
cười hể hả với vẻ như vừa có ý xí xoá câu nói vừa rồi vừa như muốn trêu lại anh
cho vui:
-
Được thôi, để rồi tôi thử xem sao.
Cũng
may hồi cuối năm ngoái có gia đình nhà Lang, Biện chuyển từ Lạng Sơn về đổi cho
một cái giường đôi bằng gỗ muồng để lấy hai cái quạt nhựa Liên Xô nên nhà Hằng
mang cái giường một ghép ra gian nhà ngoài làm chỗ cho mấy bà cháu cái Uyên nằm
ở đấy. Cứ tối đến là mấy bà cháu lại rì rầm to nhỏ kể chuyện, còn cụ kể những
gì thì anh cũng không sao biết được.
Đã
nhiều năm qua rồi nhưng Hằng vẫn còn nhớ như mới hôm qua vậy. Hồi ấy có một lần
anh thấy chị Mão và cô em gái rí ráy cười với nhau khi nhìn thấy Hằng mắt nhắm,
mắt mở vừa từ trong buồng bước ra lấy khăn đi rửa mặt. Gặng đi gặng lại cô em mới
thì thào vào lỗ tai:
-
Chị ấy bảo anh ứ được nghe bu kể chuyện Thạch Sanh vì ngủ sớm quá.
-
Thế bu kể lúc nào?
-
Thì lúc tối ấy.
-
Thế sao mày không gọi anh?
-
Em gọi mãi mà anh cũng chỉ lăn qua, lăn lại rồi lại nằm im như thóc ấy lại còn.
-
Thế hôm nay bu có kể nữa không?
-
Hết rồi.
-
Sao ngắn thế?
-
Thì em cũng chẳng biết nữa.
Đã
hơn ba mươi năm rồi nhưng những câu chuyện mẹ anh kể vẫn cứ văng vẳng bên tai
như những ngày nào. Cho dù nhiều năm sau này anh đã đọc nguyên vẹn tất cả những
câu chuyện mà mẹ đã kể nhưng sao những gì nhớ được lại chỉ là những đoạn vắn tắt
của mẹ kể cho mấy chị em nghe từ những đêm đông năm ấy mà thôi. Lắm lúc anh
cũng tự hỏi không biết mẹ mình nghe những chuyện này từ đâu mà sao bà cụ kể lại
hầu như không thiếu đoạn nào, không những thế bà cụ còn kể rất hay là đằng
khác. Cứ như cụ nói thì may lắm cụ cũng chỉ nguệch ngoạc viết ra được cái tên của
cụ để được vào chợ trong thời diệt dốt hồi đầu cách mạng chứ cụ đâu có được học,
đâu có biết được chữ gì. Mải suy nghĩ về những chuyện ngày xưa đến khi anh định
quay vào nhà hỏi lại cái thắc mắc vừa rồi thì đã thấy cả mấy bà cháu đã ngủ tự
bao giờ...
2
Năm
nay không hiểu vì sao mà thời tiết nóng sớm hơn mọi năm khá nhiều. Mới hôm nào
mấy mẹ con bà cháu kéo nhau đi hội Côn Sơn rằm tháng giêng, thế mà đã sắp sang
tháng ba nóng nực kinh người. Nhà máy đã hoạt động gần ba năm rồi thế mà vẫn
chưa có một khu công nhân nào cho nó tử tế. Những gia đình sống ở bên hồ thuỷ lợi
Văn An cũng đã dần quen hầu như chẳng chờ đợi để rời đi đâu nữa. Đang lúc ấy
thì nhà máy lại phát ra cái tin sẽ cho một số cán bộ các phân xưởng ra ở khu
nhà ngói mới xây bên dưới khu Đềpô cứu hoả. Tất nhiên là Hằng chẳng chờ đợi gì
trong cái tin mới ấy vì gia đình anh nằm ngoài diện.
Thế
mà không biết thế nào chiều qua anh Tham lại mang về cho anh một tờ quyết định
phân phối nhà ở khu vực Đề pô, nơi đã định phân cho các chánh phó phòng, chánh
phó quản đốc như tin đồn từ mấy hôm trước. Thắc mắc mãi thì rồi anh cũng tìm được
câu trả lời. Số là các cán bộ phân xưởng lại chỉ thích gần ban giám đốc chứ
không thích gần nơi làm việc như ý định tạo điều kiện của lãnh đạo cấp trên.
Chính vì thế mà khu nhà mới này lọt xuống đến các vị đốc công và cũng với mục
đích là gần nơi làm việc cho dễ điều hành sử lý sự cố.
Sáng
nay, ngày mười tháng ba âm lịch, nhà Hằng chính thức được chuyển đến một gian
rưỡi nhà ngói mới tinh chưa ai đến ở. Chỉ có điều là nhà thì có nhưng mà không
có bếp thành ra hai vợ chồng Hằng đành phải mang số tre luồng kiếm được cùng với
những đoạn sắt phế liệu dựng tạm lên để mà đun nấu. Vì nhà Hằng không có mấy đồ
đạc nên chỉ một chuyến xe đã chở hết mọi thứ. Không những thế còn mang theo được
mấy khung phên ghép vào làm chuồng nhốt con lợn bột.
Gần
một tuần dọn dẹp mọi việc mới tạm ổn về nơi ăn chốn ở. Chỉ có điều là có đàn gà
đến kỳ thịt được thì cứ lăn ra chết. Tức mình Hằng bàn với vợ đem thịt trước đi
bỏ vào tủ lạnh mà ăn cho khỏi phí, vì khi nó đã ốm thì nhà đã chẳng ai muốn đụng
đến rồi. Trái lại mẹ Hằng thì lại không cho thịt, cụ bảo cứ để đấy cụ cho nó ăn
cơm nóng vài bữa là chúng sẽ ổn thôi. Thực ra thì lứa gà này đều do bà cụ mang
lên kỳ trước chứ gà nhà Hằng nuôi thì đã bị lũ trộm bắt sạch nhẵn từ hồi trong
năm rồi.
2
Từ
hôm nhà Hằng chuyển ra khu nhà mới vừa bận với việc dọn dẹp lại thêm công việc
nhà máy cũng nhiều nên khi rời nhà máy về nhà là anh mệt mỏi chả muốn làm gì.
Hơn nữa mấy ngày gần đây thời tiết thật là khó chịu cho mọi người. Chả riêng gì
người già ngay cả những người trung tuổi như Hằng và cả mấy cậu thanh niên
ngoài đơn vị của Hằng cũng kêu mệt mỏi, hễ cứ ngơi ra là tìm chỗ dựa mình.
Còi
tầm nhà máy vừa vang lên Hằng mới dọn sách vở lại rồi vội vàng ra về. Cũng
không biết làm sao mà suốt mấy hôm nay anh cứ thấy bức bối trong lòng, hình như
có sự gì đấy sắp sửa xảy ra. Bước chân về đến cửa thì mẹ anh từ cửa chuồng lợn
đi lên, vừa đi cụ vừa hỏi:
-
Không biết cái cuốc của nhà mày để đâu ấy nhỉ?
-
Đang nắng thế, cụ định làm gì mà hỏi đến cuốc?
-
Tao định cuốc chỗ đất cạnh chuồng lợn lên để mấy bữa nữa gơ ít giây củ lấy cái
cho lợn nó ăn.
Cuốc
thì vẫn ngoắc trên mái chuồng lợn nhưng có lẽ do để ép sát vào thành chuồng nên
cụ không thấy. Đã thế cứ bảo không biết cho cụ ấy khỏi ra rãi nắng:
-
Chắc ai mượn đâu đấy, nhưng mà cụ vào nghỉ đi đừng ra nắng rồi ốm ra đấy.
Vừa
nói với mẹ xong Hằng cũng bước chân vào trong nhà dựa lưng vào thành ghế đón
gió từ cái quạt nhựa thổi ra. Có lẽ đến mươi phút sau Hằng không thấy mẹ hỏi gì
thêm nên anh chắc cụ đã đi đâu đó chứ không ra cuốc đất nữa. Cũng vừa nghĩ đến
đó anh chợt giật mình khi nghe tiếng của mẹ gọi anh trong sự thảng thốt đến lạc
cả giọng đi:
-
Thằng Hằng đâu rồi... không ra mà đỡ mẹ mày đây này...
Hằng
vội bật dậy bước ra khỏi cửa thì đã thấy mẹ anh quăng cái cuốc không biết mượn
của ai để nhào vào trong thềm nhà. Hằng hoảng hốt đỡ và dìu mẹ vào trong nhà. Từ
lúc nhìn thấy bà cụ quăng cái cuốc xuống anh đã nghĩ là cụ bị say nắng, anh đặt
cụ nằm hẳn vào trong buồng rồi vội lấy cái quạt bật lên thổi vào tường để lấy
tý gió bạt từ tường ra cho cụ đỡ choáng. Ngay lúc đó Thơ cũng hối hả vào nhà
tìm dầu cao để đánh cảm cho cụ. Sau khi đã xoa dầu lên thái dương và dưới mũi
cho cụ anh lại dùng tay day ấn huyệt nhân trung, huyệt thái dương và cả trên
huyệt ấn đường cho cụ. Một lúc sau Hằng thấy mẹ bình tĩnh lại hơn, khi anh hỏi
thấy cụ bảo có đỡ hơn làm Hằng đã thấy mừng. Nhưng chỉ ngay sau đó anh thấy cụ
bảo rất đau đầu và muốn anh đỡ cho cụ đi ngoài. Sợ ra ngoài gió độc anh liền gọi
Thơ mang cái chậu tôn vào để cụ đi ngoài vào đó. Mãi đến lúc này anh mới để ý
thấy hình như lúc anh chưa về, cụ đã tắm rửa thay quần áo và cả gội đầu sạch sẽ.
Hằng đỡ cho mẹ đi ngoài rồi lau chùi cẩn thận cho cụ. Trong lúc đỡ cụ
nằm xuống anh chợt thấy không hiểu sao mà cụ ra nhiều mồ hôi đến thế. Anh dùng
cái áo ngoài của cụ lau mãi mà không hết, trong lúc đó thì cụ kêu đau đầu ngày
một dữ hơn. Vừa lúc ấy mấy anh chị hàng xóm đã đón chú y sĩ của đơn vị bộ đội ở
cạnh khu công nhân lên xem bệnh giúp. Thăm khám một lúc thì anh y sĩ bộ đội
tiêm cho cụ mấy ống thuốc. Nhưng rồi không lâu sau cụ lại kêu đau đầu hơn nữa.
Đến lúc này thì Hằng cuống lên thật sự, anh bảo vợ nhờ mấy người hàng xóm ra
nhà máy xin xe để đưa mẹ đi viện.
Chờ
mãi vẫn chưa thấy có xe, mẹ anh thì ngày một nguy kịch hơn, Hằng càng thấy sốt
ruột mà không biết tính sao cho được. Khi chiếc xe ca màu vàng đỗ ở phía đầu hồi
nhà thì mẹ anh đã yếu lắm rồi, cụ thở dốc và lẩm bẩm những điều không rõ nữa. Tất
cả những câu anh hỏi nhằm cố đánh thức sự cố gắng chịu đựng của cụ để mong đến
kịp bệnh viện ngõ hầu gặp được người thầy thuốc nào đó có thể giúp cụ thoát qua
cơn nguy biến này. Khi anh cúi sát người xuống để đỡ cụ lên để mang cụ ra xe
thì anh chợt nghe cụ lên tiếng thật nhỏ như nói vào nơi xa vắng. Anh lắng tai
và nghe cụ gọi bốn tiếng tuy bé nhưng khá rành rọt:
-
Anh ơi... đương ơi...
Đây
cũng là câu nói cuối cùng trước khi cụ đi vào trạng thái hôn mê và thở dốc. Hằng
thấy mẹ mình ngày càng khó thở hơn nên anh đành ngồi trên ghế đỡ cho mẹ nằm
trên hai đùi rồi đỡ cụ giống như một người đang bế trẻ em vậy. Có điều mẹ anh
có dáng người đậm và hồi ấy cụ lại khá đẫy ra nên anh cảm thấy khá nặng.
Khi
Hằng và Định, một người công nhân trong khối sửa chữa của anh đưa cụ vào đến một
phòng bệnh của bệnh viện thì trời tối cũng đã khá lâu rồi. Những người bệnh
trong phòng tuy rất muốn hỏi han anh về tình trạng bệnh của cụ nhưng họ thấy
anh đang bận rộn thu xếp mọi thứ thì họ đành ngồi im lặng để nhìn vậy thôi. Khi
anh đặt cụ ngay ngắn trên giường thì cán bộ y tế của bệnh viện cũng vào tới.
Anh cán bộ y tế xem mạch và nghe tim phổi một lúc thì quay ra nói với Hằng:
-
Anh là người nhà của cụ?
-
Vâng tôi là con trai của cụ!
-
Bệnh của cụ quá nặng, chắc cụ không qua được anh ạ!
-
Dạ...! Chúng tôi chỉ còn trông cậy vào bệnh viện, mong bác sĩ cố gắng tìm cách
cứu chữa giúp... được phần nào hay phần ấy...
-
Chúng tôi rất muốn giúp đỡ anh... Nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi thì anh
nên chuẩn bị mọi việc ngay đi mới kịp. Không quá mười phút nữa là cụ sẽ đi đấy
anh ạ!
-
Mong bác sĩ cố gắng...
Nhìn
nét chân thành và bình tĩnh trên mặt người cán bộ y tế Hằng hiểu anh là người
có kinh nghiệm và thật lòng cùng anh, Hằng vẫy tay gọi Định đi về phía mình.
-
Định cố gắng ra ngoài xem có ai về Phả Lại thì nhờ về báo hộ cho vợ tớ và anh
Tham quản đốc về tình hình của cụ giúp mình một chút.
Định
vừa quay ra đến cửa thì tiếng thở của Mẹ anh ngày một nhẹ đi. Anh hốt hoảng đặt
hai tay lên người mẹ sờ nắn và lay đi lay lại như cố giữ cho cái tín hiệu sống
được kéo dài thêm. Bàn tay anh ngày càng run lên và nước mắt trào ra chảy dài
trên má. Hai bàn tay anh dường như cố tác động thêm trong khi cơ thể của mẹ anh
hoàn toàn im lặng. Người cán bộ y tế gạt anh ra và áp dụng biện pháp hô hấp
nhân tạo thêm một lúc nữa. Anh dừng lại vừa thở vừa ngước mắt tìm Hằng, cùng
lúc đó bàn tay anh nhẹ nhàng vuốt mắt cho cụ. Anh nói với Hằng câu nói thật là
buồn thảm:
-
Cụ đi rồi anh ạ!
Hằng
cũng chỉ biết nấc lên mấy tiếng rồi quỳ bên giường gục đầu vào mẹ. Một người
nào đó trong phòng bệnh lên tiếng như để thông báo cho Hằng và mọi người cùng
biết:
-
Cụ đi lúc chín giờ mười phút! (nói thật đúng là hai mốt giờ mười phút). Cùng
lúc ấy anh cán bộ y tế cúi xuống nâng vai Hằng lên và nhỏ nhẹ:
-
Anh đừng khóc trong buồng bệnh, như thế làm ảnh hưởng đến mọi người. Tôi sẽ làm
các thủ tục để đưa cụ xuống nhà xác. Anh tranh thủ ra mua ít hương và nến để về
thắp cho cụ.
-
Dạ...! Xin nhờ các bác trông giúp mẹ tôi một lát.
Cũng
chỉ nói với anh cán bộ y tế và những bệnh nhân trong phòng như thế rồi anh chạy
ngay ra ngoài phố. Không biết sao mới chín giờ tối giữa mùa hè mà các hàng quán
đã tắt đèn hết cả. Hằng đứng nhìn mãi mới thấy phía xa trên phố còn hơi sáng
ánh đèn, anh liền lao đến xem sao thì vừa lúc bà chủ quán đang dọn hàng. Chỉ thấy
anh hối hả hỏi mua hương thì bà chủ đã hỏi:
-
Bác chắc có người nhà mới mất?
-
Vâng đấy là mẹ cháu!
-
Thôi được tôi bán rẻ cho anh năm thẻ hương một đồng. Còn nến thì nhà lại mới hết
lúc chiều, bác hỏi các hàng khác xem sao.
-
Các hàng họ đều nghỉ hết cả rồi cụ ạ.
Hằng
trả tiền cho bà chủ quán xong lại vội vã chạy về viện, về đến phòng thì các bệnh
nhân bảo bệnh viện mới đưa cụ đi rồi, thế là anh lại hộc tốc chạy xuống khu nhà
xác. Tìm vào đến nơi thì nhân viên của bệnh viện đã đưa mẹ anh vào bệ đặt thi
hài và đậy lồng úp bằng lưới sắt lên trên. Hằng đang loay hoay bật lửa thắp
hương thì anh cán bộ y tế hỏi:
-
Sao không đèn nến lên cho sáng?
-
Hàng họ nghỉ cả anh ạ, nhà hàng bán hương thì lại hết nến.
Người
cán bộ y tế không nói gì thêm, quay mình, lặng lẽ đi về phía bệnh viện. Lát sau
anh mang xuống cho Hằng một cái đèn dầu hoả. Vừa đưa cái đèn cho Hằng anh vừa dặn:
-
Khi nào không dùng nữa thì gửi về phòng trực cho tôi là được.
Còn
lại có một mình trên mảnh sân hoang vắng của khu nhà xác Hằng càng đau đớn.
Không bàng hoàng đau đớn sao được bởi chỉ mới vài tiếng đồng hồ mà mẹ anh đã ra
đi như thế. Mới chỉ sớm nay thôi bà cụ vẫn cười nói vỗ về với mấy đứa con của
anh. Mới chỉ mấy ngày hôm nay thôi bà cụ phấn khởi cùng con cháu gom nhặt đồ đạc
tíu tít lên xe chuyển ra khu nhà mới, thế mà nửa giờ vừa đây thôi mẹ anh đã
thành người thiên cổ mất rồi. Càng suy nghĩ anh càng đau đớn, nước mắt anh từng
đợt, từng đợt nối nhau. Anh khóc, khóc trong im lặng một mình, khóc không cần
phải nín nhịn, không cần phải e ngại vì người trên kẻ dưới. Anh bàng hoàng trước
mọi sự đến quá nhanh, quá đột ngột, không sao hiểu nổi. Trong đầu anh giờ đây
chỉ ong ong một điều: “Thế là từ nay mình sẽ không còn mẹ nữa”.
Đêm
càng vắng khi trời về khuya. Hằng không biết trong ngôi nhà tối om kia có còn
ai nữa không ngoài mẹ anh đang nằm đó trong chiếc lồng sắt sơn đen. Nền bê tông
giá lạnh bởi âm khí, bởi sự hoang vắng càng thê lương và buồn bã. Ngọn đèn dầu
bé tý chỉ tạo ra được một quầng sáng nhỏ chưa đầy một mét vuông quanh nó. Chẳng
có ai ngoài Hằng và những nén hương đỏ cháy nối nhau là biểu hiện của sự sống
nơi khu nhà xác. Những hình ảnh cũ về mẹ nhân đó cứ hiện ra trong đầu Hằng. Một
câu nói, một cử chỉ của mẹ từ những ngày bé nhất cho đến những giờ phút mới đây
thôi cũng làm anh xúc động, làm anh rơi nước mắt. Đã lâu lắm rồi anh không
khóc. Không khóc không phải vì anh đã quên khóc hoặc giả không có nước mắt để
mà khóc. Tuy nhiên đó là nói cái bề ngoài không khóc có thể lừa được người đời,
chứ còn bên trong thì không biết đã bao lần anh khóc. Cái sự khóc không thành
tiếng, cái sự khóc không ra nước mắt ấy càng làm anh đau đớn hơn nhiều.
Đang
còn đau đớn vì những hình ảnh về mẹ trong tưởng tượng thì anh buộc lòng phải trấn
tĩnh lại, bởi hơi xa phía ngoài đã có đôi ba tiếng nói, tiếng hỏi khá quen thuộc
của anh Tham và số anh em bạn trong tổ văn phòng đang đến. Sau những câu chào hỏi
chia buồn ngắn gọn là cuộc bàn bạc cho công việc tang lễ ngày mai. Có lẽ tất cả
đều còn rất trẻ nên anh Tham và mọi người đều rất lúng túng không biết nên làm
thế nào. Cuối cùng thì Hằng đành phải lập kế hoạch tang lễ rồi ghi ra giấy cho
anh Tham mang về tổ chức đơn vị lo giúp hộ.
Đúng
12 giờ trưa ngày 8 tháng 5 năm 1985 cụ Phạm Thị Sâm được nhập quan tại nhà tang
lễ của bệnh viện Chí Linh rồi được chở bằng xe ô tô về khu tập thể Đềpô làm lễ
viếng. Ba giờ sau đó linh cữu được chuyển bằng xe ô tô ra nghĩa trang Cầu Gỗ để
an táng trong nỗi đau buồn của gia đình và những người cán bộ, công nhân trong
nhà máy. Chỉ có năm vành khăn trắng của vợ chồng Hằng và ba đứa trẻ con anh
trên chuyến xe đưa tang hôm đó. May sao khi xe ra đến nghĩa trang thì anh cả và
các chị gái mới đến kịp. Mọi người nhặt những nắm đất nhỏ thả xuống quan tài
màu đỏ trong nước mắt lưng tròng trước khi anh em trong đơn vị hắt những xẻng đất
to lấp đầy lỗ huyệt.
Gần
một tuần sau công việc tang chế mới tạm ổn định. Nhưng trong nhà Hằng mọi người
vẫn thảng thốt vì nỗi đau mất mát quá lớn không ngờ tới. Cứ mỗi lần nhìn thấy
bát cơm quả trứng hoặc thức ăn thường bữa dâng lên ban thờ cúng mẹ Hằng lại như
đứt từng khúc ruột. Những hình ảnh mấy chục năm trước lại hiện về như những thước
phim chạy trong đầu anh.
SỰ
CỐ
1
Công
việc sửa chữa mấy tuần nay hình như có tăng lên bởi nhiều thiết bị đã quá kỳ bảo
dưỡng mà vẫn chưa được tu sửa định kỳ. Những người về nhà máy hầu như chưa ai
có trong đầu mình về một kế hoạch quản lý thiết bị mà chủ yếu vẫn nặng về chỉ
đâu đánh đó của chuyên gia. Nếu không thế thì cũng lại dựa vào nhu cầu do mấy
ngài ở cấp nhà nước ban ra để mà ỉ lại. Trong thời này vẫn đề hoàn thành kế hoạch
của trên là sinh mệnh chính trị từ mỗi cá nhân đến các tập thể cho dù là to hay
bé. Bất kỳ ở đâu người ta cũng đặt câu hoàn thành nhiệm vụ chính trị lên đầu,
còn hoàn thành nhiệm vụ chính trị là những gì thì chẳng khi nao chỉ ra cho hết
được. Chính vì vậy mà cho dù là một việc nhỏ như ăn trộm vài miếng gỗ thùng
hàng cũng bị coi là một tội nặng, cho dù nếu không ai lấy đi thì cứ để ở trên
bãi kho đến mục nát ra. Chả nói đâu xa lạ, mà chính là đơn vị của Hằng cũng đã
phải va chạm đến mức suýt nữa đánh nhau tập thể với mấy người bảo vệ đóng ở bến
phà khi có một công nhân trong đơn vị cầm theo vài miếng ván hòm đi qua đó. Họ
hạch sách rằng lấy ở đâu rồi thì đòi bắt bớ lung tung cả, anh Tham đang cùng mấy
anh em bộ đội phục viên liên hoan ngày 22 tháng 12 ở trong trụ sở nghe được thấy
ngứa máu xông ra giải quyết không xong thế là lời qua tiếng lại, nóng mặt xông
lên quyết một phen đòi “chân lý”. Lúc ấy Hằng đã về tận Văn An rồi nên chẳng biết
gì cả, sáng hôm sau nghe kể lại thấy thật buồn cười.
Cuộc
họp buổi chiều còn chưa được bất đầu thì từ trạm tuần hoàn có tin dữ báo lên. Số
là mấy ngày nay bơm tuần hoàn 2 đang có hiện tượng dở chứng mà cả Tây và ta
chưa ai hiểu nổi tại cái gì. Đâu là đầu máy, đâu là chân máy chỗ nào cũng như
muốn xê đi dịch lại cho đến cái chỗ nó thích đứng mà chả có cách nào ngăn chặn
được. Huống chi nó lại không đến mức chết thẳng cẳng ngay trong khi vấn đề chạy
nó trong dây chuyền vẫn là việc chấp hành mệnh lệnh không chỉ thuần tuý về kỹ
thuật, kinh tế mà còn phải chấp hành mệnh lệnh về chính trị. Việc chạy hay dừng
có khi còn phải có lệnh của chính phủ chứ chẳng chơi đâu. Hằng vừa
truyền đạt mệnh lệnh của phân xưởng cho trưởng kíp cố gắng duy trì đến mức tối
đa thì chuyên gia cơ nhiệt và trưởng phòng kỹ thuật cũng đã từ cầu thang tuột
xuống.
Hằng
đang chăm chú nhìn vành chặn ống hút đang lắc đi lặc lại trên nền xi măng tầng
âm vừa phán đoán: giờ này chắc bộ gối trục cao su đã bay mất rồi nên chẳng có
cái gì có thể giữ nổi cái trục dài hơn sáu mét kia nữa. Nếu cứ chạy thì rồi có
thể cả cái thân bơm kia cũng bật tung ra mất và sau vài phút cả tầng âm này đầy
oặp nước. Hình như tất cả mọi người có trách nhiệm trong ca vận hành có mặt tại
đây đều đã nghĩ như vậy. Tiếng quẹt ồn ã của sự va chạm giữa các mảng kim khí
và những cuộc điện thoại ngắn giữa trưởng phòng kỹ thuật với trưởng ca càng làm
cho không khí nơi đây căng thẳng tột độ. Khi trực ban ấn nút sự cố dừng bơm tất
cả mọi người mới cảm thấy như cởi bỏ được cái gánh nặng đè nén bấy lâu nay. Những
bước chân mệt mỏi nối nhau đặt lên từng tấm thép sần hoa thị của cầu thang lên
xuống thưa dần, có lẽ mọi người đã về hết khu hành chính. Mọi việc bây giờ đã
được chuyển qua cấp cao hơn, Hằng cũng như mọi người chỉ còn biết chờ đợi và chờ
đợi.
Gần
hai ngày qua từ trên khu nhà hành chính đã bắt đầu bàn đến việc sửa
chữa cái bơm nước hỏng nhưng vẫn chưa có một giải pháp nào khả dĩ được chấp nhận,
cuối cùng thì cũng chỉ còn cách đóng phai bơm cạn nước xem nó hỏng ra sao. Việc
này thì chắc là thầy trò Hằng phải thực hiện rồi chứ chẳng có ai thay cho được.
Họ ăn lương để làm việc đó thì tất yếu phải làm việc đó thôi. Ai đó chỉ đơn giản
nói rằng đóng phai bơm cạn nước nhưng họ có hiểu đóng cho kín được nào có dễ
gì. Những khối bùn cao ba bốn mét dốc từ mương hút vào, những thỏi kim loại rơi
rớt từ khi lắp ráp xong không được thu dọn do tắc trách, do vội vã về tiến độ
đang nằm ngổn ngang dưới đó ngăn không cho tấm phai chạm đáy nền cửa hút, nên
bơm hoài mà nước đâu có rút. Nào là dùng sào, dùng móc cào đi quét lại mà vẫn
chẳng có tác dụng gì. Cũng đã có mấy chàng trai quê vùng sông nước muốn thử sức
lặn xuống để tìm hiểu xem sao nhưng Hằng chưa dám quyết. Anh thực sự băn khoăn
vì mức bùn choán ngay cửa phai quá dày, nếu rơi vào đó thì có khác gì bị tụt
chân xuống đầm lầy. Chỉ riêng cái độ sâu gần tám mét nước ép vào màng tai cũng
đã chảy máu ra không chừng, nói gì đến chuyện vét bùn nhặt các vật cản.
Cuộc
họp mở rộng của nhà máy với các đơn vị sửa chữa gần như im lặng hoàn toàn do bế
tắc của việc khắc phục sự cố từ mấy ngày nay. Những cán bộ phân xưởng sửa chữa
cơ nhiệt luôn kêu rằng mình không quen với loại thiết bị này, còn khối sửa chữa
của Hằng thì lại chỉ sửa chữa nhỏ không có chức năng với công việc hiện tại. Cuộc
họp chắc sẽ còn im lặng nếu như ông Thăng giám đốc công ty không sốt ruột nhắc
mọi người tiếp tục ý kiến. Nhắc thì nhắc thế nhưng hình như mọi người đều muốn
tránh né, không muốn đưa đầu ra chịu báng.
Cuối
cùng thì ông giám đốc công ty đành phải quay lại với đơn vị chủ quản:
-
Về phía chủ quản...thế nào?...Đồng chí quản đốc Thuỷ lực có ý kiến một tý chứ
nhỉ?
-
Báo cáo thủ trưởng, chủ quản chủ yếu là vận hành còn sửa chữa chỉ vừa để phục vụ
trong ca thôi ạ!
-
Nhưng về chuyên môn thì chắc là phải có kinh nghiệm phải không nào!
-
Cái này... có lẽ để đồng chí đốc công...!
Ông
Thăng quay người sang bên trái nhìn thẳng vào Hằng, ông nheo mắt thăm dò một
lúc rồi mới động viên:
-
Việc này có lẽ đồng chí đốc công của Thuỷ lực giải quyết là hợp lý hơn cả. Quen
thiết bị, biết nguyên nhân, chắc hẳn là hơn người ngoài rồi.
Hình
như ông chẳng định cho Hằng có ý kiến nên ông dừng lại giây lát lại tiếp tục
nói:
-
Về người và cơ sở vật chất thì nhà máy phải lo đầy đủ; thiếu đâu bổ sung đó tiến
hành càng nhanh càng tốt. Trước lúc tôi xuống đây Thủ tướng cũng đã có ý nhắc
nhở phải sớm khắc phục đảm bảo cung cấp điện đầy đủ cho sản xuất...
Sau
một hồi hối hả với những lời huấn thị trang trọng như đang phát biểu trên bục hội
nghị ông Thăng tiếp tục nhìn thẳng vào Hằng như đã từng quen biết lâu lắm, rồi
ông chợt hạ giọng xuống một cách nhẹ nhàng và nói tiếp:
-
Thế nào...? Em cố gắng khắc phục sự cố giúp nhà máy trong lúc khó khăn này
nhé?...
Thực
ra thì Hằng cũng rất phân vân vì suốt trong thời gian lắp rắp thiết bị anh luôn
bận tổ chức lớp học sau đó lại đi Liên Xô nên anh cũng chẳng biết gì hơn mọi
người. Chỉ có điều là anh đã trải qua nhiều lần sửa chữa tốt các loại thiết bị
mới chỉ gặp lần đầu nên có đôi chút tự tin. Có điều anh bất ngờ cảm động vì cái
sự ân cần của một ông cán bộ cấp cao đối với công việc và cả đối với cá nhân
anh làm cho anh phân vân không biết có nên từ chối hay không.
Về
lý thì trách nhiệm khắc phục sự cố lớn như thế này không thuộc về anh, nên anh
hoàn toàn có quyền từ chối. Có điều là anh chưa thấy một ông cán bộ cấp cao nào
lại giao nhiệm vụ cho người bên dưới với cách nói của một người anh nói với một
thằng em trong nhà vậy. Thế mà giờ đây anh lại thẳng thừng từ chối
thì không biết không khí cuộc họp sẽ bẽ bàng ra sao. Hằng còn đang chần chừ
chưa kịp nói gì thì ông Thăng đã nhắc lại:
-
Thế nào nhỉ? Nếu có khó khăn hay đề xuất điều gì em cứ nói để mọi người cùng giải
quyết!
Trong
lúc ông Thăng nói Hằng đánh mắt sang phía anh Tham quản đốc thăm dò ý kiến xem
sao nhưng Hằng thấy anh Tham cũng không có ý can ngăn nên anh quyết định nhận
nhiệm vụ.
-
Báo cáo với giám đốc...công việc này quả là quá sức với đơn vị chủ quản ạ!
-
Không sao, chỉ cần các cậu đứng ra chủ trì chính là được, thiếu đâu bổ sung đó.
Mọi cái giám đốc nhà máy sẽ lo cùng các cậu, thế là được chứ gì?
Hằng
vừa khẽ cười vừa nói như dỗi:
-
Dạ! Thủ trưởng đã ra lệnh thì “chiến sỹ” đành phải chấp hành vậy thôi ạ.
-
Này, các cậu phải hết mình chứ không được miễn cưỡng đâu đấy nhé!
2
Cuộc
họp kết thúc được một lúc thì ông Thăng cũng về Hà Nội, những băn khoăn, lo lắng
của cả nhà máy lại đổ dồn về cái trạm bơm tuần hoàn nhỏ bé ở phía bờ sông Thái
Bình. Những cán bộ kỹ thuật trên nhà máy xuống, vài chuyên gia Liên Xô cũng cắt
lượt nhau qua lại quan sát và ghi chép vào những cuốn sổ nhỏ tý tẹo móc từ túi
áo ra. Hằng không còn để mắt được đến xung quanh nữa, phần thì nhà máy yêu cầu
thống kê số nhân lực và các loại vật tư dụng cụ cần thiết để cấp bổ sung, phần
thì các tổ sửa chữa đều đang chờ anh giao nhiệm vụ cho họ. Sau khi cân nhắc
trong đầu về các số liệu kỹ thuật của tổ bơm số bốn, anh thấy có thể lắp trả lại
tổ bơm số bốn mà khối sửa chữa của anh vừa mới tách ra bảo dưỡng định kỳ để tập
trung cho việc khắc phục sự cố bơm số hai trước vậy. Vừa lúc đó anh
Tham quản đốc cũng mới từ trên nhà máy về đến, Hằng liền trao đổi với anh về kế
hoạch anh mới nghĩ ra. Anh Tham chỉ thạo về máy hơi nước là chính nên anh càng
lo lắng:
- Cái
này tôi cũng không nắm được các thông số cụ thể, không biết để thế lắp lại có
sao không?
-
Thực ra tôi cũng chỉ tham gia sửa chữa thuỷ điện ít lâu nên cũng chả hơn gì anh
đâu. Tuy nhiên với thuỷ điện thì kỹ thuật lắp ráp hết sức kỹ lưỡng, giữa hai kỳ
đại tu chỉ mở ra kiểm tra thông số, nếu còn ở trong định mức thì chỉ thay gối
trục cao su là xong.
-
Thế thì, có lẽ anh cho tôi thông số bơm bốn để báo cáo nhà máy xem sao.
-
Nhà máy chắc cũng chỉ dựa vào chúng ta mà thôi anh ạ. Chỉ cần anh quyết thì chắc
là nhà máy cũng tán thành thôi.
-
Nhưng... các thông số của nó có còn đảm bảo không hả anh?
-
Vẫn trong tiêu chuẩn anh ạ!
Cuối
cùng thì cả chuyên gia và nhà máy đều tán thành cho tạm dừng việc tiểu tu bơm bốn,
phục hồi chế độ dự phòng để tập trung cho khắc phục sự cố bơm hai.
Cũng
may mắn cho mọi người là trung tâm của tổ bơm khi dừng cũng không thay đổi nhiều
lắm. Người ta không thể ngờ rằng cả sáu cánh quạt của bơm tuần hoàn hai đều đã
mòn vẹt nhiều đến như vậy. Chỗ mòn ít nhất trên bề mặt cung tròn đầu cánh cũng
đến gần hai phân, chỗ mòn nhiều lên đến gần bẩy phân chứ chẳng ít đâu. Có điều
độ mòn của các cánh nếu triển khai ra thì thấy phần kim loại mất đi có hình tam
giác, chính từ việc nhận ra điều đó Hằng đã đề xuất phương hướng gia công các
miếng kim loại theo hình tam giác đo được sau đó đem nung nóng trong lò rèn để
uốn cong theo bề mặt cung tròn. Cũng đã có nhiều người tán thành phương pháp do
Hằng đề xuất, tuy nhiên các chuyên gia Liên Xô lại cho rằng chỉ cần cắt những
miếng kim loại mỏng hàn vào đầu cánh là được. Tất nhiên là Hằng cũng đã lưu ý với
những người bạn nước ngoài về sự mất cân bằng của cánh, nhưng các bạn cho rằng
máy vẫn chạy được trong một thời gian, đủ để củng cố các bơm còn lại rồi sẽ
thay cánh quạt mới.
Đúng
như dự đoán của Hằng, bơm vừa mới khởi động đã rung động khá mạnh, thôi thì
cũng đành phải chấp nhận như vậy mà thôi. Bởi điều quan trọng lúc này là có thiết
bị sản xuất đáp ứng nhu cầu về điện của cả nước. Có lẽ cũng phải gần một tháng
sau các bơm ba và bốn mới tiểu tu xong. Hằng gầy rộc đi vì luôn mất ngủ do phải
thông ca chỉ huy các tổ sản xuất. Quan trọng như việc căn chỉnh anh phải vào cuộc
đã đành, đến việc cắt một cái gioăng đệm Hằng cũng phải làm để hướng dẫn. Ngay
cả việc sử dụng cầu trục để nâng hạ, di chuyển thiết bị anh cũng phải nhúng tay
vào. Số anh em mới hình như họ chỉ học trông coi máy mà không biết gì nhiều về
sửa chữa, nên cứ giao việc gì thì đều phải có hướng dẫn. Đơn vị cũng đã chia ra
ba nhóm làm việc thay ca nhau nhưng người chỉ đạo thì chỉ có một Hằng nên anh
nào có được nghỉ. Chỉ khi nào việc tháo rời thiết bị, nghĩa là chỉ cần lấy sức
để mở các bu lông ra và bắn bẩy di chuyển cùng với vệ sinh là anh không phải
nhúng tay vào. Những lúc ấy anh mới tranh thủ leo lên tầng trên để nguyên cả quần
áo bẩn và chân tay không rửa để ngả mình trên nền bê tông xám ngắt, thiếp đi
trong tiếng máy chạy ù ù ở ngay bên cạnh. Cũng may trong thời gian này anh ít ốm
đau, chứ không thì không biết thế nào mà nói.
Suốt
từ nãy giờ mấy đồng chí lãnh đạo vẫn dục giã mà anh cũng vẫn chưa chịu rời công
việc, anh muốn căn dặn cách làm kỹ lưỡng hơn một chút cho mấy cậu đang tháo
bánh xe công tác. Đã bước chân lên cầu thang rồi anh còn ngoái lại căn dặn về
an toàn khi đưa bánh xe công tác ra ngoài. Mãi đến khi nhóm tháo gỡ
buồng bánh xe công tác đã bắt đầu loay hoay mở bu lông mặt máy anh mới tranh thủ
ghé vào bên cạnh máy bơm số ba để ngủ lấy lại sức. Không biết trong tháng qua Hằng
đã thông ca mấy bận mà người anh gầy rộc hẳn đi. Đấy là do mấy cô phụ nữ trên
văn phòng bảo chứ còn anh thì biết thế nào được. Mỗi lần có người than phiền vậy
anh cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện rồi lại vội vàng đi xuống dưới trạm để lo công
việc.
Tiếng
máy đều đều và hơi ấm của nó toả ra từ mấy cái lỗ thông gió trên thành động cơ
làm anh ngủ say mê mệt đến gần 2 tiếng đồng hồ mới dậy. Anh cứ ngỡ bánh công
tác đã được tháo ra rồi, nào ngờ xuống đến nơi bánh xe vẫn nguyên vị trong khi
mấy cậu trai trẻ thì đã đầm đìa mồ hôi trên áo. Hình như có cả anh Tham cũng
đang bì bõm bên cạnh mấy thanh ray đường sắt kê trên miệng cửa hút, chắc là để
đỡ bánh xe công tác khi hạ xuống đây.
Vừa
thấy Hằng đến gần anh Tham đã cởi mở:
-
Cái món này gay quá ông ạ! Vừa rồi trượt ray tý nữa thì tụt xuống tầng âm mất,
làm tớ hoảng quá.
-
Không tụt xuống được đâu anh ạ! Vì nó to hơn lỗ cửa hút một tý. Cái đáng lo nhất
là nó xoay nghiêng rồi nằm mắc ngẵng ở đó anh ạ!
Vừa
nghe có tiếng của Hằng thì cả nhóm công tác cũng bỏ cả xà beng đòn kê tại đó ra
đứng bên cạnh anh. Hằng định quát mấy cậu sao không ra làm tiếp nhưng rồi lại
thôi. Cái chính là anh hơi khó chịu vì chiều nay đã hẹn xe và cẩu để chuyển
bánh xe cũ về kho và đổi lấy cái mới, thế mà suốt 2 giờ vừa rồi vẫn chửa đâu
vào với đâu, làm sao không bực.
Biết
anh không vừa ý vì công việc không chạy, cậu Tòng nhóm trưởng đành phân bua:
-
Chúng em đánh vật với nó suốt từ lúc anh đi vắng đến giờ đây! Mấy lần định gọi
anh nhưng thấy anh nằm im quá lại thôi.
-
Thế tớ bảo các cậu thế nào?
-
Dạ! Bu lông dài có cả rồi đấy ạ!
-
Thế còn sàn kê?
-
Thì anh Tham bảo nó nặng hơn 2 tấn nên phải kê bằng ray tầu hoả rồi mới kê tôn
lên.
-
Thế sao không tháo ra đi.
Nhìn
thấy sự ngao ngán của cánh thợ, anh chắc các cậu này cũng đã cố gắng vật lộn với
nó đây, ngặt vì không xong nên giờ đây có ý như chờ đợi xem ông anh cả này có
cách gì hơn không. Biết làm thế nào được khi mà họ chưa động đến những công việc
như thế bao giờ. Phần thì sợ hỏng thiết bị, phần thì lo tai nạn nên càng bế tắc.
Hình
như Hằng vẫn chưa thông cảm được với cánh thợ tháo bánh công tác nên cậu vẫn
lên giọng cáu bẳn:
-
Đã không tháo được thì dọn hết đi chứ để lại làm gì cả đống sắt thép ở đó cho
vướng.
Những
thanh ray cỡ lớn lần lượt được tháo gỡ và dời đi nơi khác, sàn trạm quang quẻ
hơn, Hằng mới tạm thời lắng dịu trở lại.
-
Cậu nào lên lấy máy hàn xuống đây.
-
Mang cả máy xuống chứ ạ?
-
Cái cậu này...! Mang gì miễn hàn cắt được thì thôi, có thế mà cũng phải hỏi.
Hằng
đón giây hàn và mặt nạ từ tay Tùng kéo lệt xệt trên sàn bê tông đến bên tấm tôn
thép 10 ly dựa trên tường trạm. Những tia lửa sáng loé lên và rất nhiều các cục
lửa rơi xuống sàn nhà. Chả mấy chốc tấm tôn đã được cắt làm hai nửa, anh kêu nhóm
công tác chuyển xuống luồn theo mặt sàn trạm bơm đậy kín miệng cửa hút lại. Những
thao tác cuối cùng là việc nới dần hai ê cu M42 trên cặp gujông cuối cùng treo
bánh xe công tác để hạ chúng xuống tấm sắt đã nằm chờ sẵn. Chiếc palăng 1 tấn
móc vào sàn bê tông đối diện liên tục kêu lách cách co ngắn sợi xích sắt để lôi
cả tấm sắt và bánh xe công tác ra ngoài.
Khi
bánh xe công tác đã được kéo ra ngoài thì tất cả mọi người đều thở phào nhẹ
nhõm. Một vài anh em khác cũng đang bàn tán xì xầm tán thưởng cách làm của Hằng
vừa thực hiện. Chợt có một cậu nào đó có lẽ là nhân viên trong kíp vận hành từ
tầng trên nói vọng xuống:
-
Nếu ngay từ lúc đầu làm như anh ấy nói có lẽ chỉ cần một người thực hiện cũng
chẳng vất vả gì.
Hằng
ngước nhìn lên xem ai nói, anh chợt bắt gặp ánh mắt lúng túng của những người
thợ trẻ, anh hiểu rằng họ đang tự trách mình vì đã không làm theo lời anh dặn.
3
Cũng
mất gần hai ngày nữa thì mới đưa được trục và bánh xe công tác mới vào vị trí.
Nhưng tiếng hò dô mệt mỏi cứ lâu lâu lại được cất lên trong mỗi lần quay trục để
đo đạc lấy thông số chẳng làm ai vui được cả bởi đã hơn hai tuần rồi tất cả mọi
người đều chưa được nghỉ. Có lẽ đến chín mươi phần trăm các công nhân trong đơn
vị đều có một gia đình ở đâu đó trên các xóm quê với ruộng đồng cầy cấy. Hầu hết
những chàng trai đang làm việc tại đây cũng chính là ông chủ của rất nhiều các
gia đình. Họ vẫn tranh thủ nghỉ chủ nhật, nghỉ bù, nghỉ phép để về đỡ vợ con
trong những ngày mùa vụ. Ngoài ra còn bao nhiêu công việc khác có tên và không
tên nữa không ai có thể thay được cho họ, khi họ về với gia đình làng xóm. Hằng
chưa hiểu được nhiều về họ nhưng anh biết các chàng trai trẻ dưới quyền anh nhiều
lần lúng túng khi không hoàn thành công việc được giao kia lại là những vị trưởng
họ uy quyền khi về với gia đình giòng họ. Đâu là giỗ chạp, ma chay, cưới xin và
cả những phân giải các thắc mắc của các thành viên trong họ đều do họ giải quyết,
mỗi lời của họ có khối người từ già đến trẻ phải theo.
Hằng
mong sao điều chỉnh nhanh chóng hơn để cho họ sớm được nghỉ ngơi mà về lo việc
nhà một chút, nhưng hình như ông trời không muốn thế bởi các thông số cứ gần đạt
lại chuội xa hơn trong lần điều chỉnh tiếp theo. Vừa nghĩ ngợi lan man Hằng vừa
ghi lại những con số mà nhóm điều chỉnh mang đến cho anh. Anh đứng dậy xem xét
thêm lần cuối các vị trí xem có chỗ nào còn vưỡng víu hay không, những anh chẳng
phát hiện ra sự cố nào cả. Vừa thò đầu ra khỏi chân giá động cơ anh đã thấy Hải
đứng chờ ở đó vừa cười vừa hỏi:
-
Thông số vừa rồi có tốt không anh?
-
Tôi cũng chưa xem kỹ, nhưng có vẻ đồng đều hơn mấy lần trước anh ạ.
Suốt
thời gian vừa qua Hải đã theo với đội công tác của Hằng bền bỉ như một nhân
viên của anh vậy. Mặc dù anh là phó phòng kỹ thuật được giao nhiệm vụ giám sát
công việc nhưng hầu như anh chẳng ra mặt lên giọng lãnh đạo bao giờ. Đã hơn ba
mươi năm cách mạng rồi nhưng hệ thống đào tạo của nhà nước vẫn chưa thật hoàn hảo.
Chế độ dạy chay, học chay dẫn đến nhiều kỹ thuật, kỹ sư ra trường rồi vẫn phải
đi học một chút kinh nghiệm từ mấy cụ thợ già. Cho dù có thông minh, có hiểu biết
đấy nhưng trong ngành này đâu chỉ thuần tuý có một chuyên ngành mà họ được học.
Cứ như đơn vị của Hàng đã có không biết bao nhiêu là ngành nghề rồi nói gì đến
cả nhà máy điện hiện đại vào bậc nhất vùng Đông Nam Á này nữa. Chính vì vậy mà
có được một người thợ từng trải, kinh qua nhiều công việc, kinh nghiệm đầy mình
như thế sao không đáng nể, vì cái mà ta cần làm chỉ có họ mới giúp ta làm xong
được. Chẳng ai xem trọng một ông kỹ sư bằng cấp chói sáng trong khi giao cho
ông ta việc gì cũng không hoàn thành được. Hiểu biết và thông cảm là việc của Hằng,
nhưng ai hiểu Hằng là người có hiểu biết và có thông cảm hay không. Vừa nghĩ đến
đây Hằng chợt nhớ lại lần đầu gặp Hải xuống phối hợp sửa chữa phần điện khi anh
còn là phó quản đốc phân xưởng điện. Anh vừa từ phòng đốc công xuống đến sân trạm
thì thấy hình như có ai đó đang từ phía sau tiến lại, anh giật mình vì tiếng
chào khá to:
-
Chào thủ trưởng!
-
Hải đấy à! Chú cứ làm anh giật mình, các cậu chả thủ thì thôi chứ tớ thì thủ với
đầu cái gì.
-
Với em thì anh cứ là thủ trưởng mãi mãi.
Hằng
biết Hải nói cho vui thôi chứ cũng không có ác ý gì nên anh cũng chỉ cười xoà.
-
Thế bao giờ thủ trưởng xong phần máy để em làm phần điện.
-
Có lẽ là mai các chú xuống thì mới làm được.
-
Nhất trí với anh thế nhé.
-
Rồi...Rồi...
Ngay
hôm ông Thăng giao nhiệm vụ sửa chữa cho Hàng thì Hải cũng được lệnh xuống giám
sát. Cũng vẫn thân thiện như mọi khi anh nói:
- Em
được giao nhiệm vụ xuống giám sát công việc để báo cáo tiến độ hàng ngày về
phòng. Nhưng em cũng nói thật, cái thứ máy móc của anh là em chưa biết gì nhiều
nên anh phải giúp em hoàn thành nhiệm vụ đấy nhé.
-
Cụ thể là gì nào?
-
Cứ khi nào căn chỉnh thì cho em biết để em đến cùng làm và lấy số liệu để về
báo cáo là được anh ạ.
-
Hơi lâu đấy!
-
Không sao, em theo được.
Vừa
nhớ lại những hình ảnh cũ vừa nhìn vào mặt Hải anh nhận ra mấy hôm nay thôi
nhưng hình như cậu ấy gầy đi khá nhanh. Gầy cũng là phải thôi vì ăn uống thất
thường, rồi thì cũng nằm sàn đất ngủ như cánh lao động trực tiếp thì sao không
sút cân cho được.
-
Chú gầy đi nhiều đấy, cứ chiều đến xuống với cánh tớ là được, còn nếu nửa ngày
mà xong thì thế nào tớ cũng báo cho chú trước.
-
Em theo được mà!
-
Tớ định cho các cậu ấy nghỉ luân phiên một vài buổi vì xem ra nếu kéo thêm thì
họ ốm hết.
-
Em không dám can thiệp vào công việc của các anh, nhưng xem ra họ cũng mệt mỏi
thật rồi anh ạ.
Hằng
cũng không nói gì thêm nữa, anh cúi xuống với tờ giấy trên tay, xa hơn một chút
ở giữa sân trạm tốp công nhân quần áo đầy bùn đất dở nằm, dở ngồi đang hướng về
phía anh chờ đợi. Có lẽ đây cũng là con số tốt nhất từ hôm bước vào điều chỉnh
nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu. Gấp tờ giấy lại bỏ vào túi rồi tiến đến chỗ anh em
công nhân ngồi đợi. Hầu như tất cả đều im lặng chờ nghe anh đọc kết quả.
-
Biết là các cậu mệt quá rồi nhưng nếu cố một lần nữa thì rất có thể được, thế
nào anh em mình cố một chút nữa nhé.
Không
biết do anh nói nhẹ nhàng thân thiện hay trên mặt anh có biểu lộ lạc quan hay
sao mà tất cả đều nhanh chóng đứng dậy xuống trạm bám vào tay quay chờ đợi. Hằng
lấy lại chiếc búa cái tám cân từ tay của Sinh chui vào sàn công tác. Anh kẹp chặt
cờ lê 42 vào mũ ốc rồi quai búa gõ mạnh vào cán cờ lê. Những tiếng gõ đơn độc
chói tai phát ra không làm cho ai vui được bởi từ mấy ngày nay cũng đã gõ mãi
mà có xong đâu. Con số hầu như không chuyển được mà có phần lại lớn hơn lên làm
cho mọi người đều ngao ngán. Hằng buộc lòng phải để cho anh em nghỉ để làm đợt
khác vậy.
-
Ngày mai.... cho mấy cậu Yên Dũng nghỉ một ngày, số anh em vợ con ở cơ quan cố
gắng thêm giờ buổi nữa nhé.
-
Sao chỉ Yên Dũng được nghỉ? Chúng em cũng đã liên tục mấy tuần rồi ...
-
Nghỉ gì đâu, chẳng qua là cho các cậu ấy về đi cày cho vợ một buổi mà thôi.
Chưa chừng, mai các cậu lại lập công ấy chứ.
-
Thế mai ít người thế làm sao quay được ạ.
-
Mai tớ nhờ mấy cậu ngày H giúp thêm. Thôi thông cảm cho mấy chú ấy một chút, vợ
con nông thôn lam lũ vất vả lắm. Cánh mình lúc nào cũng ở gần cố một tý nhé...
Đêm
như chưa bao giờ dài đến thế! Quay đo, lặp lại quay đo! Những tiếng dô ta khản
đặc, những tiếng búa gõ vào thép chát chúa chợt lúc vang lên trong tiếng à à...
của tổ bơm số 3 cạnh đó. Những con mắt đỏ lên vì thiếu ngủ nhiều khi không tự
chủ được cứ muốn sụp xuống một vài giây...
Có
lẽ đã hơn tuần rồi chứ có ít gì đâu!
4
Đã
hơn tám giờ mà số anh em làm thêm giờ ca ngày vẫn chưa đến, Hằng một mình vác
búa xuống sàn công tác, cắm đèn soi hết xung quanh rồi lau chùi dầu
mỡ trên cán gỗ. Anh giở tờ giấy hôm qua ra và ngồi ngẫm nghĩ. Có một thông số
không theo quy luật lắm không biết có phải là điểm đo có khuyết tật hay không.
Anh đưa tay sờ đi sờ lại ba bốn lượt vẫn thấy trơn láng bình thường. Anh lắp cờ
lê 42 lần lượt vào hai ốc cùng hướng với chiếc ốc hôm qua đánh chặt thêm một
chút rồi đánh lại tất cả các ốc còn lại. Vừa dừng tay búa anh đã nghe thấy tiếng
ồn của mấy cậu đến làm thêm giờ ca ngày.
-
Sao lại có mình bác vào việc thế?
-
Tớ thấy hơi sốt ruột nên xem lại một vài chỗ làm đêm qua để cho chắc chắn. Các
cậu chuẩn bị để quay nhé.
Tiếng
dô ta lại tiếp tục vang lên từng nhịp ngắn, có lẽ sau một đêm lại sức lại có sự
hỗ trợ của mấy cậu vận hành nên trục quay êm lắm. Máy vừa dừng lại Hằng đã đến
các vị trí để lấy thông số. Anh không tin vào mắt mình nữa khi các thông số sai
lệch hầu như rất nhỏ. Kinh nghiệm cho thấy thì với những thông số như thế này
thì kết quả nhất định sẽ đạt yêu cầu. Hằng đang định nhắc mấy cậu kiểm tra lại
các chi tiết ghép nối thì Biền từ văn phòng chạy xuống hỏi số người đi làm để
báo bồi dưỡng:
-
Hôm nay các bác làm thêm mấy người ấy nhỉ?
-
Thì chú đếm hộ một tý chứ tớ chẳng nhớ đâu.
-
Em cứ tưởng bác điều động nhân lực chứ lại.
-
Thì vẫn... nhưng hôm nay có thêm cánh vận hành nữa.
Còn
đang nháo nhào về con số làm thêm giờ lại thấy cậu Khải ở đâu đó đi
vào:
-
Kết quả thế nào hả anh?
Hằng
ngước lên định nói kết quả tính toán nhưng anh thấy Khải có vẻ sốt ruột thế là
anh làm bộ xịu mặt xuống rồi lắc đầu tỏ vẻ chán chường. Nhìn thấy thái độ của
anh Khải càng buồn bã hơn:
-
Thế mà em cứ tưởng !...
-
Có khi phải mấy đỏ nữa mới ổn chú ạ.
-
Thế thì chết em rồi.
-
Sao thế?
-
Nói thật với bác chứ em ốm suốt từ mấy bữa nay rồi nhưng thấy anh vất vả quá
nên cũng phải cố mà không dám kêu.
-
Này thế cậu có biết cậu Sinh đi đâu không nhỉ?
-
Chết rồi...
-
Bậy nào.
-
Nó lăn kềnh ở sàn động cơ rồi anh ạ! Ngáy cứ như sấm ấy.
-
Này cậu thống lĩnh số ca ngày để lắp ráp thiết bị giúp tớ tý nhé, nhớ là phải
kiểm tra thật kỹ đấy.
Hằng
trao đổi thêm về quân số làm thêm giờ với Biền rồi đi thẳng xuống tầng động cơ.
Chẳng phải một cậu Sinh mà cả mấy cậu trong nhóm làm thêm giờ đêm qua đều đã ngủ
lăn, ngủ lóc trên sàn động cơ. Hằng bỏ mặc số anh em nằm ngủ lặng lẽ đi lên tầng
trên với sự mệt mỏi và buồn ngủ không kém gì họ.
-
Sao anh không gọi chúng nó làm sớm đi để chiều tắm giặt sớm một tý?
-
Thôi để cho chúng nó ngủ thêm một tý nữa mày ạ. Có lẽ cả nhóm của mày cũng kiếm
chỗ nào đó kềnh một tý cho đỡ mệt chờ nhóm ca đêm dậy thì bắt đầu lắp ráp.
-
Thế còn số vận hành, mới quay có mấy đỏ?...
-
Cho họ vệ sinh trạm một chốc rồi về.
-
Thế còn bồi dưỡng ngoài giờ của họ?
-
Để tý nữa tớ bảo Biền cắt tiêu chuẩn chuyển cho họ.
Khải
đi rồi, còn mỗi một mình Hằng lang thang dọc trên sân trạm, anh như ngọn đèn
đêm còn thức, báo rằng ở chỗ này vẫn đang có sự hoạt động...
Hai
giờ sau tất cả quân số đều đã được đánh thức để tiếp tục làm việc. Giấc ngủ ngắn
ngủi đã giúp họ khoẻ trở lại, chạy lên chạy xuống bắt tay vào công việc đang
còn dở dang trước đó. Cho dù chỉ với một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng có lẽ
tuổi trẻ đã giúp nhanh chóng phục hồi phần sức lực tiềm tàng trong mỗi con người
của họ. Hằng chợt nhớ về những năm kháng chiến, khi anh bằng tuổi họ bây giờ,
lòng thầm ao ước được quay trở lại những năm tháng thanh xuân ngày ấy.
LÀM
THẦY
GIÁO
1
Hằng
lật hết mấy chồng sách để tìm cuốn thiết bị thuỷ lực mà vẫn chưa thấy đành ngồi
bệt xuống nền nhà để cố nhớ lại xem mình có cho ai mượn hay không. Những người
có thể mượn sách của Hằng không nhiều vì đa số anh em bậc thấp thì có đọc cũng
không hiểu. Số cán bộ kỹ thuật thì lại chỉ quan tâm đến việc thống kê thiết bị
vận hành, sửa chữa trong kỳ với những tóm tắt về thời gian làm việc, thời gian
dừng sửa chữa để báo cáo là chính. Tất cả những diễn biến khác hầu như họ chẳng
phải chịu trách nhiệm trực tiếp bao giờ. Nếu như có kíp nào gây sự cố thì trưởng
kíp và nhân viên vận hành đã có dư số chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp
trên rồi nên mấy tay kỹ thuật đâu có phải bận tâm gì mà nghiên với chả cứu. Một
lý do khác khiến cho họ càng không cần nghiên cứu đó là họ chẳng bao giờ phải
thi khi nâng bậc. Mà đã không ai hỏi gì về sự hiểu biết của mình thì họ cần gì
phải tự làm mệt họ. Những sự như thế này Hằng đều hiểu cả tuy nhiên anh cũng chẳng
thể làm gì khi cấp trên cũng đã không cần soát xét đến điều đó. Cũng chính vì
thế mà có đến hơn chín chục phần trăm những người làm chức trách về kỹ thuật và
cả các chức trách tối cao về chuyên môn vẫn cứ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, là
Lao động tiên tiến, là Chiến sĩ thi đua trong khi họ chẳng biết gì về những thứ
họ đang lãnh đạo. Chắc có nhiều người cho rằng Hằng võ đoán, những anh chẳng sợ
vì một khi có ai đó chống đối về điều này anh sẵn sàng ứng khẩu mà kể ra hàng
chục công việc, hàng chục công nghệ mà những vị ấy chưa bao giờ được đào tạo,
chưa bao giờ được nhìn thấy, chưa bao giờ được sờ thấy. Cứ nói như ở phân xưởng
Thuỷ lực này mà nói thì mấy ai biết được Điedel nó làm việc ra sao, rồi nữa cái
tầu cuốc nó cuốc thế nào. Đơn giản nhất không ai không hiểu rằng mấy ông thợ điện
thì hiểu gì về cơ khí cùng với những chuẩn những dung sai cùng với những sự lắp
ráp của nó, chưa nói đến khi gia công thay thế biết dùng thứ gì thay thế. Chẳng
thế mà khi người ta thiết kế ống đựng nhiệt kế bằng đồng để lợi dụng sự dẫn
truyền nhiệt lại bị mấy ông cán bộ phòng kỹ thuật đổi thành thép trắng cho
không rỉ, cho đẹp và còn cho gì gì nữa không biết được, đến khi có người nói
cái lý do giản dị kia ra thì họ đành ngậm miệng lẩn nhanh hơn trạch. Còn có bao
việc về cơ khí như gò, rèn, hàn cắt với bao quy trình công nghệ nữa mà những
ông kỹ sư điện không sao am hiểu nổi. Thế còn mấy ông kỹ sư cơ khí thì cũng chả
khá hơn những ông kỹ sư điện kia khi mấy ông ấy đứng trước những bộ phận dây dợ
chằng chịt, đâu là rơle, đâu là công tắc tơ, đâu là mạch lực, đâu là mạch bảo vệ.
Với máy móc về điện họ cũng mù tịt khi cần phải quấn lại mấy cái động cơ, khi cần
phải thay dầu, sấy máy biến thế, khi phải tháo băng đa máy phát...
Hằng
ngồi như thế đã gần mươi lăm phút mà vẫn chưa nghĩ ra anh để vào đâu, bực mình
quá anh liền vứt cả đống sách trên sàn đi xuống sân trạm. Đang ngó vào cửa trạm
xem quân của mình đã ra chưa thì thấy Việt vừa giở sổ nhật ký vận hành vừa dặn
trực ca ghi chép nội dung vận hành vào sổ mới mà Hằng mới thiết kế đặt hàng từ
phòng vật tư mang về. Bất chợt Hằng nhớ hình như có lần Việt mượn cuốn Thiệt bị
thuỷ lực... và hình như cậu ấy mang xuống nhà giả thì phải... thế có nghĩa là
cuốn sách đang ở nhà mình. Nghĩ đến đây anh thấy cũng vẫn còn mơ hồ nhưng anh vẫn
thầm chấp nhận giả thiết này và tự nhủ hãy xếp lại về nhà tìm hẵng hay.
Bài
giảng đầu tiên Hằng truyền đạt khá lưu loát và có sức gợi mở. Nhiều ý kiến hỏi
lại anh đều phân tích thêm nên hầu như mọi người đều đã thoả mãn và vui vẻ.
Trên đường về có cậu đến bên anh tâm sự:
- Em học nhiều thầy nhưng số thầy
giảng dễ hiểu như anh thì chả có ai. Bài hôm nay em có thể nói lại ngay bây giờ
mà cũng không sai bao nhiêu.
- Thực ra hôm nay tớ vẫn chưa chuẩn
bị tốt vì tài liệu đang thất lạc đâu đó vẫn chưa thấy. Tớ cũng lo không giảng dậy
tốt, phụ lòng các anh ấy trên phòng tổ chức đã tin tưởng.
Khi chỉ còn một mình cuốc bộ trên
đường về trạm Hằng chợt nhớ lại những ngày đầu khi anh mới về Phả Lại hơn mười
năm về trước. Cũng không biết mấy ông cán bộ phân xưởng có ý thử thách hay
không mà mới đến chưa được hai tuần đã đề nghị đồng chí đốc công có chương
trình bồi huấn cho lực lượng công nhân mới. Thực ra thì công việc giảng dạy Hằng
chẳng ngại gì vì ngay từ khi còn niên thiếu anh đã phải giảng bài cho các bạn
cùng lớp. Nhiều năm sau anh đã kinh qua các kỳ họp, kỳ đại hội với chức trách
là ban tổ chức, là người truyền đạt nội dung các văn bản khá dài hơi về chính
trị có, về chuyên môn có, cả khi ở công nhân lẫn khi đã là bộ đội. Tuy nhiên
các văn bản hầu như có sẵn các gạch đầu dòng, ngoài ra cũng được phép mở rộng,
miễn sao đúng nội dung, đúng đường lối. Điều cần thiết là bài nói chuyện có sức
thuyết phục để sau buổi nói chuyện khí thế đơn vị hào hứng, thực hiện tốt mục
đích yêu cầu nhiệm vụ. Vấn đề kỹ thuật cũng chẳng hắc búa lắm nhưng vốn nó khô
cứng, vả lại không thể tuỳ tiện được với các thông số kỹ thuật, các công thức.
Còn trình độ công nhân thì thật là không đồng đều chút nào, khối người đã tốt
nghiệp cấp ba và cũng khối người mới học hết cấp hai. Riêng ở khối sửa chữa của
Hằng theo điều tra thì cũng đã có gần mười phần trăm chỉ mới lớp năm, lớp sáu.
Những người như thế ngay khi còn học ở trường đã lơ tơ mơ rồi, chắc gì có thể
hiểu được những cos, sin, với lại tang này tang nọ. Giảng thế nào ấy là do những
người thầy và hiểu thế nào là do mỗi người trong họ. Biết vậy nên Hằng càng băn
khoăn hơn mỗi khi cần đề cập đến những công thức tính toán trong bài học.
Chiều nay Hằng giảng đến bài cân bằng
tĩnh thiết bị quay. Đây cũng là một bài học khó vì có nhiều công thức và đặc biệt
là có đến vài cách thực hiện khác nhau. Một trong những cách cân bằng tĩnh được
các chuyên gia ngành điện tiếp thu từ các công nghệ cân bằng khá phức tạp và
dài dòng với nhiều mệnh đề toán học vẫn thường lưu hành trong nghề sửa chữa kể
từ khi Hằng mới vào nghề. Cũng thật may mắn cho Hằng là anh thường vào các hiệu
sách để xem mỗi khi có dịp đi qua nên trong một lần anh đã mua được một cuốn
sách dùng cho sửa chữa điện. Đây là một tài liều khá phong phú về nội dung cả về
mạch, về thiết bị điện và đặc biệt là có phần dùng cho sửa chữa thiết
bị điện cơ, bao gồm cả căn chỉnh các gối trục và cân bằng thiết bị. Riêng về
cân bằng tĩnh thì phương pháp do cuốn sách đề cập khá đơn giản tuy cũng có dùng
đến các công thức toán học. Điều cần thiết Hằng muốn là sao cho các công nhân mới
chỉ lớp thấp vẫn hiểu và làm được nên anh đọc khá kỹ mục này.
Gần mười phút dành cho việc giới
thiệu phần mở đầu không đến nỗi rời rạc lắm vì đây chỉ là những mục đích, yêu cầu
là chính. Phần chủ yếu tiếp theo là việc xác định trong khối mất cân bằng, một
trong những nội dung quan trọng nhất vì nội dung này là tiền đề cho việc xác định
trọng khối gắn vào thiết bị khắc phụ mất cân bằng. Tài liệu này cũng có nội
dung tìm trọng khối mất cân bằng với các trọng khối thử gắn trên đường kính
bánh xe công tác ở phương ngang để tạo ra sự quay của bánh xe đi một góc nào
đó. Tích số của trọng khối gắn thử với tang của góc quay do vật thử tạo ra
chính là trọng khối mất cân bằng.
Tất nhiên là có khá nhiều người cụt
hứng vì cái công thức tang an pha nọ. Hằng biết vậy nhưng anh cứ coi như không
biết, thậm chí còn nói rằng đấy là công thức bắt buộc mọi người phải biết để mà
cân bằng. Cũng đã có một vài người lo lắng và hỏi nhiều ý kiến, nào là cân kéo
ra sao, rồi tính toán tang ấy ở đâu cho được. Tất nhiên một số đã qua cấp ba
thì họ không ngại lắm những cũng ý kiến rằng chẳng thể nhớ cho hết tang của các
góc được, trong khi tay chân dầu mỡ thế thì phiền toái quá vv... Hằng chỉ cười
mỉm rồi cất giọng như một ông giáo thực thụ:
- Trong lớp ta có khá nhiều đồng
chí đã qua cấp ba chắc là quá rõ về góc lượng giác còn gì. Tất nhiên là đến lúc
đó các vị phải hỗ trợ cho nhau chứ chả lẽ lại chịu à? Hằng nói xong chờ mãi vẫn
chưa có ai bảo sao, anh liền chỉ định vào một công nhân:
- Bạn có biết về góc lượng giác phải
không?
- Dạ! Có... nhưng mà quên nhiều lắm
rồi ạ!
- Bạn có biết khi nào tang an pha
bằng một không?
- Hình như góc an pha bằng chín
mươi độ thì phải!
- Vậy bạn có điều chỉnh cho vật thử
làm bánh xe quay đi một góc chín mươi độ không?
- Em phải thêm bớt nhiều lần có
khi là được!
- Dứt khoát phải được chứ sao lại
có khi phải không nào?
- Dạ!... phải được ạ!
- Tốt rồi, thế có nghĩa là ta chỉ
cần gắn trọng khối thử bằng đất sét vào một đầu đường kính trên mặt ngang để đến
khi chỗ gắn đất này làm bánh quay đến chỗ thấp nhất là đã tạo ra góc chín mươi
độ rồi phải không nào? dừng một lúc Hằng lại nói tiếp:
- Đương nhiên là ta chỉ cần cân
gia trọng và gắn vào điểm đối diện với trọng khối mất cân bằng, hay là cụ thể
hơn là gắn cục đất sét này vào chỗ cao nhất của bánh xe khi chưa gắn gia trọng
thử rồi quay bánh đến chỗ nào là nó nằm im như thóc vậy thôi. Lúc này thì ta
thay bằng miếng kim loại gắn vào hay gọt bớt khối lượng thừa đi đều được cả.
Hằng nói dứt một lúc rồi mà số
đông học viên vẫn cứ ngỡ ngàng ngồi im phăng phắc. Mãi mới có một cậu học viên
trẻ cất giọng:
- Có nghĩa là khi cân bằng tĩnh
chúng em chẳng cần tang tung gì sất phải không ạ!
- Thì tất nhiên là thế, nhưng mà nếu
học thêm để biết sin, biết cos, biết tang thì cũng chẳng thừa phải không nào?
- Quả nếu thày không nghĩ ra cái
chiêu này thì chúng em tắc tị hết thày ạ!
- Ừ thì cái khó, ló cái khôn ra chứ
lại!
- Thế sao sách họ không viết luôn
như thế thầy nhỉ?
- Điều đó thì tôi cũng chịu, không
trả lời các bạn được.
Buổi học đã tan từ lâu mà mọi người
vẫn chưa chịu về đơn vị, có lẽ họ còn bận đàm luận với nhau về bài giảng của Hằng
hôm nay. Hằng cũng vui lắm khi mình đã thổi vào lòng những người công nhân vốn
chỉ muốn làm việc mà không thích mấy đến cái thứ lý thuyết vốn đã làm phiền họ
bao kỳ thi khi còn đi học và cả bao kỳ thi nâng cấp và rồi thi để lên lương...
Kể từ năm chuyển chức danh đốc
công sang làm đội trưởng, Hằng không có quân số trong tay nữa vì đơn vị không
triển khai kế hoạch thành lập đội sửa chữa mà co lại để chờ đợi tách khối đại
tu ra khỏi dây chuyền sản xuất. Lẽ dĩ nhiên là phân xưởng đành trưng dụng anh
làm kỹ thuật tại tổ văn phòng. Công việc làm mới đáng lẽ phải giảm lương đi khá
nhiều theo quy định ngạch bậc của nhà nước, nhưng có lẽ anh Hiếu giám đốc và
anh Trung quản đốc thấy như thế thì thiệt hại cho Hằng nên họ thống nhất với
nhau cứ để anh hưởng lương cũ. Đương nhiên là khối vị làm kỹ thuật ở trên phòng
có thắc mắc, vì họ làm kỹ thuật ở cấp cao hơn mà lại không được ưu tiên. Qua dư
luận Hằng biết anh Hiếu giám đốc đã có ý kiến dàn xếp nhưng nếu cứ để như thế về
lâu dài cũng không lợi, thế là Hằng được mời lên làm chuyên đề chuyển ngạch.
Cũng không biết do ai đề xuất mà sau khi Hằng bảo vệ chuyên đề xong là nhà máy
có công văn cho ban đào tạo công bố cho các chức danh công nhân bậc sáu trở lên
và các chức danh kỹ thuật hưởng lương theo ngạch công nhân đều phải đăng ký và
bảo vệ chuyên đề mới được lên bậc.
Trong số quân cũ của Hằng cũng có
một số người đang chuẩn bị chuyên đề. Năm nay số công nhân sửa chữa lên bậc sáu
chỉ có một mình cậu Tuần. Dù bận giảng bài cho khối đại tu sửa chữa nhưng Hằng
vẫn không quên hoàn thiện sơ đồ bơm cao áp để Tuần lên báo cáo chuyên đề. Về
phía Tuần, Hằng cũng không lo lắm vì cậu này khi học lý thuyết ở trường khá tốt.
Tuy vậy anh cũng đã căn dặn nhiều điều trong khi báo cáo chuyên đề, thế mà hình
như cậu ấy lại bị bí về một câu hỏi nào đó mà Hằng không biết.
Đến khi về đơn vị Hằng mới biết
đây chỉ là câu hỏi bình thường về dung sai lắp ghép, số là khi vẽ các piston
bơm cao áp Hằng có cho trị số dung sai cụ thể, còn số giám khảo thì cãi rằng
dung sai này không đo được vì lỗ quá nhỏ mà đo bằng thước cặp thì không có cấp
dung sai như thế. Kể ra thì họ nói như thế cũng đúng vì thiết bị đo của nhà máy
cao nhất là các panme mà lỗ mười ly thì đồng hồ không đo được. Khi nghe câu hỏi
này Tuần sững người và thầm trách: có lẽ sếp của mình cũng hú hoạ mà thôi, thế
là cậu ta đành đấu dịu và hứa rằng sẽ xem lại tài liệu. Mãi đến khi về kho vật
tư gặp mấy ông kỹ sư động lực cũng xác nhận rằng chúng tớ cũng chưa khi nào đo
được lỗ bơm cao áp của điedel, làm sao mà cái ông Hằng này đo nổi. Lẽ dĩ nhiên
là không ít người cho Hằng chỉ nói hú hoạ mà thôi. Có lẽ vì thế nên khi vừa bước
chân vào cửa văn phòng Tuần đã bê nguyên cả những ý kiến của giám khảo và các
chuyên viên ra để thử độ thầy. Hằng biết chắc là cả Tuần cũng tự phủ nhận dung
sai mà Hằng đã ghi vào bản vẽ bởi có quá nhiều người đều cho là như thế. Biết vậy
nên Hằng chỉ cười mỉm rồi thong thả uống nước ra vẻ như cũng khó trả lời cho cậu
công nhân thông minh có tiếng này. Không thiếu những người dưới quyền của Hằng
lâu nay tin vào tất cả mọi điều Hằng nói thì đều buồn vì cái lỗi này của anh. Họ
không dám nhìn thẳng vào anh và im lặng đến khó hiểu. Nếu cứ để tình trạng này
kéo dài chắc họ sẽ buồn bã và tiêu cực nên Hằng chủ động tháo gỡ:
- Thế các cậu cũng tin là tớ bịa
ra thông số hay sao?
- Nhưng mà tất cả họ đều có lý...
anh ạ!
- Cái lý của sự thiếu hiểu biết
thì có! Hằng dứt câu nói vừa rồi với cách nói có hơi ngạo mạn, nhưng hình như
chẳng ai quan tâm đến điều đó mà họ đều cùng sôi nổi cười nói trở lại. Có lẽ họ
vui vì họ có quyền tự hào về một người mà lâu nay họ tin là không sai, không tuỳ
tiện với tất cả những gì mà họ thường thấy, họ tự hào vì cái môi trường tốt đẹp
mà họ đang sống do chính họ cùng với con người ấy tạo ra. Những ai đó từng nói
đến câu cách ngôn: “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” thì chính là họ đang cho
mình trong vai của sự “gần đèn”. Họ đang gần với một người luôn trung thực,
luôn đúng và họ thường trông đợi điều đó. Biết vậy nên Hằng quyết định đã đến
lúc phải nói cách đo thông số ấy để củng cố lòng tin cho họ. Tuy nhiên anh vẫn
muốn tạo ra một không khí từ từ, chầm chậm để mọi người có thêm một lần chờ đợi
trong sự tìm hiểu từng bước một:
- Lúc nào cậu gặp mấy tay giám khảo
và mấy ông bạn có lý thì bảo với họ rằng người ta đo các lỗ ấy bằng calíp đấy!
Đúng như dự đoán của Hằng, không
phải ai cũng hiểu đo bằng calip là như thế nào.
- Em vẫn chưa hiểu thế nào là đo bằng
calip anh ạ!
- Calip theo tiếng ta là những cái
cữ, là những thỏi có nhiều kích thước khác nhau. Mỗi khi đo ta thả các thỏi này
vào các lỗ của vật, kích thước của thỏi cuối cùng chui được qua lỗ chính là
kích thước của lỗ. Còn thỏi này thì gia công theo các kích thước tính toán rất
dễ và đo được bằng các loại dụng cụ đo bên ngoài cũng dễ phải không các cậu. Dừng
một lúc Hằng lại tiếp:
- Thực ra giờ đây người ta có thể
đo bất kỳ mọi vật chính xác đến những phần tử vô cùng nhỏ bằng công nghệ quét
tia lade lên vật cần đo.
- Anh đã đo bao giờ chưa ạ?
- Đo bằng lade thì tớ chỉ mới nghe
nói, còn đo lỗ tròn bằng calip thì tớ thường kiểm tra độ phình nòng súng trong
những năm tớ làm công tác quân giới trong quân đội. Về nguyên tắc là giống
nhau, chỉ khác là calip của lỗ bơm nào thì có chuỗi kích thước cho lỗ bơm ấy,
còn calip cho súng thì cũng có chuỗi kích thước cho từng loại súng. Ví như súng
bộ binh AK, CKC vv... đều bắn đạn K56 thì lỗ của nòng súng chỉ có 7ly 9 và cộng
thêm những cái đuôi lẻ phía sau dăm ba số nữa.
- Đơn giản thế mà sao khi anh nói
chúng em mới biết nhỉ?
- Có khi học rồi mà các cậu quên
cũng nên!
- Có khi thế anh ạ!
- Vì thế các cậu phải cố gắng nhớ
hơn nữa để mà áp dụng sau này. Với lại ngay trong các dụng cụ đo trong đơn vị
ta cũng có nhiều ứng dụng lắm đấy, các cậu cố gắng nghiên cứu để mà ứng dụng, kẻo
sau này các cậu bị học trò lục vấn là gay đấy!
Mọi người cùng cười ồ để xí xoá
câu chuyện với màu sắc thiếu niềm tin không đáng có...
2
Những cơn ồn ào buổi sáng giao ban
trong khối cũng đã bớt dần, số anh em trong các nhóm công tác đã theo nhau mang
dụng cụ đi vào các trạm. Hằng bước xuống sân trạm lặng lẽ nhìn xa xôi về phía
ngọn khói đang bay trên đỉnh cột cao hơn hai trăm mét với những vòng trắng đỏ
trên thân đang ngả màu bởi mưa nắng. Có lẽ cũng đã đến hai năm có dư rồi mà câu
chuyện điều chỉnh áp lực ống tuần hoàn vẫn như còn in trong đầu Hằng như mới
hôm qua vậy. Thực ra Hằng chỉ buồn phiền khi nghe đồng chí quản đốc nói về cái
sự tự cao tự đại của Biên khi anh ta luôn rêu rao rằng cái sự hiểu biết của một
kỹ sư hơn hẳn mọi người xung quanh. Rồi thì còn, tất cả mọi việc anh ta đều có
thể làm được chỉ là anh ta có muốn tìm hiểu hay không mà thôi.
Cái buồn của Hằng thực ra cũng chẳng
đáng có, chỉ là anh buồn vì đã giới thiệu về đơn vị một người còn rất non tay về
công việc lại già giơ về cái sự kiêu căng phách lối. Hằng buồn vì anh không nhận
ra con người này trong khi anh luôn tự tin rằng mình đánh giá mọi người khá
sát. Anh buồn vì mai đây người ta cũng sẽ dựa vào bằng cấp để đưa lên một người
lãnh đạo với nhiều tư chất chẳng xứng đáng với tập thể và rồi cậu ta sẽ lại làm
hòn đá tảng cản lối đi như một số nhân vật bệnh hoạn từ nhỏ tý đến cao tít vẫn
chềnh ềnh ở khắp mọi cơ quan đoàn thể quanh ta.
Đành rằng những người được học
hành thì phải biết nhiều hơn những người không được học, tuy nhiên dù có được học
thì có phải học hết kiến thức của mọi ngành nghề được đâu, huống chi trong cái
nhà máy điện dâu chỉ có một thứ máy, một thứ nghề mà người kỹ sư được học. Có một
điều cũng cần phải hiểu rằng công việc nào cần trình độ ấy. Cái hiệu quả của mọi
công việc là sự sắp xếp phù hợp giữa công việc và người làm. Để cuốc đất hay
khuân vác thì nên chọn những người to lớn khoẻ mạnh. Cũng như vây người trông
coi vận hành và sửa chữa các loại máy thì cần đến những công nhân lành nghề là
chính.
Cũng có một sự làm Hằng buồn phiền
là sắp tới chi bộ đang muốn giúp đỡ để đưa cậu ta vào Đảng thế mà cậu ta lại xa
rời quần chúng đến thế thì không biết rồi mọi người có giúp nổi cậu ta không nữa...
Thứ Bảy, 21
tháng 3, 2015
Năm 2015 Lê Trọng Hồng đã gửi đến
Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc in tác phẩm Hoa Ngô với 62 bài thơ theo Giấy phép
ĐKXB số 83-2015/CXB/9-470/VHDT và Quyết định XB số 21-15/QĐ. Nhân đầu xuân Ất
Mùi Le Hoa gửi ảnh chụp các tác phẩm và nội dung lên Blog để mọi người chiêm
ngưỡng. (Phần nội dung có thể có một số bài đã tải lên từ trước).
Tập thơ Hoa Ngô với 62 bài thơ
in năm 2015
CÁC BÀI THƠ IN TRONG TẬP HOA NGÔ
Trải qua bao tháng năm trôi
Những dòng mực tím bồi hồi hiện ra
Trang nào của tháng năm qua
Còn trang nào để mai ta gửi vào.
(Đến Thái Nguyên nhớ về Bầu Cạn)
Nắng soi vàng khắp vườn chè
Bao lâu mới lại trở về nơi đây
Ngày xưa ai đã thơ ngây
Đến vườn chè để giãi bầy lời yêu
Thế rồi nắng sớm mưa chiều
Để vườn chè với bao điều vấn vương
Mai rồi tóc trắng như sương
Lặng im đi nốt đoạn đường đã đi
Vườn chè chẳng nhớ điều chi
Mùa hè cũng chẳng nhớ gì nữa đâu
Mai sau dù có bao lâu
Bâng khuâng lại viết đôi câu gửi
chè.
Ai làm say đắm hồn ta
Để bâng khuâng những chiều xa đợi
chờ
Lời xưa hò hẹn chưa mờ
Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi
Cho dù trăng đã khuyết rồi
Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho
nhau.
Chẳng thà đắt lúa rẻ cau
Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…
Hôm nay khép áo lên chùa
Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ
Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ
Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến
không.
Nhìn ra bốn phía mênh mông
Thả tay buông nắm tơ hồng ngày
xưa.
Bất ngờ trở lại Trường Sơn
Nghe câu hát cũ trong cơn mưa chiều
Người về thêm những lời yêu
Để hồn thơ với bao điều nhớ nhung
Núi non muôn lớp chập chùng
Gái trai thuở ấy thề cùng nước non
Tháng năm dằng dặc mỏi mòn
Vết thương ngày cũ vẫn còn đớn đau
Khấn thầm đồng đội ở đâu
Chiều nay xin hãy cùng nhau trở về
Bảo rằng “sông rộng một gang”
Chỉ qua “dải yếm” là sang tới rồi
Thế mà mấy chục năm trời
Vẫn không đến được với người tri
âm.
Khi yêu người chỉ nói thầm
Lấy đâu báu vật để cầm làm tin
Nhỏ nhoi, trời rộng cánh chim
Biết đâu lối cũ mà tìm được nhau.
Đành chờ đợi để lần sau
Bâng khuâng ngồi ngắm hoa cau nở
vàng.
Năm nay người mới quay về
Hoa ngô xào xạc bên đê sông Cầu.
Áo ai phơi tím ruộng mầu
Tóc ai chảy bạc cả đầu bến sông
Chói chang khắp hết cánh đồng
Con đò… đã chẳng còn trông thấy
gì.
Gậy tre chống dọc đường đi
Nghiêng tai mãi chẳng nghe chi những
lời
Thôi đành mượn ánh mắt cười
Gật đầu đáp lại cho người ta yêu.
Bờ đê vàng nắng trong chiều
Chuyện ngày xưa, chẳng nhớ nhiều nữa
đâu!
Hoa ngô xào xạc bên nhau
Rưng rưng hỏi lại… năm sau có về?
Chẳng ai trồng khúc bao giờ
Vẫn xanh, vẫn trắng cả bờ bãi sông
Nếp hương ai xát trắng bong
Đậu xanh ai nấu vàng ong bên hè
Em cười sẽ rụt tay về
Có là chi một chút nghề giản đơn…
Nửa chiều bãi đất trống trơn
Bao cây rau khúc cô đơn mọc hoài
Bồn chồn ngày ngắn đêm dài
Tiếng rao lanh lảnh vang ngoài tường
vôi
Phố thay làng đã lâu rồi
Chỉ còn rau khúc…bồi hồi tiếng
rao.
Xa nhau ba sáu năm trời
Tưởng chừng rồi sẽ cả đời cách xa
Bỗng dưng đến một chiều qua
Gặp nhau để quãng ngày xa khẽ buồn
(Viết trong đêm trắng)
Ta cứ thức, như nhiều đêm đã thức
Để thời gian, dài nữa những thời
gian
Để thêm biết, bao điều mới mẻ
Một đời người lưu lạc ở trần gian.
Ta đã từng qua bao cuộc hợp tan
Chiếc lá nhỏ cuốn theo bao cơn lốc
Một hạt nắng, hạt mưa thoáng chốc
Chép câu gì cho ta gửi vào ta.
Đếm làm gì những canh một, canh ba
Bởi đêm trắng đã nối vào đêm trắng
Trong giấc ngủ vẫn thấy còn ngọt đắng
Thức hay không nào có cần chi.
Hãy ngủ đi và hãy cứ ngủ đi
Gồng mình mãi để đau thêm nữa
Khi bóng nắng đã vượt qua điểm giữa
Cứ dài thêm cho ngọn đổ về đông
Hoàng hôn rồi, đêm có ngủ hay không.
(Phiên bản lục ngôn)
Lâu lắm không về sông Lãng
Nước triều mới cạn đêm qua
Bùn loãng chan đầy mặt cỏ
Thu vàng muôn lớp đùn xa
Sông vẫn chảy theo vườn cũ
Dây trầu ngoi nước mà lên
Vòi tre bò ngang mùa lũ
Vô tình khi nhớ khi quên
Dòng sông cứ trôi triền miên
Bậc đá nằm yên trên đất
Mùa lụt, mùa khô chồng chất
Nhớ ngày gặp em đầu tiên…
Chỉ mong gặp thêm lần nữa
Cùng nhau giây phút cận kề
Bờ khuya từng con sóng vỡ
Còn em mãi mãi không về
Khi ta yêu, tim óc chợt bừng lên
Nguồn sinh lực từ lâu tiềm ẩn
Và tâm thức bao trùm nhân bản
Cứ như là dốc cạn để trào ra.
Khi ta yêu, ta đã quên ta
Chỉ mong mỏi trần gian hạnh phúc
Và như thế mọi nơi, mọi lúc
Dẫu hy sinh ta sẽ nhận về mình.
Khi ta yêu, mọi thứ thật trong
lành
Khao khát bên nhau nào ai không muốn
Một ánh mắt chợt nhìn cũng uống
Ôi ngọt ngào vô hạn của trần gian.
Khi ta yêu, kể cả núi cũng tan
Biển cũng cạn và trời kia cũng thấp
Và ta, dẫu củ khoai, cái bắp
Vẫn là ta hòa với xung quanh.
Khi ta yêu, hồn chợt thêm xanh
Lòng thêm rộng và đời thêm đẹp
Mọi toan tính nhỏ nhoi, chật hẹp
Cứ tan dần thành mây khói trong
ta.
Khi làm thơ, ta chỉ nghĩ về thơ
Quên hết thảy, những gì là tăm tối
Quên hết thảy, những gì là gian dối
Những thiệt hơn, toan tính ở đời.
Khi ta làm thơ là khi chất con người
Ràn rụa, dâng cao như lũ tràn,
thác cuốn
Và tất cả những gì ta muốn
Ấy là yêu, yêu hết thảy bao người.
Khi ta làm thơ, thường vẫn khóc cười
Không muốn thế mà lòng luôn rớm lệ
Những thu nạp lẽ đời muôn thế hệ
Mở toang rồi trên bàn viết con
tim.
Khi ta làm thơ, ta càng vững niềm
tin
Cái của mai sau, lớn hơn ngày trước
Từ nhỏ bé cỏ cây, đến cao xa đất
nước
Cứ lớn lên tươi đẹp tuyệt vời.
Khi ta làm thơ là hướng đến bao
người
Yêu thêm nữa và thương thêm nữa
Một góc rừng xa có còn mất bữa
Một vùng quê xa có còn tiếng súng
bom.
Khi ta làm thơ, ta thấy quý mình
hơn
Vì thơ sáng cho lòng ta cũng sáng
Và tất cả những gì xứng đáng
Ta gửi vào thơ để trở lại cùng ta.
Viết câu thơ gửi tháng mười
Trước khi chia rẽ mỗi người mỗi
nơi
Một mai cách trở xa xôi
Để không quên hết tình tôi, tình
nàng
Thơ ơi sao khéo phũ phàng
Nỗi đau đứt ruột gửi sang cho người
Buông tay giữa đất giữa trời
Đau thơ đau cả tim người làm thơ
Lại tìm xuân với hoa đào
Giữa chiều tết lạnh xôn xao tiếng
lòng
Cành nào chan chứa sắc hồng
Cành nào thắm đỏ bềnh bồng trong
mơ
Cành nào phai lạt bâng quơ
Cành nào tha thiết đợi chờ thi
nhân
Cành nào tươi thắm tình xuân
Thời gian ghi dấu bao lần trong
thơ
Dịu dàng đàn nối dây tơ
Lại tìm xuân, lại tìm mơ hoa đào.
Cha ngồi tập viết cùng con
Nét vuông nối với nét tròn cạnh
nhau
Nét nào trước, nét nào sau
Khi cao, khi thấp, khi mau, khi dầy
Khi to, khi béo, khi gầy
Từng trang tiếp nối tháng ngày
trong mơ.
Dù cho nét tỏ nét mờ
Đừng làm hoen ố bao tờ trắng
trong.
Nhớ nghe con giữ thẳng dòng
Đừng quên kẻ vạch mà cong, mà
chùng
Thiết tha, thẳng thắn, hào hùng
Tay con khéo lựa hòa cùng tay cha
Mai sau con lớn lên già
Chữ nhân, chữ nghĩa nhớ mà thẳng
ngay
Âm thầm nét chữ, bàn tay
Cha ngồi cần mẫn mỗi ngày bên
con
Viết câu lục bát cho con
Thả trên khắp các lối mòn xung
quanh
Đời cha giăng sợi tơ mành
Đời con cái nhẽ phải xanh cây đời
Biết yêu hoa biết yêu người
Biết yêu đời để cho đời yêu đáng
yêu.
(Kính dâng bà Huyện Thanh Quan)
Bài thơ người tặng cho đời
Tưởng đâu khép lại một thời đã xa
Ai người hiểu được lòng bà
Bên nhà bên nước bao la chữ tình
Đau đời, đau cảnh, đau tình
Ngậm buồn vẽ ảnh vẽ hình cho thơ
Một mình đứng giữa chơ vơ
Cần chi danh phận mà mơ, mà tìm
Ai trong nhung lụa đắm chìm
Còn bà đơn lẻ cánh chim lạc bầy
Cung đình hoa lệ chất đầy
Tan nhà, tan nước vui vầy mà chi
Thương mình trong bước lưu ly
Viết câu thơ lúc phân kỳ đôi nơi
Nỗi niềm như rụng, như rơi
Như tan, như nát, như vơi,
như đầy…
Đã qua bao tháng năm chầy
Tiếng chim khắc khoải lạc bầy kêu
thương.
(Thăm Hoàng Thành Thăng Long)
Có bao nhiêu lớp chồng lên
Sứ sành, gạch đá còn nguyên giữa đời
Hình như còn có bao người
Thoáng nghe văng vẳng nói cười bên
ta
Chiếu dời đô Lý đã xa
Khí thanh long chợt bay qua lưng
trời
Ai đang thủ thỉ nói cười
Trả gươm thần để giãn dời việc
quân
Hay là công chúa Ngọc Hân
Ai tư vãn đến tình quân một thời
Thơ Hồ đau cảnh đau đời
Lẻ loi cam phận giữa nơi đô thành
Nước non đâu đã an lành
Một câu hoài cổ sao đành cắt ngang
Ngàn mây xa tắp mênh mang
Gói bên trong cả ngàn trang cuộc đời
Cây xoài đã lại ra hoa
Thêm mùa xuân nữa thế là mười năm
Mẹ già giờ đã xa xăm
Cây xoài chẳng có ai chăm mỗi ngày
Rào tre đâu thể chất đây
Trái chua mời gọi cả bầy trẻ thơ
Cây xoài đứng đó chơ vơ
Tuổi mười lăm lúc bấy giờ…thế
thôi!
Mười năm giờ đã xa xôi
Ớt cay, muối mặn thế rồi... dần xa
Lại nghe trong gió thoáng qua
Hình như tiếng của mẹ ta năm nào.
Lại về trong tím hoa cà
Tháng tư theo chị đi ra ngoài đồng
Trái tròn nặng trĩu cành không
Tím như tà áo mùa đông năm nào…
Chị thêm một chút muối vào
Miếng cơm đậm nhạt đã bao nhiêu
mùa.
Khẽ khàng đứng nép cổng chùa
Trao nhau một cánh hoa mua tím hồng.
Nhà nghèo thiếu ruộng gieo trồng
Đổi mươi gáo nước một bông lúa gầy
Chị ôm cái nắng chầy chầy
Bát mồ hôi giữa những ngày tản
cư...
Lại về trong nắng tháng tư
Vườn cà trĩu quả giống như năm nào
Cổng chùa ai đã khép vào
Người xưa giờ đã nơi nào xa xôi
Phải vì đất tốt đất lành
Cò về làm tổ trên cành cây cao
Chiều quê bất chợt xôn xao
Tiếng cò như thể khắc vào tâm can
An Dương xanh đến ngút ngàn
Chẳng ai đếm nổi muôn vàn cò bay
Thuyền trôi trên lớp mây dày
Bao nhiêu cò cũng hiện đầy đáy sâu
Nước non muôn sắc muôn màu
Bức tranh phong cảnh đẹp giầu ấm
no
Lại nghe sâu thẳm đảo cò
Câu ru của mẹ đắn đo…ngày nào
Dẫu rằng người muốn xáo xào
Cũng xin được gửi mình vào nước
trong
Đảo cò ai nhớ ai mong
Một đời ta đã gửi trong đời
cò
(Phả Lại ngày 27/7/2013)
Vẫn là tuổi ấy trăng tròn
Đã bao năm chẳng hao mòn sắc xuân
Ngày nào đứng dưới hàng quân
Mũ nan chân đất với quần áo nâu
Từ nơi hoang vắng rừng sâu
Điện Biên rực rỡ sắc mầu cờ sao
Trường Sơn tiếp nối đường vào
Tây Nguyên Quảng Trị ào ào tiến
quân
Ầm ầm, sáu tám… Mậu Thân
Sài Gòn rực lửa mùa xuân khải
hoàn…
Chiều nay rung gió đại ngàn
Lại nghe chân bước muôn vàn quân
đi
Trang nghiêm dưới bóng quân kỳ
Những hàng bia có nói gì nữa đâu
Bao người lặng lẽ cúi đầu
Khói hương xanh quện với màu cờ
son
Vẫn là tuổi ấy trăng tròn
Ngàn năm sau mãi vẫn còn thanh
xuân.
Gió đã nổi đưa trăng về với núi
Ngoài xa kia muôn sóng cứ gầm gào
Ta biết vì sao lòng lại tuôn trào
Bờ môi mọng chín dần mỗi tháng
Ngày chợt đến giữa nhòa nhạt nắng
Đêm đưa tiễn cứ vằng vặc sáng
Mải hôn đời quên hết những vầng
mây
Trăng đến đó và trăng về đây
Đường vô tận chẳng gì ngăn cản được
Khi sắp lặn cũng là khi sắp mọc
Cứ soi vàng cho đông lại về tây
Còn ta bắt đầu từ đâu về đây
Dẫu sao cũng một lần dời đổi
Dù là quãng tuần hoàn ngắn ngủi
Cũng say lòng từ bao lâu nay
Ta uống rồi mà sao
không say
Để đời cứ đợi chờ mòn mỏi
Đừng quá chậm với trăm ngàn câu hỏi
Khi ta còn vầng trăng trong tay
Trăng đến rồi và trăng ở đây
Chỉ với một vòm trời lòng chảo
Và ta biết trăng sẽ mờ sẽ ảo
Để tan dần vào trong ban mai
Đám cưới đang ăn
Người hát thì cứ hát
Áo tứ thân đỏ xanh nâu bắt mắt
Người hát người ăn cũng chẳng mấy
phiền.
Chủ thuê bằng tiền
Còn nghệ sĩ làm người hát mướn
Thôi thì chuyện làm ăn
Có nơi có chốn… người cần.
Ngày xưa đã có lần
Vua chúa chia ra giống dòng con
hát
Không cho bén mảng trường thi
Cả đời dốt dát
Cách mạng về đổi đời kép hát
Bao người thành nghệ sĩ tài ba
Cuộc đời từ ấy vươn xa.
Chiều nay đám cưới,
Áo the khăn đóng hài hoa
Ô lục soạn, nón ba tầm…réo rắt
Dù thế vẫn là gánh hát,
Nghệ sĩ theo trò hát thuê
Rời quận Tây Hồ về Cầu Giấy
Đường Văn Cao gọi phải ra đi
Ba mươi sáu năm từng ở đấy
Dẫu quen rồi vẫn phải chia ly
Từ đồng ruộng lớn lên thành phố
Nhà cao tầng dần đã như nêm
Chiều chợ Bưởi thơm mùi cốm mới
Phủ Tây Hồ hương khói dầy thêm
Đường Cổ Ngư nhộn nhịp hằng đêm
Thơ Bà Chúa họ Hồ sắc xói
Gió im bặt để nghe sóng nói
Giữa đêm buồn sao nỡ rời em
Thụy Khuê ơi ta chẳng thể quên
Dù phố mới giơ khăn vẫy nón
Dù quê mới hân hoan chào đón
Chẳng bao giờ ta lại quên em.
Rời Hồ Tây, đành vậy thôi em
Con đường mới mở ra nhiều hướng mới
Để đất nước mỗi ngày thêm xốc tới
Chắc mai rồi hai ta sẽ dần quen
Đến Đèo Ngang không lên đỉnh nữa
Lối đi vào, xuyên núi mà qua
Đến Đèo Ngang lại nhớ thơ thuở trước
Đau lòng ai tình nước, tình nhà.
Đến Đèo Ngang không lên đỉnh nữa
Đá đơn côi, hoa lá đơn côi
Dấu chân cũ có còn in lối cũ
Nước bên ghềnh không biết có còn
sôi
Đèo ngang mới không lên đỉnh nữa
Bánh xe thời đại mở xuyên hầm
Câu thơ đã có mầu tươi mới
Bóng Đèo Ngang, sừng sững…xa dần
(Rừng Thông 10/1975)
Đồ nghề chất đống, chật sân kho
Anh làm bảo vệ trông sân bãi
Xã lại điều em đến gác cho
Ngày ngày trực chiến cuối rừng
thông
Quen nhau từ buổi chung phiên gác
Đã để cho ai phải nặng lòng!
Qua tết năm nay… lập gia
đình?
Mắt cười: bom đạn còn chưa dứt,
Em nghĩ chửa nên… chuyện chúng
mình!
Lần cuối chia tay để lên đường
Bao nhiêu yêu dấu anh để lại
Mang cả rừng thông đến chiến trường.
Những năm đánh giặc xa đất Bắc
Gặp thông càng thêm nhớ về thông
Có ai về lại quê Thanh Hoá
Phố Kết bây giờ có còn không?
Từng chữ yêu thương vẫn chửa mờ
Mỗi dòng là mỗi niềm nhung nhớ
Nhỡ hẹn dài thêm những đợi chờ.
Đồi pháo ngày xưa đã vắng tanh
Hố bom sâu hoắm bên trận địa
Pháo nổ tung hoa đỏ rực trời
Có thêm tiếng súng em trong đó
Góp lửa giăng vây lũ giặc trời.
Thắp nén hương thơm trên nấm đất
Nỗi đau không cất nổi thành lời
Bao nhiêu đôi mắt cùng anh khóc
Đứng mãi bên em chẳng muốn rời.
Em cứ xinh tươi như ngày ấy
Trong anh em mãi mãi là thông
Tóc xanh như lá chiều hoang vắng
Soi xuống bên hồ nước trắng trong
Em đi như bóng nắng tan đi
Đồi thông vẫn dội từng sóng nổ
Qua biết bao mùa cuộc chia ly
Trong anh còn mãi tiếng thông reo
Trong anh còn mãi lời em gọi
Còn mãi trong đời một dấu yêu.
(Đông Hà 15/7/2005)
Miền cát chiều nay trắng quá
Mênh mông mãi tận chân trời
Nơi ấy gợi về ngày cũ
Đạn bom, mưa nắng tơi bời.
Đã xa lắm rồi
Những điều trong cổ tích
Cát thì trắng!
Cỏ thì xanh!
Còn máu thì rất đỏ!
Những bước chân hành quân
Mù trời đạn bom, mù trời bão gió
Kẻ thù trước mặt chúng ta
Trận địa bốn bề cát trắng
Mùa xuân năm ấy! Đông Hà!
Miền cát chiều nay trong cơn gió lốc
Tung bay, tung bay ngàn vạn hạt
Về những miền xa, thật xa
Dội vào ký ức
Một khoảng thời gian đã qua.
(Thành Cổ 5/2005)
Ba mươi năm mới lại về đây
Dòng Thạch Hãn vẫn êm đềm xuôi chảy
Thành Cổ vẫn còn nguyên ở đấy
Bâng khuâng, một khoảng chiến trường.
Không đếm xuể những bông hoa cỏ trắng
Chiều mênh mang trong nắng tơ hồng
Ở đâu thế những hồn xa vắng
Ơi những người anh, người bạn, người
chồng
Còn đây khối âm dương dựng đứng
Còn đây nữa bát cơm quả trứng[1]
Tự trăm miền trao gửi vào trong
Nắm hương chiều theo gió thổi tầng
không.
Kìa ai đó đang đi trên cỏ
Quân phục xanh trên đất màu xanh
Bên bờ đá tả tơi sụp đổ
Một góc thành xưa, bom pháo tan
tành.
Ai đi đó bàn chân hãy nhẹ
Đừng để tan đi giây phút thanh
bình
Nơi mảnh đất đã bao lần cày xới
Thịt da anh đâu còn có nguyên
hình.
Dẫu đến cả ngàn năm sau nữa
Thành kia, sông ấy vẫn còn
Bao kỷ vật là bấy nhiêu chứng tích
Tám mốt ngày trong khói lửa đạn
bom.
Giữa chết chóc tan hoang đổ nát
Tiếng anh cười vang mãi đến chiều
nay
Trong hữu hạn giữa hai vùng sống
chết
Đã lên mầm xanh lại chính từ đây.
(Tháng 8- 2005)
Tuổi tác đã không còn trẻ nữa
Sướng khổ buồn vui trong mỗi đời
người
Quên hết cả để cùng trở lại
Như ngày nào mười tám, đôi mươi.
Tất cả lại là mình, là tớ
Cả mày tao, cả đấy, cả đây
Nâng chén rượu hát về quá khứ
Khúc quân hành hoà trong tỉnh,
trong say.
Mỗi người một cuộc đời riêng biệt
Việc nước non xen công việc gia
đình
Trong vất vả, gian nan, thiếu đủ
Vẫn vẹn nguyên, một tấm chân tình.
Mọi điều đã trở về quá khứ
Nghĩ làm chi nghèo túng, sang giầu
Những cao thấp cuộc đời sắp đặt
Có cần chi trong tình nghĩa, bạn bầu.
(Ga Thị Long 9/1970)
Em sẽ chẳng thể nào biết được
Có một người ra trận hôm nay
Nhìn em đợi bên hàng cọc gỗ
Sân ga chiều bỏ lỡ cuộc chia tay
Đã hẹn thế sao anh không tới (!)
Cuộc chia ly bao nỗi tái tê
Đừng thêm nữa nỗi đau chờ đợi
Bao người đi mãi mãi không về.
Xin đừng có giận anh, em nhé
Đừng coi nhau như kẻ vô tình
Anh đã nhận những dòng nước mắt
Dẫu mai ngày anh phải hy sinh.
Em sẽ gặp những niềm vui mới
Quên ngày nay, đến với ngày
sau
Trong ký ức không còn anh nữa
Vết thương lòng sau một lần đau.
Chuyến tàu đã bắt đầu chuyển bánh
Để sân ga nằm lại đằng sau
Em đứng đó chập chờn trong bóng
khói
Để lòng ai giằng xé dọc con tàu.
(Đồng Tâm 25/9/2006)
Ba mươi sáu mùa thu vời vợi
Đâu chỉ là một sáng, chiều, trưa
Tưởng tất cả đã về quá khứ
Có đâu ngờ gặp lại ngày xưa.
Chiều thu ấy, người ra tiền tuyến
Khoảng trời xa, bom pháo chiến
tranh
Những mùa nắng, mùa mưa tiếp nối
Có một chiều ga, theo bước quân
hành.
Giờ ly biệt có gì để lại
Nghĩ về nhau, sao không đến cùng
nhau (?)
Đừng tiếc nữa, những ngày tháng ấy
Một lần thôi, ga cũ bỏ con tàu.
Khóc một chút hay nên cười một
chút
Về cái dở dang hay cái đã vuông
tròn
Những trăn trở từ lâu chưa hết
Chia cách xưa, đau bởi mất còn.
Có thể mong gì hơn thế
Sự hiếm hoi, may rủi trong đời
Đã xui khiến cho ngày gặp lại
Nói làm sao trong chỉ một đôi lời.
Chuyện xưa vẫn, trong lòng vương vấn
mãi
Để bây giờ tươi mới, chợt vui ra
Tay cầm bút viết vần thơ gặp lại
Có một con tầu dường như đã về ga.
Không kịp trở về nơi ấy nữa
Lỡ hẹn rồi phiên chợ mùa xuân
Cây cầu Mẹt trúng bom sập đổ
Chợ quê thành trận địa dân quân
Vòng bạc vẫn trong, chỉ thêu vẫn
thắm
Áo ngâm chàm tím giữa hàng quân
Nút vải cuộn tròn như bao chiếc nụ
Trên ngực anh cài chặt bao lần
Xa mãi, giữa đầu trời cuối đất
Khoảng chiến tranh cứ rộng dài
thêm
Chưa kịp hẹn đến mùa làm cỗ
Nên chúng mình đâu đã thành
duyên...
Chợ Mẹt mùa này sẵn dao thép cứng
Thớt nghiến tròn xoay vàng xuộm
ánh chiều
Mùa xuân mới trôi qua một nửa
Đám cưới nhà ai nhắc lại một thời
yêu.
Tôi đã cho đời tất cả được bao
nhiêu (?)
Mười hai tuổi, thành người lao động
Luống cải trong vườn, rạch ngô
ngoài ruộng
Yêu những nơi gần, mơ những nơi
xa.
Mười tám tuổi, thành người chiến
sĩ
Khoác súng trên vai, lên đường
đánh Mỹ
Bàn chân qua muôn đất rộng, sông
sâu
Phân nửa cuộc đời qua thật là mau.
Ba mươi tuổi về công trường xây
dựng
Những nền móng nối nhau vô tận
Nắng, mưa dầu dãi quanh năm
Vì đất, vì người quên mọi gian
truân.
Sáu mươi tuổi về làng cùng con
cháu
Con lợn, con gà, bờ ao, thùng trấu
Miếng cơm bát thuốc trở trăn
Vẫn gắng đôi phần việc nước, việc
dân.
Những khoảng nối thật bình dị quá
Có điều gì đáng kể ra đâu
Muôn cuộc khác cứ sinh sinh, hoá
hoá
Cuộc đời nào trùng khít vào nhau.
Dù sao cũng một đời đầy đủ
Khẽ khàng, bình dị mà vui
Những mơ ước cao xa ngày ấy
Với bây giờ vẫn vậy mà thôi.
(Đền liệt sĩ Nam Trực 23/2/2011)
Gió mang cơn rét về đâu
Để chiều xuân mãi cuộn sâu sóng ngầm
Cổng đền khép chặt lặng câm
Để ai đứng dưới mưa dầm lê thê
Tưởng đâu quên hết lối về
Tuần hương còn đỏ bên lề cỏ non.
Dẫu rằng ngực đỏ như son
Vẫn thương bao mảnh trăng tròn rụng
rơi.
Mỗi người chỉ một cuộc đời
Dám quên đi để bao người tiếc
thương.
Chờ mưa ghé lại bên đường
Đọc bao tên tuổi để vương lệ già
Thương bao nhiêu những mái nhà
Cô đơn vắng bóng... người xa không
về.
Mong về thôn Vỹ từ lâu
Câu thơ Hàn gửi ở đâu chốn này (?)
Những bông hoa bắp gió lay
Bờ tường cao, lá trúc dày che
ngang
Một màu ngọc biếc mênh mang
Chỉ còn có mỗi một hàng cau thôi
Em hoà vào với đất trời
Trắng trong sương khói để rồi tan
đi…
Người về thôn Vỹ làm chi
Đợi khi trăng mọc, chờ khi trăng về
Khát đời, khát một vùng quê
Mà không còn dịp được về tận nơi
Bẩy mươi năm đã qua rồi
Câu thơ còn đó con người về đâu
(?)
(Văn An 1983)
Chiều nay con đến nhà thầy
Chơ vơ sỏi đá, cỏ cây rậm rì
Rẽ gai lấy lối con đi
Tìm xem Giếng Ngọc, Miết Trì[1] ở
đâu.
Trường xưa nền đá dãi dầu
Một ngôi nhà nhỏ nhạt màu khói hương.
Phải vì Người giữ cương thường
Lấy điều giản dị nhún nhường vậy
sao.
Hay vì thầy đã cất cao
Lời trung liệt để chạm vào thần
oai
Sớ thầy động đến những ai
Mà nơi thờ cúng bỏ hoài gió sương.
Con xin thắp một tuần hương
Mong thầy đại xá thập phương còn
nghèo.
Mai sau non nước mạnh giầu
Đền thầy sẽ lại có lầu, có sân.
Mỗi năm con đến một lần
Dâng thầy một nén hương trầm lên
mây.
Thưa thầy con nguyện theo thầy
Cho dù lở đất long cây không rời
Bâng khuâng một cảnh, một người
Heo may lồng lộng thổi hoài chiều
đông.
(Kính dâng vua Lý Chiêu Hoàng)
Chuyển giao đất nước cho chồng
Nhẹ nhàng như chiếc lông hồng vậy
thôi.
Tám đời vua đã qua rồi
Nhiều đời vua nữa, đến hồi cũng
qua.
Phúc chúng sinh, phúc sơn hà
Không di luỵ, chẳng gươm pha máu hồng.
Ai
xoay thế nước khôn cùng
Ai dằn lòng để bằng lòng đổi trao
Để bao trăn trở về sau
Với bao suy ngẫm thật lâu trong đời
Ngàn năm sắp sửa qua rồi
Câu thơ thắp đỏ những lời tạ ơn.
DẤU CHÂN LÔNG NGỖNG
(Cổ
Loa 9/2010)
Bốn bên tường gạch vữa vôi
Dấu chân phàm tục mấy hồi lại qua
Hanh hao màu đá gan gà
Hanh hao sắc lụa choàng qua hình
người
Ai thương, ai giận, ai cười
Loa Thành xoáy cuộn mấy hồi quặn
đau
Nỏ thần nào có thấy đâu
Lưỡi gươm oan nghiệt ngàn câu phẩm
bình
Ai mê đắm giữa hư vinh
Để tan nát một mối tình ngây thơ
Bao giờ hay chính bây giờ
Dấu chân lông ngỗng lờ mờ đâu đây
(?)
(Thăm đền Thái sư Lê Văn Thịnh)
Thao Giang để hận ngàn đời
Tiếc khoa thi ấy có người đỗ cao
Khéo khôn chi giữa ba đào
Giỏi giang chi giữa quần hào thế
gian
Mải mê chi chữ minh quan
Để rồi mãi mãi hàm oan trọn đời.
Văn chương đành lẽ giết người
Cung tên, giáo mác ngạo cười thế
gian.
Hình rồng còn mãi không tan
Tai lành tai điếc vô can đứng
ngoài.
Cõi xa giờ đã êm trời
Cõi gần mưa gió tạnh rồi cần chi
Đời sau đau khúc phân ly
Buồn sao rồng đá nằm ì nơi đây
Sao không sáng tỏ ban ngày
Để bao ngờ vực đắng cay trong lòng
Để bao nhiêu những thẳng cong...
Chép câu thơ với ước mong hiểu người.
Bỗng đâu lá rụng hoa rơi
Bỗng đâu ngọc đá một thời nát tan
Bỗng đâu dậy đất hàm oan
Bỗng đâu máu đỏ dương gian ngập đầy
Ơi người bán chiếu Hồ Tây
Câu thơ ướm hỏi chứa đầy vấn vương
Trách chi nguyệt thẹn hoa nhường
Thâm cung hẹp lối đành vương luỵ đời
Dạy bao nhân nghĩa cho người
Còn mình đành để đất trời ghét
ghen
Trách chi phẩm đỏ, tay hèn
Làm sao tránh được trắng đen ẩn
hình
Những là oan khuất phận mình
Một loài rắn trắng tuyệt tình đáng
thương
Một tay thí nghịch bạo cường
Một thân mệnh phụ ví phường nguyệt
hoa.
Mấy ai hiểu được cho bà
Đành gieo đôi vận kết hoa dâng người
Chiều Côn Sơn vạn tiếng cười
Mênh mông hoa nắng một trời gió
đông..
Thế rồi mọi lẽ đều qua
Chỉ còn đây với hai bà họ Trưng
Lời thề ai cũng đã từng
Lên ngôi cũng bởi có chừng ấy câu
Sử Nam ghi nhận công đầu
Thù chồng, nợ nước càng sầu trong
tâm
Hát Giang lòng bỗng khôn cầm
Hồn thiêng muôn thuở biết nằm nơi
đâu
Vết thương lòng mãi khắc sâu
Khăn nào thấm hết giọt sầu tuôn
rơi
Hoa vàng dậy sắc bên trời
Thuyền vàng thấp thoáng
bóng người trên sông.
(Chùa Hun
thờ Nguyễn Trãi)
Ai hun khói giữa rừng sâu
Những hầm than nguội lừ lâu bên
rào
Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào
Cất vào đâu để đi vào tuyết sương
Câu thơ nhân ái, yêu thương
Hùng tâm tráng khí vô thường còn
đây
Nghe đàn suối, uống rượu cây
Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi
niềm
Bỏ đằng sau những tị hiềm
Để quay trở lại mà phiền lụy thân
Nỗi đau đâu chỉ một lần
Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng
qua…
Oan khiên đâu dễ tìm ra
Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu
Ai hun khói giữa rừng sâu
Sáu trăm năm chửa nhạt mầu bi
thương.
(Côn Sơn 2008)
Đến Thạch Bàn của ngày xưa
Lắng âm thanh cũ nhặt thưa dội về
Suối mùa đông nước cạn khê
Lối mòn chen chúc đá kê đứng nằm
Đã qua gần sáu trăm năm
Vẫn vang vọng tiếng thơ ngâm não nề
Nền xưa hoang vắng tái tê
Đá xưa còn tỏ câu thề nước non
Trí nhân ơi một lối mòn
“Đã may đến thế rồi còn không may”
Giặc ngoài người trị thẳng tay
Giặc trong ai đó đứng ngây để nhìn
Thạch Bàn ơi hãy lặng im
Viết câu thơ mới đi tìm người xưa.
(Quan Đình 9/2007)
Rời
xa xứ Bắc từ lâu
Gửi câu Quan họ qua cầu gió đưa
Mảnh
vườn thu của ngày xưa
Một mình mẹ với dư thừa đắng cay.
Đôi tàu lá chuối lót tay
Một nùn rơm chắn heo may lọt vào.
Ai
mơ trời rộng mây cao
Ta mơ tìm thấy lối vào ngày xưa
Ai
mơ khăn áo đón đưa
Ta mơ ngửi chút hơi thừa mẹ thôi.
Mơ vòng tay mẹ làm nôi
Để con lần nữa được ngồi vào
trong.
Chợ
chiều ai đợi, ai mong
Một chim cơm nắm trong lòng bàn
tay
Tiền
công dài suốt một ngày
Không ăn dành lại chút này cho
con.
Mấy
mươi năm tưởng lớn khôn
Lạ sao vẫn cứ trẻ con thuở nào
Ai
mơ muôn điệu thanh cao
Ta mơ tay mẹ vỗ vào sau lưng.
(Tháng 9/2010)
Lại về sông Lấp[2] quê
ta
Tìm câu thơ đã trôi xa thuở nào
Đâu rồi ngõ phố Hàng Thao
Xôn xao Máy Điện, ồn ào Máy Tơ.
Trống chầu ai để quay lơ
Mảnh trăng rơi giữa đôi bờ Đò Quan
Dốc cầu lên xuống ríu ran
Lỏng tay ga, ngắm cung đàn chăng
dây[3]
Bâng khuâng gió cuốn, mây bay
Lối xưa sông Lấp ở đây đâu rồi.
Em nào có nghiện rượu đâu
Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.
Có say thì đã say rồi
Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.
Say từ mới nở hoa cau
Chẳng cần mặc cả trước sau thế
nào.
Say từ rời chỏm trái đào
Đến nay lấm tấm bước vào tuyết
sương.
Đã qua khắp các công trường
Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô
Giường ghép ván, gạo đựng xô
Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu
Mưa rơi chảy ướt trên đầu
Đành ngồi bó gối nhìn nhau mà cười.
Có say, lúc ấy say mười
Bữa nay chẳng biết uống rồi có
say.
Rõ là những đắng cùng cay
Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.
Uống cùng em… một chén thôi
Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu
Nuốt vào hết mọi nỗi sầu
Để say như thuở ban đầu mới quen.
(Tháng 10 –
2003)
Trở lại quê ai đất Lọc Hà
Sông đào năm cũ vẫn vươn xa
Xanh om đất ruộng hai bờ lúa
Ngói đỏ ai kia mới cất nhà.
Tìm lại vuông sân cái Tý nằm
Ngôi nhà ốm yếu suốt quanh năm
Có bao người vợ nghèo năm ấy
Đã trải qua thời cuộc khó khăn.
Những nghị ngày xưa đã ở đâu
Một đời mưu mẹo, kế nông sâu
Gớm thay cho bọn người đen bạc
Vẫn cứ nhăm nhe định ngóc đầu.
Ai khóc cho đời những đắng cay
Bên đèn con chữ xót đau thay
Muôn sau vẫn nhớ ngày u tối
Đèn tắt, màn đêm bóng phủ dầy
Đất trũng năm nao đất lại đầy
Quê làng “Đông Xá”đã đổi thay
Vươn ra đã khắp trong làng nước
Phố Lọc chiều xuân ngây ngất say.
Thế rồi người ấy không trở lại
Động tiên bao đời vẫn còn đây
Đường ấy lên trời hay chui xuống đất
Mãi tận bây giờ ta vẫn chẳng hay…
Chẳng phải đã cuộc đời tiên, bụt
Sống muôn năm, sung sướng quanh
năm
Cung điện nguy nga, vàng son rực rỡ
Đời tiên, người đẹp tuổi trăng rằm
Chẳng phải đã đến trời hạnh phúc
Chẳng còn gì đời phải lo toan
Vật lạ, của ngon có dư bao thức
Khác xa vời kiếp của trần gian
Câu chuyện cổ không ai không biết
Từ ngàn xưa còn đến bây giờ
Như nhắn gửi muôn đời sau nữa
Mối nhân sinh đâu dễ phai mờ
Ta chợt hiểu bên ta là đồng loại
Dẫu vui buồn no đói vẫn cùng nhau
Xin hãy để hoà cùng thời đại
Đừng bao giờ chia cắt để lòng đau
Ta chợt hiểu sau bao nhiêu trốn chạy
Một mai đây người sẽ quay về
Như Từ Thức trong câu chuyện cổ
Sẽ giật mình qua khỏi những vòng
mê.
(Đền thờ Nguyễn Trãi 2005)
Khi ném thẻ chém ba đời vị quan lớn
ấy
Có ai nhắc một lần về Sách bình
Ngô
Khi trố mắt nhìn dòng thơ rỏ máu
Có ai nhớ ngày xưa ngọn bút dựng
cơ đồ
“Giá áo túi cơm” dẫu ở đời nào
cũng có
“Tát nước theo mưa” nào ai đã nhận
ra
Nên cái vận, người hiền không
tránh nổi
Hiềm khích làm đau bao trang sử nước
nhà
May có một người cất công tìm kiếm
Chút tâm từ trong giữa đám sương
sa
Hình sao ấy dù đã về chớp sáng
Còn có bao điều day dứt cuối trời
xa.
Con đến nhà thầy một chiều
cuối hạ
Cỏ cây xanh nắng bên đường.
Gốc đá ngổn ngang ai vừa xếp lại
Bâng khuâng, nền cũ ngôi trường
(!)
Sáu trăm năm khoảng cách chưa dài
Chuyện về Đầm Mực[4] còn đau
Sớ thất trảm, những dòng thẳng đứng
Hồn xưa, nay đi về đâu (?)
Ai chép lại những dòng thơ cũ
Mưa rơi trên sườn đá ngửa nghiêng
Câu chữ, tình đời vẫn còn nguyên
đó
Năm tháng qua rồi dễ đâu lãng quên
Hoang vắng ngày nào, giờ đây đã
khác
Đền mới vừa xây, hoa nở bên hè
Cháu con khắp vùng, nén hương ngày
giỗ
Phượng Hoàng[5] gọi nắng thu về.
Từ nơi ấy những gì sót lại
Mái lầu cao nhòm sóng trùng khơi
Khoảng vương giả, cuối cùng thời đại
Gió mây còn lồng lộng chưa thôi.
Mảnh sân đá muốn rời đi mất
Khoảng hồ con, dở khúc đê ngăn
Con sóng đục, rợn màu của đất
Vỗ lên bờ đã mấy ngàn năm…
Ngoài xa kia, ngàn vạn xa xăm
Cõi sống ngấm ngầm những lời thủ
thỉ
Mở ra bao ảnh, bao hình
Những trời lớn, trời con xây thành
đắp luỹ
Một góc Vạn Hoa[6] sao có thể yên lành.
Rời Hà Nội từ chiều thu ấy
Phút chia xa không nói câu gì
Những kỷ niệm tháng năm tuổi trẻ
Cứ âm thầm theo với người đi.
Hà Nội trong ta, cánh đồng xanh
lúa
Nước sông Hồng đầy ắp lưng đê
Những con sóng trong mùa nước dữ
Bao lo toan từ miền ngược đổ
về.
Hà Nội trong ta, những xóm, những
làng
Hòn đất ngoại thành nóng sôi mùa vụ
Hết lúa lại ngô, nối nhau chín rộ
Rau, củ tươi non, chăm bón quanh
chiều.
Hà Nội trong ta, chất chứa bao điều
Có cái nhà quê của cha, của mẹ
Có dáng hình em dịu hiền, nhỏ nhẹ
Như hoa nở giữa đồng xanh.
Hà Nội trong ta, là xóm ngoại
thành
Cây trái, ruộng đồng, bờ tre, bến
nước
Phố rộng, nhà cao đâu có xa xôi
Cái riêng mình, chỉ một ngoại
thành thôi.
(Thạch Thuỷ năm 2006)
Chi bộ ở quê toàn những người nhà
Cha, chú, cháu, con gọi nhau đồng
chí
Nghị quyết đề ra…bao đêm suy nghĩ
Dẫu sao cũng vẫn phải xong.
Xóm dưới, năm nay nợ sản còn đông
Cánh trũng, nhiều nhà bỏ liền mấy
vụ
Kinh tế làng ta cũng chưa đầy đủ
Người nghèo giờ vẫn đang còn (!)
Phương hướng mới, năm nay rất rộng
Việc làng, việc xã nhiều thêm
Chi uỷ giờ đây rất cần trẻ hoá
Miệng nói, tay làm công việc mới
nên.
Đoàn thể mới rồi cũng vừa phát động
Hội người tuổi cao, hè của thiếu
niên
Băn khoăn mãi chuyện Làng văn hoá
Đến bao giờ mới được ghi tên (?)
Mương máng nội đồng cũng cần làm mới
Rầy, nấm vụ này, chuột, sâu vụ tới
Cày bừa, giống mạ, tưới tiêu
Thời vụ tới rồi, muôn việc kéo
theo.
Chi bộ ở quê toàn những người nhà
Nghị quyết đề ra bám vào đồng ruộng
Công việc mùa màng, quanh năm bận
rộn
Đều là việc Đảng, việc dân.
Bông hoa đèn trôi mãi trên sông
Vẳng xa những câu Nam, câu Lý
Lời mời gọi vô tình hay hữu ý
Có ai về với Huế của em không (?)
Về với Huế từ lâu đã muốn
Ngắm vàng son để nhớ ngày xưa
Nghe câu hát thấy tình sông núi
Mấy trăm năm còn đó những triều
vua
Những mảnh sứ nở hoa trên tường,
trên cột
Mái ngói lưu ly cháy rực buổi
hoàng hôn
Khuôn mặt đá sao im lặng thế
Dấu chân nào từng qua cửa Ngọ Môn
(?)
Chào đây Huế quãng đường xa ngái
Câu thơ da diết gọi ta về
Vườn xưa vẫn “mướt xanh màu ngọc”[7]
Đỉnh đồng cao ươm nắng sau hè.
Ta đến Huế chợt thấy hồn đã Huế
Trái sầu riêng ai bán chợ Đông Ba
Bát cơm hến ai mời bên ghế
Ngụm chè sen ai rót dưới hiên nhà.
Về với Huế! Hôm nay về với Huế
Nước dòng Hương em hát đợi chờ
Chuông Thiên Mụ thắp niềm xao xuyến
Để cho lòng say hết một mùa thơ.
Qua ba làng Mịn
Qua chín làng Chờ...[8]
Câu ca hò hẹn đâu ngờ... nhói đau
Anh đi về đâu
Em đi về đâu
Vòng chỉ nối dây, một lời ngày ấy
Để rồi tan nát lòng nhau.
Ngày hội xa rồi
Câu ca xa rồi
Sông vẫn chảy, đò vẫn trôi
Chỉ có lòng người chẳng trôi, chẳng
chảy
Chờ hoài mấy chục mùa xuân.
Mỗi năm một lần mặc áo tứ thân
Mỗi năm một lần xuống đò đi hội
Vạt áo mưa dầm
Câu ca mời gọi
Dòng sông lững lờ...
Qua ba làng Mịn
Qua chín làng Chờ...
Mùa xuân! Xưa với bây giờ,,, Đã
xa!
(Châu Can 10-2007)
Trưa nay giữa mênh mông trời đất
Khát quê hương, nhớ về một miền
thơ
Đường đất, ao bèo, nhà tranh trống
vắng
Suốt trăm năm hình ảnh chửa xa mờ.
Hỏi khắp hết ruộng vườn, núi non,
sông biển
Ai họ hàng, ai máu mủ ruột rà
Không… không hết!
Giữa trời trưa vắng!
Khói đồng lên trong xao xác tiếng
gà...
Ngồi lại bên đê với bao điều ngao
ngán
Trách ai… Ai trách?
Ngàn năm không thể trả lời
Để phải sống, phải còn trong năm,
tháng
Biết bao tình, đành dứt áo để chia
phôi.
Trở lại thăm nhau, tìm ai còn, ai
mất?
Cuộc đời thường…
Đồng tiền, bát gạo đã đủ đâu!
Cái nghèo đã ngăn đường, chặn lối
Để lòng người đầy những buồn đau.
Trưa nay với bao điều được, mất
Về nhà đây…sao chẳng có nhà?
Trên bãi vắng mấy trăm ngàn nấm đất,
Nấm nào kia…tiên tổ, ông bà?
Ra đi!
Ra đi, đâu phải là tội lỗi!
Không về!
Không về, vì bao lẽ cản ngăn!
Mảnh đất còn nguyên mà đành từ chối
Gió bên trời xoa trắng một vành
khăn.
Nén hương con!
Nén hương con, gửi vào trong gió
Câu khấn thầm ai nghe được mà nghe
Trời xa xứ, những ngày lo kiếm sống
Vẫn mơ hồ xao xác giục ngoài kia.
Ra đi!
Ra đi, để rồi ra đi mãi!
Nắm xương tàn rơi trắng một màu
tro
Bay tơi tả, lạc loài nơi đất lạ
Cuối chân trời đau mãi một miền
thơ.
Lâu lắm, mới về chùa cũ
Hội qua rồi, khách vẫn còn đông
Núi mọc thêm cây, chùa thêm nhà mới
Lối xưa vi vút rừng thông.
Bên tai thoảng tiếng chuông, tiếng
mõ
Nắng chiều, soi bậc đá hao gầy
Màu quỳ cháy ánh đèn rực rỡ
Khói hương cầu xoa mắt mãi còn
cay.
Trên đá có bao điều giảng giải
Mấy ai đọc được chữ ngày xưa
Mẩu huyền thoại Huyền Trang, Điểm
Bích
Mãi mơ hồ sau tấm mành thưa
Ai đã dựng giữa nơi hoang phế
Một vùng hư ảo huyền vi
Để trần thế thành nơi cực lạc
Để bao người ao ước đến rồi đi...
(Tháng 5 năm 1997)
Thế rồi cũng một lần tìm đến
Cõi trần gian những nhận cùng cho
Vòng tràng hạt không đầu, không cuối
Cuộc luân hồi ai đó mãi giằng co.
Vũ trụ vốn chẳng hề bé nhỏ
Quãng đường xa, đi mãi càng xa
Ai tìm thấy nơi nào hạnh phúc
Dắt cho đời theo đó mà ra.
Người xưa cất chùa về nơi ấy
Giữa rừng già, dốc ngược lên cao
Miền quả phúc ai kia giấu kín
Áo cà sa vàng lối đi vào.
Khép lại một vòng, nơi danh thắng
Bâng khuâng, làng xóm xa mờ
Chiều tan loãng cuốn theo bóng nắng
Nhuộm hoàng hôn dần tím bên chùa.
(8/2008)
Ta đếm thời gian lần lượt đi qua
Một ngày, lại một ngày tiếp nối
Thời gian giống như là tiếng nói
Nhắc ta về những gì đã xa.
Ta đếm thời gian lần lượt đi qua
Nhanh và chậm mỗi khi một khác
Dài vô tận, trong nỗi niềm khao
khát
Ngắn vô cùng trong từ biệt người
thương...
Ta đếm thời gian lặng lẽ trong
gương
Ngơ ngác với mái đầu bạc trắng,
Im lặng với màu da xạm nắng
Giật mình, mau mắn vậy sao (?)
Ta đếm thời gian trong những cơn
đau
Mòn mỏi với mùi cồn, mùi thuốc
Cây gậy chống, dựa nơi cửa trước
Khoảng qua rồi ngao ngán gửi về
đâu.
Ta đếm thời gian trong hố mắt sâu
Bên dưới lớp thuỷ tinh dày cộp
Thời gian với bao ngày tan hợp
Nối nhau hoài trong những cơn
say...
Ta đếm thời gian từ bấy lâu nay
Không nhớ nữa, những gì đã đến
Nửa thế kỷ mải mê tìm kiếm
Khoảng ngắn dài ai có giống ai
Ta đếm thời gian chờ những ngày
mai.
Giếng Tiên sao lại ở trần gian
Giữa những mê tơi cỏ ngập tràn
Dưới đáy khô rang không có nước
Chỉ thấy hơi lên nặng vữa bùn
Bao người đến ngó nghiêng bỡ ngỡ
Giếng là Tiên hay giếng chẳng hề
Tiên
Giếng là giếng như chính là giếng
vậy
Có khó gì đâu cho một cái tên
Ta theo đời đến đó mà xem
Ôi giếng nước mà chẳng hề có nước
Điều duy nhất mà ta thấy được
Những mơ hồ ai đó nói về Tiên.
(Tặng chị Thu
Mùa)
Sáng xuân nay trở lại Trà Xuyên[11]
Tìm người của mấy mươi năm trước
Câu quan họ tan trên mặt nước
Lối xưa dường vẫn chưa quên...
Trà Xuyên ơi, mùa rau còn nguyên
Trăng mười bốn vẫn chưa tròn hết
Vạt áo nâu non, mùi hương bồ kết
Vẫn còn thoang thoảng đâu đây...
Tôi đi tìm “em” trong hương rượu
say
Dù biết chẳng bao giờ gặp lại
Dù mai sẽ càng xa vời vợi
Hết xuân rồi, người vẫn không
quên.
Có một thời ...
Ta yêu mãi...
Trà
Xuyên (!)
[1]Những quần
thể trong khu đề Chu Văn An
[2] SôngVị
Hoàng trong thơ Trần Tế Xương
[3] Cáp
cầu Đò Quan Nam Định
[4] Dựa
theo truyện Học trò thủy thần
[5] Nơi
có đền thờ Chu Văn An
[6] Nhà
nghỉ của vua Bảo Đại ở Đồ Sơn Hải Phòng
[7] Lấy
ý từ thơ Hàn Mặc Tử
[8] Lấy
ý qua câu cách ngôn của địa phương
[9] Nơi
Huyền Trang vị tổ thứ 3 thiền phái Trúc Lâm trụ trì
[10] Nơi
Pháp Loa vị tổ thứ 2 thiền phái Trúc Lâm trụ trì
[11] Một
làng quê thuộc Yên Phong Bắc Ninh
|
|
Người
đăng: lehoa4754blogger.com vào lúc 21:16 Không
có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015
VẪN LÀ HOA CỎ MÙA XUÂN
Vẫn là hoa cỏ ấy thôi
Xuân sang, xuân cũ thế rồi lại
xuân
Để cho ai đó tần ngần
Tiếc thời gian giữa bao lần xuân
qua
Thơ đời mơ mộng phù hoa
Để rồi cứ thế tuổi già đơn côi.
Khóa thời gian sắp đóng rồi
Vẫn còn mê mải đôi hồi cùng xuân
Ta thương ta đến vô ngần
Bẩy mươi mấy chặng đường trần ruổi
rong
Ai thương, ai đợi, ai mong
Ai chê, ai trách, ai chòng ghẹo
đâu
Cuộc đời bãi bể nương dâu
Có là chi những sắc mầu viển vông
Thế rồi xuân lại sang đông
Vẫn hoa cỏ ấy mênh mông đất trời
Cho ta rót chén rượu mời
Câu thơ mộc mạc cất lời sang xuân.
.
HẸN TRONG MƠ
Ngày nào em của riêng anh
Bỗng dưng xa cách em thành của ai
Tôi đi chiến trận lâu dài
Thương em đợi mãi, đợi hoài ngày
xanh
Tơ duyên mình khéo mong manh
Thế rồi anh chợt hóa thành người
dưng
Bao lần… có gặp hay đừng (?)
Cứ phân vân cứ ngập ngừng rồi thôi
Biết đâu khi gặp mặt tôi
Thế rồi em phải chia phôi với chồng
Một tay con bế, con bồng
Thân cò, thân vạc giữa đồng cô đơn
Biết đâu tình mới sâu hơn
Lạnh lùng em dỗi, em hờn ngày xưa
Anh thành tro lạnh gió đưa
Mắt xanh hoang vắng như chưa bao
giờ
Để anh thành kẻ dại khờ
Thấy sang tìm đến nhận hờ người
ta.
Nhỡ ra... rồi lại nhỡ ra…
Thêm mười năm nữa đi qua cuộc đời
Hôm qua chết lặng giữa trời
Em buồn, em giận, nửa lời cũng
không
Em đâu đã chịu lấy chồng
Cứ chờ anh để xuân hồng phôi pha
Thôi thì cũng tại trời già
Chúng mình có phận nhưng mà không
duyên
Giờ đây ván đã đóng thuyền
Mong anh vẫn cứ y nguyên thuở nào
Xuân nay dưới bóng hoa đào
Cùng ai hò hẹn lại vào trong mơ.
XUÂN AI NGÀY ẤY BÂY GIỜ
Xuân buồn cứ lặng lẽ qua
Em là em của người ta mất rồi
Bến xưa ai đổi chỗ ngồi
Để bâng khuâng cả mặt đồi cỏ may
Bao giờ tay lại cầm tay
Mắt nhìn vào mắt mà say cả hồn
Bao giờ trăng đứng trăng tròn
Chẳng bao giờ nữa anh còn có em
Lửa tình ai đó vừa nhen
Câu sang thì đến, câu hèn thì
không
Anh về tìm chốn chợ đông
Để em đứng lại mà trông mà chờ
Xuân ai ngày ấy bây giờ
Lối đi cỏ mọc nhạt mờ xa xăm
NGHE CÂU HÁT XẨM
Nghe câu hát xẩm ngày xưa
Những đôi mắt nhỏ cứ ừa ựa…rơi
Ai kia khéo kể chuyện đời
Làm cho muối xát những thời đã xa
Câu nào than mẹ, than cha
Câu nào than cửa, than nhà, than
thân
Đôi tròng như cũng tối dần
Gợi ra muôn cảnh đường trần bi thương.
Bàn chân thập thững trên đường
Khúc tre khô cũng lật lường vặn
cong
Tấm lưng còng lại thêm còng
Đôi quai bị cói lòng thòng đu đưa…
Ôi câu xẩm của ngày xưa
Từ đâu xa lắc lại vừa cất lên
Cô đơn vắng lặng trong đêm
Ai vừa buông đó héo mềm hồn ai
Bao giờ cho đến ngày mai
Để tan bao nỗi u hoài bơ vơ
Nối vào muôn điệu đường tơ
Câu ca từ thuở ngây thơ lại về
Đêm nay chuốt lại ngón nghề
Gửi vào câu hát tràn trề tin yêu
Mưa xuân như ghẹo như trêu
Tiếng đàn như dệt như thêu cảnh đời
VIẾNG XUÂN
Xuân này thêm nữa hai xuân
Tình yêu em đã tắt dần trong anh
Nỗi đau mười tám xuân xanh
Năm mươi năm lẻ, lá cành lạc nhau
Anh về giữa trận mưa mau
Biết tin đã nửa năm sau mất rồi
Đồng không gió giật tơi bời
Thắp tuần hương để nói lời tiễn
đưa.
Ơi người yêu của ngày xưa
Chiều hoang một nấm trời mưa ướt đầm
Câu thơ tuôn chảy khôn cầm
Lặng im với một âm thầm chữ yêu.
Chiều nay như vạn buổi chiều
Xuân ai gửi gấm bao điều cho xuân
Dẫu chưa bể ái, nguồn ân
Dẫu chưa cưới hỏi, đã gần gũi nhau
Thói đời đắt lúa rẻ cau
Tơ duyên đành hẹn kiếp sau cùng
người.
TẾT LẠI VỀ
Mỗi năm tết đến một lần
Năm nay tết chỉ đến gần mà thôi
Em vào nằm viện mất rồi
Chong chong dây nước, anh ngồi cả
đêm
Đã gầy em lại gầy thêm
Một mình nằm đó, thân mềm như dưa.
Nhà mình sân vắng, đường thưa
Thiếu em, mọi thứ để thừa đấy thôi
Mọi ngày mâm đủ một đôi
Bữa nay cơm dọn mà rồi chẳng ăn.
Các con bối rối, băn khoăn
Cửa nhà bề bộn, áo khăn xuềnh
xoàng.
Mình anh việc xóm, việc làng
Lại lo thu dọn chỉnh trang cửa nhà
Dọn cây, tảo mộ mẹ già
Đi thăm bè bạn, gọi là cuối năm.
Tết mình dần cứ xa xăm
Em còn nằm đó ai chăm bây giờ…
Hôm qua vui đến bất ngờ
Con về kể bệnh mẹ giờ bình yên
Thế là tết lại vui liền
Quất, đào anh lại lấy tiền mua
ngay
Trái trăng hoa quả đã bầy
Rượu chè, bánh trái xếp đầy trên
ban
Khói trầm hương đã tỏa lan
Bạn bè, con cháu hỏi han nói cười
Hôm nay tết lại về rồi
Cành đào trước cửa nảy chồi sang
xuân
Chủ Nhật, 21 tháng 9, 2014
QUA BẾN NHẠN LOAN
(Nhớ về tướng quân Trần Khánh Dư)
Tiểu mãn đang về trắng cả sông
Nhạn Loan Cổ Độ rộng mênh mông
Bác tiều xếp gánh chờ lên bắc
Chú lái thu chèo đợi xuống đông
Nắng muộn vẫn vương trên bãi sậy
Sương chiều đã phủ mé đồi thông
Thuyền than ẩn hiện vừa đi khuất
Để lại đôi bờ nước trống không
HUYỀN THIÊN CỔ TỰ
Đến cửa Huyền Thiên nắng đã nhòa
Khói trầm ngào ngạt tỏa bay xa
Nền xưa nắng đốt phơi son đỏ
Đường mới mưa chan nổi đá già
Ngọc Đế mở đường nơi Cảnh Giới
Phật Hoàng dẫn lối chốn Ta Bà
Câu kinh nhật tụng vừa vang vọng
Ngàn ánh sao bay trắng Nguyệt Hà.
TÌM DẤU THÀNH PHAO
Vài đống gạch non xếp chẳng đầy
Thành Phao còn lại bấy nhiêu đây
Minh Hồ mấy bận tan bờ bãi
Lê Mạc từng phen nát cỏ cây
Sườn núi quanh co làn khói phủ
Triền sông mờ mịt đám sương dầy
Cánh đồng làng Ngọc đang vào vụ
Rộn rã âm vang tiếng máy cầy
Thứ Tư, 3 tháng 9, 2014
TÌM THƠ
Ta đã đi tìm, từ ấy chưa thôi
Mùa chim én bay hoài trong nắng
Từng qua hết bao mùa xa vắng
Tưởng bao lần rời rã để buông
xuôi.
Ta vẫn đi tìm, từ bấy chưa nguôi
Mùa xuân mới qua từ lâu lắm
Mà chưa thấy đâu làn hơi ấm
Nắng trưa nghèo, vài sợi chăng tơ
Đã quen rồi mà sao vẫn bơ vơ
Tình trăng gió lấp đầy trên mặt giấy
Tình sông núi, tình em tìm không
thấy
Để thơ buồn, buồn mãi những ban
mai.
Ta đã yêu, muôn dặm hồn ai
Nghe trong đất, mùa khô ngàn cơn
khát
Nghe trong gió, chiều hoang niềm
xe xắt
Tiếng ru hoài man mác giữa cô
liêu.
Ôi câu thơ, bao giằng xé trong yêu
Một hạt bụi, một tia trời rực rỡ
Như ta đó bao vết hằn rạn vỡ
Giữa muôn ngàn tia chói cuối chiều
xa.
THÁNG CHÍN
Tháng chín này cả ba bố con chung
Ngày sinh nhật nối gần đôi con số
Hai cô bé cứ ở bên cạnh bố
Bánh kem mềm chan mật tiếng cười
con
Bố luôn nghèo chẳng có thứ gì ngon
Một chút lương hưu chẳng bưa đôi bữa
rượu
Nên quần áo cũng chẳng mơ hàng hiệu
Cứ chợ giời là đủ kín tay chân
Bố luôn nghèo bởi ít những người
thân
Lại chẳng thể cận kề trong gặp gỡ
Đường xa quá vé tàu không đủ chỗ
Một chút quà gặp mặt lại càng
khem.
Bố luôn nghèo vì thưa vắng anh em
Cha mẹ đói, để lạc từ khi trước
Vì như thế nên cứ thầm mơ ước
Cháu con nhiều cho vợi bớt cô đơn.
Có một điều muốn dặn các con hơn
Dù vất vả vẫn giữ lòng trong sạch
Làm thân gái quyết giữ gìn trinh bạch
Để gia đình luôn trong ấm ngoài êm
Còn một điều, bố muốn dặn thêm
Sự nghiệp gia đình mới là đáng kể
Phải chăm chút từ khi còn trẻ
Để mai ngày gia cảnh tốt hơn lên…
Tháng chín rồi, các con nhớ hay
quên
Mừng sinh nhật, hãy vui lên cùng bố.
MÙA THU
Hình như là tiếng mùa thu
Từ ngày hôm ấy mịt mù gió sương
Ngỡ là đứt mối tơ vương
Lại về lặng lẽ đánh đường tìm nhau
Lại về xới lại cơn đau
Làm cho khô héo cả cau, lẫn trầu
Đã tan, từ lúc ban đầu
Khơi làm chi nữa nỗi sầu mùa thu
Hình như vẳng tiếng ai ru
Chuyện tình năm ấy cho dù đã xa
Trái tim dường vẫn chưa già
Cứ luôn thổn thức để mà nhớ thương
Người đi xa mấy đoạn trường
Sao còn vương vấn đón đường tìm ta
Để rồi tình mãi không xa
Tiếng mùa thu lại bay qua gợi buồn.
UỐNG RƯỢU KHÔNG SAY
Chỉ mong uống để cho say
Xóa đi tất cả đắng cay trong lòng
Chén đời ai cứ xoay vòng
Trút bao quên nhớ vào trong chén
này
Buồn vui bao tháng bao ngày
Theo mây theo gió mà bay lên trời
Thương ta bao chén chào mời
Uống bao nhiêu thế mà rồi chẳng
say
BÀI THƠ VỀ MẸ
(Tặng các bà mẹ có con là liệt sĩ)
Khi tôi ra mặt trận mẹ không dám
khóc
Sợ con buồn rồi mẹ lại buồn thêm
Mẹ khẽ vén lại tấm khăn buộc tóc
Có ai ngờ trắng hết chỉ một đêm
Mẹ dặn dò, rồi lại dặn dò thêm
Việc non nước với con là nghĩa vụ
Dù gian khó phải kiên gan bám trụ
Đánh quân thù cả nước đã không
lui…
Hãy thương ta để cho mẹ ta vui
Bởi của mẹ cái gì cũng quý
Và hãy giữ, dù chỉ là một tý
Chút thịt xương mẹ gửi gấm vào ta
Đừng bao giờ tùy tiện xa hoa
Thịt xương mẹ mà ta đang giữ
Chín tháng hoài thai, một ngày ở cữ
Mẹ vui cùng con, mẹ sống cùng con
Ta biết ta còn nợ với nước non
Không thể vì mình, cân đong nặng
nhẹ
Và như thế nỗi buồn của mẹ
Đã bao lần, các con đã từng quên
Ngày trở về da thịt chẳng còn
nguyên
Mẹ chợt khóc, nắn sờ từng chỗ một
Trên gò má, nước mắt lăn từng giọt
Bao anh em trong xóm đã không về…
Khi con đi cũng chỉ một lời thề
Hiến xương máu để mong ngày độc lập
Coi cái chết sẽ vô cùng cao đẹp
Tặng cho đời bằng chính sự hy sinh
Con trở về, lòng vẫn đinh ninh
Xương thịt, tâm hồn đã dành cho đất
nước
Ngày mai tới chẳng thể nào dừng bước
Mẹ có buồn … khi con mẹ đã hy sinh
!
Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014
THƠ ĐIỆN
Thơ điện nói gì cũng điện
Như đời ta điện mãi kề bên
Mùa đông rét bếp hồng hơi ấm
Lúc sang hè vòng quạt suốt ngày
đêm
Mỗi cuộc đời đâu có dễ quên
Đĩa đầu thắp lờ mờ gác nhỏ
Giờ như giữa thiên hà trăng tỏ
Chính là ta xoay lưới điện soi vào
THƠ MÁY MÓC
Chớ bảo khô khan khó tỏ lời
Tình thơ máy móc chẳng hề vơi
Dù khi bụi khói vương đôi chỗ
Lại lúc than dầu đọng mấy nơi
Tường thép nóng ran cơn nắng dãi
Mái tôn lạnh ngắt trận mưa rơi
Mấy ai hiểu được bên trong đó
Đêm trắng canh tàn chẳng nghỉ
ngơi.
Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015
HẢI DƯƠNG THI KHÚC
CÔN SƠN CẢM TÁC
Lâu lắm, mới về chùa cũ
Hội qua rồi, khách vẫn còn đông
Núi mọc thêm cây, chùa thêm nhà mới
Lối xưa vi vút rừng thông.
Bên tai thoảng tiếng chuông, tiếng
mõ
Nắng chiều, soi bậc đá hao gầy
Màu quỳ cháy ánh đèn rực rỡ
Khói hương cầu xoa mắt mãi còn
cay.
Trên đá có bao điều giảng giải
Mấy ai đọc được chữ ngày xưa
Mẩu huyền thoại Huyền Trang, Điểm
Bích
Mãi mơ hồ sau tấm mành thưa
Ai đã dựng giữa nơi hoang phế
Một vùng hư ảo huyền vi
Cho trần thế thành nơi cực lạc
Để bao người khao khát đến rồi đi…
VỀ THANH MAI
(Thanh Mai tháng 5 năm 1997)
Thế rồi cũng một lần tìm đến
Cõi trần gian những nhận cùng cho
Vòng tràng hạt không đầu, không cuối
Cuộc luân hồi ai đó mãi giằng co.
Vũ trụ vốn chẳng hề bé nhỏ
Quãng đường xa, đi mãi càng xa
Ai tìm thấy nơi nào hạnh phúc
Dắt cho đời theo đó mà ra.
Người xưa cất chùa về nơi ấy
Giữa rừng già, dốc ngược lên cao
Miền quả phúc ai kia giấu kín
Áo cà sa vàng lối đi vào.
Khép lại một vòng, nơi danh thắng
Bâng khuâng, làng xóm xa mờ
Chiều tan loãng cuốn theo bóng nắng
Nhuộm hoàng hôn dần tím bên chùa.
DÂNG LỄ CHÙA LÀNG
(Hội chùa Thuỷ tháng 11 năm 2009)
Chùa làng chật những người đi lễ
Tam bảo nhoà hương bao lớp vàng
son
Bao kiếp đường tu ai đã trải
Mộng nào hơn khi quả phúc vuông tròn.
Nào đâu những trầm luân bể khổ
Những oan khiên, cơ nhỡ rối bời
Những khốn khó, giữa nơi trần thế
Hãy về đây cầu một đôi lời.
Muôn kiếp qua rồi nào ai biết được
Giờ đây chỉ một kiếp này thôi
Cuộc trần thế tự do hạnh phúc
Phật từ bi độ đến cõi ta rồi.
Xin cho mỗi trẻ già, trai gái
Khắp trăm miền với những ước mơ
Cuộc sinh kế no cơm, ấm áo
Và đời riêng phận đẹp, duyên ưa.
Xin cho với quê hương, đất nước
Muôn năm sau nguyên vẹn, bình yên
Cuộc đổi mới càng thêm bền vững
Mỗi ngày qua giầu đẹp hơn lên.
Về đây với hội chùa, hội xóm
Một tuần hương thơm ngát bay xa
Nơi cửa Phật cúi đầu làm lễ
Giữa muôn người, tĩnh lặng một hồn
ta.
THƯƠNG NGƯỜI CHỊU MỆNH
(Đền Nguyễn Trãi tháng 8 năm 2013)
Vào đền tìm đất tìm trời
Mà sao chẳng thấy dáng người nơi
đâu
Một anh hùng đủ tóc râu
Một thuyền quyên để bên lầu vắng
không
Rửa oan là rửa cho chồng
Tấm thân bồ liễu thì không thấy gì
Câu thơ cái thuở xuân thì
Phải đâu truyền tụng chỉ vì mua
vui
Đã không miếng ngọt miếng bùi
Cô đơn chịu mệnh ngậm ngùi ra đi
XUÂN THƠ
Ta đi trong bụi mưa xuân
Heo may sót lại lạnh dần sớm mai
Công trường, nhà máy nối dài
Cánh đồng quê, lúa bồi hồi bén
chân
Mải tìm câu chữ cho xuân
Bỗng đâu chọn được đôi vần cho thơ
Chí Linh ơi, tự bao giờ
Đã trong xuân đã trong thơ ngàn đời...
Năm nay lên thị xã rồi
Phố phường đồng ruộng bồi hồi vào
xuân (!)
VỀ PHẢ LẠI
(Ngấu hứng cùng bài Sông Lấp
9/2010)
Trở về Phả Lại quê ta
Tìm con phà đã trôi xa thuở nào
Đâu rồi lối ngược Đồi Cao
Bóng xanh áo thợ ồn ào vào ca.
Ánh đèn đêm thắp sáng loà
Mảnh trăng rơi xuống bên bờ Cảng
Than
Phố quê cười nói ríu ran
Tầu xe rộn rã ngập tràn nơi đây
Dạt dào gió cuốn mây bay
Lối xưa Hoà Lạc* ở đây khác rồi.
__________________________
* Tên phố trước khi xây nhà máy điện
DẤU XƯA
(Côn Sơn 2008)
Đến Thạch Bàn của ngày xưa
Lắng âm thanh cũ nhặt thưa dội về
Suối mùa đông nước cạn khê
Lối mòn chen chúc đá kê đứng nằm
Đã qua gần sáu trăm năm
Vẫn vang vọng tiếng thơ ngâm não nề
Nền xưa hoang vắng tái tê
Đá xưa còn tỏ câu thề nước non
Trí nhân ơi một lối mòn
“Đã may đến thế rồi còn không may”
Giặc ngoài người trị thẳng tay
Giặc trong ai đó đứng ngây để nhìn
Thạch Bàn ơi hãy lặng im
Viết câu thơ mới đi tìm người xưa.
CẦU XIN
(Văn An tháng giêng năm 2006)
Năm nay con đến giỗ thầy
Đền đài vừa mới dựng xây lại rồi.
Ngẫm xưa lều cỏ bên đồi
Cô đơn giữ đạo cho đời mà đau.
Một ông vua... chẳng dễ đâu
Dám theo thầy, để đối đầu các
quan.
Huống gì tàn ác gian tham
Có cam tâm để ngài làm thế
không(?)
Thương thầy dâng sớ mất công
Một thầy xin, một trò không nhận lời.
Chắp tay con vái tạ Người
Mong thầy nghe thấu đôi lời cầu
xin
Cầu cho giữ trọn niềm tin
Cầu cho non nước bình yên lâu dài.
THĂM ĐỀN THẦY
(Văn An tháng 12 năm 1983)
Chiều nay con đến nhà thầy
Trơ vơ sỏi đá, cỏ cây rậm rì
Rẽ gai lấy lối con đi
Tìm xem Giếng Ngọc, Miết Trì[1] ở
đâu.
Trường xưa nền đá dãi dầu
Một ngôi nhà nhỏ nhạt màu khói hương.
Phải vì Người giữ cương thường
Lấy điều giản dị nhún nhường vậy
sao.
Hay vì thầy đã cất cao
Lời trung liệt để chạm vào thần
oai
Sớ thầy động đến những ai
Mà nơi thờ cúng bỏ hoài gió sương.
Con xin thắp một tuần hương
Mong thầy đại xá thập phương còn
nghèo.
Mai sau non nước mạnh giầu
Đền thầy sẽ lại có lầu, có sân.
Mỗi năm con đến một lần
Dâng thầy một nén hương trầm lên
mây.
Thưa thầy con nguyện theo thầy
Cho dù lở đất long cây không rời
Bâng khuâng một cảnh, một người
Heo may lồng lộng thổi hoài chiều
đông.
GỐM
(Cổ Thành tháng 3 năm 2008)
Ai kia gươm giáo xông pha
Ngưòi trong lịch sử chỉ là áo cơm
Lặng thầm đi giữa củi rơm
Vẫn trung trinh vẫn thảo thơm đủ đầy
Bến Chiền trần trụi hao gầy
Tựa sườn đê một chút này nhỏ thôi
Khói hương ngào ngạt chơi vơi
Gói bên trong Gốm một thời đã qua.
ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀ THỊ LỘ
Bỗng đâu lá rụng hoa rơi
Bỗng đâu ngọc đá một thời nát tan
Bỗng đâu dậy đất hàm oan
Bỗng đâu máu đỏ dương gian ngập đầy
Ơi người bán chiếu Hồ Tây
Câu thơ ướm hỏi chứa đầy vấn vương
Trách chi nguyệt thẹn hoa nhường
Thâm cung hẹp lối đành vương luỵ đời
Dạy bao nhân nghĩa cho người
Còn mình đành để đất trời ghét
ghen
Trách chi phẩm đỏ, tay hèn
Làm sao tránh được trắng đen ẩn
hình
Những là oan khuất phận mình
Một loài rắn trắng tuyệt tình đáng
thương
Một tay thí nghịch bạo cường
Một thân mệnh phụ ví phường nguyệt
hoa.
Mấy ai hiểu được cho bà
Đành gieo đôi vận kết hoa dâng người
Chiều Côn Sơn vạn tiếng cười
Mênh mông hoa nắng một trời gió
đông..
HUN KHÓI GIỮA RỪNG
(Chùa Hun Côn Sơn xuân 2011)
Ai hun khói giữa rừng sâu
Những hầm than nguội lừ lâu bên
rào
Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào
Cất vào đâu để đi vào tuyết sương
Câu thơ nhân ái, yêu thương
Hùng tâm tráng khí vô thường còn
đây
Nghe đàn suối, uống rượu cây
Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi
niềm
Bỏ đằng sau những tị hiềm
Để quay trở lại mà phiền lụy thân
Nỗi đau đâu chỉ một lần
Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng
qua…
Oan khiên đâu dễ tìm ra
Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu
Ai hun khói giữa rừng sâu
Sáu trăm năm chửa nhạt mầu bi
thương.
DÂNG HƯƠNG ĐỀN KIẾP BẠC
(Đền Kiếp Bạc tháng 2 năm 1986)
Đầu xuân con đến dâng hương
Xe đi suốt một quãng đường loanh
quanh
Dốc lên, hố xuống gập ghềnh
Bờ đê con chạch chênh vênh hiểm
nghèo
Rặng tre, bến nước lèo tèo
Tường vôi loang lổ, phong rêu lờ mờ
Dòng sông, bờ bãi vật vờ
Bụi đường ngập ngụa, con
đò ngửa nghiêng
Ngập chìm trong khí thiêng liêng
Chuyện xưa càng nặng sâu thêm nỗi
niềm.
TRẨY HỘI
(Đền Kiếp Bạc tháng 9 năm 1986)
Con về trẩy hội đền người
Chang chang nắng đổ, một trời như
nêm
Quán hàng áp sát hai bên
Phường chèo, gánh xiếc rền rền
đinh tai
Khói hương mù mịt trong ngoài
Chen vai thích cánh người người
vào ra
Miệng cầu tay
vái hít... hà..!
Đua nhau khấn khứa cùng là cầu xin
Giữa nơi cảnh phật, cảnh tiên
Lòng phàm nặng trĩu cơ duyên nhường
này
BÀN CỜ TIÊN
(Côn Sơn tháng 2 năm 1985)
Bàn cờ xưa cất đâu rồi
Chỉ còn trơ lại mặt đồi bỏ hoang
Cỏ cây đất đá ngổn ngang
Tiên đâu chẳng thấy, cơ man là người
Bên tai rộn rã tiếng cười
Khói mây này có từ hồi nào đây
Ngước lên trời thấy gần thay
Dang tay ôm một đám mây vào lòng
Bóng xanh cao thấp chập chùng
Xa xa non nước hoà cùng vào thơ
BỮA CƠM TRƯA CỦA BÁC
Chiếc mâm gỗ cũ còn đây
Bữa trưa của Bác một ngày năm
xưa[2]
Thương dân biết mấy cho vừa
Cái ăn cái mặc vẫn chưa đủ đầy
Nắm cơm mang sẵn trong ngày
Tấm lòng lãnh tụ thấm đầy nghĩa
nhân
Năm mươi năm đã đến gần
Bức hình của Bác ân cần trên tay
Côn Sơn ơi tháng năm này
Vẫn nguyên kỷ niệm những ngày xa
xôi
Nền xưa còn dấu Bác ngồi
Nắm cơm, mâm gỗ một thời còn đây.
TRỒNG CÂY BÁC HỒ
(Tặng Ngọc Sơn nhân tết trồng cây
2009)
Bác chưa kịp đến nơi đây
Mà như thấy Bác ươm cây bên đồi
Trồng cây cùng với trồng người[3]
Vẫn âm vang giữa đất trời quê ta
Có bao nhiêu những gốc đa
Bàn tay Bác tưới xoè ra muôn dòng
Hương xuân xanh đến khôn cùng
Chính là nhờ Bác bảo trồng thêm
cây
Xa Người bốn chục năm nay
Ngọc Sơn vẫn nhớ trồng cây Bác Hồ.
SÁCH THƠM VIẾT Ở HẢI DƯƠNG
Bác Hồ về với Hải Dương
Sách thơm[4] ai chép thân thương
thật nhiều.
Từ trên mảnh đất quê nghèo
Có bao việc đã làm theo lời Người.
Bàn chân guồng nước dưới trời[5]
Bàn tay xoa bụi đọc lời bia xưa
Nắm cơm giữa một bữa trưa
Hương thơm giống vải Người đưa về
trồng.
Vết chân Người lội trên đồng
Một thân lúa cũng nặng lòng vì dân
Gặp Người chỉ thấy ân cần
Rõ là ruột thịt người thân trong
nhà.
Sách thơm kể chuyện Cha già
Mỗi trang là một bài ca tình đời.
VỀ VỚI BÌNH GIANG
Lại về dự hội với Bình Giang
Chúc thọ xuân vui khắp cả làng
Đường xá giao thông giờ rộng rãi
Phố phường nhà cửa đã thênh thang
Đông thương lắm lúc chờ người đến
Đoài nhớ nhiều khi đợi bạn sang
Vui chuyện kể về nơi chốn cũ
Giờ đây quê mới đã khang trang
ĐỀN NGUYỄN TRÃI
Một dải đền thiêng giữa đại ngàn
Tế văn bài vị ngự trên ban
Một thiên tuyệt bút còn thơm mực
Muôn ngọn trầm hương khói tỏa lan
Bãi Đá tỏ mờ hình bóng hạc
Bàn Cờ ẩn hiện dáng thanh quan
Dẫu cho máu đỏ chan trên đất
Nước vẫn yên bình giặc đã tan
XUÂN PHẢ LẠI
Heo may đã tạnh cuối trời xa
Nắng mới soi lên vạn mái nhà
Thạch Thuỷ quất vàng mời khách tới
Thành Phao đào đỏ đón người qua
Trẻ thơ hăm hở đi chơi tết
Phụ lão thong dong đến hội già
Phả Lại sang xuân vui rộn rã
Phố xưa đổi mới chẳng ai ngờ
TÌM DẤU NHẠN LOAN
(Nhân Huệ mùa nước mới)
Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè
Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe
Tinh kỳ chẳng thấy giăng trên bãi
Thuyền chiến không còn đậu dưới
khe
Nhà cửa mới làm vôi trắng toát
Vườn cây vừa tạo quả xanh lè
Bến thuyền ngày ấy không còn nữa
Làng xóm yên bình dưới bóng tre
CHÍ LINH MÃI NGUYÊN XANH
Một vùng đồi núi đẹp như tranh
Tụ hội bao nhiêu chuyện tốt lành
Phả Lại Lục Đầu từng nức tiếng
Côn Sơn Kiếp Bạc đã vang danh
Muôn nơi tụ hội gom công đức
Khắp xứ chia nhau sức tạo thành
Nhân kiệt địa linh chừng đã mở
Một vùng hoa cỏ mãi nguyên xanh
GIÓ THƠM VƯƠNG
Chiều xuân đi hội với người thương
Khách đến xôn xao mọi nẻo đường
Vách đá Kỳ Lân mưa thấm lạnh
Rừng thông nảy lộc gió đưa hương
Đào hồng khép nụ phơi trong nắng
Cúc tím xòe hoa đọng dưới sương
Mắt biếc lướt sang vai áo mỏng
Tóc mây chợt xổ gió thơm vương
DU XUÂN QUÝ TỴ
Mặt hồ gợn sóng tím trong sương
Cây trái xum xuê kín phố phường
Rừng vải đơm hoa soi đáy nước
Vườn na nảy nụ khắp đồi nương
Vầng mây lờ lững xanh triền núi
Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường
Lữ khách du xuân vừa cập bến
Đào mai nở rộ ngát mùi hương
NHẮC LỜI HẸN CŨ
Người về Phả Lại với ta chăng
Lầu gác giờ đây kín mặt bằng
Chợ đến Thành Phao hoa chặt lối
Phố về Thạch Thuỷ điện che trăng
Đồi xưa đá sỏi xanh toàn vải
Làng cũ tranh tre đỏ những tầng
Lời hẹn năm nào ai có nhớ
Người về Phả Lại với ta chăng.
SÓNG LỤC ĐẦU
Một dải mênh mông sóng Lục Đầu
Sáu dòng trong đục chảy vào nhau
Lênh đênh dưới bến dăm thuyền cá
Thấp thoáng trên sông một nhịp cầu
Thuỷ trận năm xưa không thấy nữa
Chiến thuyền thuở ấy cất về đâu
Mấy ai biết được ngàn năm trước
Máu giặc loang trên sóng đỏ ngầu
BÌNH DƯƠNG VÀO HẠ
Vừa mới qua xuân đã hạ rồi
Khắp vùng nắng nóng tựa như sôi
Đôi con máy gặt vừa mới sắm
Mấy chiếc công nông đã sửa rồi
Lúa chín rải vàng trên mặt ruộng
Ngô già nhuộm đỏ cuối chân đồi
Mùa về cứ ngỡ như vào hội
Làng xóm hân hoan nở nụ cười
XUÂN CHIỀU
Từ chiều xuân ấy mãi tơ vương
Nào có xa chi nửa dặm trường
Xóm Lác người thưa mưa thấm áo
Sông Cầu bến vắng nắng soi gương
Bao cồn cát trắng phơi ngoài bãi
Mấy dãy keo xanh kín mặt đường
Làng cũ tranh tre không thấy nữa
Nhà tầng san sát dưới màn sương
CÓ CÒN AI ĐÓ ĐÓN TA
Gió chiều xô dạt lá sầu đông
Người cũ hình như đã lấy chồng
Bốn góc mái đình dường trĩu nặng
Một vành giếng đất cũng mênh mông
Nắng vàng ai rải đầy trên bãi
Mây trắng ai phơi kín cả đồng
Cúc dại trổ hoa bên cánh cổng
Có còn ai đó đón ta không
CẢM XÚC ĐỀN THIÊNG
Phượng lân giờ đã chẳng còn bay
Núi vẫn linh thiêng bởi đức thầy
Son Giếng đỏ tươi thành dựng đó
Miết Trì xanh mướt cỏ giăng đầy
Bia xưa hiện rõ lời trung liệt
Đền mới suy tôn đạo nghĩa dày
Thất trảm sớ văn trùm khí phách
Tưởng như còn vọng mãi nơi này
HUYỆN LÊN THỊ XÃ
Huyện cũ giờ lên thị xã rồi
Phố phường ngày một mới tinh khôi
Đâu trường đại học trao tri thức
Nọ viện đa khoa giúp cứu người
Phố xá mở mang đường rộng rãi
Xóm thôn đổi mới chợ vui tươi
Địa linh muôn thuở lưu danh tiếng
Nhân kiệt ngàn năm mãi rạng ngời
DÂNG LỄ ĐỀN CAO
Đền xưa yên lặng dưới vòm cây
Mái ngói rêu phong lá phủ dầy
Cỏ biếc lan quanh bờ đá mỏng
Cành lim phủ kín bậc hiên gầy
Đôi dòng lịch sử in trên bảng
Mấy cuốn văn thơ để trước quầy
Ngàn vạn gái trai về rước hội
Tưởng mùa xuân cũ lại về đây.
TRỞ LẠI VĂN AN
Vui chân trở lại với Văn An
Đồi đá năm xưa nắng ngập tràn
Trên đỉnh chòm thông reo lướt thướt
Dưới chân nước suối chảy lan man
Đền xây ngói mới tươi màu tía
Cầu đá lan can đứng xếp hàng
Muôn cảnh hiện ra ngay trước mắt
Đền thầy giờ cũng đã khang trang
CẢM XÚC SAO ĐỎ
(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)
Thị trấn thanh xuân mới buổi nào
Thời gian thấm thoắt có là bao
Bước chân đi tới đường thêm rộng
Ánh mắt nhìn sang phố đã cao
Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy
Trường vui trẻ đến sóng sôi ào
Ba mươi năm ấy miền quê núi
Rực cháy huy hoàng một ánh sao.
QUÊ LÚA THẮM SAO CỜ
Chúc cho Thanh Miện mãi tươi thơ
Truyền tụng danh thơm khắp bến bờ
Nam, Bắc* hai miền luôn rực sáng
Tùng, Giang* đôi xứ chẳng phai mờ
Đạo người nền nã luôn yêu quý
Thế đất thanh tao mãi phụng thờ
Tiếp bước người xưa luôn cố gắng
Dựng xây quê lúa thắm sao cờ.
MÙA SAU
Sớm nay nắng ấm đã về đây
Đồng đất miên man những sá cầy
Mạ rắc trong năm vừa đủ tuổi
Đất bừa giáp tết kịp trang lầy
Ruộng Phao nước xuống chan bờ thửa
Đồng Thuỷ mạ về đã mọc dầy
Chính phủ gửi cho nguồn giống mới
Mùa sau lúa tốt vạn kho đầy
MỞ TƯƠNG LAI
Qua thăm Thanh Miện giữa ban mai
Đồng lúa xanh tơ suốt dặm dài
Phù Tải gọi người se đất gốm
Ngũ Hùng* mời khách nối thừng quai
Đại vương Nguyễn Phục** danh càng
tỏ
Bảng nhãn Đỗ Uông đạo chẳng phai
Đến hội vui thơ nâng chén chúc
Cùng nhau tiếp bước mở tương lai.
HÀO KHÍ ĐÔNG A
Hào khí Đông A rực lửa hồng
Một thời oanh liệt của cha ông
Bình Than khai hội bàn mưu kế
Vạn Kiếp dàn quân lập chiến công
Cự Nguyệt thây thù phơi kín đất
Bạch Đằng xác giặc nổi đầy sông
Ngàn năm danh tiếng còn vang mãi
Hào khí Đông A rực lửa hồng
ĐỀN GỐM
Tướng lĩnh thương nhân chỉ một
ông
Nửa thì tư lợi nửa thì công
Bến Triền còn đó đền còn đó
Chứng cứ thì không án cũng không
Câu chuyện lưu truyền chưa chắc
đúng
Đôi dòng chép lại khó mà thông
Quân lương, hàng hoá đâu là thực
Ai có tinh tường giảng hộ ông.
CẢM TÁC BÀN CỜ TIÊN
Trèo lên đỉnh núi lúc tinh mơ
Bậc đá quanh co suốt cả giờ
Lầu gác chông chênh chừng mới dựng
Đất bằng tĩnh tại vẫn nguyên sơ
Bàn cờ thời cuộc bia còn rõ
Câu chuyện trăm năm khói phủ mờ
Tích cũ gợi lòng vương vẫn mãi
Nỗi niềm tâm sự chép thành thơ.
ĐỨC THÁNH TRẦN
Kiếp Bạc chiều nay mở hội xuân
Đền Ngài rộn rã tiếng chuông ngân
Binh thư yếu lược bàn mưu kế
Hịch tướng sĩ văn giục tiến quân
Uy dũng ba phen truy đuổi giặc
Thuỷ chung một ý giúp an dân
Ngàn năm sáng mãi gương oanh liệt
Non nước tôn vinh Đức Thánh Trần.
HẢI DƯƠNG LỊCH SỬ
Đò Chanh nổi tiếng bánh gai
Thuý Lâm gốc vải nối dài muôn quê
Mao Điền mấy chục ông Nghè
Chí Linh bát cổ câu vè đã thông
Lục Đầu nối sáu nguồn sông
Một vùng lịch sử tỉnh Đông đẹp giầu
ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC
Núi Phượng chiều nay đỏ sắc cờ
Đền đài mới dựng giữa hoang sơ
Trường xưa hoa nở trò đang đợi
Điện mới thông reo khách vẫn chờ
Sửa đức can người lo vận hội
Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ
Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm
Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ
PHẢ LẠI ƠI CHAN CHỨA BAO TÌNH
Về đây với miền quê Phả Lại
Quãng thời gian có ngắn gì đâu
Ta chợt hiểu những điều thân thuộc
Có trong hồn ta đã từ lâu.
Mùa trăng mới nhớ về bến cũ
Chuyến phà đêm thao thiết đợi người
Vườn vải mới đang dần khép tán
Khắp quê ta xanh đất, xanh trời.
Thành Cổ vẫn còn đang in dấu
Sáu dòng sông trong đục hoà chung
Chuông đền Khổng gõ ngàn năm cũ
Thái Bình ơi xanh đến vô cùng.
Câu hát ví dội vào tĩnh lặng
Xóm làng vui với những mùa về
Hạt no ấm chất đầy sân nắng
Mắt ai cười tươi rói chiều quê.
Bạt đồi đá ta xây nhà máy
Chặn dòng sâu ta dựng chân cầu
Mở công nghiệp cho ngày mai đến
Hẹn cùng ta đi trước đón đầu.
Đất đổi mới, cuộc đời cũng mới
Mở lòng ra đón buổi bình minh
Mơ muôn thủa bây giờ đã tới
Phả lại ơi chan chứa bao tình.
HẢI DƯƠNG
Nguồn sáng khắp một vùng duyên hải
Chiếu soi lên phường phố, xóm thôn
Hải Dương đó quê ta một dải
Đã thân thương như máu, như hồn
Đất quê ta ai qua không nhớ
Bánh đậu, bánh gai làm cỗ cầu
duyên
Thơm hương giữa muôn màu ngô lúa
Một miền sông trên bến, dưới thuyền
Từ lâu đã vang danh tứ trấn
Chiếng chèo Đông bao lớp nối nhau
Gốc vải tổ chia cho muôn ngả
Trái tình yêu tươi đỏ sắc màu
Dòng văn hoá truyền lưu vẫn mở
Đất ngàn năm văn hiến rạng ngời
Làng tiến sĩ khởi từ nơi ấy
Mao Điền xưa, còn đến muôn đời
Ta về với Côn Sơn, Kiếp Bạc
Với ngàn năm hoa lá cỏ cây
Đất thượng võ con Hồng, cháu Lạc
Dấu anh hùng nay vẫn còn đây
Xưa đánh giặc hiên ngang dũng cảm
Ngàn vạn người ra trận lập công
Người ở lại giữ làng, giữ đất
Tiền tuyến, hậu phương son sắt một
lòng
Đất mở hội, lòng người mở hội
Dẫu bao ngày giông bão nắng mưa
Nơi quê ấy bao nhiêu hứa hẹn
Những chiến công so mấy cho vừa
Hải Dương đó như người chiến sĩ
Khoác súng lên vai ra trận năm nào
Mở công nghiệp hôm nay đổi mới
Sáu nguồn sông hoà sóng dâng trào.
HỒI ỨC THÀNH XƯA
(Thành cổ Phao Sơn 6/2008)
Bờ thành cũ không còn gì nữa
Một cái tên truyền miệng thôi mà
Ai biết được thấp cao rộng hẹp
Giữa vô vàn thay đổi từng qua
Chỉ còn lại một vùng cằn cỗi
Đất bạc màu với những cành cây
Giữa gai góc đồi hoang cỏ rối
Nắng vô tình vứt lửa vào đây.
Dù không thể ngắm nhìn bằng mắt
Vẫn lắng sâu vào tận trong tim
Để sau trước thấy về xa tắp
Giữa mơ hồ và giữa lặng im.
Cho dẫu chẳng tìm ra thành nữa
Giữa muôn vàn thời đại chồng lên
Bờ thành cũ mãi không thể mất
Trong lòng ta thành vẫn còn nguyên
TRỞ VỀ AN LẠC
(Thăm đền vua Lê Đại Hành)
Mái đền mới, sắc tươi hồng
Uốn cong mũi ngói lượn vòng lên
mây
Mặt đồi nằm dưới vòm cây
Còn in dấu của những ngày xa xưa.
Một làn mưa mỏng chăng tơ
Dấu xuân bất chợt ngẩn ngơ cõi
lòng
Ngàn năm rồi bãi đất không
Bóng ai đi đó bên đồng lúa xanh.
Một trời sương khói mong manh
Bước chân du khách dạo quanh mé đồi
Hành Cung xưa lặn đâu rồi
Tiếng quân reo của một thời đã
qua.
Một miền quê mới bao la
Tường xây, nhà gác trải ra khắp
vùng
Đơn sơ một khối tượng đồng
Đôi dòng lược sử hào hùng mở ra
Một vương triều! Một sơn hà!
Từ bao năm cũ vậy mà vẫn đây…
Trở về An Lạc sớm nay
Tưởng ngàn năm cũ cũng quay trở về.
NGHE HÁT TRÊN ĐẤT NGỌC SƠN
(Tặng CLB NCT Ngọc Sơn 19/5/2009)
Ngọc Sơn có tự lâu rồi
Một vùng đất bãi xa bồi còn đây
Giọt mồ hôi ướt luống cày
Bát cơm vất vả bao ngày đầy vơi
Nắng mưa dài hết một đời
Thấm vào câu hát bồi hồi trong tim
Vẫn mơ quê một giầu lên
Vẫn mong làng xóm vẹn nguyên tình
người
Mái tranh xưa đã hết rồi
Nhà xây vời vợi mây trời tầng cao
Câu cải lương tự thuở nào
Vẫn xanh tươi, vẫn ngọt ngào đắm
say
Như tình ai mãi đong đầy
Bãi Bông xưa những hao gầy mỏi
mong
Cho ta gửi chút tơ lòng
Vào lời ca ấy hoà cùng với ai
Cho tình quê mãi nối dài
Thắp lên ánh sáng muôn đời Ngọc
Sơn.
[1]Những quần thể thuộc khu di
tích đền Chu An
[2] .Chiếc mâm gỗ Bác dùng cơm
trưa khi về Hải Dương
[3] Dựa theo lời Bác nói về Tết trồng
cây
[4] Sách Bác Hồ với Hải Dương, Hải
Dương với Bác Hồ
[5] Viết theo chuyện kể Bác Hồ về
thăm Hải Dương
NHỮNG BÀI THƠ VỀ MẸ
THƠ VỀ MẸ
Thơ về mẹ viết hoài không đủ ý
Bao lời thương đời lấy cả rồi
Thơ về mẹ sáng ngời trang sách quý
Chỉ riêng mình con đọc được mà
thôi.
Thơ về mẹ viết không có chữ
Giấy là tim, mực máu chảy vô hồi
Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ
Đến khi nào cạn sạch thì thôi.
Thơ về mẹ không con nào viết nổi
Vì mẹ là thơ của muôn thơ
Bao nhiêu cũng chỉ là chẳng đủ
Mẹ đi rồi…con ước chỉ là mơ (!)
TÌM MỘ MẸ GIÀ
(Châu Phong, Giao Tác, Đại Vĩ)
Có ba làng Quậy ở Liên Hà
Thật khó tìm ra mộ mẹ già
Sông ấy, đường này, chừng có nhẽ...
Gò kia, ruộng nọ, dáng như là...
Bốn lăm mẹ trước đành về cõi
(1945)
Lẻ tám con nay cũng đã già (2008)
Làng mạc, đất đai nhiều biến đổi
Mộ xưa không nấm hỏi đâu mà...?
NHỚ LỜI HEO MAY
Chỉ còn có gió heo may
Thổi vào góc bếp làm cay mắt già
Chiều nào một cháu một bà
Nửa niêu cơm độn với cà kho tương
Tưởng đâu đời lắm sắc hương
Các con quên cả góc giường chuối
khô
Quên con đường nhỏ ngoại ô
Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn
khênh
Một đời bà mãi lênh đênh
Nuốt vào tim những chông chênh ở đời
Mai sau con lớn nên người
Nhớ về quê để nghe lời heo may.
MẸ CHỒNG TÔI
Mẹ chồng tôi giống mẹ tôi,
Cũng lam làm, cũng thương rồi rất
thương.
Chăm con từ bữa cơm thường
Khi ở nhà, lúc ra đường cũng chăm.
Băn khoăn khi thấy kém ăn
Lo toan khi thấy bước chân rã rời.
Mẹ chồng tôi vốn ít lời
Bảo tôi rằng “giống mẹ, thời ngày
xưa
Rồi đây trải những nắng mưa
Trăm công ngàn việc hết trưa đến
chiều.
Lo nhà kinh tế hơi nghèo
Lo khi ít việc chẳng đều tiền công
Khi đò đầy, lúc chợ đông
Các con còn bé mà chồng ở xa.
Lo cha mẹ lúc tuổi già
Anh em thưa vắng thật là cô đơn.
Lo khi chưa rõ nguồn cơn
Không vừa lòng, để giận hờn lẫn
nhau”.
Tôi nhìn ánh mắt lo âu
Tấm thân gầy guộc, dãi dầu thời
gian.
Chợt nghe tiếng mẹ thở than:
“Kiếp đàn bà, thật gian nan nhiều
bề”
Tôi nghe, lòng cũng tái tê
Thương mình, thương mẹ đêm khuya bồi
hồi.
“Mẹ ơi con đã nghe rồi
Nỗi lòng mẹ, với những lời mẹ
khuyên”
Mẹ chồng tôi vẫn dịu hiền:
“Con như con gái, ruột liền cắt ra
Mai đây con chính là ta
Hiểu lòng mình để hiểu ra lòng người...”
Mẹ chồng tôi khẽ mỉm cười
Nét thương chắp lại, trao lời cho
con.
MẸ CŨNG VUI
Đất cũ mẹ cho chị bán rồi
Đành rằng chỗ ấy của mình thôi
Vẫn còn thấp thoáng tia nhòm ngó
Đã quyết chia đều đến mọi nơi
Ngẫm mẹ xưa răn cầu nghĩa cả
Xem mình nay học dám tình vơi
Chia chung lấy thảo cho đều hết
Chắc việc con làm mẹ cũng vui.
RU CUỘC ĐỜI CÒ
Tựa vào câu hát mẹ ru
Con đi suốt những mùa thu sang hè.
Tựa vào cánh võng bờ tre
Nghe câu ru mẹ, mà se cả lòng.
Dẫu rằng chết cũng nước trong
Thương con cò vẫn mỏi mong một đời.
Mẹ cho ta đến cõi người
Chỉ mong bén rễ để rồi tươi xanh
Dẫu không lớn gốc, rậm cành
Cũng là một hạt để dành mai sau.
Mẹ ta đi vắng đã lâu
Câu ru mẹ, mãi thấm sâu đời cò.
TA MƠ
(Quan Đình 9/2007)
Rời xa xứ Bắc từ lâu
Gửi câu Quan họ bên cầu gió đưa
Mảnh vườn thu của ngày xưa
Một mình mẹ với dư thừa đắng cay.
Đôi tàu lá chuối lót tay
Một nùn rơm chắn heo may lọt vào.
Ai mơ trời rộng mây cao
Ta mơ tìm thấy lối vào ngày xưa
Ai mơ khăn áo đón đưa
Ta mơ ngửi chút hơi thừa mẹ thôi.
Mơ vòng tay mẹ làm nôi
Để con lần nữa được ngồi vào
trong.
Chợ chiều ai đợi, ai mong
Một chim cơm nắm trong lòng bàn
tay
Tiền công dài suốt một ngày
Không ăn dành lại chút này cho
con.
Mấy mươi năm tưởng lớn khôn
Lạ sao vẫn cứ trẻ con thuở nào
Ai mơ muôn điệu thanh cao
Ta mơ tay mẹ vỗ vào sau lưng.
MẸ
Mẹ như chiếc bóng bay qua
Trong cơn mưa giọt nước sa đuối tầm
Câu ca dao cũ ướt đầm
Bao lo toan cũng âm thầm theo đi
Trần gian đã chẳng là chi
Còn mong chăm chút được gì nữa đâu
Mai rồi trời lại mưa mau
Để mai rồi nữa càng đau, càng buồn
Mỗi lần nghe gió mưa tuôn
Tưởng như đôi cánh chuồn chuồn nặng
thêm
Mẹ về tĩnh lặng trong đêm
Vỗ vào giấc ngủ bình yên mỗi ngày.
QUÊ MẸ
Tháng năm lần lữa nổi trôi
Tấm tình quê vẫn như sôi cõi lòng
Mẹ già tựa cửa ngóng trông
Nắng trưa trong vắt bên song lọt
vào
Nhìn đôi mắc võng năm nào
Áo nâu non giữa ồn ào chợ đông
Nắm mồng tơi nấu cua đồng
Bát cơm gạo đỏ ai đong chợ chiều
Đất quê dù vẫn cứ nghèo
Đầu làng cuối xóm càng nhiều tình
thân
Hôm nay mới được về gần
Lối xưa lá rụng bước chân bồi hồi
Quê hương của mẹ đây rồi
Bạc phơ mái rạ một đời mẹ xưa.
KHI MẸ RA ĐI
Mẹ ra đi giữa nắng trưa
Để lời ru, tiếng võng đưa lại nhà
Để đàn cháu nhỏ lệ nhoà
Cả cơ quan xuống đồng xa tiễn người.
Bát cơm, quả trứng ngậm ngùi
Mảnh khăn xô trắng sụt sùi, héo
hon
Tháng năm xưa đã mỏi mòn
Con mơ mẹ, mẹ mơ con cả đời.
Đơn côi giữa đất giữa trời
Bâng khuâng tiếng võng với lời mẹ
ru.
KHÚC THÁNG BA
Năm nay lại đến tháng ba
Thêm một lần nữa giỗ cha, mẹ rồi
Dòng sông bên lở, bên bồi
Chợt xanh hơn cả dưới trời mây
xanh
Những chùm hoa gạo đỏ cành
Vỏ cây khô khốc bên thành cổ xưa
Nhớ thương biết mấy cho vừa
Khói hương trần trụi vẫn chưa kịp
tàn
Chút quê xa nắng ngập tràn
Bước chân chầm chậm,tiếng đàn xa
xôi
Tháng ba rồi cũng qua thôi
Ai ru tóc mẹ đêm người đi xa
Ai đun nước mới châm trà
Khẩu trầu xanh với cánh hoa màu hồng
Miếng vôi đủ mặn, đủ nồng
Để tươi đôi má giữa đồng lúa
chiêm.
Đường về Tây Lạc xa thêm
Cả Châu Can cũng từng đêm gió lùa
Cũng cây gạo dưới sân chùa
Trổ hoa đỏ rực giữa mùa tháng ba.
NHỚ VỀ CỔ TÍCH
Lâu lắm chợt nhớ về cổ tích
Câu ru hời man mác đêm khuya
Vòng tay mẹ ôm trong giá lạnh
Giấc mơ dài xanh mãi chiều kia.
Vừa mới đó, đã nhoà bóng tối
Mẹ đi rồi còn lại cô đơn
Trải cực nhọc, khó khăn, vất vả
Những đêm dài nhớ mẹ nhiều hơn.
Rồi mai nữa ta thành cổ tích
Tán cây che râm một khoảng trời
Ta càng hiểu mẹ ta không mất
Vẫn vẹn nguyên ở lại trong đời.
Ôi cổ tích, lại chồng lên cổ tích
Luôn trong ta tình mẹ ngày xưa
Mùa hạt mới tay người gieo tiếp
Vòng tay nào ôm những đêm mưa.
HÀNG XÁO
(Tặng mẹ thân yêu)
Chợ gạo vẫn còn ở đó
Mẹ làm hàng xáo nuôi nhà.
Tối hết nửa đêm, sáng tờ mờ đất
Lẻ loi, một dáng thân già.
Hàng xáo bây giờ không xay giã
Máy quay phun hạt trắng ngần.
Dáng mẹ nghiêng theo giàng cối
Tóc mây ngày một trắng dần.
Hàng xáo bây giờ chẳng còn gồng
gánh
Xe đầy bao trắng lao nhanh.
Đôi dép lốp xưa mòn vẹt gót
Bước chân già trên lối sỏi lạnh
tanh.
Chợ còn đó, mẹ thì đã mất
Hạt tấm nuôi con, sàng sảy lựa ra
Cháo loãng, người non vực bát
Sớm hôm mẹ thức nuôi nhà.
Chợ
Me,4/2001
TẤT CẢ ĐỀU CỦA MẸ
Mẹ nghèo đói như bao người khác
Tấm áo trên mình không có mà thay
Mảnh khăn đội đầu chồng bao miếng
vá
Bữa cơm thường thay bằng rễ cỏ,
cây
Mẹ nuôi ta từ mầm thai bé nhỏ
Bằng con trai, con hến bên sông
Lá rau dại lưa thưa ngoài bãi
Bòn nhặt từng ngày trong sương giá
mùa đông
Mẹ nuôi ta bằng chút thức ăn ít ỏi
Trong mình mẹ ta, ta lớn dần lên
Những gân cốt, tóc tai, da thịt
Mọc ra từ bao cơn đói triền miên
Trong giây phút ta gặp trời, gặp đất
Gặp cả đắng cay của mẹ giữa đời
Ngày u ám và đêm lạnh ngắt
Cuộc xoay vần, mưa muôn giọt mồ
hôi
Đời những tưởng mãi là tăm tối
Bỗng một ngày xóm dưới làng trên
Màu cờ đỏ đưa đường dẫn lối
Cách mạng về, bao người đã vùng
lên.
Rồi ta gặp được bao điều lạ
Biết bao vui trong giây phút đổi đời
Bao buồn khổ từ nay rũ sạch
Để một lần trở lại mới tinh khôi
Dù chưa có thiên đường hạnh phúc
Mẹ ta xưa mong ước cả đời
Nhưng đã gặp những ngày no ấm
Ta đã là ta trong dáng một con người
Thời gian có nhoà đi dấu tích
Ngày xưa của mẹ cũng rời xa
Nhưng ta biết những gì có được
Tất cả đều của mẹ cho ta.
ĐI TÌM CÂU HÁT
Biết bao câu chữ ngọt ngào
Mẹ tôi đã hát ngày nào ru tôi
Tưởng như đã tắt lặn rồi
Bỗng đâu đêm ấy từng lời cất lên:
Hội làng vẫn mở tháng giêng
Để cho trai gái khắp miền tìm nhau
Vui sao câu hát mời trầu
Lạ sao câu ví mở đầu đêm xuân
Nặng lòng thay điệu trống quân
Sang câu cò lả nối vần giao duyên
Thế rồi giã hội xuống thuyền
Người về xứ Bắc người lên xứ Đoài.
Mẹ tôi đi suốt cuộc đời
Chẳng quên câu hát của thời ngày
xưa.
Những chiều, trĩu nặng mây mưa
Băn khoăn mãi tự ngày xưa đến giờ
Hôm nay tôi mới trở về
Đi tìm câu hát hội hè năm nao
Giải lưng xanh, mảnh yếm đào
Người ơi câu hát ngày nào còn
không?
Nén trầm theo ngọn gió đông
Người ơi câu hát bên sông đã về.
BÀI THƠ VỀ MẸ
(Tặng các bà mẹ có con là liệt sĩ)
Khi tôi ra mặt trận mẹ không dám
khóc
Sợ con buồn rồi mẹ lại buồn thêm
Mẹ khẽ vén lại tấm khăn buộc tóc
Có ai ngờ trắng hết chỉ một đêm
Mẹ dặn dò, rồi lại dặn dò thêm
Việc non nước với con là nghĩa vụ
Dù gian khó phải kiên gan bám trụ
Đánh quân thù cả nước đã không
lui…
Hãy thương ta để cho mẹ ta vui
Bởi của mẹ cái gì cũng quý
Và hãy giữ, dù chỉ là một tý
Chút thịt xương mẹ gửi gấm vào ta
Đừng bao giờ tùy tiện xa hoa
Thịt xương mẹ mà ta đang giữ
Chín tháng hoài thai, một ngày ở cữ
Mẹ vui cùng con, mẹ sống cùng con
Ta biết ta còn nợ với nước non
Không thể vì mình, cân đong nặng
nhẹ
Và như thế nỗi buồn của mẹ
Đã bao lần, các con đã từng quên
Ngày trở về, da thịt chẳng vẹn
nguyên
Mẹ chợt khóc, nắn sờ từng chỗ một
Trên gò má, nước mắt lăn từng giọt
Bao anh em trong xóm đã không về…
Khi con đi cũng chỉ một lời thề
Hiến xương máu để mong ngày độc lập
Đem cuộc sống vô cùng cao đẹp
Tặng cho đời bằng chính sự hy sinh
Con trở về, lòng vẫn đinh ninh
Xương thịt, tâm hồn đã dành cho đất
nước
Ngày mai tới chẳng thể nào dừng bước
Mẹ có buồn … khi con mẹ đã hy sinh
Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015
MÁY CHỦ ĐI ĐÂU
Tự nhiên máy chủ đi đâu
Kiếm vài chục bận ngõ hầu vẫn
không
Kiểu này có lúc mất công
Mấy năm rồi lại chẳng trông thấy
gì
Mới hay mọi chuyện lạ kỳ
Xảy ra bất chợt lắm khi phiền lòng
Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015
GỬI AN TUYÊN
(Nghe hát Bến Xưa của Lê An Tuyên)
Thêm một lần tôi gặp lại dòng sông
Từ câu hát của cô gái ấy
Khoảng lưu lạc dù xa biết mấy
Mà dòng sông vẫn cứ gọi em về.
Câu hát yêu thương, câu hát bộn bề
Làm tức tưởi bao lòng người xa xứ
Bao câu giặm nối nhau từ quá khứ
Cứ dịu dàng tuôn chảy với dòng
sông.
Đã bao lần trên sóng mênh mông
Tôi ra trận trên dòng sông ấy
Tim yêu dấu đã cồn lên biết mấy
Khúc ru xa của mẹ đêm nào.
Tôi đã nghe bao câu hát ngọt ngào
Chỉ câu hát em ru tôi vào đời thực
Để thêm nữa bao yêu thương hết mực
Lại một lần đến với thơ tôi.
Ơi dòng sông, dòng sông cứ trôi
Lòng người mãi chẳng dời chẳng đổi
Như em đó, bao câu ca nóng hổi
Một tình yêu da diết gửi cho quê
Đêm tan rồi…câu hát mãi say mê
Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015
HOA VÀ THƠ XUÂN ẤT MÙI (2015)
Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015
QUA NHỮNG MIỀN QUÊ
THƯ
(Họa thơ Nguyễn Thị Kim Tuyên)
Bất chợt nao lòng nhớ mẹ cha
Anh em cách trở bạn bè xa
Tàn đêm mòn mỏi chờ sao rụng
Trọn sáng âm thầm đợi nắng pha
Bến giác chập chờn trăng hạ sáng
Đường thơ khấp khểnh gió thu lòa
Cù lao chín chữ sao quên được
Ai đó vương tình trong mắt ta.
CHÍ LINH MÃI NGUYÊN XANH
Một vùng đồi núi đẹp như tranh
Tụ hội bao nhiêu chuyện tốt lành
Phả Lại, Lục Đầu từng nức tiếng
Côn Sơn, Kiếp Bạc đã vang danh
Muôn nơi tụ hội gom công đức
Khắp xứ chia nhau sức tạo thành
Nhân kiệt địa linh chừng đã mở
Chí Linh muôn thuở mãi nguyên xanh
KINH BẮC
Qua phà Đồng Việt một chiều xuân
Kinh Bắc thì ra cũng rất gần
Ruộng lúa trải dài liền một thửa
Vườn hoa san sát nối chung sân
Nhà xưa vời vợi vươn cao nữa
Ngõ cũ thênh thang mở rộng dần
Chắc hẳn mai đây còn đổi khác
Hơn nhau gấp đến bốn năm phần
BẮC GIANG
Trở lại Bắc Giang buổi sáng nay
Đất xưa có dịp được phô bày
Vành đai Như Nguyệt ngăn quân Bắc
Đồn cứ Phồn Xương chặn lính Tây
Tiếng súng Quan Đề rung chuyển núi
Bài thơ Thái Uý xé tan mây
Mới hay muôn ngả đường ta đến
Lịch sử cha ông rạng rỡ thay
TRỞ LẠI VĂN AN
Vui chân trở lại với Văn An
Đồi núi chen nhau nắng ngập tràn
Trên đỉnh thông tơ xanh biếc biếc
Dưới khe vải chín đỏ chan chan
Suối rêu cuồn cuộn sôi màu bạc
Cầu đá chon von hắt ánh vàng
Muôn cảnh hiện ra ngay trước mắt
Đền thầy giờ cũng đã khang trang
THĂM ĐỀN KHÚC THỪA DỤ
Nước non Đại Việt bốn ngàn năm
Ngoại thuộc đan xen với nội xâm
Mấy cuộc tồn vong chưa hết giận
Bao lần thành bại vẫn còn căm
Vua Bà quyết chí đòi trả hận
Khúc Chủ kiên gan gắng lập thân
Quyết nắm trong tay nền tự chủ
Quang vinh cho nước phúc cho dân
CẢM XÚC ĐỀN THIÊNG
Phượng Sơn xanh biếc ngất trời mây
Núi vẫn còn in bóng dáng thầy
Son Giếng lờ mờ sương phủ kín
Miết Trì rậm rạp cỏ giăng đầy
Bia xưa bày tỏ câu trung liệt
Đền mới suy tôn đạo nghĩa dày
Thất trảm sớ văn trùm khí phách
Tưởng như còn vọng mãi nơi này
ĐỔI THAY
Trở lại Quất Lâm buổi sáng nay
Tưởng đâu xa cách mấy ngàn ngày
Sau lưng đồng ruộng vừa gieo cấy
Trước mặt phố phường mới dựng xây
Mặt biển bao la vàng dưới cát
Bầu trời bát ngát biếc trong mây
Quê ta phấn khởi theo lời Đảng
Cảnh sắc giờ đây đã đổi thay.
THĂM LẠI THĂNG LONG
Đã lâu mới lại đến Thăng Long
Một chút thăm chơi chẳng thoả lòng
Tĩnh lặng đền xưa trong lá biếc
Bồng bềnh cầu cũ dưới gương trong
Hình rùa gửi lại gò thần tích
Kiếm báu gieo vào nước trắng bong
Đất thánh ngàn năm đang đổi mới
Đợi người về với hội non sông.
HỒ GƯƠM TỨC SỰ
Sợi liễu bên hồ lãng đãng rơi
Nền gương phẳng lặng nước chơi vơi
Trên gò tháp cũ thong dong đứng
Dưới nước thần quy lặng lẽ bơi
Ngọn bút giương lên nền tím biếc
Chân nghiên trụ lại giữa mặt đồi
Ngàn xưa muốn gửi vào thiên cổ
Khí phách cha ông động đất trời
TRỞ LẠI CỔ LOA
Mấy chục năm rồi mải đó đây
Xuân nay về lại với nơi này
Thành xưa chặn giặc đang còn dấu
Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy
Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín
Đền càng đầy chặt khói hương bay
Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất
Mặc những hòn tên cắm tại đây
THĂNG LONG NGÀN TUỔI
(Hoạ bài Dấu ấn thời gian)
Khởi nghiệp Lý triều cũng đã an
Dời đô thảo chiếu gắng chu toàn
Nhờ sông nối mạch xây giang trấn
Cậy núi khơi nguồn dựng ải
quan
Lập trận luỹ thành nhanh chốt chặt
Bán buôn đường xá dễ tuần hoàn
Thăng Long ngàn tuổi đang dần tới
Rực rỡ huy hoàng khắp thế gian.
TÌNH THƠ
Thăng Long rực rỡ dưới vầng dương
Nối mạch thi thư mở luật Đường
Người mến núi Nùng tâm rực sáng
Ta yêu sông Nhị chí ngoan cường
Khơi nguồn trí tuệ từ muôn hướng
Dẫn lối nhân văn đến bốn phương
Hà Nội ngàn năm hùng khí vượng
Tình thơ lai láng sáng như gương.
SÔNG CÁI NƯỚC CẠN
(Năm 2010 sông cạn còn 0,5m)
Sông Cái năm nay đã cạn rồi
Sắn quần nhón gót lội qua thôi
Dưới sâu mới biết nhiều bùn vữa
Trên mặt thì hay lắm cát bồi
Nước ít cá tôm càng khó ở
Dòng đầy rác rưởi dễ dàng trôi
Bao giờ mưa xuống qua cơn hạn
Bốn phía dâng tràn sóng cuộn sôi.
CHÍ LINH SÔNG ĐUỐNG
(Nhân về dự hội thơ Sông Đuống)
Lại nghe Sông Đuống sóng trào sôi
Khắp chốn quê hương đổi mới rồi
Đường phố xôn xao xe trẩy ngược
Dòng sông rộn rã chuyến tầu xuôi
Miền quê thanh lịch vươn tầm mới
Muôn khúc Đường thi lại nảy chồi
Một áng thơ vui mừng chúc bạn
Chí Linh Sông Đuống mãi chung đôi
NGÃ BA DÂU
Lại về ngắm cảnh ngã ba Dâu
Sông Đuống mênh mang sóng bạc đầu
Không dễ tìm ra miền rộng hẹp
Chẳng sao dò nổi chỗ nông sâu
Phù sa bồi đắp tươi cây trái
Nước mát tưới tiêu đẹp lúa mầu
Vườn ruộng được mùa vui mở hội
Quê hương từ khó đã nên giầu
TÌM DẤU NHẠN LOAN
(Nhân Huệ mùa nước mới)
Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè
Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe
Ruộng ngô cao sản chen trên bãi
Đàn cá mè hoa lượn dưới khe
Nhà cửa mới làm vôi trắng toát
Vườn cây vừa tạo quả xanh lè
Bến thuyền ngày ấy không còn nữa
Làng xóm yên bình dưới bóng tre
NGUYỆT HỒ
(Kính dâng nữ sĩ Hồ Xuân Hương)
Trở lại Mù Sương nhớ Nguyệt Hồ
Gió chiều lồng lộng sóng lô xô
Vui câu Quạt mát đùa quân tử
Xót khúc Tình đau khóc liễu bồ
Mượn cảnh đẩy đưa trò hý lộng
Thay hình bài bác thói dâm ô
Mấy ai hiểu được lời kiêu bạc
Mà cái tình chung vẫn khát khô.
VÀO HANG THÁNH HÓA
(Nhớ thơ nứ sĩ Hồ Xuân
Hương
Bà bảo vào hang Thánh Hoá coi
Xem xong chả hiểu sáng hay lòi
Đây hầm cổ tích hương dìu dịu
Kia ổ nguyên sơ vị mặn mòi
Rậm rạp bày ra ngăn quấy đảo
Lam nham khép lại cản săm soi
Dở hay cũng bởi trời sinh thế
Thiên hạ từng chê khéo hẹp hòi
VỀ VỚI CHỢ VIỀNG
(Viết ở Chợ Chùa Nam Trực)
Qua tết về quê xuống chợ Viềng
Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng
Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo
Vợ dặn tìm cho một cái kiềng
Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi
Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng
Cả năm mới có ngày thư giãn
Cũng phải khao mình tí cái riêng
CÁO LỖI VỚI QUÊ HƯƠNG
(Kính tặng quê hương Nam Trực)
Bươn trải bao năm ở chốn
xa
Về hưu cáo lỗi với quê nhà
Chưa cho Đồng Quỹ chuông rền tiếng
Chửa để Nam Giang thép trổ hoa
Đất Trạng thanh liêm còn nhắc trẻ
Quê Vua uy dũng vẫn khuyên già
Làm con xứ ấy nhiều danh giá
Càng phải vươn lên mới xứng là...
CỔ THÀNH
Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành
Một vùng khảo cứu uốn vòng quanh
Hoa văn tảng cũ còn nguyên vẹn
Nét khắc bia xưa vẫn rõ rành
Móng gạch nối nhau dăm bẩy lớp
Giếng xây chồng chận bốn năm vành
Mới hay quá khứ còn in đấu
Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành
BÌNH DƯƠNG VÀO HẠ
Vừa mới qua xuân đã hạ rồi
Khắp vùng nắng nóng tựa như sôi
Đôi con máy gặt vừa mới sắm
Mấy chiếc công nông đã sửa rồi
Lúa chín rải vàng trên mặt ruộng
Ngô già nhuộm đỏ cuối chân đồi
Mùa về cứ ngỡ như vào hội
Làng xóm hân hoan nở nụ cười
HƯƠNG CỐM
(Tặng Phước Tảo tác giả Hương Cốm)
Hương Cốm bay xa ngát cả chiều
Quý nhau xin chắp mấy vần yêu
Hà Trung thuở ấy mầm tươi thắm
Thiệu Hóa hôm nay trái chín nhiều
Tính thợ chỉn chu lo mọi sự
Tình thơ trọn vẹn thấu bao điều
Mới hay vàng ngọc trong bao vải
Hương Cốm bay xa ngát cả chiều
ĐẾN TUẦN CHÂU
Lại về vãng cảnh đảo Tuần Châu
Bốn phía mênh mang sóng bạc đầu
Nhà nghỉ dập dìu người bốn biển
Cửa hàng tấp nập khách năm châu
Bầu trời cao tít tình thơ mộng
Mặt đất bao la cảnh đẹp giầu
Đất nước yên bình trong độc lập
Vui thơ đặt bút viết đôi câu
NGẪU HỨNG NGÀY HƯU
(Nhớ về một thuở làm nông)
Công việc hình như vẫn đợi mình
Về hưu còn bận kế mưu sinh
Sáng ra tưới đạm ngô Bờ Sẻ
Chiều đến phun sâu lúa Cửa Đình
Đường xá đắp bồi đà trọn vẹn
Máng mương nạo vét đã phân minh
Bên đầm bát ngát mùa sen nở
Mượn bút gieo thơ tỏ chút tình
ĐÈO NGANG TỨC SỰ
Xe tới đèo Ngang nắng chửa nhoà
Đường hầm mới mở gọi vào ra
Thênh thênh mặt nhựa xe lăn bánh
Bát ngát đồi xanh mía trổ hoa
Trước mặt xôn xao phường mới mở
Sau lưng nhộn nhịp xóm thêm nhà
Lối xưa vắng vẻ không còn nữa
Tức cảnh đôi câu tặng bạn già...
NHỚ VỀ PHỐ CŨ QUÊ NHÀ
(Nhớ về Hà Nội xuân 2008)
Đã trải phong trần khắp bốn phương
Vẫn không quên nổi những con đường
Nhạt nhòa cầu cũ vầng trăng rụng
Lấp loáng hồ xưa giọt nắng vương
Tháp Bút chọc trời che bóng nắng
Đài Nghiên trải rộng tỏa hơi sương
Một thời kỷ niệm bao nồng ấm
Để lại trong lòng vạn nhớ thương
THƯƠNG QUÊ GẶP NẠN
(Kính tặng quê hương Nam Định)
Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà
Bão liền mấy trận thảy đều qua
Vuông tôm mới đắp không còn vết
Chạt muối chưa thu đã chảy xoà
Sức vóc bao nhiêu giờ mất cả
Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà
Đành rằng hoạn nạn đâu không thế
Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà
QUA BÃI KHÁCH XƯA
Mỗi ngày một trạm đã đi qua
Rừng rậm toàn cây chẳng có nhà
Võng vải treo lên đu bổng tít
Hoàng Cầm bếp đỏ khói luồn xa
Gió Lào thốc xuống ròn lưng áo
Sương muối trùm lên trắng mặt ga
Bãi cũ chiều nay không có khách
Lờ mờ dọc suối lối chân qua
TRỞ LẠI CỔ LOA
Mấy chục năm rồi mải đó đây
Xuân nay về lại với nơi này
Thành xưa chặn giặc đang còn dấu
Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy
Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín
Đền càng đầy chặt khói hương bay
Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất
Mặc những hòn tên cắm tại đây
VỀ YÊN DŨNG
Núi chắn sông ngăn cũng cứ qua
Mưa dầm gió lạnh có chi là
Vui duyên các cháu om xòm cỗ
Mừng gặp anh em ríu rít quà
Phố núi quanh co đèo với dốc
Làng sông bịn rịn mảng cùng phà
Yêu nhau quý mãi câu tình nghĩa
Một tý gian nan chẳng đáng mà
NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN
Dạo bước đi quanh khắp mặt đồi
Từng hàng thẳng tắp trắng màu vôi
Những dòng tên tuổi im không nói
Năm tháng thời gian lặng lẽ trôi
Nhớ lúc xông pha nơi chiến trận
Mà lòng chẳng ngại máu xương rơi
Ngàn năm còn đó câu oanh liệt
Mãi vẫn xanh nguyên giữa cõi đời
DÂNG LỄ ĐỀN CAO
Đền xưa yên lặng dưới vòm cây
Mái ngói rêu phong lá phủ dầy
Cỏ biếc lan quanh bờ đá mỏng
Cành lim phủ kín bậc hiên gầy
Đôi dòng lịch sử in trên bảng
Mấy cuốn văn thơ để trước quầy
Ngàn vạn gái trai về rước hội
Tưởng mùa xuân cũ lại về đây.
THĂM AM MỴ CHÂU
Việc nước đau sang cả việc nhà
Chuyện ngàn năm cũ đã đi qua
Cô đơn gốc đá trên nền tối
Lạnh ngắt am con buổi nguyệt tà
Mấy kẻ gian tình đi mất cả
Còn đây nợ đá một thân bà
Hồn thiêng xin hãy kêu thành tiếng
Để nợ duyên xưa cháy trước nhà
QUA BẾN SONG HỒ
Bến cũ Song Hồ sắp trở qua
Lơ thơ mấy khách đứng chờ phà
Vẻ xanh đổ xuống làn sông vắng
Sắc điệp tô lên mảng ánh tà
Lất phất tranh sơn treo trước cửa
Chơ vơ bó giấy dựng cuối nhà
Băn khoăn ướm hỏi người năm cũ
Còn bán tranh xuân được mấy tờ
VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH
Vạn lý non sông dựng luỹ thành
Lên cao xuống thấp cuốn vòng quanh
Chon von đỉnh núi mây giăng đỏ
Bát ngát chân trời cỏ trải xanh
Thảng thốt lòng khe con nước chảy
Bâng khuâng bậc đá mái đồn canh
Mang mang khí trận dường chưa tạnh
Xe cá về kinh gió vẫn tanh
HỒ GƯƠM TỨC SỰ
Sợi liễu bên hồ lãng đãng rơi
Nền gương phẳng lặng nước chơi vơi
Trên gò tháp cũ thong dong đứng
Dưới nước thần quy lặng lẽ bơi
Ngọn bút giương lên nền tím biếc
Chân nghiên trụ lại giữa mặt đồi
Ngàn xưa muốn gửi vào thiên cổ
Khí phách cha ông động đất trời
SÓNG LỤC ĐẦU
Một dải mênh mông sóng Lục Đầu
Sáu dòng trong đục chảy vào nhau
Lênh đênh dưới bến dăm thuyền cá
Thấp thoáng trên sông một nhịp cầu
Thuỷ trận năm xưa không thấy nữa
Chiến thuyền thuở ấy đã về đâu
Còn ai biết được ngàn năm trước
Gươm giáo rơi đầy tận đáy sâu
ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC
Núi Phượng chiều nay đỏ sắc cờ
Đền đài mới dựng giữa hoang sơ
Trường xưa hoa nở trò đang đợi
Điện mới thông reo khách vẫn chờ
Sửa đức can người lo vận hội
Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ
Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm
Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ
THĂM LẠI THĂNG LONG
Lâu nay mới lại đến Thăng Long
Một chút thăm chơi chẳng thoả lòng
Tĩnh lặng đền xưa trong lá biếc
Bồng bềnh cầu cũ dưới gương trong
Hình rùa gửi lại gò thần tích
Kiếm báu gieo vào nước trắng bong
Đất thánh ngàn năm đang đổi mới
Đợi người về với hội non sông.
THẠCH BÀN
Rạch đá xô nghiêng nửa mái đồi
Thạch Bàn tựa núi đứng chơi vơi
Hài hoa mấy dải treo ngang vách
Tiền giấy từng phên để dưới cơi
Tiếng đã từng quen danh tính phật
Lời nghe vẫn cứ dáng hình đời
Nước non dẫu chỉ nơi trần thế
Lặng lẽ nơi đây một cõi trời
PHONG NHA
Đất Quảng vang danh đã một thời
Phong Nha cổ tích luống đầy vơi
Sông Son khép lại ôm sườn núi
Cửa Tối chìa ra hứng mặt trời
Vách đá mơ hồ hình dáng phật
Lòng khe đầy chặt dấu chân người
Hồn thơ thăm thẳm bên bờ đá
Thánh thót trần hang giọt nhũ rơi
KINH BẮC
(Chợ Chờ tháng 7/2007)
Cảnh xưa có lẽ vẫn nguyên sơ
Vui bước chân quay trở lại Chờ
Cổ Nguyệt năm nao tằm chín mọng
Quan Đình bữa ấy rượu say mờ
Phủ Từ ngó thấy hàng đầy phố
Lục Ngạn nhìn ra vải kín bờ
Kinh Bắc ngày nào giờ đã khác
Đổi thay chừng ấy thật không ngờ
ĐẤT RƯỢU
Ai về thăm đất Đại Lâm đây
Rượu sắn năm nao vẫn cất đầy
Lúc nhúc trong chuồng heo đứng chặt
Xanh om mặt ruộng lúa đan dầy
Lớp trai mạnh mẽ quên mưa nắng
Lũ gái chăm ngoan mặc tháng ngày
Thiếu thốn đói nghèo giờ trốn biệt
Nghề xưa nuôi sống cả quê này
PHẢ LẠI
Một vùng sông núi rộng bao la
Phường phố vươn cao điện chói loà
Bạch Nhạn bãi xưa dù chẳng thấy
Phao Sơn thành cũ vẫn đây mà
Sáu đầu tách thuỷ chia nguồn nước
Ba tỉnh giao nhau góp vạn nhà
Phả Lại hôm nay vào cuộc mới
Lòng người rạo rực khúc xuân ca
PHẢ LẠI 2
Bạch Nhạn giờ đây chẳng nhận ra
Thành Phao có thấy nữa đâu mà
Nhà tầng ngất ngưởng bên sườn núi
Cầu mới nằm trên sóng Lục Hà
Đất cũ anh linh trùm mọi nẻo
Người nay tuấn kiệt hợp muôn nhà
Chung tay góp sức xây quê mới
Phả Lại vươn lên bước kịp đà
HÈ VỀ TRƯỜNG CŨ
Nắng sôi mặt nước dưới lòng khe
Có nhẽ hôm nay đã giữa hè
Cái cuốc nhặt khoan sau bãi mái
Con sầu rền rĩ cuối hàng me
Ra đi trước cổng sen hồng rực
Trở lại trên sân phượng đỏ loè
Bao đứa ngày xưa đâu thế nhỉ
Mình ta một bóng dưới hiên tre.
THĂM LỚP Ở NƠI ĐÌNH CŨ
(Cổ Loa 10-2001)
Cây đa ngàn tuổi mất từ lâu
Mái ngói chùa xưa đã bạc màu
Bàn gỗ, ghế băng tìm chẳng thấy
Bảng đen, trống cái cất vào đâu
Mặt, mày thủa ấy còn măng sữa
Cằm miệng năm nay đã sẵn râu
Mới đó giờ thành già lão cả
Một đời xem thấy thật là mau.
PHỐ LỌC CẢM TÁC (1)
Chợ Lọc chiều nay hoá phố rồi
Nhà tầng san sát trắng màu vôi
Năm nào chốt chặn đồn giăng kín
Giờ đã thông đường chợ khắp nơi
Làng xóm từng thừa người đói rách
Sân đình chẳng hiếm bọn ăn hôi
Quê hương cụ Tố không buồn nữa
“Đông Xá” giờ đây đổi mới rồi.
PHỐ LỌC CẢM TÁC (2)
(Lấy ý từ Tắt đèn Ngô Tất Tố)
Phố Lọc chiều xuân lãng đãng say
Dòng sông uốn lượn dưới vòm cây
Năm nào đầy rẫy đời tăm tối
Giờ đã không còn kiếp đắng cay
“Nhà Dậu” chửa quên từ thủa ấy
“Đình làng” còn nhớ đến hôm nay
Tuần, Cai, Lý, Nghị “mùa sưu thuế”
Gió mới huy hoàng đã cuốn bay.
PHỐ LỌC CẢM TÁC (3)
(Lấy ý Tắt đèn Ngô Tất Tố)
Chợ Lọc chiều nay hoá phố rồi
Nhà tầng san sát trắng màu vôi
Sân đình ngày ấy đầy gông trói
Những Nghị hôm nay đã hết thời
Nhà Dậu từng thừa mùi đói rách
Huyện đường đâu thiếu vị tanh hôi
Quê hương cụ Tố không buồn nữa
“Đông Xá” giờ đây đổi mới rồi.
QUA CẦU ĐÒ QUAN
(Nam Định 6/2007)
Bến cũ làng xưa chẳng thấy đâu
Đoàn xe cuồn cuộn lướt qua cầu
Ra đi mười tám xanh con mắt
Trở lại năm mươi bạc mái đầu
Đất mẹ quanh năm hồn gọi nhớ
Quê cha suốt tháng dạ kêu sầu
Giận người đi mãi nơi xa vắng
Mê mải bên trong vạn sắc màu.
ĐỀN GỐM
Tướng lĩnh thương nhân chỉ một ông
Nửa thì tư lợi nửa thì công
Bến Triều còn đó đền còn đó
Chứng cứ thì không án cũng không
Câu chuyện lưu truyền chưa chắc
đúng
Đôi dòng chép lại khó mà thông
Quân lương, hàng hoá đâu là thực
Ai có tinh tường giảng hộ ông.
THĂM CHÙA SÙNG NGHIÊM
Sùng Nghiêm mới được sửa sang xong
Tượng phật uy nghiêm đủ các phòng
Hộ Pháp khổng lồ ngồi trấn cửa
Thích Ca nhỏ bé ngự bên trong
Như Lai phật tổ ôm thiền toạ
Tam Thế dăng hàng dõi mắt trông
Cực lạc kìa ai đang đợi đó
Mới tu một kiếp khó mà thông
ĐI HỘI LIM
Hội Lim vừa mở rõ là to
Quan khách đã đông lại lắm trò
Nón thúng quai thao đầy dưới bến
Áo the khăn xếp rợp trên đò
Người về dự hội vui câu hát
Kẻ đến chơi xuân thích giải cờ
Mỗi cảnh, mỗi tình tuỳ ý bạn
Riêng mình gửi lại một vần thơ
GỖ KHẢM LIÊN HÀ
Lưu truyền vốn cổ tự ông cha
Khảm tỉa soi châm vẫn nếp nhà
Rồng cuốn hổ nằm thâm sắc gụ
Công xoè phượng múa đỏ vân hoa
Mắt thầy khéo tạo hình muông thú
Tay thợ quen đưa nét kỷ hà
Chợt thấy hồn thơ trong thớ gỗ
Lung linh huyền ảo xứ Liên Hà
MỪNG QUẢNG NINH
(Mừng hội thơ Quảng Ninh)
Đất Quảng thư hùng tự thuở xưa
Lời nào ca tụng để cho vừa
Biển thơm rồng xuống gieo linh khí
Đất quý than về thắp ước mơ
Trải cuộc kiếm tìm miền thắng tích
Dục thời mở cửa cõi hoang sơ
Giao lưu hội ngộ đôi lời xướng
Mừng bạn hôm nay mở hội thơ.
ĐẾN HỘI THU CHÍ LINH
Chí Linh thu đến mướt màu xanh
Muôn giọng đàn ca giữa đất lành
Phả Lại Lục Đầu từng nức tiếng
Côn Sơn Kiếp Bạc mãi vang danh
Cha ông kiến tạo dày công đức
Con cháu mở mang tỏ tấc thành
Nhân kiệt địa linh càng rực rỡ
Một vùng sông núi đẹp như tranh.
GỬI VỀ ĐẤT MỎ QUẢNG NINH
Đất thợ từng quen nói thật tình
Chẳng ưa phù phiếm với hư vinh
Câu thơ thấm thía gieo lòng bạn
Khúc hát say sưa tỏ chí mình
Lưỡi búa bổ vào nền đá rắn
Ngọn đèn rọi xuống máng than tinh
Một đời bận rộn vui cùng mỏ
Còn mãi muôn sau một dáng hình
CẢM TÁC ĐƯỜNG LÊN ĐẤT MỎ
Vòng xe cuồn cuộn lướt như bay
Một chặng đường vui sắp đến đây
Gặp bạn dạt dào câu chuyện kể
Tìm thơ rạo rực ngấm men say
Mây trời non nước còn nguyên vậy
Phố xá làng quê đã đổi thay
Đất mỏ than nồng hương
toả ấm
Biển xanh sóng dậy cánh thơ bay
CHIỀU VẮNG
(Sông Thái bình 9/2008)
Chiều như làn gió chảy sang đông
Đàn vịt theo sào đổ xuống sông
Lò đất nhấp nhô un dưới
khói
Bè tre lưng lửng cất trên không
Phải người năm trước vừa đi khuất
Để khách năm nay vẫn ngóng trông
Chiều vắng kìa ai còn đứng đó
Mắt nhìn muôn dặm tới mênh mông
CẢM XÚC SAO ĐỎ
(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)
Thị trấn thanh xuân mới buổi nào
Thời gian thấm thoắt có là bao
Bước chân đi tới đường thêm rộng
Ánh mắt nhìn sang phố đã cao
Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy
Trường vui trẻ đến sóng sôi trào
Ba mươi năm ấy miền quê núi
Rực cháy huy hoàng một Ánh Sao.
GỬI VỀ NAM SÁCH
(Kính tặng PN thơ Đường Nam Sách)
Mười năm bền chí với thơ Đường
“Bóng nước Kinh Thầy” thắm sắc
hương
Đạo cốt thanh tao lời thánh thiện
Ý tình nhuần nhã dáng phong sương
Nhân văn phẩm hạnh vừa khai mở
Trí lực tâm tư đã khác thường
Một áng thơ mừng đầy ngưỡng mộ
Gửi về Nam Sách vạn yêu thương.
QUÊ LÚA THẮM SAO CỜ
Chúc cho Thanh Miện mãi tươi thơ
Truyền tụng danh thơm khắp bến bờ
Nam, Bắc hai miền luôn rực sáng
Tùng, Giang đôi xứ chẳng phai mờ[1]
Đạo người nền nã luôn yêu quý
Thế đất thanh tao mãi phụng thờ
Tiếp bước người xưa luôn cố gắng
Dựng xây quê lúa thắm sao cờ.
HÀO KHÍ ĐÔNG A
Hào khí Đông A rực lửa hồng
Một thời oanh liệt của cha ông
Bình Than khai hội bàn mưu kế
Vạn Kiếp dàn quân lập chiến công
Cự Nguyệt thây thù phơi kín đất
Bạch Đằng xác giặc nổi đầy sông
Ngàn năm danh tiếng còn vang mãi
Hào khí Đông A rực lửa hồng
MÙA SAU
Sớm nay nắng ấm đã về đây
Đồng đất miên man những sá cầy
Mạ rắc trong năm vừa đủ tuổi
Đất bừa giáp tết kịp trang lầy
Ruộng Phao nước mát chan bờ thửa
Đồng Thuỷ mạ xuân đã mọc dầy
Chính phủ gửi cho nguồn giống mới
Mùa sau lúa tốt vạn kho đầy
VUI THƠ VỚI BẮC GIANG
Theo bạn vui thơ tới Bắc Giang
Sông Thương mời khách quý như vàng
Luật đường chặt túi ngâm kỳ thích
Thịt chó đầy mâm chén tới quang
Mở cuộc tao phùng cho lắm khách
Hẹn kỳ sinh nhật để thêm trang
Quý nhau đâu kể to hay bé
Xa mấy thì ta cũng cứ sang
VIẾT Ở CHÙA ĐỒNG 1
Mù trắng bao vây kín bốn bên
Đỉnh cao im lặng giữa thâm nghiêm
Mái đồng gội nắng xoa đen bóng
Mặt đá sương dầm cạnh sắc thêm
Cung điện ngoái đầu không thấy nữa
Biên cương trước mặt đã giăng lên
Ngàn năm sắp sửa trôi qua mất
Nhân thế dường như chửa láng quên
VIẾT Ở CHÙA ĐỒNG 2
Đỉnh cao vời vợi đứng uy nghiêm
Sương xuống giăng che kín bốn bên
Mặt đá dầm mưa càng thấy lạnh
Mái đồng gội nắng ngỡ thêm đen
Biên cương trước mặt đang gần tới
Cung điện sau lưng đã cách thêm
Dáng phật hiện về từ quá khứ
Bâng khuâng dừng bước ngắm chùa
thiêng
NHỚ NHỮNG HỘI QUÊ
(10/12/2009)
Làng Diềm vào đám say quan họ[2]
Xứ Guột mừng mùa gọi ró lên[3]
Nỗi bạn khát khao câu hát ống
Tình ta chan chứa khúc giao duyên
Tưởng khi chung bước lên quan dốc
Nhớ lúc cầm tay cặp mạn thuyền
Mấy chục mùa xuân chưa trở lại
Hỏi người áo thắm nhớ hay quên
QUAN HỌ
Câu ca quan họ đã thân quen
Vào đám tìm nhau giữa đẩy chen
Nhặt nón gửi người che nắng giãi
Trao thơ tặng bạn đón trăng lên
Nhờ xuân nghĩa cũ may còn dịp
Cậy hội tình xưa mới có phen
Non nước đầy vơi ai biết hết
Bao miền yêu dấu vẫn còn nguyên
TAO PHÙNG KINH BẮC
Quê hương Kinh Bắc lắm tơ vương
Truyền tụng vang xa vạn dặm đường
Khúc hát mời trầu vang khắp chốn
Câu thơ gọi bạn vọng ngàn phương
Cha ông đánh giặc lừng danh tiếng
Con cháu dựng xây dậy sắc hương
Quý bạn tao phùng đôi vận chúc
Xin mời thi hữu hoạ vài chương.
ĐI THANH HOÁ
(Tháng 11/1966)
Con số mười ba đến xứ Thanh
Xa xôi, ta địch vẫn giao tranh
Máy bay lảng vảng thường lao xuống
Tầu chiến lăm le vẫn đứng rình
Máy điện giữ nguồn thề chiến thắng
Hàm Rồng nối nhịp quyết hy sinh
Bỗng dưng cánh thợ thành ra lính
Lũ giặc Huê Kỳ sợ khiếp kinh
THĂM HUẾ
Mới gặp mà sao đã thiết tha
Sông Hương dìu dặt tiếng đàn ca
Lầu xưa nắng rót xanh màu ngọc
Vườn mới sương
buông tím sắc hoa
Thái Miếu thong dong chờ khách đến
Tràng Tiền nhộn nhịp đón người qua
Mới vừa gặp gỡ chiều thu Huế
Cứ tiếc mai ngày đã phải xa
THĂM ĐỀN KHÚC THỪA DỤ
Nước non Đại Việt bốn ngàn năm
Ngoại thuộc đan xen với nội xâm
Mấy cuộc tồn vong chưa hết giận
Bao lần thành bại vẫn còn căm
Vua Bà vững chí đòi trả hận
Khúc Chủ kiên gan gắng lập thân
Quyết nắm trong tay nền tự chủ
Quang vinh cho nước phúc cho dân
BÊN SÔNG THƯƠNG
Bến xuân chiều lặng khói xanh lơ
Dòng nước sông Thương chảy lững lờ
Thuyền lưới buông chèo nương bến
đá
Đàn chim sải cánh cuốn mây tơ
Quê hương thuở nhỏ xa lăng lắc
Bè bạn thanh xuân vắng lặng tờ
Chiều xuống sương rơi càng thấy lạnh
Một mình còn lại giữa chơ vơ
CẢM XÚC ĐỀN THIÊNG
Phượng Sơn xanh biếc ngất trời mây
Núi vẫn còn in bóng dáng thầy
Son Giếng lờ mờ sương phủ kín
Miết Trì rậm rạp cỏ giăng đầy
Bia xưa bày tỏ câu trung liệt
Đền mới suy tôn đạo nghĩa dày
Thất trảm sớ văn trùm khí phách
Tưởng như còn vọng mãi nơi này
ĐỔI THAY
Trở lại Quất Lâm buổi sáng nay
Tưởng đâu xa cách mấy ngàn ngày
Sau lưng đồng ruộng vừa gieo cấy
Trước mặt phố phường mới dựng xây
Mặt biển bao la vàng dưới cát
Bầu trời bát ngát biếc trong mây
Quê ta phấn khởi theo lời Đảng
Cảnh sắc giờ đây đã đổi thay.
TÌNH THƠ BỀN CHẶT
(Thơ mời hoạ)
Bắc Ninh tha thiết, mến thương ơi
Nơi đã sinh ta thuở thiếu thời
Nhớ cũ xóm làng xanh cuối bãi
Mừng nay phường phố đỏ ven đồi
Câu ca Quan họ gieo muôn điệu
Khúc hoạ Đường thi chắp vạn lời
Nhân hội tao phùng đôi vận chúc
Tình thơ bền chặt đến muôn đời.
GỬI THƠ VỀ HOẰNG YẾN
(Họa thơ Hồ Văn Thiện)
Thanh Hóa trong ta mãi nặng tình
Xóm thôn đồng ruộng suốt năm xanh
Ríu ran Thịnh Liệt dòng tâm sự
Xao xác Ngu Giang cánh lục bình
"Đường luật" trước sau
càng ý nhị
"Bóng chiều" sáng tối vẫn
phân minh
Một mai trở lại thăm Hoằng Yến
Treo mấy vần thơ trước cửa đình.
CỔ THÀNH
Quá khứ nằm sâu dưới Cổ Thành
Một vùng khảo cứu uốn vòng quanh
Hoa văn tảng cũ coi còn rõ
Nét khắc bia xưa ngó vẫn rành
Móng gạch nối nhau dăm bẩy lớp
Giếng xây chồng chận mấy mươi vành
Mới hay lịch sử còn nguyên đấu
Quá khứ nằm sâu dưới Cổ Thành
BÌNH DƯƠNG VÀO HẠ
Vừa mới qua xuân đã hạ rồi
Khắp vùng nắng nóng tựa như sôi
Đôi con máy gặt vừa mới sắm
Mấy chiếc công nông đã sửa rồi
Lúa chín rải vàng trên mặt ruộng
Ngô già nhuộm đỏ cuối chân đồi
Mùa về cứ ngỡ như vào hội
Làng xóm hân hoan nở nụ cười
HƯƠNG CỐM
(Tặng tác giả Hương Cốm)
Hương Cốm bay xa ngát cả chiều
Quý nhau xin chắp mấy vần yêu
Hà Trung thuở ấy mầm tươi thắm
Thiệu Hóa hôm nay trái chín nhiều
Tính thợ chỉn chu lo mọi sự
Tình thơ trọn vẹn thấu bao điều
Mới hay vàng ngọc trong bao vải
Hương Cốm bay xa ngát cả chiều
ĐẾN TUẦN CHÂU
Lại về vãng cảnh đảo Tuần Châu
Bốn phía mênh mang sóng bạc đầu
Nhà nghỉ dập dìu người bốn biển
Cửa hàng tấp nập khách năm châu
Bầu trời cao tít tình thơ mộng
Mặt biển bao la cảnh đẹp giầu
Đất nước yên bình trong độc lập
Vui thơ đặt bút viết đôi câu
NHỚ VỀ HÀ NỘI
Đã trải phong trần khắp bốn phương
Vẫn không quên nổi một con đường
Nhớ về lối cũ vầng trăng rụng
Tưởng đến vườn xưa giọt nắng vương
Bút tháp chọc trời xuyên đáy nước
Đài nghiên mở rộng tỏa hơi sương
Tình quê muôn thuở bao nồng ấm
Để lại trong lòng vạn sắc hương
VỀ VỚI BÌNH GIANG
Lại về dự hội với Bình Giang
Chúc thọ xuân vui khắp cả làng
Đường xá giao thông càng rộng rãi
Phố phường nhà cửa vẫn thênh thang
Đông thương lắm lúc chờ người đến
Đoài nhớ nhiều khi đợi bạn sang
Vui chuyện kể về nơi chốn cũ
Giờ đây quê mới đã khang trang
MONG ĐÔI CÁNH
Vừa mới nghe tin gió bấc về
Lúa xuân gặp giá chết nhiều ghê
Đầu Din mới giặm loi thoi mọc
Cuối Cửa vừa gieo lốm đốm huê
Gội gió mặt cha thường vẫn tái
Dầm mưa chân mẹ lắm khi tê
Chỉ mong ai đó cho đôi cánh
Bay vút lên trời trở lại quê
ĐỀN NGUYỄN TRÃI
Một dải đền thiêng giữa đại ngàn
Tế văn bài vị ngự trên ban
Một thiên tuyệt bút còn thơm mực
Muôn ngọn trầm hương khói tỏa lan
Bãi Đá tỏ mờ hình bóng hạc
Bàn Cờ ẩn hiện dáng thanh quan
Dẫu cho máu đỏ chan trên đất
Nước vẫn yên bình giặc đã tan
MỘT KHOẢNG THỜI GIAN
Thanh Hóa giờ đây đã khác rồi
Phố phường làng xóm mới tinh khôi
Cánh đồng thẳng tắp xanh màu lúa
Xưởng máy vươn cao trắng sắc vôi
Thọ Hạc cửa hàng càng tấp nập
Đình Hương phố chợ đã đông vui
Bước chân du khách như vào hội
Một khoảng thời gian mải miết trôi
TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG
Trở lại quê Thanh buổi sớm nay
Đồng quê mới cấy lúa đan dầy
Long Quang động cũ thơ còn đó
Hòn Ngọc núi xưa tích vẫn đây
Yên Vực quê nghèo vừa dựng lại
Hoàng Long phố lớn đã đang xây
Một thời đánh giặc gương ngời sáng
Lịch sử ngàn năm chẳng đổi thay
TRỐNG ĐỒNG
Trống đồng thuở trước xếp nơi đây
Từng lớp hoa văn nét vẫn đầy
Thoáng thấy kinh hồn quân xứ Bắc
Chợt nghe bạc tóc giặc đằng Tây
Kim quang tóa sáng bao trên mặt
Lạc việt vây quanh nối kết bầy
Chửa kịp chạm tay vào cổ vật
Âm ba xao động cả trời mây
ĐỔI NGHỀ
Lại trở về thăm đá Núi Nhồi
Nhớ từ ngày tháng đã xa xôi
Tiếng mìn phá đá đau hồn núi
Ngọn khói lò nung đắng vị vôi
Rời bỏ nghề xưa buồn mấy đận
Tìm công việc mới biết bao hồi
Nghe theo lời Đảng ươm nghề mới
Phố núi giờ đây đổi khác rồi
TRỞ LẠI HÀM RỒNG
Mấy chục năm nay mới trở về
Hàm Rồng vẫn nối giữa hai đê
Xôn xao Đông Tác tươi làng xóm
Rộn rã Hoàng Long đẹp phố quê
Đánh giặc một thời từng dũng cảm
Dựng xây mấy thuở lắm
say mê
Ước mơ từ ấy bao trăn trở
Mấy chục năm nay mới trở về
CẢM XÚC TÂY GIAI
Có bao giấy mực với từ chương
Về một Tây Giai lắm đoạn trường
Dẫu gắng vì đời nuôi nghiệp đế
Vẫn hằn di hận thoán ngôi vương
Dăng dăng muôn đá chồng lên đá
Cuồn cuộn ngàn sương đọng dưới
sương
Du khách dời chân còn ngoảnh lại
Trời chiều dằng dặc mối sầu thương
XUÂN PHẢ LẠI
Heo may đã tạnh cuối trời xa
Nắng mới soi lên vạn mái nhà
Thạch Thuỷ quất vàng mời khách tới
Thành Phao đào đỏ đón người qua
Trẻ thơ hăm hở đi chơi tết
Phụ lão thong dong đến hội già
Phả Lại sang xuân vui rộn rã
Phố xưa đổi mới chẳng ai ngờ
CHÍ LINH SÔNG ĐUỐNG
(Về Sông Đuống tháng 11/2013)
Mênh mang Thiên Đức sóng trào sôi
Muôn lớp phù sa đắp bãi bồi
Đường phố xôn xao xe trẩy ngược
Dòng sông rộn rã chuyến tầu xuôi
Miền quê thanh lịch vươn tầm mới
Muôn khúc Đường thi lại nảy chồi
Một áng thơ vui mừng chúc bạn
Chí Linh Sông Đuống mãi chung đôi
NGÃ BA DÂU
(Về Sông Đuống tháng 11/2013)
Lại về ngắm cảnh ngã ba Dâu
Sông Đuống mênh mang sóng bạc đầu
Không dễ tìm ra miền rộng hẹp
Chẳng sao dò nổi chỗ nông sâu
Phù sa bồi đắp tươi cây trái
Nước mát tưới tiêu đẹp lúa mầu
Vườn ruộng được mùa vui mở hội
Quê hương từ khó đã nên giầu
GỬI VỀ XỨ NGHỆ
Gửi về xứ Nghệ một tình yêu
Nói ít mong ai đó hiểu nhiều
Héo dạ khêu mưa khi chợn rợn
Mặc lòng thả lửa lúc phiêu diêu
Khơi tình ngắm nụ khi mờ sáng
Cạn lý xem hoa lúc xế chiều
Có gặp được đâu mà ước hẹn
Nên đành mượn bút thả lời yêu
VẬN THƠ BÀ CHÚA
(Nhân nghe nói về quê bà chúa)
Bà Chúa Thơ Nôm đã mất rồi
Chỉ còn cái bóng ở đây thôi
Đời trai vất vả đau bao thuở
Kiếp gái truân chuyên cực mấy hồi
Chỉ ngại người quen đòi nợ khuyêt
Lại thương kẻ lạ vướng duyên bồi
Nét quê khéo vận hòa trong cảnh
Để những miền thơ lại nảy chồi
CHO RỒI CHƯA CHO LẠI CHO RỒI
(Vận theo cách nói của người xứ
Nghệ)
Thư này chắc sẽ đến Quỳnh Đôi
Chẳng biết cây khô có nảy chồi
Câu chữ họa vần chưa kết một
Mối giây tình cảm vẫn hòa đôi
Đã từng nếm trải miền hy vọng
Còn tưởng chi đâu đoạn tái hồi
Một tiếng tơ lòng vương ngó ý
Cầu mong muôn sự trọn cho rồi
TÌM DẤU NHẠN LOAN
(Nhân Huệ mùa nước mới)
Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè
Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe
Đàn trâu gặm cỏ chen trên bãi
Lũ vịt mò tôm lặn dưới khe
Nhà cửa mới làm vôi trắng toát
Vườn cây vừa tạo quả xanh lè
Bến thuyền ngày ấy không còn nữa
Làng xóm yên bình dưới bóng tre
CÁO LỖI VỚI QUÊ HƯƠNG
(Kính tặng quê hương Nam Trực)
Bươn trải bao năm ở nơi
xa
Về hưu cáo lỗi với quê nhà
Chưa cho Đồng Quỹ chuông rền tiếng
Chửa để Nam Giang thép trổ hoa
Đất Trạng thanh liêm còn nhắc trẻ
Quê Vua uy dũng vẫn khuyên già
Làm con xứ ấy nhiều danh giá
Càng phải vươn lên mới xứng mà...
XUÂN CHIỀU
Từ chiều xuân ấy mãi tơ vương
Nào có xa chi nửa dặm trường
Xóm Lác người thưa mưa thấm áo
Sông Cầu bến vắng nắng soi gương
Bao cồn cát trắng phơi ngoài bãi
Mấy dải đay xanh kín mặt đường
Làng cũ tranh tre không thấy nữa
Nhà tầng san sát dưới màn sương
CHÍ LINH MÃI NGUYÊN XANH
Một vùng đồi núi đẹp như tranh
Tụ hội bao nhiêu chuyện tốt lành
Phả Lại Lục Đầu từng nức tiếng
Côn Sơn Kiếp Bạc đã vang danh
Muôn nơi tụ hội gom công đức
Khắp xứ chia nhau sức tạo thành
Nhân kiệt địa linh chừng đã mở
Một vùng hoa cỏ mãi nguyên xanh
GIÓ THƠM VƯƠNG
Chiều xuân đi hội với người thương
Khách đến xôn xao mọi nẻo đường
Vách đá Kỳ Lân mưa thấm lạnh
Rừng thông nảy lộc gió đưa hương
Đào hồng khép nụ phơi trong nắng
Cúc tím xòe hoa đọng dưới sương
Mắt biếc lướt sang vai áo mỏng
Tóc mây chợt xổ gió thơm vương
DU XUÂN QUÝ TỴ
Mặt hồ gợn sóng tím trong sương
Cây trái xum xuê kín phố phường
Rừng vải đơm hoa soi đáy nước
Vườn na nảy nụ khắp đồi nương
Vầng mây lờ lững xanh triền núi
Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường
Lữ khách du xuân vừa cập bến
Đào mai nở rộ ngát mùi hương
XUÂN GIÀ
(Xuân Canh Dần)
Năm nay gặp nhuận tháng dư ra
Tết cũng thong dong chẳng vội mà
Bánh trái vừa mua đầy gác bếp
Quất đào mới sắm chật hiên nhà
Gà nuôi thóc sạch đầy chuồng đợi
Rau tưới nước trong kín bãi chờ
Thêm cháu mới sinh về quấn quít
Thảnh thơi nâng bút vịnh xuân già
LÊN YÊN SƠN
(Hoạ nương vần thơ Trần Thị Yên)
Trở lại Yên Sơn viếng Phật Hoàng
Đơn sơ chỉ với một tuần nhang
Mái chùa tím nhạt trùm sương trắng
Đỉnh núi xanh mơ nhuộm nắng vàng
Rừng Đá Đường Tùng cây mọc kín
Giải Oan Cầm Thực cỏ dần quang
Bước chân du khách thêm hối hả
Trở lại Yên Sơn viếng Phật Hoàng.
ĐỢI BẠN VỊNH XUÂN
(Họa nương vần thơ Xuân Khôi)
Đợi mãi mà sao bạn chẳng sang
Chiều nay mưa tạnh nắng hoe vàng
Rượu cần đã ngấu treo trên bếp
Thịt thỏ còn tươi buộc dưới thang
Mặc khách xôn xao về ngắm chợ
Tao nhân tấp nập tới thăm làng
Thơ xuân hứa hẹn đang chờ vịnh
Đợi mãi mà sao bạn chẳng sang.
ĐÊM TRẮNG
(Hoạ thơ Nguyễn Xuân Nghiệp)
Đêm trắng như khơi vạn mối sầu
Một mình trăn trở suốt canh thâu
Chập chờn trước mặt bờ gai rậm
Thấp thỏm sau lưng lạch nước sâu
Quá khứ từng qua đầy ảo vọng
Tương lai sắp đến lắm thương đau
Tiếng chuông chùa sớm vừa vang động
Lại một ban mai sắp bắt đầu.
VUI CÙNG THI HỮU
(Họa thơ Nguyễn Văn Hội)
Tình thơ đồng điệu có xa đâu
Cảm tạ thi huynh đã bắc cầu
Dẫu chỉ đơn sơ từ bữa ấy
Mong rằng nồng đượm mãi về sau
Gửi tình Thanh Hóa trao đôi ý
Đáp nghĩa Hải Dương gửi mấy câu
Mong sớm có thơ về với bạn
Chong đèn ngồi họa suốt canh thâu
NHỚ XƯA MẸ VẪN ĂN TRẦU
Tết mẹ năm nao cũng có trầu
Bình vôi tôi sẵn cất từ lâu
Cau tươi nhà hái dăm ba quả
Rễ quạch con mua hẳn một đầu
Cối cũ quai đồng tươi sắc đỏ
Chày xưa cán thép bóng mầu nâu
Đêm nao mẹ cũng ngồi bên cửa
Đợi thuốc con đưa để thử trầu.
ĐẾN HOÀNG THÀNH
Những tán cây cao lá biếc xanh
Soi lên vàng ửng những thân cành
Đất trăm thập kỷ còn tươi mới
Nước bốn nghìn xuân vẫn ngọt lành
Mương rãnh nối nhau thông khắp ngả
Chân tường trải rộng uốn vòng
quanh
Mới hay lịch sử còn lưu dấu
Bao lớp chồng lên dưới Cổ Thành
XUÂN QUAY
Xuân vừa qua đó đã xuân quay
Miếng vá thời gian nối những ngày
Nửa sáng nửa chiều qua nửa tối
Chén nưng chén vực chén hằng say
Danh chờ danh đợi danh không tới
Phận đến phận đi phận chẳng may
Mỗi cuộc trần ai muôn gánh nợ
Xuân vừa qua đó đã xuân quay
HỎI CHUYỆN CHÙA HƯƠNG
Bến Đục bây giờ có đục không
Hay là nước cũ đã thành trong
Thuyền chờ đón khách chen dăm lượt
Khách đợi du xuân chặn mấy vòng
Vãng cảnh ngày nào còn vất vả
Thăm chùa nay cũng đã thong dong
Người làng tìm đạo giờ sao vắng
Chỉ khách đường xa đến rõ đông
VỀ VỚI CHỢ VIỀNG
Qua tết về quê xuống chợ Viềng
Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng
Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo
Vợ dặn tìm cho một cái kiềng
Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi
Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng
Cả năm mới có ngày thư giãn
Cũng phải khao mình tí cái riêng
NHẮC LỜI HẸN CŨ
Người về Phả Lại với ta chăng
Lầu gác giờ đây kín mặt bằng
Chợ đến Thành Phao hoa chặt lối
Phố về Thạch Thuỷ điện che trăng
Đồi xưa đá sỏi xanh toàn vải
Làng cũ tranh tre đỏ những tầng
Lời hẹn năm nào ai có nhớ
Người về Phả Lại với ta chăng.
SÓNG LỤC ĐẦU
Một dải mênh mông sóng Lục Đầu
Sáu dòng trong đục chảy vào nhau
Lênh đênh dưới bến dăm thuyền cá
Thấp thoáng trên sông một nhịp cầu
Thuỷ trận năm xưa không thấy nữa
Chiến thuyền thuở ấy cất về đâu
Mấy ai biết được ngàn năm trước
Máu giặc loang trên sóng đỏ ngầu
CHUYỆN CÙNG HÒN NẸ
(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)
Hòn Nẹ từ xưa vẫn ở đây
Hoàng hôn nhuộm đỏ hắt lên mây
Tiền tiêu giữ biển từng xung trận
Điểm tựa canh trời đã dựng xây
Chiến hạm rình mò trôi mất xác
Tầu bay cắn trộm vỡ tan thây
Đất liền biển đảo luôn chờ sẵn
Giặc cướp xông vào quét sạch ngay
ĐỌC “NỬA VẦNG TRĂNG”
(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)
Hoàng hôn nhuộm đỏ cuối trời xa
Ai đó gửi thư kể chuyện già
Sáng sáng hẹn hò cùng cổ luật
Chiều chiều tình tự với cầm ca
Gắng công nén lại quên mây gió
Rán sức co về trốn nguyệt hoa
Mỗi đọc một đau đời thiếu phụ
Chỉ mong có dịp đến thăm nhà
HỨNG DỪA
(Nhân xem tranh Hứng dừa)
Chợ tết năm nay rõ lắm tranh
Cổ dừa trĩu quả quấn vòng quanh
Trái tơ anh hái vừa mới rụng
Váy cũ em giăng chắc vẫn lành
Ngửa mặt nhìn trời trời đã đỏ
Cúi đầu ngắm đất đất càng xanh
Kìa ai vui thú trên khuôn gỗ
Còn mãi ngàn năm một bức tranh
THƠ XANH
Vườn cũ sương mờ khách vắng tanh
Trăng vàng phủ kín những thân cành
Đôi ba tiếng vạc kêu sầu muộn
Dăm bảy giọng trùng réo quẩn quanh
Kẻ đã thênh thang nơi gác tía
Người còn lận đận chốn lều tranh
Giọt sương nhè nhẹ rơi trên lá
Thơ viết ngàn trang tứ vẫn xanh
CHIỀU QUÊ
Ruộng mới bừa xong đất mịn màng
Đồng chiều xa tắp rộng mênh mang
Chòm mây lơ lửng buông rèm trắng
Vạt nắng lung linh rải nhiễu vàng
Lốm đốm áo hoa chen lối dọc
Rập rờn nón lá xếp hàng ngang
Chiều quê bình lặng như muôn thuở
Bất chợt trong ta cứ ngỡ ngàng
CỐ NHÂN
Còn đó bên trời tiếng sáo ngân
Đầm sen hoa trắng nở trong ngần
Sáng neo thuyền đợi mong nhìn trộm
Đêm thức chờ trăng muốn đứng gần
Mấy độ chia tay không ước hẹn
Bao lần gặp mặt chẳng cầu thân
Nào ai biết được lòng ai đó
Đành nhẽ đau buồn gọi cố nhân
CÓ CÒN AI ĐÓ NHỚ TA
Gió chiều xô dạt lá sầu đông
Người cũ hình như đã lấy chồng
Bốn góc mái đình dường trĩu nặng
Một vành giếng đất cũng mênh mông
Nắng vàng ai rải đầy trên bãi
Mây trắng ai phơi kín cả đồng
Cúc dại trổ hoa bên cánh cổng
Có còn ai đó nhớ ta không
CHỢ BÊN SÔNG
Chợ làng vẫn họp ở bên sông
Tia nắng ban mai rực ánh hồng
Kẻ đến xôn xao dồn xuống bắc
Người về hối hả kéo sang đông
Khách mua hỏi giá say sưa ngắm
Chủ bán hả hê dõi mắt trông
Cả chợ tưng bừng như mở hội
Chợ làng vẫn họp ở bên sông
NHỚ HUẾ
Phố Cổ chiều thu khói nhẹ vương
Nhớ sao một thuở Huế yêu thương
Hào ngăn chiến hạm giăng ngang bến
Chốt chặn xe tăng dựng dọc đường
Thành Nội tưng bừng hoa giữa nắng
Tràng Tiền nhộn nhịp khách trong
sương
Gặp nhau có nhớ đêm truy kích
Cờ đỏ tung bay kín quảng trường
QUA CHỢ THÀNH PHAO
Rảnh việc đi thăm chợ ngắm hàng
Cổng vào rải nhựa rộng thênh thang
Vừa qua quán trước coi quỳ tím
Lại đến quầy sau ngắm cúc vàng
Tôm cá muối dưa đầy lối dọc
Áo quần dày dép kín đường ngang
Bao giờ nâng cấp lên thành phố
Siêu thị bung ra khắp cả làng
Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016
HỘI
THẢO TRẦN TẾ XƯƠNG VỚI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Đôi lời phi lộ:
Trên cơ sở thư mời hội thảo khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn
Phát huy văn hóa dân tộc, Hội thơ Đường luật Việt Nam và Hội Văn hóa nghệ thuật
Nam Định ngày 5/7/2016 với đề tài: Tú Xương với thơ Đường luật Việt Nam.
Là một người con của Nam Định luôn mong mỏi được tri ân với quê hương và đáp ứng
thịnh tình các tổ chức nêu trên. Tôi đã viết bài: Trần Tế Xương - Người
hình thành thơ cách luật Việt Nam. Bài viết có thể còn sơ sài rất mong các
bạn có dịp ghé qua Lehoablog thể tình cho người viết.
NGƯỜI HÌNH THÀNH THƠ CÁCH LUẬT VIỆT NAM
Từ xưa đến
giờ những người làm văn, làm thơ không ai là không có những phản ảnh về bản
thân và xã hội đương thời qua tác phẩm. Trong nhiều bài viết về Trần Tế Xương
cũng đã từng nói về điều đó. Đây chính là những nhân định ban đầu chứng minh
cho quan điểm coi tác phẩm của ông như một Thông điệp văn học sử, phản ảnh về
con người và xã hội trong giai đoạn Thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX trên đất nước ta.
Nhà thơ
Trần Tế Xương, tên khai sinh là Trần Duy Uyên, sinh năm 1870 tại Nam Định
và mất năm 1907. Cuộc đời ông nằm gọn trong bước đầu cuộc xâm lược của thực dân
Pháp và quá trình thực dân hóa của người Pháp trong nhiều năm sau đó. Đây là
giai đoạn xã hội vô cùng bế tắc và nghiệt ngã trong thiết lập độc quyền của chế
độ thực dân và cuộc vật lộn của chế độ phong kiến cố vớt vát chút quyền lợi
trong sự tan rã tuyệt vọng.
Chứng
minh cho điều này dường như chúng ta đã tìm thấy trong Trần Tế Xương tác phẩm.
Chỉ cần mảng thơ luật Đường viết bằng chữ nôm của ông đã có thể dẫn ta đi tới sự
tận cùng mọi tầng lớp con người và xã hội thời đó. Điều đặc biệt hơn đó là mỗi
tác phẩm của ông đều chứa đựng sự phán xét cùng những kết luận sai, đúng giúp
ta có những khái niệm đầu tiên về con người và xã hội đương thời. Những gì mà
ông đề cập đến chính là sự thay đổi ghê gớm của các tầng lớp quan lại, thị dân
đầu tiên dưới chế độ thực dân hóa ở chính nơi ông sinh ra và lớn lên. Bên cạnh
đó là phản ảnh về sự dãy dụa của chế độ phong kiến thông qua hệ thống trường
thi và tầng lớp sĩ tử trong đó có chính nhà thơ.
Cũng từ
các nghiên cứu về Trần Tế Xương, đa số các tác giả đều cho rằng ông có trên 170
tác phẩm văn chương với nhiều thể loại. Trong đó có 123 bài thơ theo thể luật
Đường viết bằng chữ nôm cùng với 83 bài dịch thơ Đường của các nhà thơ
hàng đầu của Trung Quốc qua các thời kỳ. Trong số 123 bài thơ viết theo thể luật
Đường, phần lớn các bài thơ đều là thơ trào phúng với giọng điệu phê phán đến
nghiệt ngã nhưng vẫn luôn mang chất trữ tình trong thơ. Về nghệ thuật làm thơ của
ông thật là điêu luyện trong cách dùng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ cùng với sự
chọn lọc đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam cách xa lối thơ Đường
luật từ các thời đại trước đó.
Về phía
tác phẩm, cũng như đã nói trên đây, Trần Tế Xương là người có chính kiến rõ rệt
trong nhận định tốt và xấu. Ông thẳng tay phê phán bất kể là ai cùng với những
trò hề thay đen đổi trắng mong cầu lợi cho mình, cho dù là vài đồng tiền phân bạc,
đến chức vị quan lại béo bở với các thủ đoạn bòn rút bóc lột dân lành. Ông đã
trào lộng đến tầng lớp cao nhất trong bộ máy cai trị thực dân như Quan sứ và mụ
đầm, vợ ông ta cho đến tầng lớp thị dân vừa xuất hiện từ khi Pháp đến xâm lược
nước ta.
II. BỘ MẶT THỰC DÂN TÀN ÁC PHẢN ĐỘNG
Cùng với
bút pháp điêu luyện của mình ông đã vẽ nên những hình ảnh vênh vang trơ tráo và
lạc lõng của các quan thực dân
Cờ kéo rợp
trời, quan sứ đến
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.
Chẳng những thế, đến cả
lính thực dân cũng ra oai người nhà nước hạch sách và làm tình, làm tội người
dân đến mức quái dị và đê tiện:
Hà Nam danh giá nhất ông cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho
Hai mái trống toang đành chịu dột
Tám giờ chuông đánh phải nằm co
Người quên mất thẻ âu trời cãi
Chó chạy ra đường có chủ lo
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được
Phen này ắt hẳn kiếm ăn to
III. BỘ MẶT QUAN LẠI PHONG KIẾN HỦ BẠI
Bên cạnh các thế lực ngoại bang là bè lũ quan lại người Nam vừa
đớn hèn vửa trơ tráo giương mắt lên nhìn nỗi nhục mất nước. Đây cũng chính là
cái tròng thứ hai thít chặt vào cổ người dân bằng mọi thủ đoạn thâm hiểm và ác
độc.
Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét
Giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh
Cổ cong mặt lệnh, người đâu thế
Cái cóc bôi vôi khéo dại hình
Nhà thơ
cũng kể ra cho ta thấy bộ mặt thật của bọn quan lại thời đó cùng với tệ nạn bài
bạc, ăn chơi trụy lạc:
Ông về đốc học đã bao lâu,
Cờ bạc rong chơi rặt một màu
Ông kể rõ những hình ảnh về bè lũ quan lại phong kiến tham
lam tàn ác luôn bày đặt mưu sâu, kế hiểm, đưa người dân vào cái bẫy của chúng để
rồi tha hồ vơ vét bóp nặn:
An Sơn
tông giống người keo thực
Bồ Thủy xưa nay của kiết à
Đất nhị dễ thường lươn rúc ở
Lửa nồng nên phải chuột đùn ra.
Càng nhiều
những bọn quan tham bỏ mặc chức phận miễn là có tiền vào túi:
Tri phủ
Xuân Trường được mấy niên
Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên
Chữ "thôi" chữ "cứu" không phê đến
Ông chỉ quen phê một chữ "tiền"
Điều mà chúng ta thấy được càng tệ hại hơn đó là một
nhà nước vô trách nhiệm trước các thiên tai lụt lội, hạn hán hết năm này qua
năm khác. Ta những tưởng trong tình cảnh ấy có ai đó sẽ hợp mọi người lại để
chung lo chống hạn. Nhưng rồi cũng chỉ có người dân hai tay trắng đứng ra lo
cái không thể làm nổi.
Dạo này đá chảy với vàng trôi
Thiên hạ mong mưa đứng lại ngồi
Ngày trước biết gì, ăn với ngủ
Bây giờ lo cả nước cùng nôi
Cùng với hạn hán là lụt lội mất mùa đói kém và rồi ốm đau,
chết chóc, cũng từ đó là làm ghê sợ bao người:
Thử xem một
tháng mấy lần mưa
Ruộng hoá ra sông cỏ vật vờ
Bát gạo Đồng Nai kinh chuyện cũ
Con thuyền Quý Tỵ nhớ năm xưa
Có lẽ ông mong lắm cái sự
thay đổi của trời đất, nhưng trời đất nào có thể giúp được ông. Có chăng chỉ có
thể là chính quyền nhà nước có can thiệp hay không mà thôi. Có một nghịch
lý đó là cá kia cũng biết cách trốn chạy hạn hán “Cá sợ ao khô vượt cả rồi” và
trâu kia cũng buồn vì lụt lội “Trâu bò buộc cẳng coi buồn nhỉ” còn
con người lại chẳng thể tự liệu được cho mình. Thật là chua chát cho con người
phải sống trong xã hội đầy đau khổ mà không thể thoát ra được.
IV. BỘ MẶT TẦNG
LỚP THỊ DÂN
Cùng với
những phản ảnh của nhà thơ về tầng lớp lãnh đạo xã hội bảo thủ và vô trách nhiệm.
Bức thông điệp cũng cho ta thấy đây cũng chính là nguồn gốc sinh ra mọi băng hoại
về đạo đức và lối sống của chế độ thực dân, nửa phong kiến lúc bấy giờ. Đây
cũng chính là nguồn gốc đẩy tầng lớp thị dân đến chỗ sa đọa về đạo đức và lối
sông mà nhà thơ đã điểm qua khắp lượt trong tác phẩm của ông. Đó là những người
dân không còn vườn ruộng, cố gắng bám vào xã hội bằng cách mở nghiệp bán buôn
và làm các dịch vụ phát sinh trong quá trình thực dân hóa. Cũng từ đây, tầng lớp
những người sống bằng nghề buôn bán bắt đầu với những trò gian giảo, lừa đảo và
giả dối:
Ai đấy ai ơi khéo hợm mình
Giàu thì ai trọng, khó ai khinh
Thằng Ngô mất gánh, say câu chuyện
Chú lái nghiêng thoi mắc giọng tình
Cùng với những mánh lới ma mãnh sành sỏi nhằm tranh cướp
khách hàng thu lợi cho mình bất chấp mọi thủ đoạn
Nước buôn như chị mới ăn người
Chị thấy ai đâu chị cũng cười
Chiều khách quá hơn nhà thổ ế
Đắt hàng như thể mớ tôm tươi
Đặc trưng của
nghề buôn bán cùng với những thủ đoạn đen tối dần hình thành để rồi mọi thứ đều
được cân, đong, đo, đếm bằng tiền và có phải vì thế mà xã hội đã dùng tiền mua
mọi thứ và đồng tiền đã khuynh đảo đến mức ghê gớm:
Giàu sang
âu yếm tình quen thuộc
Bần tiện thờ ơ dạ bạc đen
Ví khiến trong tay tiền bạc có
Nói dơi nói chuột chán người khen.
Đến cái
kết quả cuối cùng chính là cái miền quê thân mật ngày xưa không còn nữa. Những
người cùng làng xóm, phố phường trở thành xa lạ. Cả đến những người thân trong
nhà cũng biến thành thù, mất hết giá trị của nhân bản:
Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng
Keo cú người đâu như cứt sắt
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng
Cũng giống như những người dấn thân vào nghề buôn bán, những
người làm các công việc dịch vụ cũng buộc phải bước vào cõi sống nhơ nhớp, hy
sinh nhân phẩm để có một công việc làm kiếm sống. Họ cũng học thói giả dối, lừa
lọc không khác kẻ buôn bán:
Mình nghĩ cô mình thực gớm ghê,
Lòng son vẫn giữ nước non thề.
Ra tuồng gái hoá khi còn trẻ,
Như chuyện chồng xa lúc chửa về.
Cũng từ những bế tắc trong sinh kế, con người rất dễ buông trôi trượt dài trên
con đường trụy lạc. Ngoài nạn cô đầu, đĩ điếm, buôn gian, bán lậu, tệ trộm cắp,
lừa đảo đã trở thành phổ biến. Người ta luôn thay đổi bộ mặt của mình để lợi dụng,
lửa đảo để tồn tại. Có bao nhiêu người đàn bà:
Nói nói cười cười
theo giọng tỉnh,
Khăn khăn áo áo
giữ màu quê.
Và cũng có bấy nhiêu người đàn ông lấy lừa đảo
làm nghề kiếm sống:
Khi thì thầy số, lúc thầy lang.
Công nợ bớp bơ hình chúa Chổm,
Ngay
cả trong các gia đình, người đàn bà xưa từng được dạy dỗ“công dung ngôn hạnh” luôn
thuộc lòng câu “tam tòng tứ đức” giờ đây cũng giả dối trác
táng đâu còn hai chữ “chính chuyên":
Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong dạ sao mà những gió trăng
Mới biết hồng nhan là thế thế
Trăm năm trăm tuổi lại trăm thằng
V. BỘ MẶT TRƯỜNG
THI VÀ ĐẠO HỌC.
Những bài
thơ viết về trường thi và đạo học của nhà thơ Trần Tế Xương còn để lại đến nay
đã cho chúng ta thấy được toàn cảnh chế độ
thi cử đương thời và chỉ rõ sự bế tắc của tầng lớp nho sĩ lúc bấy giờ. Với
một bên là chế độ thực dân, cố gắng tiến hành thực dân hóa, một bên là chế độ
phong kiến cố níu kéo lại phần quyền lợi của mình nên chế độ khoa cử cũng rối
ren kéo theo nhiều hệ lụy. Họ làm sao biết mình sẽ phải học từ đâu và thi như
thế nào mới đạt kết quả, trong khi:
Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì
Bên cạnh cái nền nếp thi nay thay, mai đổi, nhà thơ cũng
chỉ ra sự hủ bại của chế độ thi cử đương thời. cùng với các hiện tượng tiêu cực
trong dạy và học. Thật đáng ngại khi thầy chẳng ra thầy:
Hỏi thăm
quê quán ở nơi mô
Không học mà sao cũng gọi đồ
..................................................
Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt
Còn các quan lại có phận sự
cai quản việc thi cử thì ngu dốt đến mức (sách như hũ nút chữ như mù) lại
làm việc sơ khảo thử hỏi hay, dở rồi sẽ ra sao
Sơ khảo khoa này bác cử Nhu
Sách như hũ nút chữ như mù
Và thật
là không đáng, khi những người coi sóc chốn trường qui lại là kẻ không có học, không
biết chữ gì:
Thánh cắt
ông vào chủ việc thi
Đêm ngày coi sóc chốn trường qui.
Chẳng hay gian dối vì đâu vậy
Bá ngọ thằng ông biết chữ gì
Còn các sĩ tử thì lười học, dốt nát, lấy tiêu khiển ăn chơi là chính.
Đây cũng chính là tệ nạn trong thi cử trong buổi nho học đang tàn tạ. Trách chi
bao kẻ sĩ tử giả danh, chỉ là thi cơm rượu:
Kể tuổi
nhà min ngoại bốn mươi
Văn min khấp khểnh, học min lười
Ba năm một hội thi cơm rượu
Bốn bể nhiều anh góp nói cười
Cũng chính từ điều này mà
những người đỗ đạt thường chỉ là cậy có người thân giúp, hoặc do mua được bằng
tiền:
Ông cử thứ
năm, con cái ai
Học trò quan đốc Tả Thanh Oai
...................................................
Thứ năm, ông cử ai làm nổi,
Học trò quan đốc tỉnh Hà Nội
Càng tệ
hại hơn với bao kẻ đỗ đạt trong sự khuất tất khác trong cái sự tiêu cực nơi trường
ốc rồi ra làm một thứ quan nấu rượu:
Hàn lâm tu
soạn kém gì ai
Đủ cả vung nồi cả cóng chai
Ví thử quyển thi ông được chấm
Đù cha đù mẹ đứa riêng ai
Và trớ
trêu thay với những người chưa thi đã biết đỗ, họ đâu có phải thi chữ nghĩa văn
chương:
Người ta thi chữ
ông thi phúc
Dù dở dù hay
ông cũng vào
Từ những tiêu cực trong dạy, học và thi cử, nhà thơ Trần Tế Xương đã
nhận định về sự chán chường của mọi người về đạo học mà từ bao lâu nay dân ta
luôn coi trọng:
Đạo học ngày nay đã chán rồi
Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi
Nhiều người cho rằng ông Tú
nhiều khi cũng tự mâu thuẫn với chính mình, bởi những điều ông viết ra chứng tỏ
là ông đã thấy rõ sự hủ bại của trường thi thời đó, vậy mà sao ông vẫn cố đi
thi. Cái mà ta nhận thấy đây chính là cái bế tắc của tầng lớp sĩ phu thời
đó. Đôi người có thể giả câm, giả điếc lựa
theo chiều gió chấp nhận mất dần bản chất để đi theo. Số người có tài năng trí
tuệ thực thụ thường khó chấp nhận sự đánh mất mình nên rất dễ bị đè nén bởi
nguyên lý tự nhiên của thời đại. Điều này đã tác động vào chính nhà thơ Trần Tế
Xương và rồi có lúc ông cũng muốn phó mặc:
Thôi có làm chi
cái chữ nho
Ông nghè ông cống
cúng nằm co
Chi bằng đi học
làm thầy phán
Tối rượu sâm
banh sáng sữa bò
Tuy nhiên ông vẫn day dứt để rồi tiếp tục theo lối cũ. Có lẽ ông không
muốn theo đuôi kẻ khác chống lại dân mình. Thôi thì đành gắng gượng giữ nguyên
cái nghiệp thi cử do nhiều nguyên cớ. Một trong những nguyên cớ đó là ông mong
thỏa mãn sự mong muốn của gia đình mà từ lâu rồi vẫn không có kết quả.
Mở mặt quyết
cho vua chúa biết
Đua danh kẻo nữa mẹ cha già
Cũng còn
một việc là làm thế nào để có một chức sắc, được hưởng lương bổng sau khi thi đỗ
để rồi có thêm những chi phí cho đời sống bản thân nhà thơ:
Cái khó theo nhau mãi thế thôi
Có ai, hay chỉ một mình tôi
Bạc đâu ra miệng mà mong được
Tiền chửa vào tay đã hết rồi
Và điều cơ bản là làm sao có công việc làm, có tiền giúp cho gia đình vượt qua
những khó khăn đến (mướt mồ hôi) và (tràn nước mắt):
Van nợ lắm khi tràn nước mắt
Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi
Cũng chính từ đây ta hiểu số phận của cả tầng lớp sĩ tử thời đó sống ra sao và
họ sẽ làm được gì để tự cứu lấy đời họ trong khi các tổ chức cách mạng chống
xâm lược đòi quyền sống dường như đã bị tan rã do sự đàn áp của thực dân Pháp.
và chính quyền phong kiến tay sai.
VI. KẾT LUẬN
Trên đây chỉ là một số dẫn chứng chọn lọc nhằm khảng định công lao to lớn của
nhà thơ Trần Tế Xương trong bức tranh về con người và xã hội Việt Nam trong
giai đoạn thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Thực dân
Pháp xâm lược và chính quyền tay sai bán nước gây ra. Người ta cũng có thể
gửi lại lịch sử của một thời đại qua nhiều nguồn như nhiếp ảnh nhưng dù có nhiều
hình ảnh đến đâu thì cũng chỉ cho những vẻ ngoài khô cứng, nói làm sao cho được
tâm tư cảm xúc của cả một xã hội đang trong thời kỳ biến động cùng với những khủng
hoảng tăm tối nhất, chơi vơi nhất mà mỗi con người phải chịu đựng. Điều muốn
đề cập đến trong bài viết đó là thêm một lần khảng định các bài thơ luật Đường
nằm trong tác phẩm văn học sử của nhà thơ Trần tế Xương chính là bản Thông điệp
hiện thực và phong phú nhất về con người và xã hội đương thời gửi lại cho hậu
thế.
VIỆT HÓA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Viết về Việt hóa thơ Đường
luật đã có hàng ngàn người tham gia và có thể cũng có đến hàng ngàn tác phẩm với
nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên trong hội thảo lần này của Hội Thơ Đường luật
lại đặc biệt nhấn mạnh đến ảnh hưởng của nhà thơ Trần Tế Xương đối với thơ Đường
luật Việt Nam. Đây là một chủ đề rất mới và có ý nghĩa vô cùng to lớn khi
mà phong trào làm thơ Đường luật với phong cách Việt Nam đã thực sự
trỗi dậy sau nhiều thập kỷ im hơi lặng tiếng trước các thể thơ khác đã và vẫn
đang thịnh hành trên thi đàn Việt Nam.
Đặc biệt hơn là số lượng
tác giả đã và đang sáng tác thơ “Đường luật” càng lúc càng đông. Chỉ cần thống
kê 12 tập thơ của Hội thơ Đường luật thì đủ thấy điều đó. Chưa nói đến các thi
đàn thơ Đường luật hiện đang thu hút khá nhiều tác giả trong các trang báo điện
tử và trên các CLB của hàng vạn thôn bản trên đất nước này. Điều mà chúng ta cần
nhắc lại đó là những lời ca thán đến mức ái ngại của nhiều nhà thơ về cái khó của
thể thơ này từ nhiều năm trước. Điều này hoàn toàn không sai vì sự thực là thế,
khi mà những niêm cùng luật, những vần với đối và nhất là khối lượng từ ngữ thật
khó để chuyển tải các trạng thái nhân vật cùng với các hoạt động hết sức sôi động
trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.
Tuy nhiên nếu đặt vấn đề
cho thật đầy đủ thì phải nói từ lâu rồi các nhà thơ thời trước đã cố gắng tìm
ra phong cách mới nhằm Việt hóa thể thơ này. Những gì văn học Việt Nam nhận
được đó là sự cách tân của Hàn Thuyên và Nguyến Trãi trong khá nhiều sáng tác bằng
chữ nôm của người Việt. Đặc biệt chúng ta còn có Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm,
Nguyễn Khuyến và nhiều nhà thơ khác trong rải rác các tác phẩm thơ nôm luật Đường
vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Để có thể đánh giá đúng và đầy đủ nhất
phải nói đến Trần Tế Xương mới là người đưa thơ Đường luật chữ Hán thành thơ Đường
luật theo phong cách Việt toàn diện và phong phú nhất trong mọi thời đại.
II. GIỚI
THIỆU CHUNG VỀ CÁC BÀI THƠ
Để có thể nói về công lao của Trần Tế Xương trong Việt hóa thơ Đường luật,
không thể không nói đến việc sử dụng ngôn từ tiếng Việt trong thơ ông. Người ta
có thể nói các nhà thơ đều ngại dùng các từ ngữ quá gợi hoặc tục. Đến như Hồ
Xuân Hương cũng chỉ bóng gió hoặc nói lái là cùng. Tuy nhiên Trần Tế Xương đã
có sử dụng mạnh bạo hơn nhiều. Bên cạnh cái (tôi) dám chịu trách nhiệm, ông
dùng khá nhiều các câu từ nhiếc móc, thậm chí là chửi rủa nhưng đọc lên vẫn thấy
không đáng ngại. Cho đến bây giờ nhiều người còn rất ngạc nhiên vì những câu chữ
ông dùng trong thơ quả là một nghệ thuật cao siêu và hoàn toàn có mặt trong ngữ
pháp tiếng Việt hiện đại.
1. Nghệ
thuật dùng từ trong thơ
Một đặc điểm
quan trọng đó là những câu thơ ông viết cứ như là kể chuyện thường ngày giữa
người này với người nọ; nôm na đấy nhưng không hề tầm thường, dễ dãi.
Nhà nước
ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi
lẫn với trường Hà
Lôi thôi
sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan
trường miệng thét loa
Hầu hết các bài thơ của ông
đều sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ. Nhiều nhất vẫn là các câu ca dao, tục
ngữ và các thành ngữ như: (Học đã sôi cơm, Thi không ăn ớt) hoặc các
thành ngữ: (Lặn lội thân
cò, Một duyên, hai nợ, Năm nắng, mười mưa) trong bài Thương vợ. Đây
cũng là những cụm từ quen thuộc trong giao tiếp của người Việt. Với cách này
nhiều khi không cần chú thích người nghe, người đọc cũng đã hiểu ý tác giả:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước lúc đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Về nghệ thuật ngôn ngữ
trong thơ Trần Tế Xương dường như được đi qua hầu hết các biện pháp tu từ. Trước
tiên là cách sử dụng ca dao tục ngữ và các thành ngữ trong thơ ví dụ như cách sử
dụng từ láy: (Ngao ngán, Nhạt nhèo, khăn
khăn áo áo, Bút bút nghiên nghiên) trong bài Đêm
buồn. Với cách sử dụng này quả thật đã phá vỡ Ngũ độ
thanh trong thơ Đường luật thời trước. Điều này cũng cắt nghĩa cho việc Việt
hóa thơ Đường luật của ông.
Ngao ngán tình
chung cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
Cách ông
dùng ẩn dụ thực sự đã đạt đến sự điêu luyện trong sử dụng ngữ pháp tiếng Việt.
Đương thời dường như có rất ít người làm được như ông. Như hàng loạt các câu
thơ trong bài Đạo đức giả:
Lắng tai non nước nghe chừng nặng
Chớp mắt trăng hoa giả cách nhèm
Cũng đã sư
mô cùng đứa trẻ
Lại còn tấp tểnh với đàn em
Nếu như thơ Đường luật
Trung Quốc vận dụng sự tích và điển cố để mở rộng các ý tứ trong thơ, thì Trần
Tế Xương lại dùng ca dao, tục ngữ và nhiều thành ngữ tiếng Việt để mở rộng ý
thơ. Đặc biệt là phép đối ông dùng càng nhuần nhuyễn. Chúng ta có thể kể ra một
số thành ngữ trong tiếng Việt mà ông đã sử dụng. Với cách dùng thành ngữ như thế
này dường như đã mở ra những mẫu câu cho những người làm thơ thời nay vận dụng.
Chúng ta còn tìm thấy ở ông
cách dùng từ hết sức gợi cảm nhưng cũng thật gần gũi trong giao tiếp hàng ngày
như: (ngoi, ngỏng):
Trên ghế
bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân
ông cử ngỏng đầu rồng
Những động từ (ngoi) dường
như gợi cho ta thấy cái động tác cố di chuyển bộ mông ngồn ngộn của bà đầm. Hay
như động từ (ngỏng) khéo nói về sự cố cất cao cái đầu của ông cử đang phải cúi
gục trước các quan lại bề trên. Chính cái sự đối chọi giữa cái nơi khá “tục” của
kẻ này với cái chỗ “thanh” của kẻ kia đã bật ra cái sự nhạo báng sâu cay đến độ.
2. Kết cấu
các bài thơ
Chúng ta có thể thấy thơ Trần
Tế Xương có sự khai thác rất chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối và nhất là kết cấu
đề, thực, luận, kết theo quy định của trường thi trong thời phong kiến. Trong
hơn một trăm bài thơ cũng có đôi chỗ trái luật (có thể do sao chép). Số các bài
còn lại thực sự hoàn hảo với ba yếu tố vần, luật, đối. Tuy nhiên, điều quan trọng
hơn cả là các tác phẩm của ông hoàn toàn được viết bằng chữ nôm của người Việt
phù hợp với tiếng Việt giầu hài âm, nhạc tính.
a. Luật
thơ chuẩn mực
Về luật
thơ ông luôn tôn trọng những quy tắc cơ bản của thể thơ với những bộ phận đề,
thực, luận kết bao giờ cũng rõ ràng mạch lạc, không hề công thức và khiên cưỡng.
Từng phần một chắp vào nhau mà không hề thấy có sự phân cách. Có thể lấy ví dụ
qua bài Thiếu nữ đi tu để dẫn chứng cho kết cấu của luật.
Con gái
nhà ai dáng thị thành
Cớ chi nỡ phụ cái xuân xanh
Nhạt màu son phấn, say màu đạo
Mở cánh từ bi khép cánh tình.
Miệng đọc nam vô quên chín chữ
Tay lần tràng hạt phụ ba sinh
Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế
Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh
Ngay từ đầu
đề bài (Thiếu nữ đi tu) đã rất ngắn gọn đủ khái quát chủ đề
bài thơ. Các câu phá đề, thừa đề đã hoàn tất việc giới thiệu về nhân vật (con
gái nhà ai) cả về hoàn cảnh (dáng thị thành) và sự việc
muốn nói đến (nỡ phụ cái xuân xanh).
Với cặp thực: (Nhạt màu son phấn, say màu đạo, Mở cánh từ bi,
khép cánh tình). Hoàn toàn đủ để xong phần thực, cùng với
phép đối ngẫu chuẩn mực bao hàm cả thực và trạng (Nhạt màu son
phấn/ Mở cánh từ bi); (say màu đạo/ khép cánh tình). Chỉ cần
hai từ: (say và khép) đã nói lên tất cả.
Với cặp luận:
(Miệng đọc nam vô quên chín chữ/ Tay lần tràng hạt phụ ba
sinh) đã nói rõ những đúng, sai về hành vi của nhân vật trong thơ. Đây
cũng là một cặp đối hết sức hoàn thiện tỏ hết được cái ý của tác giả. Cũng như
cặp thực, ở cặp luận cũng chỉ với hai từ: (quên và phụ) đã đủ
để kết tội người trong cuộc.
Đến với cặp kết: (Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế, Nỡ cạo đầu thề với
quyển kinh) thì bài thơ đã hoàn thiện với một cái kết rất rõ ràng mạch lạc,
đủ làm mẫu mực cho thể thơ này.
b. Các bộ
vần đẹp
Về các bộ vần nhà thơ Trần
Tế Xương dường như chỉ dùng vần bằng mà ít dùng vần trắc. Đây là bộ vần truyền
thống của thơ Đường luật viết bằng tiếng Việt. Điểm quan trọng thứ hai là các bộ
vần thường là chính vận, có rất ít các bài dùng vần gần đúng (bàng vận) hoặc
các vần thông. Chính vì thế mà cả trăm bài thơ của ông đọc lên đều thấy êm ái
nhẹ nhàng, gợi cảm và rất dễ thuộc.
Có thể lấy bộ vần trong
bài Đau mắt làm ví dụ:
Bộ vần trong bài Đau
mắt với các vần (inh) để có các từ: Mình, thinh, sinh, đinh,
tình. Đây là bộ vần bằng truyền thống của thơ Đường luật. Kết cấu hài thanh với
đầu và kết lấy thanh huyền (trầm bình thanh). Các vần của các câu giữa đều
thanh không (phù bình thanh). Đây là bộ vần giúp cho hơi thơ dàn trải, man mác
hợp với cách kể lể về nỗi buồn của con người
Vui chẳng riêng ai, ốm một mình
Hỏi ai, ai cũng chỉ mần thinh
Vừa đồng bạc lớn ông Lang
Xán
Lại mấy hào con chú Ích Sinh
Hỏi vợ, vợ còn đi chạy gạo
Gọi con, con mải đứng chơi
đinh
Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ
Gương mắt trông chi buổi bạc tình
Có thể lấy thêm bộ vần nữa
trong bài Thề với người ăn xin làm ví dụ:
Bộ vần trong bài Thề
với người ăn xin với các vần (o) để có các từ: no, cho, trò, gio, vò.
Đây cũng là bộ vần bằng truyền thống với kết cấu hài thanh: vần đầu là thanh
không (phù bình thanh). Vần thư 3 và vần cuối là thanh huyền (trầm bình thanh).
Đây là bộ vần có vần đầu tiên giúp cho hơi thơ ban đầu rất nhẹ, hợp với cách của
người muốn thanh minh một điều gì đó. Sang phần cuối với các vần là thanh huyền
(trầm bình thanh) tựa như nhấn xuống hợp với ý muốn khảng định những điều trước
đó đã nói:
Người đói
thì ta cũng chẳng no
Cha thằng nào có tiếc không cho
Họ đày đoạ mãi dân cày cuốc
Ai xét soi cho cảnh học trò
Mong được cơm no cùng áo ấm
Gặp toàn nắng lửa với mưa gio
Miếng ăn đến miệng là thưa kiện
Lúa rũ chân đê chửa được vò
c. Phép đối
hoàn chỉnh
Tất cả những
người làm thơ đều nhận rõ bản thân cặp đối đứng độc lập đã đủ để hoàn chỉnh chủ
đề của nó. Nhưng với thơ Đường luật rất cần có nó bởi từ phép đối ngẫu bật ra
câu thứ ba (do người viết đề xuất) để tả được nhiều hơn trong phần thực
và tỏ nhiều hơn trong phần luận. Điều muốn nói là trong thơ Trần Tế Xương chưa
bao giờ khoan đối và không đối. Đặc tưng của thơ Trần Tế Xương lại tập trung hầu
hết là thơ trào phúng nên đối trong thơ ông quả là hữu dụng. Dưới đây là một số
cặp đối trong thơ Trần Tế Xương.
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán
Lại mấy hào con chú Ích Sinh
Bánh chưng sắp gói e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
III. KẾT LUẬN
Về phong
cách thơ Trần Tế Xương có đủ ba yếu tố hiện thực, trào lộng và trữ tình. Toàn bộ
tác phẩm là bức thông điệp đứng đầu hệ thống văn học sử của thời đại với bút
pháp trữ tình và trào lộng có một không hai trong lịch sử. Tuy nhiên điều muốn
nói đó là tác phẩm của ông được tạo ra chính bởi chữ viết và tiếng nói của dân
tộc Việt. Đặc trưng trong đó là sự tiếp thu của thơ Đường luật Trung Hoa; một
trong những tinh hoa văn hóa thế giới mà dân tộc nào trên thế giới cũng có thể
tiếp nhận, biến cải thành văn hóa của chính dân tộc mình.
VIỆT HÓA TRONG DỊCH THƠ ĐƯỜNG LUẬT
I. GIỚI THIỆU CHUNG
Ngoài các tác phẩm thơ nôm
của nhà thơ Trần Tế Xương mà chúng ta đã xác định đó là thể thơ Đường luật theo
phong cách Việt, chúng ta còn có một kho tàng thơ dịch của ông cũng mang âm hưởng
và ngôn ngữ Việt. Trong số tám mươi ba bài thơ dịch, tương truyền là của ông đã
được các học giả giới thiệu khá kỹ trong “Tú Xương toàn tập”.
Điều mà ta nhận thấy là đa số các bài thơ ngũ ngôn đã được ông dịch thành thất
ngôn, chính từ đó mà độc giả dễ hiểu và dễ cảm. Nhưng đáng kể nhất phải nói đến
là đó là phương pháp dịch thơ của ông có nhiều nét cách tân khác với nhiều người
dịch trong thời điểm đó.
Cho dù phải tôn trọng nội
dung của bài thơ gốc nhưng nhiều bản dịch ông đã bỏ qua “hình thức ước
lệ, tượng trưng, công thức, quy phạm”trong phản ảnh con người và xã hội vốn
đã ngự trị trong thơ Đường luật Trung Hoa bằng cách sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt
hết sức phong phú và đa dạng giống như cách sáng tác thơ nôm luật Đường của
ông. Đây cũng là những nét chính trong Việt hóa thơ Đường luật.
II. MỘT SỐ BÀI THƠ DỊCH
1. Trích dẫn tóm tắt một số bản dịch
Để nói rõ hơn về quá trình
Việt hóa thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trong dịch thuật thơ Đường luật
chúng ta không thể không nhắc đến tám mươi ba bài thơ dịch trong:“Đường
thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm”. Trong mảng thơ dịch của ông đều
giữ nguyên đầu đề của nguyên tác (nghĩa là các bản dịch của ông không có đầu đề).
Nhiều nghiên cứu của các học giả đã nói về phương pháp dịch thơ của ông khác hẳn
với nhiều người. Điều đáng nói là những cảnh, những tình trong nguyên tác đã được
khắc họa sâu sắc hơn, rõ nét hơn về mọi mặt. Riêng về nghệ thuật các bản dịch
luôn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt cùng với nghệ thuật tu từ, đặt câu của văn hóa
Việt. Từ đó cho thấy những bài thơ dịch có một sắc thái riêng mang đậm nét văn
hóa của dân tộc ViệtNam. Đây cũng chính là đóng góp đặc sắc của ông trong dịch
thuật thi ca và trong Việt hóa thơ Đường luật qua các tác phẩm gốc thơ Đường.
Dưới đây xin trích dẫn một số bản dịch thơ của ông:
Thất thập dạ đối nguyệt
(Đỗ Phủ)
Thu nguyệt nhưng viên dạ
Giang thôn độc lão thân
Quyển liêm hoàn chiếu khách
Ỷ trượng cách tùy nhân
Quang xạ tiềm cầu động
Minh phiên túc điểu tần
Mao trai y quất dữu
Thanh thiết lộ hoa tân
Dịch nghĩa:
Ngắm trăng
đêm mười bẩy
Trăng thu đêm nay vẫn tròn
Chỉ có một mình lão già ở thôn bên sông
Cuốn rèm lên trăng đã chiếu vào ta
Chống gậy đi đâu trăng cũng theo
Ánh sáng rọi làm con cầu long cựa mình
Bóng sáng soi vào khiến con chim ngủ xoay mình
Lều tranh dựa bên cây quýt, cây bưởi
Hạt móc đọng như hoa mới nở
Bản dịch
(Trần Tế Xương)
Vành vạnh đêm rằm chút chửa sai
Giang thôn lụ khụ một mình ai
Mở rèm trông thấy như chào tớ
Chống gậy ra chơi lại đón người
Trong suốt rồng nằm dòng nước chảy
Sáng choang chim ngủ bóng cành phơi
Nhà tranh ngồi tựa bên chồi quýt
Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời.
Bài thơ của Đỗ Phủ tỏ rằng
chỉ có một mình lão già này ở xóm bên sông với trăng làm bạn. Hình như trăng vẫn
tròn mà chưa tàn khuyết. Chỉ mới mở rèm ra trăng đã soi vào người. Ta chống gậy
đi đâu trăng cũng theo đi cùng, trăng soi xuống nước làm rồng thức, soi vào
chim trên cây làm cho nó phải xoay mình. Dưới trăng cả ngôi nhà bên cây quýt
cũng lay động, giọt sương cũng ánh lên trên cánh hoa mới nở.
Với ông Tú thì ngoài việc
giữ cái ý của nguyên tác còn có thêm những nét tinh tế khác. Đó chính là ông
coi trăng thực sự là người bạn. Vửa mở rèm trăng đã “chào tớ” và
rồi khi ông đi trăng lại cùng đi “ra chơi lại đón” chứ không phải
đi theo như nguyên tác. Điều thú vị là ông Tú nói không cần úp mở rằng có trăng
mà ta không cô đơn, có trăng mà ta hòa đồng được với cảnh vật tới mức “Móc
trắng lòng ta cũng trắng ngời”
Về nghệ thuật rõ ràng bản dịch
theo thể thất ngôn, âm điệu dịu dàng và có tính nhạc hơn. Tuy nhiên điều chúng
ta muốn tìm là phong cách Việt trong thơ dịch của ông. Điều đó rất rõ trong
cách dùng ngôn từ của bài thơ dịch với hàng loạt các từ láy.
Chỉ là “vành vạnh” thôi đã đủ để nói cái sự tròn,
chỉ với “lụ khụ” đã rõ cái sự già nua tuổi tác. Hoặc với
các từ ghép “trong suốt, sáng choang” đã đủ nói về hình ảnh một
không gian sống động. Cùng với việc sử dụng các từ ngữ điêu luyện
là các cấu trúc ngữ pháp trong các câu thơ chỉ có trong tiếng Việt hiện đại. Ngày
nay các tác phẩm vận dụng theo nghệ thuật dùng từ đặt câu của ông Tú thật là đắc
dụng.
Một ví dụ khác nữa là bài
thơ “Đối tuyết” thể ngũ ngôn của Đỗ Phủ cũng được dịch theo thể
thất ngôn.
Đối tuyết
(Đỗ Phủ)
Bắc tuyết phạm Trường Sa
Hỗ vân lãnh vạn gia
Tùy phong thả nhàn diệp
Đới vũ bất thành hoa
Kim thác nang thùy chỉnh
Ngân hổ tửu dị xa
Vô nhân kiệt phù nghĩ
Hữu đãi chí hôn nha
Dịch nghĩa
Tuyết miền bắc đã đến Trường Sa
Mây xứ Hồ gieo lạnh đến muôn nhà.
Lá rơi từ từ theo làn gió,
Hoa không nở được dưới cơn mưa.
Hễ tiền trong túi đã xóc xách,
Thì rượu dễ đầy bình bạc.
Không ai uống hết rượu phù nghị,
Xin cứ đợi đến lúc quạ chiều
Bản dịch
(Trận Tế
Xương)
Nam bắc phôi pha mấy dặm
khơi
Tuyết mây dan díu một
phương trời
Gặp cơn ghen gió màu tha
thiết
Sáu cánh trêu mưa dáng tả
tơi
Một túi càn khôn dầu nhẹ nhẹ
Lưng bầu phong nguyệt chẳng
vơi vơi
Biết ai cạn chén tri âm tá
Thơ thẩn chiều hôm những đứng
ngồi
Bài Đối tuyêt của
Đỗ Phủ nhằm cái ý trước cảnh tuyết rơi, khắp nơi giá lạnh lá cây rơi rụng, hoa
không nở được vì mưa, có tiền trong túi không lo hết rượu. Cứ uống đợi đến lúc
chiều về
Còn với Trần Tế Xương thì
bài thơ có sự thay đổi đáng kể. Ông nói về sự phôi pha giữa nơi xa vắng. Mây
tuyết mưa gió tàn phá gợi bao nỗi niềm. Túi càn khôn kia dù nhẹ bớt, cái bầu
phong nguyệt vẫn không vơi. Chẳng biết ai sẽ là bạn tri âm, nên lòng mãi bồn chồn
đứng ngồi không yên.
Về nghệ thuật ông phối hợp
ước lệ theo lối cổ của Đường luật Trung Hoa “Một túi càn khôn” hay “Lưng
bầu phong nguyệt” và trộn vào đó vốn ngôn ngữ thuần Việt “dầu
nhè nhẹ” hay “chẳng vơi vơi” một cách tài tình. Vì thế
nên nhiều học giả đương thời và cả những người đời sau đã nhận xét nhà thơ
là “thần thơ thánh chữ”.
Điều cần nhấn mạnh là hầu
như bài thơ dịch nào của ông cũng đều dùng ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại. Nghĩa
là từ ngày đó (một trăm năm trước) thơ Đường luật đã được Việt hóa
đến độ sâu sắc trong bút pháp của Tú Xương. Thêm một lần nữa ghi nhận công lao
của ông trong văn học Việt Nam nói chung và trong Việt hóa thơ Đường luật nói
riêng.
2. Một số
bài thơ dịch
Dưới đây là một số bản dịch
thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trích từ tác phẩm Tú Xương
toàn tập do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2010 (các bản dịch
không có đầu đề nên viết theo đề của nguyên tác - sách đã dẫn)
Mừng mưa
đêm xuân
(Đỗ Phủ)
Khen thay con tạo khéo chia mùa
Hoa sớm mưa xuân những hẹn hò
Đưa nhẹ một cơn bừng giấc thắm
Rơi ra từng sợi thấm cành khô
Đồng không lối tắt mây nghi ngút
Sông vắng thuyền ai lửa thập thò
Phơi phới thành xuân ban sáng tạo
Chồi sương nặng trĩu mặt hoa đưa.
Dã vọng
(Vương Tích)
Bóng lộn ngàn
cao buổi tối mòng
Một mình chưa
dễ đứng ngồi xong
Cây lồng sắc
chiếu màu thu tía
Non ánh tà
dương lộng vẻ hồng
Trẻ mục giục
trâu lùa cái nghé
Người săn cưỡi
ngựa xách con hồng
Cùng trông lại
biết ai hay tá?
Tưởng hái rau
vi những ngại ngùng
Sơ nguyệt
(Đỗ Phủ)
Nửa vành vừa hé mái cung lên
Một bánh xe trông chửa vẹn tuyền
Thấp thoáng đầu cành trên bể ló
Lô nhô ban tối áng mây ken
Chắn ngang luống để sông Ngân trắng
Hiu hắt vì ai mặt ải đen
Trăm mối bên lòng càng áy náy
Dãy thềm chòm cúc giọt sương hoen
Đăng Nhạc Dương lâu
Đỗ Phủ
Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn
Lầu đây hồ đấy trải bao còn
Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc
Chốt lại càn khôn thỏa nước non
Một chữ thân bằng tin nhạn vắng
Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền
con
Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa
Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn
Thánh Tuyền yến
(Vương Bột)
Phất phơ
tràng áo bước lên non
Ngoảnh lại
bên đình lạch suối con
Bầu sánh cúc
pha ba chén cạn
Vần lơi tùng
thét mấy cung dồn
Lơ thơ bóng rủ
ngoài cành lọn
Ngào ngạt hoa
bay trước gió tuôn
Rừng vắng tà tà say ngắm cảnh
Lô xô len đá khói đùn đùn
III. THƠ CÁCH LUẬT VIỆT NAM
Cũng như các nhà thơ Hàn
Thuyên, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, nhà thơ Trần Tế
Xương đã góp công lao to lớn hơn hết cho việc hình thành thơ Đường luật theo
phong cách Việt, Chúng ta có thể khảng định toàn diện về một thể thơ khác đó là
“Thơ cách luật Việt Nam” trong quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa của thế giới.
Về ý kiến này chúng tôi còn muốn có nhiều ý kiến của các học giả có kiến thức
sâu rộng hơn cùng góp sức như đã làm với “Thơ mới” vốn cũng có sự kết hơp giữa
thi ca Việt Nam với thơ Nga, thơ Pháp và thơ của nhiều nước khác. Cho
đến nay chỉ còn lại với cái tên: “Thơ tự do”; “Thơ Mới” hoàn toàn của Việt Nam ta
vậy.
Lê Trọng Hồng
Bút danh Lê Hoa
Chi hội thơ ĐL Lục Đầu
Giang tỉnh Hải Dương
Số điện thoại: 0987133083
Địa chỉ: Thạch Thủy, Phả Lại,
Chí Linh, Hải Dương
Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016
CÁT BÀ MÃI NGUYÊN XANH
Lại ra thăm đảo “Các Bà”[1]
Để tìm lần nữa đâu là “Các Ông”
Cầu tầu sóng nước mênh mông
Một trời sao sáng ngỡ sông Ngân Hà
Cát Cò trong ánh chiều tà
Để tình ai đó mặn mà cùng ai
Vẫn còn kia “Cát Gái Trai”
Cát Dừa, Đảo Khỉ nối dài Đường
Danh[2]
Hùng Sơn cây cỏ biếc xanh
Pháo đài Chiến Thắng lừng danh thuở
nào
Trung Trang động cũ em vào
Đợi anh từ ấy với bao nhiêu tình
Đền Hà mở hội thăng bình
Dấu chân Bác vẫn in hình nơi đây
Nắng vương trên những tầng cây
Rừng nguyên sinh vẫn mọc dầy khắp
nơi
Cát Gia, Lan Hạ chơi vơi
Uốn cong bờ vịnh chào mời đón em
Dạt dào con sóng từng đêm
Thuyền trôi xuôi giữa êm đềm biển
xanh
Ngày mai em lại gặp anh
Đất liền ơi…vấn nguyên trinh đợi
người
Dẫu cho cuối đất cùng trời
Bước chân Ông Gióng ngàn đời còn
đây
Mặc ai giăng lưới bủa vây
Đảo tiền tiêu vẫn đêm ngày đứng
canh
Cát Bà tươi đẹp như tranh
Để ta yêu mãi biển xanh Cát Bà
[1] Tên
trong ngoặc kép là tên đầu tiên của Cát Bà
[2] Các
chữ viết hoa là tên các bãi tắm, vịnh, đảo cà
các động
TRẢ NỢ CHO ĐỜI
Cũng là trả nợ cho đời
Đã là duyên kiếp chẳng vời cũng
qua
Ta làm đâu phải cho ta
Ta làm trả nợ gọi là kiếp xưa
Thấp tho giữa nắng cùng mưa
Luân hồi vốn dĩ chẳng chừa ai đâu
Trái ngang muôn lẽ nhiệm mầu
Dở hay kín hở mặc dầu thế thôi
Giấu người hồ dễ buông trôi
Giấu sao cho được trời ngồi trên
cao
Giấu sao nổi chính ta nào
Một ngày kia lại lặn vào đời ta
CHỌN MỘT CHỮ LƯỜI
Ai ai cũng nhận là già
Việc đời việc họ việc nhà còn đây
Tề gia trị quốc đã đầy
Cần gì quét mỡ, dắt dây lằng nhằng
Lao tam khổ tứ sao bằng
Nay đền mai phủ tằng tằng nghỉ
ngơi
Vui vào ta nói một hơi
Nói xong rồi lại rong chơi cả ngày
Ai khen thì gọi bằng thày
Ai chê cứ bảo lão này dở hơi
Tiền tài danh vị ngời ngời
Già rồi xin với cụ trời tha cho
Nợ nần dấu bé cùng to
Một mai rũ sạch nằm co mà cười
Một, hai, ba, bốn, năm, mười
Chữ nhàn hòa với chữ lười mà hay.
Đêm đêm ngồi ngắm trời cao
Sông Ngân chẳng biết khi nào xoay
ngang
Bao giờ cho đến mùa vàng
Mùi rơm thơm cả đường làng cũng
thơm
Ngày nào thiếu gạo thiếu cơm
Các con đông quá mẹ đơm chẳng đầy
Mong sao những tháng những ngày
Không còn cái đói lắt lay cả làng
Khắp nơi vàng những mùa vàng
Sông Ngân Hà lại xoay ngang giữa
trời.
THƯƠNG MẸ CHỢ XA
Sắp rổi trận gió trẩy cà
Sắp rồi những trận mưa qua rửa đền
Vừa thôi có loạt sấm rền
Mẹ kêu con hãy đến bên mẹ ngồi.
Sấm này là sấm của trời
Mình không làm ác cả đời chẳng lo
Ngày mai cà rẻ như cho
Mẹ mua về muối để kho ăn dần
Mõi năm hội Gióng một lần
Chỉ thương cho mẹ chân trần chợ
xa.
HOA XOAN
Tháng hai mấy bận qua rồi
Hoa xoan mấy độ bồi hồi tỏa hương
Cái mùi ngai ngái ương ương
Cứ như vây bủa dọc đường đợi ta.
Đã bao năm tháng đi qua
Mùi hoa xoan của quê nhà vẫn đây…
Sáng mai mắc ách trâu cầy
Long lanh ngọn cỏ bám đầy sương
đêm.
Mặt người như cũng tròn thêm
Mùi hoa xoan cứ êm đềm lướt qua
Mấy mươi năm sống xa nhà
Mùi hoa xoan vẫn theo ta mỗi ngày
LỤC BÁT ĂN KEM
Một lần tôi đến mời em
Giữa mùa đông đến ăn kem Bờ Hồ
Bạn chê hai kẻ điên rồ
Rét như cắt ruột thấy mồ vẫn ăn
Thế rồi chung chiếu chung chăn
Trải bao nhiêu chuyện khó khăn ở đời
Hôm nay đều đã già rồi
Chẳng còn răng để mà ngồi ăn kem
Mở trang nhật ký ra xem
Lại mời nhau đến hiệu kem Bờ Hồ
TIẾNG RU ĐÊM TRỞ GIÓ
Mẹ ru ta thuở ấu thơ
Mấy mươi năm có bao giờ nghỉ đâu
Con cò, con vạc, con trâu
Hoa sen, hoa cúc, hoa ngâu, hoa
đào
Bánh đa bánh đúc ngọt ngào
Cả trăm ngàn thứ mà nào thấy đâu
Chỉ là ao ước bấy lâu
Mẹ không tiền biết tìm đâu bây giờ
Đêm sâu trăng lặn, sao mờ
Mẹ ru, ru mãi, bơ phờ vì con.
Mẹ đi ba chục năm tròn
Vẫn nguyên vẹn ở trong con từng
ngày
Đêm qua gió động, mây dầy
Lại nghe xa thẳm vơi đầy tiếng ru.
THƠ TỪ QUÁ KHỨ
Quá khứ năm nào, lâu đã thật lâu
Ta đã làm thơ từ khi rất bé
Những con chó, con mèo
Những cây dâu, cây khế
Chua lòe trong thơ
Cho đến một ngày kia
Bao hoài bão mộng mơ
Bao câu chữ giống y như khẩu hiệu
Tìm cả buổi chẳng thấy vần thấy điệu
Lẽ nào đây cũng là thơ
Ta làm thơ từ lúc trẻ thơ
Bắt chước từ ca dao cò lả
Lời ngọng nghịu chẳng vẻ gì thơ cả
Cha khẽ cười, trang viết cũng cười
theo.
GIÓ THỔI GIAO MÙA
Đêm đang tan, trong gió thổi giao
mùa
Nghe xao xác một trời cách biệt
Em như chiếc lá vàng mỏi mệt
Rời cành cao gõ nhẹ trước hiên nhà
Bao năm qua anh chẳng dám già
Thân trai tráng ấm nồng trong chờ
đợi
Ôi thương thế một tình yêu rất vội
Lúc ta vừa mười tám, đôi mươi
Có cuộc tình nào chỉ một lần thôi
Như em đó và như anh đó
Chiếc lá rụng thoáng qua trong gió
Đêm đang tan, trong gió thổi giao
mùa
ƯỚC AO
Đã thưa những hạt mưa xuân
Những cành đào cũng hóa thân sang
hè
Bâng khuâng nghe nhịp đàn ve
Thấp tho hoa phượng đỏ hoe đến rồi
Em ngồi ghế đá bồi hồi
Nhớ tình yêu đã lâu rồi của anh
Tháng năm trôi nổi mong manh
Bao nhiêu hư thực vây quanh cuộc đời
Ai kia trách đất than trời
Còn em chỉ muốn làm người của anh
Bao giờ trở lại ngày xanh
Để em gặp lại tình anh đêm nào
Mưa sao trút xuống rào rào
Má kề bên má thì thào lời yêu
Thứ Ba, 22 tháng 3, 2016
LẠI VỀ SÔNG LẤP
Tháng 9/2010
Lại về sông Lấp[1] quê
ta
Tìm câu thơ đã trôi xa thuở nào
Đâu rồi ngõ phố Hàng Thao
Xôn xao máy điện, ồn ào máy tơ.
Trống chầu ai để quay lơ
Mảnh trăng rơi giữa đôi bờ Đò Quan
Dốc cầu lên xuống ríu ran
Lỏng tay ga, ngắm cung đàn chăng
dây[2]
Bâng khuâng gió cuốn, mây bay
Lối xưa sông Lấp ở đây đâu rồi.
CHIẾC XE CỦA VỢ
Vợ tôi, chỉ chiếc xe tàng
Là chân chạy, để cho nàng chợ thôi
Hôm qua lốp bị nổ rồi
Vợ tôi đi chợ bằng đôi chân trần.
Chợ quê thật chẳng có gần
Con đường đá hộc bao lần ướt khô.
Người ta mua sắm ô tô
Vợ tôi, chỉ chiếc xe thồ ngày xưa.
Thôi thì tiện cứ để bừa
Bỏ quên từ sáng đến trưa vẫn còn…
Chỉ mong có mớ rau non
Bữa trưa, bữa tối, chồng con mát
lòng
Thơ tôi viết mãi chưa xong
Định đem tặng vợ, nói sòng mấy
câu.
Tiếc rằng anh số không giầu
Thành ra em cũng dãi dầu nắng
sương.
Ai về rút lại quãng đường
Để cho ta khỏi vấn vương lẽ đời
QUÊ HƯƠNG TÂY LẠC
(Qua hội chùa Như 25/1/Tân Mão)
Ta về với hội chùa Như
Đông như đã tạnh, xuân như ấm dần
Ta về đây với người thân
Quê cha còn đó, dấu chân chưa mờ
Xôn xao kỷ niệm tuổi thơ
Một thời cha mẹ...bây giờ đã xa
Ta về nhớ cửa, nhớ nhà
Nhớ từ đồng trũng, nhớ ra đồng màu
Thương quê để bạc mái đầu
Để mờ mắt lệ, để sầu giọt tim
Mấy mươi năm vẫn dõi tìm
Dù trong chiến trận muôn nghìn hy
sinh.
Khi đang tiếp nối công trình
Công trường, nhà máy hết mình dựng
xây
Khi trong giông bão bủa vây
Một thân lúa trổ thấm đầy mồ hôi
Một tầng cao sáng màu vôi
Phố phường, đồng ruộng khác hồi xa
xưa.
Trách chi bao cuộc gió mưa
Miếng cơm Ất Dậu đẩy đưa rời làng
Mảnh gai đầu chợ bẽ bàng
Bâng khuâng chân bước đi sang quê
người.
Bẩy mươi năm sắp qua rồi
Vẫn như đứa trẻ bồi hồi về quê.
Làng vui tình nghĩa tràn trề
Đồng Thông, Đồng Bái cận kề Đồng
Huy
Qua Đồng Bình đến Đồng Chi
Quê hương Tây Lạc thầm thì trong
ta
Tay đưa ấm ngọt hương trà
Người quê vẫn vậy thật thà hỏi han
Ai đi ra Bắc, vào Nam
Ai đang bận rộn, gian nan quê nhà.
Còn đây con, cháu, ông, bà
Nắm tay chào hỏi, trẻ già thân
thương
Ngày mai, trên mọi ngả đường
Bờ tre, đồng lúa, quê hương xa dần
Bâng khuâng hơi ấm người thân
Quê hương Tây Lạc mãi gần bên ta.
QUA ĐỀN LIỆT SĨ
(Qua đền liệt sĩ Nam Trực
23/2/2011)
Gió mang cơn rét về đâu
Để chiều xuân mãi cuộn sâu sóng ngầm
Cổng đền khép chặt lặng câm
Để ai đứng dưới mưa dầm lê thê
Tưởng đâu quên hết lối về
Tuần hương còn đỏ bên lề cỏ non.
Dẫu rằng ngực đỏ như son
Vẫn thương bao mảnh trăng tròn rụng
rơi.
Mỗi người chỉ một cuộc đời
Dám quên đi để bao người tiếc
thương.
Chờ mưa ghé lại bên đường
Đọc bao tên tuổi để vương lệ già
Thương bao nhiêu những mái nhà
Cô đơn vắng bóng...người xa không
về.
TẾ NỮ QUAN
(Hội làng Tây Lạc 26/1/Tân Mão)
Áo khăn đỏ thắm sân chùa
Làng vui vào hội giữa mùa cấy
chiêm
Nhẹ nhàng chân bước hai bên
Áo choàng kim tuyến tươi trên nắng
hồng
Cổ, chinh, bầu, trúc hoà đồng
Hài hoa, khăn đóng, áo rồng nhẹ
bay
Mắt ngời lóng lánh hương say
Nửa đông xướng để nửa tây đợi chờ
Khói hương lan toả xanh mờ
Giọng văn thánh thót, đèn thờ lung
linh
Tam tuần bái tạ phân minh
Càng sâu, càng nặng ân tình tổ
tiên.
AO THƠ
(Ao đình làng Tây Lạc)
Ao xưa bèo đặc mấy tầng
Những chùm hoa tím, chín dần hoàng
hôn
Ánh sao sáng dọc đường thôn
Chông chênh bậc đá, gió nồm thổi
qua
Mùi hoa khoai nước tan ra
Thoảng nghe tiếng cá ngoài xa đớp
mồi
Mặt ao sóng sánh bồi hồi
Ngàn sao xích lại để rồi giãn ra
Bâng khuâng bến nước ao nhà
Tuổi thơ kỷ niệm nhạt nhoà trong
đêm.
EM THEO VỀ HỘI
(Đồng làng Tây Lạc năm 2011)
Bao mùa mê mải nơi xa
Nghỉ hưu rồi mới về nhà quê xưa
Dạo qua Đồng Cửa, Vườn Rừa
Nắng xanh Đồng Xác, khói mờ Đồng
Din.
Ai đang lạ lẫm đứng nhìn
Người làng ta cả, em tin vậy mà.
Mạ sân vừa đến độ già
Chỉ vài bữa nữa ruộng nhà cấy xong
Hội làng vừa đến độ đông
Theo ai về hội, bỏ không người chờ.
THĂM MỘ MẸ GIÀ
(Qua khu mộ họ Lê ở Tây Lạc)
Con về thăm mẹ chiều nay
Bâng khuâng hoa nắng chất đầy
nghĩa trang.
Tường vôi đọng dấu sơn vàng
Búp xanh cỏ mới đã đang nảy mầm.
Tấm bia đá vẫn yên nằm
Dấu tay xoa nhắn vết hằn thời gian
Sáu mươi năm, nắng mưa chan
Cô đơn một nắm xương tàn xa xôi.
Giờ đây mẹ đã về rồi
Quê hương thay đổi khác hồi ngày
xưa
Bồi hồi thân quyến đón đưa
Làng trên, xóm dưới cũng vừa sang
chơi.
Bát cơm, quả trứng rước mời
Hẳn rằng mẹ biết những người ngồi
đây.
Nén vàng hoá giữa trưa nay
Gửi theo người những tháng ngày xa
xăm.
Mỗi người rồi cũng trăm năm
Dù ai rồi cũng về nằm nơi đây
Nắng vàng thắp lửa lung lay
Phải chăng bóng mẹ đang bay về trời.
Nén hương cháy đã cạn rồi
Cháu con thành kính, bao lời tri
ân.
TÌNH CÔ THỢ CẤY
(Vụ cấy đầu năm 2011)
Mạ sân ai cuộn từng phên
Để bao rảnh nhỏ thả trên ruộng bùn
Bàn tay con gái rét run
Lại chia đều những chấm tròn biếc
xanh.
Tóc mây ai cuốn vòng quanh
Mắt đen ai thoáng long lanh rạng
ngời
Môi hồng ai chúm chím cười
Bâng khuâng mặt ruộng một trời
xuân quê
Sao em chưa chịu ra về
Bóng chiều đã xuống bên đê đầu
làng.
NHỚ LỜI HEO MAY
Chỉ còn có gió heo may
Thổi vào góc bếp làm cay mắt già
Chiều nào một cháu một bà
Nửa niêu cơm độn với cà kho tương
Tưởng đâu đời lắm sắc hương
Để quên đi cả góc giường chuối khô
Quên con đường nhỏ ngoại ô
Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn
khênh
Một đời bà mãi lênh đênh
Nuốt vào tim những chông chênh ở đời
Mai sau cháu có nên người
Nhớ về quê để nghe lời heo may.
KHÓC ANH
Tây Lạc 15/3/2011
Thế là em chịu thua rồi
Bao nhiêu cầu khấn mà trời không
cho
Đôi tay gầy guộc, héo khô
Anh đi như mặt nước hồ nhẹ tênh
Lá vàng rơi giữa mông mênh
Để bao lòng mãi chông chênh cõi buồn.
Giữa chiều gió thổi mưa tuôn
Bánh xe lăn giữa cội nguồn đắng
cay.
Chưa ba vạn sáu ngàn ngày
Đã đau đớn đã đoạ đầy bao cơn.
Chẳng so bì chuyện thiệt hơn
Chẳng chê bai chẳng oán hờn chi ai
Một mình vượt những chặng dài
Đói cơm, rách áo theo hoài khắp
nơi.
Miếng cơm cha mẹ đã vơi
Miếng cơm chú thím cũng rơi rụng dần
Vui buồn theo bạn đầu quân
Đạn bom, giặc giã bao lần xông
pha.
Rời quân binh trở về nhà
Gian nan đời thợ để mà nuôi con
Nợ nần thiếu, đủ hao mòn
Sớm khuya lưu động chẳng còn là
bao
Lương ba cọc mấy đồng hào
Tháng chưa hết đã sờ vào túi
không.
Quê xa, vợ yếu, con đông
Thắt lưng, buộc bụng vẫn không đủ
đầy.
Một căn nhà nhỏ vừa xây
Ăn dè hạt tiện bao ngày mới nên
Các con từng đứa có duyên
Đã thành gia thất ổn yên cửa nhà.
Đến ngày vợ phải đi xa
Một mình còn lại mái nhà cô đơn
Đau đời càng lúc nhiều hơn
Bến xưa vắng khách trống trơn giữa
đời.
Ngàn sao vằng vặc trên trời
Hiểu đâu cho hết cõi người đắng
cay
Bệnh theo người nặng từng ngày
Mười năm gìn giữ hao gầy ăn kiêng.
Bảy mươi chín trái sầu riêng
Anh đi về với tổ tiên, ông bà
Anh đi về với mẹ cha
Để em ở lại xót xa ruột tằm.
Đêm đêm nhìn dấu anh nằm
Nắm xương khô héo lệ đầm trên
mi...
Lặng im chờ phút chia ly
Ước như anh vắng những khi thường
ngày
Ngó theo cột khói hương gầy
Giật mình chợt hiểu, từ rầy mất
anh
Một vòng khăn trắng quấn quanh
Thêm bao sợi nữa bạc nhanh trên đầu
Mỗi dòng là một giọt sầu
Nhỏ trên mặt giấy đỏ ngầu khóc
anh!
VỢ MỜI UỐNG RƯỢU
Em nào có nghiện rượu đâu
Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.
Có say thì đã say rồi
Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.
Theo từ mới nở hoa cau
Chẳng cần mặc cả trước sau thế
nào.
Theo từ rời chỏm trái đào
Đến nay lấm tấm bước vào tuyết
sương.
Tha lôi khắp các công trường
Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô
Giường ghép ván, gạo đựng xô
Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu
Mưa rơi chảy ướt trên đầu
Đành ngồi bó gối nhìn nhau mà cười.
Có say, lúc ấy say mười
Bữa nay chẳng biết uống rồi có
say.
Rõ là những đắng cùng cay
Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.
Uống cùng em…một chén thôi
Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu
Nuốt vào hết mọi nỗi sầu
Để say như thuở ban đầu mới quen.
VỀ VỚI CHỢ VIỀNG
Qua tết về quê xuống chợ Viềng
Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng
Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo
Vợ dặn tìm cho một cái kiềng
Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi
Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng
Cả năm mới có ngày thư giãn
Cũng phải khao mình tí cái riêng
CÁO LỖI VỚI QUÊ HƯƠNG
(Kính tặng quê
hương Nam Trực)
Bươn trải bao năm ở chốn
xa
Về hưu mới nhớ tới quê nhà
Chưa cho Đồng Quỹ chuông rền tiếng
Chửa để Nam Giang thép trổ hoa
Đất Trạng thanh liêm còn nhắc trẻ
Quê Vua uy dũng vẫn khuyên già
Làm con xứ ấy nhiều danh giá
Càng phải vươn lên mới xứng là...
(Gửi về Nam Định quê
nhà)
Vừa mới nghe tin gió bấc về
Lúa xuân gặp giá chết nhiều ghê
Đầu Din mới giặm loi thoi mọc
Cuối Cửa vừa gieo lốm đốm huê
Gội gió mặt cha thường vẫn tái
Dầm mưa chân mẹ lắm khi tê
Chỉ mong ai đó cho đôi cánh
Bay vút lên trời trở lại quê
(Kính tặng quê
hương Nam Định)
Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà
Bão liền mấy trận thảy đều qua
Vuông tôm mới đắp không còn vết
Chạt muối chưa thu đã chảy xoà
Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà
Đành rằng hoạn nạn đâu không thế
Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà
(Nam Định 6/2007)
Bến cũ làng xưa chẳng thấy đâu
Đoàn xe cuồn cuộn lướt qua cầu
Ra đi mười tám xanh con mắt
Trở lại năm mươi bạc mái đầu
Đất mẹ quanh năm hồn gọi nhớ
Quê cha suốt tháng dạ kêu sầu
Giận người đi mãi nơi xa vắng
Mê mải bên trong vạn sắc màu.
Tìm về với những ngày thơ
Lá mùa thu rụng kín bờ ao xanh
Con chim chích nhỏ trên cành
Chợt bay lên lượn vòng quanh mé đồi.
Chiếc cầu tre cũ đâu rồi
Để đôi cọc gẫy một thời đứng trơ
Vòm trời sâu thẳm mộng mơ
Mỏng manh một tiếng cá trưa đớp mồi
Mặt ao loang sóng bồi hồi
Nhoà đi khuôn mặt những người ngày
xưa.
Nhẹ tênh cái bấc thân dừa
Bờ tre trước mặt gió lùa lao sao
Ngày xưa cất ở nơi nào
Để bâng khuâng giữa mặt ao lặng tờ
(!)
Mẹ ra đi giữa nắng trưa
Để lời ru, tiếng võng đưa lại nhà
Để
đàn cháu nhỏ lệ nhoà
Cả cơ quan xuống đồng xa tiễn người.
Bát cơm, quả trứng ngậm ngùi
Mảnh khăn xô trắng sụt sùi, héo
hon
Tháng năm xưa đã mỏi mòn
Con mơ mẹ, mẹ mơ con cả đời.
Đơn côi giữa đất giữa trời
Bâng khuâng tiếng võng với lời mẹ
ru.
[1] SôngVị
Hoàng trong thơ Trần Tế Xương
[2] Cáp
cầu Đò Quan Nam Định
Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016
MỘT SỐ BÀI CŨ
NHỚ QUỐC KHÁNH
(Kemerovo 2/9/1982)
Một chai rượu đế Bình Tây
Chia cho mấy chục chén đầy chén
vơi
Cách xa một nửa khoảng trời
Nhớ về quốc khánh ở nơi quê nhà.
THƯƠNG MẠ
(Iscôi 2/10/1982)
Sớm nay tuyết đã rơi rồi
Iscôi trắng cả đất trời mênh mông
Quê nhà ta có lạnh không?
Mạ chiêm giữa giá, trời đông xót
lòng
BẾN GIÁC
Bến Giác hình như chỉ để mơ
Nào ai đã gặp được bao giờ
Có không, không có nào ai biết
Nên nỗi trần gian vẫn cứ chờ.
THIÊN CHỨC
Thiên chức trời ban khéo tự nhiên
Kẻ cao người thấp chẳng ưu phiền
Trăm năm chỉ một lần dương giới
Chớ có loanh quanh với bạc tiền.
QUA BẾN NHẠN LOAN
(Nhớ về tướng quân Trần Khánh Dư)
Tiểu mãn đang về trắng cả sông
Nhạn Loan Cổ Độ rộng mênh mông
Xà lan ngược nước chờ lên bắc
Bè vó xuôi dòng đợi xuống đông
Nắng muộn vẫn vương trên bãi sậy
Sương chiều đã phủ mé đồi thông
Thuyền ai ẩn hiện vừa đi khuất
Để lại đôi bờ nước trống không
HUYỀN THIÊN CỔ TỰ
Đến cửa Huyền Thiên nắng đã nhòa
Khói trầm ngào ngạt tỏa bay xa
Nền xưa nắng đốt phơi son đỏ
Đường mới mưa chan nổi đá già
Ngọc Đế mở đường nơi Cảnh Giới
Phật Hoàng dẫn lối chốn Ta Bà
Câu kinh nhật tụng còn vang vọng
Ngàn ánh sao bay trắng Nguyệt Hà.
TÌM DẤU THÀNH PHAO
Vài đống gạch non xếp chẳng đầy
Thành Phao còn lại bấy nhiêu đây
Minh Hồ mấy bận tan bờ bãi
Lê Mạc từng phen nát cỏ cây
Sườn núi quanh co làn khói phủ
Triền sông mờ mịt đám sương dầy
Cánh đồng làng Ngọc đang vào vụ
Rộn rã âm vang tiếng máy cầy
Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016
NHỚ KỶ NIỆM XƯA
Ngập chìm trong ánh hoàng hôn
Kỷ niệm xưa cứ bồn chồn trong tim
Mấy mươi năm cứ đi tìm
Quê hương ơi mãi đắm chìm nơi xa
Hãy cho ta một mái nhà
Dẫu tranh tre cũng nhạt nhòa vàng
tơ
Hãy cho ta một tuổi thơ
Những trưa ngóng mẹ mà mơ đợi quà
Cho ta một gốc đa già
Một bờ giếng đất để mà thương yêu
Hãy cho ta những buổi chiều
Nghe vi vu tiếng sáo diều của cha
CUA ĐỒNG
Ngày xưa mình ở ngoại thành
Có chân trong đám học hành được
khen
Một lần ra phố làm quen
Mấy tay bảo “tẩm” í en í ờ
Đến hôm khảo thí giờ tờ
Lại nghe họ bảo “gà mờ” gặp may
Cho dù cũng cứ cầm tay
Vẫn nham nhảm gọi: vào đây “cua đồng”
Chén qua, chén lại lòng vòng
Mấy ông bạn phố “đỏ còng” lăn
quay…
Bẩy mươi năm trở về đây
Vẫn vi vu chất “dân cầy” vậy thôi
Mấy ông “phó” mấy
ông “bồi”
Bắt tay mừng quá ôi ôi: “cua đồng”
Mắt nhìn đã hết lạnh lùng:
Văn chương hội thảo, cũng “khùng”
vậy sao
Bên ngoài khối kẻ ước ao
Bên trong đâu biết sẹo “đào khắp
lưng”
Da cam, mụn nhọt đang mưng
“Chiếu soi” mấy bận xem chừng chẳng
xong
Chắc là sắp sửa “đi tong”
Vẫn cười, cười đủ mấy vòng … bắt
tay
“Cua đồng” vừa mới về đây
Bố nào có dám cùng say thì vào
THƠ NHỮNG NGÀY THƯỜNG
Em ơi thơ những ngày thường
Cứ chân thành cứ yêu thương nối lời
Núi non sông biển đất trời
Quê hương tổ quốc ngàn đời mến yêu
Thơ như làn gió trong chiều
Nâng hồn ta với cánh diều bay cao
Cất lên khúc hát xuân trào
Cất lên muôn tiếng đồng bào mến
thương
Chép từ muôn vạn dặm đường
Chép từ muôn nẻo chiến trường gian
lao
Chép từ đồng lúa xôn xao
Chép từ giàn giáo tầng cao công
trường
Em ơi thơ những ngày thường
Ấm lòng nhau bởi tình thương những
chiều
TRẦN QUỐC CHẨN
Chẳng tìm thấy miếu đền
Nhà xưa không còn nữa
Đôi trang ghi sự tích
Hỏi thăm càng thêm phiền
Họ đổi nhờ ban phúc
Vợ gán theo lệnh truyền
Của tiền đâu đến nỗi
Gia môn đâu có hèn
Chẳng hiểu vì sao cả
Toàn là chuyện chép thôi
Muốn tìm ra sự thực
Chỉ thấy thời gian trôi
Lấy vợ vua làm vợ
Lại đẻ ra vợ vua
Chẳng thể nào hiểu nổi
Ngài là được hay thua
EM KHÔNG CÒN BÉ NỮA ĐÂU
Nhà em ở cạnh nhà anh
Tuổi thơ tôi cứ quẩn quanh đợi chờ
Anh đi bộ đội bao giờ
Làm tôi sưng đỏ hai bờ mi cong
Một ngày tôi cũng vào trong
Thành người chiến sĩ xung phong đắp
đường
Hỏi thăm khắp hết chiến trường
Vẫn không tìm thấy người thương của
mình
Bỗng đâu tin đến thình lình
Anh ra Đường Chín hy sinh mất rồi
Tưởng đâu sập cả bầu trời
Tưởng đâu tan hết cuộc đời thanh
xuân
Thế rồi em được ra quân
Đứng bên mé cổng bao lần lặng im
Anh cười như cứa vào tim
Chào cô gái bé: con chim sẻ đồng
Sao không thấy má em hồng
Vài câu trêu ghẹo lòng vòng rồi ra
Giờ đây còn mỗi mẹ già
Vẫn trêu em nhận em là con dâu
Mười năm lâu đã thật lâu
Tự nhiên như gió từ đâu anh về
Bước chân sao thấy nặng nề
Cánh tay quân phục giắt về một bên
Chỉ còn đôi mắt thân quen
Nét tinh nghịch vẫn còn nguyên thuở
nào
Đỡ anh từng bước đi vào
Ôi cô bé của năm nao …. vẫn còn
NGƯỜI YÊU CỦA LÍNH
Lại sang tháng bẩy mưa ngâu
Cánh đồng giờ đã trải mầu biếc
xanh
Em ngồi bên mái nhà gianh
Ngắm về xa vắng tình anh năm nào
Em chưa được cưới lần nào
Người yêu của lính có bao chuyện
buồn
Đợi chờ thật đã héo mòn
Giờ em thành gái không con không
chồng
Sớm mai vác cuốc ra đồng
Đêm đêm lững thững ra sông đợi đò
Nhớ năm nào cũng câu hò
“Anh ra tiền tuyến em chờ được
không
Cho dù hết hạ sang đông
Người yêu của lính em không sợ gì”
THƠ VIẾT TRONG ĐÊM
Anh đã viết như ngày nào đã viết
Để vì em và cũng để vì anh
Đời từng trải với nhiều chua chát
Những câu từ chợt cũng mong manh.
Đã lâu rồi em có nhớ về anh
Đêm đông lạnh khói lò lên trắng
xóa
Anh tha thiết má kề bên má
Cái hôn đầu em trao rõ là nhanh.
Có niềm vui nào sau cuộc chiến
tranh
Người lính trở về quê hương yêu dấu
Quên mất mát, hy sinh xương máu
Nhờ một tình em bên mái nhà gianh.
Bốn chục năm rồi em có nhớ về anh
Buồn day dứt, chia ly năm ấy
Chỉ gặp được nhau từ trên trang giấy
Với đau buồn đôi mắt lệ vòng
quanh.
Đêm nay đây em có nhớ về anh
Câu thơ viết thấm đầy chua chát
Ôi đôi mắt cứ như còn khao khát
Bao câu từ bay vút tận trời xanh.
TÔI GỬI EM VỀ
(Trêu bà xã xệ)
Tôi gửi em về với mẹ em
Tóc thưa, răng rụng, mắt kèm nhem
Chẳng cần bao gói, hay chằng buộc
Chẳng có bao bì, chẳng có tem.
Tôi gửi em về với mẹ em
Lưng còng, chân trẹo, dáng hom hem
Không tiền, không bạc, không khăn áo
Lời nói thì khem, giấy cũng khem.
Tôi gửi em về với mẹ em
Tiễn đưa lạnh giá tựa như kem
Chỉ cho vừa đủ ba ngày chẵn
Đã nhớ chưa nào… nhắc lại xem (!)
BÂNG KHUÂNG TAM ĐẢO
Ai đi “Tam Đảo Ngũ Hồ”
Câu ca xưa cũ đâu ngờ vẫn đây
Bần thần mây vướng trong mây
Áo em ướt đẫm bàn tay của chàng
Ta nghe hơi ấm bên nàng
Hương quê ứa ngọt tràn sang môi hồng
Em trao hết cả nỗi lòng
Trắng đêm nay với một vòng tay ai
Mai rồi, mai những ngày mai
Bâng khuâng Tam Đảo cùng ai hẹn
hò.
TÌNH YÊU TAM ĐẢO
Ta đi muôn bậc lên cao
Dáng ai thanh tú khuất vào trong
mây
Ta nghe văng vẳng đâu đây
Tiếng chuông đền mẫu thắp đầy khói
mơ
Chập chùng sao giữa hoang sơ
Núi non trải rộng vàng tơ nắng chiều.
Mắt ai thăm thẳm bao điều
Để cho anh phải đánh liều làm quen
Ngập ngừng anh nắm tay em
Môi ai thoang thoảng như men rượu
nồng
Rừng xanh ai cấy, ai trồng
Bao la Tam Đảo ấm nồng hương quê
Chỉ mong đón được em về
Trái tim yêu mãi cận kề cùng nhau.
Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017
KÉN CHỒNG
(Cụ già đã tám mươi tư
Ngồi bên cửa sổ viết thư kén chồng)
Sắp tám mươi tư mới kén chồng
Hỏi người năm ấy có còn không
Da mồi đánh phấn thành ra trắng
Má nám thoa son cũng phải hồng
Vóc hạc chẳng qua vì nắng hạ
Mình gầy cũng bởi tại mưa đông
Mấy lần hò hẹn sao chưa tới
Nên nỗi bơ phờ mỏi mắt trông
QUÉT THÓC RƠI
Mẹ cầm cây chổi rễ tre
Quét đi quét lại từng khe đất đồng
Hạt rơi, hạt vãi chất chồng
Theo bàn tay mẹ vào trong lá buồm
Đơn côi một ngọn gió nồm
Chẳng làm khô nổi lưng còm mồ hôi
Nhà ta hết gạo lâu rồi
Thiếu ăn chạy bữa từ hồi tháng năm
Kiếp thuê cơm đứng, cơm nằm
Mẹ lo nghèo túng cả năm, cả đời…
Nhìn con mẹ chỉ khẽ cười
Quê mình còn có bao người cháo rau
Khem vụ trước thiếu vụ sau
Xót xa hạt rụng mà đau những ngày
Giữa chiều nắng hạ chầy chầy
Rễ tre, buồm cói vơi đầy tình
thương
Một thưng gạo giữa đời thường
Trút sang bị cói người đương đói
lòng
Lặng im như thóc trên đồng
Rưng rưng khóe mắt, mẹ không cất lời…
Bốn mươi năm đã xa rồi
Rễ tre, buồm cói bồi hồi lòng con.
EM KHÔNG VỀ GIỖ MẸ
Em không về trong ngày giỗ mẹ
Núi sông xa ngăn lối ngăn đường
Dẫu trăm lớp triều dâng sóng bể
Suốt trăm năm vần vũ vô thường.
Em không về trong ngày giỗ mẹ
Cuộc chia ly đôi ngả đôi đường
Muôn thế hệ phải đơm hoa kết trái
Lẽ tự nhiên trong cuộc đời thường.
Mẹ gả em đi khi má chợt hường
Tóc chợt xanh và môi chợt thắm
Một lễ tơ hồng bao người mê đắm
Em thành con của người ta.
Một núm ruột gần, một núm ruột xa
Lần lượt cuốn đi theo muôn chiều
gió
Em lặng lẽ với đàn con nhỏ
Việc nhà chồng ai đếm nổi từng
năm.
Giỗ mẹ đến rồi em có về thăm
Nén hương nhỏ thay em dâng trước
án
Ngọn khói tựa như tơ xanh cuốn
Cứ bay bay trên mâm lễ chiều nay
Em không về mắt lệ cứ càng cay.
CHỮA BỆNH BẰNG THƠ
Bệnh mấy tuần qua mặt võ vàng
Thơ từ văn sách vẫn đa mang
Đôi dòng tự vấn càng chua chát
Một khúc ly hương khéo bẽ bàng
“Lục bát” vừa xơi xong mấy chén
“Thất ngôn” đã uống tới dăm thang
Thế mà mọi thứ còn chưa chuyển
Có phải căn nguyên chửa rõ ràng
CHỮA BỆNH BẰNG THƠ
Bệnh mấy tuần qua mặt võ vàng
Thế mà thi phú vẫn đa mang
Đôi dòng cật vấn dường chua chát
Một khúc ly hương khéo bẽ bàng
Lục bát mới coi vài bốn khổ
Thất ngôn vừa đọc một đôi trang
Thế mà đầu óc chừng hơi tỉnh
Thơ thuốc may mà có mấy thang
KỂ CHUYỆN CÂY XOAN
Thân thẳng vươn cao đến tận trời
Chẳng lo mối mọt đến thăm chơi
Bờ rào chật hẹp không sợ cỗi
Gò bãi cheo leo cũng cứ tươi
Nhà cửa gắng tìm từ khắp chốn
Ghế bàn cố kiếm đến trăm nơi
Có người dưới xóm vui câu chuyện
Nhà gỗ xoan ta được mấy đời
MẸ VẪN LÀM TƯƠNG
Về thăm nhà mẹ chiều qua
Nhớ cơm rau muống với cà giầm
tương
Chum sành vẫn đứng phơi sương
Dấu tay của mẹ trên tường vẫn đây
Một nia cơm nếp chật đầy
Mốc hoa cau cứ từng ngày hiện ra
Đậu rang thơm nức khắp nhà
Mẹ cho một dúm rồi mà vẫn xin
Nắng trưa muôn hạt đã chìm
Mốc tương mẹ ngả im lìm lên men
Bữa cơm chiều đã đỏ đèn
Đũa rau muống luộc, mẹ khen ngọt rồi…
Trăm năm lẻ, một kiếp người
Chum tương còn đó mẹ thời đã xa
Con đi công tác vắng nhà
Cả năm mới được về ba bốn ngày
Chum tương vẫn ở chỗ này
Ai như dáng mẹ những ngày năm xưa…
Một đời tương mắm muối dưa
Nuôi con, nuôi cháu nắng mưa nhọc
nhằn.
Thương sao đời mẹ tảo tần
Mốc tương hiển hiện bao lần trong
con
GIẤC MƠ THỜI CHIẾN
Chỉ khi nào giấc ngủ đến kề bên
Trang thời chiến mới chập chờn trở
lại
Đêm dài thế một chặng dài vời vợi
Cứ mơ hồ như bao giấc mơ trôi
NƯỚC ÔM THUYỀN
Anh như em từ ấy gần nhau
Đời dằng dặc nối từ muôn kiếp trước
Tình thắm thiết tựa như thuyền với
nước
Nước ôm thuyền trôi khắp vạn trùng
khơi
TIẾNG THỜI GIAN
Ngồi bên cửa sổ ngắm trời
Nghe dòng sông ở bên đời chảy xuôi
Tưởng đâu con sóng xa vời
Thì ra là tiếng của thời gian trôi
Ướt đầm tóc trắng, mồ hôi
Bẩy mươi xuân đã đến rồi... lướt
qua
TIẾNG SÚNG DẪN ĐƯỜNG
Lạc đường dài suốt ba ngày
Lại thêm cơn sốt nó dày vò ta
Chợt nghe tiếng súng xa xa
Mừng vui khấp khởi nhận ra đường về
VỀ CÙNG ĐỒNG ĐỘI
Nương ai những sắn cùng khoai
Nhắc ta cơn đói đã vài ngày qua
Nhìn quanh bốn phía không nhà
Thôi đành vun lá nằm ra đợi chờ...
Ai ru cánh võng dật dờ
Mơ màng mở mắt bất ngờ ...thân
quen (!)
RA MẶT TRẬN
(Ga Thị Long 9/1970)
Vẫn là em đứng trên ga
Đêm chia tay để đi ra chiến trường
Con tàu lăn bánh trên đường
Chở bao nhiêu, những vấn vương cuộc
đời
Dứt lòng ta để xa rời
Chỉ đêm nay nữa một đời xa em.
SỐT RÉT TRONG RỪNG
(Công Tum 1972)
Rét từ trong ruột rét ra
Nhớ cơn “ngã nước” của cha thuở
nào
Rừng đêm cây lá ồn ào
Chỉ mong một trận mưa rào rõ to
Mơ ngày xưa mới tập bò
Tỉnh ra, trên võng nằm co một
mình.
VIẾT Ở VIỆN 2
(Gia Lai 6/1974)
Bạn bè đều bị đói cơm
Mình ta cứ ngỡ nhai rơm của bò
Sốt rừng sao mãi dở trò
Ngày mai ra trận, còn dò vào lưng
Thương bao cái dốc của rừng
Thương cây đòn cáng cứa từng lằn
vai
Đường đi vào trận còn dài
Ta không đến được, đau hoài là
đau.
HÀN NỒI CẤT
(Gia Lai 7/1974)
Mày xuyên thủng đáy của tao
Tao thề quyết phải đem dao chặt
mày
Nhét mày vào lỗ thủng này
Tối nay, lại cất hấp đầy bông băng
LÀM CA
(Gia Lai 7/1972)
Ống này mày đựng bom bi
Thả ra để chặn ta đi trên đường
Cắt vài khoanh gối đầu giường
Lắp quai, lắp đáy ngày thường làm
ca
Tặng gần rồi lại tặng xa
Bom bị cũng chẳng làm ta sợ mày.
ĐỐT THAN
(Gia Lai 7/1974)
Xưa ông phải tội đốt than*
Chắc rằng có lúc cũng tan nát lòng
Tôi nay tình lý trắng trong
Cấp trên giao việc lòng vòng đốt
than
Liềm dao cuốc xẻng lan man
Suốt ngày rèn dập gò hàn rừng sâu
Rời xa mặt trận đã lâu
Vẳng nghe tiếng súng ở đâu vọng về
Mùa mưa cả tháng dầm dề
Xót tình ai giữa bộn bề củi than.
________________________
*Về cụ Trần Khánh Dư tướng của triều
Trần
NUÔI GÀ
(Gia Lai 7/1972)
Mối rừng đóng cục đóng hòn
Đào lên lấy hết mối con nuôi gà
Dao này mài sắc sáng lòa
Coi chừng quấn quýt rồi mà vào
chân
Thịt rừng vài bữa đi săn
Vẫn còn khô quắt, khô quăn trên
giàn
Ta nuôi làm cảnh dăm đàn
Để nơi đây hóa vô vàn chiều quê
CHẤT ĐỘC HÓA HỌC
(Gia Lai 11/1972)
Những vệt khói kéo dài vô tận
Nối đuôi nhau đi mãi về đâu
Rừng xa xót những chùm khói trắng
Lá khô dần rơi xuống vực sâu
Chất hóa học phủ mờ cả núi
Cháy hết rừng, hết suối quê ta
Mầu xanh lá hết dần sau những khói
Chúng đốt cây rừng hay đốt chính
lòng ta
Ở CHÙA
(Về những ngày ở chùa Đồng Đầu
1955-1965)
Ta là đứa trẻ không nhà
Bỏ nhà cải cách đi ra ở chùa
Mười năm hương khói gió lùa
Mười năm cùng với bốn mùa lặng im
Mười năm mòn mỏi kiếm tìm
Cô đơn như thể cánh chim giữa trời.
DỜI CHÙA
(Về những ngày ở chùa Đồng Đầu
1955-1965)
Mẹ chiều con đã dời chùa
Giữa ngày đổi gió giao mùa tháng
ba
Nén hương thắp dưới hiên nhà
Cầu xin đức phật rời xa nơi này
Một đời no đói hao gầy
Một đời lưu lạc chất đầy gian
truân
Không nhà không bếp không sân
Ăn nhờ ở đậu bao lần trải qua
Dẫu cho vẫn cứ không nhà
Lặng im không nói rời xa cửa chùa
TIẾNG RU ĐÊM TRỞ GIÓ
Đêm qua nghe tiếng gió lùa
Bâng khuâng lại nhớ bao mùa heo
may
Một manh áo mỏng cộc tay
Cái trai cái hến lắt lay chợ chiều
Mẹ ta gánh cả gánh nghèo
Ngược xuôi vất vả bọt bèo nổi trôi
Mấy mươi năm đã qua rồi
Tiếng ru vẫn cứ bồi hồi trong con
TÂM SỰ TÌNH YÊU
(Đêm 15/10/2014)
Cũng là muôn một mầu xanh
Lá mùa đông chỉ hanh hanh sắc vàng
Chồi xuân dù có cũ càng
Vẫn trong veo đến ngỡ ngàng dưới
mưa
Còn đây một chút hương xưa
Để dành từ lúc mình vừa làm quen
Mai về trao hết cho em
Để em đóng cửa cài then giữ gìn
Để em cất để làm tin
Khắc vào tim óc muôn nghìn mai
sau.
AI KHÉO GỢI TÌNH
(Đêm 15/10/2014)
Câu thơ ai khéo gợi tình
Gió mùa đông cũng tự mình hò reo
Đã như thân bấc thân bèo
Cố gom một chút bùn theo làm gì
SÔNG QUÊ
(Sông Ngũ Huyện 10/2006)
Qua bao nhiêu những nhịp cầu
Sông quê vẫn cứ đỏ ngầu phù sa
Ta về sông của nhà ta
Gieo mình xuống tắm cho da mỡ màng
Bùn non ơi, cố sẽ sàng
Xin đừng vẩn đục cho vàng tóc em
Sông quê xa mấy vẫn quen
Nước như muốn thở, muốn chen vào
lòng
Cha xưa ôm giữ tập vòng
Mẹ xưa cọ mãi chẳng xong dấu bùn
Người xưa đợi đến mỏi mòn
Bờ sông vẫn đó hương còn trong ta.
Bao nhiêu bến nước đã qua
Giờ đây mới được về nhà thăm sông
Có cần chi những đục trong
Hồn quê là chốn ta mong, ta về
HÀNH KHẤT
(Chợ Yên Thường 10/2006)
Chẳng là ông chủ cũng không quan
Kiết xác dân quê một chữ hàn
Cơm độn muối rang còn thấy hiếm
Tiền nong của cải lại càng khan
Quần đùi ống vá như mo cuốn
Áo cộc vai xơ tựa vải màn
Vác bị lang thang nơi cổng chợ
Người về lều bãi tự nhiên tan
VỐN TỪ TIM
(Sao Đỏ 10/2006)
Tưởng là lối cổ hóa ra kim
Bao kẻ khổ công cố kiếm tìm
Chữ thánh thuở nào vô ý mất
Câu thần độ ấy tự nhiên im
Cố công lấy ngải treo chân ngựa
Gắng sức đem bùa buộc cổ chim
Đâu biết mọi điều mình có được
Đều do chắt lọc bởi con tim
THƠ VIẾT KHÔNG ĐÈN
(Thạch Thủy 5/2006)
Mất điện ra sân hóng gió trời
Đành ngồi trong tối đọc thơ chơi
Ông xanh thừa nắng mầm không nứt
Bà đất khan mưa đất chẳng tơi
Thiếu thốn kéo dài chưa chịu dứt
Khó khăn chồng chất chửa cho vơi
Câu thơ phát nóng ngay trên ghế
Mực trộn mồ hôi để bốc hơi
NHÂN TẠO
Khách đã dời đi hết cả rồi
Bàn Cờ còn lại một mình thôi
Đá xưa ai đẽo cho thành cuội
Cỏ mới ai gieo để nảy chồi
Tích cũ giăng ra tràn đỉnh núi
Cảnh nay dựng lại kín lưng đồi
Nếu mà biết trước vừa xây lại
Ngồi ngắm ti vi khỏi mệt người
TÒ HE
(Cổ Loa 2/2001)
Tò he ông mới nặn ra
Đâu là tôm tép đâu là cá cua
Đâu là quan trạng là vua
Để cho trẻ nhỏ chúng mua về vầy
Nhâng nhâng nháo nháo ta đây
Đồ chơi thiên hạ mặc thây sự đời
XÚC XẮC
(Thạch Thủy 7/2006)
Sáu mặt mà sao chẳng có đầu
Người dăm ba tiếng kẻ vài câu
Chầu ba bốn cửa thua càng tiếc
Đặt một hai canh thắng vẫn đau
Được của ra hàng xài những thịt
Hết tiền về bếp chén toàn rau
Mấy trò đen đỏ từ xưa đã
Lấy cớ chơi bời móc túi nhau
ĐỒNG ĐIỆU
Chắc người chẳng nhớ ta đâu
Câu thơ bữa ấy đã lâu quá rồi
Mỗi năm có một lần thôi
Chỉ toàn công việc thế rồi chia xa
Người về phố của hào hoa
Còn ta về với rừng già núi cao
Mỗi đêm lại thức đếm sao
Mỗi ngày lại đợi…hôm nào đến chơi
Cho ta ngỏ một đôi lời
Để trang thơ cũ không vời vợi xa
Để cùng nhớ mẹ nhớ cha
Kéo thời xưa lại cho ta được gần
Tình ta lại nở trắng ngần
Tiếng chuông thức tỉnh đường trần
đốt thiêu
Cho người thêm một lần yêu
Cho ta thêm một lần khêu lửa tình
Để cho bóng dựa bên hình
Câu thơ đồng điệu ta mình bấy nay
VỀ NHỮNG CON ĐƯỜNG
Có những con đường ta đã từng qua
Dù rộng hẹp vẫn tỏa về muôn ngả
Dù dài ngắn vẫn rõ ràng sáng tỏ
Khoảng đi về bao nhiêu lá cùng hoa
Có những con đường thật xa thật xa
Để ta nhớ lối về quê mẹ
Dù gạch lát đã bao lần sứt mẻ
Và ta biết con đường mãi trẻ
Vẫn soi hồng muôn bước những người
qua
Có những con đường hằn trong tim
ta
Một khoảng chiến tranh lát bằng
xương máu
Để non nước sau bao mùa tranh đấu
Lại tưng bừng tươi mới những mùa
hoa
Ta đã từng đi trong đêm bao la
Giữa mờ ảo với bao lối rẽ
Trong tâm thức thấy mình mạnh mẽ
Đặt chân lên dọc những con đường
Ôi những bàn chân dũng cảm ngoan
cường
Từng đã tập đi trong ngày tuổi nhỏ
Và ta biết chính màu men gạch đỏ
Thắp trong ta hình bóng quê hương
BỘ QUÂN PHỤC
Bốn mươi năm rời khỏi hàng quân
Bộ quân phục cởi ra gấp vội
Vừa mặc lại khi về đại hội
Những bài ca xanh sắc áo màu xanh.
Đất nước mình vừa qua khỏi chiến
tranh
Người chiến sĩ thành người xây dựng
Bao vất vả gian lao chịu đựng
Có đáng gì sau những hy sinh.
Ôi những tháng năm chiến thắng
quang vinh
Đồng đội mất còn gợi bao thương nhớ
Chúng tôi còn đây các anh nằm đó
Những gương chiến đấu kiên cường.
Hôm nay đây về với đời thường
Bộ quân phục cởi ra gấp lại
Từ biên giới nếu mai đây có gọi
Quân phục ơi, ta sẽ lại lên đường.
TẶNG CỤ VIỆN
Đã khéo bon sai lại giỏi thơ
Tấm gương cần mẫn khó phai mờ
Tám mươi năm lẻ còn xây mộng
Bát thập niên dư vẫn ước mơ
Sĩ khí thu vào muôn dáng thế
Tâm tình gợi mở vạn duyên tơ
Họ hàng con cháu đều trân trọng
Bạn hữu trăm miền đón đọc thơ
CẢM HỨNG ĐƯỜNG CHIỀU
Ai bảo trần gian chẳng hữu tình
Đủ mùi yêu ghét với xem khinh
Người ưa tục lụy tìm danh phận
Kẻ thích tham thiền với kệ kinh
Quá khứ bên tai còn rõ tiếng
Tương lai trước mắt chửa ra hình
Kiếp người rồi sẽ ra sao nhỉ
Ai đó đong hoài cháo chúng sinh
MUÔN ĐỜI MÃI MÃI XUÂN
Chẳng biết hôm nao mới lại xuân
Để ta nâng bút chắp thêm vần
Qua miền Thanh Nghệ tìm tri kỷ
Đến đất Thần Kinh gặp cố nhân
Họa ảnh nàng thơ soi bể ái
Chép tình thi sĩ tỏ nguồn ân
Nối dài thêm nữa bao tình cảm
Mong ước muôn đời chỉ những xuân
MÃI MÃI XUÂN
Họ bảo ông nay chẳng thích tiền
Chắc là đầu óc có hơi điên
Ra đường túi rỗng môi đành khát
Xuống chợ tay không bụng đói liền
Áo cũ kẻ chê không lịch sự
Chân không đứa bảo kẻ nghèo hèn
Ông rằng mọi thứ ông đều trọng
Cái gốc nhân văn ấy phải hiền
MONG MƯA
Mấy tháng không mưa lúa héo gầy
Đòng đòng trổ nghẹn giữa lưng cây
Tiếc khi cày vỡ run đầu gối
Buồn lúc be bờ vẹo cánh tay
Những ước đầu bông đầy kín hạt
Từng mong cả ruộng ánh vàng rây
Sớm hôm vất vả không ngơi nghỉ
Để khắp muôn nơi sống đủ đầy
BÀN CỜ TIÊN
Khách đã rời đi hết cả rồi
Bàn cờ còn lại một mình thôi
Đá xưa nắng đẽo cho thành cuội
Cỏ mới mưa gieo để nẩy chồi
Tích cũ dàn ra trên đỉnh núi
Cảnh nay tụ lại dưới chân đồi
Phải chăng trời cũng đang dần tối
Thoáng tiếng chuông xa đã đổ hồi
CHỈ CÓ THỜI
Danh giá vinh quang chỉ có thời
Trên phường chẳng biết có cho ngơi
Lúc xin vào Đảng ai từng hứa
Phục vụ nhân dân đến trọn đời
Sự nghiệp nào ai nhờ gánh đổi
Công danh đâu kẻ đến khuyên mời
Mười năm sừng sững bao gian khó
Để lại mai sau được mấy lời
CẢM XÚC HẢI DƯƠNG
Hãy cho ta ở lại Hải Dương
Nơi miền quê trên bến dưới thuyền
Đã gắn bó bao mùa mưa nắng
Nối tình yêu xa đến trăm miền
Nhớ khi xưa đầu sóng quân reo
Cờ mao tiết in hình non nước
Còn vang mãi câu thề Sát Thát
Gió cồn lên trong tiếng loa truyền.
Hãy cho ta gửi lại Hải Dương
Một tình yêu vô bến vô bờ
Một tên xóm tên làng tên phố
Cũng thành bao thương mến mong chờ
Hãy cho ta về lại Đò Chanh
Một màu gai xanh biếc xa mờ
Nào ai đó trong lòng xao xuyến
Tự ngàn xưa cho đến bây giờ
Hải Dương ơi người nhớ hay không
Đêm ra trận Bình Than dậy sóng
Và Kiếp Bạc gươm thần vang bóng
Cứ ngời lên trong ánh sao cờ
Ta ra đi chưa trở lại bao giờ
Trận đánh bốn ngàn năm còn đó
Và lịch sử cứ vang rền trong gió
Vẫn hằn sâu trong trái tim ta
Hải Dương ơi sông nước bao la
Có phải thế bến bờ mãi sóng
Để Đọ Xá búa liềm khơi sức nóng
Cách mạng về trong muôn lớp súng
gươm
Anh biết Lục Đầu càng lắm yêu
thương
Cả Hưng Đạo đôi mùa vào hội
Để thông trúc Côn Sơn vẫy gọi
Biết bao tình hòa trộn mãi trong
ta
Một mảnh chiến bào ngời sáng sông
xa
Một mảng tường in dáu hài nhẹ lướt
Để sông núi nhớ về câu hát
Cứ xanh ngời trong ánh sao sa
Ta hát về Hải Dương hôm nay
Ngàn sao sáng bốn bề sông nước
Tình yêu gắn bao niềm mơ ước
Đã tươi màu từ muôn đôi tay
PHẬN GÁI
Mấy chục năm qua bỏ cửa nhà
Theo chồng đi tới tận nơi xa
Chưa quên mỗi sáng ôm lưng mẹ
Mãi nhớ bao ngày bám cổ cha
Gốc bưởi sau vườn bao lứa quả
Cành hồng trước cổng mấy mùa hoa
Hằng đêm thao thức về quê cũ
Bố mẹ năm nay chắc đã già
CẢM HỨNG SÔNG HỒNG
Xe lăn chầm chậm lướt qua cầu
Nhìn xuống bao la cát một mầu
Cỏ dại đang lên từng bãi rộng
Lòng sông hẹp lại một khe sâu
Đâu ngờ có lúc sông khô cạn
Lại nhớ hôm nao sóng đục ngầu
Trời đất bày ra muôn sự lạ
Để ta cảm nhận những ưu sầu
TRĂNG QUÊ
Ánh trăng vào tận đầu giường
Đêm sâu tĩnh lặng hạt sương la đà
Ngẩng đầu ngắm ánh trăng ngà
Chắc nơi quê cũ cũng hòa vào trăng
Để bao nỗi nhớ bâng khuâng
Cùng nhau ký gửi lên vầng trăng
trong
Cúi đầu thổn thức tiếng lòng
Quê xa muôn ánh trăng trong vẫn đầy
Từ nơi ấy đến nơi này
Theo trăng ta gửi bấy chầy nhớ
thương
Cô đơn một bóng trên giường
Càng thương càng nhớ cố hương xa mờ
NHỮNG CÂU HỎI CỦA ĐỜI
Hỏi ta, ta biết hỏi ai
Giữa bao la, giữa rộng dài thế
gian
Bao điều chưa hợp đã tan
Bao điều vừa trút đã tràn hết ra
Bao điều chợt đến chợt qua
Bao đièu chưa hiểu đã sa chân vào
Bao điều ngỡ rộng ngỡ cao
Bao điều ngỡ trắng nhìn vào lại
đen
Bao điều ngỡ lạ mà quen
Bao điều sang chính là hèn mà nên
Bao điều ngỡ nhớ mà quên
Bao điều méo mó mà viên cho tròn
Bao điều từng chịu xói mòn
Bao điều đành ngậm bồ hòn mà trông
Bao điều nói có thành không
Bao điều sâu thẳm chẳng trông thấy
gì
Bao điều nói đến mà đi
Bao điều dối trá chẳng vì cho ai
Hỏi chi cho lắm cho dài
Hỏi ta, ta biết hỏi ai bây giờ
NHỮNG DÒNG SÔNG
Đã bao lần đến với Thương
Và bao lần đã vấn vương với Cầu
Bâng khuâng với một Lục Đầu
Để bao nhung nhớ ưu sầu đi theo
Giữa nơi chỉ thấy trong veo
Nước cuồn cuộn chảy gió vèo vèo
bay
Cánh buồm ôm gió căng đầy
Con đò cuốn cả hàng cây đôi bờ
Quê ai một dải xa mờ
Khói sương bao lớp bơ phờ con tim
Cho ta làm một cánh chim
Khát khao muôn lẽ nổi chìm trong
mây
Cho tình ta mãi đong đầy
Xứ Đông xứ Bắc thêm dầy nghĩa ân
Cho ta có được một lần
Cất câu quan họ ân cần đón nhau
SAU NHỮNG CÂU KIỀU
Bâng khuâng với một câu Kiều
Ai thương ai giận giữa chiều đang
tan
Nào ai đau đớn oán than
Với bao đen bạc bao oan trái tình
Để rồi chìm đắm hư vinh
Tự mình chẳng thể vì mình được đâu
Mua vui dù viết đã lâu
Mà sao cứ xót từng câu từng lời
NHỚ QUÊ
Giật mình tỉnh giấc nhớ quê xa
Mười mấy năm chưa trở lại nhà
Bến Đám thuyền ai vừa ghé đến
Đền Trầm bụi đỏ mới tìm qua
Trà dư tấm tắc vài câu hát
Tửu hậu xôn xao mấy khúc ca
Thiên hạ nào ai từng trải mộng
Giật mình tỉnh giấc nhớ quê xa
NGẪU HỨNG BẨY MƯƠI
Hoa đào nở rộ đón tân xuân
Mừng thọ năm nay đủ thất tuần
Một thuở cơ quan toàn đóng lính
Có thời bộ đội chỉ làm quân
Thơ văn nhếu nháo cho rèn não
Cầu bóng nhớn nhơ để luyện gân
Ai đó hỏi han đành chiếu lệ
Có gì đáng để bắc đồng cân
TÌM XUÂN
Tìm mãi mà sao chửa thấy vần
Gửi vào tâm sự để chào xuân
Con vàng lửng thửng men bờ giếng
Cái mướp vòng vo lượn cuối sân
Luống cải lên ngồng cao tới gối
Đám rau bồ ngót vướng bàn chân
Thì ra thơ tết như bày sẵn
Chỉ đợi gom vào xếp thật cân
TẶNG THƠ
Chắc em chẳng nhớ anh đâu
Gặp nhau từ thuở đã lâu quá rồi
Mỗi năm có một lần thôi
Chỉ toàn công việc thế rồi chia xa
Em về phố của hào hoa
Còn anh về với rừng già núi cao
Mỗi đêm lại thức đếm sao
Hẹn cô gái ấy hôm nào đến chơi
Để cho anh ngỏ đôi lời
Để trang thơ cũ khỏi vời vợi xa
Để cùng nhớ mẹ nhớ cha
Kéo thời xưa lại cho ta được gần
Để tình ta mãi trong ngần
Trái tim thêm nữa một lần đốt
thiêu
Cho em thêm một lần yêu
Cho anh thêm một lần khêu lửa tình
Để cho bóng dựa bên hình
Câu thơ đồng điệu ta mình với nhau
NHỮNG CUỘC GẶP NHAU
Trái đất này năm sáu tỉ sinh linh
Ai đã gặp ai phải chăng là định mệnh
Trên một công viên hay trên giường
bệnh
Những vui buồn hồ dễ biết được đâu
Có cuộc gặp rồi rất dễ quên mau
Có cuộc gặp để rôi nhớ mãi
Những cuộc gặp nên nghì nên ngãi
Cả trăm năm quện chặt ta mình
Còn có bao nhiêu cuộc gặp vô tình
Chỉ bất chợt trong phút giây quá
ngắn
Rồi sau đó không hề may mắn
Đến rồi đi trong mỗi sớm mỗi chiều
THÔI LÀM BÁO CÁO CÔNG VĂN
Báo cáo công văn viết đủ rồi
Chỉ còn đêm trắng nữa này thôi
Ngàn trang thắp được bao đèn sáng
Vạn cuốn đun chừng mấy ấm sôi
Chữ mượn của trời đen tựa mực
Giấy xin của đất trắng như vôi
Mấy ai hiểu được muôn tri thức
Để lại mai sau được mấy hồi
THÔI LÀM LÃNH ĐẠO
Công cán bao năm đã vẹn rồi
Khóa này dứt khoát phải xin thôi
Sớm ra ngắm nắng trùm trên bãi
Chiều đến coi mây cuốn đỉnh đồi
Lớp trẻ cứ khen tình cũng khá
Cánh già vẫn bảo lý không tồi
Thư nhàn cầm bút gieo đôi vận
Đợi cá ao sâu đến đớp mồi
NGƯỜI HƯU MỌI THỨ ĐỀU HƯU
Xếp lại công văn với giấy tờ
Mấy chồng báo cáo mấy chồng thơ
Thùng tôn méo mó han còn đợi
Hộp giấy lem nhem mốc vẫn chờ
Đốt bếp khói xông khê mũi ngửi
Gói đồ hoen mực lấm tay sờ
Dẫu sao cũng tốn bao công sức
Cần giữ hay thôi…nghĩ mệt phờ
Thứ Ba, 29
tháng 8, 2017
(Thơ đón tết gà 2017)
Thơ phú nơi đâu cũng góp phần
Cả năm chơi nhởi chẳng dừng chân
Giật mình mới đó gần qua cựu
Chớp mắt dường như đã sắp tân
Hối hả khai mào chào đón tết
Vội vàng chuốt cựa đợi chờ xuân
Năm nay gà qué bay xa nhé
Ai có chung vui họa mấy vần
NỐI VẦN
(Tự họa bài Tết gà)
Trà rượu nơi đâu cũng có phần
Cờ gian bạc lận gánh vài chân
Xuống quê hỉ hả phô ta cựu
Lên phố hò reo ấy chú tân
Bày vẽ lớp lang người đón tết
Chơi trò kiểu cách kẻ chơi xuân
Tết gà luẩn quần xung quanh cối
Góp bút cùng ai để chắp vần
CHUYỆN TÌNH CỦA
BẬU
(Kỷ niệm 40 năm ngày cưới)
Quá bước đường xa lạc đến đây
Thấy cô gái bé dáng hơi gầy
Môi như đào thắm rung rinh nở
Mắt tựa hồ thu sóng sánh đầy
Mấy kẻ sang giầu chờ phía bắc
Vài tay quyền thế đón đằng tây
Vẫn nhờ bà mối sang xin cưới
Xé rách bao vòng lưới bủa vây
Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018
CÒN MÃI TRONG THƠ
(Thân tặng quê hương Cổ Thành)
Đi đâu vẫn nhớ về nơi ấy
Đồng quê thơm hương lúa ngọt lành
Dẫu muôn xóm muôn làng tôi đã thấy
Vẫn thương riêng nơi ấy Cổ Thành.
Tôi biết nơi đây đầy ắp chân tình
Những mùa vụ nối dài ngày tháng
Và ai đó với bàn tay trắng
Đã xây nên làng xóm quê mình.
Những An Ninh, Cải Cách, Hòa Bình
Với Thông Lộc, Phao Tân, Thành Lập
Miền quê với ngàn năm văn vật
Tự bao đời hòa trộn nước sông
Kinh.
Đâu Lý Dương và đâu nữa Tu Ninh
Nam Đông, Nam Đoài, Đồng Tâm thân
thiết
Đâu Ninh Giàng, Cổ Châu xanh biếc
Ấm tình người trong ngào ngạt
hương say.
Về Cổ Thành trong sớm hôm nay
Câu chào hỏi thân thương quen thuộc
Bè bạn bên nhau bàn tay nắm chặt
Bao lâu rồi đâu dễ đổi thay.
Cổ Thành ơi tôi đã về đây
Câu hát lung linh hòa trong ánh mắt
Câu thơ viết những gì đẹp nhất
Cổ Thành Thơ, còn mãi trong thơ.
CỔ TÍCH THỜI CHIẾN TRANH
Tôi ra đi chỉ có một mình
Không làng xóm, người thân đưa tiễn
Cơ quan đang làm, không thể đến
Một tôi, lặng lẽ lên đường
Thiêng liêng sao, đường tới chiến
trường
Xin hãy để cho lòng thanh thản
Đừng ai đó buồn đau, ngăn cản
Để rồi đây mãi mãi cô đơn.
Tôi ra đi, ai đó chắc buồn hơn
Năm tháng thời gian sẽ thành kỷ niệm
Thành cổ tích cho bao câu chuyện
Để từng đêm cha mẹ kể con nghe
CHUYỆN CỦA TRĂNG TRÒN
Có phải bao giờ trăng cũng tròn
đâu
Ôi thương thế những ngày trăng
khuyết
Từng chờ đợi mới thấy lòng da diết
Có bao người quên hết những mùa
trăng
Những tháng năm, rực rỡ tháng năm
Không còn nữa giữa đời con gái
Xin hãy để trong lòng thư thái
Ngắm trăng tròn cho hết những tròn
trăng.
Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017
NGƯỜI TA VỀ TRƯỚC MẤT RỒI
(Nhớ Song Kim)
Người về giữa đắng cùng cay
Ta đi giữa những tỉnh say nỗi lòng
Người về nước mắt lưng tròng
Ta đi giông bão lở long đất trời…
Người ta về trước mất rồi
Để người ở lại bao lời quặn đau.
Mong sao gặp lại lần sau
Lễ tơ hồng giữa muôn màu sắc vui
Khăn xưa khẽ giở ra chùi
Mắt xưa ướt lệ đứng lùi phía xa
Chiều đông cái nắng nhạt nhòa
Mới vừa mới đó đã ba năm rồi.
Ta là chi đó của người (!)
Đành lòng nuốt lệ ngậm ngùi làm
thơ…
TẾT VỀ NHỚ CHỊ
THẾ LÀ CHỊ ĐÃ ĐI XA
(Viết trong ngày tang chị 22/12/Ất
Mùi)
Thế là chị đã đi xa
Dọc đường về, nước mắt nhòa chị ơi
Chỉ là chị với em thôi
Bát cơm xin, thấm mưa rơi chợ chiều
Mẹ đi làm mướn rõ nhiều
Một môi bã đậu lều bều chẳng no
Nửa chinh này mẹ dặn dò
Phòng khi vắng mẹ lỡ đò, ở xa
Nắm rau héo nắm măng già
Cho qua một bữa, cho qua một ngày.
Mười năm vấn nạn đã đầy
Chị đi làm lẽ chẳng tầy nghiệp
duyên
Nhà chồng hiếm của, hiếm tiền
Lo con, lo mẹ đủ phiền, đủ đau
Nưng cơm gạo đỏ với rau
Vẫn còn thiếu thốn đằng sau mỗi
mùa
Một vài mớ tép, mớ cua
Đôi thưng gạo tấm bán mua mỗi chiều
Bốn cô con gái một lèo
Càng thêm vất vả gieo neo hàng
ngày
Góp trâu, góp ruộng, góp cày
Tháng ba giáp hạt vẫn vay đợi mùa
Cửa nhà mưa dột, gió lùa
Những cơn ấm lạnh có thừa trải qua
Hôm nay chị đã đi xa
Nén hương em thắp gọi là nhớ
thương
Mẹ nuôi chị một chặng đường
Cũng như con ruột bình thường vậy
thôi
Ngày mai tết Táo mất rồi
Xuân nay vắng chị bồi hồi xót xa…
Ngày mai em sẽ về nhà
Càng thương các cháu thế là mồ
côi.
Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018
MỘT SỐ BÀI THƠ VỀ THIỀN
CẢM ỨNG LONG HOA
(Họa thơ trụ trì chùa Long Hoa)
Xem thơ mộ đạo mới tìm sang
Cảnh trí Long Hoa thật ngỡ ngàng
Tam bảo mới xây càng rộng rãi
Thiền môn vừa mở thật khang trang
Câu kinh Bát nhã gieo lời ngọc
Bản chú Đà la thắp ý vàng
Bao lớp chân tu về giảng pháp
Kim cương vô trụ mãi còn vang
VÔ NGÃ
(Họa thơ trụ trì chùa Long Hoa)
Đã trải bao mùa nắng lại mưa
Long Hoa còn đó dấu ngàn xưa
Tâm tâm ngũ uẩn dâng lời trọng
Tánh tánh giai không nguyện nét ưa
Tổ tổ khai kinh đâu thể thiếu
Người người trì tụng cớ sao thừa
Thiền tông mặc chiếu nhân vô ngã
Quả kiếp luân hồi đã thấu chưa
TÙY DUYÊN
Tâm kinh Bát nhã tụng hằng đêm
Đạo pháp tu trì chẳng tiến thêm
Có phải tư tâm còn phó chấp
Hay là tánh dục khó răn kềm
Chân tu cảnh giới đè chưa cứng
Bản ngã trần ai nén vẫn mềm
Mới biết trầm luân kia giải thoát
Đời người có được cũng tùy duyên
CƠ DUYÊN
Tòng tâm sở dục tự hoàng thiên
Nhân quả phân ưu thật ảo huyền
Có phải tư tình còn phó chấp
Hay là bản ngã ít căn nguyên
Mười đời giữ đạo còn chưa vẹn
Một kiếp câu lưu thật khó tuyền
Mới biết luân hồi mong tránh được
Đời người có được mấy cơ duyên
PHÓ CHÚC
Bát nhã tâm kinh đọc đã làu
Vẫn không tránh nổi cảnh đời đau
Bởi chưng quả kiếp từ khi trước
Gánh nợ luân hồi đã đến sau
Tuệ nhãn chân truyền luôn tới chậm
Nhân duyên giải kết khéo qua mau
Tìm thiền ai đó đang huyền mộng
Phó chúc đôi điều để tặng nhau
BỄN GIÁC
Bến giác đi tìm đã thấy chưa
Mà mong gột rửa tấm thân thừa
Một đời chay tịnh đong không đủ
Muôn kiếp trầm luân xếp chẳng vừa
Chốn phật nhương kinh đâu trễ nải
Sân thiền trì tụng chẳng hề thưa
Tại gia phân phó đời cam chịu
Duyên kiếp trần ai khéo đón đưa
KHẨU NGHIỆP
Khẩu nghiệp xui ta mắc nạn này
Chân kinh Thập Thiện bảo cho hay
Vọng ngôn trá ngụy thêm chua chát
Lưỡng thiệt lật lường lắm đắng cay
Ác ngữ cục cằn gieo thói độc
Ý ngôn thêu dệt chuốc trò say
Họa tòng ngôn xuất người xưa nói
Gánh nợ trần gian khó trả vay
NGŨ CĂN
Gốc ngũ căn xưa sớm luận bàn
Đức tin sinh tử chẳng lìa tan
Pháp lành tinh tấn xoay sông biển
Chánh niệm chân ngôn chuyển núi
ngàn
Giá trụ tâm hành năng quán sát
Tuệ tâm thành tựu sớm đăng đàn
Mới hay mọi nhẽ người tu tập
Gốc ngũ căn xưa sớm luận bàn
TRẠCH GIÁC
Trạch giác thường khi lục vấn tâm
Tiêu tan vọng niệm bớt sai nhầm
Mở đường tinh tấn qua mê lộ
Tạo lối hân hoan vượt cát lầm
Hóa giải não phiền nâng trí huệ
Rọi soi chân giả hiểu cao thâm
Lấy điều buông xả mà tu tạo
Vun đắp thiền môn tới vạn tầm
VÔ ĐỀ
Bát nhã khai kinh khéo dị thường
Một đời tu tập mới nên chương
Trì tâm quán chiếu soi ngàn lối
Mẫn ý căn duyên chỉ một đường
Thân pháp cấu thành đâu nhược yểu
Chân tâm tùy hiện rõ khang cường
Nhân quần ai chẳng mong tri túc
Đạo pháp tùy duyên mới tỏ tường
Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018
VIẾT ĐỢI GIAO THỪA
(Đón xuân 2018)
Tranh thủ giao thừa đón chúa xuân
Ngồi bên bàn phím gõ đôi vần
Đào hồng mới nở hồng hồng thắm
Dơn trắng vừa bung trắng trắng ngần
Chè mạn thử qua vài bốn bận
Rượu tăm nếm tạm một hai lần
Bỗng đâu điện thoại reo không ngớt
Chờ nhé ai ai cũng có phần
Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2019
Nặn tượng cho đời đến ngắm chơi
Cần chi công sức lỗ hay lời
Người khen mặt mũi trông xinh xắn
Kẻ bảo hình dong ngó tuyệt vời
Thổi óc nào hay thành óc chuột
Xông tim đâu biết hóa tim dơi
Mới hay mọi sự không cầu được
Xấu đẹp xem ra phải hỏi trời
Lâu lắm không về nơi đấy
Trường xưa lặng lẽ trong hè
Bao bạn cũ chia tay thuở ấy
Chiều nay ai sẽ quay về.
Một đời nắng mưa gượng ghẹ
Trường xưa năm tháng bộn bề
Muôn cánh chim bay lượn dưới trời
Tìm nơi vui thú để rong chơi
Tình ta đằm thắm càng tươi trẻ
Nghĩa bạn thân thương mãi rạng ngời
Sao sáng lung linh thêm gắn bó
Trăng vàng vành vạnh chẳng xa rời
Hôm nào cũng cứ tươi rói rói
Hò hẹn qua thăm để đón mời
Con trai đưa tiền mua quà tặng mẹ
Nhớ ra “phụ nữ” tháng mười
Mình nghỉ hưu lâu rồi
Cũng quen chiếu lệ
Già rồi dễ quên
Không biết tự bao giờ
Mình đã ở trong tầm mắt của con
Chăm sóc dưỡng nuôi bảo vệ
Cứ tưởng chúng mải vui, mặc kệ
Thì ra chúng đã lớn khôn
Có lẽ không cần nhắc đến gia môn
BIẾT HỎI AI
Bão bắt đầu từ đâu
Thầy và cô đã nói
Ta bắt đầu từ đâu
Tối tăm và sáng chói
Có cả ngàn câu hỏi
Ai trả lời cho ta
Lẽ đời thường ba hoa
Lẽ đời thường nghiêm khắc
Tất cả đều xa lắc
Biết hỏi ai bây giờ
GIỞ TỪNG TRANG
Không phải tự dưng đâu
Họ viết câu chuyện cổ
Ta đọc mãi đọc hoài
Sao vẫn là trẻ nhỏ
Giở từng trang từng trang
XIN HÃY CƯỜI
Ta thương đời như chính cuộc đời
ta
Càng thất bại càng không biết sợ
Và ai đó nói đời là nợ
Có hề chi khi vỡ nợ trong đời
Ta lại thương ta gấp chín gấp mười
Ta ơi ta và xin hãy mỉm cười
NÂNG NIU
Chẳng bao giờ ta nhìn thấy sau
lưng
Quá khứ vinh quang cần gì nhắc tới
Vì như thế nên cái gì rất mới
Là cái ta cần trân trọng nâng niu
THẤY NHÃN TIỀN
Đến cõi Sa Bà mấy chục niên
Ngổn ngang trăm mối những ưu phiền
Ngày mong sinh kế làm cho đủ
Đêm ước bình tâm nghỉ được yên
Khéo sợ chạm vào loài quỷ ác
Thêm lo vướng phải lũ cường quyền
Sa chân bám dính miền danh lợi
Hoạn nạn bày ra thấy nhãn tiền
ĐƠN CÔI
Thương mình phải ở nơi xa
Nén hương thắp giỗ mẹ cha cũng
nghèo
Ai đi trăm núi ngàn đèo
Để lòng nhức buốt những chiều đơn
côi
SỬA MỘ PHẦN ÔNG BÀ
Nắng mưa ai trút vào tôi
Để đời lưu lạc và rồi cứ xa
Mỗi đêm nằm nhớ về nhà
Cha nằm nơi đó, mẹ già nằm đây
Mắt buồn bóng tối giăng đầy
Cả đời cha mẹ héo gầy vì con.
Vẫn mong miếng ngọt miếng giòn
Nâng niu sớm tối cho tròn nghĩa ân
Mỗi năm có được một lần
Tự tay đắp điếm giữ phần cốt
xương.
Câu kinh gõ nhịp đêm trường
Ta nghe thấy đủ mười phương đất trời
Nhẩm theo lấy một đôi lời
Khéo là bắt chước sự đời hay ho
Những ai cách bến xa đò
Nén tâm hương thắp cả cho cõi người
Hạ nắng dường như sắp hết rồi
Suốt ngày rả rích rặt mưa thôi
Muốn lên cô tám lo thuyền vỡ
Định xuống mợ ba sợ bến trôi
Đặt bút kiếm hoài không thấy giấy
Mở chai tìm mãi chẳng ra mồi
Một mình một chén ngồi gà gật
Không bát không mâm cũng chẳng nồi
Bứt rứt làm sao nóng cuối hè
Những chùm lửa đỏ kín bờ tre
Trái hồng Đà Lạt vừa ưng ửng
Quả bưởi Năm Doi cũng đỏ hoe
Trên phố thoáng thơm mùi bánh cốm
Dưới quê dịu ngọt vị xôi chè
Sân đình năm ấy giờ sao vắng
Bứt rứt làm sao nóng cuối hè
(Họa thơ Nguyễn Tiến Ích)
Mở kính coi thư trước cửa nhà
Nửa sân vàng rực ráng chiều sa
Bên vườn ríu rít vài con ngỗng
Dưới bếp lao xao mấy mái gà
Tám quãng thấp cao ngời giấy điệp
Năm cung trầm bổng cất lời ca
Thì ra bạn ở bên Kinh Bắc
Mừng hội yêu thơ gửi đó mà
Chú mướp hôm nào bé tí teo
Suốt ngày chạy nhảy với leo trèo
Xù lông xoa mặt cô nồi thủng
Giở vuốt cào lưng bác cột oeo
Chạy trước bám hờ nằm chỏng gọng
Vờn sau vồ hụt ngã lăn queo
Bây giờ đã lớn to hơn trước
Nửa bát con cơm chén hết veo
Đã hẹn gặp nhau tại Cổ Loa
Trường xưa chửa thấy có ai qua
Nhớ ngày thu đến vang rền trống
Nhớ buổi hè sang đỏ thắm hoa
Yêu bạn giúp nhau khi gắn bó
Quý thầy dạy bảo lúc chia xa
Năm nhăm năm chẵn như vừa đó
Bạn có về không nhớ đón ta
Khối thứ xem ra phải tảng lờ
Giả câm giả điếc giả làm ngơ
Vào miền cực lạc ông ừ ứ
Đến xứ phù hoa lão ớ ờ
Dại cái đòng đong hay lọc lõi
Khôn con mài mại chỉ gà mờ
Thế mà vẫn cứ cho là giỏi
Đọc sấm trạng mấy mươi năm trước
Hôm nay mới đến quê ông
Đồng đất đơn sơ núi non thưa thớt
Nhà xưa để đó trống không
Giai thoại vẫn chỉ là giai thoại
Ai thêu, ai dệt mặc ai
Câu chữ triền miên nối bao thế hệ
Cứ tin, tin mãi, tin hoài.
Chúa Trịnh phải phò Lê
Nhà Mạc lên phía Bắc
Chúa Nguyễn phải vào Nam
Ông nói lúc nào, nào ai có biết
Dẫu có “tam sao thất bản”
Mỗi câu, mỗi chữ thần minh
Người đời tôn ông là thánh
Ngàn năm, vạn thuở oai limh.
Từ trong căn nhà tranh
Những đồ vật lặng im không nói
Những đồ vật nào ông từng dùng tới
Xin chạm tay lấy dấu thần nhân.
Mượn cớ kéo nhau cầu đạo du xuân
Đám học trò bẩy mươi về thăm quê
trạng
Ngồi dưới chân Người cảm nhận
Ông xoa đầu... sự học vẫn mong manh
(!)
(Họa bài Kinh vô tự của PKU)
Dịch lý càn khôn khéo lạ kỳ
Từng trang chứa đựng lẽ huyền vi
Bẩy mươi năm lẻ chưa tìm nổi
Hai sáu ngàn đêm chửa biết gì
Tải đạo bao người dò bến đỗ
Tầm nhân mấy kẻ rắp tâm qui
Sáu mươi bốn quẻ từng nung nấu
Chọn mãi chưa ra được một thì[1]
[1] Là thời khắc
tốt cho một việc nào đó
Sắc không hồ dễ hiểu
Nên nỗi căn cơ cúng dường
Vô trụ[1]
Quỷ nào đến được nơi đây (?)
Sao vẫn cần bát bộ kim cương
Hộ pháp
Lấy uy vũ trấn truy loài ác
Mới mong giữ vẹn đạo này đạo khác
Kỳ khôi
Tìm đâu ra tuyệt đỉnh quyền năng
Bao giờ hết cung thương giáo mác
Cửa chùa
Bao giờ mới hoài thai trạch giác
Chúng sinh không mắc tội a dua
Vô ngã
Hay là hữu ngã, thật khó theo
Ai trả lời các đấng Tỳ kheo[2]
Tự vấn
Ai đàm luận đúng sai
Để mỗi sinh linh hiểu được
Dẫu cho chẳng có ai bắt buộc
Sao lại cố nghe, cố thuộc
Văn ngôn của người đời
Vô ngôn
Mà sao vẫn có lời
Ngàn vạn câu tụng niệm
Và... lời tán[3] luôn
vẫn mở đầu
Những lời viện dẫn lạ lùng
Thành giáo lý cao xa
Thành kinh, thành kệ
Đọc muôn ngàn lần Sắc không
Ta vẫn là ta
Tự nơi nào A la hán[4] mọc
ra (?)
[1] Một
cách nói về chữ không trong đạo phật
[2] Tên
gọi của các tu sĩ đệ tử nhà phật
[3] Phần
mở đầu mõi khi đọc kinh phật
[4] Là kết
quả cao nhất mà người chân tu có thể đạt được
Vào chùa gặp ông hộ pháp
Cao to chạm tới nóc nhà
Bên ngọc lưu li sáng quắc
Bên đao chém xuống tà tà
Trừ gian đã hẳn là nên có
Khuyến thiện dù sao thiếu được đâu
Mới hay nhân thế còn đau khổ
Đến được Tây Phương chắc cũng lâu
GẶP LẠI
Vừa đó hôm nào
Bốn ba năm chẵn
Mới lại gặp nhau
Em có đón đâu
Sao anh lại đến (?)
GẶP LẠI NGƯỜI XƯA
Thế là đã bốn ba năm
Người đi từ xứ xa xăm trở về
Gặp nhau giữa những bộn bề
Tiếng chim khách cũng não nề cất
lên
Bao năm đã cố tình quên
Sao người trở lại khơi nên dạ sầu
Ai xây nên quán nên cầu
Ai đưa tay quấy đục ngầu bến sông
Để rồi không cứ hoàn không
Một đời đơn độc mênh mông những buồn...
Vắng em giữa một đêm mưa
Cành na gõ nhịp đu đưa trước nhà.
Em đi một buổi thôi mà
Vắng sao, vắng tựa như là chợ tan
Mâm cơm bỏ dở trên bàn
Đợi chờ ai giữa muôn ngàn cô đơn
(?)
Ba tầng nhà để trống trơn
Các con cũng vắng... còn hơn một
mình
Ngoài hiên giọt giọt giăng mành
Câu thơ viết mãi không thành câu
thơ
Mệt nhoài giữa một cơn mơ
Tiếng ai gọi cửa lờ mờ bên tai
Ngoài sân mưa vẫn mưa hoài
Mình anh ngồi đó nối dài đêm mưa.
Đồng làng ta năm nào cũng lạc
Tháng một cày bừa làm luống
Tháng chạp mang hạt ra gieo
Tháng giêng nảy mầm ra lá
Những hoa vàng nở ra nhanh quá
Những tia quả trên cành cong queo.
Em đi tiễn anh, một ngày sau tết
Đứng bên đồng lạc nhìn theo.
Mười năm đánh giặc xa nhà
Từng đêm, từng đêm mơ về đồng lạc.
Những đốm lá tròn nửa xanh, nửa bạc
Tìm nhau suốt những năm qua.
Không gặp được nhau sau những cách
xa
Những mắt lá tròn, vẫn xanh, vẫn bạc
Cuộc hội ngộ muộn mằn bất chợt
Bâng khuâng “mắt lạc” thuở nào.
Viết
nhân ngày giỗ mẹ 18/3/Ất sửu (1985-2019)
ĐÊM MƠ THẤY MẸ
Con đi giữa trận mưa rào
Bước chân lạ lẫm lối vào ngõ xưa
Chẳng còn nghe tiếng võng đưa
Chẳng còn nghe thấy giữa trưa tiếng
gà.
Dẫu ai cũng phải về già
Vẫn mong sao để mẹ ta mãi còn
Nắng xưa đốt áo khô giòn
Mưa xưa rã đất cho mòn lối quê...
Chập chờn trong tỉnh trong mê
Bỗng nghe tiếng mẹ gần kề gọi ta
Mẹ ơi con đã về nhà (!)
Bước chân vội vã như là ngày xưa
Khẽ chao cánh võng đu đưa
Câu ru man mác đêm mưa thuở nào
Gió qua khe cửa lọt vào
Giật mình nhìn khắp mà nào thấy
đâu.
Đêm quê sầu lại thêm sầu
Vầng trăng cuối tháng bạc mầu tóc
ai.
ĐÒ NAN
(Tình Quang ngày lụt năm 1971)
Lại nghe tin lũ đổ về
Khắp trời vần vụ mưa dầm dề mưa
Nhớ ngày đê vỡ năm xưa
Làng ta ngập hết vẫn chưa quên nào
Mái tranh trôi giữa sóng trào
Tiếng con gọi mẹ như bào ruột gan
Bao người nước mắt chan chan
Bao năm rồi, vẫn cứ tan nát
lòng.
Con từ mặt trận miền trong
Được về thăm mẹ mà không lối vào
Mẹ ơi, mẹ ở nơi nào (?)
Từng con sóng lớn, xoáy cào mặt đê
Lũy tre xanh tốt xưa kia
Chỉ còn đôi nhánh đứt lìa đang
trôi
Làng xưa đi mất đâu rồi
Chẳng còn ai để cho tôi hỏi dò.
Gậy tre quờ quạng lần mò
Bỗng đâu có một con đò lướt qua
Anh vừa từ chiến trường ra?
Em đi tìm mẹ, tìm nhà cho anh!
Tháng năm trôi thật là nhanh
Quê mình đã hết chiến tranh lâu rồi
Anh đi tìm đã bao hồi
Con đò nan ấy đâu rồi... đò nan?
Chủ Nhật, 30 tháng
12, 2018
CHÁN MƯA
Mưa gần nửa tháng rồi
Ngày đêm đều rỉ rả
Mọi người cứ kêu trời
Trời chẳng nghe gì cả
KHÁCH CƯỜI
Cô bảo rau rất xanh
Khách hàng cười nhe nanh
Anh chỉ thích em trắng
Để lên xe cùng anh
CÓ HOA
Xuân trước cũng đào quất
Xuân nay cũng quất đào
Em bảo hoa gì nhỉ
Anh chẳng cần thứ nào
LÀM DÂU
Năm ngoái còn nhìn thấy
Năm nay chẳng thấy đâu
Hỏi mãi rồi mới biết
Em vừa đi làm dâu
Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019
HỘI THẢO KHOA HỌC
* NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH
QUA BÀI THƠ “BÁN LỘ THUẬN THỦY PHÓ UNG” VIẾT TRONG TÁC PHẨM NGỤC
TRUNG NHẬT KÝ
Lê Trọng Hồng
(Chi hội thơ ĐL Lục Đầu
Giang tỉnh Hải Dương)
Viết về thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã có hàng ngàn tác giả và hàng ngàn bài viết. Nhiều bài viết nhấn mạnh
đến ý chí cách mạng của Người và càng nhiều bài viết về nghệ thuật làm thơ chữ
Hán của Người. Trong bài viết ngắn này chỉ xin cảm nhận về nhân văn của Người
qua một bài thơ trong Ngục trung nhật ký.
Cũng như nhiều người đã nói nhật
ký vốn là những ghi chép của tác giả và chỉ dành riêng cho tác giả có quyền đọc
nó. Tuy nhiên Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được công bố rộng
rãi trước tất cả mọi người trong và ngoài nước. Điều này lẽ ra là trái với quan
niệm của cộng đồng, bởi một khi đã là nhật ký thì người viết có thể nói ra những
điều tâm sự kín đáo hợp lẽ và sẽ có cả những tâm sự bức xúc đến mức cao độ dễ
đưa đến những manh động về một khía cạnh nào đó làm cho hình ảnh của tác giả xấu
đi trước những người được biết về nội dung của nhật ký. Phải nói rằng đây là một
trường hợp khá đặc biêt. Nó đặc biệt ở chỗ không những đã được công bố rộng
rãi, còn được nhiều người dịch giảng, coi như một ấn phẩm quý giá vừa có thể
thưởng thức về mặt nghệ thuật vừa có thể học hỏi về mặt tư tưởng của tác giả.
Đánh giá về tập nhật ký ta đều nhận
ra rằng toàn bộ các bài viết đều có một chủ đề riêng rẽ và càng nhiều hơn các
bài đan xen quện chặt vào nhau giữa nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên chúng ta
cũng rút ra được một số chủ đề chính đó là những bài tự nói với mình, những bài
cảm thông cho một hoàn cảnh nào đó và khá nhiều bài phê phán, cáo buộc một hành
vi nào đó của tầng lớp thống trị và sau hết là loạt bài thống kê lại được những
gì mình đã trải qua cùng với những cảm nhận của riêng mình trong từng hoàn cảnh.
Một đặc điểm rất quen thuộc của
tác giả đó là mượn cảnh để tỏ tình và phần nhiều các bài thơ chỉ toàn là cảnh
và chẳng tỏ rõ bất kỳ một nhận định nào, nhưng khi đọc xong bài thơ người đọc tự
thấy như mở ra trước mắt nhân văn cao đẹp của tác giả. Đây cũng chính là những
gì tôi muốn được một lần bày tỏ cảm xúc trước một văn phong trác tuyệt của Người
qua tác phẩm Bán lộ thuận thủy phó Ung viết trong Ngục trung nhật ký với nguyên
văn chữ Hán và phần phiên âm dưới đây
半 路 搭 船 赴 邕
乘舟順水往邕寧,
脛吊船欄似絞刑。
兩岸鄉村稠密甚,
江心漁父釣船輕。
Phiên âm
Bán lộ đáp thuyền phó Ung
Thừa chu thuận thủy vãng Ung Ninh
Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình
Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm
Giang tâm ngư phủ điếu thuyền
khinh.
Dịch nghĩa
Đáp thuyền xuôi dòng đi Ung Ninh,
Chân bị treo lên giàn thuyền như tội
hình treo cổ;
Làng xóm hai bên sông thật là đông
đúc,
Giữa lòng sông, thuyền câu của ông
chài lướt nhẹ.
Nguồn:
Hồ Chí Minh toàn tập (T3) - NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
Bản dịch của Nam Trân
Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung
Ninh,
Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;
Làng xóm ven sông đông đúc thế,
Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh
thênh.
Trước hết bài thơ hoàn toàn nằm
trong cách viết nhật ký đó là việc kể ra sự việc bị nhà tù của chính quyền
đương thời giải đi Ung Ninh bằng phương tiện giao thông đường thủy thuận theo
chiều dòng chảy.
Thừa chu thuận thủy vãng Ung Ninh
Trong đó kể rõ bản thân bị buộc
chân treo trên cao, còn đầu thì hướng xuống dưới tựa như người thắt cổ.
Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình
Một chi tiết khác mà người viết nhật
ký đã nhìn thấy từ phía xa hai bên bờ sông, nơi con thuyền đi qua thật là đông
đúc và trù phú.
Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm
Gần hơn nữa là từ giữa dòng sông
có một ngư phủ ngồi trên chiếc thuyền câu nhỏ nhẹ.
Giang tâm ngư phủ điếu thuyền
khinh.
Phía sau của lối kể chuyện ta nhận
thấy tác giả dùng phép tả chân để thâu tóm toàn bộ cảnh vật. Về cách tả cảnh
tác giả đã rất tinh tế nhìn từ xa đến gần. Đây chính là cách nhìn phù hợp của
người đang di chuyển đối với những hình ảnh cố định, vì cho dù tốc độ trôi thuận
dòng có nhanh đến mấy thì quang cảnh làng xóm vẫn dường như đứng nguyên tại chố.
Tuy nhiên toàn cảnh dòng sông với
đôi bờ vốn chưa đủ để có một bức tranh hoàn chỉnh và khéo thay với một chiếc
thuyền câu cùng với sự chuyển động đã tạo ra bóng dáng sự hoạt động của con người,
điểm thêm trong bức tranh thủy mạc mà tác giả đã phác họa trong thơ.
Những cái gửi gấm trong thơ lại dần
được mở ra qua từng chi tiết đó chính là những điều không xuất hiện mà rất có
thể có trong thực tế của hoàn cảnh. Đó chính là sự đau đớn của những vòng dây
trói ngày càng thít lại do trọng lượng của cơ thể cứ ghì xuống tạo ra những cơn
đau về da thịt. Đó chính là trạng thái xuống máu của cơ thể sống, trái ngược với
cấu tạo vốn có của con người làm đầu óc càng ngày càng trĩu xuống bắt ta phải
phân tâm vì đau đớn, huống chi từng con sóng vỗ nhao lên hạ xuống tạo ra những
rung giật cơ học với gia tốc rơi mới được hình thành. Ta hiểu vì sao không một
tiếng kêu đau đớn, không một lời phẫn uất mảy may xuất hiện trước sự đối xử vô
nhân tính của các quan chức chính quyền mà cụ thể là những cai tù của họ.
Ngoài ý nghĩa tinh tế và toàn bích
về văn học nghệ thuật của một tác phẩm ta như thấy ở đâu đó một nhân sinh quan
khác thường của tác giả. Với một tâm niệm nào đó (mà ta chưa biết) đã làm cho
tác giả quên đi hoặc nữa là không quan tâm đến nỗi đau xác thịt mà người đó
đang phải gánh chịu.
Một lối viết pha trò hài hước mà
ta quen gặp trong nhiều bài thơ khác cũng đã được phát hiện trong tác phẩm với
một từ “vãng” (được dịch là đi) hoàn toàn không nói gì đến sự ép buộc mà chính
nhà thơ đang phải chịu đựng. Có cái gì đó tỏ ra rằng đây chỉ như một cuộc đi lại
thông thường, hoàn toàn khác với sự thật đó là một cuộc dẫn giải tù nhân cùng với
mọi sự khắc nghiệt thường thấy.
Điều gì đã tạo ra cho Hồ Chí Minh
một thói quen hài hước trước mọi bạo ngược, từng xuất hiện trong nhiều bài thơ
viết trong Ngục trung nhật ký nếu không phải là biểu hiện của sự lạc quan, sự tự
tin vào mục đích chân chính mà bản thân hướng tới và sau cùng là một ý chí vĩ đại
vốn đã được thấy trong những tấm gương lãnh tụ của nhiều cuộc cách mạng từng được
khắc họa trong văn chương trong nước và trên thế giới từ trước đến nay.
Trong một luận điểm khác ta có thể
nghĩ đến đó là cái gì đã làm cho con người ấy có một tâm hồn lạc quan và một ý
chí gang thép đến vậy. Đây chính là việc mà chúng ta phải tìm thấy trong bài
thơ. Sự chịu đựng vì không có cách nào khác? Đây cũng là một cái lý, tuy nhiên
nếu chúng ta lại đọc ở trong đó được những chi tiết mà nhà thơ nói đến đó là:
làng xóm ven sông đông đúc thế (viết theo ý của người dịch khá sát với nội
dung). Bằng một câu hỏi đầy sự ngỡ ngàng, ta ngộ ra rằng tác giả đã vui vì sự tốt
lành của một miền quê mà dường như trên đường đời tác giả ít có dịp được thấy
sau bao năm bôn ba khắp thế giới. Cái mừng vui của một vĩ nhân khi nhận thấy ở
đây những người dân, dường như có được một chút yên bình, không có sự tàn phá của
chiến tranh tàn khốc.
Chúng ta biết hai bên bờ sông ở
đây là của Trung Quốc. Nhưng với Hồ Chí Minh thì người Trung Quốc hay người Việt
Nam và tất cả các dân tộc trên thế giới đều là những con người và đều cần được
sống cho ra sống. Có lẽ chính vì thế mà nhiều năm sau, trong Tuyên ngôn độc lập
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đã vận dụng lời
lẽ đúng đắn trong bản tuyên ngôn của các nước khác mà khảng định: mọi người
sinh ra đều có quyền bình đẳng…
Cũng trong bức tranh mà nhà thơ đã
cấu tạo nên còn có thêm một chi tiết khác hẳn với quang cảnh hai bờ sông, đó là
một chiếc thuyền câu với người ngư phủ đang ở giữa dòng sông. Đây cũng chính là
sự hoạt động đặc trưng cho sự tự do của một cá thể trong sinh cơ lập nghiệp. Có
gì đó gợi cho người đọc nghĩ đến mục đích mà người làm thơ hướng đến đã từng
lúc chi phối toàn bộ tâm hồn và thể xác, khiến cho mọi sự đau đớn mọi sự bó buộc
dường như không tồn tại.
Những điều vừa nhận định trên đây
sẽ có thể chỉ là sự võ đoán vô căn cứ nếu như bài thơ chỉ là của một nhà thơ
bình thường khác. Tuy nhiên chúng ta lại hoàn toàn có thể nghĩ tới vì nhiều năm
qua đi, nhà thơ, nhà cách mạng Hô Chí Minh đã toàn tâm, toàn ý và biểu lộ qua
những trang di chúc với một câu nói hết sức cảm động: “Tôi chỉ có một
ham muốn, ham muốn đến tột bậc đó là đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai
cũng được học hành…” Đây cũng chính là sự lôi cuốn của bậc vĩ nhân khi nghĩ đến
khát vọng của mình là làm sao để giải phóng cho họ, làm sao để họ có cuộc sống
yên vui và cao hơn nữa là tự do cho con người, tự do cho các dân tộc và tự do
cho toàn nhân loại.
Cũng xin mạnh dạn đề cập thêm về sự
xuất hiện của con thuyền câu giữa dòng sông khi ấy với một ý tưởng khác dường
như tác giả đã ngụ vào đó và tự ví mình với con thuyền câu đó luôn ở giữa dòng
và luôn được tự do. Những gì mà thể xác trải qua vốn chẳng là gì cả và không cần
phải nói đến trong sự cảm nhận của tác giả trước hoàn cảnh hiện tại. Từ đó bài
thơ có cái tự nhiên của một bức tranh phong cảnh vốn được cho là đẹp trên một
vùng quê và cảnh đó không có sự bó buộc nào về những nhận định vốn không cần
bày tỏ. Điều này cho thấy ý thơ (có thể khác với nhận định của người viết) hoàn
toàn nằm ngoài văn bản phù hợp với những gì là tinh tế của thơ chữ Hán đó là Ý
tại ngôn ngoại, được sử dụng nhiều hơn so với thể thơ khác.
Điều mà chúng ta nhận ra văn
chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thực là văn chương tuyệt phẩm mang tính
nghệ thuật cao và nhất là không thiếu tích cách mạng mà Người luôn gửi gấm
trong mỗi câu mỗi chữ trong thơ chữ Hán nói chung và trong Ngục trung nhật ký
nói riêng. Thêm một lần khảng định những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trước
hết là thơ của một nhà thơ uyên bác cùng với sự khảng định đồng nhất về một nhà
cách mạng Hồ Chí Minh với ý chí kiên định cách mạng vĩ đại nhất trong mọi thời
đại. Đây cũng chính là nhân văn của nhà thơ, nhà cách mạng Hồ Chí Minh mà người
viết mong muốn tìm được trong Ngục trung nhật ký.
TRẦN TẾ XƯƠNG
NGƯỜI GÓP PHẦN HÌNH THÀNH
THƠ CÁCH LUẬT VIỆT NAM
PHẦN I:
BẢN THÔNG ĐIỆP GỬI CHO HẬU THẾ
I. Giới thiệu chung
Từ xưa đến giờ những người làm
văn, làm thơ không ai là không có những phản ảnh về bản thân và xã hội đương thời
qua tác phẩm. Trong nhiều bài viết về Trần Tế Xương cũng đã từng nói về điều
đó. Đây chính là những nhân định ban đầu chứng minh cho quan điểm coi tác phẩm
của ông như một Thông điệp văn học sử, phản ảnh về con người và xã hội trong
giai đoạn Thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trên đất nước
ta.
Nhà thơ Trần Tế Xương, tên khai
sinh là Trần Duy Uyên, sinh năm 1870 tại Nam Định và mất năm 1907.
Cuộc đời ông nằm gọn trong bước đầu cuộc xâm lược của thực dân Pháp và quá
trình thực dân hóa của người Pháp trong nhiều năm sau đó. Đây là giai đoạn xã hội
vô cùng bế tắc và nghiệt ngã trong thiết lập độc quyền của chế độ thực dân và
cuộc vật lộn của chế độ phong kiến cố vớt vát chút quyền lợi trong sự tan rã
tuyệt vọng.
Chứng minh cho điều này dường như
chúng ta đã tìm thấy trong Trần Tế Xương tác phẩm. Chỉ cần mảng thơ luật Đường
viết bằng chữ nôm của ông đã có thể dẫn ta đi tới sự tận cùng mọi tầng lớp con
người và xã hội thời đó. Điều đặc biệt hơn đó là mỗi tác phẩm của ông đều chứa
đựng sự phán xét cùng những kết luận sai, đúng giúp ta có những khái niệm đầu
tiên về con người và xã hội đương thời. Những gì mà ông đề cập đến chính là sự
thay đổi ghê gớm của các tầng lớp quan lại, thị dân đầu tiên dưới chế độ thực
dân hóa ở chính nơi ông sinh ra và lớn lên. Bên cạnh đó là phản ảnh về sự dãy dụa
của chế độ phong kiến thông qua hệ thống trường thi và tầng lớp sĩ tử trong đó
có chính nhà thơ.
Cũng từ các nghiên cứu về Trần Tế
Xương, đa số các tác giả đều cho rằng ông có trên 170 tác phẩm văn chương với
nhiều thể loại. Trong đó có 123 bài thơ theo thể luật Đường viết bằng chữ nôm
cùng với 83 bài dịch thơ Đường của các nhà thơ hàng đầu của Trung Quốc
qua các thời kỳ. Trong số 123 bài thơ viết theo thể luật Đường, phần lớn các
bài thơ đều là thơ trào phúng với giọng điệu phê phán đến nghiệt ngã nhưng vẫn
luôn mang chất trữ tình trong thơ. Về nghệ thuật làm thơ của ông thật là điêu
luyện trong cách dùng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ cùng với sự chọn lọc đặc
trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam cách xa lối thơ Đường luật từ các thời đại
trước đó.
Về phía tác phẩm, cũng như đã nói
trên đây, Trần Tế Xương là người có chính kiến rõ rệt trong nhận định tốt và xấu.
Ông thẳng tay phê phán bất kể là ai cùng với những trò hề thay đen đổi trắng
mong cầu lợi cho mình, cho dù là vài đồng tiền phân bạc, đến chức vị quan lại
béo bở với các thủ đoạn bòn rút bóc lột dân lành. Ông đã trào lộng đến tầng lớp
cao nhất trong bộ máy cai trị thực dân như Quan sứ và mụ đầm, vợ ông ta cho đến
tầng lớp thị dân vừa xuất hiện từ khi Pháp đến xâm lược nước ta.
II. Bộ mặt thực dân tàn ác phản động
Cùng với bút pháp điêu luyện của
mình ông đã vẽ nên những hình ảnh vênh vang trơ tráo và lạc lõng của các quan
thực dân
Cờ kéo rợp trời, quan sứ đến
Váy lê quét đất, mụ đầm ra.
Chẳng những thế, đến cả lính thực
dân cũng ra oai người nhà nước hạch sách và làm tình, làm tội người dân đến mức
quái dị và đê tiện:
Hà Nam danh giá nhất ông cò
Trông thấy ai ai chẳng dám ho
Hai mái trống toang đành chịu dột
Tám giờ chuông đánh phải nằm co
Người quên mất thẻ âu trời cãi
Chó chạy ra đường có chủ lo
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được
Phen này ắt hẳn kiếm ăn to
III. Bộ mặt quan lại phong kiến hủ
bại
Bên cạnh các thế lực ngoại bang là
bè lũ quan lại người Nam vừa đớn hèn vửa trơ tráo giương mắt lên nhìn nỗi nhục
mất nước. Đây cũng chính là cái tròng thứ hai thít chặt vào cổ người dân bằng mọi
thủ đoạn thâm hiểm và ác độc.
Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét
Giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh
Cổ cong mặt lệnh, người đâu thế
Cái cóc bôi vôi khéo dại hình
Nhà thơ cũng kể ra cho ta thấy bộ
mặt thật của bọn quan lại thời đó cùng với tệ nạn bài bạc, ăn chơi trụy lạc:
Ông về đốc học đã bao lâu,
Cờ bạc rong chơi rặt một màu
Ông kể rõ những hình ảnh về bè lũ
quan lại phong kiến tham lam tàn ác luôn bày đặt mưu sâu, kế hiểm, đưa người
dân vào cái bẫy của chúng để rồi tha hồ vơ vét bóp nặn:
An Sơn tông giống người keo thực
Bồ Thủy xưa nay của kiết à
Đất nhị dễ thường lươn rúc ở
Lửa nồng nên phải chuột đùn ra.
Càng nhiều những bọn quan tham bỏ
mặc chức phận miễn là có tiền vào túi:
Tri phủ Xuân Trường được mấy niên
Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên
Chữ "thôi" chữ "cứu"
không phê đến
Ông chỉ quen phê một chữ "tiền"
Điều mà chúng ta thấy được càng tệ
hại hơn đó là một nhà nước vô trách nhiệm trước các thiên tai lụt lội, hạn hán
hết năm này qua năm khác. Ta những tưởng trong tình cảnh ấy có ai đó sẽ hợp mọi
người lại để chung lo chống hạn. Nhưng rồi cũng chỉ có người dân hai tay trắng
đứng ra lo cái không thể làm nổi.
Dạo này đá chảy với vàng trôi
Thiên hạ mong mưa đứng lại ngồi
Ngày trước biết gì, ăn với ngủ
Bây giờ lo cả nước cùng nôi
Cùng với hạn hán là lụt lội mất
mùa đói kém và rồi ốm đau, chết chóc, cũng từ đó là làm ghê sợ bao người:
Thử xem một tháng mấy lần mưa
Ruộng hoá ra sông cỏ vật vờ
Bát gạo Đồng Nai kinh chuyện cũ
Con thuyền Quý Tỵ nhớ năm xưa
Có lẽ ông mong lắm cái sự thay đổi
của trời đất, nhưng trời đất nào có thể giúp được ông. Có chăng chỉ có thể là
chính quyền nhà nước có can thiệp hay không mà thôi. Có một nghịch lý đó là cá
kia cũng biết cách trốn chạy hạn hán “Cá sợ ao khô vượt cả rồi” và trâu kia
cũng buồn vì lụt lội “Trâu bò buộc cẳng coi buồn nhỉ” còn con người lại chẳng
thể tự liệu được cho mình. Thật là chua chát cho con người phải sống trong xã hội
đầy đau khổ mà không thể thoát ra được.
IV. Bộ mặt tầng lớp thị dân
Cùng với những phản ảnh của nhà
thơ về tầng lớp lãnh đạo xã hội bảo thủ và vô trách nhiệm. Bức thông điệp cũng
cho ta thấy đây cũng chính là nguồn gốc sinh ra mọi băng hoại về đạo đức và lối
sống của chế độ thực dân, nửa phong kiến lúc bấy giờ. Đây cũng chính là nguồn gốc
đẩy tầng lớp thị dân đến chỗ sa đọa về đạo đức và lối sông mà nhà thơ đã điểm
qua khắp lượt trong tác phẩm của ông. Đó là những người dân không còn vườn ruộng,
cố gắng bám vào xã hội bằng cách mở nghiệp bán buôn và làm các dịch vụ phát
sinh trong quá trình thực dân hóa. Cũng từ đây, tầng lớp những người sống bằng
nghề buôn bán bắt đầu với những trò gian giảo, lừa đảo và giả dối:
Ai đấy ai ơi khéo hợm mình
Giàu thì ai trọng, khó ai khinh
Thằng Ngô mất gánh, say câu chuyện
Chú lái nghiêng thoi mắc giọng tình
Cùng với những mánh lới ma mãnh
sành sỏi nhằm tranh cướp khách hàng thu lợi cho mình bất chấp mọi thủ đoạn
Nước buôn như chị mới ăn người
Chị thấy ai đâu chị cũng cười
Chiều khách quá hơn nhà thổ ế
Đắt hàng như thể mớ tôm tươi
Đặc
trưng của nghề buôn bán cùng với những thủ đoạn đen tối dần hình thành để rồi mọi
thứ đều được cân, đong, đo, đếm bằng tiền và có phải vì thế mà xã hội đã dùng
tiền mua mọi thứ và đồng tiền đã khuynh đảo đến mức ghê gớm:
Giàu sang âu yếm tình quen thuộc
Bần tiện thờ ơ dạ bạc đen
Ví khiến trong tay tiền bạc có
Nói dơi nói chuột chán người khen.
Đến cái kết quả cuối cùng chính là
cái miền quê thân mật ngày xưa không còn nữa. Những người cùng làng xóm, phố
phường trở thành xa lạ. Cả đến những người thân trong nhà cũng biến thành thù,
mất hết giá trị của nhân bản:
Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng
Keo cú người đâu như cứt sắt
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng
Cũng giống như những người dấn
thân vào nghề buôn bán, những người làm các công việc dịch vụ cũng buộc phải bước
vào cõi sống nhơ nhớp, hy sinh nhân phẩm để có một công việc làm kiếm sống. Họ
cũng học thói giả dối, lừa lọc không khác kẻ buôn bán:
Mình nghĩ cô mình thực gớm ghê,
Lòng son vẫn giữ nước non thề.
Ra tuồng gái hoá khi còn trẻ,
Như chuyện chồng xa lúc chửa về.
Cũng từ những bế tắc trong sinh kế,
con người rất dễ buông trôi trượt dài trên con đường trụy lạc. Ngoài nạn cô đầu,
đĩ điếm, buôn gian, bán lậu, tệ trộm cắp, lừa đảo đã trở thành phổ biến. Người
ta luôn thay đổi bộ mặt của mình để lợi dụng, lửa đảo để tồn tại. Có bao nhiêu
người đàn bà và cũng có bấy nhiêu người đàn ông lấy lừa đảo làm nghề
kiếm sống:
Nói nói cười cười theo giọng tỉnh,
Khăn khăn áo áo giữ màu quê.
Hoặc:
Khi thì thầy số, lúc thầy lang.
Công nợ bớp bơ hình chúa Chổm,
Ngay
cả trong các gia đình, người đàn bà xưa từng được dạy dỗ “công dung ngôn hạnh”
luôn thuộc lòng câu “tam tòng tứ đức” giờ đây cũng giả dối trác táng đâu còn
hai chữ “chính chuyên":
Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong dạ sao mà những gió trăng
Mới biết hồng nhan là thế thế
Trăm năm trăm tuổi lại trăm thằng
V. Bộ mặt trường thi và đạo học.
Những bài thơ viết về trường
thi và đạo học của nhà thơ Trần Tế Xương còn để lại đến nay đã cho chúng ta thấy
được toàn cảnh chế độ thi cử đương thời và chỉ rõ sự bế tắc của tầng
lớp nho sĩ lúc bấy giờ. Với một bên là chế độ thực dân, cố gắng tiến hành thực
dân hóa, một bên là chế độ phong kiến cố níu kéo lại phần quyền lợi của mình
nên chế độ khoa cử cũng rối ren kéo theo nhiều hệ lụy. Họ làm sao biết mình sẽ
phải học từ đâu và thi như thế nào mới đạt kết quả, trong khi:
Nghe nói khoa này sắp đổi thi
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi
Dẫu không bia đá còn bia miệng
Vứt bút lông đi, giắt bút chì
Bên cạnh cái nền nếp thi nay
thay, mai đổi, nhà thơ cũng chỉ ra sự hủ bại của chế độ thi cử đương thời. cùng
với các hiện tượng tiêu cực trong dạy và học. Thật đáng ngại khi thầy chẳng ra
thầy:
Hỏi thăm quê quán ở nơi mô
Không học mà sao cũng gọi đồ
....
Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt
Còn các quan lại có phận sự cai quản
việc thi cử thì ngu dốt đến mức (sách như hũ nút chữ như mù) lại làm việc sơ khảo
thử hỏi hay, dở rồi sẽ ra sao
Sơ khảo khoa này bác cử Nhu
Sách như hũ nút chữ như mù
Và thật là không đáng khi những
người coi sóc chốn trường qui lại là kẻ không có học, không biết chữ gì:
Thánh cắt ông vào chủ việc thi
Đêm ngày coi sóc chốn trường qui.
Chẳng hay gian dối vì đâu vậy
Bá ngọ thằng ông biết chữ gì
Còn các sĩ tử thì lười học, dốt
nát, lấy tiêu khiển ăn chơi là chính. Đây cũng chính là tệ nạn trong thi cử
trong buổi nho học đang tàn tạ. Trách chi bao kẻ sĩ tử giả danh, chỉ là thi cơm
rượu:
Kể tuổi nhà min ngoại bốn mươi
Văn min khấp khểnh, học min lười
Ba năm một hội thi cơm rượu
Bốn bể nhiều anh góp nói cười
Cũng chính từ điều này mà những
người đỗ đạt thường chỉ là cậy có người thân giúp, hoặc do mua được bằng tiền:
Ông cử thứ năm, con cái ai
Học trò quan đốc Tả Thanh Oai
…
Thứ năm, ông cử ai làm nổi,
Học trò quan đốc tỉnh Hà Nội
Càng tệ hại hơn với bao kẻ đỗ đạt
trong sự khuất tất khác trong cái sự tiêu cực nơi trường ốc rồi ra làm một thứ
quan nấu rượu:
Hàn lâm tu soạn kém gì ai
Đủ cả vung nồi cả cóng chai
Ví thử quyển thi ông được chấm
Đù cha đù mẹ đứa riêng ai
Và trớ trêu thay với những người
chưa thi đã biết đỗ, họ đâu có phải thi chữ nghĩa văn chương:
Người ta thi chữ ông thi phúc
Dù dở dù hay ông cũng vào
Từ những tiêu cực
trong dạy, học và thi cử, nhà thơ Trần Tế Xương đã nhận định về sự chán chường
của mọi người về đạo học mà từ bao lâu nay dân ta luôn coi trọng:
Đạo học ngày nay đã chán rồi
Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi
Nhiều người cho rằng ông Tú nhiều
khi cũng tự mâu thuẫn với chính mình, bởi những điều ông viết ra chứng tỏ là
ông đã thấy rõ sự hủ bại của trường thi thời đó, vậy mà sao ông vẫn cố đi thi.
Cái mà ta nhận thấy đây chính là cái bế tắc của tầng lớp sĩ phu thời đó. Đôi
người có thể giả câm, giả điếc lựa theo chiều gió chấp nhận mất dần bản chất để
đi theo. Số người có tài năng trí tuệ thực thụ thường khó chấp nhận sự đánh mất
mình nên rất dễ bị đè nén bởi nguyên lý tự nhiên của thời đại. Điều này đã tác
động vào chính nhà thơ Trần Tế Xương và rồi có lúc ông cũng muốn phó mặc:
Thôi có làm chi cái chữ nho
Ông nghè ông cống cúng nằm co
Chi bằng đi học làm thầy phán
Tối rượu sâm banh sáng sữa bò
Tuy nhiên ông vẫn day dứt để rồi
tiếp tục theo lối cũ. Có lẽ ông không muốn theo đuôi kẻ khác chống lại dân
mình. Thôi thì đành gắng gượng giữ nguyên cái nghiệp thi cử do nhiều nguyên cớ.
Một trong những nguyên cớ đó là ông mong thỏa mãn sự mong muốn của gia đình mà
từ lâu rồi vẫn không có kết quả.
Mở mặt quyết cho vua chúa biết
Đua danh kẻo nữa mẹ cha già
Cũng còn một việc là làm thế nào để
có một chức sắc, được hưởng lương bổng sau khi thi đỗ để rồi có thêm những chi
phí cho đời sống bản thân nhà thơ:
Cái khó theo nhau mãi thế thôi
Có ai, hay chỉ một mình tôi
Bạc đâu ra miệng mà mong được
Tiền chửa vào tay đã hết rồi
Và điều cơ bản là làm sao có
công việc làm, có tiền giúp cho gia đình vượt qua những khó khăn đến (mướt mồ
hôi) và (tràn nước mắt):
Van nợ lắm khi tràn nước mắt
Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi
Cũng chính từ đây ta hiểu số phận
của cả tầng lớp sĩ tử thời đó sống ra sao và họ sẽ làm được gì để tự cứu lấy đời
họ trong khi các tổ chức cách mạng chống xâm lược đòi quyền sống dường như đã bị
tan rã do sự đàn áp của thực dân Pháp. và chính quyền phong kiến tay sai.
VI. Kết luận
Trên đây chỉ là một số dẫn chứng
chọn lọc nhằm khảng định công lao to lớn của nhà thơ Trần Tế Xương trong bức
tranh về con người và xã hội Việt Nam trong giai đoạn thực dân nửa phong kiến
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Thực dân Pháp xâm lược và chính quyền tay sai
bán nước gây ra. Người ta cũng có thể gửi lại lịch sử của một thời đại qua nhiều
nguồn như nhiếp ảnh nhưng dù có nhiều hình ảnh đến đâu thì cũng chỉ cho những vẻ
ngoài khô cứng, nói làm sao cho được tâm tư cảm xúc của cả một xã hội đang
trong thời kỳ biến động cùng với những khủng hoảng tăm tối nhất, chơi vơi nhất
mà mỗi con người phải chịu đựng. Điều muốn đề cập đến trong bài viết đó là thêm
một lần khảng định các bài thơ luật Đường nằm trong tác phẩm văn học sử của nhà
thơ Trần tế Xương chính là bản Thông điệp hiện thực và phong phú nhất về con
người và xã hội đương thời gửi lại cho hậu thế.
PHẦN II:
VIỆT HÓA THƠ ĐƯỜNG LUẬT
I. Giới thiệu mở đầu
Viết về Việt hóa thơ Đường luật đã
có hàng ngàn người tham gia và có thể cũng có đến hàng ngàn tác phẩm với nhiều
ý kiến khác nhau. Tuy nhiên trong hội thảo lần này của Hội Thơ Đường luật lại đặc
biệt nhấn mạnh đến ảnh hưởng của nhà thơ Trần Tế Xương đối với thơ Đường luật
Việt Nam. Đây là một chủ đề rất mới và có ý nghĩa vô cùng to lớn khi mà phong
trào làm thơ Đường luật với phong cách Việt Nam đã thực sự trỗi dậy sau nhiều
thập kỷ im hơi lặng tiếng trước các thể thơ khác đã và vẫn đang thịnh hành trên
thi đàn Việt Nam.
Đặc biệt hơn là số lượng tác giả
đã và đang sáng tác thơ “Đường luật” càng lúc càng đông. Chỉ cần thống kê 12 tập
thơ của Hội thơ Đường luật thì đủ thấy điều đó. Chưa nói đến các thi đàn thơ Đường
luật hiện đang thu hút khá nhiều tác giả trong các trang báo điện tử và trên
các CLB của hàng vạn thôn bản trên đất nước này. Điều mà chúng ta cần nhắc lại
đó là những lời ca thán đến mức ái ngại của nhiều nhà thơ về cái khó của thể
thơ này từ nhiều năm trước. Điều này hoàn toàn không sai vì sự thực là thế, khi
mà những niêm cùng luật, những vần với đối và nhất là khối lượng từ ngữ thật
khó để chuyển tải các trạng thái nhân vật cùng với các hoạt động hết sức sôi động
trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.
Tuy nhiên nếu đặt vấn đề cho thật
đầy đủ thì phải nói từ lâu rồi các nhà thơ thời trước đã cố gắng tìm ra phong
cách mới nhằm Việt hóa thể thơ này. Những gì văn học Việt Nam nhận
được đó là sự cách tân của Hàn Thuyên và Nguyến Trãi trong khá nhiều sáng tác bằng
chữ nôm của người Việt. Đặc biệt chúng ta còn có Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm,
Nguyễn Khuyến và nhiều nhà thơ khác trong rải rác các tác phẩm thơ nôm luật Đường
vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Để có thể đánh giá đúng và đầy đủ nhất
phải nói đến Trần Tế Xương mới là người đưa thơ Đường luật chữ Hán thành thơ Đường
luật theo phong cách Việt toàn diện và phong phú nhất trong mọi thời đại.
II. Giới thiệu chung về các bài
thơ
Để có thể nói về công lao của Trần
Tế Xương trong Việt hóa thơ Đường luật, không thể không nói đến việc sử dụng
ngôn từ tiếng Việt trong thơ ông. Người ta có thể nói các nhà thơ đều ngại dùng
các từ ngữ quá gợi hoặc tục. Đến như Hồ Xuân Hương cũng chỉ bóng gió hoặc nói
lái là cùng. Tuy nhiên Trần Tế Xương đã có sử dụng mạnh bạo hơn nhiều. Bên cạnh
cái (tôi) dám chịu trách nhiệm, ông dùng khá nhiều các câu từ nhiếc móc, thậm
chí là chửi rủa nhưng đọc lên vẫn thấy không đáng ngại. Cho đến bây giờ nhiều
người còn rất ngạc nhiên vì những câu chữ ông dùng trong thơ quả là một nghệ
thuật cao siêu và hoàn toàn có mặt trong ngữ pháp tiếng Việt hiện đại.
1. Nghệ thuật dùng từ trong thơ
Một đặc điểm quan trọng đó là những
câu thơ ông viết cứ như là kể chuyện thường ngày giữa người này với người nọ;
nôm na đấy nhưng không hề tầm thường, dễ dãi.
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa
Hầu hết các bài thơ của ông đều sử
dụng rất nhiều các biện pháp tu từ. Nhiều nhất vẫn là các câu ca dao, tục ngữ
và các thành ngữ như: (Học đã sôi cơm, Thi không ăn ớt) hoặc các thành ngữ: (Lặn
lội thân cò, Một duyên, hai nợ, Năm nắng, mười mưa) trong bài Thương vợ. Đây
cũng là những cụm từ quen thuộc trong giao tiếp của người Việt. Với cách này
nhiều khi không cần chú thích người nghe, người đọc cũng đã hiểu ý tác giả:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước lúc đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận,
Năm nắng mười mưa dám quản công.
Về nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ
Trần Tế Xương dường như được đi qua hầu hết các biện pháp tu từ. Trước tiên là
cách sử dụng ca dao tục ngữ và các thành ngữ trong thơ ví dụ như cách sử dụng từ
láy: (Ngao ngán, Nhạt nhèo, khăn khăn áo áo, Bút bút nghiên nghiên) trong bài
Đêm buồn. Với cách sử dụng này quả thật đã phá vỡ Ngũ độ thanh trong thơ Đường
luật thời trước. Điều này cũng cắt nghĩa cho việc Việt hóa thơ Đường luật của
ông.
Ngao ngán tình chung cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng
suông
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
Cách ông dùng ẩn dụ thực sự đã đạt
đến sự điêu luyện trong sử dụng ngữ pháp tiếng Việt. Đương thời dường như có rất
ít người làm được như ông. Như hàng loạt các câu thơ trong bài Đạo đức giả:
Lắng tai non nước nghe chừng nặng
Chớp mắt trăng hoa giả cách nhèm
Cũng đã sư mô cùng đứa trẻ
Lại còn tấp tểnh với đàn em
Nếu như thơ Đường luật Trung Quốc
vận dụng sự tích và điển cố để mở rộng các ý tứ trong thơ, thì Trần Tế Xương lại
dùng ca dao, tục ngữ và nhiều thành ngữ tiếng Việt để mở rộng ý thơ. Đặc biệt
là phép đối ông dùng càng nhuần nhuyễn. Chúng ta có thể kể ra một số thành ngữ
trong tiếng Việt mà ông đã sử dụng. Với cách dùng thành ngữ như thế này dường
như đã mở ra những mẫu câu cho những người làm thơ thời nay vận dụng.
Chúng ta còn tìm thấy ở ông cách
dùng từ hết sức gợi cảm nhưng cũng thật gần gũi trong giao tiếp hàng ngày như:
(ngoi, ngỏng):
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
Những động từ (ngoi) dường như gợi
cho ta thấy cái động tác cố di chuyển bộ mông ngồn ngộn của bà đầm. Hay như động
từ (ngỏng) khéo nói về sự cố cất cao cái đầu của ông cử đang phải cúi gục trước
các quan lại bề trên. Chính cái sự đối chọi giữa cái nơi khá “tục” của kẻ này với
cái chỗ “thanh” của kẻ kia đã bật ra cái sự nhạo báng sâu cay đến độ.
2. Kết cấu các bài thơ
Chúng ta có thể thấy thơ Trần Tế
Xương có sự khai thác rất chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối và nhất là kết cấu đề,
thực, luận, kết theo quy định của trường thi trong thời phong kiến. Trong hơn một
trăm bài thơ cũng có đôi chỗ trái luật (có thể do sao chép). Số các bài còn lại
thực sự hoàn hảo với ba yếu tố vần, luật, đối. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả
là các tác phẩm của ông hoàn toàn được viết bằng chữ nôm của người Việt phù hợp
với tiếng Việt giầu hài âm, nhạc tính.
a. Luật thơ chuẩn mực
Về luật thơ ông luôn tôn trọng những
quy tắc cơ bản của thể thơ với những bộ phận đề, thực, luận kết bao giờ cũng rõ
ràng mạch lạc, không hề công thức và khiên cưỡng. Từng phần một chắp vào nhau
mà không hề thấy có sự phân cách. Có thể lấy ví dụ qua bài Thiếu nữ đi tu để dẫn
chứng cho kết cấu của luật.
Con gái nhà ai dáng thị thành
Cớ chi nỡ phụ cái xuân xanh
Nhạt màu son phấn, say màu đạ,
Mở cánh từ bi khép cánh tình.
Miệng đọc nam vô quên chín chữ
Tay lần tràng hạt phụ ba sinh
Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế
Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh
Ngay từ đầu đề bài (Thiếu nữ đi
tu) đã rất ngắn gọn đủ khái quát chủ đề bài thơ. Các câu phá đề, thừa đề đã
hoàn tất việc giới thiệu về nhân vật (con gái nhà ai) cả về hoàn cảnh (dáng thị
thành) và sự việc muốn nói đến (nỡ phụ cái xuân xanh).
Với cặp thực: (Nhạt màu son phấn,
say màu đạo, Mở cánh từ bi, khép cánh tình). Hoàn toàn đủ để xong phần thực,
cùng với phép đối ngẫu chuẩn mực bao hàm cả thực và trạng (Nhạt màu son phấn/ Mở
cánh từ bi); (say màu đạo/ khép cánh tình). Chỉ cần hai từ: (say và khép) đã
nói lên tất cả.
Với cặp luận: (Miệng đọc nam vô
quên chín chữ/ Tay lần tràng hạt phụ ba sinh) đã nói rõ những đúng, sai về hành
vi của nhân vật trong thơ. Đây cũng là một cặp đối hết sức hoàn thiện tỏ hết được
cái ý của tác giả. Cũng như cặp thực, ở cặp luận cũng chỉ với hai từ: (quên và
phụ) đã đủ để kết tội người trong cuộc.
Đến với cặp kết: (Tiếc thay thục nữ
hồng nhan thế, Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh) thì bài thơ đã hoàn thiện với một
cái kết rất rõ ràng mạch lạc, đủ làm mẫu mực cho thể thơ này.
b. Các bộ vần đẹp
Về các bộ vần nhà thơ Trần Tế
Xương dường như chỉ dùng vần bằng mà ít dùng vần trắc. Đây là bộ vần truyền thống
của thơ Đường luật viết bằng tiếng Việt. Điểm quan trọng thứ hai là các bộ vần
thường là chính vận, có rất ít các bài dùng vần gần đúng (bàng vận) hoặc các vần
thông. Chính vì thế mà cả trăm bài thơ của ông đọc lên đều thấy êm ái nhẹ
nhàng, gợi cảm và rất dễ thuộc. Có thể lấy bộ vần trong bài Đau mắt làm ví dụ:
Bộ vần trong bài Đau mắt với các vần
(inh) để có các từ: Mình, thinh, sinh, đinh, tình. Đây là bộ vần bằng truyền thống
của thơ Đường luật. Kết cấu hài thanh với đầu và kết lấy thanh huyền (trầm bình
thanh). Các vần của các câu giữa đều thanh không (phù bình thanh). Đây là bộ vần
giúp cho hơi thơ dàn trải, man mác hợp với cách kể lể về nỗi buồn của con người
Vui chẳng riêng ai, ốm một mình
Hỏi ai, ai cũng chỉ mần thinh
Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán
Lại mấy hào con chú Ích Sinh
Hỏi vợ, vợ còn đi chạy gạo
Gọi con, con mải đứng chơi đinh
Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ
Gương mắt trông chi buổi bạc tình
Có thể lấy thêm bộ vần nữa trong
bài Thề với người ăn xin làm ví dụ:
Bộ vần trong bài Thề với người ăn
xin với các vần (o) để có các từ: no, cho, trò, gio, vò. Đây cũng là bộ vần bằng
truyền thống với kết cấu hài thanh: vần đầu là thanh không (phù bình thanh). Vần
thư 3 và vần cuối là thanh huyền (trầm bình thanh). Đây là bộ vần có vần đầu
tiên giúp cho hơi thơ ban dầu rất nhẹ, hợp với cách của người muốn thanh minh một
điều gì đó. Sang phần cuối với các vần là thanh huyền (trầm bình thanh) tựa như
nhấn xuống hợp với ý muốn khảng định những điều trước đó đã nói:
Người đói thì ta cũng chẳng no
Cha thằng nào có tiếc không cho
Họ đày đoạ mãi dân cày cuốc
Ai xét soi cho cảnh học trò
Mong được cơm no cùng áo ấm
Gặp toàn nắng lửa với mưa gio
Miếng ăn đến miệng là thưa kiện
Lúa rũ chân đê chửa được vò
c. Phép đối hoàn chỉnh
Tất cả những người làm thơ đều nhận
rõ bản thân cặp đối đứng độc lập đã đủ để hoàn chỉnh chủ đề của nó. Nhưng với
thơ Đường luật rất cần có nó bởi từ phép đối ngẫu bật ra câu thứ ba (do người
viết đề xuất) để tả được nhiều hơn trong phần thực và tỏ nhiều hơn trong phần
luận. Điều muốn nói là trong thơ Trần Tế Xương chưa bao giờ khoan đối và không
đối. Đặc tưng của thơ Trần Tế Xương lại tập trung hầu hết là thơ trào phúng nên
đối trong thơ ông quả là hữu dụng. Dưới đây là một số cặp đối trong thơ Trần Tế
Xương.
Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt
Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán
Lại mấy hào con chú Ích Sinh
Bánh chưng sắp gói e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
III. Kết luận
Về phong cách thơ Trần Tế Xương có
đủ ba yếu tố hiện thực, trào lộng và trữ tình. Toàn bộ tác phẩm là bức thông điệp
đứng đầu hệ thống văn học sử của thời đại với bút pháp trữ tình và trào lộng có
một không hai trong lịch sử. Tuy nhiên điều muốn nói đó là tác phẩm của ông được
tạo ra chính bởi chữ viết và tiếng nói của dân tộc Việt. Đặc trưng trong đó là
sự tiếp thu của thơ Đường luật Trung Hoa; một trong những tinh hoa văn hóa thế
giới mà mỗi dân tộc nào trên thế giới cũng có thể tiếp nhận, biến cải thành văn
hóa của chính dân tộc mình.
VIỆT
HÓA TRONG DỊCH THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Ngoài các tác phẩm thơ nôm
của nhà thơ Trần Tế Xương mà chúng ta đã xác định đó là thể thơ Đường luật theo
phong cách Việt, chúng ta còn có một kho tàng thơ dịch của ông cũng mang âm hưởng
và ngôn ngữ Việt. Trong số tám mươi ba bài thơ dịch, tương truyền là của ông đã
được các học giả giới thiệu khá kỹ trong “Tú Xương toàn tập”.
Điều mà ta nhận thấy là đa số các bài thơ ngũ ngôn đã được ông dịch thành thất
ngôn, chính từ đó mà độc giả dễ hiểu và dễ cảm. Nhưng đáng kể nhất phải nói đến
là đó là phương pháp dịch thơ của ông có nhiều nét cách tân khác với nhiều người
dịch trong thời điểm đó.
Cho dù phải tôn trọng nội
dung của bài thơ gốc nhưng nhiều bản dịch ông đã bỏ qua “hình thức ước
lệ, tượng trưng, công thức, quy phạm” trong phản ảnh con người và xã hội
vốn đã ngự trị trong thơ Đường luật Trung Hoa bằng cách sử dụng ngôn ngữ tiếng
Việt hết sức phong phú và đa dạng giống như cách sáng tác thơ nôm luật Đường của
ông. Đây cũng là những nét chính trong Việt hóa thơ Đường luật.
1. Trích dẫn
tóm tắt một số bản dịch
Để nói rõ hơn về quá trình
Việt hóa thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trong dịch thuật thơ Đường luật
chúng ta không thể không nhắc đến tám mươi ba bài thơ dịch trong:“Đường
thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm”. Trong mảng thơ dịch của ông đều
giữ nguyên đầu đề của nguyên tác (nghĩa là các bản dịch của ông không có đầu đề).
Nhiều nghiên cứu của các học giả đã nói về phương pháp dịch thơ của ông khác hẳn
với nhiều người. Điều đáng nói là những cảnh, những tình trong nguyên tác đã được
khắc họa sâu sắc hơn, rõ nét hơn về mọi mặt. Riêng về nghệ thuật các bản dịch
luôn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt cùng với nghệ thuật tu từ, đặt câu của văn hóa
Việt. Từ đó cho thấy những bài thơ dịch có một sắc thái riêng mang đậm nét văn
hóa của dân tộc Việt Nam. Đây cũng chính là đóng góp đặc sắc của ông trong dịch
thuật thi ca và trong Việt hóa thơ Đường luật qua các tác phẩm gốc thơ Đường.
Dưới đây xin trích dẫn một số bản dịch thơ của ông:
Thất thập dạ đối nguyệt
(Đỗ Phủ)
Thu nguyệt nhưng viên dạ
Giang thôn độc lão thân
Quyển liêm hoàn chiếu khách
Ỷ trượng cách tùy nhân
Quang xạ tiềm cầu động
Minh phiên túc điểu tần
Mao trai y quất dữu
Thanh thiết lộ hoa tân
Dịch nghĩa:
Ngắm trăng đêm mười bẩy
Trăng thu đêm nay vẫn tròn
Chỉ có một mình lão già ở thôn bên sông
Cuốn rèm lên trăng đã chiếu vào ta
Chống gậy đi đâu trăng cũng theo
Ánh sáng rọi làm con cầu long cựa mình
Bóng sáng soi vào khiến con chim ngủ xoay mình
Lều tranh dựa bên cây quýt, cây bưởi
Hạt móc đọng như hoa mới nở
Bản dịch
(Trần Tế Xương)
Vành vạnh đêm rằm chút chửa sai
Giang thôn lụ khụ một mình ai
Mở rèm trông thấy như chào tớ
Chống gậy ra chơi lại đón người
Trong suốt rồng nằm dòng nước chảy
Sáng choang chim ngủ bóng cành phơi
Nhà tranh ngồi tựa bên chồi quýt
Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời.
Bài thơ của Đỗ Phủ tỏ rằng
chỉ có một mình lão già này ở xóm bên sông với trăng làm bạn. Hình như
trăng vẫn tròn mà chưa tàn khuyết. Chỉ mới mở rèm ra trăng đã soi vào người. Ta
chống gậy đi đâu trăng cũng theo đi cùng, trăng soi xuống nước làm rồng thức,
soi vào chim trên cây làm cho nó phải xoay mình. Dưới trăng cả ngôi nhà
bên cây quýt cũng lay động, giọt sương cũng ánh lên trên cánh hoa mới nở.
Với ông Tú thì ngoài việc
giữ cái ý của nguyên tác còn có thêm những nét tinh tế khác. Đó chính là ông
coi trăng thực sự là người bạn. Vửa mở rèm trăng đã “chào tớ” và
rồi khi ông đi trăng lại cùng đi “ra chơi lại đón” chứ không phải
đi theo như nguyên tác. Điều thú vị là ông Tú nói không cần úp mở rằng có trăng
mà ta không cô đơn, có trăng mà ta hòa đồng được với cảnh vật tới mức “Móc
trắng lòng ta cũng trắng ngời”
Về nghệ thuật rõ ràng bản dịch
theo thể thất ngôn, âm điệu dịu dàng và có tính nhạc hơn. Tuy nhiên điều chúng
ta muốn tìm là phong cách Việt trong thơ dịch của ông. Điều đó rất rõ trong
cách dùng ngôn từ của bài thơ dịch với hàng loạt các từ láy.
Chỉ là “vành vạnh” thôi đã đủ để nói cái sự tròn,
chỉ với “lụ khụ” đã rõ cái sự già nua tuổi tác. Hoặc với
các từ ghép “trong suốt, sáng choang” đã đủ nói về hình ảnh một
không gian sống động. Cùng với việc sử dụng các từ ngữ điêu luyện
là các cấu trúc ngữ pháp trong các câu thơ chỉ có trong tiếng Việt hiện đại.Ngày
nay các tác phẩm vận dụng theo nghệ thuật dùng từ đặt câu của ông Tú thật là đắc
dụng.
Một ví dụ khác nữa là bài
thơ “Đối tuyết” thể ngũ ngôn của Đỗ Phủ cũng được dịch theo thể
thất ngôn.
Đối tuyết
(Đỗ Phủ)
Bắc tuyết phạm Trường Sa
Hỗ vân lãnh vạn gia
Tùy phong thả nhàn diệp
Đới vũ bất thành hoa
Kim thác nang thùy chỉnh
Ngân hổ tửu dị xa
Vô nhân kiệt phù nghĩ
Hữu đãi chí hôn nha
Dịch nghĩa
Tuyết miền bắc đã đến Trường Sa
Mây xứ Hồ gieo lạnh đến muôn nhà.
Lá rơi từ từ theo làn gió,
Hoa không nở được dưới cơn mưa.
Hễ tiền trong túi đã xóc xách,
Thì rượu dễ đầy bình bạc.
Không ai uống hết rượu phù nghị,
Xin cứ đợi đến lúc quạ chiều
Bản dịch
(Trận Tế Xương)
Nam bắc phôi pha mấy dặm khơi
Tuyết mây dan díu một phương trời
Gặp cơn ghen gió màu tha thiết
Sáu cánh trêu mưa dáng tả tơi
Một túi càn khôn dầu nhẹ nhẹ
Lưng bầu phong nguyệt chẳng vơi
vơi
Biết ai cạn chén tri âm tá
Thơ thẩn chiều hôm những đứng ngồi
Bài Đối tuyêt của
Đỗ Phủ nhằm cái ý trước cảnh tuyết rơi, khắp nơi giá lạnh lá cây rơi rụng, hoa
không nở được vì mưa, có tiền trong túi không lo hết rượu. Cứ uống đợi đến lúc
chiều về
Còn với Trần Tế Xương thì
bài thơ có sự thay đổi đáng kể. Ông nói về sự phôi pha giữa nơi xa vắng. Mây
tuyết mưa gió tàn phá gợi bao nỗi niềm. Túi càn khôn kia dù nhẹ bớt, cái bầu
phong nguyệt vẫn không vơi. Chẳng biết ai sẽ là bạn tri âm, nên lòng mãi bồn chồn
đứng ngồi không yên.
Về nghệ thuật ông phối hợp
ước lệ theo lối cổ của Đường luật Trung Hoa“Một túi càn khôn” hay “Lưng
bầu phong nguyệt” và trộn vào đó vốn ngôn ngữ thuần Việt “dầu
nhè nhẹ” hay “chẳng vơi vơi” một cách tài tình. Vì thế
nên nhiều học giả đương thời và cả những người đời sau đã nhận xét nhà thơ
là “thần thơ thánh chữ”.
Điều cần nhấn mạnh là hầu
như bài thơ dịch nào của ông cũng đều dùng ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại. Nghĩa
là từ ngày đó (một trăm năm trước) thơ Đường luật đã được Việt hóa
đến độ sâu sắc trong bút pháp của Tú Xương. Thêm một lần nữa ghi nhận công lao
của ông trong văn học Việt Nam nói chung và trong Việt hóa thơ Đường luật nói
riêng.
2. Một số
bài thơ dịch
Dưới đây là một số bản dịch
thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trích từ tác phẩm Tú Xương
toàn tập do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2010 (các bản dịch
không có đầu đề nên viết theo đề của nguyên tác - sách đã dẫn)
Mừng mưa đêm xuân
(Đỗ Phủ)
Khen thay con tạo khéo chia mùa
Hoa sớm mưa xuân những hẹn hò
Đưa nhẹ một cơn bừng giấc thắm
Rơi ra từng sợi thấm cành khô
Đồng không lối tắt mây nghi ngút
Sông vắng thuyền ai lửa thập thò
Phơi phới thành xuân ban sáng tạo
Chồi sương nặng trĩu mặt hoa đưa.
Dã vọng
(Vương Tích)
Bóng lộn ngàn
cao buổi tối mòng
Một mình chưa
dễ đứng ngồi xong
Cây lồng sắc
chiếu màu thu tía
Non ánh tà
dương lộng vẻ hồng
Trẻ mục giục
trâu lùa cái nghé
Người săn cưỡi
ngựa xách con hồng
Cùng trông lại
biết ai hay tá?
Tưởng hái rau
vi những ngại ngùng
Sơ nguyệt
(Đỗ Phủ)
Nửa vành vừa hé mái cung lên
Một bánh xe trông chửa vẹn tuyền
Thấp thoáng đầu cành trên bể ló
Lô nhô ban tối áng mây ken
Chắn ngang luống để sông Ngân trắng
Hiu hắt vì ai mặt ải đen
Trăm mối bên lòng càng áy náy
Dãy thềm chòm cúc giọt sương hoen
Đăng Nhạc Dương lâu
Đỗ Phủ
Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn
Lầu đây hồ đấy trải bao còn
Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc
Chốt lại càn khôn thỏa nước non
Một chữ thân bằng tin nhạn vắng
Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền
con
Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa
Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn
Thánh Tuyền yến
(Vương Bột)
Phất phơ
tràng áo bước lên non
Ngoảnh lại
bên đình lạch suối con
Bầu sánh cúc
pha ba chén cạn
Vần lơi tùng
thét mấy cung dồn
Lơ thơ bóng rủ
ngoài cành lọn
Ngào ngạt hoa
bay trước gió tuôn
Rừng vắng tà tà say ngắm cảnh
Lô xô len đá khói đùn đùn
Cũng như các nhà thơ Hàn
Thuyên, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, nhà thơ Trần Tế
Xương đã góp công lao to lớn hơn hết cho việc hình thành thơ Đường luật theo
phong cách Việt, Chúng ta có thể khảng định toàn diện về một thể thơ khác đó là
“Thơ luật Việt Nam” trong quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa của thế giới. Về
ý kiến này chúng tôi còn muốn có nhiều ý kiến của các học giả có kiến thức sâu
rộng hơn cùng góp sức như đã làm với “Thơ mới” vốn cũng có sự kết hơp giữa thi
ca Việt Nam với thơ Nga, thơ Pháp và thơ của nhiều nước khác. Cho đến nay chỉ
còn lại với cái tên: “Thơ tự do”; “Thơ Mới” hoàn toàn của Việt Nam ta vậy.
(LTH)
VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM TRONG DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG NỬA ĐẦU THẾ
KỶ XX
Lê Trọng Hồng
CLB thơ ĐL
Lục Đầu Giang tỉnh Hải Dương
I.
Xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Sau hàng ngàn năm dân tộc
Việt đương đầu với những cuộc xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc và
lần nào cũng đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Tuy nhiên lần này dân tộc ta gặp
phải một kẻ thù xâm lược mạnh mẽ và nham hiểm hơn nhiều. Đó chính là cuộc xâm
lược của Thực dân Pháp cùng với vũ khí hiện đại và đầu óc thực dân nhiều tham vọng
tìm kiếm nguyên liệu và chiếm đoạt thị trường của giai cấp tư sản ở châu Âu.
Giai đoạn đầu thế kỷ XX
cũng là giai đoạn Thực dân Pháp đã thôn tính xong đất nước ta, bắt đầu cuộc thực
dân hóa của chúng bằng mọi thủ đoạn, cùng với sự giúp sức của bè lũ vua quan
phong kiến, tay sai bán nước, đến các quan lại ở phủ huyện và các cấp thấp hơn
đó là các hào lý ở thôn xóm. Đây chính là giai đoạn những chính sách độc quyền
của thực dân Pháp trong cai trị và vơ vét kinh tế, tài nguyên đem về chính quốc.
Cùng với chính sách về kinh tế, chính quyền thực dân tiếp tục tổ chức bộ máy
quân đội đàn áp các phong trào cách mạng của các tầng lớp sĩ phu yêu nước, đàn
áp các cuộc khởi nghĩa binh biến của cai đội, binh lính cùng với dân lao động.
Cho đến khi chính quyền thực dân đè bẹp tất cả các phong trào Cần vương, Duy
tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Hoàng Hoa Thám,
Phan Đình Phùng, và nhiều phong trào khác. Tàn sát, bắt bớ, giam cầm những người
đứng đầu trong các nhà tù của chúng. Đất nước ta hoàn toàn trong đau thương, chết
chóc dường như bị tê liệt cho đến khi các phong trào vô sản bắt đầu hoạt động.
Tuy nhiên với những giai đoạn
xã hội khi ở cao trào lúc lại thoái trào như vậy, nhưng từ bên trong lòng của
nó vẫn như được ủ nóng và sẵn sàng bốc cháy khi thời cơ đến. Điều này được phát
hiện chính là nhờ các ghi chép thông qua các tác phẩm văn học thời đó và một
trong những thể loại văn học đó là thơ Đường luật Việt Nam
II.
Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Thơ Đường luật trong giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XX này hầu hết là của của các sĩ phu và và các học giả biết
chữ Hán, chữ Nôm và sau này là chữ quốc ngữ. Trong số này phần đông lại đang sống
trong sự kiềm tỏa của chính quyền thực dân và phong kiến tay sai nên phần lớn
những bài thơ đều luôn kín đáo gửi gấm nỗi niềm trong sự hoài cổ về sự huy
hoàng của lịch sử cha ông và non sông đất nước.
1. Thơ Đường
luật diễn đạt nỗi niềm trong hoài cổ
Những bài thơ Đường luật
hoài cổ xuất hiện trong thời gian này đa phần là nhắc đến truyền thống yêu nước
đánh giặc của cha ông, nhân đấy đánh thức ý chí vươn lên đấu tranh giành lại
non sông đất nước. Cũng trong thời thơ ca
hoài cổ này đã có đến hàng trăm tác giả với nhiều bài thơ viết bằng chữ Nôm, chữ
Hán của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn
Thượng Hiền vv… Điển hình trong sự hoài cổ ấy là bài
thơ Thăng Long thành hoài cổ của Phan Trọng Mưu xuất hiện trong khi
Pháp tổ chức khánh thành cầu Long Biên năm 1902. Bài thơ nhắc về dấu ấn lịch sử
quang vinh qua bao triều đại của miền đất Thăng Long xưa. Cùng với những
trận chiến oanh liệt “Cầm hồ đoạt sáo” vẻ vang một thời trong
truyền thống của người xưa giờ đâu không thấy nữa
Ngưu Hồ dĩ biến tam triều cuộc,
Long, Đỗ không dư bách chiến
thành
Cầm hồ đoạt sáo nhân hà tại.
Ưng vị giang sơn tẩy bất bình
Ngoài ra
còn rất nhiều các bài thơ khác luôn nhắc nhớ đến lịch sử quang vinh oanh liệt của
cha ông, khêu gợi niềm trắc ẩn trong lòng mọi người. Từ đó nêu cao lòng yêu nước
và ý chí đấu tranh cách mạng kêu gọi họp
nhau lại đứng lên đánh đuổi quân xâm lược. Trong số đó có khá nhiều các bài thơ
như: Cổ Loa hoài cảm, Với sơn hà và Đề đền vua
Hùng Vương của nhà chí sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải:
Cám cảnh cháu con hăm mấy triệu!
Tưởng công tôn tổ bốn nghìn
năm.
Chắp tay vái lạy mây trời thẳm,
Phù hộ muôn dân buổi cát lầm...
(Đề đền vua Hùng Vương)
Hay như
nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng cũng gửi vào thơ Đường luật với nói về một “Cành
chim làm tổ. Ngờ đâu muôn dặm hạc xa vời...” giờ đây tan tác và những lời nhắn gửi cần thiết về một
sự trùng phùng đoàn kết lại. Những câu hỏi người xưa và những câu trả lời về
người nay. Sao không noi theo đó mà lại để non sông chìm đắm, dân tộc lầm than.
Non sông
trơ đó, Thầy đâu vắng?
Con cháu còn đây, giống vẫn cường
Công đức miệng người ghi tạc mãi
Ngàn thu mấy kẻ biết trông gương!
Nhớ lại
trước đó nhiều nhà chí sĩ đã viết những bài thơ kể rõ sự hèn hạ của triều đình
phong kiến từng bước để đất nước ta rơi vào tay giặc như bài Nhượng địa của Phan Văn Trị dưới đây:
Tò te kèn thổi tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai dạ xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa.(3)
Tan nhà căm nỗi câu li hận,
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa.
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ,
Ngậm ngùi hết nói nỗi quan ta.
2. Thơ Đường luật làm vũ khí châm biếm
Một trong
những đặc điểm quan trọng nhất trong nửa đầu thế kỷ XX là việc thơ Đường luật
Việt Nam được viết với phong cách trào phúng. Đây là vũ khí sắc bén châm biếm bọn
thực dân xâm lược và bè lũ tay. Từ đó làm cho dân chúng thấy rõ bộ mặt thật bọn
xâm lược và bè lũ tay sai bán nước. Điển hình với thơ Đường luật trào phúng giai đoạn này là những bài thơ của
nhà thơ Nguyễn Khuyến và nhà thơ Trần Tế Xương. Thơ của hai nhà thơ này đặc biệt
nhằm vào bè lũ xâm lược và bọn tay sai bán nước.
Những nội
dung chính trong các bài thơ trào phúng của các nhà thơ là phơi bầy cái đời sống
cực khổ của nhân dân. Trong đó có hàng trăm các bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khuyến
viết về khu vực thôn quê ở Hà Nam trong cảnh nghèo túng, cùng quẫn:
Năm nay cầy cấy gặp
chân thua
Chiêm mất đàng
chiêm mùa mất mùa
Phần thuế quan
Tây phần trả nợ.
Nửa công đứa ở nửa
công bò
Trong bài
thơ Hội Tây của Nguyễn Khuyến viết về cái chính sách ru ngủ người
dân trong các trò hội hè để quên mất nỗi nhục mất nước:
Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo
Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.
…
Khen ai khéo vẽ cho vui thế
Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu
Cũng như
Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương cũng đã viết hàng trăm bài thơ trào phúng về tầng
lớp thị dân ở vùng Nam Định với các tệ nạn xã hội buôn bán bài bạc lừa đảo. Con
người dở quê dở tỉnh, tha hóa đến mức chẳng còn coi lễ nghĩa là gì nữa trong
bài Đất Vị Hoàng:
Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng
Keo cú người đâu như cứt sắt
Tham lam chuyện thở những hơi
đồng
Đặc biệt
hơn đó là các bài thơ trào phúng viết về trường thi và đạo học thật sự chán chường
với cảnh nay thay mai đổi, cùng với các trò gian lận nơi trường ốc.
Đạo học ngày nay đã chán rồi
Mười người đi học chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi
3. Thơ Đường luật tuyên truyền vận động
Tiếp theo
thời gian của sự hoài cổ tác động một cách khiêm tốn đến phong trào yêu nước và
cách mạng đó là những bài thơ tuyên truyền và vận động đứng lên cứu nước ngày
càng sôi sục. Do tính chất vận động với nhiều nội dung cần nói tới mà những bài
thơ theo thể lục bát, song thất lục bát xuất hiện nhiều hơn như “Lưu cầu huyết lệ tâm thư”của Phan Bội Châu. Nhưng cũng không thiều các bài thơ
Đường luật vượt qua sự man mác buồn thời trước để sang trang mới tố cáo bọn thực
dân phong kiến và kêu gọi đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Trước hết
là những bài thơ nói về cái chí của người cách mạng cả trong cách sống sao cho
xứng đáng đừng để:
Sống tủi làm chi đứng chật trời
Sống làm nô lệ cho người khiến.
(Sống - Phan Bội Châu)
Chẳng những là cách sống mà
ngay cả cái chết cũng phải chết sao cho
oanh liệt vì nước vì dân làm sao cho xứng đáng:
Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
(Chết - Phan Bội Châu)
4. Thơ Đường luật của nhà cách mạng trong lúc bị cầm tù
Bằng những
cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền thực dân Pháp, đối với các phong trào cách
mạng, số đông các nhà cách mạng đều bị bắt giam trong các nhà lao. Với hoàn cảnh
eo hẹp và bức bối của nhà tù thực dân, người tù chỉ còn biết giãi bầy lòng mình
bằng cách sáng tác thơ. Chính trong lúc này thơ Đường luật thực sự là công cụ
có ích cho họ.
Không phải
ngẫu nhiên mà sau những vần thơ bốc lửa của nhiều thể thơ của người Việt, cụ
Phan Sào Nam vẫn dành một phần cho thơ Đường luật, nhất là sau khi cụ bị kẻ thù
bắt bớ giam cầm. Chính trong lúc này cụ lại dùng những bài thơ Đường luật với
nhiều nội dung tranh đấu. Khi cụ ở nước người mà vẫn nghĩ về nước mình và cái hận
nước dường như lúc nào cũng nằm đâu đó trong tim trong óc như những câu thơ
trong bài Hữu cảm của cụ:
Tam niên Lĩnh Hải
tác thi tù,
Thân thế gia
bang lệ bính lưu.
Hay như bài thơ Cảm
tác vào nhà ngục ở Quảng Đông của cụ:
Vẫn là hào kiệt,
vẫn phong lưu
Chạy mỏi chân thì
hãy ở tù
Một nhà chí sĩ nữa trong thời
gian ấy là cụ Phan Châu Trinh cũng từng viết thơ Đường luật trong khi ở tù. Một
trong những bài thơ nổi tiếng của cụ là bài thơ Đập đá ở Côn Lôn
Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn,
Lừng lẫy làm cho lở núi non.
Xách búa đánh tan năm bảy đống,
Ra tay đập bể mấy trăm hòn.
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi,
Mưa nắng càng bền dạ sắt son.
Những kẻ vá trời khi lỡ bước,
Gian nan chi kể sự con con.
5. Thơ Đường luật của nhà thơ cách mạng vô sản
Trong
dòng văn học yêu nước và cách mạng, thơ Đường luật của các nhà thơ“cách mạng
vô sản” đến có muộn hơn, so với sự
xuất hiện của các “phong trào duy tân và bạo động” nhưng lại phong phú
và rõ nét nhất. Cũng như đã nói ở phần đầu về hoàn cảnh xã hội đã tạo nên những
dòng văn học của dân tộc. Trong tiến trình hình thành các tổ chức cách mạng vô
sản thì cũng cũng hình thành hệ thống văn học của cách mạng vô sản. Các nhà thơ
cách mạng vô sản vào giai đoạn ấy ngoài việc nhằm vào mục đích tuyên truyền, vận
động còn có cả những bài viết về những hành động đấu tranh cụ thể. Để tự nhắc
nhở mình và nói cùng đồng chí về niềm tin vào cách mạng. Nhà thơ Trường Chinh
viết trong thời gian ở Hỏa Lò bài thơNiềm tin:
Bình minh bừng sáng ở phương đông
Xé toạc màn sương phủ cánh đồng
Đêm sẽ qua đi, ngày sẽ lại
Trời quang, mây tạnh, ánh dương hồng.
Nhà thơ
cách mạng Trần Cung cũng đã viết bài thơ Đề lao năm
1939 khi ông đang ở tù. Những câu thơ phóng khoáng đến mức coi nhà tù thực dân
chỉ như chỗ dừng chân trên đường tranh đấu:
Cuộc đời chiến sĩ thật ba đào,
Thấm thoắt năm lần bị tống lao.
Nhốt chặt con
người tầng cửa sắt,
Vây riêng cõi đất
bức tường cao.
Cá mục, cơm
hôi, xiềng xích sắt,
"Văn minh
khai hoá" gớm ghê sao?
Thậm chí trong khi ở tù,
các nhà thơ cách mạng cũng tìm cách liên hệ với nhau để tổ chức thi thơ Đường
luật và tặng giải cho thơ. Nhà thơ cách mạng Trần Cung đã được giải nhất trong
đợt thi thơ năm 1933 ở Hỏa Lò Hà Nội với bài Tết nhà pha
Năm mới
sang rồi, năm cũ qua,
Đời tù mới, cũ khéo phôi pha.
Nghinh tân lễ mễ khiêng ty nét,
Bái tuế lom khom bế lập là.
Mặt trái đời kia toàn mặt quỷ,
Trò chơi xuân đó thiếu trò ma.
Mùi đời nếm trải ai sành sỏi?
Có biết mùi này... mặn nhạt a?
Thơ Đường luật cũng là công
cụ cho các nhà thơ cách mạng vô sản phản ảnh tình yêu nước và ý chí cách mạng của
bản thân và cả thế hệ của họ trong nhân sinh quan mới của thời đại. Một trong
những bài thơ đã phản ảnh đến cái sự hy sinh cao cả của nhà thơ vô sản đó là
bài “Thư cho vợ” của Trần Cung viết ở Côn Đảo năm 1934:
Đồng chí của
tôi, em của anh,
Hai ta cùng nhất trí hy sinh.
Ái ân đúc lại hồn non nước,
Hạnh phúc tìm trong cuộc đấu tranh.
Kiếm chốn nương thân nuôi lũ trẻ,
Cho anh yên dạ vượt xà lim.
Thuỷ chung theo nghĩa cao xa ấy,
Đó mới là chân chính tiết trinh.
Đặc biệt hơn cả đó là những
bài thơ Đường luật cũng trở thành công cụ cho nhà thơ cách mạng Hồ Chí Minh viết
tác phẩm Nhật ký trong tù vào những năm 30 của thế kỷ XX, như
một khúc tráng ca của các nhà thơ cách mạng vô sản.
Thân thể tại ngục trung
Tinh thần tại ngục ngoại
Dục thành đại sự nghiệp
Tinh thần cánh yếu đại.
Để có thể
kết luận bài viết cũng nên nói thêm một chút về hoàn cảnh của thể thơ Đường luật
Việt Nam vào những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là khoảng thời gian rộ
lên một nhận định khá độc đoán (trong một chừng mực nào đó): Thơ Đường
luật bị coi là “cũ” là khó sáng tác, là bó buộc tâm hồn thơ. Nhưng thực
tế cho thấy thể loại thơ này đã qua nhiều lần Việt hóa và đã trở thành thơ Đường
luật Việt Nam như phần trên đã nói đến. Hầu hết các nhà thơ thời đó đều đã từng
làm thơ Đường luật và những bài thơ Đường luật đã chiếm lĩnh tất cả các đề tài
về cuộc sống và hơn hết đó là mảng đề tài về yêu nước và cách mạng.
Với một số
nét khái quát trên đây đã đánh dấu sự đóng góp to lớn của thơ Đường luật Việt
Nam trong dòng văn học yêu nước và cách mạng nửa đầu thế kỷ XX như các thể loại
văn học khác của Việt Nam
(LTH)
VĂN HỌC CHỨC NĂNG
TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT THỜI LÝ
LÊ
TRỌNG HỒNG
Chi hội
TĐL Lục Đầu Giang tỉnh Hải Dương
Lịch sử văn học viết của nước
ta chính thức xuất hiện vào thế kỷ thứ X. Có nhiều giả thuyết cho rằng đây là
thời kỳ văn học mở đầu, tuy nhiên cho đến những năm tám mươi của thế kỷ hai
mươi chúng ta mới đặt tên thời đại văn học theo cách sắp xếp của thế giới. Từ
đó chúng ta có hệ thống nghiên cứu các thời kỳ văn học đồng nhất với quốc tế. Đối
chiếu với thời gian trên thì thời kỳ xuất hiện văn học viết của nước ta được xếp
vào thời kỳ văn học trung đại. Đây cũng chính là thời kỳ hình thành và phát triển
của Lý triều kéo dài 216 năm từ 1009 đến năm 1225. Những nét đặc trưng của văn
học trung đại nước ta là loại hình văn học chức năng và loại hình văn học nghệ
thuật. Tuy nhiên không loại trừ sự đan xen giữa hai loại hình văn học cùng xuất
hiện trong từng tác phẩm.
Trong quá trình khảo sát
văn học cũng có nhiều khái niệm khác nhau về các tác phầm thơ thời Lý. Nhiều
người cho rằng những sáng tác của các nhà sư mang tính thiền nên thường cho đó
là các bài thơ thiền. Một dạng sáng tác cô đọng hơn để truyền tải những triết
lý nhà phật lại được gọi là kệ. Để giúp cho việc tìm hiểu chúng tôi xin được gọi
chung các tác phẩm là thơ Đường luật thời Lý.
I. Những
bài thơ Đường luật thời Lý thuộc thể loại văn học chức năng.
Nói đến loại hình văn học
chức năng với cái đích chính là sự ảnh hưởng của văn học đến đời sống xã hội.
Trên tinh thần đó chúng tôi xếp các bài thơ theo từng chức năng cụ thể. Đó là
các bài thơ sấm có nội dung định hướng xã hội; các bài thơ truyền
giảng về tôn giáo; các bài thơ vấn đáp về lẽ đời, lẽ đạo và cả các bài thơ cảm
hứng, tự tình của các tác giả cũng hướng đến các hoạt động xã hội. Dưới đây là
một số nét khái quát về văn học chức năng trong thơ Đường luật thời Lý.
a. Những bài thơ mang chức năng định
hướng xã hội
Những bài thơ mang chức
năng định hướng xã hội là những bài thơ sấm xuất hiện khá nhiều trong văn học
thời Lý, thậm chí còn xuất hiện trước nữa vào thời Đinh, Lê. Đây chính là các
bài thơ được viết ra với ý đồ hướng mọi người đến một mục đích nào đó. Cụ thể
hơn đó là các bài thơ cổ súy cho việc đưa ai lên làm vua và từ đây có một dòng
tộc thay nhau lãnh đạo đất nước. Trong Thơ văn Lý Trần thống
kê nhiều lần xuất hiện thơ sấm, đó là giai đoạn nhà Lê thay nhà Đinh tiếp đến
là nhà Lý thay nhà Lê. Những bài thơ dạng này thường là khuyết danh vì đây được
ví với sự phán bảo của trời. Nếu nói về nguồn gốc thì có chăng là do người nào
đó nghe được, nhìn thấy được ở một nơi nào đó. Về nội dung các bài thơ thường
đượm màu huyền bí, mượn quang cảnh, hiện tượng tự nhiên mà diễn giải. Đó chính là những bài thơ sấm chuẩn bị cho sự ra đời
triều Lê, triều Lý... Có thể lấy bài thơ sấm Quốc tự mà
Vạn Hạnh đọc được ở cây gạo chỉ rõ Thân vệ (Lý Công Uẩn) sẽ lên ngôi trong ba
tháng nữa.
Cái tam nguyệt chi nội
Thân vệ đăng trụ xã tắc
Lạc trà ấn quốc tự
Thập khẩu thủy thổ khứ
Ngộ thánh hiệu Thiên Đức
Hoặc bài Yết bảng thị chúng: nói về cây tật lê (ám chỉ triều đại Lê Hoàn) chìm sâu ở mạn Bắc và Lý
tử (chỉ Lý Công Uẩn) ở Nam thiên sẽ thay thế. Tứ phương sẽ hết can qua và đất nước
sẽ thanh bình
Tật lê trầm Bắc thủy
Lý tử thủ Nam thiên
Tứ phương qua can tĩnh
Bát biểu hạ bình yên
Đặc biệt
hơn là bài thơ Đại Sơn khuyết danh, tiếp cái ý của bài thơ mà Từ Đạo Hạnh đọc
được ở gốc gạo, nhưng lại nói rõ ràng rằng trong ba tháng thỏ, gà, chuột sự sẽ
thành
Đại sơn long đầu khởi
Cù vĩ ẩn chu minh
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thố kê thử nguyệt nội
Định kiến nhất xuất thanh
Tước bỏ đi
những khái niệm duy tâm trong các bài thơ, ta vẫn nhận ra rằng tầng lớp sĩ phu
và các nhà sư quả đã nắm bắt đầy đủ các hoạt động xã hội đương thời và triệt để
khai thác nó phục vụ cho các sách lược lớn lao của đất nước.
b. Những bài thơ truyền giảng về đời và đạo
Một dạng văn bản thi pháp
ngắn gọn, hàm súc được gọi là kệ xuất hiện nhiều trong các tác phẩm thời Lý.
Thường các bài kệ đã được nung nấu qua sự từng trải, chiêm nghiệm của tác giả,
nó huyền bí và khó hiểu chỉ có thể suy ngẫm kỹ mới có thể ngộ được. Người ta
cũng từng xếp thể loại văn học này với hình thức văn học “vô ngôn” nó
có phần nào giống như khái niệm “Ý tại ngôn ngoại” mà nghệ thuật
thơ Đường luật thường đề cập đến. Về thực chất kệ cũng là loại hình văn học chức
năng nhằm chỉ bảo hoặc nhắn gửi một nội dung nào đó cho mọi người. Nó có thể viết
với nhiều ẩn ý mang tính tôn giáo nhưng nó cũng bộc lộ rõ như những câu chữ thông
thường trong giao tiếp hàng ngày. Có thể lấy bài nói về Sinh, lão, bệnh, tử của
nhà thơ nữ Lý Ngọc Kiều làm ví dụ:
Sinh lão bệnh tử
Tự cổ thường nhiên
Dục cầu xuất ly
Giải phọc thiêm triền
Mê chi cầu phật
Hoặc chi cầu thiền
Thiền phật bất cầu
Đỗ khẩu vơ nghiên
Điều mà tác giả muốn nói:
Sinh, lão, bệnh, tử vốn là tự nhiên, cái sự cầu siêu thoát thực chẳng hóa ra là
cột chặt thêm và tỏ ra không hiểu biết. Tốt nhất là ngậm miệng lại, không nói
gì cả.
Ở một số bài lại được viết
ra với sự ẩn chữa những triết lý huyền bí, chỉ có thể hiểu sau nhiều suy ngẫm.
Có thể lấy ví dụ qua bài Thị đệ tử bản tịch của Đào Thuần
Chân:
Chân tính thường vô tính
Hà tằng hữu sinh diệt
Thân thị sinh diệt pháp
Pháp tính thị tằng diệt
Bài kệ nói về khái niệm
chân tính thực chất chỉ là vô tính. Thân người luôn có sự sinh diệt, còn với
pháp tính thì chưa bao giờ sinh và cũng chưa bao giờ diệt. Bài thơ chính là lời
dặn học trò về cái sinh diệt của bản ngã nên đừng bao giờ chấp ngã.
Một bài kệ khác nữa mang chức
năng truyền thụ đạo pháp cũng xuất hiện giữa những người đồng đạo ví như
bài Đáp Từ Đạo Hạnh chân tâm chi vấn của Kiều Trí Huyền:
Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm
Cá trung mãn mục lộ thiền tâm
Hà sa cảnh thị bồ đề đạo
Nghĩ hướng bồ đề cách vạn tầm
Bài viết mang tính trao đổi
giữa hai người về một triết lý: phật ở khắp mọi nơi, vì thế chớ nên cho rằng phật
ở quá xa không với được. Nói một cách khác đó là phật luôn ở cạnh ta, thậm chí
là luôn ở trong ta vậy.
Một trong những cao tăng đắc
đạo như Từ Đạo Hạnh với nhiều bài kệ, nhất là những triết lý mà ông thu lượm được
qua bài
Hữu Không:
Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không
Một sự ví von khá hình tượng
về hiện trạng trăng soi đáy nước. Nhìn thấy đó mà không thể vớt được, nên mọi
thứ thấy có mà thực sự lại là không.
c. Những bài thơ vấn đáp về đời và đạo
Một phong cách thơ khác
cũng được xếp vào loại hình văn học chức năng đó là các bài thơ vấn đáp với các
nội dung hỏi và trả lời về một điều gì đó. Thơ Đường thời Lý trong Thơ
văn Lý Trần tập 1 có đến 11 bài thơ vấn đáp. Nội dung vấn đáp có thể
là một triết lý về đời, về đạo, về xử thế, về sách lược về thời vận của con người
và của đất nước. Đây là những bài thơ vấn đáp giữa vua tôi, thầy trò, phụ tử và
cả những người đồng triều, đồng đạo. Hầu hết nội dung đều rất cụ thể cho từng đề
tài gắn bó chặt chẽ với sinh hoạt đời sống của xã hội đương thời. Bài thơ vấn
đáp điển hình chính là bài thơ Đáp Quốc
vương Quốc tộ chi vấn của Đỗ
Pháp Thuận:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh
Đây là chính là tác phẩm
văn học viết xuất hiện đầu tiên trên đất nước Việt Nam với nội chính là một câu
hỏi của nhà vua về thế nước hiện nay đã được nhà sư thi sĩ trả lời mạch lạc tựa
như nung nấu trong lòng đã từ lâu. Thế nước ở đây được nói đến đó là lòng người
bám chặt vào nhau sống trong cảnh thái bình, ví như sự quấn quýt dây leo chằng
chịt. Chỉ cần làm cho triều chính bớt đi những mưu toan ích lợi nhỏ nhặt thì chẳng
còn “đao binh” loạn lạc.
Có thể kể
thêm bài: Thị chư thiền lão tham vấn
chỉ thiền của nhà vua Lý Phật Mã
(Thái Tông).
Bát nhã chân vô tông
Nhân không ngã diệc không
Quá hiện vị lai phật
Pháp tính bản tương đồng
Bài viết
nói về cái gốc sắc không và nhấn mạnh bản ngã của ta, của người tất cả đều
không vậy. Từ đó khảng định cho dù là quá khứ, hiện tại hay vị lai thì tính phật
vẫn giống nhau.
Một ví dụ khác đó là bài: Đáp Lý Thái Tông tâm nguyện chi vấncủa Lâm Khu. Đây là bài vấn đáp giữa vua tôi về một
triết lý phật pháp:
Pháp bản như vô pháp
Phi hữu diệc phi không
Nhược nhân tri thử pháp
Chúng sinh dữ phật đồng
Nội dung
căn bản đã chỉ ra rằng “bản pháp” thực ra cũng là “vô pháp”. không phải
có mà cũng chẳng phải là không. Nếu mà hiểu được điều đó thì chúng sinh cũng đồng
nhất với phật.
Bên cạnh các bài vấn đáp về
đời về đạo là loạt bài viết về quốc gia dân tộc được thể hiện bởi nhiều câu hỏi
và những câu trả lời về đất nước. Những gì mà ta tiếp thu được đó là sự quan
tâm thường trực của các vị quân chủ và các quan lại đồng thời là các nhà thơ về
sự tồn vong của đất nước, cùng với cách làm thế nào để thế nước bền vững lâu
dài, như bài Đáp Quốc vương quốc tộ chi
vấn của Đỗ Pháp Thuận đã dẫn ở
phần trên.
Một trong những bài thơ đặc
biệt nhất vừa có chức năng tuyên cáo trước quốc gia dân tộc, vừa có chức năng
phán bảo về sự sai trái của quân xâm lược được sử dụng trong thời Lý đó là
bài Thơ Thần vang lên trên trận chiến sông Như Nguyệt.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lại xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Bài thơ được cho là
sáng tác của Lý Thường Kiệt. Mỗi câu, mỗi chữ làm sáng tỏ một chân lý, đó là khảng
định sự tồn tại của đất nước, dân tộc và chủ nhân trên đất ấy. Đồng thời mỗi
câu mỗi chữ cũng tỏ rõ khí phách oai hùng của một dân tộc đối diện với ngoại
bang. Bài thơ được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước Việt. Rõ
ràng bài thơ mang chức năng là vũ khí văn hóa trong lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc.
Về bài Thơ Thần,
nhiều bài nghiên cứu cho rằng bài thơ có thể đã xuất hiện từ triều đại trước
đó, và không có tác giả cụ thể, tuy nhiên ảnh hưởng của nó đặc biệt to lớn hơn
khi sử dụng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của triều Lý. Đây cũng chính
là dấu ấn rõ nét nhất trong công cuộc bảo vệ đất nước vô cùng vĩ đại của dân tộc.
d. Những
bài thơ cảm hứng, tự tình
Những bài thơ cảm hứng, tự
tình đa số cũng luôn hướng về đời về đạo và về quốc gia dân tộc. Mặc dù đó là cảm
hứng của cá nhân các nhà thơ nhưng có lẽ bản thân nhà thơ mang nặng chức trách
của mình trong guồng máy hoạt động của xã hội nên ngoài những thăng hoa trong sự
giác ngộ về đạo vẫn bám chặt vào thời cuộc. Điển hình là hàng loạt các bài thơ
vịnh cảnh hoặc ca tụng các nhân vật qua cảm tình của tác giả. Tuy nhiên cái sự
ngỏ cái ý sau cùng cho học trò, cho bè bạn, cho dân chúng trước lúc rời xa cõi
sống của các vị quân chủ, của các tăng lữ chính là cái cảm xúc lớn nhất của đời
người. Điều mong muốn để lại những chứng nghiệm, cùng với sự giác ngộ cho đời
sau chính là khái niệm văn học chức năng phổ biến giáo dục trong thơ Đường thời
Lý.
Thống kê trong Thơ
văn Lý Trần và cụ thể là thơ thời Lý có 9 bài kệ thị tịch và nhiều bài
thơ dưới dạng thơ cảm hứng. Với dạng thơ cảm hứng xin dẫn bài Cáo tật thị chúng của Mãn Giác để luận về điều này.
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Đây là bài thơ cảm hứng trong lúc
có bệnh. Ngoài sự đối vần đối ý của hai liên thơ trên với thể ngũ ngôn, bài thơ
được tiếp nối với liên thơ dưới với thể thất ngôn, tựa như dòng chảy trong sông
chợt òa ra biển. Sự phiền muộn bi quan, tiếc nuối đã mất đi để mở ra một niềm
tin của sự sinh sôi nảy nở. Có thể dẫn thêm bài thơ của Hoàng
đế Lý Công Uẩn trong lúc thiếu thời:
Thiên vi khâm chẩm địa vi thiên
Nhật nguyệt đồng phong đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm trường thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên
Bỏ qua những
nhận định cho rằng ngài tự đánh giá quá cao về mình thì cái ý “duỗi thẳng thân
thể ra mà lo đất nước nghiêng đổ” cho thấy cái nghệ thuật ví von phóng đại cũng
chỉ có một ngài mà thôi. Điều quan trọng hơn muốn nói đến ở đây chính là dù là
thơ cảm hứng nhưng vẫn hướng đến sơn hà xã tắc.
Cảm hứng
dành cho một nhân vật cũng là đề tài của các nhà thơ. Có thể lấy bài thơ Truy tán Vạn Hạnh thiền sư của vua Lý Nhân Tông làm ví dụ:
Vạn Hạnh dung tam tế
Chân phù cổ sấm thi
Hương quan danh Cổ Pháp
Quải tích trấn vương kỳ
Nhà vua đã ca tụng Thiền sư
Vạn hạnh là người thông hiểu ba cõi, thơ của ông là lời sấm khí. Từ quê nhà cổ
Pháp, treo gậy trấn giữ kinh kỳ cho vua. Đây cũng là một cách khen tặng biểu
dương những người có công với nước.
Cảm hứng trước cảnh thiên
nhiên và con người tự do tự tại là những đề tài quen thuộc. Xin dẫn bài Ngư
nhàn của Thiền sư Không Lộ làm ví dụ:
Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
Quá Ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền
Tuy nhiên nếu không có đời
sống khoan hòa yên vui hạnh phúc mà xã hội đương thời tạo dựng, hẳn ông chài
đâu có niềm sung sướng tự do tự tại đến thế. Điều nhấn mạnh ở đây vẫn là sự ca
ngợi một xã hội tươi đẹp đương thời.
Ngoài những
bài thơ cảm hứng nêu trên có thể kể đến hàng loạt các bài thơ tự tình trong
thơ Đường thời Lý, mà điển hình là 9 bài kệ viết trước khi mất của các nhà thơ.
Xin dẫn bài Kệ thị tịch của
Thiền sư Vạn Hạnh làm ví dụ:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô
Bài thơ
nói về sự biến động vô thường của mọi sự vật, bản thân con người cũng không nằm
ngoài quy luật này. Một người khi đã tu hành hoà đồng được với tự nhiên sẽ
không cần băn khoăn, buồn đau cho sự ra đi của kiếp người. Đây chính là triết
lý nhân sinh gửi lại cho mọi người vậy.
Có thể dẫn thêm bài Thị tịch kệ của thiền sư Viên Chiếu:
Thân như tường bích di đồi thì
Cử thế thông thông thục bất bi
Nhược đạt tâm không, vô sắc tướng
Sắc không ẩn hiển nhậm suy di
Bài thơ nói về thân người
già nua yếu ớt tựa bức tường long. Đây cũng là lẽ thường từ từ đến chẳng nên buồn
khổ làm gì. Nếu đã nhận thức được tâm không, vô sắc tướng thì cứ mặc cho mọi sự
xoay vòng.
2. Những yếu
tố hình thành văn học chức năng của thơ Đường luật thời Lý
Thơ Đường luật thời Lý mang
nặng hình thức văn học chức năng cũng thật dễ hiểu vì hầu hết các tác giả đều
là người có chức trách trong xã hội. Ở nhóm thứ nhất là các quan lại trong hệ
thống lãnh đạo của nhà nước phong kiến, thậm chí là cả các vị quân chủ và các
quan đầu triều. Bài viết của họ thường chỉ ra những nội dung quan trọng của bộ
máy nhà nước trước cộng đồng xã hội.
Nhóm tác giả thứ hai là các
tăng lữ đã từng được tu học với sức hiểu biết phi thường, về chính trị, xã hội
và triết lý tôn giáo. Họ từng là các cố vấn cho các vị vua trong quá trình chấp
chính. Thậm chí chính họ cũng là bà đỡ cho các triều đại phong kiến ra đời. Bài
viết của họ luôn thấm nhuần về đời, về đạo và nhiều nội dung bộc lộ chính kiến
của họ trước những yêu cầu xã hội và cả những hoạch định quan trọng của nhà nước
phong kiến lúc bấy giờ.
Nhóm tác giả thứ ba là các
nhà quý tộc, các nhân sĩ có chung quyền lợi với bộ máy lãnh đạo xã hội. Bài viết
của họ thường là ca ngợi chính trị xã hội và các vị vua chúa cùng với những gì
tốt đẹp nhất. Đặc biệt là ca tụng những chiến tích đánh giặc giữ nước và quá
trình dựng nghiệp của triều đại phong kiến đương thời.
Cũng từ các dẫn chứng trên
đây ta nhận thấy hầu hết các bài thơ đều gắn bó với đời sống xã hội. Ngay cả những
tăng lữ vốn được coi là những người “xuất thế” vậy mà thơ của họ cứ bám dính với
mọi mặt đời sống. Từ đây ta có thể xác định Thơ Đường thời Lý về mặt nội dung
thực sự là loại hình văn học chức năng gắn bó chặt chẽ với đời sống xã hội.
3. Kết luận
Trên đây là một số nét khái
quát về văn học chức năng trong thơ Đường luật thời Lý. Sự gắn bó của các
tác giả và các tác phẩm trong chức năng xây dựng xã hội đương thời đưa đến một
nhận định hết sức độc đáo đó là sự gắn bó sâu sắc của văn học với đời sống xã hội.
Đây chính là thành công to lớn không gì sánh nổi của Lý triều cùng với 216 năm
liên tục. Một chứng minh sâu sắc về ảnh hưởng văn học đối với một thời đại, làm
tiền đề cho sự bền vững của một quốc gia dân tộc.
Ngày nay dưới ánh sáng của
văn hóa thế giới và sự trưởng thành của văn học Việt Nam qua nhiều thời kỳ,
chúng ta có thể rút ra những bài học sâu sắc về một nền văn hóa mới lấy sự tiến
bộ của xã hội làm kim chỉ nam cho các sáng tác. Đồng thời cũng xác định chức
trách của người sáng tác văn học trước nhiệm vụ xây dựng quốc gia dân tộc.
(LTH)
Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020
VẮNG DẦN
Co-víd sổng ra đã mấy tuần
Năm nay chống dịch cả toàn dân
Người đi lễ lạt thưa hơn nửa
Kẻ đến tham quan giảm mấy phần
Bè bạn đang mong về chúc tụng
Cháu con cũng muốn tới quây quần
Chỉ lo lây nhiễm không cho gặp
Chưa đến mười tư đã vắng dần
CẢ NƯỚC ANH HÙNG
Co vit sổng ra hại gớm sao
Khắp nơi mở trận tiến quân vào
Sơn Lôi dũng cảm thành công lớn
Trúc Bạch kiên cường kết quả cao
Sản xuất giao thương vừa phát động
Học hành trực tuyến đã khơi mào
Theo lời Đảng chỉ luôn bền chí
Cả nước anh hùng đẹp biết bao
QUYẾT CHẲNG THA
Đại dịch từ khi mới nổ ra
Tự nhiên gắn kết khắp muôn nhà
Kiên cường Âu Mỹ luôn vươn tới
Dũng cảm Á Phi gắng vượt qua
Nguy khốn mới hay càng gắn bó
Gian truân càng tỏ sự chan hòa
Từ nay nhân loại cùng chung sức
Tiêu diệt co-vi quyết chẳng tha
THƠ VUI NGÀY DỊCH
Muốn ra đường phố ngắm hoa tươi
Dịch bệnh đang cao chớ nói cười
Che miệng chống lây cần phải kín
Rửa tay sát khuẩn quyết không lười
Chào nhau gắng nhớ trên hai mét
Gặp gỡ đừng quên quá một người
Yêu nước yêu dân thì phải thế
Trên vừa thông báo rõ mười mươi
KÝ TẾ PHỒN SINH
(Phiếm đoán đại dịch)
Thoạt đầu gắn kết lại cùng nhau
Thủy hỏa đồng sinh thật khác màu
Vẫn biết khởi nguồn liên kết lại
Càng e về cuối loạn thêm mau
Biết điều chắn vén lo gìn giữ
Hiểu sự thu gom quét sạch làu
Có biết nghiệp đời khôn chối bỏ
Phồn sinh huyền hoặc chớ vo nhàu
DỊCH NHẤT ĐỊNH TAN
Đại dịch lên cao hại thế gian
Khắp nơi nhiễm bệnh đã lan tràn
Hơn hai trăm nước đang nguy kịch
Gần bốn vạn dân chết dã man
Thế giới cách lý càng vững chí
Toàn cầu chữa trị vẫn kiên gan
Một ngày nào đó không xa nữa
Bốn biển năm châu dịch phải tan
ĐỢI BẠN
(Họa thơ Thanh Tình)
Đã hẹn khi nào lựu trổ hoa
Mà nay đã đỏ trước sân nhà
Chơi vơi đầu ngõ làn sương phủ
Thánh thót ngoài hiên hạt móc sa
Vườn cũ cây cao chim chụm tổ
Ao xưa nước mát ếch khui mà
Mỗi ngày càng thấy thêm mòn mỏi
Đợi mãi mà sao bạn chẳng qua
THÀNH PHỐ MỚI
(Họa thơ Trần Phao)
Chí Linh rộn rã tiếng ca vang
Đồng ruộng núi non nắng trải vàng
Kiếp Bạc oai linh ngời kiếm khí
Côn Sơn huyền diệu tỏa hào quang
Xóm thôn mở rộng trông càng đẹp
Phường phố điểm tô ngắm thật sang
Mong mỏi bạn bè về họp mặt
Quê mình đổi mới thật khang trang
MỪNG TỪ ĐƯỜNG BÙI TỘC
Thủy tổ Bùi công lập xóm làng
Sắc phong còn đó tỏ từng trang
Năm Cành nảy nở đơm hoa ngọc
Ba Cội sinh sôi kết trái vàng
Nền móng tổ tiên xây vững chãi
Miếu đền con cháu dựng phong quang
Chúc cho họ tộc thêm đông đúc
Chúc các gia đình phú thọ khang
MỪNG BÙI TỘC
Bùi tộc vang danh tại xứ này
Nối dài nguồn cội bấy lâu nay
Kim Lâu rạng rỡ huy hoàng vậy
Cổ Đẳng uy nghi tốt đẹp thay
Phúc Nhuận công cha càng rộng lớn
Từ Nhân nghĩa mẹ thật cao dày
Hai trăm sáu chục năm xây nghiệp
Đền miếu muôn nơi khó sánh tày
Thứ Hai, 27 tháng 1, 2020
KHAI BÚT CHÀO XUÂN
(01/01/2020)
Mừng Đảng xuân nay chín chục tròn
Giấy thơm trải rộng sáng mầu son
Thảo đôi câu đối mừng dân tộc
Viết mấy vần thơ tặng nước non
Khúc nhạc dựng xây thêm rộn rã
Bài ca chiến đấu mãi vang giòn
Ghi sâu lời Bác từng căn dặn
Độc lập tự do chí chẳng mòn.
VỊNH ĐÀO
(18/1/2020)
Đào thế bạt phong mới rước về
Chung vui cảnh tết ở làng quê
Chồi xanh mới nhú vài ba búp
Nụ đỏ vừa bung sáu bẩy huê
Rắn rỏi sinh sôi nơi bão tố
Dẻo dai nảy nở chốn sơn khê
Xuân sang góp nhặt đôi câu vịnh
Thơ phú bình dân lắm khách mê
VỊNH QUẤT
(23/01/2020)
Chậu quất năm nay nặng trĩu cành
Trái vàng chen lẫn lá màu xanh
Phía trên đèn nháy vòng dăm lớp
Bên dưới dây hoa cuộn mấy vành
Bắt chước xóm thôn cho hợp mốt
Học theo phường phố tỏ chơi sành
Đến thăm ai cũng cho là đẹp
Xuân mới vui tươi vạn sự thành.
BẨY NHĂM
(24/01/2020)
Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu
Dẫu có hoa râm nửa mái đầu
Thơ phú sẻ chia ra cả nước
Văn chương gửi đến khắp năm châu
Chào xuân phấn khởi gieo đôi vận
Đón tết mừng vui thảo mấy câu
Tự chúc cho mình thêm tuổi mới
Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu
Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020
CÁO LỖI CÙNG QUÊ
(Viết khi về Hội thảo: Tú Xương
với thơ Đường luật Việt Nam)
Quê hương mình, chỉ của mình thôi
Dù xấu đẹp cũng có đầy kỷ niệm
Yêu mến, nhớ nhung, bao nhiêu câu
chuyện
Cứ nối dài chắp cánh cho thơ…
Ta thương ta từng trải những bơ vơ
Bụng đói lả, không còn muốn bước
Nắm cơm nhỏ, ấy là mơ ước
Ai cho ta trong lúc khó khăn…
Đã có bao lần ta tự ăn năn
Nhớ và nhớ chỉ là cửa miệng
Tự thêu dệt ra bao câu chuyện
Để mà thơ, mà thơ…
Ôi quê hương, ta vẫn từng mơ
Trong máu thịt chất đầy mộng tưởng
Chỉ chua chát ngấm ngầm thụ hưởng:
Bao mồ hôi xương máu cha ông.
Sáng nay đây trời đất mênh mông
Hội thảo cho ta về đất tổ
Ta bất chợt hóa thành trẻ nhỏ
Tung tăng trong buổi tựu trường
Một chút ước ao rất đỗi bình thường
Một lần nói trên lễ đài: cáo lỗi
Một lần đã cả gan quá đỗi
Dám tự mình kể hết mọi tâm tư…
LỚP HỌC NGÀY XƯA
(Đình Cổ Loa hè 2004)
Xa gần sáu chục năm rồi
Trường xưa bao lớp đã ngồi nơi đây
Sân đình thu nắng hao gầy
Vẫn nghe văng vẳng tiếng thầy, tiếng
cô
Ghế bàn nghiêng ngửa lô xô
Bạn bè đùa nghịch hét khô cả mồm…
Thoáng qua trong ngọn gió nồm
Mắt ai hoen lệ cái hôm rời trường
Người đi công tác trên mường
Người đi chiến đấu chiến trường
nơi xa
Người vào nhà máy thay ca
Người về phường phố cờ hoa vui vầy
Người về đồng ruộng cấy cầy
Người thành cán bộ đêm ngày xa quê
Hôm nay tất cả đã về
Để ta ngồi tựa bên hè làm thơ
Nhớ về lớp học ngày xưa...
Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020
CHÙA NGỌC
(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)
Chùa Ngọc xây cao đẹp tuyệt vời
Mái cong rực rỡ ánh vàng phơi
Rễ cây chằng chịt ôm ngang núi
Đồi đá lênh khênh trụ giữa trời
Niệm chú vãng sinh qua vạn kiếp
Khấn cầu tế độ đến muôn đời
Hương trầm thơm nức tan trong gió
Thân pháp Như Lai tỏa sáng ngời
TRỤ KINH
(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)
Ba hai trụ đá dựng nơi đây
Kinh phật ban ra chép rất dầy
Vô lượng soi đường qua mỗi sáng
Kim cang mở lối suốt canh chầy
Dược sư cứu khắp hồn đau đớn
Tịnh độ tan bao kiếp đọa đầy
Nhân quả luân hồi nay giũ sạch
Chúng sinh hết thảy sống vui vầy
NGẪU HỨNG MÙA THU
(Thu 2018)
Mới đó hôm qua
Lá vàng đã rụng
Hình như thu đến
Lòng cứ chông chênh.
Thu ơi năm nào
Mình xa nơi ấy
Bóng mẹ thân yêu
Bóng em dịu dàng.
Bầu trời xanh biếc
Đầm nước mênh mang
Cổng làng tươi nắng
Vàng hoe cúc vàng.
Một mình em tôi
Nhìn về xa lắc
Đường cây khô khốc
Lòng càng chơi vơi.
Thu ơi, thu ơi
Giờ không ai đến
Lòng ta thương mến
Gửi buồn cho thu.
Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019
THẾ SỰ
(Họa thơ Tạ Anh Ngôi)
Trời cao dìu dịu bóng mây phơi
Thả bước bên sông nghĩ sự đời
Khó đợi vườn quang cho nắng đổ
Khôn chờ ngõ sạch để mưa rơi
Lũ tràn chẳng thể chằng cho đất
Bão khắp làm sao buộc được trời
Đâu chỉ mình ta riêng một cõi
Phong trần ai đó luống đầy vơi
NHỚ THỜI ĐÃ QUA
(Họa thơ Tạ Anh Ngôi)
Vừa mới bình minh đã xế tà
Bao nhiêu ngày tháng đã đi qua
Nhớ khi loạn lạc ra tiền tuyến
Nhớ lúc bình yên trở lại nhà
Nhớ buổi tiễn đưa mời chén rượu
Nhớ hôm hội ngộ tiếp chung trà
Đêm nay trăng sáng nơi quê cũ
Cầm bút gieo thơ tả cảnh già
CẢM XUÂN
(Họa thơ Trần Phao thuận thể)
Nàng xuân vừa dạo gót qua nhà
Rét mướt mùa đông đã vội qua
Đỉnh núi sau lưng xanh tán vải
Dòng sông trước mặt đỏ phù sa
Ra đi ngày ấy bao đàn trẻ
Trở lại hôm nay một lớp già
Ký ức năm nao vừa chợt thức
Mênh mang trước mặt ráng chiều pha
CẢM THU
(Họa thơ Trần Phao nghịch thể)
Mới thấy hương thu tỏa khắp nhà
Nắng hè ngột ngạt đã đi qua
Mấy chòm Ngũ Nhạc sương còn ủ
Một dải Kinh Thầy nước mới sa
Viết tiếp sử xanh nhờ sức trẻ
Giữ gìn truyền thống cậy tâm già
Nhớ sao ngày ấy ra tiền tuyến
Mái tóc giờ đây đã tuyết pha
CHÚC XUÂN
(Ngẫu hứng thơ Hoài Linh)
Mở cửa tao đàn để đón xuân
Nhớ bao công đức của tiền nhân
Đào hồng khoe sắc chờ gieo tứ
Cúc tím tỏa hương đợi ghép vần
Đỉnh núi nắng vàng cao tít tắp
Dòng sông mây trắng rộng vô ngần
Nhẹ nhàng mở quyển tay nâng bút
Nghe tiếng chim cu gáy rất gần
QUÊ SINH
(Kỉ niệm ngày về Quan Đình)
Mẹ sinh ta ở Bắc Ninh
Nên câu quan họ cố tình bám theo
Đi qua trăm núi ngàn đèo
Vẫn không quên được quê nghèo Bắc
Ninh.
NGẪU HỨNG MÙA THU
(Thu 2018)
Mới đó hôm qua
Lá vàng đã rụng
Hình như thu đến
Lòng cứ chông chênh.
Thu ơi năm nào
Mình xa nơi ấy
Bóng mẹ thân yêu
Bóng em dịu dàng.
Bầu trời xanh biếc
Đầm nước trong xanh
Cổng làng tươi nắng
Vàng hoe cúc vàng.
Một mình em tôi
Mái tóc buông rơi
Nhìn về xa lắc
Đường cây khô khốc
Lòng càng chơi vơi.
Thu ơi thu ơi
Giờ không ai đến
Lòng ta thương mến
Gửi buồn cho thu.
THƠ EM
(Tặng thơ Hương Thơm)
Em gặp anh khi đã có đôi
Sao vẫn bâng khuâng xao xuyến
Thơ em viết, bao lời thương mến
Chỉ dành riêng cho một anh thôi.
Đoạn đường sang đâu có xa xôi
Em ước muốn cất lời hò hẹn
Bao câu chữ vẫn không trọn vẹn
Thương sao khó nói thành lời.
Ở nơi xa anh đã ngủ rồi
Người đâu biết em từng thức trắng
Để mơ đến một miền xa vắng
Em thành thơ kề cận ở bên anh.
HOA LÝ
(Tặng thơ Hoa Lý)
Thương cha thương mẹ cất công
Tìm nơi đất sạch để trồng giàn hoa
Chỉ mong đến lúc về già
Có hoa có trái để mà cậy trông.
Quý người cha mẹ cho không
Thế mà người bỏ chợ đông chẳng về
Giàn hoa vẫn nở bộn bề
Mà sao không được cận kề bón chăm.
Qua bao lần bóng trăng rằm
Vẫn nghe thấy tiếng thì thầm của
hoa
Muốn cho làm của người ta
Lại lo giàn gẫy để hoa úa tàn.
Thương sao thương đến vô vàn
Chùm hoa nhỏ bé giữa ngàn mây xanh
Hương đưa vời vợi quẩn quanh
Từng đêm lan tỏa ru thành giấc mơ.
Bâng khuâng gieo một vần thơ
Cậy ai trao gửi bây giờ cho hoa.
Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020
KỂ CHUYỆN ĐẤT NƯỚC TÔI
Đất nước tôi từ một mẹ sinh ra
Mọi xứ sở là anh em thân thiết
Những trang sử hòa vào truyền thuyết
Thật hào hùng từ muôn thuở ông
cha.
Đất nước tôi từ một bọc sinh ra
Mọi dân tộc đều là ruột thịt
Dù ai đó xa xôi cách biệt
Vẫn tự hào với nước Việt thân
thương.
Đất nước tôi từng gặp lắm tai ương
Chưa lúc nào ngơi tay cày, tay
súng
Giữa chiến trận vẫn nuôi mầm sống
Để ngàn năm dài mãi gốc Tiên Rồng
Đất nước tôi luôn nghĩ đến cộng đồng
Dẫu ở quê nhà hay đi xuất ngoại
Tổ quốc bảo không bao giờ bỏ lại
Gian khó, hiểm nguy cả nước chịu
cùng.
Đất nước tôi dựng nghiệp tự vua
Hùng
Mỗi miền đất biết bao nhiêu làng
xã
Trăm trận đánh chẳng bao giờ gục
ngã
Mãi vững tin trong trận đánh sau
cùng.
Đất nước tôi hết thảy những anh hùng
Thời đại Bác Hồ kết tinh bao thế hệ
Ôi tất cả những đứa con một mẹ
Thắm tình yêu máu thịt đồng bào.
Đất nước tôi đại dịch đã xông vào
Tất cả vững lòng nghĩ suy nung nấu
Phát hiện, ngăn ngừa qua từng trận
đấu
Chiến thắng, thành công vui sưóng
tự hào.
Sáng nay đây đứng dưới ngọn cờ đào
Đảng bảo phải kết đoàn chiến đấu
Mỗi sinh mệnh đều thiết tha yêu dấu
Khắp muôn dân cùng một chiến hào.
Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020
KỂ CHUYỆN LÀM THƠ
Tập tọng làm thơ cũng đã lâu
Mỗi lần ngồi viết lại đau đầu
Đổi đi đổi lại lời chưa đẹp
Lựa mãi lựa hoài ý chửa sâu
Vét túi mấy ngày không thấy chữ
Lục rương cả tháng chẳng ra câu
Cũng may thấy khó nên dừng lại
Viết mãi rồi ra biết quẳng đâu
CHUYỆN CỦA NGƯỜI GIÀ
Mấy lão thi nhân ở phố Bần
Khoe rằng chúng tớ vẫn săn gân
Vài ba cái núi chưa chùng cẳng
Mấy chục con ngòi vẫn dẻo chân
Chạy bộ chiều chiều càng cố gắng
Đạp xe tối tối rất chuyên cần
Đêm nào cũng thức ngồi cầm bút
Mở quyển coi thơ soạn mấy vần
THƠ RƯỢU
Xé lịch tiện tay hạ mấy dòng
Hết bằng đến trắc rối bòng bong
Đã cầm dao quắm quơ vài nhát
Lại rút dây mây cột mấy vòng
Xén mãi câu kia sao vẫn méo
Buộc hoài tứ ấy cứ còn cong
Vội vàng ghé mắt vào ngăn tủ
Lấy rượu ra rồi viết mới xong
CẤP NƯỚC CHO DÂN
Biển mặn tràn vô hại chúng ta
Khắp nơi nước ngọt kiếm không ra
Cây khô thêm sợ vàng cành lá
Người khát càng lo xám thịt da
Đường ống nối qua vui bụng trẻ
Xà lan kéo tới sướng lòng già
Khắp nơi phấn khởi vui câu chuyện
Đảng đã chăm lo cứu mọi nhà
CHUYỆN VỀ CHIẾC LƯỢC
Chiếc lược đuya-ra lại thấy đây
Từng răng chia cách có hơi dầy
Sống lưng dựng đứng cưa làn sóng
Bên má nằm ngang khắc cuốn dây
Mưa núi rơi hoài đường đứt hết
Lũ rừng đổ mãi suối chan đầy
Ngồi buồn xẻ thịt tầu bay Mỹ
Chặt đẽo gia công mấy thứ nầy
THƠ TRONG MÙA DỊCH
VẮNG DẦN
Co-víd sổng ra đã mấy tuần
Năm nay chống dịch cả toàn dân
Người đi lễ lạt thưa hơn nửa
Kẻ đến tham quan giảm mấy phần
Bè bạn đang mong về chúc tụng
Cháu con cũng muốn tới quây quần
Chỉ lo lây nhiễm không cho gặp
Chưa đến mười tư đã vắng dần
CẢ NƯỚC ANH HÙNG
Co vit sổng ra hại gớm sao
Khắp nơi mở trận tiến quân vào
Sơn Lôi dũng cảm thành công lớn
Trúc Bạch kiên cường kết quả cao
Sản xuất giao thương vừa phát động
Học hành trực tuyến đã khơi mào
Theo lời Đảng chỉ luôn bền chí
Cả nước anh hùng đẹp biết bao
QUYẾT CHẲNG THA
Đại dịch từ khi mới nổ ra
Tự nhiên gắn kết khắp muôn nhà
Kiên cường Âu Mỹ luôn vươn tới
Dũng cảm Á Phi gắng vượt qua
Nguy khốn mới hay càng gắn bó
Gian truân càng tỏ sự chan hòa
Từ nay nhân loại cùng chung sức
Tiêu diệt co-vi quyết chẳng tha
THƠ VUI NGÀY DỊCH
Muốn ra đường phố ngắm hoa tươi
Dịch bệnh đang cao chớ nói cười
Che miệng chống lây cần phải kín
Rửa tay sát khuẩn quyết không lười
Chào nhau gắng nhớ trên hai mét
Gặp gỡ đừng quên quá một người
Yêu nước yêu dân thì phải thế
Trên vừa thông báo rõ mười mươi
KÝ TẾ PHỒN SINH
(Phiếm đoán đại dịch)
Thoạt đầu gắn kết lại cùng nhau
Thủy hỏa đồng sinh thật khác màu
Vẫn biết khởi nguồn liên kết lại
Càng e về cuối loạn thêm mau
Biết điều chắn vén lo gìn giữ
Hiểu sự thu gom quét sạch làu
Có biết nghiệp đời khôn chối bỏ
Phồn sinh huyền hoặc chớ vo nhàu
DỊCH NHẤT ĐỊNH TAN
Đại dịch lên cao hại thế gian
Khắp nơi nhiễm bệnh đã lan tràn
Hơn hai trăm nước đang nguy kịch
Gần bốn vạn dân chết dã man
Thế giới cách lý càng vững chí
Toàn cầu chữa trị vẫn kiên gan
Một ngày nào đó không xa nữa
Bốn biển năm châu dịch phải tan
ĐỢI BẠN
(Họa thơ Thanh Tình)
Đã hẹn khi nào lựu trổ hoa
Mà nay đã đỏ trước sân nhà
Chơi vơi đầu ngõ làn sương phủ
Thánh thót ngoài hiên hạt móc sa
Vườn cũ cây cao chim chụm tổ
Ao xưa nước mát ếch khui mà
Mỗi ngày càng thấy thêm mòn mỏi
Đợi mãi mà sao bạn chẳng qua
THÀNH PHỐ MỚI
(Họa thơ Trần Phao)
Chí Linh rộn rã tiếng ca vang
Đồng ruộng núi non nắng trải vàng
Kiếp Bạc oai linh ngời kiếm khí
Côn Sơn huyền diệu tỏa hào quang
Xóm thôn mở rộng trông càng đẹp
Phường phố điểm tô ngắm thật sang
Mong mỏi bạn bè về họp mặt
Quê mình đổi mới thật khang trang
MỪNG TỪ ĐƯỜNG BÙI TỘC
Thủy tổ Bùi công lập xóm làng
Sắc phong còn đó tỏ từng trang
Năm Cành nảy nở đơm hoa ngọc
Ba Cội sinh sôi kết trái vàng
Nền móng tổ tiên xây vững chãi
Miếu đền con cháu dựng phong quang
Chúc cho họ tộc thêm đông đúc
Chúc các gia đình phú thọ khang
MỪNG BÙI TỘC
Bùi tộc vang danh tại xứ này
Nối dài nguồn cội bấy lâu nay
Kim Lâu rạng rỡ huy hoàng vậy
Cổ Đẳng uy nghi tốt đẹp thay
Phúc Nhuận công cha càng rộng lớn
Từ Nhân nghĩa mẹ thật cao dày
Hai trăm sáu chục năm xây nghiệp
Đền miếu muôn nơi khó sánh tày
Thứ Hai, 27 tháng 1, 2020
KHAI BÚT CHÀO XUÂN
(01/01/2020)
Mừng Đảng xuân nay chín chục tròn
Giấy thơm trải rộng sáng mầu son
Thảo đôi câu đối mừng dân tộc
Viết mấy vần thơ tặng nước non
Khúc nhạc dựng xây thêm rộn rã
Bài ca chiến đấu mãi vang giòn
Ghi sâu lời Bác từng căn dặn
Độc lập tự do chí chẳng mòn.
VỊNH ĐÀO
(18/1/2020)
Đào thế bạt phong mới rước về
Chung vui cảnh tết ở làng quê
Chồi xanh mới nhú vài ba búp
Nụ đỏ vừa bung sáu bẩy huê
Rắn rỏi sinh sôi nơi bão tố
Dẻo dai nảy nở chốn sơn khê
Xuân sang góp nhặt đôi câu vịnh
Thơ phú bình dân lắm khách mê
VỊNH QUẤT
(23/01/2020)
Chậu quất năm nay nặng trĩu cành
Trái vàng chen lẫn lá màu xanh
Phía trên đèn nháy vòng dăm lớp
Bên dưới dây hoa cuộn mấy vành
Bắt chước xóm thôn cho hợp mốt
Học theo phường phố tỏ chơi sành
Đến thăm ai cũng cho là đẹp
Xuân mới vui tươi vạn sự thành.
BẨY NHĂM
(24/01/2020)
Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu
Dẫu có hoa râm nửa mái đầu
Thơ phú sẻ chia ra cả nước
Văn chương gửi đến khắp năm châu
Chào xuân phấn khởi gieo đôi vận
Đón tết mừng vui thảo mấy câu
Tự chúc cho mình thêm tuổi mới
Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu
Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020
CÁO LỖI CÙNG QUÊ
(Viết khi về Hội thảo: Tú Xương
với thơ Đường luật Việt Nam)
Quê hương mình, chỉ của mình thôi
Dù xấu đẹp cũng có đầy kỷ niệm
Yêu mến, nhớ nhung, bao nhiêu câu
chuyện
Cứ nối dài chắp cánh cho thơ…
Ta thương ta từng trải những bơ vơ
Bụng đói lả, không còn muốn bước
Nắm cơm nhỏ, ấy là mơ ước
Ai cho ta trong lúc khó khăn…
Đã có bao lần ta tự ăn năn
Nhớ và nhớ chỉ là cửa miệng
Tự thêu dệt ra bao câu chuyện
Để mà thơ, mà thơ…
Ôi quê hương, ta vẫn từng mơ
Trong máu thịt chất đầy mộng tưởng
Chỉ chua chát ngấm ngầm thụ hưởng:
Bao mồ hôi xương máu cha ông.
Sáng nay đây trời đất mênh mông
Hội thảo cho ta về đất tổ
Ta bất chợt hóa thành trẻ nhỏ
Tung tăng trong buổi tựu trường
Một chút ước ao rất đỗi bình thường
Một lần nói trên lễ đài: cáo lỗi
Một lần đã cả gan quá đỗi
Dám tự mình kể hết mọi tâm tư…
LỚP HỌC NGÀY XƯA
(Đình Cổ Loa hè 2004)
Xa gần sáu chục năm rồi
Trường xưa bao lớp đã ngồi nơi đây
Sân đình thu nắng hao gầy
Vẫn nghe văng vẳng tiếng thầy, tiếng
cô
Ghế bàn nghiêng ngửa lô xô
Bạn bè đùa nghịch hét khô cả mồm…
Thoáng qua trong ngọn gió nồm
Mắt ai hoen lệ cái hôm rời trường
Người đi công tác trên mường
Người đi chiến đấu chiến trường
nơi xa
Người vào nhà máy thay ca
Người về phường phố cờ hoa vui vầy
Người về đồng ruộng cấy cầy
Người thành cán bộ đêm ngày xa quê
Hôm nay tất cả đã về
Để ta ngồi tựa bên hè làm thơ
Nhớ về lớp học ngày xưa...
Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020
CHÙA NGỌC
(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)
Chùa Ngọc xây cao đẹp tuyệt vời
Mái cong rực rỡ ánh vàng phơi
Rễ cây chằng chịt ôm ngang núi
Đồi đá lênh khênh trụ giữa trời
Niệm chú vãng sinh qua vạn kiếp
Khấn cầu tế độ đến muôn đời
Hương trầm thơm nức tan trong gió
Thân pháp Như Lai tỏa sáng ngời
TRỤ KINH
(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)
Ba hai trụ đá dựng nơi đây
Kinh phật ban ra chép rất dầy
Vô lượng soi đường qua mỗi sáng
Kim cang mở lối suốt canh chầy
Dược sư cứu khắp hồn đau đớn
Tịnh độ tan bao kiếp đọa đầy
Nhân quả luân hồi nay giũ sạch
Chúng sinh hết thảy sống vui vầy







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét