Thứ Tư, 27 tháng 8, 2025

THƠ (LEHOABLOG)

 

Thứ Hai, 22 tháng 11, 2010

 

TÌM HIỂU VỀ VẦN TRONG TIẾNG VIỆT

I. NGUYÊN ÂM TRONG TIẾNG VIỆT

a. Nguyên âm cơ bản

Trong hệ thống tiếng Việt ta có các nguyên âm sau: “A, Ă, Â, E, Ê, I, O, Ô, Ơ, U, Ư, Y”.

b. Nguyên âm kép  

Trong số này có một vài chữ có thể ghép với nhau để làm nguyên âm kép đó là các chữ: “AI, AO, AU; ĂY;  ÂU, ÂY; EO; ÊU; IA, IÊ, IU; OA, OĂ, OE, OI, OO; ÔI, ÔÔ; ƠI; UA, UE, UÊ, UI, UÔ, UƠ, UY; ƯA, ƯI, ƯƠ, ƯU; YA, YU”.

c. Nguyên âm ghép bởi ba chữ

Ngoài ra còn có từ có ba nguyên âm ghép lại như từ: “UỶU, UYA, IỀU, OAI, OAI ...” khuỷu, khuya, nhiều, khoai, oai

 

II. PHỤ ÂM TRONG TIẾNG VIỆT

a. Phụ âm cơ bản

Trong hệ thống tiếng Việt có một thành phần quan trọng cấu tạo lên các từ, thành phần này chiếm đại đa số các chữ, đó chính là các phụ âm. Ngoài các phụ âm mới được cấu tạo thêm để tạo các từ của nhiều nước châu âu và phương tây như chữ “W, Z, F, J”. Những từ còn lại đều là các phụ âm gồm các chữ: “B, C, D, Đ, G, H, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, V, X”.

b. Phụ âm kép  

Những phụ âm này khi thì đứng đơn phương đằng trước, đằng sau nguyên âm và không ít các trường hợp chúng ghép từ 1 đến 3 phụ âm để bao lấy nguyên âm của các từ như các cặp 2 phụ âm sau: “CH, GH, KH, NG, NH, PH, TH, TR”.

c. Phụ âm ghép bởi ba chữ

Ngoài ra các phụ âm còn liên kết 3 chữ với nhau như các cặp sau: “NGH”,  

 

III. TỪ VÀ CÁC DẠNG THỨC CỦA TỪ

Từ trong tiếng Việt được cấu tạo bởi nhiều chữ, nhiều thành phần ghép lại, trong đó gồm các phần chính như: các phụ âm đầu (CPÂĐ), tiếp sau đó là các nguyên âm (CNÂ) phần sau là các phụ âm cuối (CPÂC) và cuối cùng là dấu của các từ (D).

Các từ cũng có nhiều dạng khác nhau, trong đó có từ không có phụ âm đầu, có từ không có phụ âm cuối, có từ không có dấu và thậm chí có từ chỉ có một nguyên âm cũng đã biểu diễn được nội dung một cách đầy đủ như “Ư” chỉ sự đồng ý; “Ứ” chỉ sự không đồng ý. Bên dưới đây là các công thức chung của các từ trong tiếng Việt.

a. Từ hoàn chỉnh:

[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (CPÂC) + (D)]

- Không dấu:

[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (CPÂC)]

Ví dụ: nhưng/ nhương

- Có dấu:

[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (CPÂC) + (D)]

Ví dụ: những/ nhường

b. Từ không có các phụ âm đầu:

- Không dấu:

[(CNÂ) + (CPÂC)]

Ví dụ: anh/ oanh

- Có dấu:

[(CNÂ) + (CPÂC) + (D)]

Ví dụ: ánh/ oánh

c. Từ không có các phụ âm cuối:

- Không dấu:

[(CPÂĐ) + (CNÂ)]

Ví dụ: ngo/ ngoa

- Có dấu:

[(CPÂĐ) + (CNÂ) + (D)]

Ví dụ: ngã/ ngoã

d. Từ chỉ có các nguyên âm:

- Không dấu:

(CNÂ) Ví dụ: oa /oai

- Có dấu:

(CNÂ) + (D) Ví dụ: ô/ ối/ oái

 

IV. SỰ LIÊN KẾT CỦA CÁC TỪ

1. Cách ghép vần

Ngay từ những ngày đầu đi học, sau khi đã thành thạo phần nhận mặt chữ, các trò đều phải qua một thời gian học ghép vần (có nơi gọi là đánh vần). Những buổi học ấy chủ yếu là đọc theo thầy, cô giáo để biết được từng từ một.

Chỉ với từ ƯNG ta phải đọc thành: “ưngờ/ ưng”, còn với chữ CHO, thì ta phải đọc thành: “o/ chờ, o, cho”; hay với từ NHẬN, ta phải đọc thành: “â, nờ, ânnhờ, ân, nhânnặng, nhận”. Qua những ví dụ trên ta thấy mỗi từ khi đánh vần đều phải bắt đầu từ các nguyên âm, sau đó là các phụ âm cuối, rồi đến các phụ âm đầu và cuối cùng là dấu của từ.

2. Cấu trúc của vần

Sự ghép vần như trên nhằm vào việc kết nối hai phần chính của từ, đó là sự ghép nối phần thứ nhất là các phụ âm đầu của từ  với phần thứ hai là các nguyên âm và các phụ âm cuối của từ.

Điều ta cần tìm hiểu đó là vần giữa từ này với từ khác. Vậy bộ phận nào làm cho các từ vần được với nhau? Ta có thể khảng định tổ hợp các nguyên âm và các phụ âm cuối của từ là thành phần cơ bản của vần. Đây cũng chính là bộ phận để đối chiếu xem từ này có vần với từ khác hay không.

 

V. VẦN GIỮA CÁC TỪ

1. Vần đúng (chính vận)

a. Vần của từ hoàn chỉnh

Như trên đã viết từ này vần với từ khác, nhất thiết phải có các bộ phận vần với nhau và bộ phận để các từ vần với nhau chính là nguyên âm và phụ âm cuối của các từ ấy. Các từ có thể vần với nhau khi bộ phận này của chúng giống nhau hoặc ít nhất là gần giống nhau.

 

Ví dụ:

Chùa làng vọng tiếng chuông ngân

Em về sắp áo đón xuân với người

Từ NGÂN có thể vần với từ XUÂN bởi chúng có bộ phận cuối của từ giống nhau, đó là nguyên âm “” và phụ âm cuối “N” tạo thành vần “ÂN”giống hệt như nhau.

b. Vần của từ không có phụ âm cuối

Đối với các từ có cấu trúc: [(CPÂĐ) + (CNÂ) + (D)], chúng ta nhận thấy chúng có cấu trúc nguyên âm đứng cuối của từ, do đó nguyên âm đó chính là vần của các từ:

 

Ví dụ:

Chiều nay thăm động Phong Nha

Nhớ em ở tận nước Nga xa vời

 

 Từ NHA và NGA chỉ có nguyên âm “A” ở cuối từ, ta có thể nói  rằng chúng vần với nhau bởi có cùng nguyên âm “A”. Cũng có thể lấy thêm phụ âm đầu ghép lại đọc là “HA” và “GA” và xác định hai từ được coi là vần với nhau bởi khi ta đọc, âm thanh “HA” và “GA” giống nhau.

c. Vần của các từ không có phụ âm đầu

Đối với các từ có cấu trúc (NÂ) +(PÂC) +(D), nghĩa là từ chỉ có nguyên âm và phụ âm cuối. Bản thân chúng đã là một từ, chúng có thể vần với nhau khi chúng gần giống hoặc giống hệt nhau.

 

Ví dụ:

Muốn có kết quả học ôn

Phải xa hẳn những tiếng ồn ngoài kia.

 

Từ ÔN từ ỒN chỉ khác nhau có cái dấu. Đó là những vần đúng cơ bản nhất của các từ.

 

2. Vần gần đúng (bàng vận)

Ngoài những vần đúng như đã nói ở trên ta còn khá nhiều những vần gần đúng. Những vần gần đúng khi đọc lên ta thấy chúng na ná nhau một chút tuy nhiên chúng vẫn được coi là vần. Dưới đây là những vần gần đúng mà ta thường gặp.

a. Vần của từ cùng nguyên âm, phụ âm cuối khác nhau:

Chúng ta gặp khá nhiều từ có vần gần đúng ở dạng cùng nguyên âm nhưng phụ âm cuối khác nhau. Tuy nhiên ta vẫn chấp nhận chúng vần với nhau như vài ví dụ dưới đây:

 

Ví dụ:

Người về, nhóm lửa cời than

Ngày mai bác mẹ xin sang bỏ trầu

 

SAN và SANG có cùng nguyên âm “A” những phụ âm cuối của AN là “N” còn của  ANG là “NG” tuy có khác nhau nhưng khi đọc vẫn thấy có vần.

b. Vần của từ nguyên âm khác nhau, phụ âm cuối giống nhau

Chúng ta gặp khá nhiều từ có vần gần đúng ở dạng nguyên âm khác nhưng phụ âm cuối giống nhau. Tuy nhiên ta vẫn chấp nhận chúng vần với nhau như vài ví dụ dưới đây:

Ví dụ:

Hôm nào cấy chửa kín đồng

Thế mà nay đã chín vàng rạ rơm

 

ĐỒNG có nguyên âm “Ô”, còn VÀNG có nguyên âm “A” nhưng phụ âm cuối cùng đều là “NG” tuy có khác nhau nhưng khi đọc vẫn thấy có vần.

c. Vần có một nguyên âm và vần có nhiều nguyên âm

Chúng ta gặp khá nhiều từ có vần gần đúng ở dạng từ này có 1 nguyên âm còn từ khác lại có nhiều nguyên âm. Tuy nhiên ta vẫn chấp nhận chúng vần với nhau như vài ví dụ dưới đây:

Ví dụ:

Khăn này em dệt qua đêm

Vải tơ trắng nõn còn nguyên mùi hồ

THÊM có nguyên âm “Ê”, còn NGUYÊN có 3 nguyên âm “UYÊ” phụ âm cuối khác nhau, tuy nhiên khi đọc vẫn thấy có vần.

Qua những ví dụ trên ta hiểu rằng khá nhiều từ có các cấu trúc vần khác nhau nhưng nếu “xếp đặt” tốt thì khi đọc lên âm thanh vẫn dịu ngọt, mượt mà, đằm thắm.

 

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

CHÙM THƠ XƯỚNG HỌA

 

XÚC CẢM MÙA ĐÔNG

(Bài xướng của Lê Trọng Hồng)

 

Chắc mùa đông lạnh sẽ qua

Viết đôi câu để làm quà sang xuân

 

Gió bấc chiều đông lạnh cả trời

Ngoài đường m­ưa bụi vẫn chưa vơi

Bến đò bữa ấy không còn khách

Chợ huyện hôm nay đã vắng ng­ười

Khóm quất bên vườn hoa chửa nở

Cây bàng trư­ớc ngõ lá đang rơi

Ngày mai dẫu biết xuân chưa tới

Vẫn gửi thơ mừng đến mọi nơi.

 

PHỐ BIỂN CHIỀU ĐÔNG

(Bài hoạ của Nguyễn Xuân Nghiệp)

 

Thuyền câu gác mái lững lờ

Đêm đông sóng đẩy vào bờ nước nông

 

Phố biển hoàng hôn đỏ sắc trời

Núi buồn lặng lẽ đứng chơi vơi

Thuyền câu chèo gác neo bờ vịnh

Bãi cát triều dâng vắng bóng người

Mặt nước lung linh làn khói phủ

Sương mờ bảng lảng ráng chiều rơi

Vầng trăng lạnh lẽo trong đêm vắng

Ánh bạc mơ màng trải khắp nơi

 

MÙA ĐÔNG

(Bài hoạ của Nguyên Đào)

 

Một mình một ngọn đèn chong

Thơ ơi! Xin gửi tấc lòng thiết tha

 

Cái rét tàn thu bởi tiết trời

Bao giờ nắng ấm lạnh dần vơi

Đường xưa bến mộng đang mong khách

Lối cũ đò mơ vẫn đợi người

Tán lá xạc xào cơn gió động

Bồn hoa lác đác hạt mưa rơi

Hương xuân gợi cảm hồn thi sĩ

Một áng thơ lòng trải mấy nơi

 

HOẠ BÀI CẢM XÚC MÙA ĐÔNG

    (Bài hoạ của Trần Phao)

 

Đông còn níu kéo bờ vai

Hồn thơ đã thấy một vài ý xuân

 

Mây xám giăng giăng tận cuối trời

Sương còn đan lạnh chẳng hề vơi

Chờ chiêm vụ cấy se lòng lúa

Mong tết chợ hoa quện mắt người

Ngày hội thuyền bè như mắc cửi

Đêm xuân đèn nến tựa sao rơi

Đông còn lưu luyến vương trên áo

Đã thấy thơ hồng trải khắp nơi.

 

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

 

ĐỢI KHÁCH

Mở sách xem thơ dưới tán cây

Bâng khuâng muôn nỗi giữa vơi đầy

Bến xưa lấp lóa vầng trăng rụng

Lầu cũ tan nhòa dấu hạc bay

Vết tích qua rồi còn chát đắng

Dáng hình sắp tới có chua cay

Viết đôi câu chữ treo ngang cửa

Đợi khách đường xa ghé lại đây.

 

ĐỔI THAY

Trở lại Quất Lâm buổi sớm nay

Tưởng đâu xa cách mấy ngàn ngày

Ruộng vườn trải rộng vừa thu hái

Phường phố vươn cao mới dựng xây

Mặt biển bao la bên trắng cát

Bầu trời bát ngát giữa xanh mây

Quê ta từ độ sang trang mới

Quang cảnh dường như đã đổi thay

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

 

TIẾC NUỐI

Chiều qua có khách đến chơi

“Cưới con dâu mới em mời bác qua”

Ngày nào cưới mẹ cưới cha

Thoáng thôi giật thót…đã là cưới con

Ngày nào má thắm môi son

Bâng khuâng tiếc nuối mất còn tuổi xuân!

 

Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

 

ĐÁNH RƠI

Những gì đã trót đánh rơi

Nghĩa là thứ ấy đã rời khỏi ta

Những gì vĩnh viễn cách xa

Có rồi lại mất, thế là vô duyên

Những gì nhà cháy, đắm thuyền

Đâu tìm thấy nữa mà đền cho nhau

Thầm than, thầm trách, thầm đau

Một lần rơi vạn lần sau thấm buồn!

 

Thứ Tư, 17 tháng 11, 2010

NGUYỆN CẦU

(Nhân ngày giỗ thầy Chu Văn An)

Năm nay con đến giỗ thầy

Đền đài mới được dựng xây lại rồi.

Ngẫm xưa lều cỏ bên đồi

Cô đơn giữ đạo cho đời mà đau

Một ông vua chẳng dễ đâu

Dám theo thầy để đối đầu các quan

Huống gì tàn ác gian tham

Có cam tâm để ngài làm thế không.

Thương thầy dâng sớ mất công

Một thầy xin, một trò không nhận lời

Chắp tay con vái tạ Người

Mong thầy nghe thấu những lời cầu xin

Cầu cho giữ trọn niềm tin

Cầu cho đạo học càng thêm sáng ngời

Cầu cho hạnh phúc muôn người

Cầu cho non nước đời đời bình yên.  

                                      Văn An 2008

 

PHƯỢNG HOÀNG GỌI NẮNG THU VỀ

Con đến nhà thầy giữa chiều cuối hạ

Cỏ cây xanh nắng bên đường.

Gốc đá ngổn ngang ai vừa xếp lại

Bâng khuâng, nền cũ ngôi trường (!)

Sáu trăm năm khoảng cách chưa dài

Chuyện về Đầm Mực* còn đau

Sớ thất trảm, những dòng thẳng đứng

Hồn xưa, nay đi về đâu (?)

Ai chép lại những dòng thơ cũ

Mưa rơi trên sườn đá ngửa nghiêng

Câu chữ, tình đời vẫn còn nguyên đó

Năm tháng qua rồi dễ đâu lãng quên.

Hoang vắng ngày nào, giờ đây đã khác

Đền mới vừa xây, hoa nở bên hè

Con cháu khắp vùng, nén hương ngày giỗ

Phượng Hoàng** gọi nắng thu về.

                                       Văn An 2006

*   Sự tích về học trò của thầy là Thủy Thần lấy nước nghiên mực cầu mưa giúp dân trái mệnh trời còn bỏ lại nơi trần thế

** Nơi thầy Chu Văn An ở ẩn tại Văn An Chí Linh Hải Dương

 

THĂM ĐỀN THẦY

Chiều nay con đến nhà thầy

Trơ vơ sỏi đá, cỏ cây rậm rì

Rẽ cây lấy lối con đi

Tìm xem Giếng Ngọc, Miết Trì* ở đâu.

Trường xưa nền đá dãi dầu

Một ngôi nhà nhỏ nhạt màu khói hương.

Phải vì Người giữ cương thường

Lấy điều giản dị nhún nhường vậy sao.

Hay vì thầy đã cất cao

Lời trung liệt để chạm vào thần oai

Sớ thầy động đến những ai

Mà nơi thờ cúng bỏ hoài gió sương.

Con xin thắp một tuần hương

Mong thầy đại xá thập phương còn nghèo.

Mai sau non nước mạnh giầu

Đền thầy sẽ lại có lầu, có sân.

Mỗi năm con đến một lần

Dâng thầy một thẻ hương trầm lên mây.

Thưa thầy con nguyện theo thầy

Cho dù lở đất long cây không rời

Bâng khuâng một cảnh, một người

Heo may lồng lộng thổi hoài chiều đông.

                                          Văn An 1983

* Những quần thể tại đền thờ thầy CVA

Thứ Ba, 16 tháng 11, 2010

 

CHÉN VUI MỪNG CHÁU

Mới thêm nữa một thằng cháu ngoại

Tám tháng thôi đã quyết đòi ra

Mắt lóng lánh, tay chân tròn lẳn

Rõ là khuôn nhà nội đây mà...

Đồ chơi mới chả thèm ngó tới

Bút sách của ông giật lấy để chơi

Cứ thấy giấy liền cho vào miệng

Không giữ là cháu chén ngay thôi.

M­ười bốn tháng  bắt đầu chập chững

Gọi ông bà tiếng chửa rõ đâu

Nghe quảng cáo cho ăn thật dễ

Rủ đi chơi là đến rõ mau...

Đời từng trải thiếu nguồn tình cảm

Niềm vui riêng chẳng có nhiều đâu

Khi già lão ấy là các cháu

Phút giây mừng đặt bút viết đôi câu.

Như đốm lửa thắp lên từ phía biển

Đại dương xanh rộng đến bao la

Hương hạnh phúc chính là các cháu

Chén vui này say chín cả hồn ta.

                                     24/4/2009

DAY DỨT

 

Khi ném thẻ chém ba đời vị quan lớn ấy

Có ai nhắc một lần về Sách bình Ngô

Khi trố mắt nhìn dòng thơ rỏ máu

Có ai nhớ ngày xưa ngọn bút dựng cơ đồ

 

“Giá áo túi cơm” dẫu ở đời nào cũng có

“Tát nước theo mưa” nào ai đã nhận ra

Nên cái vận, người hiền không tránh nổi

Hiềm khích làm đau bao trang sử nước nhà.

 

May có một người cất công tìm kiếm

Chút tâm từ trong giữa đám sương sa

Hình sao ấy dù đã về chớp sáng

Còn có bao điều day dứt cuối trời xa.

 

NHỚ NGOẠI THÀNH

 

Rời Hà Nội từ chiều thu ấy

Phút chia xa không nói câu gì

Những kỷ niệm tháng năm tuổi trẻ

Cứ âm thầm theo với người đi.

 

Hà Nội trong ta, cánh đồng xanh lúa

Nước sông Hồng đầy ắp lưng đê

Những con sóng trong mùa nước dữ

Bao lo toan từ  miền ngược đổ về.

 

Hà Nội trong ta, những xóm, những làng

Hòn đất ngoại thành nóng sôi mùa vụ

Hết lúa lại ngô, nối nhau chín rộ

Rau, củ tươi non, chăm bón quanh chiều.

 

Hà Nội trong ta, chất chứa bao điều

Có cái nhà quê của cha, của mẹ

Có dáng hình em dịu hiền, nhỏ nhẹ

Như hoa nở giữa đồng xanh.

 

Hà Nội trong ta, là xóm ngoại thành

Cây trái, ruộng đồng, bờ tre, bến nước

Phố rộng, nhà cao đâu có xa xôi

Cái riêng mình, chỉ một ngoại thành thôi.

 

THƠ XÓM

 

Xóm có đến mấy câu lạc bộ.

Những nhà thơ ch­­ưa biết cách làm thơ*

Vẫn đầy khổ, đầy trang, đầy quyển

Mọi đúng sai, xin cứ làm ngơ.

 

Tranh thủ nghỉ ruộng vư­­ờn, mùa vụ

Chút thời gian buổi tối, buổi trư­­a

Đời kham khổ, một sư­­ơng hai nắng

Vẫn âm thầm nuôi những nguồn thơ.

 

Thơ xóm, chẳng  cầu kỳ vần điệu

Chẳng cần gì niêm luật, nông sâu

Chỉ cần biết những điều thầm kín

Đ­­ược một lần chia sẻ cùng nhau.

 

Thơ xóm cứ tự nhiên giản dị

Chẳng cần chi l­­ưu dấu để đời

Chút tâm sự nói cùng con cháu

Một ngày kia theo đó làm ng­ư­ời.

* Ghi theo lời một hội viên CLB thơ ở PL

 

Thứ Hai, 15 tháng 11, 2010

 

GIÓ NGÀN NƯA

 

Hãy cho ta trở lại ngàn Nưa 
Theo dòng Yên man mác xuôi về
Một Trung Chính, Trung Thành xanh thắm
Tím phù xa con nước đêm hè.

Hãy cho ta trở lại đền Mưng

Nghe Thần phả chép dòng bi tráng
Đầu uy dũng đâu thèm rơi xuống
Dấu ngựa phi vương máu anh hùng.

Hãy cho ta mùa lại tăng cao

Đồng khô nước tròn đôi vụ cấy
Từ nay hết những ngày no, đói
Thóc vàng thêm trong nắng xanh ngời.

Hãy cho ta nhìn lúc em cười

Để mơ tấm chân tình trong đó
Đôi tà áo khép hờ trong gió
Mắt nhìn sang như muốn trao lời.

Hãy cùng vui hò gọi canh khuya

Mùa trăng đến hẹn mùa cheo cưới
Mời cha mẹ mang trầu cau tới
Để tình ta vẹn với câu thề

Hãy cùng ta trở lại cầu Quan

Chiều xanh biếc giấu vào trong mắt
Trời Nông Cống khắc vào câu hát
Gió ngàn Nưa giục giã ta về.

Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2010

 

TA MƠ

 

Rời xa xứ Bắc từ lâu

Gửi câu Quan họ bên cầu gió đưa

Mảnh vườn thu của ngày xưa

Một mình mẹ với dư thừa đắng cay.

Đôi tàu lá chuối lót tay

Một nùn rơm chắn heo may lọt vào.

Ai mơ trời rộng mây cao

Ta mơ tìm thấy lối vào ngày xưa

Ai mơ khăn áo đón đưa

Ta mơ ngửi chút hơi thừa mẹ thôi.

Mơ vòng tay mẹ làm nôi

Để con lần nữa được ngồi vào trong.

Chợ chiều ai đợi, ai mong

Một chim cơm nắm trong lòng bàn tay

Tiền công dài suốt một ngày

Không ăn dành lại chút này cho con.

Mấy mươi năm tưởng lớn khôn

Lạ sao vẫn cứ trẻ con thuở nào

Ai mơ muôn điệu thanh cao

Ta mơ tay mẹ vỗ vào sau lưng.

 

GẶP TRONG MƠ

 

Đêm qua gác bút bên mành

Đợi trăng lên kể nỗi tình bơ vơ.

Chợt đâu có cái non tơ

Quẩn quanh gạn hỏi về thơ, về tình

(Hỏi sao gác mái buông mành

Để thuyền trôi đến chân thành cổ xưa?

Vâng thì... toàn những gió mưa

Trời chiều bàng bạc, trời trưa chói loà.

Khi thì thương bởi cha già

Khi thì em bé thế là đành thôi...

Đến khi trăng đã lặn rồi

Đâu còn thấy lối đi hồi xuân xanh)

Đành xem thơ với ngắm tranh

Lấy hương thiên hạ, rắc quanh sân nhà

Thế rồi thơ, thế rồi là...

Khát khao nhau giữa chiếu hoa sân đình

Vâng thì... tuổi đã trưởng thành

Còn thơ giờ vẫn chưa đành mối thơ

Thương nhau gửi một đường tơ

Để thưa rằng đã... ngày xưa có... rồi (!)

 

BIỂN GIỜ CŨNG ĐÃ XA KHƠI

 

Chỉ còn có biển trong tôi

Rặng phi lao với muôn lời mến yêu

Chỉ còn mây trắng những chiều

Ánh trăng cùng với sáo diều trong đêm.

Chỉ còn tiếng sóng ru êm

Vỏ sò kỷ niệm, con tim dạt dào.

Chỉ còn những tháng, năm nào

Dẫu xa xăm vẫn ngọt ngào thiết tha.

Bây giờ tóc đã điểm hoa

Bây giờ mỗi cảnh, mỗi nhà, mỗi nơi

Biển giờ cũng đã xa khơi

Ai ru trở lại cái thời xa xưa(!)

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

 

TẾ NỮ QUAN

(26/1/Tân Mão)

Áo khăn đỏ thắm sân chùa

Làng vui vào hội giữa mùa cấy chiêm

Nhẹ nhàng chân bước hai bên

Áo choàng kim tuyến tươi trên nắng hồng

Cổ, chinh, bầu, trúc hoà đồng

Hài hoa, khăn đóng, áo rồng nhẹ bay

Mắt ngời lóng lánh hương say

Nửa đông xướng để nửa tây đợi chờ

Khói hương lan toả xanh mờ

Giọng văn thánh thót, đèn thờ lung linh

Tam tuần bái tạ phân minh

Càng sâu, càng nặng ân tình tổ tiên.

 

QUÊ HƯƠNG TÂY LẠC

(25/1/Tân Mão)

 

Ta về với hội chùa Như

Đông như đã tạnh, xuân như ấm dần

Ta về đây với người thân

Quê cha còn đó, dấu chân chưa mờ

Xôn xao kỷ niệm tuổi thơ

Một thời cha mẹ...bây giờ đã xa

Ta về nhớ cửa, nhớ nhà

Nhớ từ đồng trũng, nhớ ra đồng màu

Thương quê để bạc mái đầu

Để mờ mắt lệ, để sầu giọt tim

Mấy mươi năm vẫn dõi tìm

Dù trong chiến trận muôn nghìn hy sinh.

Khi đang tiếp nối công trình

Công trường, nhà máy hết mình dựng xây

Khi trong giông bão bủa vây

Một thân lúa trổ thấm đầy mồ hôi

Một tầng cao sáng màu vôi

Phố phường, đồng ruộng khác hồi xa xưa

Trách chi bao cuộc gió mưa

Miếng cơm Ất Dậu đẩy đưa rời làng

Mảnh gai đầu chợ bẽ bàng

Bâng khuâng chân bước đi sang quê người.

Bẩy mươi năm sắp qua rồi

Vẫn như đứa trẻ bồi hồi về quê.

Làng vui tình nghĩa tràn trề

Đồng Thông, Đồng Bái cận kề Đồng Huy

Qua Đồng Bình đến Đồng Chi

Quê hương Tây Lạc thầm thì trong ta

Tay đưa ấm ngọt hương trà

Người quê vẫn vậy thật thà hỏi han

Ai đi ra Bắc, vào Nam

Ai đang bận bịu gian nan quê nhà.

Còn đây con cháu ông bà

Nắm tay chào hỏi trẻ già thân thương

Ngày mai trên mọi ngả đường

Bờ tre, đồng lúa, quê hương xa dần

Bâng khuâng hơi ấm người thân

Quê hương Tây Lạc mãi gần bên ta.

 

Thứ Bảy, 8 tháng 1, 2011

 

VIẾT CHO MÙA LÚA CHÍN
Chín rồi cả cánh đồng vàng
Chín rồi em, giữa muộn màng tháng năm
Tưởng rằng trời tối không trăng
Tưởng rằng cây độc và rằng không hoa
Hôm qua thôi....chính hôm qua
Trái mùa, trái vụ đã ra khỏi vườn
Nửa vui, nửa giận, nửa hờn
Thả thơ xuống bến, kéo đờn ngang sông
Chín rồi em, giữa chợ đông
Gió e ấp thổi, má hồng, hồng thêm.

 

DẶN CÒ

Con cò lộn cổ… từ lâu*

Cánh mày lúc đó để đâu hở cò?

Không bay thì chạy, thì bò

Cố kêu mấy tiếng để hò người qua.

Thương mày dốt nát…hóa ra

Thành đồ ăn để cho nhà họ xơi.

Dặn rằng: mày phải nhớ đời

Hễ mà lộn cổ kêu trời rõ to (!)

* Lấy ý từ ca dao

 

RU CUỘC ĐỜI CÒ

Tựa vào câu hát mẹ ru

Con đi suốt những mùa thu sang hè.

Tựa vào cánh võng bờ tre

Nghe câu ru mẹ, mà se cả lòng.

Dẫu rằng chết cũng nước trong

Thương con cò vẫn mỏi mong một đời.

Mẹ cho ta đến cõi người

Chỉ mong bén rễ để rồi tươi xanh

Dẫu không lớn gốc, rậm cành

Cũng là một hạt để dành mai sau.

Mẹ ta đi vắng đã lâu

Câu ru mẹ, mãi thấm sâu đời cò.

 

VIẾT CHO NHỮNG CUỘC TÌNH
Có còn chi giữa chợ đời
Khi xuân đã muộn, khi trời đã khuya
Khi lòng ta đã rẽ chia
Khi niềm tin với ai kia chẳng còn
Chỉ mong nước chảy đá mòn
Để bao thô ráp lại tròn như xưa
Để trời nắng lại ban trưa
Để xuân trở lại như vừa mới đây
Nước trong bát sứ lại đầy
Tình người trở lại như ngày đầu tiên.

 

HOA ĐÁ
Chẳng mua hoa cúc, hoa nhài
Mua bông hoa đá để ngoài hiên chơi
Chửa coi đã rụng đã rơi
Để cành trơ lại thế rồi không hoa
Xuân chưa hé đã vội già
Tình chưa bén đã rẽ ra đôi đường
Đành rằng thương vẫn cứ thương
Mà sao mọi sự dở dương vậy mà
Thương cây hoa đá trước nhà
Một cành trơ, giữa nhạt nhoà tình ai

 

THƯƠNG BAO CÂU NÓI
Những gì đã trót nói ra
Cho dù xấu tốt cũng là mình thôi
Những gì đã trót nói rồi
Thì đành nín lặng để ngồi lại nghe
Bờ rào, vách nứa, phên tre
Gió từ trong sẽ theo khe ra ngoài
Mừng câu khôn tặng cho đời
Thương câu dại để lại rơi vào mình (!)

 

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

 

TÌM HIỂU VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Đôi lời mở đầu

    Người Việt chúng ta hầu hết đều là người giầu tình cảm, và có sự bẩm thụ văn chương. Ngay từ khi mới chào đời đã tiếp nhận từ người thân những câu hát ru, những vần điệu ca dao, dân ca tinh tế. Trong nhiều năm gần đây nhờ sự phổ cập văn hoá trong nhân dân, văn tự và chữ viết là công cụ, là chìa khoá để diễn đạt và lưu giữ nhiều văn bản nói lên những tâm sự, những cảm xúc của mỗi người. Qua những vần, những điệu quen thuộc người ta hát lên, ngâm lên những câu chữ để mà hoà vào không khí tươi vui của cộng đồng. Những dòng như thế, những bài như thế đã phần nào mang dáng dấp của những bài văn vần. Những bài văn vần đó có cấu trúc rất gần với một thể loại mà ta gọi là thơ, trong đó có thơ lục bát, thơ tự do và thơ cách luật vv... Đã là thơ thì nó có cả một hệ thống lý luận rất rộng mà ta không thể bàn trong tập sách nhỏ bé này. Với một phương châm như thế chúng ta sẽ đi sâu vào một thể loại thật cụ thể đó là Thơ luật Đường[1] mà người Việt ta vẫn gọi là Thơ Đường hoặc thơ Đường luật.

   Thơ Đường luật là thể thơ xuất xứ từ Trung Quốc, được luật hoá về vần, điệu và một số thủ pháp riêng trong thời Đường. Đây cũng là thể loại thơ được tiếp thu, đưa vào đời sống và khoa cử Việt Nam từ rất sớm. Thơ được đề cao là loại Thơ bác học trong một thời kỳ khá dài và được hoàn thiện thêm cho phù hợp với văn tự và âm thanh của người Việt. Công bằng mà nói thì với thời gian và thói quen ngôn ngữ, thơ Đường luật đã được nhiều nhà thơ từ trước đến nay thay đổi đến mức có thể gọi là thơ Luật Việt Nam cũng không có gì là quá đáng. Đây cũng là thể thơ được nhiều người ưa thích vì sự biểu cảm sinh động và thâm sâu, rất đáng được lưu giữ, phát triển duy trì sự phong phú trong vốn văn hoá của nước ta. Dưới đây là một số nét về thể thơ Đường luật nói trên với tiêu chí vừa tìm hiểu và cũng góp phần vào việc giúp những người bước đầu muốn hiểu và muốn làm thơ Đường luật.

 

PHẦN 1: KẾT CẤU BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

I. CÂU TỪ TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

       Thơ Đường luật có thể viết mỗi bài bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, mỗi bài tám câu gọi là bát cú và những bài trên tám câu gọi là trường thiên. Trong mỗi câu có năm từ gọi là ngũ ngôn, hoặc bẩy từ gọi là thất ngôn, ngoài ra còn có loại bài có một số câu bị rút đi một từ còn sáu từ trong một vài trường hợp.

       Những bài thơ tứ tuyệt thường dùng thuật ngữ tóm tắt chỉ rõ chức năng mỗi câu và kết cấu của bài, đó là cụm từ: Khai, thừa, chuyển, hợp. Về điểm này chúng ta có thể đi sâu nghiên cứu với một văn bản dài hơi hơn trong một dịp khác.

       Những bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú cũng được đặc trưng bởi 4 phần khác nhau đó là: Đề, thực, luận, kết. Dưới đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về các phần với một gợi mở ngắn gọn nhất.

 

II. VẦN VÀ HIỆP VẦN THƠ ĐƯỜNG LUẬT.

 

      Vần trong thơ Đường (còn gọi là vận) dựa vào sự giống nhau của từ cuối mỗi câu. Các vần trong bài tứ tuyệt được sắp xếp theo thứ tự là vần câu 1 hiệp vần với câu 2, câu 4; trong bài bát cú vần câu 1 hiệp vần với câu 2, câu 4, câu 6, câu 8

II.1. Hiệp vần trong bài tứ tuyệt: có 3 vần

 

ĐOÁN BÃO

(Lê Trọng Hồng)

 

Ráng đỏ đùn lên kín mé tây (1)

Trời xanh trốn biệt hết trong mây (2)

Mấy ai biết đ­ược ngày mai tới

Giông bão điên cuồng sẽ đến đây (3)

 

II.2. Hiệp vần trong bài bát cú: có 5 vần

 

KHAO THƠ

(Lê Trọng Hồng)

 

Gặp buổi thanh nhàn đến với nhau (1)

Cần chi nghèo khó với sang giầu (2)

Me chua mấy quả, sôi trong nước

Muối lạc đôi hòn, trộn dưới âu (3)

Chọn tứ tìm câu mời tiếp chén

Lựa vần sửa đối đợi thay bầu (4)

Thong dong cuối tháng lương chưa tới

Vẫn hẹn khao thơ đãi một chầu (5)  

 

II.3. Chính vần (Chính vận)

 

    Ta gọi từ này vần với từ kia hầu hết chỉ bao gồm phần ghép của nguyên âm với phụ âm cuối của từ. Không kể sự biến thái âm do dấu, miễn chúng giống nhau thì đó là chính vần. Người xưa gọi là chính vận.

 

Ví dụ 1:

                                

Vư­ờn ai cháy sáng giữa heo may

Khóm cúc vàng tươi nở đắm say

                              (Hoa thu - Lê Trọng Hồng)

 

 (Ay) trong may và say bài Hoa thu là chính vận

 

 Ví dụ 2:                  

                  ...

        Muối lạc đôi hòn, trộn dưới âu

        Chọn tứ, tìm câu mời tiếp chén

         Lựa vần, sửa đối đợi thay bầu

                                   (Khao thơ - Lê Trọng Hồng)

 

   (Âu) trong âu và bầu của bài Khao thơ trên đây chỉ khác nhau một dấu huyền, đó là (âu) và (ầu) cũng gọi là chính vận

 

II.4. Vần gần đúng (Bàng vận)

 

  Không phải lúc nào vần cũng giống nhau một cách tuyệt đối người ta có thể hiệp vần bằng một âm chỉ gần giống nhau. Những vần chỉ gần giống nhau như thế gọi là vần gần đúng. Người xưa gọi là bàng vận

 

Ví dụ 1:        

 

           ...

           Gặp buổi thanh nhàn đến với nhau

           Cần chi nghèo khó với sang giầu

                                            (Khao thơ - Lê Trọng Hồng)

 

       Au và ầu trong hai câu trên đây, có sự gần giống nhau. Đây chính là một trường hợp bàng vận

 

         Ví dụ 2:                

          ...

         Nợ khắp muôn người thật rõ đông

         Nợ mẹ, nợ cha miền dưỡng dục

         Nợ chồng, nợ vợ cuộc đời chung...

                                      (Nợ - Lê Trọng Hồng)

 

   Ông và ung trong bài Nợ trên đây chỉ gần giống nhau. Đây cũng chính là một dạng bàng vận

     

II.5. Vần bằng và vần trắc

   Vần trong thơ Đường luật có thể ở thể bằng hoặc trắc. Trong tiếng Việt những thanh âm không có dấu hoặc thanh âm mang dấu huyền đều được xếp vào thanh bằng. Các thanh âm mang dấu sắc, hỏi, ngã, nặng đều được xếp vào thanh trắc. Từ đó ta cũng có được các vần là vần bằng hoặc vần trắc

 

               Ví dụ:

 

           Mừng xuân cất bút chào năm mới

           Chúc một mùa thơ thật thắng lợi

 

            Vần ới và ợi trong hai câu trên là những vần trắc

 

             Ví dụ:

 

              Bên trời vàng ủng ánh trăng suông

              Từng đợt heo may gõ cửa buồng

 

Vần uông và uồng hai câu trên là những vần bằng

 

II.6. Bớt vần (chiết vận)

   Trong thơ Đường luật, vần của toàn bài phải hiệp vần với câu đầu, nhưng đôi khi ta vẫn gặp những bài có câu đầu không vần với câu 2 và toàn bài. Trường hợp này ta gọi là bớt vần (chiết vận). Tuy nhiên những bài chiết vận thì câu 1 và 2 phải tạo thành một cặp đối.

 

      Ví dụ:      

 

Vách thẳng sương giăng xanh tựa ngọc

Bãi chìm nước cuộn trắng như hơi

Một đời ngắn ngủi trong gang tấc

Gặp cảnh như vầy được mấy nơi.

                             (Đèo Ngang - Lê Trọng Hồng)

II.7. Bớt từ

   Có một dạng thơ thất ngôn được bỏ bớt từ ở câu đầu hoặc câu cuối thành ra câu có sáu từ. Người xưa nói đây là thể thơ do Hàn Thuyên sáng tạo ra trên cơ sở của thơ Đường luật, nhiều người đã gọi là thơ Hàn luật. Thể loại này có nhiều trong thơ Nguyễn Trãi.

 

               Ví dụ:   

 

                         ĐOẠN X (10)

                        (Nguyễn Trãi)

           Lao xao chợ cá làng ngư phủ

           Dặng dõi cầm ve lầu tịch dương

           Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

           Dân giầu đủ khắp đòi phương

 

III.  LUẬT THƠ ĐƯỜNG LUẬT

III.1. Khái niệm về luật thơ Đường luật

 

       Luật trong thơ Đường chỉ ra sự phân bố của các từ bằng và trắc trong một bài thơ. Luật quy định các dạng thơ như: Luật bằng và Luật trắc.          

       Để nhận biết bài thơ ở luật bằng hay luật trắc chỉ cần xem từ thứ hai của câu 1, nếu là thanh bằng thì đó là bài thơ thuộc luật bằng và ngược lại là luật trắc. Khi đã biết về luật chỉ cần chú ý từ cuối của câu 1, nếu đó là thanh bằng thì bài thơ có vần bằng và ngược lại là vần trắc. Kết hợp về luật và vần ta có 4 dạng[2] thơ Đường luật, dưới đây là sơ đồ 4 dạng của thơ Đường luật .

 

III.2. Sơ đồ các dạng thơ Đường luật

 

A - Luật bằng vần bằng     C - Luật bằng vần trắc

 

B

B

T

T

T

B

B

 

B

B

T

T

B

B

T

T

T

B

B

T

T

B

T

T

B

B

B

T

T

T

T

B

B

B

T

T

T

T

B

B

T

T

B

B

B

T

T

T

B

B

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

T

B

B

T

T

B

B

T

T

B

T

T

B

B

B

T

T

T

T

B

B

B

T

T

T

T

B

B

T

T

B

B

B

T

T

T

B

B

B

B

T

T

B

B

T

 

B - Luật trắc vần bằng         D - Luật trắc vần trắc

                                            

T

T

B

B

T

T

B

 

T

T

B

B

B

T

T

B

B

T

T

T

B

B

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

T

B

B

T

T

B

B

T

T

B

T

T

B

B

B

T

T

T

T

B

B

B

T

T

T

T

B

B

T

T

B

B

B

T

T

T

B

B

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

B

B

T

B

B

T

T

T

B

B

T

T

B

B

T

T

B

T

T

B

B

B

T

T

 

III.3. Các bài Đường luật theo sơ đồ      

Dưới đây là một số bài thơ làm ví dụ do tác giả viết để minh hoạ. Về nội dung chưa có thể gọi là tốt, mà chỉ cố gắng theo đúng niêm luật.

 

                            THÔNG CẢM

                        (Luật bằng vần bằng)

 

Từ

lâu

đã

định

sẽ

thăm

hoa

Ngõ

chông

chênh

bạn

vắng

nhà

Cánh

cổng

lầm

lỳ

kêu

chẳng

động

Bờ

tường

ngất

ngưởng

gọi

không

qua

Mười

năm

bận

rộn

phiền

lòng

trẻ

Một

buổi

thong

dong

gắng

sức

già

Lỡ

hẹn

thời

đành

chịu

vậy

Xin

người

bỏ

quá

hộ

cho

ta

                                         

 

                   ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC

                       (Luật trắc vần bằng)

Núi

phượng

chiều

nay

thắm

sắc

cờ

Đền

đài

mới

dựng

giữa

hoang

Trường

xưa

mái

đỏ

trò

đang

đợi

Điện

mới

hiên

xanh

khách

vẫn

chờ

Sửa

đức

can

người

lo

vận

hội

Khơi

nguồn

giúp

trẻ

tạo

duyên

Bên

tường

vẫn

đó

dòng

xuân

cảm

Đạo

thánh

gieo

mầm

vạn

tứ

thơ

 

                       CHÚC NĂM MỚI

                     (Luật bằng vần trắc)

 

Mừng

xuân

cất

bút

chào

năm

mới

Chúc

một

mùa

thơ

luôn

thắng

lợi

Cấu

tứ

vui

tươi

thật

sáng

trong

Vần

câu

sắc

sảo

không

đen

tối

Mang

nhiều

cảnh

đẹp

đến

muôn

nơi

Mở

rộng

tình

yêu

ra

khắp

lối

Đón

tết

mua

vui

mấy

câu

Hoà

cùng

bạn

hữu

sang

năm

tới

 

         THĂM NHÀ BÁC SĨ

                              (Luật trắc vần trắc)

 

Bữa

trước

sang

thăm

nhà

bác

Chồng

đầy

tủ

sách

nghe

hùng

Ban

thờ

ngó

đến

chẳng

còn

Thúng

gạo

nhìn

vào

đã

hết

kỹ

Chữa

bệnh

cho

người

suốt

cả

năm

Mừng

xuân

khổ

chủ

không

ngày

nghỉ

Đành

rằng

tất

cả

chỉ

dân

Với

bác

đừng

nên

quên

để

ý

 

Trong 4 dạng trên đây, thường thì hay dùng 2 dạng Luật bằng vần bằng vàLuật trắc vần bằng, còn hai dạng Luật bằng vần trắc và Luật trắc vần trắc thì ít khi dùng

 

IV. NIÊM THƠ

 

   Niêm trong thơ Đường luật chỉ sự kết dính của các câu theo một quy tắc bắt buộc. Niêm xác định bởi từ thứ 2 của các câu theo thể thức từng cặp giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc.

 

  - Trong thơ tứ tuyệt niêm là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2 của các cặp câu: 1- 4; 2-3.

 

  - Trong thơ thất ngôn bát cú niêm là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2 của các cặp câu: 1 - 8; 2 - 3; 4 - 5; 6 - 7.

 

         Ví dụ:   

 

                         SÁU MƯƠI

                              (Lê Trọng Hồng)

 

Sáu

Thoắt

Khúc

Bài

Vườn

Ngõ

Muôn

Đôi

mươi

cái

hát

thơ

xuân

trúc

sự

dòng

lặng lẽ bước đường xa

thời gian đã đến già

xông pha chưa kịp dứt

chiêm nghiệm mới vừa ra

cứ hẹn kêu đi tới

khi cần đón lại qua

ngoài đời không vướng bận

thi phú một hồn ta.

 

      Cặp 1-8 cùng bằng (mươi / dòng); cặp 2-3 cùng trắc (cái / hát); cặp 4-5 cùng bằng (thơ / xuân); cặp 6-7 cùng trắc (trúc / sự)

 

V. NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

V.1. Ngắt nhịp

       Các câu thơ Đường luật có sự ngắt nhịp để phân cách các ý nhỏ trong câu, nhân đó làm cho câu thơ có âm hưởng du dương trầm bổng. Ngắt nhịp trong thơ Đường luật có kết cấu 2/2/3 hoặc 4/3

 

     Ví dụ:

Bẩy mươi/ chẳng biết / trẻ hay già (2/2/3)

Cố viết vần thơ / tặng bạn xa (4/3)

 

Kết cấu này khác hẳn với ngắt nhịp của câu thất trong thể thơ song thất lục bát đó là 3/4 hoặc 3/2/2

 

Ví dụ:

Hồn tử sĩ / gió ù ù thổi

Mặt chinh phu / trăng dõi dõi soi

 

V.2. Dấu phân cách

Như trên đã nói thơ Đường luật ngắt nhịp 2/2/3 hoặc 4/3, điều này cho thấy từng bộ phận của câu thơ đã được tách ra, chính vì thế mà người làm thơ ít dùng (thậm chí là không cần dùng) các loại dấu phân cách.

                       

V. GIẢN HOÁ VỀ LUẬT

 

      Nếu 4 sơ đồ trên đều thực hiện đúng cả thì rất tốt. Tuy vậy trong thực hành chỉ cần giữ đúng bằng trắc với các từ ở cột 2, 4, 6 là được (đương nhiên cột 7 là cột gieo vần thì phải tuân thủ đúng). Với gợi ý này các cụ ta xưa nói: “Nhất, tam, ngũ bất luận - Nhị, tứ, lục phân minh” là thế.

 

VI. KIỂM TRA NHANH NIÊM VÀ LUẬT

 

  Khi đã quen thuộc với thơ Đường luật thì ít khi người làm thơ bị sai về niêm, luật. Nhưng khi mới làm thì không thể tránh được sự sai sót này. Để cho dễ nhớ chỉ cần chú ý kiểm tra các điểm sau:

 

VI.1. Kiểm tra về luật

Từ  thứ  2 và thứ 6 trong câu bao giờ cũng cùng bằng hoặc cùng trắc. 

Từ thứ 4 trong câu ngược lại với từ 2 và 6.

 

VI.2. Kiểm tra về niêm

Từ thứ 2 của các câu trong bài cùng bằng hoặc cùng trắc theo từng cặp một trong đó gồm: 1- 8; 2 - 3; 4 - 5; 6 - 7.

 

VII. VỀ SỰ LẶP LẠI CỦA CÁC TỪ

 

      Người làm thơ Đường luật luôn cho rằng 28 từ trong bài thơ tứ tuyệt hay 56 từ trong bài thất ngôn bát cú là những viên ngọc. Mỗi viên có sắc thái của nó trong cái hộp ngọc ấy. Nếu vì một điều gì đó không cần thiết mà phải lặp lại thì lấy làm tiếc cho sự thiếu vắng của viên ngọc đó. Vì thế nếu không cần sự nhấn mạnh hoặc tôn vinh một điều gì thì không nên lặp lại các từ trong bài.

      Tuy nhiên việc lặp lại nhiều lần một vài từ đôi khi xuất phát từ một chủ ý nào đó mà tác giả muốn gửi đến độc giả. Dưới đây là một ví dụ lặp lại từ. Nếu tách 2 từ xuân ở hai câu đề, còn lại có đến 13 từ xuân đối với 13 từ tết.

 

            Ví dụ:

 KHAI BÚT KHAI XUÂN 

            (Thơ mời hoạ)

 

Chào xuân khai bút viết thơ xuân

Mời bạn gần xa hoạ mấy vần

Xuân đến, xuân sang, xuân gặp tết

Tết về, tết lại, tết tìm xuân

Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết

Tết tới một năm tết đợi xuân

Xuân! Tết! Xuân xuân! Xuân tết tết

Tết! Xuân! Tết tết! Tết xuân xuân.  

           

VIII. VỀ VIỆC SỬ DỤNG HƯ TỪ

 

      Những người làm thơ giỏi khuyên ta nên sử dụng biện pháp tu từ và dùng cách tả thực hoặc diễn thực ý, lời để bài thơ sinh động, tránh dùng những hư từ như thì, mà, là, cũng, đã, vì, với, vẫn vv... trong thơ. Tuy nhiên nếu sử dụng hư từ khéo thì vẫn có hiệu quả đáng kể. 

 

         Ví dụ:

 

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh thế mới hời

                     (Vịnh tiến sĩ giấy - Nguyễn Khuyến)

 

    Sao mà và thế mới trong Vịnh tiến sĩ giấy chính là những hư từ, những hư từ trên đây dùng quả là khéo.

 

IX. VÀI DẠNG THƠ ĐƯỜNG LUẬT ĐẶC BIỆT

 

        Ngoài những quy tắc về luật và vần nói trên, những người chơi thơ Đường luật còn sáng tạo ra khá nhiều kiểu đặc biệt. Đã có nhiều tác giả giới thiệu đến 99 cách chơi thơ Đường luật. Dưới đây là một vài ví dụ để tham khảo.

 

1. THUẬN NGHỊCH ĐỌC

 

       Một trong những cách đó là kiểu Thuận nghịch đọc, với kiểu bài này thì làm 1 mà hoá 2; thực chất đây là 2 bài thơ riêng biệt. Ngoài đọc xuôi ta có thể đọc ngược từ dưới lên

 

      BẾN NHỚ

      (Xuân Nghiệp)

 

Hoa đùa nắng sớm gió đưa hương

Nhớ bến cho tình chút vấn vương

Nhoà lệ ướt mi hàng liễu rủ

Bước chân nghiêng nón bóng người thương

Xa mờ khói thẳm mây vờn núi

Giá lạnh thân cò cánh đợ sương

Tha thiết bến tình sông gợn sóng

Tà dương ánh ngả bóng lồng gương

 

2. THỦ NHẤT THANH

 

       Thủ nhất thanh là bài thơ có một từ duy nhất đứng đầu mỗi câu, như bài Nợ dưới đây. Những bài này mang hình thức chơi thơ là chính.

 

          NỢ

  (Lê Trọng Hồng)

 

Nợ trời, nợ đất, nợ non sông

Nợ khắp muôn người thật rõ đông

Nợ mẹ, nợ cha miền dưỡng dục

Nợ chồng, nợ vợ cuộc đời chung

Nợ thầy, nợ bạn ơn đào luyện

Nợ xóm, nợ làng lúc góp công

Nợ cõi trần gian ngày sống gửi

Nợ đời chừng ấy biết hay không.

 

3. KHOÁN THỦ THI

     Đây là dạng thơ dùng các từ ở đề làm từ đứng đầu cho từng câu một của bài thơ

 

ĐƯỜNG THI THẮP SÁNG MỞ HỘI NÚI SÔNG

       (Lê Trọng Hồng)

Đường luật bung ra khắp mọi miền

Thi đàn dìu dặt cuộc giao duyên

Thắp đèn mơ đến miền kim cổ

Sáng bút soi vào cõi thánh tiên

Mở lối muôn nơi gieo tứ mới

Hội về mọi ngả nối vần lên

Núi Nùng lưu dấu nền văn hiến

Sông Nhị khơi dòng toả rộng thêm

 

                  TIỆT HẠ

            Đây là dạng thơ không nói hết ý của các câu nhưng thực tế khi đọc lên dường như mọi người đều đã hiểu ý của tác giả.

 

               HƯ DANH

            (Lê Trọng Hồng)

 

Ngộ tý văn chương đã tưởng là...

Cố công học hỏi để cho ra...

Nào hay vừa đó người rằng sắp...

Biết vậy hôm xưa tớ chẳng thà...

Trót đã theo đòi nên cũng phải...

Thôi thì níu bám để cho qua...

Cũng vì sĩ diện xui nên cảnh...

Vì cái hư danh đến nỗi mà...

 

X. CÁCH DÙNG TỪ NGỮ TRONG THƠ ĐƯỜNG

 

X.1. Chiết tự

       Đây là cách triết tự trong thơ chữ Hán. Ghép từng phần của chữ để chỉ sự việc)

Ví dụ:

 

Duyên thiên chưa thấy nhô đầu trọc

Phận liễu sao đà nảy nét ngang

Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa

Mảnh tình một khối thiếp xin mang...

            (Không chồng mà chửa - Hồ Xuân Hương)

 

        Chữ Thiên () kéo dài đầu lên thành chữ () Phu / chồng, đây chỉ sự chưa có chồng. Chữ Liễu () nếu có nét ngang thành ra chữ () tử / con, đây chỉ sự đã có con.

      Nhớ chửa là câu hỏi nhưng lại chỉ người phụ nữ có chửa, xin mang là câu chỉ sự chấp nhận nhưng lại chỉ sự mang thai .

 

X.2. Tránh khổ độc

 

      Một số bài thơ làm theo tiêu chí (nhị, tứ, lục phân minh) nhưng khi áp dụng (nhất, tam, ngũ bất luận) lại để từ thứ 5 (ngũ) và thứ 7 (thất) cùng bằng hoặc cùng trắc (nói rõ hơn là 3 từ cuối câu cùng bằng hoặc cùng trắc) dẫn đến câu thơ khi đọc lên thấy cộc và không êm tai, những trường hợp này gọi là khổ độc cần chú ý tránh  phạm phải như ví dụ dưới đây.

 

            Ví dụ 1:

 

Vui chân theo bạn về Thanh Mai

Mới thấy đường đi cũng chẳng dài

  Từ thứ 5 (Về), từ thứ 7 (Mai) câu 1 trên đây đều cùng bằng (hoặc cả 3 từ cuối cùng bằng).

 

   Khi ta thay Đến (trắc) vào Về (bằng), ta có từ thứ 5 trắc và từ thứ 7 bằng, câu thơ đọc lên sẽ êm hơn.

 

Vui chân theo bạn Đến Thanh Mai

 Mới thấy đường đi cũng chẳng dài

 

            Ví dụ 2:

 

Từ thứ 5 (gọi), từ thứ 7 (Động) câu 1 dưới đây đều cùng trắc (hoặc cả 3 từ cuối cùng trắc)

 

                  Cánh cổng lầm lỳ GỌI chẳng ĐỘNG

                  Bờ tường ngất ngưởng KÊU không QUA

 

Thay KÊU vào gọi của câu thơ trên, ta có từ 5 bằng và từ 7 trắc. Thay từ Gọi vào KÊU của câu thơ dưới, ta có từ 5 trắc và từ 7 bằng, đọc lên sẽ êm hơn.

 

                  Cánh cổng lầm lỳ KÊU chẳng ĐỘNG

                  Bờ tường ngất ngưởng GỌI không QUA

     

X.3. Tránh quá mức cầu kỳ

 

       Vấn đề từ ngữ trong thơ Đường luật có rất nhiều kiến giả cho rằng cần phải lựa chọn kỹ, đó là sự tất yếu, tuy nhiên nếu quá chú trọng, khuôn phép thường làm mất đi cái giản dị, tự nhiên. Ngày nay đã thấy nhiều kiến giả cho rằng thơ Đường luật cũng nên sử dụng từ ngữ dung dị trong đời sống để bài thơ đỡ khô cứng mở rộng sự tiếp nhận của mọi tầng lớp trong xã hội.

 

XI. CẤU TRÚC CỦA BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

  Để tìm hiểu cấu trúc của bài thơ Đường luật, dưới đây xin dẫn bài Thiếu nữ đi tu của cụ Tú Xương cho nội dung tìm hiểu thơ Đường tiếp theo

 

XI.1.Tìm hiểu về đầu đề bài thơ

 

       Thơ Đường luật rất coi trọng đầu đề bài thơ; Đầu đề bài thơ chỉ rõ thực chất bài thơ nói về cái gì, có như thế độc giả mới có thể hiểu được ý tứ bài thơ mình sẽ đọc. Đầu đề bài thơ Đường luật của các cụ ta xưa luôn ngắn gọn và cô đọng. Sức biểu đạt của đầu đề rất đặc trưng và không kém phần gợi cảm. Đầu đề bài thơ Thiếu nữ đi tu của cụ Tú Xương chính là một ví dụ

 

XI.2. Tìm hiểu về hai câu đề

 

            Trong thơ thất ngôn bát cú hai câu đầu được xác định là một cặp đề. Câu 1 gọi là phá đề, câu 2 gọi là thừa đề. Cặp đề có chức năng giới thiệu cho độc giả hiểu rõ thêm về ý tứ của tác giả, từ đó người đọc thấu triệt toàn bộ bài thơ đang sắp hiện ra. Câu 1 giới thiệu mở đầu, câu 2 sau đó làm sáng tỏ thêm.

 

            Ví dụ:

            Hai câu đề trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

 

Con gái nhà ai dáng thị thành

Cớ sao nỡ phụ cái xuân xanh

 

       Câu phá đề cho ta biết đây là bài thơ nói về một cô gái thanh lịch như một cô gái ở thành thịCâu thừa đề chỉ ra đó là cô gái không biết trân trọng vốn quý thanh xuân của chính mình

 

XI.3. Tìm hiểu về hai câu thực

       Hai câu 3 và 4 là hai câu thực. Hai câu này nêu lên những hình ảnh, sự việc, trạng thái đã có, đã nhìn, đã nghe hoặc cảm nhận được, làm chứng cớ cho những điều ta sẽ bàn luận đến và rồi phổ vào đó cái nhận định, cái chủ ý mà ta muốn mọi người cùng hiểu với ta. Hai câu thực phải có cấu trúc là một cặp đối chọi với nhau.

           

         Ví dụ:

            Hai câu thực trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

Nhạt màu son phấn say màu đạo

Mở cánh từ bi khép cánh tình

 

    Câu thực thứ nhất nói về sự không chịu chăm sóc những nét đẹp vốn có mà say mê theo thứ đạo pháp nào đó. Câu thứ hai kể rõ cô mở lòng đến với đạo phật (từ bi) và bỏ qua cái tình vốn dĩ phải có ở mỗi người trong trách nhiệm làm người và cái tình ái của người con gái. Hai câu này đối nhau rất chặt chẽ, nói về hành vi và tư duy của cô gái nọ.

 

XI.4. Tìm hiểu về hai câu luận

 

       Hai câu 5 và 6 là hai câu luận. Hai câu này nói rõ những nhận định của ta về cái mà 2 câu đề và 2 câu thực của bài thơ vừa mới tạo ra. Hai câu luận cũng là một cặp đối thứ 2 trong bài thơ. Luận là phần quan trọng trong cấu tứ bài thơ. Nếu bài thơ không có luận thì người ta không biết bấu víu vào đâu để mà hiểu tác giả nữa.

         Nói như vậy thì một số bài thơ Đường có ý trốn luận có lẽ không còn tứ nữa? Hoàn toàn không phải như thế vì cho dù có trốn luận thì hai câu ấy vẫn hiện diện. Nó có thể là hai câu thực nữa và cặp thực thứ hai này chồng chận lên cặp thực trước nó. Như thế thì cái luận đã xuất hiện rồi, xuất hiện bằng sự nhấn mạnh vậy. Tuy nhiên luận rõ, luận hay vẫn là điều không thể thiếu.

 

                Ví dụ:

             Hai câu luận trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

 

Miệng đọc nam vô quên chín chữ

Tay lần tràng hạt phụ ba sinh

 

      Hai từ (quên) và (phụ) chính là ý kiến tác giả nói về cái sự đi tu của cô gái nọ. Đây cũng là sự phán xét của tác giả về lỗi lầm của cô gái, đó là quên công lao của cha mẹ trong sinh đẻ và nuôi dưỡng nên người. Hơn nữa đó là phụ rẫy cái “duyên nợ ba kiếp” mà mỗi người phải trả theo thuyết luân hồi của nhà phật. Phần luận trong bài rất rõ và rất cụ thể.

 

XI.5. Tìm hiểu về hai câu kết

 

  Gọi là kết có nghĩa là cuối của một vấn đề. Tại thời điểm đó người ta chờ đợi một nhận định cụ thể sau sự phô diễn của ba cặp đề, thực và luận trên kia. Kết hoàn toàn là sự khảng định lại những gì mà ta đã bàn luận trước đó. Kết có thể nói sâu hơn sự nhận định của tác giả và cái đích của bài thơ đã rõ.

   Tuy nhiên một số cặp kết của nhiều tác giả lại không tỏ quan điểm của tác giả mà chỉ là sự gợi mở dành cho người đọc tự kết luận lấy. Những bài thơ có tầm vóc là những bài cho đến cuối cùng tác giả vẫn còn để lại một khoảng để độc giả cùng suy ngẫm, cùng tưởng tượng và cùng sáng tạo. Nghĩa là bài thơ có chủ đề tư tưởng thật rộng, ai đọc nó cũng thấy có cái bản ngã trong đó. Bài thơ không còn của riêng ai và cũng không còn là của tác giả nữa. Khái niệm sáng tác và tác giả mờ dần đi để sản phẩm trở thành tài sản trí tuệ vô giá, tồn tại đến muôn đời.

 

            Ví dụ:

            Hai câu kết trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

 

Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế

Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh

 

Câu kết chỉ nói cái sự tiếc nuối cho người con gái về những hành vi của cô trái với lẽ tự nhiên và phàn nàn rằng sao lại nỡ làm như vậy mà không bình phẩm gì hơn. Điều đó có thật đáng trách hay không nhà thơ đã nhường lại cho độc giả phán xét.

 

XII. VỀ ĐỐI TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

  Đối trong thơ Đường luật được thực hiện ở cặp thực và cặp luận. Đối còn có thể thực hiện ở cặp đề nếu bài thơ trốn vận (nghĩa là câu đầu không vần với câu 2 và vần của toàn bài). Đối cũng có thể thực hiện ở cả cặp kết của bài thơ.

   Đối được chú trọng cả về thanh và ý, thanh biểu hiện ở bằng đối với trắc, ý thì phải phù hợp với quan niệm phổ biến trong cộng đồng về đối chọi và sự chuẩn xác không thể cốt đối mà chẳng có ý nghĩa gì theo kiểu: Thần nông... đối với thánh sâu...[3]. Cũng cần tránh hiện tượng trùng phức, rõ là hai câu nhưng lại chỉ có một ý, nói đơn giản là bệnh nứa bổ dùng ý câu trên trùng lặp với ý câu dưới. Tóm lại đối là đặc trưng của thơ Đường luật. Nếu không đối thì không thể gọi là thơ Đường luật, nhưng giữa thanh và ý thì thi nhân nên hy sinh thanh để giữ ý. Dưới đây là một số phương pháp đối

 

XII.1. Công đối

   Đối thật hoàn chỉnh ta gọi là công đối, trường hợp này yêu cầu rất chặt chẽ, thậm chí từng từ của vế dưới đối với từng từ của vế trên. Trong đối còn yêu cầu từ thuần Việt đối với từ thuần Việt, từ Hán Việt đối với từ Hán Việt, thực từ đối với thực từ, hư từ đối với hư từ, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ vv...

   Theo Nguyễn Sĩ Đại, trong Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường thì ngay danh từ thôi cũng phải đối với danh từ thích hợp. Về thiên văn thì (nhật nguyệt đối với phong vân); về địa lý thì (sơn thuỷ đối với giang hà); về cung thất thì (lâu đài đối môn hộ); về văn cụ thì (bút đối với nghiên); về nhân sự thì (đạo đức đối với tài tình); về văn học thì (thi và phú); về thảo mộc thì (đào và lý); về ẩm thực thì (trà và tửu) vv...Theo Hoài Yên trong Học nhanh luật thơ Đường nói về Phép đối ngẫu đời Đường thì có đến 16 cách đối, trong đó 8 cách đối về nội dung và 8 cách đối về hình thức... Quả là hơi khó, nhưng có khó mới phải tìm hiểu. Dưới đây là một số cặp đối làm                ví dụ

 

Hà Thành xuân đến / còn phong  kín

Văn Miếu thơ về / chợt mở  toang

                  (Cả nước phang - Lê Trọng Hồng)

    Vườn hồng / tráng nắng / hương còn nức

    Lối cỏ / mù sương / lệ vẫn đầm

                         (Nghe đàn - Lê Trọng Hồng)

 

    Tiếng chim / sau núi / lưa thưa hót

    Bông gạo / trên cành / lặng lẽ rơi

    Ánh nắng / chiều vàng / đang tụ lại

    Vầng trăng / đêm trắng / sắp chia phôi

                  (Cuối xuân cảm tác - Lê Trọng Hồng)

 

   Một duyên / hai nợ / âu đành phận

   Năm nắng / mười mưa / dám quản công

                       (Thương vợ - Trần Tế Xương)

 

  Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện

  Điểm thuỷ thanh đình khoản khoản phi

                  (Khúc giang nhị thủ -  Đỗ Phủ)

 

Trong đối còn có nhiều cách khác nữa, trong đó: gồm Tiểu đối, tá đối, lưu thuỷ đối vv...

XII.2. Tiểu đối (còn gọi là tự đối)

 

      Ví dụ:

 

  PHONG KIỀU DẠ BẠC

             (Trương Kế)

 

Nguyệt lạc/ ô đề / sương mãn thiên

Giang phong / ngư hoả / đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán trung thanh đáo khách thuyền 

 

      HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ

               (Hạ Tri Chương)

 

 Thiếu tiểu ly gia / lão đại hồi

  Hương âm vô cải / mấn mao tồi

  Nhi đồng tương kiến/  bất tương thức

  Tiếu vấn khách tòng / hà xứ lai

 

    Tiểu đối là đối ngay trong câu; ý sau đối với ý trước. Trong câu có thể có 2 hoặc 3 vế tự đối như hai bài ví dụ trên.

 

XII.3. Lưu thuỷ đối

 

    Lưu thuỷ đối biểu hiện ở câu trên nói chưa hết ý lập thành một vế đối, câu dưới tương phản và chuyển tiếp ý  lập thành một vế đối thứ hai.         

 

         Ví dụ:

      Vế trên nói về một sự việc, còn vế dưới đối với vế trên, nhưng lại là sự chuyển tiếp ý của vế trên.

 

           Nhất nhật tại tù

           Thiên thu tại ngoại

                  (Nhật ký trong tù -Thơ Nguyễn Ái Quốc)

     

           Đã sinh ra ở trong trời đất

           Phải có danh gì với núi sông

                                    (Thơ Nguyễn công Trứ)

XII.4. Tá đối

                                                 

Tá đối là dùng những từ có nhiều nghĩa, khi biểu đạt thì dùng một nghĩa, khi đối thì dùng nghĩa khác của từ đó để đối với nhau.

 

Ví dụ 1:

 

 Cúc vàng rời khỏi đồi Hoàng Cúc

Sen trắng quay về bến Bạch Liên

Nắng hạ mưa thu đành cách biệt

Người về ta đến khó đoàn viên

                    (Biết đâu số phận - Trọng Hồng)

 

XII.5. Khoan đối                

                                           

Cũng có những bài thơ có các cặp đối không chỉnh hoặc không đối, đó là những trường hợp ta gọi là khoan đối. Khoan đối áp dụng cho những bài thơ có cấu tứ đặc sắc, tính tư tưởng, tính nghệ thuật cao, làm cho số đông người đọc thấy xúc động. Vì vậy người làm thơ hãy cứ để cho tâm hồn bay bổng, đừng vì chấp nhất về bất cứ điều gì làm cho bài thơ khô cứng và nhàm chán.

 

      Ví dụ:

 

Cánh sóng lăn tăn vờn cuối bãi

Làn mây hờ hững níu tầng không

                        (Về quê - Lê Trọng Hồng)

 

       Rõ ràng lăn tăn chỉ sự chuyển động, còn hờ hững chỉ tính cách. Cũng như trên từ cuối bãi đúng là chỉ vị trí cụ thể còn tầng không thì không. Có vẻ như đối đấy nhưng chỉnh thì chưa.

         Tuy nhiên cũng đã có người dùng từ lăn tăn để nói về sự phân vân theo cách nói lóng, như vậy thì nó cũng đã chỉ tính cách đấy chứ (?)

 

XIII. XƯỚNG HOẠ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

Xướng hoạ trong thơ Đường luật là việc dựa vào một một bài thơ khởi đầu của một người nào đó gọi là bài thơ xướng để viết một bài thơ khác hoạ lại bài thơ khởi đầu đó. Với cách làm này, những người làm thơ có thể tiếp xúc, đồng cảm, gần gũi với nhau hơn. Những bài hoạ có thể theo cùng chủ đề của bài xướng, nhưng cũng có thể theo một chủ đề khác, như vậy gọi là hoạ nương vần (hoạ bộ vận), điều đó hoàn toàn có thể được. Tuy nhiên nhất định không để từ thứ 6 của các câu bài hoạ lặp lại từ thứ 6 của các câu bài xướng.

Về hình thức hoạ có thể dựa hoàn toàn vào vần và trật tự các vần của bài xướng, hoặc chỉ dùng một số vần và thay đổi trật tự của tất cả các vần như nhiều cách dưới đây. Về phía bài xướng cần phải lưu ý đến sự thanh thoát, giầu xúc cảm về nội dung và hết sức tránh  các dạng bài có hình thức quá phức tạp cùng với các vần quá hiểm, quá khó tìm thì mới mong có được nhiều bài hoạ của mọi người.

 

XIII.1. Hoạ nguyên vần

 

Hoạ nguyên vần là bài hoạ phải theo sát chủ đề, giữ nguyên vần và xếp vần theo đúng thứ tự vần của bài xướng.

 

Ví dụ:

            Với các vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Phó thường dân dưới đây

 

PHÓ THƯỜNG DÂN

   (Bài xướng)

Từ ngày trở lại phó thường dân

Mọi sự đua chen cũng nhạt dần

Sáng đến đôi trang tăng trí não

Chiều về mấy chưởng giúp rèn thân

Cơm rau dưa giá thanh mà ngọt

Áo sợi bông tơ mát lại thuần

Phú quý mặc ai nơi huyện sở

Một mình vui cảnh phó thường dân

        Với các vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Với thường dân dưới đây

 

VỚI BÌNH DÂN

(Hoạ bài Phó thường dân)

Người nào chẳng ở chốn bình dân

Cố nhớ đừng quên mất gốc dần

Phú quý quen mùi chừng khó bỏ

Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân

Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp

Bình dị, thanh cao, tính cũng thuần

Cái sự làm mình ra khác lạ

Sao bằng trở lại với bình dân

 

XIII.2. Hoạ ngược vần (nghịch vận)

 

Hoạ ngược vần là bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng xếp vần theo thứ tự từ cuối ngược lên đầu

 

Ví dụ:Với các vần: thơ, giờ, sơ, chờ, thơ và ngược lại: thơ, chờ, sơ, giờ, thơ trong 2 bài thơ dưới đây

 

GẶP BẠN THƠ  

   (Bài xướng)

Bao năm mới gặp bạn yêu thơ

Cả nước về vui suốt mấy giờ

Chẳng kể trẻ già cùng lớn bé

Cần gì cũ mới với thân 

Chia tay ngày ấy đành xa cách

Họp mặt hôm nay luống đợi chờ

Mấy thuở cuộc đời ta được vậy

Nỗi niềm xúc cảm gửi vào thơ

 

 CHIA CÁCH

   (Hoạ bài Gặp bạn thơ)

Mấy dòng giã biệt chép thành thơ

Tặng lại cho ai vẫn đứng chờ

Tiếc bởi tiễn đưa đầy quý mến 

Trách vì chào đón quá đơn sơ

Vui khi thân mật chiều nay vậy

Buồn lúc chưa quen buổi bấy giờ

Chia cách đã gần trong chốc lát

Mấy dòng giã biệt chép thành thơ

 

XIII.3. Hoạ đảo vần

 

Hoạ đảo vần là bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể đảo thứ tự trên xuống dưới hoặc dưới lên trên một vài vần của bài xướng

 

THẮP LỬA XONG RỒI GẮNG CHỦ TRƯƠNG

          (Hoạ thơ Nguyễn Văn Liêm)

 

Chẵn chục năm theo với luật Đ­ường

Kinh Thầy bóng n­ước đã thơm hư­ơng

Ý tình nhã nhặn vang muôn nẻo

Cấu tứ thanh tao vọng bốn ph­ương

Mỗi chữ chuốt chau chừng đã khéo

Từng câu giản dị vốn không thư­ờng

Nhân về dự hội đôi lời chúc

Thắp lửa xong rồi gắng chủ tr­ương

GỬI VỀ NAM SÁCH VẠN YÊU THƯƠNG

(Hoạ thông, thơ Nguyễn Văn Liêm và Trần Thế Mẫn)

 

Mười năm bền chí với thơ Đường

Bóng nước Kinh Thầy thắm sắc hương

Đạo cốt thanh tao lời thánh thiện

Ý tình nhuần nhã dáng phong sương

Nhân văn phẩm hạnh vừa khai mở

Trí lực tâm tư đã khác thường

Một áng thơ mừng đầy ngưỡng mộ

Gửi về Nam Sách vạn yêu thương.

     

        - Bài Thắp lửa xong rồi gắng chủ trương với các vần: Đường, hương, phương, thường, trương.

          - Bài Gửi về Nam Sách vạn yêu thương với các vần: Đường, hương, sương, thường, thương.

 

       Hai bài trên được hoạ nguyên ý với các vần giống nhau: Đường, hương, thường cùng vị trí và phương, trương, sương, thương ở các vị trí tuỳ ý.

 

XIII.4. Hoạ loạn vần

 

Hoạ loạn vần là bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể thay đổi tuỳ ý vị trí của tất cả các vần. (xem ví dụ trên)

 

XIII.5. Hoạ lựa vần

 

Hoạ lựa vần là bài hoạ chỉ dùng một vài vần của bài xướng, các vần còn lại có thể thay đổi tuỳ ý người hoạ (xem ví dụ trên)

 

XIII.6. Hoạ nối vần

 

Hoạ nối vần là bài hoạ dùng cả câu cuối và vần của bài xướng làm câu đầu và vần của bài hoạ.

 

      Ví dụ:

 

            GIAO THỪA

           (Bài xướng)

 

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu

Kẻ đến dùng dằng mong nán lại

Ng­ười về tấp tểnh muốn qua mau

Ai giao ai nhận ai giao nhận

Ai đến ai về ai tiếp sau

Cái sự luân phiên không sở cứ

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

 

               VỀ HƯU

   (Hoạ bài Giao thừa)

 

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

Đơn độc mình ta cạn chén sầu

Sáu chục mùa xuân sao thấy ngắn

Mấy mươi cái tết thật là mau

Về hưu đã hẳn ta qua trước

Ở lại đương nhiên bạn đến sau

Cõi thế xưa nay không chịu đổi

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

 

            Hai bài trên được hoạ nguyên vần, câu cuối bài Giao thừa là câu đầu bài Về hưu.

 

PHẦN II.

MỘT SỐ BÀI THƠ TRÍCH DẪN

 

PHÓ THƯỜNG DÂN

 (Bài xướng)

Từ ngày trở lại phó thường dân

Mọi sự đua chen cũng nhạt dần

Sáng đến đôi trang, tăng trí não

Chiều về mấy chưởng, giúp rèn thân

Cơm rau, dưa, giá thanh mà ngọt

áo sợi, bông, tơ mát lại thuần

Phú quý mặc ai nơi huyện sở

Một mình vui cảnh phó thường dân

 

VỚI BÌNH DÂN

 (Hoạ bài Phó thường dân)

Người nào chẳng ở chốn bình dân

Cố nhớ đừng quên mất gốc dần

Phú quý quen mùi chừng khó bỏ

Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân

Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp

Bình dị, thanh cao, tính cũng thuần

Cái sự làm mình ra khác lạ

Sao bằng trở lại với bình dân

 

SÁU MƯƠI

Sáu mươi lặng lẽ bước đường xa

Thoắt cái thời gian đã đến già

Khúc hát xông pha chưa kịp dứt

Bài thơ chiêm nghiệm mới vừa ra

Vườn xuân cứ hẹn kêu đi tới

Ngõ trúc khi cần đón lại qua

Muôn sự ngoài đời không vướng bận

Đôi dòng thi phú một hồn ta.

 

CẢ NƯỚC PHANG

(Hoạ bài Con chuột của Yên Thao)

Năm Hợi qua rồi năm Tý sang

Thời gian ngắn ngủi có vài gang

Hà Thành xuân đến còn phong kín

Văn Miếu thơ về chợt mở toang

Đạo chích gian tham cho xuống hố

Quan liêu mệnh lệnh nhét vào hang

Kẻ nào ngoan cố còn nằm đó

Gậy mới đang chờ cả nước phang

 

ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC

 Núi Phượng chiều nay đỏ sắc cờ

Đền đài mới dựng giữa hoang sơ

Trường xưa hoa nở trò đang đợi

Điện mới thông reo khách vẫn chờ

Sửa đức can người lo vận hội

Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ

Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm

Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ

 

NGHE ĐÀN

Gác nhỏ bên sông chợt ghé thăm

Đàn ai dìu dặt cất thanh âm

Vư­ờn hồng tráng nắng hư­ơng còn nức

Lối cỏ mù sương lệ vẫn đầm

Vần vũ mây giăng chùa trư­ớc mặt

Nhạt nhoà khỏi phủ núi xa xăm

Rót hồn trên phím ai trăn trở

Dục khách qua đư­ờng nảy khúc ngâm

 

KHAO THƠ

Gặp buổi thanh nhàn đến với nhau

Cần chi nghèo khó với sang giầu

Me chua mấy quả, sôi trong nước

Muối lạc đôi hòn, trộn dưới âu

Chọn tứ, tìm câu mời tiếp chén

Lựa vần, sửa đối dục thay bầu

Thong dong cuối tháng lương chưa tới

Vẫn hẹn khao thơ đãi một chầu

 

XUÂN ĐẾN NHÀ

Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa

Mừng được đông vui đủ trẻ già

Trong bếp đàn con đang sắp cỗ

Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà

Nụ đào chúm chím hồng bên cửa

Cành lộc đu đưa biếc giữa nhà

Đôi khổ thơ xuân còn ướt mực

Một ly nước mới dậy hương trà.

  

HỘI XUÂN QUÊ

Một hội xuân quê mới mở ra

Chia vui khắp hết cả muôn nhà

Sân đu đầy chặt trai bên gái

Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già

Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn

Cuối thôn hể hả lúa thêm trà

Đất trời toả rộng hương no ấm

Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.

 

CUỐI XUÂN CẢM TÁC

 Xuân đã dần qua cuối tiết rồi

Gốc đào trước cổng đứng đơn côi

Tiếng chim sau núi lưa thưa hót

Bông gạo trên cành lặng lẽ rơi

Ánh nắng chiều vàng đang tụ lại

Vầng trăng đêm trắng sắp chia phôi

Giật mình mới đó mười năm lẻ

Một áng thơ buồn tỏ khúc nhôi

 

THỨC

Xa cách từ khi ấy đến nay

Quê xưa vẫn mãi ở tim này

Ai mơ muôn dặm đầy sương tuyết

Ta mộng lối về xanh cỏ cây

Đầu sáng mỏi mòn xem bóng nắng

Nửa chiều da diết ngắm chân mây

Nào ai biết được nhiều đêm thức

Trong lúc bao người đã giấc say.

  

MỘNG VỀ QUÊ

Bao núi bao sông đã lội qua

Đêm nay chợt nhớ đến quê nhà

Đầu ghềnh n­ước cũ chao lư­ờn sóng

Cuối bãi trăng x­ưa rọi luống cà

Mái lá liêu xiêu nền đất ư­ớt

Sân rêu vắng lặng vết chân nhoà

Trăm năm chớp mắt trôi qua cửa

Để lại bên song bóng nguyệt tà

 

TH­ƯƠNG QUÊ GẶP NẠN

Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà

Bão liền mấy trận thảy đều qua

Vuông tôm mới đắp không còn vết

Chạt muối chưa thu cũng chảy xoà

Sức vóc bao nhiêu đành mất cả

Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà

Đành rằng hoạn nạn đâu không thế

Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà

 

RỪNG CHIỀU

Từng b­ước theo  mây đến đỉnh đèo

Cúi mình ngó xuống giữa trong veo

Đôi dòng suối nhỏ dăng dăng chảy

Một vạt rừng non cuộn cuộn reo

Lấp loáng trên mây tung bọt trắng

Gập ghềnh dưới đá phủ xanh rêu

Hoang sơ cõi ấy kìa ai tạo

Để khách bâng khuâng giữa cảnh chiều

 

QUA BÃI KHÁCH XƯA

Mỗi ngày một trạm đã đi qua

Rừng rậm toàn cây chẳng có nhà

Võng vải treo lên đu bổng tít

Hoàng Cầm thắp đỏ khói luồn xa

Gió Lào thốc xuống ròn lưng áo

Sương muối trùm lên trắng mặt ga

Bãi cũ chiều nay không có khách

Lờ mờ dọc suối lối chân qua

 

GẶP ĐƯỜNG DÂY CŨ

Lối cũ không ai đến đã lâu

Còn đây bãi khách buổi ban đầu

Rêu xưa cố bám bờ đen xám

Bọt mới tan theo sóng đỏ ngầu

Hiu hắt lều hoang đôi cột võng

Trơ vơ bến vắng một chân cầu

Đường dây vẫn đó người không tới

Bên góc rừng thưa gợi khúc sầu

 

QUA BẾN ĐẠI THAN

Chỉ thấy đay xanh kín bãi bồi

Bình Than ẩn bóng mé sông đôi

Bến xưa trống trận rung bao nhịp

Đền mới chuông trưa điểm mấy hồi

Nào thuở gươm thề nung thép chảy

Đâu thời hịch gọi cháy dầu sôi

Con đò cắt sóng qua dòng Cái

Hào khí Đông A lộng gió trời.

 

GỖ KHẢM LIÊN HÀ

Lưu truyền vốn cổ tự ông cha

Khảm tỉa soi châm vẫn nếp nhà

Rồng cuốn hổ nằm thâm sắc gụ

Công xoè phượng múa đỏ vân hoa

Mắt thầy khéo tạo hình muông thú

Tay thợ quen đưa nét kỷ hà

Chợt thấy hồn thơ trong thớ gỗ

Lung linh huyền ảo xứ Liên Hà

TRỞ LẠI CỔ LOA

Mấy chục năm rồi mải đó đây

Xuân nay về lại với nơi này

Thành x­ưa chặn giặc đang còn dấu

Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy

Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín

Đền càng đầy chặt khói hương bay

Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất

Để những hòn tên rỉ bám đầy

 

VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH 

Vạn lý non sông vạn lý thành

Vồng lên dốc xuống lượn vòng quanh

Chon von đỉnh núi làn mây trắng

Bát ngát chân trời thảm cỏ xanh

Thảng thốt lòng khe con nước chảy

Bâng khuâng bậc đá mái đồn canh

Mang mang khí trận dường chưa tạnh

Xe cá về kinh gió vẫn tanh

 

HOA THU

Vư­ờn ai cháy sáng giữa heo may

Khóm cúc vàng tươi nở đắm say

Thấp thoáng bầy ong đu dưới lá

Chập chờn đàn b­ướm lượn trong cây

Hư­ơng buồn mới thả tan vào gió

Màu nhớ vừa pha quyện dưới mây

Gợi nỗi cô đơn chiều vắng lạnh

Hoa thu người gửi vẫn còn đây.

 

CẢM THU

(Hoạ bài buồn thu)

Chiều quê nhè nhẹ toả hương may

Đôi chén sầu đong lắc chẳng đầy

Mái lá đáy hồ thoi thóp ngủ

Mảnh đò trên bãi lặng yên say

Đất trời vẫn cứ còn nguyên thế

Gió cát nào đâu đã đổi thay

Chẳng biết hôm nao vàng trút sạch

Để mầm xanh mới nảy nơi đây

 

ĐÊM THU

Bên trời vàng ủng ánh trăng suông

Từng đợt heo may gõ cửa buồng

Loáng thoáng trại xa đôi tiếng gáy

Chập chờn chùa cũ một hồi chuông

Thương con vạc trắng còn chưa ngủ

Giận lũ chim non đã động chuồng

Năm tháng mải mê chừng đã mỏi

Đêm thu dài rộng trải trên giường.

 

HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG

 (Bến Triều hè Đinh Hợi)

Hoàng hôn đã tắt cuối triền sông

Những chiếc sà lan chạy giữa dòng

Mấy khúc cuộn mình ôm sóng cả

Một đầu gầm rú vỡ thinh không

Giang sơn mấy độ qua chinh chiến

Đất nước từng phen đổ máu hồng

Muôn cuộc qua rồi không trở lại

Ngàn sau còn đó giữa mênh mông

 

BIẾT ĐÂU SỐ PHẬN

Nếu biết ta mình chẳng có duyên

Thì thôi đành vậy cố mà quên

Cúc vàng rời khỏi đồi Hoàng Cúc

Sen trắng quay về bến Bạch Liên

Buồn đó đợi qua kỳ cách biệt

Vui đây chờ đến lúc đoàn viên

Biết đâu số phận bày ra thử

Cố gắng kiên trì sự  mới nên

 

CẢM XÚC SAO ĐỎ

(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)

Thị trấn thanh xuân mới buổi nào

Thời gian thấm thoắt có là bao

Bước chân đi tới đường thêm rộng

Ánh mắt nhìn sang phố đã cao

Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy

Trường vui trẻ đến sóng sôi trào

Ba mươi năm ấy miền quê núi

Rực cháy huy hoàng một ánh sao.

 

XIV. ĐÔI LỜI CUỐI SÁCH

 

        Làm thơ vốn là công việc cả đời của những người theo nghiệp văn chương. Cũng giống như cầy cấy gieo trồng là công việc của người nông dân vậy. Cái sự làm thơ hay cầy cấy cho dù tài giỏi đến đâu thì cũng phải tìm tòi, phải học mới làm tốt được. Những ngưòi không hoàn toàn theo nghiệp văn chương nhưng lại yêu thơ và thích làm thơ nhưng chưa có nhiều thời gian đi sâu tìm hiểu cách thức làm thơ thì đọc, viết và tìm hiểu luôn cho những kết quả tốt đẹp. Khi ta đi sâu nghiên cứu mới thấy nhiều cái ta còn nông cạn và thiếu hiểu biết dường bao.

       Viết được đôi điều trên ra giấy thực chất là sự cố gắng trong việc tìm đọc và xin vắng mặt nhiều kiến thức của các tác giả đã viết ra trước đó trong giáo khoa và trong các nghiên cứu đã được in thành sách. Trong đó còn có cả công sức của nhiều người trong sự góp ý sửa chữa. Đáng quý hơn nữa là cho cả những sáng tác tâm huyết của mình để làm mẫu. Xin được trân trọng cảm ơn tất cả và mong sự thể tình cho những sai sót nếu có.

         Về phần nội dung của sách, cũng xin bày tỏ rằng với tinh thần hiểu thế nào thì viết thế ấy, ngõ hầu để các bậc thi huynh, thi hữu cùng tiếp tục góp ý. Mong sao một ngày không xa nữa có một tài liệu đơn giản, dễ hiểu và tốt hơn dùng cho mọi người

 

                          Viết xong tháng 6 năm 2002

                 Sửa lại tháng 11/2008        

                            Lê Trọng Hồng

 

[1] Theo Lý luận văn học /trang 328 NXB giáo dục

[2] Theo lý luận văn học - NXB giaó dục

[3] Dân gian bài bác những người luôn máy móc từ hai vế đối: “Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc / Thánh sâu gươm vua gừng tam cò” 

 

 MỤC LỤC

Đôi lời mở đầu

PHẦN 1: KẾT CẤU BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

I. CÂU TỪ TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

II. VẦN VÀ HIỆP VẦN THƠ ĐƯỜNG LUẬT.

II.1. Hiệp vần trong bài tứ tuyệt: có 3 vần

II.2. Hiệp vần trong bài bát cú: có 5 vần

II.3. Chính vần (Chính vận)

II.4. Vần gần đúng (Bàng vận)

II.5. Vần bằng và vần trắc

II.6. Bớt vần (chiết vận)

II.7. Bớt từ

III.  LUẬT THƠ ĐƯỜNG LUẬT

III.1. Khái niệm về luật thơ Đường luật

III.2. Sơ đồ các dạng thơ Đường luật

III.3. Các bài Đường luật theo sơ đồ

IV. NIÊM THƠ

V. NHỊP ĐIỆU TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

V.1. Ngắt nhịp

V.2. Dấu phân cách

V. GIẢN HOÁ VỀ LUẬT

VI. KIỂM TRA NHANH NIÊM VÀ LUẬT

VI.1. Kiểm tra về luật

VI.2. Kiểm tra về niêm

VII. VỀ SỰ LẶP LẠI CỦA CÁC TỪ

VIII. VỀ VIỆC SỬ DỤNG HƯ TỪ

IX. VÀI DẠNG THƠ ĐƯỜNG LUẬT ĐẶC BIỆT

X. CÁCH DÙNG TỪ NGỮ TRONG THƠ ĐƯỜNG

X.1. Chiết tự

X.2. Tránh khổ độc

X.3. Tránh quá mức cầu kỳ

XI. CẤU TRÚC CỦA BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

XI.1.Tìm hiểu về đầu đề bài thơ

XI.2. Tìm hiểu về hai câu đề

XI.3. Tìm hiểu về hai câu thực

XI.4. Tìm hiểu về hai câu luận

XI.5. Tìm hiểu về hai câu kết

XII. VỀ ĐỐI TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

XII.1. Công đối

XII.2. Tiểu đối (còn gọi là tự đối)

XII.3. Lưu thuỷ đối

XII.4. Tá đối

XII.5. Khoan đối

XIII. XƯỚNG HOẠ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

XIII.1. Hoạ nguyên vần

XIII.2. Hoạ ngược vần (nghịch vận)

XIII.3. Hoạ đảo vần

XIII.4. Hoạ loạn vần

XIII.5. Hoạ lựa vần

XIII.6. Hoạ nối vần

PHẦN II.

MỘT SỐ BÀI THƠ TRÍCH DẪN

XIV. ĐÔI LỜI CUỐI SÁCH

 

 

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

VỀ VỚI HỘI LÀNG

EM THEO VỀ HỘI

Bao mùa bận việc nơi xa

Gặp khi tết đến về nhà quê xưa

Dạo qua Đồng Cửa, Vườn Rừa

Nắng xanh Đồng Xác, khói mờ Đồng Din

Ai đang lạ lẫm đứng nhìn

Người làng ta cả, em tin vậy mà

Mạ sân vừa đến độ già

Chỉ vài bữa nữa ruộng nhà cấy xong

Hội làng vừa đến độ đông

Em theo về hội, anh không phải chờ.

 

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

TÌM HIỂU VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT (PHẦN II)

b) Niêm

 

Niêm trong thơ Đường luật chỉ sự kết dính của các câu theo một quy tắc bắt buộc. Niêm xác định bởi từ thứ 2 của các câu theo thể thức từng cặp giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc.

 

- Trong thơ tứ tuyệt niêm là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2 của các cặp câu: 1-4; 2- .

 

- Trong thơ thất ngôn bát cú niêm là sự kết nối giống nhau cùng bằng hoặc cùng trắc các từ thứ 2 của các cặp câu: 1-8; 2- ; 4-5; 6-7.

         Ví dụ:   

 

                  Sáu mươi

                  (Lê Trọng Hồng)

           

Sáu

mươi

lặng lẽ bước đường xa

Thoắt

cái

thời gian đã đến già

Khúc

hát

xông pha chưa kịp dứt

Bài

thơ

chiêm nghiệm mới vừa ra

Vườn

Xuân

 cứ hẹn kêu đi tới

Ngõ

Trúc

khi cần đón lại qua

Muôn

sự

ngoài đời không vướng bận

Đôi

dòng

thi phú một hồn ta.

 

            Cặp 1-8 cùng bằng (mươi / dòng); cặp 2-3 cùng trắc (cái / hát); cặp 4-5 cùng bằng (thơ / xuân); cặp 6-7 cùng trắc (trúc / sự)

 

c) Giản hoá về luật

 

            Cả 4 sơ đồ trên nếu thực hiện đúng cả thì rất tốt. Tuy vậy trong thực hành chỉ cần giữ đúng bằng trắc với các từ ở cột 2, 4, 6 là được (đương nhiên cột 7 là cột gieo vần thì phải tuân thủ đúng). Với gợi ý này các cụ ta xưa nói: “Nhất, tam, ngũ bất luận - Nhị, tứ, lục phân minh” là thế.

 

d) Kiểm tra nhanh Niêm và Luật của bài thơ

 

Khi đã quen thuộc với thơ Đường luật thì ít khi người làm thơ bị sai về niêm, luật. Nhưng khi mới làm thì không thể tránh được sự sai sót này. Để cho dễ nhớ chỉ cần chú ý kiểm tra các điểm sau:

 

1- Kiểm tra về luật

 

- Từ  thứ  2 và thứ 6 trong câu bao giờ cũng cùng bằng hoặc cùng trắc. 

- Từ thứ 4 trong câu ngược lại với từ 2 và 6.

 

      2- Kiểm tra về niêm

 

            - Từ thứ 2 của các câu trong bài cùng bằng hoặc cùng trắc theo từng cặp một trong đó gồm: 1-8; 2-3; 4-5; 6-7.

                               

                đ- Về sự lặp lại của các từ

            Người làm thơ Đường luật luôn cho rằng 28 từ trong bài thơ tứ tuyệt hay 56 từ trong bài thất ngôn bát cú là những viên ngọc. Mỗi viên có sắc thái của nó trong cái hộp ngọc ấy. Nếu vì một điều gì đó không cần thiết mà phải lặp lại thì lấy làm tiếc cho sự thiếu vắng của viên ngọc đó. Vì thế nếu không cần sự nhấn mạnh hoặc tôn vinh một điều gì thì không nên lặp lại các từ trong bài.

            Tuy nhiên việc lặp lại nhiều lần một vài từ đôi khi xuất phát từ một chủ ý nào đó mà tác giả muốn gửi đến độc giả. Dưới đây là một ví dụ lặp lại từ. Nếu tách 2 từ xuân ở hai câu đề, còn lại có đến 14 từ xuân đối với 14 từ tết.

 

            Ví dụ:

 

 Khai bút khai xuân 

     (Thơ mời hoạ)

 

Chào xuân khai bút viết thơ xuân

Mời bạn gần xa hoạ mấy vần

Xuân đến, xuân sang, xuân gặp tết

Tết về, tết lại, tết tìm xuân

Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết

Tết tới một năm tết đợi xuân

Xuân! Tết! Xuân xuân! Xuân tết tết

Tết! Xuân! Tết tết! Tết xuân xuân.  

 

Tuy nhiên trong một bài ta cũng nên có 28 từ bằng và 28 từ trắc. Nếu có khoan hoãn thì cũng giữ lấy tỉ lệ 27/29 thì bài thơ sẽ hay hơn.

 

e- Về việc sử dụng hư từ

 

            Những người làm thơ giỏi khuyên ta nên sử dụng biện pháp tu từ và dùng cách tả thực hoặc diễn thực ý, lời để bài thơ sinh động, tránh dùng những hư từ như thì, mà, là, cũng, đã, vì, với, vẫn vv... trong thơ. Tuy nhiên nếu sử dụng hư từ khéo thì vẫn có hiệu quả đáng kể.         

 

Ví dụ:

 

...Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh thế mới hời...

           (Vịnh tiến sĩ giấy - Nguyễn Khuyến)

 

Sao mà và thế mới trong Vịnh tiến sĩ giấy chính là những hư từ, những hư từ trên đây dùng quả là khéo.

 

g- Một vài dạng thơ Đường luật đặc biệt

 

            Ngoài những quy tắc về luật và vần nói trên, những người chơi thơ Đường luật còn sáng tạo ra khá nhiều kiểu đặc biệt. Đã có nhiều tác giả giới thiệu đến 99 cách chơi thơ Đường luật. Dưới đây là một vài ví dụ để tham khảo.

            Một trong những cách đó là kiểu Thuận nghịch đọc, với kiểu bài này thì làm 1 mà hoá 2; thực chất đây là 2 bài thơ riêng biệt

 

Thuận nghịch đọc

(Đọc ngược từ dưới lên)

 

Bến nhớ

 (Xuân Nghiệp)

 

Hoa đùa nắng sớm gió đưa hương

Nhớ bến cho tình chút vấn vương

Nhoà lệ ướt mi hàng liễu rủ

Bước chân nghiêng nón bóng người thương

Xa mờ khói thẳm mây vờn núi

Giá lạnh thân cò cánh đợ sương

Tha thiết bến tình sông gợn sóng

Tà dương ánh ngả bóng lồng gương

 

Thủ nhất thanh

(Dùng một từ cho đầu câu)

 

            Thủ nhất thanh là bài thơ có một từ duy nhất đứng đầu mỗi câu, như bài Nợ dưới đây. Những bài này mang hình thức chơi thơ là chính.

 

          Nợ

  (Lê Trọng Hồng)

 

Nợ trời, nợ đất, nợ non sông

Nợ khắp muôn người thật rõ đông

Nợ mẹ, nợ cha miền dưỡng dục

Nợ chồng, nợ vợ cuộc đời chung

Nợ thầy, nợ bạn ơn đào luyện

Nợ xóm, nợ làng lúc góp công

Nợ cõi trần gian ngày sống gửi

Nợ đời chừng ấy biết hay không.

                               

Khoán thủ thi

         (Đầu câu viết theo một câu định trước)

     Đây là dạng thơ dùng các từ ở đề làm từ đầu cho từng câu một của bài thơ

 

Đường thi thắp sáng mở hội núi sông 

 (Lê Trọng Hồng)   

                                                                                                   

Đường luật bung ra khắp mọi miền

Thi đàn dìu dặt cuộc giao duyên

Thắp đèn mơ đến miền kim cổ

Sáng bút soi vào cõi thánh tiên

Mở lối muôn nơi gieo tứ mới

Hội về mọi ngả nối vần lên

Núi Nùng lưu dấu nền văn hiến

Sông Nhị khơi dòng toả rộng thêm

 

Tiệt hạ

 (Đã đủ vận nhưng ý còn bỏ lửng)

Đây là dạng thơ không nói hết ý của các câu nhưng thực tế khi đọc lên dường như mọi người đều đã hiểu cả

 

Hư danh

(Lê Trọng Hồng)

 

Ngộ tý văn chương đã tưởng là...

Cố công học hỏi để cho ra...

Nào hay vừa đó người rằng sắp...

Biết vậy hôm xưa tớ chẳng thà...

Trót đã theo đòi nên cũng phải...

Thôi thì níu bám để cho qua...

Cũng vì sĩ diện xui nên cảnh...

Vì cái hư danh đến nỗi mà...

 

4- Tìm hiểu về cách dùng từ ngữ trong thơ Đường

 

      a) Chiết tự

            Đây là cách triết tự trong thơ chữ Hán. Ghép từng phần của chữ để chỉ sự việc)

 

Ví dụ:

 

Duyên thiên chưa thấy nhô đầu trọc

Phận liễu sao đà nảy nét ngang

Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa

Mảnh tình một khối thiếp xin mang...

        (Không chồng mà chửa - Hồ Xuân Hương)

 

            Chữ Thiên () kéo dài đầu lên thành chữ () Phu / chồng, đây chỉ sự chưa có chồng. Chữ Liễu () nếu có nét ngang thành ra chữ () tử / con, đây chỉ sự đã có con.

 

            Nhớ chửa là câu hỏi nhưng lại chỉ người phụ nữ có chửa, xin mang là câu chỉ sự chấp nhận nhưng lại chỉ sự mang thai .

 

b) Tránh khổ độc

            Một số bài thơ làm theo tiêu chí (nhị, tứ, lục phân minh) nhưng khi áp dụng (nhất, tam, ngũ bất luận) lại để từ thứ 5 (ngũ) và thứ 7 (thất) cùng bằng hoặc cùng trắc (nói rõ hơn là từ cuối câu cùng bằng hoặc cùng trắc) dẫn đến câu thơ khi đọc lên thấy cộc và không êm tai, những trường hợp này gọi là khổ độc cần chú ý tránh  phạm phải như ví dụ dưới đây.

 

            Ví dụ 1:

 

 

- Từ 5 (Về), từ 7 (Mai) câu 1 dưới đây đều cùng bằng (hoặc cả 3 từ cuối (về Thanh Mai) cùng bằng).

 

Vui chân theo bạn về Thanh Mai

Mới thấy đường đi cũng chẳng dài

 

 

- Thay Đến (trắc) vào Về (bằng), ta có từ 5 trắc và từ 7 bằng, câu thơ đọc lên sẽ êm hơn.

 

Vui chân theo bạn Đến Thanh Mai

Mới thấy đường đi cũng chẳng dài

 

            Ví dụ 2:

 

- Từ 5 (gọi), từ 7 (động) câu 1 dưới đây đều cùng trắc hoặc cả 3 từ cuối (gọi chẳng động) cùng trắc

 

Cánh cổng lầm lỳ GỌI chẳng động

Bờ tường ngất ngưởng KÊU không qua

 

- Thay KÊU vào GỌI của câu thơ trên, ta có từ 5 bằng và từ 7 trắc. Thay từ GỌI vào KÊU của câu thơ dưới, ta có từ 5 trắc và từ 7 bằng, đọc lên sẽ êm hơn.

            Cánh cổng lầm lỳ KÊU chẳng động

            Bờ tường ngất ngưởng GỌI không qua

     

c) Tránh quá mức cầu kỳ

 

            Vấn đề từ ngữ trong thơ Đường luật có rất nhiều kiến giả cho rằng cần phải lựa chọn kỹ, đó là sự tất yếu, tuy nhiên nếu quá chú trọng, khuôn phép thường làm mất đi cái giản dị, tự nhiên. Ngày nay đã thấy nhiều kiến giả cho rằng thơ Đường luật cũng nên sử dụng từ ngữ dung dị trong đời sống để bài thơ đỡ khô cứng mở rộng sự tiếp nhận của mọi tầng lớp trong xã hội.

 

5- Tìm hiểu về đầu đề bài thơ

 

            Thơ Đường luật rất coi trọng đầu đề. Đầu đề bài thơ chỉ rõ thực chất bài thơ nói về cái gì, có như thế độc giả mới có thể hiểu được ý tứ của tác giả. Đầu đề bài thơ Đường luật của các cụ ta xưa luôn ngắn gọn và cô đọng. Sức biểu đạt của đầu đề rất đặc trưng và không kém phần gợi cảm. Dưới đây xin dẫn bài Thiếu nữ đi tu của cụ Tú Xương cho nội dung tìm hiểu thơ Đường tiếp theo

 

6- Tìm hiểu về hai câu đề của bài thơ

 

Trong thơ thất ngôn bát cú hai câu đầu được xác định là một cặp đề. Đây là những câu mở đầu của một bài thơ Đường luật làm rõ thêm cho chủ đề bài thơ.

 

Ví dụ: Hai câu đề trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

 

Con gái nhà ai dáng thị thành

Cớ sao nỡ phụ cái xuân xanh

 

            Câu 1 gọi là phá đề “Con gái nhà ai dáng thị thành” với chức năng giới thiệu mở đầu. Câu 2 gọi là thừa đề “Cớ sao nỡ phụ cái xuân xanh” với chức năng mở rộng và làm sáng tỏ thêm

 

7- Tìm hiểu về hai câu thực của bài thơ

 

            Hai câu 3 và 4 là hai câu thực. Hai câu này nêu lên những hình ảnh, sự việc, trạng thái đã có, đã nhìn, nghe hoặc cảm nhận được, làm chứng cớ cho những điều ta sẽ bàn luận đến và rồi phổ vào đó cái nhận định, cái chủ ý mà ta muốn mọi người cùng hiểu với ta. Hai câu thực phải có cấu trúc là một cặp đối chọi với nhau. 

 

            Ví dụ: Hai câu thực trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

 

Nhạt màu son phấn say màu đạo

Mở cánh từ bi khép cánh tình

 

8- Tìm hiểu về hai câu luận trong thơ Đường luật

 

            Hai câu 5 và 6 là hai câu luận. Hai câu này nói rõ những nhận định của ta về cái mà 2 câu đề và 2 câu thực của bài thơ vừa mới tạo ra. Hai câu luận cũng là một cặp đối thứ 2 trong bài thơ. Luận là phần quan trọng trong cấu tứ bài thơ. Nếu bài thơ không có luận thì người ta không biết bấu víu vào đâu để mà hiểu tác giả nữa.

            Nói như vậy thì một số bài thơ Đường có ý trốn luận có lẽ không còn tứ nữa? Hoàn toàn không phải như thế vì cho dù có trốn luận thì hai câu ấy vẫn hiện diện. Nó có thể là hai câu thực nữa và cặp thực thứ hai này chồng chận lên cặp thực trước nó. Như thế thì cái luận đã xuất hiện rồi, xuất hiện bằng sự nhấn mạnh vậy. Tuy nhiên luận rõ, luận sắc sảo, luận hay vẫn là điều không thể thiếu.

 

            Ví dụ: Hai câu luận trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

 

Miệng đọc nam vô quên chín chữ

Tay lần tràng hạt phụ ba sinh

 

            Hai từ (quên) và (phụ) chính là ý kiến tác giả phê phán về cái sự đi tu của cô gái nọ chính là cái sự quên báo hiếu, phụ công cha mẹ sinh thành. Luận rõ và rất cụ thể.

 

9- Tìm hiểu về hai câu kết trong thơ Đường luật

 

Gọi là kết có nghĩa là cuối của một vấn đề. Tại điểm đó người ta chờ đợi một nhận định cụ thể sau sự phô diễn của ba cặp đề, thực và luận trên kia. Kết hoàn toàn là sự khảng định lại những gì mà ta đã bàn luận trước đó. Kết có thể nói rõ hơn ra cái sự nhận định của tác giả và cái đích của bài thơ đã rõ.

Tuy nhiên một số cặp kết của nhiều tác giả lại không tỏ quan điểm của tác giả mà chỉ là sự gợi mở dành cho người đọc tự kết luận lấy. Những bài thơ có tầm vóc là những bài cho đến cuối cùng tác giả vẫn còn để lại một khoảng để độc giả cùng suy ngẫm, cùng tưởng tượng và cùng sáng tạo. Nghĩa là bài thơ có chủ đề tư tưởng thật rộng, ai đọc nó cũng thấy có cái bản ngã trong đó. Bài thơ không còn của riêng ai và cũng không còn là của tác giả nữa. Khái niệm sáng tác và tác giả mờ dần đi để sản phẩm trở thành tài sản trí tuệ vô giá, tồn tại đến muôn đời.

 

            Ví dụ: Hai câu kết trong Thiếu nữ đi tu của Tú Xương

 

Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế

Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh

 

Đến cuối cùng thì tác giả đã chỉ ra rằng một cô gái xuân xanh hơ hớ như thế sao lại nỡ phụ công cha mẹ để đi tu và điều đó thật đáng tiếc, đáng trách. Một cái kết mở rõ và cũng rất cụ thể.

 

10- Tìm hiểu về đối trong thơ đường luật

 

Đối trong thơ Đường luật được thực hiện ở cặp thực và cặp luận. Đối còn có thể thực hiện ở cặp đề nếu bài thơ trốn vận (nghĩa là câu đầu không vần với câu 2 và vần của toàn bài). Đối cũng có thể thực hiện ở cả cặp kết của bài thơ.

Đối được chú trọng cả về thanh và ý, thanh biểu hiện ở bằng đối với trắc, ý thì phải phù hợp với quan niệm phổ biến trong cộng đồng về đối chọi và sự chuẩn xác không thể cốt đối mà chẳng có ý nghĩa gì theo kiểu: “Thần nông... đối với thánh sâu...”. Cũng cần tránh hiện tượng trùng phức, rõ là hai câu nhưng lại chỉ có một ý, nói đơn giản là bệnh “nứa bổ” dùng ý câu trên trùng lặp với ý câu dưới. Tóm lại đối là đặc trưng của thơ Đường luật. Nếu không đối thì không thể gọi là thơ Đường luật. Tuy nhiên giữa thanh và ý thì nên hy sinh thanh để giữ ý.

 

a) Công đối

 

Đối thật hoàn chỉnh ta gọi là công đối, trường hợp này yêu cầu rất chặt chẽ, thậm chí từng từ của vế dưới đối với từng từ của vế trên. Trong đối còn yêu cầu từ thuần Việt đối với từ thuần Việt, từ Hán Việt đối với từ Hán Việt, thực từ đối với thực từ, hư từ đối với hư từ, danh từ đối với danh từ, động từ đối với động từ, tính từ đối với tính từ vv...

Theo Nguyễn Sĩ Đại, trong “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” thì ngay danh từ thôi cũng phải đối với danh từ thích hợp. Về thiên văn thì (nhật nguyệt đối với phong vân); về địa lý thì (sơn thuỷ đối với giang hà); về cung thất thì (lâu đài đối môn hộ); về văn cụ thì (bút đối với nghiên); về nhân sự thì (đạo đức đối với tài tình); về văn học thì (thi và phú); về thảo mộc thì (đào và lý); về ẩm thực thì (trà và tửu) vv...Theo Hoài Yên trong “Học nhanh luật thơ Đường” nói về phép đối ngẫu đời Đường thì có đến 16 cách đối, trong đó 8 cách đối về nội dung và 8 cách đối về hình thức... Quả là hơi khó, nhưng có khó mới phải tìm hiểu.

 

Dưới đây là một số ví dụ về đối trong thơ Đường luật

 

Hà Thành xuân đến/ còn phong  kín

Văn Miếu thơ về/ chợt mở  toang                                         

       (Cả nước phang - Lê Trọng Hồng)

 

Vườn hồng/ tráng nắng/ hương còn nức

Lối cỏ/ mù sương/ lệ vẫn đầm

                (Nghe đàn - Lê Trọng Hồng)

Tiếng chim/ sau núi/ lưa thưa hót

Bông gạo/ trên cành/ lặng lẽ rơi

Ánh nắng/ chiều vàng/ đang tụ lại

Vầng trăng/ đêm trắng/ sắp chia phôi

         (Cuối xuân cảm tác - Lê Trọng Hồng)

 

Một duyên/ hai nợ/ âu đành phận

Năm nắng/ mười mưa/ dám quản công

                    (Thương vợ - Trần Tế Xương)

 

Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện

Điểm thuỷ thanh đình khoản khoản phi

               (Khúc giang nhị thủ -  Đỗ Phủ)

 

Trong đối còn có nhiều cách khác nữa, trong đó: Tiểu đối, tá đối, lưu thuỷ đối vv...

b) Tiểu đối (còn gọi là tự đối)

 

Ví dụ:

 

Phong kiều dạ bạc

 (Trương Kế)

 

Nguyệt lạc / ô đề / sương mãn thiên

Giang phong / ngư hoả / đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán trung thanh đáo khách thuyền 

 

Hồi hương ngẫu thư

 (Hạ Tri Chương)

 

Thiếu tiểu ly gia / lão đại hồi

Hương âm vô cải / mấn mao tồi

Nhi đồng tương kiến bất tương thức

Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai

 

Tiểu đối là đối ngay trong câu; ý sau đối với ý trước. Trong câu có thể có 2 hoặc 3 vế tự đối như hai bài ví dụ trên.

 

c) Lưu thuỷ đối

 

Lưu thuỷ đối biểu hiện ở câu trên nói chưa hết ý lập thành một vế đối, câu dưới tương phản và chuyển tiếp ý lập thành vế đối thứ hai.

            Ví dụ:

 

            Vế trên nói về một sự việc, còn vế dưới đối với vế trên, nhưng lại là sự chuyển tiếp ý của vế trên.

 

     Nhất nhật tại tù

     Thiên thu tại ngoại

                 (Nhật ký trong tù -Thơ Nguyễn Ái Quốc)

     

      Đã sinh ra ở trong trời đất

      Phải có danh gì với núi sông

                          (Thơ Nguyễn công Trứ)

 

       d) Tá đối       

                                                 

Tá đối là dùng những từ có nhiều nghĩa, khi biểu đạt thì dùng một nghĩa, khi đối thì dùng nghĩa khác của từ đó để đối với nhau.

 

Ví dụ 1:

 

Cúc vàng rời khỏi đồi Hoàng Cúc

Sen trắng quay về bến Bạch Liên

Nắng hạ, mưa thu đành cách biệt

Người về, ta đến khó đoàn viên

           (Biết đâu số phận- Trọng Hồng)

 

đ) Khoan đối                   

                                                     

Cũng có những bài thơ có các cặp đối không chỉnh hoặc không đối, đó là những trường hợp ta gọi là khoan đối. Khoan đối áp dụng cho những bài thơ có cấu tứ đặc sắc, tính tư tưởng, tính nghệ thuật cao, làm cho số đông người đọc thấy xúc động. Vì vậy người làm thơ hãy cứ để cho tâm hồn bay bổng, đừng vì chấp nhất về bất cứ điều gì làm cho bài thơ khô cứng và nhàm chán.

 

      Ví dụ:

 

Cánh sóng lăn tăn vờn cuối bãi

Làn mây hờ hững níu tầng không

                   (Về quê - Lê Trọng Hồng)

 

            Rõ ràng lăn tăn chỉ sự chuyển động, còn hờ hững chỉ tính cách. Cũng như trên từ cuối bãi đúng là chỉ vị trí cụ thể còn tầng không  thì không. Có vẻ như đối đấy nhưng chỉnh thì chưa.

            Tuy nhiên cũng đã có người dùng từ lăn tăn để nói về sự phân vân theo cách nói lóng, như vậy thì nó cũng đã chỉ tính cách đấy chứ (?)

11- Về xướng hoạ trong thơ Đường luật

 

Xướng hoạ trong thơ Đường luật là việc dựa vào một một bài thơ khởi đầu của một người nào đó gọi là bài thơ xướng để viết một bài thơ khác hoạ lại bài thơ khởi đầu đó. Với cách làm này, những người làm thơ có thể tiếp xúc, đồng cảm, gần gũi với nhau hơn. Những bài hoạ có thể theo cùng chủ đề của bài xướng, nhưng cũng có thể theo một chủ đề khác, như vậy gọi là hoạ nương vần (hoạ bộ vận), điều đó hoàn toàn có thể được. Tuy nhiên nhất định không để từ thứ 6 (từ áp vận) của các câu bài hoạ lặp lại từ thứ 6 của các câu bài xướng.

Về hình thức hoạ có thể dựa hoàn toàn vào vần và trật tự các vần của bài xướng, hoặc chỉ dùng một số vần và thay đổi trật tự của tất cả các vần như nhiều cách dưới đây. Về phía bài xướng cần phải lưu ý đến sự thanh thoát, giầu xúc cảm về nội dung và hết sức tránh  các dạng bài có hình thức quá phức tạp cùng với các vần quá hiểm, quá khó tìm thì mới mong có được nhiều bài hoạ của mọi người.

 

a- Hoạ nguyên vần

 

Hoạ nguyên vần là bài hoạ phải theo sát chủ đề, giữ nguyên vần và xếp vần theo đúng thứ tự vần của bài xướng.

 

Ví dụ:

 

            Với các vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Phó thường dân dưới đây

 

Phó thường dân

   (Bài xướng)

 

Từ ngày trở lại phó thường dân

Mọi sự đua chen cũng nhạt dần

Sáng đến đôi trang tăng trí não

Chiều về mấy chưởng giúp rèn thân

Cơm rau dưa giá thanh mà ngọt

Áo sợi bông tơ mát lại thuần

Phú quý mặc ai nơi huyện sở

Một mình vui cảnh phó thường dân

 

            Với các vần: dân, dần, thân, thuần, dân trong bài Với bình  dân dưới đây

 

  Với bình dân

 (Hoạ bài Phó thường dân)

 

Người nào chẳng ở chốn bình dân

Cố nhớ đừng quên mất gốc dần

Phú quý quen mùi chừng khó bỏ

Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân

Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp

Bình dị, thanh cao, tính cũng thuần

Cái sự làm mình ra khác lạ

Sao bằng trở lại với bình dân

 

 b- Hoạ ngược vần (nghịch vận)


Hoạ ngược vần là bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng xếp vần theo thứ tự từ cuối ngược lên đầu

 

Ví dụ:

 

 Với các vần: thơ, giờ, sơ, chờ, thơ và ngược lại: thơ, chờ, sơ, giờ, thơ trong 2 bài thơ dưới đây

 

Gặp bạn thơ

   (Bài xướng)

 

Bao năm mới gặp bạn yêu thơ

Cả nước về vui suốt mấy giờ

Chẳng kể trẻ già cùng lớn bé

Cần gì cũ mới với thân 

Chia tay ngày ấy đành xa cách

Họp mặt hôm nay luống đợi chờ

Mấy thuở cuộc đời ta được vậy

Nỗi niềm xúc cảm gửi vào thơ

 

 Chia cách

    (Hoạ bài Gặp bạn thơ)

 

Mấy dòng giã biệt chép thành thơ

Tặng lại cho ai vẫn đứng chờ

Tiếc bởi tiễn đưa đầy quý mến 

Trách vì chào đón quá đơn sơ

Vui khi thân mật chiều nay vậy

Buồn lúc chưa quen buổi bấy giờ

Chia cách đã gần trong chốc lát

Mấy dòng giã biệt chép thành thơ

 

c- Hoạ đảo vần

 

Hoạ đảo vần là bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể đảo thứ tự trên xuống dưới hoặc dưới lên trên một vài vần của bài xướng

 

Thắp lửa xong rồi gắng chủ tr­ương

     (Hoạ thơ Nguyễn Văn Liêm)

 

Chẵn chục năm theo với luật Đ­ường

€Kinh Thầy bóng n­ước đã thơm hư­ơng

Ý tình nhã nhặn vang muôn nẻo

Cấu tứ thanh tao vọng bốn ph­ương

Mỗi chữ chuốt chau chừng đã khéo

Từng câu giản dị vốn không thư­ờng

Nhân về dự hội đôi lời chúc

Thắp lửa xong rồi gắng chủ tr­ương

                                         

Gửi về Nam Sách vạn yêu thương

(Hoạ thông, thơ Nguyễn Văn Liêm và Trần Thế Mẫn)

 

Mười năm bền chí với thơ Đường

Bóng nước Kinh Thầy thắm sắc hương

Đạo cốt thanh tao lời thánh thiện

Ý tình nhuần nhã dáng phong sương

Nhân văn phẩm hạnh vừa khai mở

Trí lực tâm tư đã khác thường

Một áng thơ mừng đầy ngưỡng mộ

Gửi về Nam Sách vạn yêu thương.

     

            - Bài Thắp lửa xong rồi gắng chủ trương với các vần: Đường, hương, phương, thường, trương.

 

            - Bài Gửi về Nam Sách vạn yêu thương với các vần: Đường, hương, sương, thường, thương.

 

            Hai bài trên được hoạ nguyên ý với các vần giống nhau:

            - Đường, hương, thường cùng vị trí và phương, trương, sương, thương ở các vị trí tuỳ ý.

 

d- Hoạ loạn vần

 

Hoạ loạn vần là bài hoạ giữ nguyên vần của bài xướng nhưng có thể thay đổi tuỳ ý vị trí của tất cả các vần. (xem ví dụ trên)

 

đ- Hoạ lựa vần

 

Hoạ lựa vần là bài hoạ chỉ dùng một vài vần của bài xướng, các vần còn lại có thể thay đổi tuỳ ý người hoạ (xem ví dụ trên)

 

e- Hoạ nối vần

 

Hoạ nối vần là bài hoạ dùng cả câu cuối và vần của bài xướng làm câu đầu và vần của bài hoạ.

 

      Ví dụ:

 

Giao thừa

 

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu

Kẻ đến dùng dằng mong nán lại

Ng­ười về tấp tểnh muốn qua mau

Ai giao ai nhận ai giao nhận

Ai đến ai về ai tiếp sau

Cái sự luân phiên không sở cứ

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

 

Về hưu

(Hoạ bài Giao thừa)

 

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

Đơn độc mình ta cạn chén sầu

Sáu chục mùa xuân sao thấy ngắn

Mấy mươi cái tết thật là mau

Về hưu đã hẳn ta qua trước

Ở lại đương nhiên bạn đến sau

Cõi thế xưa nay không chịu đổi

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

 

            Hai bài trên được hoạ nguyên vần, câu cuối bài Giao thừa là câu đầu bài Về hưu. 


12. Đôi lời cuối sách

 

            Làm thơ vốn là công việc cả đời của những người theo nghiệp văn chương. Cũng giống như cầy cấy gieo trồng là công việc của người nông dân vậy. Cái sự làm thơ hay cầy cấy cho dù tài giỏi đến đâu thì cũng phải tìm tòi, phải học mới làm tốt được. Những ngưòi không hoàn toàn theo nghiệp văn chương nhưng lại yêu thơ và thích làm thơ nhưng chưa có nhiều thời gian đi sâu tìm hiểu cách thức làm thơ như bản thân tác giả thì đọc, viết và tìm hiểu luôn cho những kết quả tốt đẹp. Khi ta đi sâu nghiên cứu mới thấy nhiều cái ta còn nông cạn và thiếu hiểu biết dường bao.

            Viết được đôi điều trên ra giấy thực chất là sự cố gắng trong việc tìm đọc và xin vắng mặt nhiều kiến thức của các tác giả đã viết ra trước đó trong giáo khoa và trong các nghiên cứu đã được in thành sách. Trong đó còn có cả công sức của nhiều bậc đàn anh trong sự góp ý sửa chữa. Đáng quý hơn nữa là cho cả những sáng tác tâm huyết của mình để làm mẫu. Xin được trân trọng cảm ơn tất cả và mong sự thể tình cho những sai sót nếu có.

            Về phần nội dung của sách, cũng xin bày tỏ rằng với tinh thần hiểu thế nào thì viết thế ấy, ngõ hầu để mọi người góp ý. Mong sao một ngày không xa nữa có một tài liệu đơn giản, dễ hiểu và tốt hơn đóng góp vào các nghiên cứu về thơ Đường luật dùng cho mọi người

                                                                       Viết xong tháng 6 năm 2007

                                                                               Sửa lại tháng 11/2008

 

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

ĐÔI VẦN THƠ NGẠO

 

NGẠO ĐỜI

Cáo vẫn nhe răng đợi bắt gà

Người đòi biến hoá tựa như ma

Khôn ranh tráo trở cong thành thẳng

Dại dột ngu ngơ chính hoá tà

Làm một nói mười khôn vẫn lọt

Lỗi trăm kể một khéo mà qua

Mới hay mọi sự không như ý

Thiên hạ xem chừng chẳng nhận ra

 

TẠO “LỐC”

Tạo “lốc” hình như để lấy oai

Ngờ đâu hũ nút cả trong ngoài

Bấy chầy chẳng thể khua ra chữ

Mai nữa chưa chừng vướng phải gai

Đến cuộc mới hay nhiều vướng víu

Vào rồi chợt hiểu lắm bi hài

Loăng quăng vài tiếng khơi mào vậy

Mong bạn qua thăm hoạ một bài.

 

SỐ PHẬN THƠ CÁCH LUẬT

Đã khi bài cổ chạy theo đời

Cách luật xem chừng ít kẻ chơi

Ông bảo cũ càng coi chán mắt

Bà chê đơn điệu đọc thừa hơi

Tưởng khi đè ép rồi tan cuộc

Chợt lúc bung ra lại gặp thời

Khắp chốn làm thơ in bán sách

Muôn nơi xướng hoạ gửi đi mời

 

THƠ ĐÒI ĐƯỢC GIẢI   (PB1)

Thơ đòi được giải lạ kỳ thay

Thiên hạ giật mình lắm sự hay

Chuẩn mực kẻ cầm không tính mốc

Bậc thang người nắm cốt vừa tay

Dở thầy dốt thợ tha hồ phán

Mượn cháo sang cơm thả sức xoay

Nhiễu sự bày ra thi với thố

Thơ đòi được giải lạ kỳ thay

 

KHOE THẠO LUẬT ĐƯỜNG

Mấy vị khoe ta thạo luật Đường

Chỉ toàn trích cú với tầm chương

Kén sâu gợi điển rành cho hiếm

Bày khó gieo vần thật rõ xương

Nửa khúc ca dao quên chẳng tỏ

Vài câu tục ngữ nhớ không tường

Tiếng Kinh chửa sõi đòi đe Mán

Chữ Thổ chưa thông đã doạ Mường

 

MUA CHỮ

Thiên hạ xem xong vỡ bụng cười

Thơ gì nhốn nháo giống gà bươi

Lời nghiêng ý ngửa xoay như chóng

Đối chéo vần ngang quấy tựa rươi

Cộc ngữ cay xè trò ớt mốc 

Thô ngôn đắng ngắt vẻ gừng ươi

Tưởng đâu cụ xẩm đi mua chữ

 Khéo nhặt may thì vớ của tươi.

 

KIẾP NHÂN SINH

Ngẫm cuộc nhân sinh luống bận lòng

Cả đời vướng tựa mớ bòng bong

Muốn hay chẳng hiểu sao thành dở

Thích thẳng vì đâu lại hóa cong

Có dễ phúc phần không chịu bén

Thay vì nghiệp chướng chửa cho xong

Cố công luồn lách như lươn chạch

Mà mẹt bung vành chẳng hoá nong

 

BỠN CÁI ĐƯỜNG THI

Gặp cái Đường thi bỡn mấy dòng

Luật giờ tưởng thẳng thế mà cong

Đối kêu chan chát ròn như pháo

Tứ bảo thâm sâu kín tựa nong

Niêm nối dây dưa vừa bốn cặp

Vần gieo thủng thẳng đủ năm vòng

Tưởng đâu đúng kiểu cho là được

Ai biết rằng thơ dễ lộn sòng 

 

THƠ ĐƯỢC GÓI XÔI

Viết mãi thơ xuân chật cả rồi

Bây giờ thêm tý để chơi thôi

Này câu Lục bát xanh mi mắt

Nọ khúc Đường thi tím khoé môi

Dài ngắn cũng thì đen nét mực

Thấp cao hồ dễ trắng dòng vôi

Đầu năm cóp nhặt vài ba chữ

Cố đấm may thì được gói xôi

 

THỬ MẤY CHIÊU

Mấy vị thơ già cũng thích yêu

Tinh mơ cho đến tận trưa chiều

Lúc thương cô tám khen vài chữ

Khi mến nàng ba ngỏ mấy điều

Ráo rác thăm nom vần lả lướt

Rộn ràng gặp gỡ ý phiêu diêu

Té ra các cụ khoe trên giấy

Để vợ ghen sằng thử ít chiêu

 

PHẠT MẤY CHIÊU

 (Hoạ Thử mấy chiêu)

Mấy cụ thơ già rất khoái yêu

Qua trưa chửa hết lại sang chiều

Sáng thương kẻ mới đôi ba chữ

Tối nhớ người xưa sáu bẩy điều

Sờ hũ trống không khan rượu uống

Nắn bao lép kẹp hiếm tiền tiêu

Té ra vợ tưởng không chung thuỷ

Giận dỗi âm thầm phạt mấy chiêu

 

COI CHỪNG GẬY VÍA

Đã lâu mới lại đến thăm ông

Chữ nghĩa ra tuồng đã khá ngông

Góp ý phê bình chừng lớn lối

Chê bai miệt thị khéo phèng bông

Ngắn dài cũng thể cần cố sức

Cao thấp đều do phải gắng công

Ngứa ngáy bày trò đòi thóc mách

Coi chừng gậy vía chọi vô mông.

 

CHỖ ẤY TRỜI CHO

Bà bảo vào hang Thánh Hoá coi

Xem xong chẳng hiểu sáng hay lòi

Này hầm cổ tích hương dìu dịu

Nọ ổ nguyên sơ vị mặn mòi

Rậm rạp bày ra ngăn quấy đảo

Lam nham khép lại cản săm soi

Dở hay cũng bởi trời sinh thế

Thiên hạ từng khen khéo hẹp hòi

 

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

NGẪU HỨNG ĐỜI THƠ

NGẪU HỨNG ĐỜI THƠ

(Tặng các nhà thơ mà ta từng yêu mến)

 

Ta đã từng quen tin những dòng thơ

Từ tim óc những cuộc đời từng trải

Chợt phát hiện phía sau niềm khắc khoải

Một câu cười ngơ ngác đến hồn nhiên.

 

Tất cả những gì từng có trong tim

Bao yêu mến hoá ra toàn oán hận

Bao chân lý hoá ra toàn ngộ nhận

Để mơ hồ đau đớn đến cuồng điên.

 

Ai đã soi mình vào chiếc gương xiên

Để mơ thấy một hình hài biến ảo

Để xem thấy một góc tròn đáy chảo

Ngỡ như mình khác lạ một trời riêng.

 

Chẳng ai hèn khi một chốc chưa thiêng

Một chốc nhỏ nhoi thường tình vốn có

Một chốc riêng mình giữa nơi gậm xó

Gói trong lòng ngọn sáng chữ trung trinh.

 

Chẳng ai buồn khi mình bị rẻ khinh

Cái ngốc nghếch một thời còn quá trẻ

Cái xa xót bởi những lần sứt mẻ

Những niềm tin chợt tắt bởi mưu sinh

 

Nỗi đau nào rồi cũng sẽ qua nhanh

Chỉ một nỗi đau không ai tin nữa

Lòng chung thuỷ chợt bất ngờ đổ vỡ

Phản lại thời gian, phản lại chính mình.

 

Ta chợt buồn khi bao tấm chân tình

Cứ chao đảo để rồi sa xuống hố

Cứ chán nản để rồi không thể cố

Vượt qua mình đi đến những miền xa.

 

Ta thật may khi đã kịp nhận ra

Điều tất yếu ở giữa thời tất yếu

Gắng trụ lại với những thừa, những thiếu

Để vui hoài với những tấm tình thơ.

 

BÊN BỜ LÃNG GIANG CÔN SƠN NÔNG CỐNG

 

 

THƯƠNG NGƯỜI BÁN CHIẾU HỒ TÂY

ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀ THỊ LỘ

Bỗng đâu lá rụng hoa rơi

Bỗng đâu ngọc đá một thời nát tan

Bỗng đâu dậy đất hàm oan

Bỗng đâu máu đỏ dương gian ngập đầy

Ơi người bán chiếu Hồ Tây

Câu thơ ướm hỏi chứa đầy vấn vương

Trách chi nguyệt thẹn hoa nhường

Thâm cung hẹp lối đành vương luỵ đời

Dạy bao nhân nghĩa cho người

Còn mình đành để đất trời ghét ghen

Trách chi phẩm đỏ, tay hèn

Làm sao tránh được trắng đen ẩn hình

Những là oan khuất phận mình

Một loài rắn trắng tuyệt tình đáng thương

Một tay thí nghịch bạo cường

Một thân mệnh phụ ví phường nguyệt hoa.

Mấy ai hiểu được cho bà

Đành gieo đôi vận kết hoa dâng người

Chiều Côn Sơn vạn tiếng cười

Mênh mông hoa nắng một trời gió đông..

 

BÙ NHÌN

Bù nhìn đứng đó canh ngô

Biết đâu cơm áo dạt xô cõi đời.

Bù nhìn hay chính là người

Ra hình méo mó để rồi lặng thinh

Cô đơn đứng đó một mình

Để buồn thêm cả nhân tình thế gian

Mặc cho nắng đổ, mưa chan

Không kêu, không khóc, không than một lời

Bù nhìn ơi! bù nhìn ơi!

Một mình ngươi giữa cõi đời tênh hênh.

 

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2011

MỘT SỐ BÀI THƠ LÀM VÍ DỤ

 

PHÓ THƯỜNG DÂN

(Bài xướng)

Từ ngày trở lại phó thường dân

Mọi sự đua chen cũng nhạt dần

Sáng đến đôi trang, tăng trí não

Chiều về mấy chưởng, giúp rèn thân

Cơm rau, dưa, giá thanh mà ngọt

áo sợi, bông, tơ mát lại thuần

Phú quý mặc ai nơi huyện sở

Một mình vui cảnh phó thường dân

 

VỚI BÌNH DÂN

(Hoạ bài Phó thường dân)

Người nào chẳng ở chốn bình dân

Cố nhớ đừng quên mất gốc dần

Phú quý quen mùi chừng khó bỏ

Nghèo hèn tập mãi chửa nên thân

Thẳng ngay, bộc trực, danh càng đẹp

Bình dị, thanh cao, tính cũng thuần

Cái sự làm mình ra khác lạ

Sao bằng trở lại với bình dân

 

SÁU MƯƠI

Sáu mươi lặng lẽ, bước đường xa

Thoắt cái thời gian, đã đến già

Khúc hát xông pha, chưa kịp dứt

Bài thơ chiêm nghiệm, mới vừa ra

Vườn xuân cứ hẹn, kêu đi tới

Ngõ trúc khi cần, đón lại qua

Muôn sự ngoài đời không vướng bận

Đôi dòng thi phú, một hồn ta.

 

CẢ NƯỚC PHANG

(Hoạ bài Con chuột của Yên Thao)

Năm Hợi qua rồi năm Tý sang

Thời gian ngắn ngủi có vài gang

Hà Thành xuân đến còn phong kín

Văn Miếu thơ về chợt mở toang

Đạo chích, gian tham cho xuống hố

Quan liêu mệnh lệnh nhét vào hang

Kẻ nào ngoan cố còn nằm đó

Gậy mới đang chờ cả nước phang

 

ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC

Núi Phượng chiều nay đỏ sắc cờ

Đền đài mới dựng giữa hoang sơ

Trường xưa hoa nở trò đang đợi

Điện mới thông reo khách vẫn chờ

Sửa đức can người lo vận hội

Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ

Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm

Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ

 

NGHE ĐÀN

Gác nhỏ bên sông chợt ghé thăm

Đàn ai dìu dặt cất thanh âm

Vư­ờn hồng tráng nắng hư­ơng còn nức

Lối cỏ mù sương lệ vẫn đầm

Vần vũ mây giăng chùa trư­ớc mặt

Nhạt nhoà khỏi phủ núi xa xăm

Rót hồn trên phím ai trăn trở

Dục khách qua đư­ờng nảy khúc ngâm

 

KHAO THƠ

Gặp buổi thanh nhàn đến với nhau

Cần chi nghèo khó với sang giầu

Me chua mấy quả, sôi trong nước

Muối lạc đôi hòn, trộn dưới âu

Chọn tứ, tìm câu mời tiếp chén

Lựa vần, sửa đối dục thay bầu

Thong dong cuối tháng lương chưa tới

Vẫn hẹn khao thơ đãi một chầu

 

XUÂN ĐẾN NHÀ

Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa

Mừng được đông vui đủ trẻ già

Trong bếp đàn con đang sắp cỗ

Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà

Nụ đào chúm chím hồng bên cửa

Cành lộc đu đưa biếc giữa nhà

Đôi khổ thơ xuân còn ướt mực

Một ly nước mới dậy hương trà.

 

HỘI XUÂN QUÊ

Một hội xuân quê mới mở ra

Chia vui khắp hết cả muôn nhà

Sân đu đầy chặt trai bên gái

Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già

Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn

Cuối thôn hể hả lúa thêm trà

Đất trời toả rộng hương no ấm

Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.

 

 CUỐI XUÂN CẢM TÁC

 Xuân đã dần qua cuối tiết rồi

 Gốc đào trước cổng đứng đơn côi

 Tiếng chim sau núi lưa thưa hót

 Bông gạo trên cành lặng lẽ rơi

 Ánh nắng chiều vàng đang tụ lại

 Vầng trăng đêm trắng sắp chia phôi

 Giật mình một chốc mười năm lẻ

 Một áng thơ buồn tỏ khúc nhôi

THỨC

Xa cách từ khi ấy đến nay

Quê xưa vẫn mãi ở tim này

Ai mơ muôn dặm đầy sương tuyết

Ta mộng lối về xanh cỏ cây

Đầu sáng mỏi mòn xem bóng nắng

Nửa chiều da diết ngắm chân mây

Nào ai biết được nhiều đêm thức

Trong lúc bao người đã giấc say.

 

MỘNG VỀ QUÊ

Bao núi bao sông đã lội qua

Đêm nay chợt nhớ đến quê nhà

Đầu ghềnh n­ước cũ chao lư­ờn sóng

Cuối bãi trăng x­ưa dọi luống cà

Mái lá liêu xiêu nền đất ư­ớt

Sân rêu vắng lặng vết chân nhoà

Trăm năm chớp mắt trôi qua cửa

Để lại bên song bóng nguyệt tà

 

TH­ƯƠNG QUÊ GẶP NẠN

Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà

Bão liền mấy trận thảy đều qua

Vuông tôm mới đắp không còn vết

Chạt muối chưa thu cũng chảy xoà

Sức vóc bao nhiêu đành mất cả

Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà

Đành rằng hoạn nạn đâu không thế

Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà

 

RỪNG CHIỀU

Từng b­ước theo  mây đến đỉnh đèo

Cúi mình ngó xuống giữa trong veo

Đôi dòng suối nhỏ dăng dăng chảy

Một vạt rừng non cuộn cuộn reo

Lấp loáng trên mây tung bọt trắng

Gập ghềnh dưới đá phủ xanh rêu

Hoang sơ cõi ấy kìa ai tạo

Để khách bâng khuâng giữa cảnh chiều

 

QUA BÃI KHÁCH XƯA

Mỗi ngày một trạm đã đi qua

Rừng rậm toàn cây chẳng có nhà

Võng vải treo lên đu bổng tít

Hoàng Cầm thắp đỏ khói luồn xa

Gió Lào thốc xuống ròn lưng áo

Sương muối trùm lên trắng mặt ga

Bãi cũ chiều nay không có khách

Lờ mờ dọc suối lối chân qua

 

GẶP ĐƯỜNG DÂY CŨ

Lối cũ không ai đến đã lâu

Còn đây bãi khách buổi ban đầu

Rêu xưa cố bám bờ đen xám

Bọt mới tan theo sóng đỏ ngầu

Hiu hắt lều hoang đôi cột võng

Trơ vơ bến vắng một chân cầu

Đường dây vẫn đó người không tới

Bên góc rừng thưa gợi khúc sầu

 

HÀO KHÍ ĐÔNG A

Chỉ thấy đay xanh kín bãi bồi

Bình Than ẩn bóng mé sông đôi

Bến xưa trống trận rung bao nhịp

Đền mới chuông trưa điểm mấy hồi

Nào thuở gươm thề nung thép chảy

Đâu thời hịch gọi cháy dầu sôi

Con đò cắt sóng qua dòng Cái

Hào khí Đông A lộng gió trời.

 

GỖ KHẢM LIÊN HÀ

Lưu truyền vốn cổ tự ông cha

Khảm tỉa soi châm vẫn nếp nhà

Rồng cuốn hổ nằm thâm sắc gụ

Công xoè phượng múa đỏ vân hoa

Mắt thầy khéo tạo hình muông thú

Tay thợ quen đưa nét kỷ hà

Chợt thấy hồn thơ trong thớ gỗ

Lung linh huyền ảo xứ Liên Hà

 

TRỞ LẠI CỔ LOA

Mấy chục năm rồi mải đó đây

Xuân nay về lại với nơi này

Thành x­ưa chặn giặc đang còn dấu

Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy

Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín

Đền càng đầy chặt khói hương bay

Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất

Để những hòn tên rỉ bám đầy

 

VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH 

Vạn lý non sông vạn lý thành

Vồng lên dốc xuống lượn vòng quanh

Chon von đỉnh núi làn mây trắng

Bát ngát chân trời thảm cỏ xanh

Thảng thốt lòng khe con nước chảy

Bâng khuâng bậc đá mái đồn canh

Mang mang khí trận dường chưa tạnh

Xe cá về kinh gió vẫn tanh

 

HOA THU

Vư­ờn ai cháy sáng giữa heo may

Khóm cúc vàng tươi nở đắm say

Thấp thoáng bầy ong đu dưới lá

Chập chờn đàn b­ướm lượn trong cây

Hư­ơng buồn mới thả tan vào gió

Màu nhớ vừa pha quyện dưới mây

Gợi nỗi cô đơn chiều vắng lạnh

Hoa thu người gửi vẫn còn đây.

 

CẢM THU

(Hoạ bài buồn thu)

Chiều quê nhè nhẹ toả hương may

Đôi chén sầu đong lắc chẳng đầy

Mái lá đáy hồ thoi thóp ngủ

Mảnh đò trên bãi lặng yên say

Đất trời vẫn cứ còn nguyên thế

Gió cát nào đâu đã đổi thay

Chẳng biết hôm nao vàng trút sạch

Để mầm xanh mới nảy nơi đây

 

ĐÊM THU

Bên trời vàng ủng ánh trăng suông

Từng đợt heo may gõ cửa buồng

Loáng thoáng trại xa đôi tiếng gáy

Chập chờn chùa cũ một hồi chuông

Thương con vạc trắng còn chưa ngủ

Giận lũ chim non đã động chuồng

Năm tháng mải mê chừng đã mỏi

Đêm thu dài rộng trải trên giường. 

 

HOÀNG HÔN TRÊN SÔNG

 (Bến Triều hè Đinh Hợi)

Hoàng hôn đã tắt cuối triền sông

Những chiếc sà lan chạy giữa dòng

Mấy khúc cuộn mình ôm sóng cả

Một đầu gầm rú vỡ thinh không

Giang sơn mấy độ qua chinh chiến

Đất nước từng phen đổ máu hồng

Muôn cuộc qua rồi không trở lại

Ngàn sau còn đó giữa mênh mông

 

BIẾT ĐÂU SỐ PHẬN

Nếu biết ta mình chẳng có duyên

Thì thôi đành vậy cố mà quên

Cúc vàng rời khỏi đồi Hoàng Cúc

Sen trắng quay về bến Bạch Liên

Buồn đó đợi qua kỳ cách biệt

Vui đây chờ đến lúc đoàn viên

Biết đâu số phận bày ra thử

Cố gắng kiên trì sự  mới nên

 

CẢM XÚC SAO ĐỎ

(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)

Thị trấn thanh xuân mới buổi nào

Thời gian thấm thoắt có là bao

Bước chân đi tới đường thêm rộng

ánh mắt nhìn sang phố đã cao

Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy

Trường vui trẻ đến sóng sôi ào

Ba mươi năm ấy miền quê núi

Rực cháy huy hoàng một ánh sao.

 

 

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2012

THÁNG 7 NĂM 2012

TÌNH KHÚC KHÔNG LỜI

 

Ta trở lại giữa mùa ra trái

Bóng đa chùm ẩn kín trong mây

Kìa ai đó đang trèo lên hái

Khéo không mà rơi xuống nơi đây…

 

Đa ngàn tuổi tóc dài như nắng

Lúc ra trường, tay nắm trong tay

Từ khi ấy bao mùa xa vắng

Gốc đa càng như đắm, như say.

 

Ta trở lại giữa mùa ra trái

Chỉ mong sao đa nói một lời

Để bao chú chim từ xa ngái

Hót chào đa chiu chít ngang trời

 

Ta về đây thôi đã chậm rồi

Đa ngàn tuổi đã không còn nữa

Khuôn cửa cũ, đá nhòe dấu vữa

Đốt lòng ta trong tình khúc không lời

 

VỀ CÙNG SÔNG LÃNG

 

Lâu lắm không về cùng sông Lãng

Nước triều vừa mới cạn đêm qua

Vết bùn nhão chan đầy mặt cỏ

Sóng thu vàng muôn lớp đùn xa  

 

Sông vẫn chảy dọc theo vườn cũ

Những dây trầu ngoi nước mà lên

Vòi tre mới bò ngang mùa lũ

Để vô tình khi nhớ khi quên

 

Bốn mươi năm lặng lẽ nằm yên

Đôi bậc đá còn nguyên trên đất

Bao mùa lụt, mùa khô chồng chất

Sông ngày xưa, sông của bây giờ…

 

Ta chia tay, rồi có đâu ngờ

Một mai đến, chẳng quay trở lại

Để sông với những chờ, những đợi

Chất bao niềm nhung nhớ trong ta.

 

Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

TÌM NGƯỜI BÊN GIẬU CÚC TẦN 2/2012

 

TÌM NGƯỜI BÊN GIẬU CUC TẦN

 

Một căn nhà lá trống không

Một hàng rào với tơ hồng đỏ au

Người xưa giờ ở nơi đâu

Vườn xưa cỏ rối nát nhầu xác xơ

Ngoài sân đàn nhện chăng tơ

Có còn ai đợi, ai chờ nữa không

Thế rồi hè lại sang đông

Ta đi chinh chiến rồi không trở về

Thương ai giữ mãi câu thề

Sáu mươi năm vẫn chưa hề cùng ai

Cô đơn đêm lại càng dài

Vì đâu người vẫn để hoài tuổi xuân.

Phải chăng vì giậu cúc tần

Vì thương người ấy ở gần nhà em

Tơ hồng lại giở ra xem

Có ai thương lấy thì đem về nhà.

Cúc tần giờ đã không hoa

Mỏi mòn bờ giậu người qua tìm người.

 

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

NHỮNG LỜI CỦA BIỂN

 

CON ỐC NHỎ

 

Tôi chỉ muốn làm con ốc nhỏ

Cứ lặng im không nói năng chi

Để em nhặt cất vào trong giỏ

Xách theo cùng trên chặng đường đi

 

Tôi chỉ muốn làm con ốc nhỏ

Thu đại dương vào hết bên trong

Để em lúc giận hờn buồn khổ

Kề môi vào thổi gió bên song.

 

Tôi chỉ muốn làm con ốc nhỏ

Để em cầm ghé sát bên tai

Nghe hết thảy những lời tha thiết

Rồi mỉm cười với biển ban mai.

 

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

THƠ VỀ MẸ

 

THƠ VỀ MẸ

Thơ về mẹ viết hoài không đủ ý

Bao lời thương đời lấy cả rồi

Thơ về mẹ sáng ngời trang sách quý

Chỉ cho mình con đọc được mà thôi

 

Thơ về mẹ viết không có chữ

Giấy là tim, mực máu chảy vô hồi

Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ

Đến khi nào cạn sạch thì thôi.

 

Thơ về mẹ chẳng con nào viết nổi

Vì mẹ chính là thơ của muôn thơ

Bao nhiêu cũng chỉ là chẳng đủ

Mẹ đi rồi sau hết…chỉ là mơ!

 

Chủ Nhật, 1 tháng 1, 2012

THĂM MỘ MẸ GIÀ

 

THĂM MỘ MẸ GIÀ

 

Con về thăm mẹ chiều nay

Bâng khuâng hoa nắng chất đầy nghĩa trang.

Tường vôi đọng dấu sơn vàng

Búp xanh cỏ mới đã đang nảy mầm.

Tấm bia đá vẫn yên nằm

Dấu tay xoa nhắn vết hằn thời gian

Sáu mươi năm, nắng mưa chan

Cô đơn một nắm xương tàn xa xôi.

Giờ đây mẹ đã về rồi

Quê hương thay đổi khác hồi ngày xưa

Bồi hồi thân quyến đón đưa

Làng trên, xóm dưới cũng vừa sang chơi.

Bát cơm, quả trứng rước mời

Hẳn rằng mẹ biết những người ngồi đây.

Nén vàng hoá giữa trưa nay

Gửi theo người những tháng ngày xa xăm.

Mỗi người rồi cũng trăm năm

Dù ai rồi cũng về nằm nơi đây

Nắng vàng thắp lửa lung lay

Phải chăng bóng mẹ đang bay về trời.

Nén hương cháy đã cạn rồi

Cháu con thành kính, viết lời tri ân.

 

Thứ Năm, 10 tháng 11, 2011

GIẬU CÚC TẦN

GIẬU CÚC TẦN

Từ khi có giậu cúc tần

Đám tơ hồng đã bao lần vàng mơ

Suốt từ năm ấy đến giờ

Có còn ai đợi, ai chờ nữa đâu

Thế rồi lâu đã thật lâu

Ta mang trở lại gói sầu chia ly

Năm mươi năm đã qua đi

Bỗng nghe người ấy từ khi…một mình.

Phải chăng vì giận chữ tình

Tự mình bắt buộc chính mình cô đơn.

Cúc tần giờ đã cao hơn

Còn chăng bao nỗi oán hờn trong tim (?)

Dằn lòng đành phải lặng im

Lấy tơ hồng để xâu kim mỗi chiều.

 

KHÚC MÙA THU (2)

Khúc mùa thu tưởng đã phai nhoà

Như mọi thứ đã yên trong xếp đặt

Và cái khoảng cách lòng, cách mặt

Sẽ là quên, quên hết chẳng còn chi

Ta đâu ngờ tất cả đã chia ly

Cứ hiện hữu để  ta vẫn thấy

Và như thế, Khúc mùa thu năm ấy

Mãi hằn sâu trong trái tim ta.

 

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

NHỮNG NGÀY THÁNG 9 (2011)

 

NHỚ VỀ THẦY GIÁO

(Kính dâng thầy Vũ Kim Đàm)

Khi tôi nhớ về thày giáo của tôi

Thày đã xa rồi

Chỉ còn lại những dòng thầy đã viết

Cuốn học bạ đến giờ còn thân thiết

Một lời khen mực tím mãi tươi nguyên.

Khi tôi nhớ về thầy giáo của tôi

Lòng chợt bình yên

Bởi đạo lý thày cho con vẫn giữ

Và vì thế chưa một lần vấp ngã

Dẫu con đường uốn lượn trong đêm.

Khi tôi nhớ về thầy giáo của tôi

Lòng chợt se buồn

Đò qua bến rồi không trở lại

Mái trường cũ cô đơn vời vợi

Bục giảng xưa muôn chân đã đặt lên

Hình bóng thầy, còn mãi ở trong tim.

 

HOA XẤU HỔ

(Tặng Kim)

Khi anh chạm vào em, em khẽ thu về

Buồn vô tận, rời nhau ngày hôm ấy.

Bao mùa hạ đã trôi qua từ đấy

Em âm thầm ôm kỷ niệm xa.

Em tiếc vì sao không mở lòng ra

Ngay sau lúc bắt mình xấu hổ

Để từng cánh hoa dần xé nhỏ

Buồn trăm năm vì những vô tình.

Khi anh chạm vào em, em chợt giật mình

Hoa xấu hổ gập vào trong ủ rũ

Em đâu biết ngày mai rời bến đỗ

Chỉ còn chờ giây phút nói cùng nhau.

Khi biết mai rồi xa cách thật lâu

Em đâu thể lặng im trong xấu hổ

Để sắc tím chập chờn bao chấm nhỏ

Đợi muôn chiều, xa lắc những buồn đau.

 

CHỈ MÌNH TÔI BIẾT

Từ lâu vẫn ở bên tôi

Em như cái bóng một đời lặng im

Thế mà có vạn nỗi niềm

Chỉ mình tôi biết, tôi tìm được ra.

 

GẶP HOA

Vô tình hoa lại gặp hoa

Thì ra ta lại gặp ta giữa đường

Mắt đen, môi thắm, má hường

Mình là mình ấy lẽ thường trong nhau

Lạ sao xa cách bấy lâu

Để cho bạc trắng mái đầu mà thương.

 

DẤU CHÂN LÔNG NGỖNG

Bốn bên tường gạch vữa vôi

Dấu chân phàm tục mấy hồi lại qua

Hanh hao màu đá gan gà

Hanh hao sắc lụa choàng qua hình người

Ai thương, ai giận, ai cười

Loa Thành xoáy cuộn mấy hồi quặn đau

Nỏ thần nào có thấy đâu

Lưỡi gươm oan nghiệt…ngàn câu phẩm bình

Ai mê đắm giữa hư vinh

Để tan nát một mối tình ngây thơ

Bao giờ hay chính bây giờ

Dấu chân lông ngỗng lờ mờ đâu đây (!)

 

Thứ Tư, 18 tháng 7, 2012

CHIỀU TRÊN SÔNG PHẢ LẠI

 

HOA BƯỞI HIỀN VÂN

 

 

NGẪU HỨNG HỌA THƠ

 

THƯƠNG AI

(Họa thơ Lê Thị Thanh Xuân)

Mở trang lưu bút giữa chiều đông

Một khúc tình thư cháy cả lòng

Giận lúc chung đôi sao chẳng nhớ

Buồn khi lẻ bóng để hằng mong

Bữa nay thơ đến thêm say đắm

Mai tới người về thỏa đợi trông

Sao Đỏ bên này chờ gặp mặt

Cầu Lâm nơi ấy có sang không.

 

THU SAY

(Họa thơ Lê Thị Thanh Xuân)

Chiều thu nhè nhẹ tỏa hơi may

Gốc vải vườn sau lá rụng đầy

Tiếng sáo lưng trời rền rĩ hót

Cánh cò dưới bến mải mê bay

Câu thơ ngắn ngủi khôn chia sẻ

Khúc nhạc khô khan khó tỏ bầy

Quân tử vô tình không trở lại

Để người nhi nữ xót xa thay

 

AO BÈO CỦA MẸ

 

Ao bèo quê của mẹ ta
Dáng lưng còng nhói lòng xa mỗi chiều

 

 

BIỂN CHIỀU

 

BẾN QUÊ

 

 

 

LỤC BÁT CHIỀU MƯA

 

THƠ BÈO

Mẹ như bao mảnh thân bèo

Nổi trên mặt nước rất nghèo phù sa

Một đời dệt gấm thêu hoa

Đẹp bao nhiêu cũng chỉ là cho con

 

GỬI ĐỜI CHO THƠ

Trải qua bao tháng năm trôi

Những dòng mực tím bồi hồi hiện ra

Trang nào của tháng năm qua

Còn trang nào để mai ta gửi vào.

 

Ch Nht, 13 tháng 1, 2013

TÌM HIỂU VỀ THƠ LỤC BÁT

 

 A
TÌM HIỂU VỀ THƠ LỤC BÁT

 

Giới thiệu mở đầu.

 

Thơ lục bát là thơ của Việt Nam, giống như thơ Đường luật của Trung Quốc, thơ Hai Ku của Nhật Bản và nhiều thể thơ khác của các dân tộc trên thế giới. Thơ lục bát thân thiết với tất cả mọi tầng lớp người Việt, sâu lắng và tinh tế trong biểu đạt mọi trạng thái tư tưởng, tình cảm. Thơ lục bát nảy nở rực rỡ trong tục ngữ, ca dao, hò vè các làn điệu dân ca nối dài từ đời này qua đời khác để rồi tồn tại mãi mãi.

  Thơ lục bát là thơ của một dân tộc, không lai tạo bởi bất kỳ một thể thơ ngoại lai nào khác. Thơ dịu dàng và tha thiết giống như tích cách của con người Việt Nam ta vậy. Thơ dễ làm, dễ thuộc và ai cũng có thể làm được cho dù là người biết chữ hay không biết chữ. Một bài thơ lục bát có thể dài đến vô cùng nhưng lại có thể ngắn đến chỉ là một cặp câu với mười bốn chữ nhưng vẫn hội tụ đủ nội dung và nghệ thuật của một bài thơ.

 

I. Những yếu tố chính của thơ lục bát

I.1. Luật thơ lục bát

I.1.1. Khái niệm về luật thơ lục bát

Thơ lục bát được hình thành trước hết là bởi các nhóm  với sáu từ làm thành câu lục và tám từ làm thành câu bát. Các nhóm từ này được ghép lại với nhau theo một quy tắc gọi là luật của thơ lục bát. Luật thơ lục bát bao gồm toàn bộ các quy định về hiệp vần và sắp xếp từ ngữ, âm thanh trong các câu thơ. Luật thơ lục bát được tóm tắt về sự sắp xếp từ ngữ trong câu lục theo thứ tự:Bằng, bằng, trắc trắc, bằng, bằng. Đối với câu bát các từ được xếp theo thứ tự: Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng, trắc bằng.

 

I.1.2. Sơ đồ cơ bản của luật thơ lục bát

  Qua rất nhiều nghiên cứu của các thế hệ người Việt về thơ lục bát, chúng ta đã có nhiều phiên bản về luật thơ lục bát qua các thời kỳ. Trong bài tìm hiểu này xin giới thiệu một phiên bản có khá nhiều người tán đồng. Nếu ta gọi B là bằng và T là trắc ta có sơ đồ luật thơ lục bát dưới đây

Vị trí

1

2

3

4

5

6

7

8

Câu lục

B

B

T

T

B

B

 

 

Câu bát

B

B

T

T

B

B

T

B

 

I.1.3. Giản lược về luật thơ lục bát

Nếu mỗi câu thơ lục bát giữ đúng âm thanh bằng và trắc đúng như sơ đồ thì rất tốt. Tuy nhiên nếu áp dụng một cách máy móc quá thường cũng khó tránh khỏi sự gượng ép trong câu chữ và nội dung thơ. Người xưa đã nghiên cứu các vị trí âm thanh trên sơ đồ và thấy rằng chỉ cần giữ đúng một số vị trí thì bài thơ vẫn đúng luật. Cũng giống như công thức giản lược trong thơ Đường luật: “Nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”. Nghĩa là chỉ cần các vị trí 2,4,6 giữ đúng âm thanh bằng trắc là được, các vị trí 1,3,5 có thể tùy ý sắp xếp bằng trắc tùy tý tác giả. Dưới đây là sơ đồ luật thơ lục bát giản lược.

Vị trí

1

2

3

4

5

6

7

8

Câu lục

-

B

-

T

-

B

 

 

Câu bát

-

B

-

T

-

B

T

B

 

I.2. Vần của thơ lục bát

I.2.1. Khái niệm về vần

I.2.1a Vần giữa các từ         

Lâu nay ta luôn nói từ này vần với từ kia, câu này vần với câu kia, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về vần qua một số ví dụ dưới đây.

Trước hết ta nhận thấy các từ có thể khác nhau phần phụ âm đầu nhưng phần nguyên âm ghép với phụ âm cuối của nhiều từ thường rất giống nhau. Những từ có phần sau giống nhau khi đọc nên âm thanh phát ra cũng khá giống nhau, từ đó cho ta khái niệm từ này vần với từ kia vậy.

 

Ví dụ: Ta có 2 từ quân và ngân         

Hai từ quân và ngân đều có nguyên âm (â) ghép với phụ âm (n) ở cuối thành (Ân), hoàn toàn giống nhau. Thế có nghĩa là quân vần với ngân

 

I.2.1b Vần đúng và gần đúng (vần chính và phụ)

Vần đúng (vần chính)

Vần đúng là những vần có nguyên âm và phụ âm ghép sau nó giống hệt nhau chỉ khác bởi các dấu của chúng, như vần (Ân) trong ví dụ trên.

Vần gần đúng (vần phụ)

Ngoài các cặp từ có vần đúng còn có khá nhiều cặp từ có vần gần đúng, các cặp từ này có nguyên âm giống nhau nhưng ghép với phụ âm cuối khác.

Ví dụ:  Ta có 2 từ ngân và ngâm       

Ân và âm chỉ hơi giống nhau nên gọi là vần gần đúng

 

I.2.1c. Vần giữa các nhóm từ.

Trước hết chúng ta thống nhất với nhau hãy bỏ qua vấn đề văn phạm mà chỉ coi các ví dụ lấy từ đồng dao dưới đây là các nhóm từ để khảo sát.

 

Ví dụ:  Ta có các nhóm từ sau:

Ăn vóchọc hay

Dung giăng dung giẻ, dắt trẻ đi chơi...

Thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn ...

Các ví dụ trên cho thấy các nhóm từ đều có các từ vần với nhau, khi thì chúng đứng cạnh nhau như nhóm từ (Ăn vóc) và (học hay) vần bởi từ (vóc) và (học). Khi thì ở vị trí cuối nhóm trước, cách một từ của nhóm sau như nhóm từ (Dung giăng dung giẻ) và (dắt trẻ đi chơi) vần bởi từ (giẻ) và (trẻ). Khi thì ở vị trí cuối nhóm trước với vị trí cuối của nhóm sau như nhóm từ (Thả đỉa ba ba) và (chớ bắt đàn ) vần bởi từ (ba) và (bà) vv... Những nhận xét trên cho thấy các nhóm từ vần với nhau thì đều phải có các từ vần với nhau và đứng ở một vị trí nào đó trong các nhóm từ

Nếu ta coi câu lục, câu bát là hai nhóm từ và chúng vần với nhau thì nhất thiết trong chúng phải có các từ vần với nhau. Điều cần thiết là chúng ta phải tìm ra các từ của câu lục vần với câu bát như thế nào và vị trí của nó sắp xếp ra sao.

 

I.2.2. Vần của một cặp câu lục bát

I.2.2a. Ví dụ về vần của một cặp câu lục bát

Thơ lục bát có cấu trúc trước hết là một cặp hai câu thơ liền nhau, câu trên 6 từ, câu dưới 8 từ. Cặp câu này vần với nhau theo một quy luật cụ thể.

 

Ví dụ 1:

Câu thơ lục bát đâu rồi

Đi tìm bạc tóc chưa thôi đi tìm

 

Ví dụ 2:

Trời đất rộng, núi non cao

Tự do tự tại lẽ nào chẳng vui

Trong ví dụ 1, từ (rồi) cuối câu lục vần với từ (thôi) ở vị trí thứ 6 câu bát. Trong ví dụ 2, từ (cao) ở cuối câu lục vần với từ (nào) ở vị trí thứ 6 câu bát. Đây chính là sự hiệp vần giữa 1 câu lục với 1 câu bát lập thành 1 cặp câu lục bát. Sự kết nối trên chính là sự kết nối về vần trong thơ lục bát.

I.2.2b. Sơ đồ vần trong một cặp câu lục bát

 

Vị trí

1

2

3

4

5

6

7

8

Câu lục

B

B

T

T

B

B

 

 

Câu bát

B

B

T

T

B

B

T

B

Vần

 

 

 

 

 

V

 

 

 

I.2.3. Vần của hai cặp câu lục bát liền nhau

Những bài thơ lục bát thường có nhiều cặp câu lục bát hợp lại. Sự kết nối của các cặp câu lục bát thông qua hiệp vần giữa chúng với nhau chính là cơ sở hình thành bài thơ lục bát.

 

I.2.3a. Ví dụ về vần giữa các cặp câu lục bát

Ví dụ:

Nơi đâu mình đã xé rào

Giấu cha, giấu mẹ để vào vườn sau

Nơi đâu mình đứng cùng nhau

Trên môi còn nụ hôn đầu đắm say

 

Trên đây là 2 cặp câu lục bát liền kề nhau với từ cuối câu bát (sau) của cặp trước vần với từ cuối (nhau) câu lục  của cặp sau.

 

Kết luận

Thơ lục bát là tập hợp nhiều cặp câu lục bát vần với nhau theo một cách thức duy nhất đó là từ cuối của câu bát cặp câu lục bát đứng trước vần với từ cuối của câu lục cặp câu lục bát đứng sau.

 

I.2.3b. Sơ đồ vần của 2 cặp câu lục bát liền nhau

Vị trí

1

2

3

4

5

6

7

8

Câu lục 1

B

B

T

T

B

B

 

 

Câu bát 1

B

B

T

T

B

B

T

B/v

Câu lục 2

B

B

T

T

B

B/v

 

 

Câu bát 2

B

B

T

T

B

B

T

B

 

I.3. Các loại vần trong thơ lục bát

Vần trong thơ lục bát được đặt tên theo nhiều cách, như dựa vào vị trí của vần trong câu, dựa vào thanh âm, thậm chí vần còn có tên mô phỏng theo thân thể con người.

I.3.1 Vần đặt tên theo vị trí

Mỗi từ trong câu được xếp theo thứ tự 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Từ đó cho thấy vần ở vị trí thứ mấy thì gọi tên theo thứ tự đó. Người ta cũng gọi vần ở các khoảng đầu, giữa, cuối của câu thơ, từ đó ta có vần đầu, vần giữa, vần cuối

 

Ví dụ:

Câu thơ lục bát đâu rồi

Đi tìm bạc tóc chưa thôi đi tìm

Ví dụ trên từ (rồi) ở vị trí thứ 6 và cũng là vị trí cuối của câu lục, vần với từ (thôi) nhưng lại ở vị trí thứ 6 trong câu bát.

 

I.3.2. Vần đặt tên mô phỏng theo thân người

Với cách viết của chữ nho xưa theo hàng dọc, từ đó những chữ trên cùng là đầu, chữa ở giữa là lưng và dưới cùng là chân, giống như thân người đứng thẳng. Chính từ đây ta có vần lưng, vần chân. (người xưa gọi là vần lưng là yêu vận và vần chân là cước vận)

 

Ví dụ:

Tưởng rằng đáy bể mò kim

Ở ngay  trước mắt còn tìm lạ chưa

Trong ví dụ trên (kim) là vần chân, (tìm) là vần lưng

 

I.3.3. Vần đặt tên theo thanh âm

I.3.3a Vần bằng

Các từ có thanh huyền và thanh không nằm trong cấu trúc vần thì đều là vần bằng.

Ví dụ:

Nghe câu ru giữa đêm mưa

“Con cò lặn lội” còn chưa giấc tròn

Tiếng ai tha thiết bồn chồn

Mấy mươi năm tưởng lối mòn đã quen

 

Ví dụ trên (mưa) và (chưa) là những vần bằng thanh không, (chồn) và (mòn) là những vần bằng thanh huyền  

                                                                         

I.3.3b. Vần trắc

Các từ có thanh sắc, nặng, hỏi, ngã nằm trong cấu trúc vần thì đều là vần trắc.

 

Ví dụ 1:

Bao đêm em ngồi trên bến

Em chờ anh đến suốt cả năm canh

 

Ví dụ 2:

Suốt đêm ngồi bên ngọn nến

Em chờ, em đợi anh đến thăm em

 

Ví dụ 3:

Bên sông trăng soi vằng vặc

Người về bỏ mặc ai đứng bên sông

 

Ví dụ 4:

Đường xa người đi đã mỏi

Dừng chân nghỉ lại để hỏi thăm đường

Ví dụ 5:

Chớ tin sắc màu rực rỡ

Để rồi bỏ lỡ hạnh phúc ngày mai

Với các ví dụ trên đây các từ in đậm đều là những vần trắc với các thanh sắc, nặng, hỏi, ngã

 

II. Thanh âm và nhịp điệu của thơ lục bát

II.1. Sử dụng thanh âm trong thơ lục bát

  Tất cả các từ trong thơ lục bát đều là những thanh âm nằm trong cấu tạo của ngôn ngữ tiếng Việt. Thanh âm được hình thành bởi những chữ cùng với dấu của nó (có cả trường hợp không dấu). Có đến 6 thanh âm khác nhau, trong đó thanh không, thanh huyền thuộc thanh bằng. Các thanh còn lại như thanh sắc, hỏi, ngã, nặng đều thuộc thanh trắc. Mỗi thanh đều có một cấp độ cao thấp khác nhau nên khi ta đọc lên ta thấy hình như đó là những giai điệu trong các bài hát. Bài thơ dễ thuộc, dễ nhớ và khơi dậy những xúc cảm dịu dàng hoặc bi tráng. Hiểu rõ điều này chính là cơ sở cho việc tiếp cận với thơ lục bát thuận lợi hơn, bởi luật thơ lục bát chính là sự sắp xếp thanh âm ở các vị trí trong các câu thơ

 

II.2. Tránh khổ độc

Như trên đã nói trong hệ thống tiếng Việt của ta có 6 thanh khác nhau căn cứ bởi các dấu, trong đó gồm:

Thanh huyền; thanh không dấu; thanh sắc, thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngã. Đừng nghĩ rằng cứ là bằng thì (không) hay (huyền) cũng vậy. Nếu sắp xếp không khéo thì câu thơ đọc lên rất ngang, xưa gọi là khổ độc, để tránh điều này ta cần chú ý các trường hợp sau:

Vị trí thứ 6 và thứ 8 cùng bằng nhưng không được xếp cùng thanh không hoặc cùng thanh huyền.

 

II.3. Ngắt nhịp trong thơ lục bát

 

Thơ lục bát dùng nhịp điệu khá thoáng kể cả câu lục và câu bát. Ngoài những yếu tố bắt buộc phải có tiểu đối như ở câu lục thì nhịp điệu của cả câu lục và câu bát đều có các nhịp xen kẽ với nhau tùy theo ý thơ. Dưới đây là một số ví dụ về nhịp điệu trong thơ lục bát.

 

II.3.1. Ngắt nhịp 2 của câu lục và câu bát

 

Thơ lục bát có 2 nhịp cân bằng thường có dạng đối chọi giữa 2 vế. Đó cũng chính là cấu trúc tiểu đối khá phổ biến ở cả lục bát chính thể và lục bát biến thể. Ngắt nhịp theo phương pháp này mang tính so sánh để làm nổi bật nội dung mà người viết xét thấy cần thiết. Ví dụ dưới đây có cấu trúc 2 nhịp với 3 từ trước và 3 từ sau ở câu lục và 4 từ trước, 4 từ sau ở câu bát.

 

Ví dụ:

Làn thu thuỷ / nét xuân sơn

Hoa ghen thua thắm  / liễu hờn kém xanh

                                                    Truyện Kiều - Nguyễn Du

 

Nhip 2 không đều cũng xuất hiện nhiều không kém với các cấu trúc 2/ 4.

             

Ví dụ:

Khát đời / khát một vùng quê

Mà không còn dịp được về tận nơi

                                             Người về thôn Vỹ - Trọng Hồng

 

II.3.2. Ngắt nhịp 3 của câu lục

  Các trường hợp có 3 nhịp đều nhau với cấu trúc 2/ 2/ 2 ở câu lục của cả thơ cũng như ca dao, tục ngữ cũng khá quen thuộc.

 

Ví dụ:

Sớm tìm / phận đẹp / duyên ưa

Để em quên nỗi niềm xưa với người.

                                                  Lục bát trong mơ - Trọng Hồng

 

Ngoài ra càng không thiếu loại 3 nhịp không đều trong câu bát, đấy là những cấu trúc 2/ 2/ 4. Hoặc cấu trúc 4/ 2/ 2 trong câu.

 

Ví dụ:

Ru con con ngủ cho muồi

Nước non chưa gánh / mẹ ngồi / mẹ ru

                                              Tục ngữ ca dao Việt Nam

 

II.3.3. Ngắt nhịp 4 của câu bát

 

Trong câu bát có thể có đến 4 nhịp, mỗi nhịp 2 từ với kết cấu 2/ 2/ 2/ 2 như ví dụ dưới đây.

             

Ví dụ:

Nhớ khi ngồi gốc cây hồng

Biết đâu / có lúc / lạnh lùng / gốc đa

                                                Lục bát trong mơ - Trọng Hồng

 

III. Thơ lục bát phá luật

 

III.1. Khái niệm về thơ lục bát phá luật

Các phần tìm hiểu trên đã nói khá kỹ về luật thơ luc bát. Đây cũng chính là luật dùng cho thơ lục bát chính thể. Cứ như luật trên thì khá nhiều những ý thơ và từ ngữ cần có trong thơ lại không đáp ứng được, nhất là tên địa phương, tên người và nhiều cử chỉ khác trong hành văn cứ phải dùng từ thứ 2 là thanh trắc và từ thứ tư là thanh bằng. Đặc biệt là từ cuối câu lục trong luật là vần và lại phải là thanh bằng nay bỗng nhiên phải đổi thành vần trắc. Đó chính là nguyên nhân sự xuất hiện thơ lục bát phá luật.

 

III.2. Những dạng thơ lục bát phá luật

III.2.1. Lục bát phá luật bởi vần trắc

Có rất nhiều các bài thơ lục bát dùng vần trắc, đây chính là dạng phá luật bới từ thứ 6 theo luật phải là vần bằng nay lại là trắc

 

Ví dụ:

Suốt đêm ngồi bên ngọn nến

Em chờ, em đợi anh đến thăm em

 

Ví dụ:

Đường xa người đi đã mỏi

Dừng chân nghỉ lại để hỏi thăm đường

Các vần (nến) và (mỏi) chính là các vần trắc. Điều đó khảng định đây là dạng: Phá luật vần trắc

 

III.2.2. Lục bát phá luật nhị trắc

Dạng phá luật thường xuất hiện đó là từ thứ 2 của câu lục từ bằng giờ đây là trắc

Ví dụ:

 

Trời đất rộng, núi non cao

Tự do tự tại lẽ nào chẳng vui

Toàn bộ câu thơ lục bát trên nếu đối chiêu với Lục bát giản lược thì duy nhất chỉ có từ thứ 2 (đất) là yếu tố phá luật. Ta gọi là: Phá luật nhị trắc

 

III.2.3. Lục bát phá luật tứ bằng nhị trắc

Dạng phá luật thứ 2 xuất hiện đó là từ thứ 2 từ bằng giờ đây là trắc, từ thứ 4 trắc giờ đây là bằng

 

Ví dụ:

Khi tựa gối khi cúi đầu (truyện Kiều)

 

Ví dụ:

Khi chén rượu, khi cuộc cờ (truyện Kiều)

Qua ví dụ trên ta thấy vị trí 2 và 4 trong câu thơ đã thay đổi ngược lại. Ta gọi là: Phá luật tứ bằng nhị trắc

 

III.2.4. Một số nét bàn về phá luật nhị trắc

 

Rất nhiều người cho rằng đã làm thơ lục bát thì nên cố gắng viết thơ lục bát chính thể. Những bài thơ lục bát phá luật như dạng nhị trắc thường bị chê và ít sử dụng. Tuy nhiên nhiều nhà thơ lớn và nhất là cụ Nguyễn Du thì các câu thơ gọi là phá luật thật là đắc dụng. Nếu thống kê đầy đủ các câu thơ phá luật các dạng của cụ trong Truyện Kiều thấy rằng số lượng quả không nhỏ.

Tuy nhiên mỗi trường hợp dùng từ thứ 2 là thanh trắc thì bao giờ cụ cũng thiết kế câu thơ ở dạng tiểu đối, nghĩa là ngay trong câu thơ ấy đã hình thành 2 vế đối chọi với nhau.

 

Ví dụ:

Người quốc sắc / kẻ thiên tài

Mai cốt cách/ tuyết tinh thần

 

Từ câu thơ trên nửa đầu là: người quốc sắc đối với kẻ thiên tài. Hoặc như câu thơ dưới: Mai cốt cách đối với tuyết tinh thần

Dưới đây là một số ví dụ phá luật nhị trắc trích từ Truyện Kiều của Nguyễn Du để mọi người tham khảo.

 

Người một nơi, hỏi một nơi

Khi gió gác, khi trăng sân

Khi tựa gối, khi cúi đầu

Khi khóe hạnh, khi nét ngài

Khi chén rượu, khi cuộc cờ

Mai cốt cách, tuyết tinh thần

Nền phú hậu, bậc tài danh

Người quốc sắc, kẻ thiên tài

Người nách thước, kẻ tay dao

Đồ tế nhuyễn, của tiêng tây

Duyên hội ngộ, đức cù lao

Tin nhạn vẩn, lá thư bời

Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh

Người yểu điệu, kẻ văn chương

Thêm nến giá, nối hương bình

Tuy nhiên cũng có những câu thơ dùng phá luật nhị trắc nhưng không dùng tiểu đối. Đây là 1 trường hợp câu thơ được áp dụng trong trạng thái tác giả đau đớn đến cùng cực  than cho số kiếp của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

 

Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung...

 

Một trường hợp hy hữu khác nữa mà Nguyễn Du đã viết đó là lời mắng mỏ đến gay gắt của Hoạn thư trước người hầu Hoa nô Thúy Kiều. Câu thơ như bóc trần thói kệch cỡm kẻ cả trong thủ đoạn hại người do họ Hoạn đã bày ra.

 

Sao chẳng biết ý tứ gì

Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi...

 

Những gì mà mọi người thấy được là việc vận dụng thơ lục bát chính thể hay thơ lục bát phá luật đều nằm trong tầm tay người viết. Đừng câu chấp điều gì để thơ hay đến được với mọi người.

 

IV. Thơ lục bát biến thể

IV.1. Khái niệm về thơ lục bát biến thể

Thơ lục bát biến thể chính là các bài thơ có cách gieo vần và hiệp vần khác với luật thơ lục bát chính thể. Đặc điểm của lục bát biến thể là từ thứ sáu của câu lục hiệp vần với từ thứ 4 của câu bát Thường thường thơ lục bát biến thể hay đi kèm với lục bát phá luật.

IV.2. Lục bát biến thể vần bằng

Thơ lục bát biến thể dùng vần bằng khá phổ biến trong các sáng tác từ trước đến nay với những ví dụ dưới đây.

Ví dụ:

Thanh niên việc xóm xông pha

Phụ nữ việc nhà việc hội giỏi giang

Trong câu thơ lục bát trên từ thứ sáu (pha) của câu lục hiệp vần với từ (nhà) của câu bát. Câu thơ trên cũng đi kèm với dạng phá luật ở câu bát với các từ (nữ và hội) từ bằng thành trắc. Đây chính là dạng thơ lục bát biến thể vần bằng

 

IV.3. Lục bát biến thể vần trăc

Trong các sáng tác thơ lục bát không hiếm những bài thơ biến thể vần trắc. Nghĩa là vần trắc của câu lục cũng hiệp vần với từ thứ 4 của câu bát

 

Ví dụ:

Bao đêm em ngồi trên bến

Em chờ anh đến suốt cả năm canh

Trong câu thơ trên từ thứ sáu (bến) của câu lục hiệp vần với từ thứ tư (đến) của câu bát. Câu thơ lục bát trên đây vừa là dạng lục bát biến thể kèm theo phá luật ở cả câu lục và câu bát. Đây chính là dạng thơ lục bát biến thể vần trắc

 

IV.4. Cứu cánh của lục bát biến thể

Khi làm thơ lục bát ít người để ý đến thế nào là chính thể và thế nào là biến thể. Tuy nhiên với lục bát chính thể câu thơ có vẻ như mềm mại hơn, còn lục bát biến thể có vẻ như rành rẽ hơn và khá thú vị là giúp cho ta trong những cơn vế tắc của sự dàn trải trong thơ. Chính vì vậy mà những người có thể chinh phục được tất cả các dạng thơ này dễ đến được với đỉnh cao của thơ lục bát

 

V. Điều cần tránh trong làm thơ lục bát

 

V.1. Sử dụng vần hợp lý trong thơ lục bát

Thơ lục bát thường dùng vần bằng, rất ít dùng vần trắc. Những bài thơ lục bát hay nhất thường dùng các vần chính hoặc các vần gần đúng và không rơi vào trạng thái lạc vần. Đặc biệt là không phạm các lỗi trong hiệp vần như các trường hợp dưới đây.

 

V.2. Sử dụng vần chính

 

Ví dụ:

Tưởng như mình viết rất nhiều

Thế mà cũng chỉ vài điều thế thôi

 

Với vần (iêu) trong nhiều và vần (iêu) trong điều của 2 câu trên ta thấy chúng giống hệt như nhau, ta gọi là vần chính. Những người làm thơ lục bát càng gắn bó với vần chính trong thơ thường gặt hái được nhiều thành công nhất

 

V.3. Sử dụng vần gần đúng (vần phụ)

 

Ví dụ:

Bỗng đâu nói nói cười cười

Những thương cùng nhớ thế rồi lại đi.

Với vần (ời) trong cười và (ồi) trong rồì chỉ gần giống nhau. Tuy vậy ta cũng vẫn có thể coi  2 câu trên vần với nhau, ta gọi đó là câu có vần gần đúng.

 

V.4. Nên dùng vần bằng tránh dùng vần trắc

  Về cơ bản thơ lục bát chỉ có vần bằng, nhưng ta cũng gặp khá nhiều bài lục bát vần trắc như đã nói ở trên. Tuy nhiên vần trắc sử dụng nhiều hơn cả là trong ca dao, tục ngữ. Qua tìm hiểu nhiều bài thơ thấy rằng cũng nên dùng vần bằng và tránh dùng vần trắc trong thơ lục bát.

 

Ví dụ:

Bao đêm em ngồi trên bến

Em chờ anh đến suốt cả năm canh

 

Nếu có thể thay bằng cặp câu sau thì vẫn đủ ý mà lại không phải dùng vần trắc:

 

Bao đêm trên bến trông ai

Mỏi mong chờ đợi kéo dài năm canh

 

V.5. Tránh lạc vần

Khá nhiều câu thơ không những không theo vần chính và cũng không dùng vần gần đúng. Các từ ở vị trí gieo vần được thay bằng những từ có vần khác hẳn

 

Ví dụ 1:

Xa quê từ ấy đã lâu

Lòng ta khao khát những mong trở về

 

Vần (lâu) cuối câu lục chẳng hề vần với (khát) ở vị trí 4 và (mong) ở vị trí 6 trong câu bát như ví dụ 1; hoặc vần (này) không vần với (sang) trong câu 2 và câu 3 của ví dụ 2.

                         

Ví dụ 2:

Người về bên ấy xa xôi

Mải mê công việc bỏ tôi bên này

Ngày mai tôi sẽ tìm sang

Bắt đò ngược nước để mang người về

Khi đọc những câu thơ như trên ta thấy nó trúc trắc, không liền mạch và khó thuộc, khó gieo sự cảm hứng cho độc giả khi tiếp nhận nội dung nghệ thuật bài thơ.

 

V.6. Tránh trùng vần

 

Những câu thơ lạc vần đã cho ta những sản phẩm không êm dịu lắm và rất khó thuộc, nhưng nếu nhiều vần trùng nhau cũng chẳng tốt hơn.                                   

Ví dụ:

Đã từng lội suối trèo non

Đã từng uống nước ở con sông đào

Đã từng ăn một trái đào

Giữa nơi tiên giới mà nào có hay

Ai ơi, ai hỡi có hay

Cõi tiên thế cũng bằng nay cõi người

Vần (đào) ở câu 2 và câu 3, hoặc vần (hay) câu 4 và câu 5 trên đây cho thấy các câu thơ trùng vần khi đọc lên nghe hơi ngang và gượng gạo.

 

V.7. Tránh điệp vần

 

Nhiều bài thơ lục bát tuy không trùng vần giữa 2 cặp câu như trên nhưng chỉ mới cách vài câu lại trùng vần cũng là thiếu sót nên tránh.

 

V.8. Tránh dùng chung vần trong câu.

 

Ví dụ:

Thấy người có nét cười tươi

Đoán người chắc chỉ hai mươi tuổi đời

 

Ngay trong một câu lục hoặc câu bát có khi có đến 3 vần (ươi) giống nhau như (người, cười, tươi) trong câu lục, hoặc như (người, mươi, đời) trong câu bát trên đây. Câu thơ ngang và gượng, khi đọc lên chẳng có nhạc điệu, khiến người đọc quên ngay sau đó.

 

VI. Xướng hoạ thơ lục bát

 

Thơ lục bát cũng có thể xương hoạ như một số thể thơ khác cùng với những quy tắc riêng, tuy nhiên những bài lục bát xướng hoạ thường ngắn. Ngoài xướng hoạ đôi khi các tác giả còn nối thơ hoặc nhại thơ, trên thực tế đây là những cách hoạ thơ không cần theo đúng quy định mà chỉ cốt tỏ sự thân mật và đồng cảm giữa những người bạn thơ với nhau, dưới đây là một số dạng hoạ thơ lục bát.

 

VI.1. Những quy định trong hoạ thơ lục bát

 

Hoạ thơ lục bát trước hết là việc phải bám sát chủ đề bài xướng thể hiện rõ tình cảm của người hoạ với người xướng thơ. Khi đã theo sát chủ đề bài xướng thì cũng nên phân đoạn theo bài xướng. Khi bài hoạ theo một chủ đề khác với bài xướng thì cấu trúc phân, đoạn cũng vẫn nên bám sát. Nếu có thể cũng nên giữ đúng nhịp điệu.

 

VI.2. Hoạ thơ với 1 vần chân

 

Hoạ thơ lục bát với 1 vần chân thường là dễ hoạ, lối hoạ này chỉ dùng vần chân của bài xướng để hoạ. Nhất thiết không để 2 bài có sự trùng lặp từ thứ 5 câu lục và từ thứ 7  (từ gạch chân) câu bát.

 

Ví dụ:

RA ĐI

(Bài xướng)

Nhớ quê tranh thủ về quê

Xa xôi cách trở khó về làm sao

Nhớ xanh dòng nước sông đào

Nhớ vàng con dốc đường vào bến sông

Nhớ chiều mưa nước long bong

Biết bao thương nhớ đợi trông u hoài

Trong mơ rộn ra tiếng cười

Bước chân bin rịn lòng người ra đi

 

NHỚ QUÊ

 (Bài hoạ)

Nhớ quê ta lại thăm quê

Ra đi cho chán rồi về đó sao (!)

Những năm lửa cháy, bom đào

Bao người ngã xuống máu trào trên sông

Ra đi dứt áo, trắng bong

Cả đời chẳng chút mỏi mong đoái hoài

Bỗng đâu nói nói cười cười

Những thương cùng nhớ thế rồi lại đi.

 

VI.3. Hoạ thơ với  cả vần  chân và vần lưng

 

Hoạ thơ lục bát với cả vần chân và vần lưng có hơi khó hơn một chút. Quy tắc hoạ chỉ cần không để 2 bài bị trùng lặp từ thứ 5 của câu lục, từ thứ  5 và thứ 7 (chữ  gạch chân) của câu bát. Dưới đây là bài hoạ với cả vần chân và vần lưng thơ lục bát

             

 HÀNG XÓM

(Bài xướng)

Em là hàng xóm của TÔI

Kể từ cha mẹ hẹn lời đầu XUÂN.

Gặp đâu chỉ có một lần

Thế rồi đồng ý kết THÂN hai NHÀ.

Bên kia trồng một vườn 

Bên này mua một đàn  về NUÔI

Đầu năm mua muối chung đôi

Cuối năm góp vốn mua VÔI sửa NHÀ.

 

MONG ĐƯỢC CÓ ĐÔI

(Bài hoạ)

Hỏi người có nhớ đến TÔI

Từ khi bén tiếng, trao lời đêm XUÂN

Tìm nhau không biết bao lần

Chỉ mong gặp mặt thành THÂN một NHÀ

Dẫu trong nghèo túng dưa 

Thể nào anh cũng mua GÀ để NUÔI

Chỉ mong mình được có đôi

Ngăn phòng hạnh phúc quét VÔI dọn NHÀ

 

VI.4. Một số cách hoạ khác

 

VI.4.1 Hoạ chắp vần.

  Đây là sự vận dụng theo lối đối đáp khi hát giao duyên ở vùng đồng bằng sông Hồng và hò đối đáp ở các vùng ven sông, ven biển miền Thanh Nghệ. Với cách hoạ này người ta có thể sử dụng toàn bộ câu lục hoặc toàn bộ câu bát, các câu còn lại ứng hoạ theo vần. Cách hoạ giống như việc sử dụng chung câu lục của 2 bài dưới đây.

 

Ví dụ:

 

GỬI VÀO TRĂNG

Đã quay mấy vạn năm rồi

Vầng trăng vẫn ở trên trời cả năm

Khi trăng khuyết lúc trăng rằm

Trăng khi đầu tháng gọi bằng trăng non

Trăng suông cho dạ bồn chồn

Trăng già gớm giếc héo mòn nỗi riêng

Trăng lu bóng đổ xiên xiên

Trăng xanh vằng vặc còn nguyên giữa trời

Bóng trăng che kín cuộc đời

Bóng trăng tê tái lòng người mỏi mong

 

GỬI LÊN TRĂNG

Đã quay mấy vạn năm rồi

Còn ta đâu thể ra ngoài trăm năm

Khi trăng khuyết lúc trăng rằm

Xuân xanh em vẫn thưa rằng còn non

Trăng suông cho dạ bồn chồn

Anh chờ em đã héo mòn tình riêng

Trăng lu bóng đổ xiên xiên

Dáng ai vẫn cứ đứng nguyên bên trời

Bóng trăng che kín cuộc đời

Thương ai chung thuỷ vì người chờ mong

 

VI.4.2. Hoạ nối vần

 

  Cách hoạ nối vần thường không buộc phải theo đúng vần của bài xướng mà chỉ tạo ra một vần mới, hiệp vần với vần của bài xướng.

 

              Ví dụ:

 

Nghe đồn anh giỏi văn chương

Đố anh biết cỏ ven đường mấy cây

Em về hỏi mẹ cùng thầy

Nồi hương bao cát cỏ dầy  bấy nhiêu

                                     

VI.4.3. Hoạ nhại vần

 

Cách hoạ nhại vần cho phép láy lại vần bài xướng kể cả từ đứng trước vần, tuy nhiên về nội dung thì phải bám sát chặt chẽ và vận ý đối đáp với bài xướng, tựa như một bên hỏi và bên kia trả lời vậy.

 

Ví dụ:

 

HOA VIẾT CHO HOA

 (Tặng thơ hoa Cúc)

 

Em như giọt nắng hoa vàng

Rọi trên trang giấy nhẹ nhàng thế thôi

Giá như em đã cùng tôi

Xem chung gương ở cái hồi thanh xuân

Chắc rồi vần đã nối vần

Dắt nhau đi đến trong ngần vườn tiên

Nỗi niềm dù đã rất riêng

Mặc ai rào đón phải kiêng "Hoa hồng"[1]

"Sáu mươi" người có còn không (!)

Để ta mang lá trầu không đến nhà

Cứ mong "Trẻ mãi không già"

Thế rồi đến lúc sẽ  "... Tròn trăm "

Yêu người ta viết lời thăm

Để câu thơ với tháng năm đợi chờ.

 

HOA VIẾT CHO HOA

(Hoa Cúc nhại vần)

 

Nhởn nhơ tắm ánh nắng vàng

Hương thơm Cúc chỉ nhẹ nhàng thế thôi

Ngày xưa hoa đã cùng tôi

Cài duyên mái tóc từ hồi hoa xuân

Câu thơ ai chắp mà vần

Ngõ riêng ta đã trong ngần tình riêng

Tuy hoa không nở vườn tiên

Không ngào hương sắc chỉ kiêng “hoa hồng

Đầy vườn bát ngát những bông

Còn mong chi lá trầu không đến nhà

Vô tư chờ đón tuổi già

Thêm vài chục nữa chắc là lẻ trăm

Quý người ta muốn tới thăm

Ngõ cài then chặt xa xăm biển chờ

 

Bài nhại chỉ thay vần (bông) vào (không) và vần (xăm) vào (năm) của bài xướng, các vần còn lại đều giống nhau

 

THƠ LỤC BÁT DÙNG LÀM VÍ DỤ

 

CHỢ TÌNH

(Kỷ niệm SaPa)

Vẫn còn có một chợ tình

Để nguôi đi chuyện của mình ngày xưa

Tháng năm lòng cách, mặt thưa

Có bao điều vẫn còn chưa cất lời

Hương đêm tĩnh lặng, bồi hồi

Nói câu cuối nữa để rồi chia xa.

 

NGUYÊN CỚ

Vẫn còn có một vần thơ

Để cho ta gửi ước mơ tuổi già

Chỉ yêu một chút thôi mà

Ngờ đâu bà lão ở nhà đánh ghen.

 

QUA HUẾ NHỚ VỀ THÔN VỸ

(Huế 7/2005)

Mong về thôn Vỹ từ lâu

Mấy ngày thăm Huế sao mau thế này.

Những bông hoa bắp gió lay

Bờ tường cao, lá trúc dày che ngang

Một màu ngọc biếc mênh mang

Chỉ còn có mỗi một hàng cau thôi

Em hoà vào với đất trời

Trắng trong sương khói để rồi tan đi

Người về thôn Vỹ làm chi

Đợi khi trăng mọc, chờ khi trăng về

Khát đời, khát một vùng quê

Mà không còn dịp được về tận nơi

Bẩy mươi năm đã qua rồi

Vần thơ còn đó con người về đâu!

 

KHẮC KHOẢI KIỀU

(Hồ Tây 5/ 1999)

Mở Kiều nhớ cụ Nguyễn Du

Một cơn m­ưa trắng chiều thu bên hồ

Từng trang giấy cũ lu mờ

Kim, Vân, Kiều tự bao giờ đầy vơi

Hợp tan, tan hợp một đời

Ngày xưa cũng đã thế rồi lạ đâu

Ngẫm lời người viết đã lâu

Vận vào, mọi cái biết đâu vuông tròn

Hỏi rằng mai sự có còn…

Câu thơ tê tái bồn chồn lòng nhau

Những điều người đã đớn đau

Đời còn khắc khoải muôn sau với Kiều.

 

MƯA XUÂN

(Bến Than 1983)

Dường như trời ấm lại rồi

Nhìn ra cuối bãi cả trời đang mưa

Áo em lấm tấm hạt mưa

Ai đem ngọc dát trên tơ óng vàng

Cỏ xanh phủ kín mặt đường

Bến sông con nước vấn vương tình người

Em vừa rời bến đi rồi

Chỉ còn trước mặt một trời mưa xuân.

 

XÍCH LÔ ĐÊM HUẾ

(Sông Hương 7/2005)

Vòng xe lăn lóc trên đường

Cầu Tràng Tiền cháy ánh vàng đèn đêm

Mồ hôi từng giọt, giọt thêm

Bắp chân trần cả màn đêm cuộn vào

Bên kia áo tím khăn đào

Bên này quần cộc sắn cao, lưng trần

Ai đi chơi cuộc phù vân

Người đang cặm cụi xoay vần áo cơm.

 

TÔI CHO EM CẢ CUỘC ĐỜI

Tôi cho em cả cuộc đời

Những là bèo dạt mây trôi muôn trùng

Cho em tất cả não nùng

Cho em tất cả cõi lòng đắng cay

Cho em nước mắt vơi đầy

Xót đau hờn giận những ngày xa xưa

Cho em hết thảy gió mưa

Quãng đời phiêu dạt đẩy đưa hững hờ

Cho em chín đợi mười chờ

Cái danh, cái phận nhạt mờ xa xôi

Dường như em lẫn vào tôi

Để than, để tiếc, để rồi khổ đau.

 

TIẾC

(Phả Lại 10-2002)

Em về bên ấy làm dâu

Mẹ cha đi đón qua cầu mới xây

Ngày xưa cũng đoạn sông này

Nước sông thì lớn, đò đầy chẳng qua

Mấy lần lỡ hẹn đôi ta

Mấy lần hờn dỗi, rằng là quên nhau

Bây giờ đã có nhịp cầu

Tiếc rằng hai đứa gần nhau mất rồi.

 

LẠC

Lạc đường hỏi mãi cũng ra

Lạc nhau đành phải để xa một đời

Người ơi ta nói một lời

Gặp nhau rồi chớ để rời nhau ra

 

TAM CỐC

(Tháng 7 năm 1995)

Đôi bên đá mọc ồn ào

Thuyền theo đồng nước đi vào Cốc Tiên

Dập dềnh sóng vỗ hai bên

Nước nghiêng cho đá nổi trên đất trời

Trần hang chạm sát mặt người

Cõi tiên cùng với cõi đời kề nhau

Cảnh tình ai vẽ trước sau

Đâu tiên, đâu bụt, còn đâu là người

Sau lưng sóng nước bồi hồi

Khoét sâu ngấn đá nói lời thời gian

Qua rồi quãng tối miên man

Cửa thông đã sáng đò nan trả người

Ngước lên, đỉnh núi xanh ngời

Bao la mây trắng, tiếng cười trong veo

 

CHUYỆN NHỮNG ĐÊM CHÈO

Hội làng mở hết ba đêm

Để cho anh được cùng em vào chèo…

Em thương cái Tấm phận nghèo

Anh giận cái Cám cả liều cướp duyên

Em đau Tiểu Kính oan khiên

Anh buồn Thiện Sỹ ươn hèn vì đâu!

Em chê cô bé Thị Mầu

Lấy tình trăng gió bắc cầu đòi duyên

Trách Dương vì chút bạn hiền

Để Châu Long dưới bóng đèn đầy vơi.

Lẽ đời đâu chỉ thế thì thôi

Những mù, câm, điếc tranh ngồi mâm cao.

Trưởng làng dạy mõ học rao

Biết ai là  kẻ khăn cao, áo dài (?)

Có bao câu chuyện cuộc đời

Có bao nhiêu kiếp con người đớn đau!...

Tích chèo có tự bao lâu

Mà sao vẫn chẳng nhạt mầu tháng năm

Ngày xưa dù đã xa xăm

Câu chèo đêm hội vẫn nằm trong tim.

 

NHỚ

Em không đi hết chặng đường

Để ai dang dở những thương cùng buồn

Biển xa gió động, sóng cồn

Vệt lân tinh xé cánh chuồn trong đêm.

Dẫu rằng đã cố tình quên

Lạ sao cái nhớ càng thêm, càng nhiều

Lối xưa ai rẽ nửa chiều

Để ai phải nhớ, phải yêu cả đời.

 

TRỞ LẠI VƯỜN XƯA

(Côn Sơn mùa thu 1984)

Một mình trở lại vườn xưa

Nhớ về kỷ niệm buổi trưa năm nào

Nơi đâu mình đã xé rào

Giấu cha, giấu mẹ để vào vườn sau

Nơi đâu mình đứng cùng nhau

Trên môi còn nụ hôn đầu đắm say

Nơi đâu tay nắm trong tay

Chúng mình hẹn ước mai đây trở về…

Vẫn là trưa nắng mùa hè

Bên vườn còn đó gốc kè đơn côi.

 

LỤC BÁT TRONG MƠ

Viết câu lục bát xa khơi

Gửi theo mơ đến với ng­ười còn không

Ai kia vẫn chửa lấy chồng

Để ai kia nữa nỗi lòng xót xa

Mấy mươi năm chẳng dám qua

Th­ương như­ đứt ruột nói ra chạnh lòng

Nhớ khi ngồi gốc cây hồng

Biết đâu có lúc lạnh lùng gốc đa

Th­ường đêm thức dư­ới hiên nhà

Để khi gần sáng mơ xa gặp ng­ười.

 

CÂU THƠ LỤC BÁT TRỞ VỀ

Câu thơ lục bát đâu rồi

Đi tìm bạc tóc chưa thôi đi tìm.

Tưởng rằng đáy bể mò kim

Ở ngay trước mắt còn tìm lạ chưa.

Câu ru thấm ướt đêm mưa

“Con cò lặn lội” còn chưa giấc tròn.

Tiếng ai tha thiết bồn chồn

Mấy mươi năm tưởng lối mòn đã quen...

Mong sao mưa tạnh trăng lên

Để câu lục bát trao duyên trở về.

 

CÓ EM CÓ TÔI

Có em và cũng có tôi

Em không đến hội, ai ngồi đợi em.

Tôi làm một chút sương đêm

Để hoa em mãi trinh nguyên giữa đời

Tôi làm tia nắng mặt trời

Để hoa em thắm nụ cười trên môi...

Tôi làm ra chính là tôi

Để em là chính em rồi gửi trao

Tôi làm tờ giấy hồng đào

Để em gói nụ hôn vào yêu thư­ơng

Tôi làm ánh bạc trong g­ương

Để em gửi cuộc đời th­ường vào trong.

Tôi làm một chút đàn ông

Để em là gái kẻo không có gì.

 

 VĨ THANH SAU TÁC PHẨM

Tìm hiểu thơ lục bát ra đời trong một hoàn cảnh rất giản dị, ấy là trong khi phong trào làm thơ trong địa phương ngày một nhiều thêm. Những tác giả làm thơ thành thạo khá đông tuy chưa là nhà thơ bao giờ. Nhưng cũng có không ít những người bước đầu là yêu thơ, đến với thơ, thưởng thức thơ và rồi dần dà cũng muốn làm thơ. Những bài thơ đầu tiên nhiều người thường chưa tự tin cho lắm, nhiều lần ngỏ ý xem hộ thơ để bổ khuyết cho. Mỗi lần được đọc những bài thơ như thế thường vui buồn lẫn lộn trong lòng. Cái vui thường nhiều hơn vì những bài thơ thật như câu nói thường ngày không trau truốt, ý lời thường giản dị đến mức cảm động cho dù đôi câu, đôi chữ còn sần, còn gượng, còn chưa đúng văn phạm, chưa đúng ngữ pháp, quên từ “L” sang “N”; viết hoa tuỳ tiện, chấm phảy, gạch nối bất kể chỗ nào, chưa nói đến sai vần, lạc điệu.

Điều này đâu có đáng trách vì những người làm thơ ngày là những thợ hồ, là những bà hàng xén, là những lão nông, đã bẩy tám chín mươi xuân, trong kê khai văn hoá đôi khi viết rõ rằng mới có lớp ba, lớp bốn, vả chăng non nửa thế kỷ đã qua rồi. Trả lời sao khi tất cả mọi chỗ đều cần góp ý, chỗ này còn sai, chỗ nọ còn chưa đúng vv...Thôi thì đành tìm lấy vài ba trang dòng trôi nổi ghép vào cho có một bài giúp những người bạn thơ đang tìm đến cùng thơ.

  Cũng tự xét rồi, mình chẳng nhà thơ, cũng chẳng là thầy, lại càng chưa làm thơ giỏi thế mà sao dám viết, chẳng sợ đúng sai. Không thiếu những lời đàm tiếu đó đây về điều này, tiếng nọ, không thiếu các ngài hình to bóng lớn bàn ra, tán vào với những nguyên tắc này, điều kiện kia cùng với tư cách này, phương diện nọ.

Thế rồi nghĩ lại chuyện đời rằng “một nắm khi đói, bằng một gói khi no”, lẽ nào khi giúp cho người đói cứ phải chờ có đồ ngon, đồ quý khi người ta đang lúc đói lòng. Chê ư! chưa đúng ư! Xin những ngài đủ tài, đủ phép, đủ nhân cách hãy viết đi, hãy dạy đi cho thiên hạ cậy nhờ. Người ta nói đứng ngoài cuộc khen chê thường dễ, nhưng bước chân vào cùng với phong trào thì mới thấy trăm điều nào có dễ đâu.

Chính vì điều này mà nung nấu quyết tâm góp nhặt cho thành tác phẩm, cho dù còn nhiều sai sót mọi bề. Cho dù chỉ giúp cho một đôi ba chục người thôi và có khi chỉ tồn tại vài ba mươi ngày, tháng thì cũng như ta thắp đóm soi vào đêm tối tìm được cây bút chì vừa mới rơi ra và thế là đã đủ làm vui vậy.


[1] Tên các bài thơ của Hoa Cúc

 

Th Năm, 20 tháng 12, 2012

LỤC BÁT CUỐI NĂM 

THƠ GIÀ

Giao thừa chép mấy vần thơ

Đêm xuân se lạnh tóc mờ khói sương

Nhớ xưa muôn vạn dặm đường

Rầu lòng thay những đêm trường vắng ai

Mưa dầm mưa mãi mưa hoài

Băn khoăn năm tháng nối dài xa xăm.

Ai kia thương rối ruột tằm

Một đời lận đận yên nằm nhả tơ

Bâng khuâng thương những ngày thơ

Một thân đơn chiếc chơ vơ chợ đời.

Nỗi niềm gửi đến bao người

Cũng trong lam lũ một thời như ai

Bến mê đau cả đời trai

Cuốn theo đời gái mưa dài, nắng qua…

Bão giông giăng dọc miền xa

Dấu chân cha, bước mòn ba chiến trường

Rưng rưng trong nắng hanh vàng

Áo nâu sồng mẹ vắt ngang cánh đồng.

Thương sao những đoạn đê vòng

Tiễn người ra trận mà lòng quặn đau

Và rồi dài mãi về sau

Chiến tranh xé nửa để đau một đời

Lệ thương tràn khắp cõi người

Gửi niềm tâm sự rối bời trong ta.

Giật mình nhớ thuở tuổi hoa

Nhớ từ dáng bạn, nhớ ra dáng thầy

Nôn nao nhớ đến những ngày

Sớm hôm tát nước mê say bên đình

Chiếc khăn kỷ niệm bạn tình

Bồi hồi kể chuyện ta mình còn son

Lòng già như héo như mòn

Rằng xa xôi quá, các con không về.

Bao năm chung đụng cận kề

Rằng bà ốm yếu tôi thề chẳng vui

Ngoảnh đi, ngoảnh lại ngậm ngùi

Anh em giờ đã hết rồi còn đâu.

Giờ đây đã bạc mái đầu

Vẫn như in lúc miếng trầu trao nhau

Chỉ cân chè với buồng cau

Mẹ cha vun vén đưa dâu về nhà

Nhẹ nhàng mình nắm tay ta

Nhớ đêm hợp cẩn đã xa một thời

Câu thơ tím cả khoảng trời

Không vần không điệu mà rơi... lệ nhoà

Giờ đây là tấm tình già

Nỗi niềm tâm sự gần xa giãi bày.

Trời cho ba sáu ngàn ngày

Một ngày thôi cũng chặt đầy niềm thơ.

Bâng khuâng hư ảo mộng mơ

Khói mênh mông khói, xanh mơ khắp nhà.

Nén hương, thưa với ông bà

Rằng con, rằng cháu đã già như ai

Tấc lòng đâu dám đơn sai

Gốc nguồn rày đã trong ngoài ấm êm

Giờ đây xin tỏ rõ thêm

Họ hàng nội ngoại, ngày đêm dốc lòng.

Niềm vui suốt cả năm ròng

Việc làng, việc xóm vẫn trong, vẫn đầy.

Mai sau những tháng, những ngày

Đôi ông bà mãi trong tay chẳng rời.

Gần xa xin gửi lời mời

Nghe dòng tâm sự cuộc đời trong say.

Thì thầm vui gió, vui mây

Chiều xuân đong mãi chưa đầy cho thơ.

 

THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG

Ai làm say đắm hồn ta

Để bâng khuâng những chiều xa đợi chờ

Lời xưa hò hẹn chưa mờ

Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi

Cho dù trăng đã khuyết rồi

Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho nhau.

Chẳng thà đắt lúa rẻ cau

Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…

Hôm nay khép áo lên chùa

Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ

Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ

Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến không.

Nhìn ra bốn phía mênh mông

Thả tay buông nắm tơ hồng ngày xưa.

 

TRĂNG XANH

Mai về nối lại lời yêu

Quên đi tất cả những chiều cách xa

Nắm trong tay của người ta

Đợi vầng trăng lại ló ra tỏ tình

Bâng khuâng sao những ảnh hình

Ngày xưa cứ bám theo mình mà đi

Hình như trăng của mọi khi

Vẫn xanh biếc dưới bờ mi thuở nào

 

LẠI MƠ

Đã mơ gom ánh trăng vàng

Gửi vào câu hát mơ màng bên sông

Đã mơ gom nắng tươi hồng

Để pha vào gió vẽ cùng thời gian

Ngờ đâu sau giấc mơ tan

Nhìn ra chỉ thấy muôn ngàn xa xăm

Tìm đâu ước hẹn trăm năm

Tròn đầy với những đêm rằm trăng treo

Ai làm xô dạt cánh bèo

Để đau mãi một mái chèo sang ngang.

 

KHÓI RƠM VÀNG

Chiều rồi gió lộng bờ đê

Khói rơm vàng thổi cháy khê cổng đình

Trời cao sao khéo vô tình

Lấy chảo mây úp ta mình vào trong

Nhìn xa chỉ thấy cong cong

Kiếm không ra những chấn song cửa gầy

Có bao nhiêu lớp mây dầy

Dấu chân trần thuở thơ ngây đã mờ

Tìm đâu ra lối bây giờ

Khói rơm vàng cứ lượn lờ quanh ta.

 

GỬI TÌNH CHO TRĂNG

Xa nhau suốt cả cuộc đời

Không hình, không tiếng, không lời nhắn nhe

Để tàn bao lớp hoa tre

Để khô bao lớp vàng hoe ruối vàng

Mười hai bến nước cho nàng

Mười hai cửa ải cho chàng mãi xa

Chẳng giận mình, chẳng giận ta

Thương sông, thương núi, chẳng hòa vào nhau

Đêm nay người ở nơi đâu

Nhìn lên trăng để khắc sâu chữ tình.

 

THĂM LẠI PHÁO ĐÀI 44

Lối xưa hoang vắng mất rồi

Một bờ công sự bồi hồi đợi ai

Cỏ cây vô ý mọc hoài

Che đi một thuở đỏ trời đạn bom

Che đi hết những chiều hôm

Khói theo hầm gạch gió nồm khẽ bay

Nối nguồn sông Mã về đây

Nước tuần hoàn lại tưới cây trên đồng

Hiểm nguy vẫn chẳng ngã lòng

Tuổi thanh xuân với tim hồng đẹp sao

Bỗng đâu lòng lại dạt dào

Đôi dòng mờ tỏ khắc vào tháng năm.

 

.NHỚ LỜI HEO MAY

Chỉ còn có gió heo may

Thổi vào góc bếp làm cay mắt già

Chiều nào một cháu một bà

Nửa niêu cơm độn với cà kho tương

Tưởng đâu đời lắm sắc hương

Các con quên cả góc giường chuối khô

Quên con đường nhỏ ngoại ô

Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn khênh

Một đời bà mãi lênh đênh

Nuốt vào tim những chông chênh ở đời

Mai sau con có nên người

Nhớ về quê để nghe lời heo may.

 

HUN KHÓI GIỮA RỪNG SÂU

Ai hun khói giữa rừng sâu

Túi than xuống chợ được đâu mấy hào

Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào

Cất vào rương để đi vào tuyết sương

Câu thơ dằng dặc bi thương

Hùng tâm tráng khí vô thường còn đây

Nghe đàn suối, uống rượu cây

Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi niềm

Bỏ đằng sau những tị hiềm

Để quay trở lại mà phiền lụy thân

Nỗi đau đâu chỉ một lần

Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng qua…

Oan khiên đâu dễ tìm ra

Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu

Ai hun khói giữa rừng sâu

Bữa cơm chay cũng chỉ đâu mấy hào.

 

ĐỐT LÁ THAY RƠM

Ngày xưa ai đã đốt rơm

Khói bay, bay mãi từng cơn lên trời

Bên tai có bấy nhiêu lời

Để cho cái kiến phải rời củ khoai

Ngoài kia ai đến cùng ai

Phải chăng vẫn chỉ là trai với cò

Mỏ dài, vỏ cứng chẳng lo

Lại đau cái nắng làm cho yếu mềm

Thì ra cái ác, ác thêm

Hùa nhau để mở ruột mềm trai ra

Bao giờ rụng hết lá đa

Để ta cầm chổi theo ra quét chùa

Gom bao lá rụng cuối mùa

Đốt lên để ngắm khói lùa thay rơm.

 

LỆ ĐÁ

Lại về thăm thánh Mị Châu

Nỗi đau hồn đá không đầu còn đây

Tưởng rằng gương hận đã đầy

Thân trai ngậm ngọc bấy chầy còn đau

Mai sau, dài những mai sau

Có còn ai đó phải lau lệ buồn

 

VỢ MỜI UỐNG RƯỢU

Em nào có nghiện rượu đâu

Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.

Có say thì đã say rồi

Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.

Theo từ mới nở hoa cau

Chẳng cần mặc cả trước sau thế nào.

Theo từ rời chỏm trái đào

Đến nay lấm tấm bước vào tuyết sương.

Tha lôi khắp các công trường

Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô

Giường ghép ván, gạo đựng xô

Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu

Mưa rơi chảy ướt trên đầu

Đành ngồi bó gối nhìn nhau mỉm cười.

Có say, lúc ấy say mười

Bữa nay chẳng biết uống rồi có say.

Rõ là những đắng cùng cay

Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.

Uống cùng em…một chén thôi

Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu

Nuốt vào hết mọi nỗi sầu

Để say như thuở ban đầu mới quen.

 

LẦN GẶP SAU CÙNG

Tôi cũng như em rời mảnh sân trường

Vào mặt trận chẳng cần gì mặc cả

Coi cái riêng tây của mình rất nhỏ

Nơi tuyến đầu lửa đỏ…đáng cần hơn.

Cũng như tôi em thường rất cô đơn

Thư nhà đợi mãi mà chưa đến

Bao câu chuyện giữa đêm tiền tuyến

Có vị ngọt ngào tình yêu đầu tiên.

 

Họ đùa nhau rằng sao có duyên

Áo quân phục cứng ơi là cứng

Đôi giầy vải bết bùn rõ chán

Vẫn hẹn hò gặp nhau hồn nhiên.

Mùa khô rồi đạn bom nhiều thêm

Chiến sĩ vào ra đi như mắc cửi

Mùi thuốc lá thường ngày khó ngửi

Vẫn cứ mong gặp nhau từng đêm…

 

Anh lặng yên giữa nơi đền thiêng

Cố nhớ lại những lời em nói

Quê xa lắm, chẳng thèm cho cưới

Khát anh mà, vẫn quen làm duyên.

Đã bao lần giữa nơi rừng đêm

Sao chi chít ánh ra từ đôi mắt

Vòng tay nhỏ xiết chặt niềm khao khát

Lại chia đường xa nhau dài thêm…

 

Rồi một ngày không hẹn mà nên

Những đồng đội đã đưa anh tới

Đường ra trận có trăm ngàn lối

Chẳng thể nào tìm ra được đâu.

Chiến tranh đã qua, đã qua thật lâu

Bao người đã trở về quê cả

Cung đường cũ lối vào rất nhỏ

Nắng mưa dần xóa sạch cả rồi.

Anh cố tìm nơi mình đã từng ngồi

Không thấy nữa, giữa nơi hoang vắng

Nén hương nhỏ thắp chiều hanh nắng

Lần sau cùng mình xa cách nhau.

 

KHÔNG ĐÁNG ĐỂ THÀNH THƠ

Khi ta làm thơ là lúc ta yêu

Bao tình ý trong ta nảy nở

Những xúc cảm thiêng liêng khẽ mở

Chợt thành thơ khi thơ nhất trong hồn.

Khi ta chưa yên, lòng vẫn bồn chồn

Tim đắng ngắt và đầy chai sạn

Thì muôn nhẽ có là vô hạn

Vẫn không thơ, không đáng để thành thơ

 

NHỚ NHỮNG MÙA TRĂNG

Mai về gặp lại trời yêu

Quên đi tất cả những chiều cách xa

Nắm trong tay của người ta

Mảnh khăn thêu với lá hoa tỏ tình

Bâng khuâng sao những ảnh hình

Cõi xưa cứ bám theo mình mà đi

Mảnh trăng non của mọi khi

Chia tay từ ấy một đi không về

 

Ch Nht, 2 tháng 12, 2012

THƠ THÁNG MƯỜI HAI

 

LẠI VỀ KINH BẮC

Năm nay lại về Kinh Bắc

Hòa vào không khí chơi xuân

Thật may mỗi năm có tết

Để ta vui được một lần

 

Bao người thời trang Âu Á

Còn em vẫn áo tứ thân

Hài hoa, thắt lưng, khăn vấn

Chẳng cần đổi mốt cách tân.

 

Con đò cứ trôi chầm chậm

Câu hát cứ nối miên man

Khẩu trầu tra vôi hơi đậm

Sau lưng tiếng cười giòn tan.

 

Năm nay lại về Kinh Bắc

Nơi nào ghi dấu tuổi thơ

Mùa xuân cứ trôi, trôi mãi

Cuộc đời như thực, như mơ.

 

Th Ba, 30 tháng 10, 2012

LẠI NHỚ NHÀ QUÊ

 

HOA CAU

Bảo rằng “sông rộng một gang”

Chỉ qua “dải yếm” là sang tới rồi

Thế mà mấy chục năm trời

Vẫn không đến được với người tri âm.

Khi yêu người chỉ nói thầm

Lấy đâu báu vật để cầm làm tin

Nhỏ nhoi, trời rộng cánh chim

Biết đâu lối cũ mà tìm được nhau.

Đành chờ đợi để lần sau

Bâng khuâng ngồi ngắm hoa cau nở vàng.

 

HOA NGÔ

Đã lâu người mới quay về

Hoa ngô xào xạc bên đê sông Cầu

Áo ai phơi tím ruộng mầu

Tóc ai chảy bạc cả đầu bến sông

Chói chang khắp hết cánh đồng

Con đò… đã chẳng còn trông thấy gì

Gậy tre cắm dọc đường đi

Nghiêng tai mãi chẳng nghe chi những lời

Thôi dành mượn ánh mắt cười

Gật đầu đáp lại với người thương yêu.

Bờ đê vàng nắng trong chiều

Chuyện ngày xưa, chẳng nhớ nhiều nữa đâu!

Hoa ngô xào xạc bên nhau

Rưng rưng hỏi lại… năm sau có về?

 

RAU KHÚC

Chẳng ai trồng khúc bao giờ

Vẫn xanh, vẫn trắng cả bờ bãi sông

Nếp hương ai lựa trắng bong

Đậu xanh ai đãi vàng ong bên hè

Em cười, khẽ rụt tay về

Có là chi một chút nghề giản đơn…

Nửa chiều bãi đất trống trơn

Bao cây rau khúc cô đơn mọc hoài

Bồn chồn ngày ngắn, đêm dài

Tiếng rao lanh lảnh vang ngoài tường vôi

Phố thay làng đã lâu rồi

Chỉ còn rau khúc…bồi hồi tiếng rao.

 

Th By, 1 tháng 9, 2012

THƠ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG

 

TÌM DẤU NHẠN LOAN

Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè

Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe

Đàn trâu gặm cỏ chen trên bãi

Lũ trẻ mò tôm lặn dưới khe

Nhà cửa mới làm vôi trắng toát

Vườn cây vừa tạo quả xanh lè

Bến thuyền ngày ấy không còn nữa

Làng xóm yên bình dưới bóng tre

 

BÙ NHÌN

Thấy lão bù nhìn phóng bút chơi

Ngờ đâu độc giả phán vang trời

Lấy hình móc máy ra chê bạn

Dựng ảnh vây vo để nhạo đời

Triển lãm bày ra cho khách ngắm

Cảnh quan dựng đó để ta ngơi

Đồng quê lưu dấu nơi phường phố

Cho kẻ vào thăm chụp ảnh chơi

 

Th Hai, 6 tháng 8, 2012

THÁNG 8 NĂM 2012

 

VỀ CÙNG SÔNG LÃNG

Lâu lắm không về sông Lãng

Nước triều mới cạn đêm qua

Bùn loãng chan đầy mặt cỏ

Thu vàng muôn lớp đùn xa 

Sông vẫn chảy theo vườn cũ

Dây trầu ngoi nước mà lên

Vòi tre bò ngang mùa lũ

Vô tình khi nhớ khi quên

 

Dòng sông cứ trôi triền miên

Bậc đá nằm yên trên đất

Mùa lụt, mùa khô chồng chất

Nhớ ngày gặp em đầu tiên…

 

Chỉ mong gặp thêm lần nữa

Cùng nhau giây phút cận kề

Bờ khuya từng con sóng vỡ

Còn em mãi mãi không về

 

THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG

Ai làm say đắm hồn ta

Để bâng khuâng những chiều xa đợi chờ

Lời xưa hò hẹn chưa mờ

Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi

Cho dù trăng đã khuyết rồi

Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho nhau.

Chẳng thà đắt lúa rẻ cau

Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…

Hôm nay khép áo lên chùa

Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ

Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ

Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến không.

Nhìn ra bốn phía mênh mông

Thả tay buông nắm tơ hồng ngày xưa.

 

Ch nht, 24 tháng 3, 2013

GỬI VỀ THANH HÓA

 

THANH HÓA

Thanh Hóa giờ đây đã khác rồi

Thị thành làng xóm mới tinh khôi

Hà Trung trải rộng xanh màu lúa

Hoằng Hóa vươn cao trắng sắc vôi

Nông Cống hàng lên càng tấp nập

Quảng Xương khách đến vẫn đông vui

Quê hương rộn rã  như vào hội

Dòng chảy thời gian mải miết trôi

 

LỊCH SỬ OAI HÙNG

Trở lại quê Thanh buổi sớm nay

Đồng chiêm mới cấy lúa đan dầy

Long Quang động cũ thơ còn đó

Hòn Ngọc núi xưa tích vẫn đây

Nam Ngạn bến thuyền vừa dựng lại

Đình Hương phố xá đã đang xây

Một thời đánh giặc gương ngời sáng

Lịch sử oai hùng rạng rỡ thay

 

TRỞ LẠI HÀM RỒNG

Mấy chục năm nay mới trở về

Hàm Rồng vẫn nối giữa hai đê

Lối xưa Đông Tác vui làng xóm

Đường mới Hoàng Long rộn phố quê

Đánh giặc cha ông từng dũng cảm

Dựng xây con cháu lắm say mê

Ước mơ hạnh phúc từ năm ấy

Mấy chục năm nay mới trở về

ĐỔI NGHỀ

Lại trở về thăm đá Núi Nhồi

Nhớ hoài ngày tháng đã xa xôi

Tiếng mìn phá đá đau hồn núi

Ngọn khói lò nung đắng vị vôi

Rời bỏ nghề xưa buồn mấy đận

Tìm công việc mới biết bao hồi

Theo lời Đảng gọi xây đời mới

Phố núi giờ đây đổi khác rồi

 

GẶP XUÂN

Gặp xuân từ ấy nặng lòng thương

Bến lạ sông quen nối dặm đường

Cứ tưởng vườn đào còn thắm sắc

Đâu ngờ ngõ mận đã phai hương

Sân vôi lá rụng dầm mưa nắng

Ngõ gạch rêu phong gội gió sương

Vẫn biết ngày xưa không trở lại

Sao lòng ai đó mãi tơ vương

 

DU XUÂN

Mặt hồ gợn sóng tím trong sương

Cây trái xum xuê khắp bản mường

Rừng vải đơm hoa soi đáy nước

Đồi thông gió thổi hát du dương

Vầng mây lờ lững xanh triền núi

Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường

Lữ khách du xuân vừa cập bến

Đào mai nở rộ ngát thơm hương

 

Người đăng: lehoa4754blogger.com vào lúc 07:46 Không có nhận xét nào:  

Gửi email bài đăng này

 

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

CHUYỆN CỦA HOA ĐÀO

 

LẠI TÌM XUÂN VỚI HOA ĐÀO

Lại tìm xuân với hoa đào

Giữa chiều tết lạnh xôn xao tiếng lòng

Cành nào chan chứa sắc hồng

Cành nào thấm đỏ bềnh bồng trong mơ

Cành nào phai lạt bâng quơ

Cành nào tươi tắn đợi chờ trao xuân

Cành nào như thể chứng nhân

Thời gian ghi dấu bao lần trong thơ

Dịu dàng đàn nối dây tơ

Lại tìm xuân, lại tìm mơ hoa đào.

 

QUÉT XÁC HOA ĐÀO

Anh ngồi quét xác hoa đào

Gói mùa xuân lại gửi vào mênh mông

Chiều tàn theo ngọn gió đông

Đợi hoài đợi mãi người không trở về

Lối xưa, ai chắp câu thề

Rằng mai đây, mãi cận kề bên nhau

Ai dè “đắt lúa, rẻ cau”

Từ ngày hôm ấy…đã lâu không về

Các con thương suốt mùa hè

Sang mùa thu với bộn bề, tả tơi

Những ngày “cơm vãi, cơm rơi”

Có làm thay đổi cuộc đời cho ai (?)

Mơ chi tháng rộng, năm dài

Nối thêm kỳ hạn, phí hoài thanh xuân

Hoa đào nở được mấy lần

Để anh còn được một phần của em

Mơ hồ xuân lạ, xuân quen

Hoa đào đã rụng mà em chưa về (!)

 

TẬP VIẾT CHO CON

Cha ngồi tập viết cho con

Nét vuông nối với nét tròn cạnh nhau

Nét nào viết trước, viết sau

Bút xuân khẽ lướt khi mau, khi dầy

Nhớ nghe con béo hay gầy

Lâng châng mà chẳng sa lầy bùn nhơ

Nhớ nghe con tỏ hay mờ

Đừng làm hoen ố bao tờ trắng trong

Nhớ nghe con giữ thẳng dòng

Đừng quên kẻ vạch mà cong, mà chùng

Thiết tha, đằm thắm, thư hùng.

Tay con khéo lựa hòa cùng tay cha

Mai sau con lớn lên già

Chữ nhân, chữ nghĩa nhớ mà thẳng ngay

Âm thầm nét chữ, bàn tay

Cha ngồi cần mẫn mỗi ngày bên con 

 

NGẮT NHỊP TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

(Loạt bài tìm hiểu về thơ  của Lê Trọng Hồng)

 

1. NGẮT NHỊP TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Trong những bài viết trước đây tác giả đã có nhiều bài  tìm hiểu về luật thơ Đường luật, trong đó những yếu tố về vần, niêm, đối và về cấu trúc đề, thực, luận, kết. Tuy nhiên đó chỉ là những khuôn cữ để ta xếp thể loại mà thôi, còn những yếu tố chính của thơ chưa nói được gì nhiều. Cũng như các thể loại văn học khác, thơ vốn là những văn bản kiệm lời nhưng giầu hình tượng và rất giầu xúc cảm. Để có được điều đó không thể không nói đến vật liệu làm ra nó đó chính là ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ và nhịp điệu thơ. Cái mà người làm thơ muốn đó là khi ta đọc bài thơ ta như thấy từ bên trong sự sâu xa của hình ảnh của câu chữ những tình, những ý đầy xúc cảm trong thơ. Điều đó cho thấy những gì là khúc chiết là rõ ràng và mạch lạc sẽ làm mất đi bao cảm nhận phong phú của người đọc.

Dường như ai cũng biết thơ Đường luật xuất hiện ở Việt Nam từ khi người Việt còn dùng chữ nôm và chữ Hán. Nhiều bài thơ Đường luật còn đến ngày nay đều chưa có các dấu phân cách như trong văn bản tiếng Việt hiện nay. Cho dù  những câu thơ viết liền nhau từ đầu đến cuối vẫn không làm cho người viết sợ độc giả không hiểu được ý của nhà thơ và cũng như vậy các độc giả chả bao giờ phải tìm đến tác giả để hỏi xem tôi phải hiểu như thế nào vì tác giả và độc giả đều đã hiểu rằng thơ Đường luật có nhịp điệu riêng của nó thông qua cách ngắt nhịp quen thuộc ở từ thứ 2 hoặc từ thứ 4 trong câu. Hoàn toàn khác với cách ngắt nhịp ở từ thứ 3 và đôi khi ở từ thứ 5 của các câu thất trong thể thơ song thất lục bát.

Về thực tế trong nhìn nhận chung của các nhà thơ thì bài thơ Đường luật tốt nhất thường đạt được sự hài hòa trong âm thanh và nhịp điệu. Dẫn chứng cho điều này ta có thể xét 56 từ trong bài thơ nếu giữ được tỷ lệ 28 thanh bằng trên 28 thanh trắc thì bài thơ êm dịu và sâu lắng. Cũng như thế ta duy trì được duy nhất một chính vần thì bài thơ như nước chảy xuôi và nếu như trong mỗi câu thơ Đường luật ta giữ được tiết tấu: 4/3; 2/2/3 hoặc 2/5 thì bài thơ càng mềm mại và uyển chuyển như các ví dụ dưới đây

 

Ví dụ 1: Ngắt nhịp ở từ thứ hai trong câu (2/5)

 

Nhớ nước/ đau lòng con cuốc cuốc

Thương nhà/ mỏi miệng cái da da

      (Thơ Bà huyện Thanh Quan)

 

Ví dụ 2: Ngắt nhịp ở từ thứ tư trong các câu (4/3)

 

Bước tới đèo Ngang/ bóng xế tà

Cỏ cây chen đá/ lá chen hoa

Lom khom dưới núi/ tiều vài chú

Lác đác bên sông/ chợ mấy nhà

       (Thơ Bà huyện Thanh Quan)

 

Cũng đã có người bảo rằng: nếu như ta có thể ngắt nhịp 3/4 thì có khi gây được xúc cảm cao hơn kiểu ngắt nhịp truyền thống. Đây có phải là một phát kiến hay không thì chắc cũng chưa có nhiều người tán thành vì các tác giả thơ Đường luật cho rằng có nhiều thể loại thơ lắm, nếu như muốn thống thiết hơn, muốn hùng hồn hơn thì ta hãy làm thơ song thất lục bát, hoặc thơ tự do vv… lý gì cứ phải vận dụng vào thơ Đường luật cho vất vả (!). Dưới đây là vài ví dụ về cách ngắt nhịp trong thơ song thất lục bát

Ví dụ 1: Ngắt nhịp ở từ thứ 3 trong câu (3/4)

 

Chí làm trai/ dặm nghìn da ngựa

Gieo Thái Sơn/ nhẹ tựa hồng mao

 

                        Hay là:

                      

Tiếng địch thổi/ nghe chừng đồng vọng,

Hàng cờ bay/ trong bóng phất phơ.

                 (Thơ Đoàn Thị Điểm)

 

2. Ý KIẾN SAU CÙNG

Qua những tư liệu nêu trên ta thấy cho dù là thơ nào thì người ta cũng nói đến luật của nó, phàm những yếu tố cần thiết mà không hội đủ thì chưa phải là thơ. Còn nói đến thơ Đường luật (cần nhấn mạnh chữ luật) thì phải kể hàng trăm, ngàn những bài dài có, ngắn có. Đâu là chuyện các nhà thơ Đường chính hiệu viết thơ theo dải trên và dải dưới, mỗi dải theo một niêm luật khác nhau. Cũng có bài thì cho rằng thơ Đường tuân thủ theo một niêm luật nhất định là những bài dùng trong thi cử vv…

Về những đề tài như thế này sai hay đúng thật khó mà thẩm định vì rằng không thấy ai nói rõ rằng có một người cụ thể nào đặt ra, càng không ai nói rằng một bộ phận cụ thể nào đặt ra mà chỉ thấy rằng luật này xuất hiện vào thời nhà Đường mà đặt thành như vậy. Tuy là mọi cái còn đang chưa rõ ràng nhưng nếu tập trung lại các ý kiến thì chắc không ai cho rằng thơ Đường luật tách khỏi những điều cần có, đó chính là thanh âm, là vần điệu, là niêm luật, là ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ.

Những người làm thơ Đường luật từ lâu đã hiểu đây là một thể thơ hơi buồn, thơ mang tính hoài niệm, đi vào chiều sâu nội tâm hơn là mang khí thế hừng hực bút chiến. Khi đọc bài thơ lên ta nghe đâu đó trong hơi thơ có sự dàn trải, nhấn nhá ngấm sâu vào lòng người để lại suy tư, trăn trở. Cũng đã có nhiều người bằng cách này hay cách khác dụng công để cho bài thơ có sức biểu đạt mạnh mẽ hơn nhưng cũng chỉ có tác dụng một thời rồi sau đó không còn nhiều người biết đến nữa.

Một trong những nghiên cứu có khá đông người cho quan điểm về nghệ thuật của thơ và đặc biệt bao trùm toàn bộ bài thơ Đường luật là “ý tại ngôn ngoại” vì thế sự chia tách mạch lạc trong thơ Đường luật chả hóa làm mất đi cái thần thái đó chăng. Qua những ý trên, nên chăng thơ Đường luật hãy cố gắng sắp xếp ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu của chính nó. Điều đó cho thấy chẳng cần thiết phải có các dấu phân cách, dấu biểu cảm trong thơ Đường luật

                                             Phả Lại ngày 15/01/2010

 

Thứ Bảy, 19 tháng 1, 2013

THÊM NHỮNG MÙA XUÂN

 

VỊNH TẾT  

Cảnh tết râm ran khắp ngả đường

Hương xuân hối hả chảy muôn phương

Đầu làng pháo nổ inh trời đất

Cuối chợ người đi kín phố phường

Núi biếc ngàn hoa phô trước gió

Trời xanh bóng nhạn vút trong sương

Xuân sang nhớ lại bao mùa trước

Hạnh phúc đang về dậy sắc hương

  

NGHĨ VỀ XUÂN

Cứ nghĩ xuân sang cũng đã nhiều

Lấy gì để gửi chút tình theo

Ra sân gió bấc xoa vào mặt

Xuống bếp sương hàn chạm tới kheo

Xóm trại loanh quanh đường khó đến

Đường thôn luẩn quẩn dốc khôn trèo

Xuân như ngại tới thăm người khó

Tết cũng quên qua chỗ kẻ nghèo.

 

XUÂN CẢM

Vườn đào hé nụ giữa tinh khôi

Đổi mới xuân nay đã khác rồi

Nhập cuộc bán buôn vừa kết hội

Dầu tư kinh tế đã sinh lời

Năm xưa chiến trận không thua kế

Buổi mới làm ăn chẳng luỵ thời

Độc lập tự do luôn giữ gốc

Giầu sang phú quý quyết hơn người

 

BÍNH TUẤT GIEO THƠ

Non sông đã nở rộ muôn hoa

Cảm tác đôi câu gửi mọi nhà

Tích nước Sơn La bao kín lại

Khai dầu Dung Quất mở dần ra

Cổ phần công hữu vừa khai triển

Góp vốn tư doanh cũng kịp đà

Đón tết tưng bừng vui đổi mới

Mừng xuân nhộn nhịp cất lời ca

TÌM XUÂN

Suốt mấy năm nay bạn chẳng qua

Để ai cằn cỗi trở nên già

Giấy điều đợi đó thơ không đến

Bút mực chờ kia chữ chẳng ra

Giương kính tìm vần nơi đáy r­ượu

Thắp đèn kiếm tứ giữa sân hoa

Tìm xuân gặp dịp ai mà chẳng

Gọi chút tâm tình gửi bạn xa.

 

XUÂN MONG ĐỢI

Tr­ước ngõ xuân nh­ư đã đến rồi

Mấy ngày vui tết đã dần trôi

Ngoài đ­ường vắng lạnh chim ch­ưa hót

D­ưới n­ước trong veo cá chẳng bơi

Mong chút nắng hanh hong ấm đất

Đợi làn mư­a nhỏ t­ới xanh chồi

Sao cho sớm sủa qua cơn rét

Để lúa chiêm xuân héo lại hồi.

  

XUÂN ĐẾN NHÀ

Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa

Mừng đư­ợc đông vui đủ trẻ già

Trong bếp đàn con đang sắp cỗ

Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà

Nụ đào chúm chím hồng bên cửa

Cành lộc đu đư­a biếc giữa nhà

Đôi khổ thơ xuân còn ­ướt mực

Một ly n­ước mới dậy h­ương trà.

 

GIAO THỪA (1)

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu

Kẻ đến dùng dằng mong nán lại

Ng­ười về tấp tểnh muốn qua mau

Ai giao ai nhận ai giao nhận

Ai đến ai về ai tiếp sau

Cái sự luân phiên không sở cứ

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

 

GIAO THỪA (2)

Giao thừa gọi có tý nông sâu

Một chút vây vo khúc dạo đầu

Thơ mư­ợn rung đùi chôm mấy tứ

Từ vay nhếch mép thuổng vài câu

Ngoài trời mư­a bụi rơi chư­a ngớt

Trong bếp lò than đỏ đã lâu

Ai chót đọc qua thông cảm hộ

Thơ vừa mới đạo nhớ đừng tâu

 

KHAI BÚT KHAI XUÂN (1)

Đầu năm khai bút viết gì đây

Thi phú vui buồn dạ chẳng khuây

Lắc rắc quanh nhà m­ưa nối hạt

Lờ mờ cuối phố khói chăng dây

Hoa đào gió lạnh ch­ưa thèm nở

B­ướm trắng m­ưa dầm chửa muốn bay

Xuân đến xin chờ cho một chút

Chủ nhân quá chén vẫn còn say.

 

KHAI BÚT KHAI XUÂN (2)

Chào xuân khai bút viết thơ xuân

Mời bạn gần xa hoạ mấy vần

Xuân đến xuân sang xuân gặp tết

Tết về tết lại tết tìm xuân

Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết

Tết tới một năm tết đợi xuân

Xuân Tết Xuân xuân Xuân tết tết

Tết Xuân Tết tết Tết xuân xuân.

 

THƠ NHÀM

Xuân vừa đến đó đã đi đâu

Dạ muốn vui theo chợt lại sầu

Chén r­ượu nửa chừng say sắp hết

Tuần hư­ơng mới thắp cháy còn lâu

Chó con ngoài ngõ lai rai sủa

Kiến gió chân tư­ờng xúm xít bâu

Có biết giao thừa đang đứng đợi

Thơ nhàm viết vội một đôi câu

 

AI NHẬN AI TRAO

Giao thừa ai nhận để ai trao

Một thoáng h­ương xuân thật ngọt ngào

Áo trắng anh về trong rực rỡ

Khăn hồng em đến giữa thanh tao

Câu thơ ng­ười đọc bên cành lý

Khúc hát ai ngân dư­ới gốc đào

Đỏ mặt kìa xuân e ấp mãi

Giao thừa ai nhận để ai trao

 

CUỐI XUÂN

Lại những chiều hôm lạnh thấu trời

Từng đêm dằng dặc đếm sao rơi

Một chùm hư­ơng dịu mây đư­a đến

Nửa mảnh xuân nồng sóng cuốn trôi

Buồn cũ hình nh­ư đang trở lại

Vui này hồ dễ sắp chia phôi

Lòng ai luống những mong xum họp

Ng­ười đã vô tình muốn rẽ đôi

 

CUỐI XUÂN CẢM TÁC

Xuân đã dần qua cuối tiết rồi

Gốc đào tr­ước cổng đứng đơn côi

Tiếng chim sau núi lư­a thư­a hót

Bông gạo trên cành lặng lẽ rơi

Ánh nắng chiều vàng đang tụ lại

Vầng trăng đêm trắng sắp chia phôi

Giật mình một chốc m­ười năm lẻ

Một áng thơ buồn tỏ khúc nhôi

 

HỘI XUÂN QUÊ

Một hội xuân quê mới mở ra

Chia vui khắp hết cả muôn nhà

Sân đu đầy chặt trai bên gái

Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già

Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn

Cuối thôn hể hả lúa thêm trà

Đất trời toả rộng hương no ấm

Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.

 

VIẾT MÃI NHỮNG MÙA THU

 

VƯỜN THU

Ngoài trời còn chửa thấy thu sang

Khóm cúc vườn bên đã trổ vàng

Cái bướm loanh quanh trên mặt cỏ

Con chuồn luẩn quẩn mé rào ngang

Bờ tre đã lạnh mưa còn ướt

Khóm duối nhoè sương nắng chửa quang

Muốn thử đôi câu tìm ý tứ

Thu chờ ai thế giữa vườn hoang

 

HOA THU

Vư­ờn ai cháy sáng giữa heo may

Khóm cúc vàng tươi nở đắm say

Thấp thoáng bầy ong đu dưới lá

Chập chờn đàn b­ướm lượn trong cây

Hư­ơng buồn mới thả tan vào gió

Màu nhớ vừa pha quyện dưới mây

Gợi nỗi cô đơn chiều vắng lạnh

Hoa thu người gửi vẫn còn đây.

 

THU CẢM

Thu vừa chợt đến mới đây thôi

Vườn cũ chiều nay đã lạnh rồi

Lá trút lao xao vàng mặt đất

Mây trôi lãng đãng trắng chân trời

Cánh chim trước gió bay tìm tổ

Tiếng sáo trên đê réo gọi người

Một chút heo may nơi ngõ vắng

Nỗi niềm xa cách khó mà vơi.

 

THU NHỚ

Chiếc lá trên cành nhẹ cuốn bay

Thu về cuối ngõ lạnh hơi may

Nhành sung rủ xuống bờ hoa cúc

Gốc ổi trùm lên bậc đá xây

Vương vấn mong hoài người dạo ấy

Bồi hồi ngóng đợi khách hôm nay

Một mình thơ thẩn ra vào mãi

Cất bút gieo vần gửi gió mây.

 

ĐÊM THU

Bên trời vàng ủng ánh trăng suông

Từng đợt heo may gõ cửa buồng

Loáng thoáng trại xa đôi tiếng gáy

Chập chờn chùa cũ một hồi chuông

Thương con vạc trắng còn chưa ngủ

Giận lũ chim non đã động chuồng

Năm tháng mải mê chừng đã mỏi

Đêm thu dài rộng trải trên giường.

 

BUỒN THU

Đêm trăng se lạnh gió heo may

Kỷ niệm xa xăm luống chất đầy

Chia cách mỏi mòn cho bạn nhớ

Gặp nhau mừng tủi để ta say

Ước ao mới đó không đành đổi

Chờ đợi cũ rồi chẳng chịu thay

Có biết tủi hờn về với đấy

Để rồi buồn khổ trút cho đây.

 

THỨC GIẤC ĐÊM THU

Đêm thu lặng lẽ đợi sang canh

Tiếng gió lao thao động lá mành

Vầng cuối nhạt màu soi dưới ngạch

Chòm thưa lốm đốm rọi trên cành

Bờ tre gặp gió kêu keo két

Chú dế chờ sương gáy lạnh tanh

Thức giấc xoay nghiêng nhòm mé cửa

Bên trời tiếng vạc thoáng mong manh.

 

TÂM SỰ CUỐI THU

Mùa thu rồi cũng sẽ đi qua

Để rét mùa đông đến tặng quà

Đệm mút nằm lâu đang xẹp xuống

Chăn bông đắp lắm đã xơ ra

Da mồi tóc bạc đừng than vãn

Tai điếc mắt mờ chớ cẩm ca

Đồ vật mươi năm còn phải hỏng

Sống lâu cái nhẽ trở nên già.

 

LOẠN THU

Vẫn biết thu sang cả tháng rồi

Vần thu còn lạc ở xa xôi

Loanh quanh mây gió càng thêm chán

Luẩn quẩn cây hoa lắm cũng tồi

Trời đất năm nao mà chẳng thế

Nỗi niềm cũng đến vậy thì thôi

Câu thu viết mãi càng thêm loạn

Chả lẽ thu nao cũng tái hồi.

 

 

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

CHUYỆN NHỮNG NGÀY XƯA

 

ĐƯỜNG BÒ LĂN

Đường Bò Lăn chợt mới nghe

Tưởng đâu câu chuyện bên hè vậy thôi

Khi nhìn tới tận mắt rồi

Mới hay dường ấy cả trời cũng lăn

 

NÓN CHỢ ĐỒN

Nón Đồn đã trắng lại truông

Đã thanh lại nhẹ dễ thương dịu dàng

Hôm qua nằm ngủ mơ màng

Thấy ngưòi mang nón nhẹ nhàng đến thăm

 

SAO TRÊN SÔNG LA

Sông La, sông La chiều nay xa

Vỏ thép xà lan truyền hơi nước lạnh

Trời sao rơi xuống đầy sông

Có ngôi sao nào của riêng ta không

 

PHÀ RÒN

Qua phà đã là xứ Quảng

Hết núi rồi chỉ còn cát thôi

Phía sau cát đó chính là biển rộng

Sức con người đâu có ngại trùng khơi

 

TA CÓ LÀ MÌNH

Sau Cự Nẫm đã là chiến trận

Từ bây giờ ta mới thực chiến binh

Mọi chết chóc bắt buộc ta chấp nhận

Ta sẽ là ai hay ta thật là mình.

 

XÊ BANG HIÊNG

Xê Bang hiêng, Xê Bang hiêng

Một dòng sông nằm nghiêng

Giữa hai miền đất nước

. . ……………………….

T 73

Nơi tiếp giáp ba miền biên giới

Tiếng gà quen ba nước nghe chung

Tiếng bom nổ ba nước lo cảnh giác

Có một quân thù ba nước gọi thù chung

 

VẪN CHỈ MỘT THÔI

Thế là đã vào vùng giải phóng

Cũng là rừng là đất của chính anh

Con người ấy với một bầu máu nóng

Khí anh hùng cao tuyệt ngất trời xanh

 

MƯA TÂY NGUYÊN

Mùa mưa trong sách ngày xưa

Tưởng vài ba bữa thưa thưa rồi ngừng

Vào Tây Nguyên mới lạ lùng

Mưa liền mấy tháng chẳng dừng hôm nao

 

TRỈA LÚA

Hai tay hai gậy mà đi

Cái thì chọc trước, cái thì chọc sau

Giống nương ai rắc cho mau

Mùa mưa lúa mọc rồi sau thóc vàng

 

VỀ BAN QUÂN GIỚI

Làm lính ở dưới đã rồi

Lên phòng công tác gặp hồi đốt than

Lò rèn sắt thép chứa chan

Những dao cùng xẻng cơ man đồ dùng

 

ĐỨC CƠ

Đức Cơ, Đức Cơ, Đức Cơ, Đức Cơ,

Sân bay vắng lặng đang nằm trơ

Hiện đại thế sao mày phải chạy

Ta ngồi trên đường băng làm thơ

 

HỔ GÀO

Đói thì vào rừng sâu

ở đây chẳng có gì ăn đâu

Thịt tao toàn Ni va quin đắng

Mau tìm về những nơi rừng sâu

 

HỔ DẪN ĐƯỜNG

Mày hãy cứ phía trước

Còn tao đi đằng sau

Chúng mình không duyên nợ

Đừng có mà đợi nhau

 

BẮN KỲ ĐÀ

Kỳ đà ai nuôi đó

Mà lớn to thế này

Hôm nay ta đói thịt

Đọc lệnh hy sinh mày

 

BẮN CU XANH

Thịt gà ăn mãi chán

Tìm mấy chú cu xanh

Gốc đa trường bắn đấy

Chớ có lượn vòng quanh.

BẮN CÁ SUỐI

Cá suối nhiều vô kể

Đạn súng giặc cũng nhiều

Mang chúng ra bờ suối

Bắn cá về nấu riêu

 

BÍ MẬT

Hôm qua về A5

Hôm nay về A6

Chả biết là nơi nào

Mình với mình cũng giấu

 

SAU TRẬN ĐÁNH

Vượt qua đường mười chín

Gặp cứ điểm Chư Bồ

Xác giặc khô quắt lại

Chưa ai đặt xuống mồ.

 

GIẤY KHEN

Một góc tờ pơ luya

Màu than đánh chẳng rõ

Giấy khen từ trên phòng

Chiến công mùa khô đó

 

NHẦM PHẢI ỐNG BƠ

Mắt gì mà to thế

Bắt đèn chẳng chịu rời

Bắn đã ba lần rồi

Vẫn thấy còn sáng loé

 

LẤY ĐẦU ĐẠN PHÁO LÀM DAO

Hết sắt để rèn dao

Chẳng thể làm khó tao

Đầu đạn mày khá lớn

Tám mảnh rõ đều nhau

 

NHỮNG CHIẾC BA LÔ CŨ

Ba lô người gửi lại

Gom vừa đầy một kho

Đồng chí còn hay mất

Để tôi gửi về cho

 

SỐT RÉT

Suốt cả tuần rồi rặt những mưa

Hố mắt cay xè rõ lạ chưa

Nước mắt tự do trào ra mãi

Hơi nóng trong mồm thật khó ưa.

 

NHỮNG NGÀY SỐT Ở K4

Thuốc mấy hôm rồi chẳng khỏi cho

Nghe chừng cơn sốt cũng hơi to

Cơm ăn chẳng muốn đưa vào miệng

Cứ mãi thế này thật đáng lo. 

 

Chủ Nhật, 6 tháng 10, 2013

NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

ĐỐI VÀ LUẬN TRONG THƠ ĐL HẢI DƯƠNG

(Trích bài Một số nhận xét về nội dung và nghệ thuật tập thơ Khơi mạch Đường thi VI của LÊ HOA)

 

       Nói về đối và luận trong thơ Đường luật, quả thật vô cùng mênh mông, nhưng cũng không thể không bàn đến vì đối là một hình thức bắt buộc phải có trong thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Những người làm thơ Đường luật không ai không biết đến bài "Qua đèo Ngang" của bà Huyện Thanh Quan Nguyễn Thị Hinh. Trong bài này có hai cặp đối đọc lên nghe thật nuột nà về âm sắc và thấm đẫm nỗi lòng về nội dung. Thế nhưng đã có thời gian xuất hiện nhiều bài nghiên cứu về bài thơ này và một số tác giả lúc ấy cho rằng bài thơ này của bà đối chưa được chỉnh. Nhân đó cũng xin có một đôi điều bàn thêm trong tham luận hôm nay.

            Trước hết nói về cặp đối tả thực: "Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên sông chợ mấy nhà" chúng ta nhận ra ngay cái sự không chỉnh ở chỗ Lom khom là động từ tả động tác, Lác đác là tính từ chỉ hình thái. Lại nữa Tiều vài chú chỉ về loài có tính hoạt động còn Chợ mấy nhà chỉ về quang cảnh cố định, điều này cho thấy sự chưa chỉnh của cặp đối. Trong văn học của mấy thập kỷ trước đã có người vận dụng sự chỉnh đối nhận định rằng "chợ mấy nhà" ở đây phải là "rợ mấy nhà" để Tiều đối với Rợ. Nhưng còn danh từ "nhà" và đại từ "chú" thì vẫn còn đó (!) Nếu cho sửa thì cặp đối phải là: "Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lúi húi bên sông bạc mấy thằng" mới thực là chỉnh. (bạc là người chài lưới đánh cá). Nhưng nếu cứ phải chỉnh mà sửa đi, sửa lại đến độ: "Thần nông giáo dân nghệ ngũ cốc/ Thánh sâu gươm vua gừng tam cò" thì đối chỉnh để được gì. Có thể bàn thêm về thơ của bà Huyện Thanh Quan trong bài Thăng Long thành hoài cổ với câu : "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương" cũng vậy; "lâu đài" chỉ có thể đối với "môn hộ" còn đối với "xe ngựa" thì không chỉnh. Vì vậy đối bắt buộc phải có cần chú ý đến sự đối ý, những cũng không bỏ qua sự đối về từ loại.

       Về thơ của Hải Dương ta, gần đây nhiều bài cũng đã có các cặp đối đã khá chỉnh, tuy nhiên mỗi tác giả cũng có đôi bài kém đối, nếu được gia công thêm thì chất lượng sẽ tiến bộ hơn lên. Để dẫn ra thì nhiều lắm, tuy nhiên cũng xin trích vài câu để chúng ta cùng vui. Ví như cặp câu: "Núi Chúa đứng nhìn trời tít tắp/ Sơn Trà nằm đợi biển mênh mông" trong bài Trở lại Hải Vân của Nguyễn Hải Hoà trang 60 Khơi mạch Đường thi (KMĐT) IV. Hay như cặp câu: "Góp sức cùng dân làm việc tốt/ Đồng tình với Đảng diệt trừ gian "trong bài Tự sự của Vũ Đăng Nụ trang 155 KMĐT IV. Hay cặp câu: "Thương mùa nắng hạ oi nồng đất/ Nhớ tiết mưa đông lạnh buốt trời" trong bài Nhớ của Trần Thị Yên trang 275 KMĐT IV vv...

      Phần tham luận thứ hai xin có đôi điều nói về luận trong thơ Đường luật. Cũng như nhiều học giả đã từng nói về các bước đề, thực, luận, kết trong sáng tác thơ Đương luật. Luận là phần quan trọng trong cấu tứ bài thơ. Nếu bài thơ không có luận thì người ta không biết bấu víu vào đâu để mà hiểu tác giả, có thể nói một cách khác, luận là cái tứ của bài thơ đó. Không có luận bài thơ không có hồn, tuy nhiên luận không đơn độc chỉ ở cặp câu thứ ba. Luận có thể trốn khỏi vị trí để xuất hiện ở vị trí khác khi một phần kết giúp nó làm bật lên cái tứ của bài thơ. Tuy nhiên luận phải xuất hiện đúng vị trí của nó nếu như bài thơ có kết mở. Những bài có luận rõ, luận sắc sảo vẫn là những bài thơ hay, làm xúc động lòng người.

        Cũng vẫn lấy bài thơ Qua đèo Ngang của bà Huyện làm ví dụ, ta có cặp luận "Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/ Thương nhà mỏi miệng cái da da". Luận của Bà Huyện đặc biệt độc đáo ở chỗ lấy hiện thực qua tiếng kêu ra rả suốt hè và tích truyện cuốc mất nước rồi thêm chữ "đau lòng" vào đó để tỏ sự xót xa đến cùng cực của nỗi đau mất nước. Cũng như thế Bà Huyện lấy hiện thực qua tiếng kêu riết róng, đứt quãng và lặp đi, lặp lại nhiều lượt của chim đa đa rồi thêm vào đó hai từ "mỏi miệng" để mà bồn chồn day dứt về nỗi nhà. Từ đó toát lên cái tứ nhớ nước, thương nhà gửi gấm trong thơ, khi bà phải rời xa kinh thành, rời xa tổ ấm gia tộc để vào phương Nam xa xôi cách trở. Ví phỏng không có cặp luận này thì cặp kết mở "Dừng chân đứng lại trời non nước / Một mảnh tình riêng ta với ta" có thể nói được gì sau những câu đề, câu thực của bài thơ.

       Cũng trong vấn đề luận, phần đông các tác giả hiện nay sáng tác thơ Đường luật thường kéo tràn thực qua cả cặp câu thứ ba với chủ ý trốn luận, như thế thì bài thơ giống thơ vịnh nhiều hơn. Tuy nhiên bảo trốn luận hoàn toàn thì chưa hẳn, vì nếu xét kỹ ta thấy nhiều bài thơ, cặp thực không chỉ tả cảnh mà còn diễn tả cảm xúc, diễn tả nội tâm, sự chồng chận của cảm xúc, nội tâm trong hai câu sau có tác dụng nhấn mạnh, bật ra chủ ý của tác giả và như thế bài thơ đã có luận. Ví dụ như hai cặp câu hai và ba trong bài Cảm xuân của Nguyễn Hải Bắc trang 14 KMĐT III:

 

Đào, mai hớn hở cười khoe sắc

Quỳnh, cúc mong chờ nở rộ bông

Phố xá đường ngang người tới chợ

Làng quê bến nước khách sang sông

 

            Cả bốn câu đều vẽ cảnh xuân, với hai câu trên đã cho thấy xuân vui. Khi có thêm hai câu dưới nói về sự đi lại của người tới chợkhách sang sông cho thấy xuân tươi vui và rộn rã đang tràn ngập  trong lòng tác giả.

      Vài năm gần đây cũng đã có những ý kiến cho rằng luận có thể mở rộng ra tất cả các câu trong bài thơ. Nói một cách khác là trong mỗi câu đều đã có nỗi niềm của tác giả gửi gấm ở trong đó. Những bài thơ như thế quả là rất đáng quý và khá hiếm. Trong tham luận này muốn dẫn ra bài thơ Chạy Tây của cụ Đồ Chiểu làm ví dụ.

 

Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây

Một bàn cờ thế phút sa tay

Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy

Mất tổ bày chim dáo dát bay

Bến Nghé của tiền tan bọt nước

Đồng Nai tranh nứa nhuốm màu mây

Nhân tài đất nước rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này.

 

      Cả tám câu đều có nửa đầu tả thực và luận ngay ở nửa sau. Mỗi câu đọc lên đều thấy buồn đến trào nước mắt. Tập hợp toàn bộ lại thấy ngay sự đau xót bởi nỗi giặc dữ đã vào, nước mất, nhà tan, tổ vỡ, người và vật đều tan tác. Càng đau đớn hơn khi bao kẻ ăn lộc nước đều mất tăm hơi .

            Bài thứ hai muốn xin được dẫn là bài Vua phật của Vũ Đăng Nụ trang 146 KMĐT III

 

Dẹp xong xâm lược đến tu thân

Bỏ chốn ngai vàng tới Trúc Lâm

Mặc áo nhện chăng vào Suối Tắm

Đi giầy cỏ bện xuống Am Vân

Sớm lên Long Động tu thiền định

Chiều lại Hoa Yên trút bụi trần

Chính quả là đây vua hoá phật

Nhân thường vì quả, quả vì nhân.

 

            Một loạt sự việc được thống kê tưởng như rất dàn trải nhưng trong mỗi câu đã có sự đối lập của vế trước với vế sau. Những việc trái với tự nhiên gây phản cảm làm bật lên sự khác biệt của một nhân cách. Một nhân cách đặc biệt với việc từ bỏ quyền bính, sang trọng, sung sướng, đông vui để đến với đời thường kham khổ, cô đơn, heo hút. Đến khi hai câu kết xuất hiện thì tất cả các câu trong bài càng rực sáng lên.

            Thơ Đường luật của Hải Dương ta đến nay đã có cả ngàn bài, nhiều bài có tứ hay và độc đáo, tuy nhiên để có những bài có luận rõ, luận sắc sảo thì cũng còn hiếm. Đa số các bài thơ đều có dáng dấp của thơ vịnh sau đó gửi vào đó một cái kết giản dị, dễ hiểu, ý tại ngôn từ. Tuy nhiên cũng có không ít bài đã có luận khá sắc sảo và cũng tập trung ở các tác giả có nhiều năm sáng tác và chịu khó học tập.  Chỉ cần đọc lên thấy xao xuyến, vui buồn với thơ thì thế cũng đã tốt lắm rồi.

            Lại nói về đánh giá và chọn thơ hay, nhất là thơ Đường luật có lẽ cũng nên nhằm vào cái cấu trúc cơ bản về luật thơ kết hợp với sự cảm thụ thì chắc chắn sẽ có những bài thơ thật hay, đọng lại trong lòng mọi người như thơ của Bà Huyện Thanh Quan, thơ của Nguyễn Khuyến và đặc biệt là thơ của Hồ Xuân Hương nữ sĩ.

 

THƠ CỦA THÁNG 10

 

TƯỚNG CỦA LÒNG DÂN

(Kính viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp)

 

Thêm một ngôi sao cháy hết mình

Trên mười thập kỷ sáng lung linh

Chép dòng quốc sử trao con trẻ

Phát lệnh tiến công gửi chiến binh

Đánh Pháp, Pháp hàng lòng vẫn sợ

Đuổi Sam, Sam chạy dạ còn kinh

Lấy văn làm võ, văn thành võ

Tướng của lòng dân mãi trọn tình

 

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2013

THƠ TRONG THÁNG 9/2013

NHỚ CỐ NHÂN
(Nhớ về người cũ làng Đông Hội)
Xa cách từ lâu bóng cố nhân
Chỉ mong gặp được một đôi lần
Tưởng khi nắm tóc thề bên giếng
Nhớ lúc cầm tay hẹn cuối sân
Bén tiếng chỉ chờ ngày dạm ngõ
Quen hơi còn đợi buổi cầu thân
Chiến tranh ngáng trở tình trang lứa
Từ ấy đôi đường phải cách phân


HƯƠNG TÌNH

(Họa thơ Sĩ Quý)
Đã lâu mới có dịp về chơi
Lại nhớ khi xưa đứng giữa trời
Háo hức nằm chờ vầng nguyệt rụng
Ước ao ngồi đợi ánh sao rơi
Câu thơ đằm thắm gieo muôn ý
Khúc nhạc du dương gói vạn lời
Khoảng cách tình yêu càng gắn bó
Bao la bát ngát giữa ngàn khơi

CỐ NHÂN

Còn đó bên trời tiếng sáo ngân
Đầm sen hoa trắng nở trong ngần
Sáng neo thuyền đợi mong nhìn trộm
Đêm thức chờ trăng muốn đứng gần
Mấy độ chia tay không ước hẹn
Bao lần gặp mặt chẳng cầu thân
Nào ai biết được lòng ai đó
Đành nhẽ đau buồn gọi cố nhân

KHÚC HƯU NHÀN

Hưu nhàn bày vẽ chuyện rong chơi
Dạo khắp non sông khắp đất trời
Hạ đến nằm nghe đuôi cá quẫy
Thu về ngồi ngắm lá vàng rơi
Câu thơ đằm thắm gieo muôn cảnh
Khúc nhạc du dương tỏ vạn lời
Một giấc say mềm bên ghế đá
Thấy mình lướt sóng giữa ngàn khơi

HỨNG DỪA

(Nhân xem tranh Hứng dừa)
Ngày ấy lên đường đến xứ tranh
Vườn dừa trĩu quả kín thân cành
Trái tơ anh hái chưa chịu rụng
Váy cũ em giăng chắc vẫn lành
Ngửa mặt nhìn trời trời đã đỏ
Cúi đầu ngắm đất đất càng xanh
Kìa ai vui thú trên khuôn gỗ
Còn mãi ngàn năm một bức tranh

NHỚ VỀ QUÊ MẸ

(Nhớ về Châu Can Cầu Giẽ)
Muốn về quê mẹ đã từ lâu
Lần lữa phân vân đến bạc đầu
Gốc gác mịt mờ dò chửa thấy
Họ hàng mai một biết tìm đâu
Đã đành loạn lạc khôn mong mỏi
Vẫn biết gian nan khó ngưỡng cầu
Muôn sự ở đời không tính được
Mà sao lòng vẫn nặng u sầu

CHIỀU QUÊ

Ruộng mới bừa xong đất mịn màng
Đồng chiều xa tắp rộng mênh mang
Làn mây lơ lửng buông rèm trắng
Bóng nắng lung linh rải nhiễu vàng
Lốm đốm áo hoa chen lối dọc
Rập rờn nón lá nối hàng ngang
Chiều quê bình lặng như muôn thuở
Bất chợt trong ta thấy ngỡ ngàng

TẾT MƯA

Tết đã lanh canh gõ trước nhà
Thế mà khói bếp chửa lên a
Chắc gân gạo nếp còn chưa nhuyễn
Hay cuộng giong xanh đã quá già
Gió đẩy hiên tre kêu loạt xoạt
Mưa tràn ngõ đất ngập bùn hoa
Chắc xuân mệt mỏi còn đang ngủ
Nên cửa nhà ai chửa hé ra
CỔ THÀNH
Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành
Một vùng khảo cứu uốn vòng quanh
Hoa văn tảng cũ còn nguyên vẹn
Nét khắc bia xưa vẫn rõ rành
Móng gạch nối nhau dăm bẩy lớp
Giếng xây chồng chận bốn năm vành
Mới hay quá khứ còn in đấu
Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành

CHUYỆN CÙNG HÒN NẸ

(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)
Hòn Nẹ từ xưa vẫn ở đây
Hoàng hôn nhuộm đỏ hắt lên mây
Tiền tiêu giữ biển từng xung trận
Điểm tựa canh trời đã dựng xây
Chiến hạm rình mò trôi mất xác
Tầu bay cắn trộm vỡ tan thây
Đất liền biển đảo luôn chờ sẵn
Giặc cướp xông vào quét sạch ngay

ĐỌC “NỬA VẦNG TRĂNG”

(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)
Hoàng hôn nhuộm đỏ cuối trời xa
Ai đó gửi thư kể chuyện già
Sáng sáng hẹn hò cùng cổ luật
Chiều chiều tình tự với cầm ca
Gắng công nén lại quên mây gió
Rán sức co về trốn nguyệt hoa
Mỗi đọc một đau đời thiếu phụ
Chỉ mong có dịp đến thăm nhà

LAI VỀ THĂM CHỢ VƯỜN HOA

(Nhân về ngày thơ Thanh Hóa)
Lại về thăm thú chợ Vườn Hoa
Hàng hóa treo cao tận mái nhà
Cây trái Thọ Xuân xuôi buổi sớm
Cá tôm Ngư Lộc đến chiều qua
Áo quần mốt mới say lòng trẻ
Rượu gạo thơm tho ấm bụng già
Phố xá đông vui như mở hội
Câu thơ thuận bút viết theo đà

TẾT RƯỢU

(Tết ai đến để cho ai)
Tết đã bon bon đến cạnh nhà
Thế mà cổng chửa mở toang a
Chắc cơn mộng mị còn chưa chín
Hay giấc hoàng lương vẫn chửa già
Tí tách mưa dầm đào nảy lộc
Lâm thâm rét ngọt mận đơm hoa
Tiếc xuân ngồn ngộn bày trên chiếu
Rượu uống say rồi chẳng muốn ra

XUÂN LẠNH

(Xuân 2007)
Lạnh thế mà xuân cũng đến a
Mưa dầm gió bấc phủ quang nhà
Đầu hồi trống trếnh như diều sáo
Hèm cửa vênh vao tựa mõ già
Quất đỏ vừa tô treo trĩu trái
Đào hồng mới vẽ chạt đầy hoa
Bao xuân dồn hết về đây cả
Đã vậy cần chi mở cửa ra

NHỚ VỀ PHỐ CŨ

(Nhớ về Hà Nội xuân 2008)
Đã trải phong trần khắp bốn phương
Vẫn không quên nổi những con đường
Nhạt nhòa cầu cũ vầng trăng rụng
Lấp loáng hồ xưa giọt nắng vương
Tháp Bút chọc trời che bóng nắng
Đài Nghiên trải rộng tỏa hơi sương
Một thời kỷ niệm bao nồng ấm
Để lại trong lòng vạn nhớ thương

THƠ XANH

(Viết chi cho lắm cho nhiều)
Vườn cũ sương mờ khách vắng tanh
Trăng vàng phủ kín những thân cành
Đôi ba tiếng vạc chia sầu muộn
Dăm bảy giọng trùng bám quẩn quanh
Lòng đã thênh thang nơi gác tía
Dạ còn vương vấn chốn lều tranh
Giọt sương nhè nhẹ rơi trên lá
Thơ viết ngàn trang tứ vẫn xanh

VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ

(Cổ Loa tháng 8/2001)
Nắng hạ soi vàng cả đồi nương
Một mình lặng lẽ giữa sân trường
Xà cừ nảy nụ xum xuê bóng
Sa mộc đơm hoa tỏa ngát hương
Lưu bút thiết tha trao ước vọng
Ảnh hình thân mật gửi tơ vương
Bốn mươi năm lẻ vừa quay lại
Cảnh vật dâng trào nỗi nhớ thương

GỬI MÂY ĐƯỜNG TƠ

(Tặng Nguyễn Thị Nam)
May mắn vì đâu một áng thơ
Để quen người chửa gặp bao giờ
Đã từng trước mặt còn chưa ngỏ
Huống lúc sau lưng chỉ khép hờ
Hạt cát qua truông gờm vách núi
Cành lau xuống thác ngại đôi bờ
Chút tình bé nhỏ mong gìn giữ
Dù chỉ đơn sơ gửi mấy tờ

THƯ ĐÃ ĐỌC RỒI

(Họa bài Bức thư định gửi)
Thơ bạn hôm nay đã đọc rồi
Lòng còn vương vấn mãi không thôi
Người ngoan đã muốn đem trao ý
Kẻ xạo đành theo phải gửi lời
Cái nhẽ thường tình quen thế vậy
Gặp khi trái khoáy khó lòng vui
Mới hay mọi sự không toàn vẹn
Thư bạn hôm nay đã đọc rồi

GỬI VỀ XỨ NGHỆ

Gửi về xứ Nghệ một tình yêu
Nói ít mong ai đó hiểu nhiều
Héo dạ khêu mưa khi chợn rợn
Mặc lòng thả lửa lúc phiêu diêu
Khơi tình ngắm nụ khi mờ sáng
Cạn lý xem hoa lúc xế chiều
Có gặp được đâu mà ước hẹn
Nên đành mượn bút thả lời yêu

VẬN THƠ  BÀ CHÚA

(Nhân nghe nói về quê bà chúa)
Bà Chúa Thơ Nôm đã mất rồi
Chỉ còn cái bóng ở đây thôi
Đời trai vất vả đau bao thuở
Kiếp gái truân chuyên cực mấy hồi
Chỉ ngại người quen đòi nợ khuyêt
Lại thương kẻ lạ vướng duyên bồi
Nét quê khéo vận hòa trong cảnh
Để những miền thơ lại nảy chồi

CHO RỒI CHƯA CHO LẠI CHO RỒI

(Vận theo cách nói của người xứ Nghệ)
Thư này chắc sẽ đến Quỳnh Đôi
Mặc kệ nhân gian khéo thả mồi
Khoảng cách hai miền không ngắn lại
Mối giây tình cảm vẫn hòa đôi
Đã từng nếm trải miền hy vọng
Còn tưởng chi đâu đoạn tái hồi
Một tiếng tơ lòng vương ngó ý
Cầu mong muôn sự trọn cho rồi

TẾT RƯỢU

(Tết ai đến để cho ai)
Tết đã bon bon đến cạnh nhà
Thế mà cổng chửa mở toang a
Chắc cơn mộng mị còn chưa chín
Hay giấc hoàng lương vẫn chửa già
Tí tách mưa dầm đào nảy lộc
Lâm thâm rét ngọt mận đơm hoa
Tiếc xuân ngồn ngộn bày trên chiếu
Rượu uống say rồi chẳng muốn ra


Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

MÙA HẠ

CHIA TAY MÙA HẠ

(Họa thơ Xuân Nghiệp)

Gió hạ thổi khô mọi tuyết sương

Chập chờn trước mặt cánh hoa vương

Người về biển rộng muôn trùng sóng

Kẻ đến non cao vạn dặm đường

Buồn lúc chia tay nhòe mí mắt

Nhớ khi kề cận tóc thơm hương

Gặp nhau gắn bó rồi ly biệt

Để lại cho đời lắm tiếc thương

 

KHÚC HƯU NHÀN

Hưu nhàn bày vẽ chuyện rong chơi

Dạo khắp non sông khắp đất trời

Hạ đến ra xem làn nước chảy

Thu về ngồi ngắm lá vàng rơi

Câu thơ đằm thắm gieo muôn cảnh

Khúc nhạc du dương tỏ vạn lời

Một giấc say mềm bên ghế đá

Thấy mình lướt sóng giữa ngàn khơi

 

GẶP HẠ

(Hoạ bài Chớm Hạ của Đức Tiến)

Từng đợt heo may đã tạnh rồi

Chỉ còn hạ nóng mãi khôn nguôi

Chia ly ngày ấy mưa tràn núi

Gặp lại hôm nay nắng ngập trời

Lối cũ mơn man làn gió thoảng

Vườn xưa nhoà nhạt ánh trăng lơi

Bâng khuâng giở lại vần thơ cũ

Một mảnh hoa tiên gói vạn lời

 

NGẮM CẢNH CHÍ LINH

Một sáng hè vui tới Chí Linh

Núi non yên ả gợi bao tình

Bàn Cờ thế cuộc chưa ngơi nghỉ

Bãi Đá thời gian vẫn nín thinh

Rừng trúc gió qua khua lắc cắc

Suối rêu nước chảy gợn rung rinh

Đồi xa tít tắp mùa hoa vải

Lớp lớp rừng non mới tái sinh

 

HÈ CHÍ LINH

 (Hoạ  thơ Kim Cúc)

Trở lại Chí Linh một sáng hè

Ngỡ như lạc giữa cả rừng ve

Chùa Hun sáng bảnh mây cao tít

Bến Nấu trưa tràn khách vắng hoe

Lớp lớp sông Thương phơi yếm lụa

Tầng tầng núi Phượng rải màn the

Nước non kỳ vĩ như thay mới

Một dải Quỳnh Sơn mãi chở che

 

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

THÁNG 5 NĂM 2013

 

TRỞ LẠI TRƯỜNG SƠN

Bất ngờ trở lại Trường Sơn

Nghe câu hát cũ trong cơn mưa chiều

Người về thêm những lời yêu

Để hồn thơ với bao điều nhớ nhung

Núi non muôn lớp chập chùng

Gái trai thuở ấy thề cùng nước non

Tháng năm dằng dặc mỏi mòn

Vết thương ngày cũ vẫn còn đớn đau

Khấn thầm đồng đội ở đâu

Chiều nay xin hãy cùng nhau trở về

 

TÂM SỰ CÙNG XOÀI

Cây xoài đã lại ra hoa

Thêm mùa xuân nữa thế là mười năm

Mẹ già giờ đã xa xăm

Cây xoài chẳng có ai chăm mỗi ngày

Rào tre đâu thể chất đây

Trái chua mời gọi cả bầy trẻ thơ

Cây xoài đứng đó chơ vơ

Tuổi mười lăm lúc bấy giờ … khẽ thôi!

Mười năm giờ đã xa xôi

Ớt cay, muối mặn thế rồi... dần xa

Lại nghe ai đó (?) thoáng qua

“Nhớ ăn in ít kẻo mà sún răng”

Mười năm rồi... đã mười năm!

Lại nghe tiếng mẹ xa xăm thuở nào.

 

Th Hai, 28 tháng 4, 2014

CHUYỆN VỀ THƠ

 

SAI MỘT CHỮ HỎNG CẢ BÀI THƠ

 

Kỳ nội san số 53 của tổ thơ CLB Côn Sơn có một bài thơ mang tựa đề là BÓNG được viết với nguyên văn:

 

BÓNG

Giã biệt hôm nao dấu hãy còn

Khối thề vận đủ n­ước cùng non

Khơi kia vẫn thế chưa hề cạn

Núi ấy nh­ư nguyên chẳng chịu mòn

Mái tóc xuân xanh dù đã bạc

Ước mơ son trẻ vẫn chư­a tròn

Giã từ đâu phải không về nữa

Ng­ười dẫu ra đi bóng vẫn còn.

 

Về nội dung câu từ thì bài thơ không lấy gì làm xuất sắc lắm nhưng gửi gấm trong đó là một tâm sự khá rõ về một nỗi niềm chua chát khi nhận ra rằng những gì mà người làm thơ tự hứa với mình vẫn chưa hoàn thành qua hai câu luận:

 

Mái tóc xuân xanh dù đã bạc

Ước mơ son trẻ vẫn chư­a tròn

 

Nội dung đó lại được tiếp theo với một tâm ý khác đó là sự nhắc nhở rằng dù thế nào thì khi ta đã thề thốt với lòng mình thì phải cố mà hoàn thành. Vì cho dù mỗi con người sinh ra, tồn tại rồi đi về cõi vĩnh hằng đâu phải chỉ một mình với mình trong cuộc sống. Cho dù là người bình thường nhất trong cuộc sống cũng có trên mình là tổ tiên, ông bà, cha mẹ và dưới mình là con cháu và những thế hệ sau đó nữa. Huống chi cái chí nam nhi như cha ông ta xưa muốn vươn tới là phải “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Đó cũng chính là trách nhiệm làm người quân tử, cái bóng của chính ta còn để lại cùng với sự thề thốt khi xưa. Tuy nhiên hai câu luận của bài thơ lại được in thành:

 

Mái tóc xuân xanh dù đã bạc

Ước mơ xuân trẻ vẫn chư­a tàn

 

Có lẽ khi ấn loát cán bộ biên tập đã không xem lại và để cho hai câu thơ trên bị thay mất hai từ, đó là từ (xuân) thay (son) và từ (tàn) thay từ trònVề từ (xuân) thay (son) thực chất không có hại gì mấy, tuy nhiên (xuân) đã lặp lại một lần nữa trong bài Đường luật mà người làm thơ Đường luật luôn kiêng cữ cái sự lặp từ để mong sao có đủ “56 viên ngọc quý” cho một bài thơ

Với từ (tàn) thay cho từ (tròn) thì bài thơ đã mắc phải hai thiếu sót khó có thể bù đắp được. Trước hết phải nói rằng vần (an) đã nằm ngoài bộ vần (on) thông suốt từ đầu đến cuối bài thơ của tác giả. Thiếu sót thứ hai là không còn giữ được chủ ý (tự vấn) mà lại tỏ ý (khoe khoang) dù đã già nhưng vẫn chưa tàn hơi, tàn sức đủ để hoàn thành cái lời thề chưa được thực hiện suốt những năm tháng tuổi trẻ. Với cách in nhầm như thế này chắc sẽ không thiếu gì người buột miệng: “Trẻ còn chẳng ăn ai nữa là…”

Chỉ với một chữ thôi mà bài thơ đã quá xa với chủ đề đến vậy và tác hại cũng to lớn đến vậy. Lẽ nào những người biên tập không cố gắng giữ hộ cho tác giả một từ như thế để bài thơ và tình thơ trọn vẹn.

 

CHỮA THƠ LÀM KÉM HẲN ĐI

 

Năm 2012 mỗi hội viên trong CLB được gửi in trong Thơ Đường đất Việt hai bài, tác giả (LTH) cũng gửi lên như mọi người và điều không may mắn là một trong hai bài này cũng bị mang ra sửa. Tuy cái sự sửa không lấy gi làm to lớn lắm nhưng cái sự đáng buồn là người biên tập đã không hiểu phép làm thơ và từ đó dẫn đến coi thường tác giả.

Đành rằng thơ là một dạng văn chương mang tính đa nghĩa, thậm chí độc giả có khi cũng chẳng cần hiểu đúng với chủ đề của bài thơ như tác giả đã ngụ vào đó. Tuy nhiên đã làm biên tập thì phải cố nắm bắt cái ý tứ của tác giả để mà biên cho chắc, còn nếu chưa hiểu thì thế nào để yên thế là được (loại trừ các bài phạm lỗi quá lớn thì cắt cả nó ra).

Bài tác giả gửi về Thơ Đường luật Việt Nam tập 7 là bài khoảng trống đây là một bài thơ Đường luật nói về tâm trạng man mác buồn:

 

KHOẢNG TRỐNG

Chiều hạ lên đê để giải nồng

Bến đò dào dạt rộng mênh mông

Ngàn con sóng vỗ xanh dòng nước

Muôn ánh hồi quang đỏ cánh đồng

Vài chiếc lá vàng bay giữa gió

Đôi nhành lau héo chảy ngang sông

Chẳng hay muôn vật về đâu đó

Để lại bên bờ khoảng trống không.

Bài thơ cũng đơn giản và không dám cho là đặc sắc, chỉ có đôi chút cảm giống người xưa (có thể nói học theo lối người xưa cũng được). Bài chỉ bị chữa một chữ (đó) ở cuối câu 7 thành (nhỉ) và thêm sau chữ nhỉ một dấu chấm hỏi to tướng (?).

 

Vài chiếc lá vàng bay giữa gió

Đôi nhành lau héo chảy ngang sông

Chẳng hay muôn vật về đâu nhỉ ?

Để lại bên bờ khoảng trống không.

 

Điều người biên tập không hiểu rằng người làm thơ đặt hai câu luận bằng hình ảnh cùng với cặp kết mở vốn không phải không hiểu cái sự (lá vàng bay) và (lau héo trôi) sẽ đi về đâu!

Câu hỏi chẳng qua là hỏi cho có hỏi, hỏi cho có cớ để mà nói về cái sự trống trải kia thôi chứ đâu phải tác giả cần người chỉ dẫn cho (lá vàng) và (lau héo) sẽ về đâu. Cũng chính vì thế mà (nhỉ… nhả) không thơ… được.

 

KHÔNG DÁM ĐĂNG VÌ SỢ HỎNG THƠ

Vào năm 2009 CLB thơ Đường Unesco thu bài để in thơ năm đó. Cũng như các tác giả khác (LTH) cũng gửi hai bài và sau một thời gian Ban biên tập đã gửi bản bông trở lại cùng với hai bài thơ đều bị chữa bởi phạm lỗi điệp thanh và không đối. Ngoài ra, mỗi bài còn được các nhà biên tập gợi ý sửa theo những câu chữ của họ. Lẽ dĩ nhiên là tác giả không tán thành vì nếu thơ phải nhờ sửa thì chả hóa ra cảm xúc của mình bị sửa. Mà cảm xúc đã bị sửa thì làm thơ phỏng có ích gì và tác giả đành thông tin rằng nếu sửa thì không được đăng. Cuối cùng thì các nhà biên tập đã không đăng và thế cũng là may!... Dưới đây lại xin có đôi dòng về những bài thơ ấy.

  Bài thứ nhất với nhan đề là Thăm Huế. Đây là một bài thơ tự sự viết về Huế, một trong những nơi vẫn còn giữ được nhiều chứng tích về một trong những triều vua đặc trưng cho nền Quân chủ dài mấy ngàn năm trên đất Việt.

Để có thể nói về Huế thì nhiều điều muốn nói lắm, nhất là những năm gần đây Festival Huế đã từng giới thiệu làm cả thế giới cũng mê Huế chứ đâu phải riêng người Việt Nam ta. Thế mà thơ về Huế và nhất là thơ Đường luật về Huế làm sao có thể bê nguyên vẹn cả Huể vào thơ được. Cũng chính vì lẽ đó mà lựa chọn và lựa chọn là sự cần thiết. Tuy nhiên những lựa chọn có lẽ cũng nên khách quan một chút cho cả xưa và nay, cho cả văn hóa vật thể và phi vật thể chắc sẽ hay hơn.

Nghĩ sao làm vậy và rồi để có một Huế trong lòng của riêng mình một bài thơ dài hơi hơn một chút đã được viết ra.

 

BÀI THƠ VỀ HUẾ

 

Bông hoa đèn trôi mãi trên sông

Vẳng xa những câu Nam, câu Lý

Lời mời gọi vô tình hay hữu ý

Có ai về với Huế của em không (?)

 

Về với Huế từ lâu đã muốn

Ngắm vàng son để nhớ ngày xưa

Nghe câu hát thấy tình sông núi

Mấy trăm năm còn đó những triều vua

 

Những mảnh sứ nở hoa trên tường, trên cột

Mái ngọc lưu ly cháy rực buổi hoàng hôn

Khuôn mặt đá sao im lặng thế

Dấu chân nào từng qua cửa Ngọ Môn

 

Chào đây Huế quãng đường xa ngái

Câu thơ da diết gọi ta về

Vườn xưa vẫn “mướt xanh màu ngọc”

Đỉnh đồng cao ươm nắng sau hè.

 

Ta đến Huế chợt thấy hồn đã Huế

Trái sầu riêng ai bán chợ Đông Ba

Bát cơm hến ai mời bên ghế

Ngụm chè sen ai rót dưới hiên nhà.

 

Về với Huế! Hôm nay về với Huế

Nước dòng Hương em hát đợi chờ

Chuông Thiên Mụ thắp niềm xao xuyến

Để cho lòng say hết một mùa thơ.

 

Tuy nhiên để có một bài thơ Đường luật về Huế mới là điều mà những người làm thơ Đường luật mong muốn và cái ý chọn trong khối hình ảnh này xem có điều gì mang tính chọn lọc nhất. Cuối cùng thì cái hình ảnh về Huế cô đọng cũng đã xuất hiện. Đó chính là ánh nắng hoàng hôn rót trên mái ngói lưu ly xanh biếc hắt lên trời ánh hào quang của mồ hôi bao người thợ gốm. Đó là sắc tím thủy chung của tà áo dài choàng trên vai bao cô gái Huế đã bao lần xuất hiện trong thơ Hàn Mặc Tử và cả trong thơ Tố Hữu lúc sinh thời. Đó là những lầu gác vàng son và cả những nẻo ngõ đi lại ngày thường bắt gặp. Nếu có thể ghép người ấy, cảnh ấy vào nhau lẽ nào không thơ cho được và Thăm Huế hiện ra từ đó

 

THĂM HUẾ

Mới gặp mà sao đã thiết tha

Sông Hương dìu dặt tiếng đàn ca

Lầu xưa nắng rót xanh màu ngọc

Vườn mới sương buông tím sắc hoa

Thái Miếu thong dong chờ khách đến

Tràng Tiền nhộn nhịp đón người qua

Mới vừa gặp gỡ chiều thu Huế

Cứ tiếc mai ngày đã phải xa

 

Thăm Huế có đủ cả nhã nhạc cung đình nên “dìu dặt”; Thăm Huế có Ngói lưu ly hứng nắng ban chiều, có vườn Hàn Mạc Tử cùng với bóng giai nhân chờ đợi, có Thái Miếu thờ cả một triều đại các vì vua, Thăm Huế còn có Tràng Tiền giữa đời thường hoa lệ biểu tượng của Huế thời nay.

Điều đáng buồn là bài Thăm Huế cũng đã bị sửa mất một từ (buông) với nhiều ý vị. Từ (buông) này mắc lỗi điệp thanh nghĩa là (buông) và (hoa) cùng đều là thanh bằng không dấu. Khi từ (buông) bị loại thì các vị biên tập đã gợi ý rằng nên thay từ (cài) vào đó (kể ra cũng hợp lý lắm). Về lỗi điệp thanh đó không phải tác giả không hiểu mà là cố ý bỏ qua lỗi này để lấy một từ (buông) nói về một thứ hoa đẹp… trên hoa, còn (sương cài) trên hoa tím thỉ chỉ là hoa của chính hoa thôi. Huống chi có khá nhiều các cụ thơ xưa như Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến cũng chẳng ngại dùng cách này cho thơ của các cụ.

 

KHÔNG THỂ ĐƯỢC IN VÌ KHÔNG ĐỐI

 

Cũng trong hoàn cảnh nói trên, một bài thơ khác của tác giả lại bị cho là không đối và rồi cũng bị chữa cho đúng với yêu cầu của các nhà biên tập. Bài thơ có nhan đề:

 

CHIỀU HÔM TỨC SỰ

Trời đã sang tây nắng tắt rồi

Chiều dần như khói thoảng đang trôi

Cánh chim hun hút bên trời vắng

Ngọn cỏ âm thầm giữa bến côi

Mắt đã thân quen vùng nước lạ

Lòng còn vướng bận khoảng sa bồi

Chia ly bao kẻ không từng trải

Quần tụ tìm xem được mấy người

 

Đây là bài thơ nói về nỗi nhớ (những) quê hương của tác giả trong lúc bâng khuâng xao xuyến khi quyết định không về quê chính mà ở lại nơi quê mới lập nghiệp. Nói về tình quê thì tác giả chưa hẳn đã giỏi bằng nhiều người khác nhưng nhớ quê, nghĩ về quê thì chắc ai cũng giống ai. Quê của tác giả vốn là nơi đất mặn ở miền Nam Định, một trong những vùng đất được bồi đăp từ ngàn đời của con sông Đáy và cả của biển Đông rộng lớn bao la. Còn nơi quê mới mà tác giả ở lại chính là miền sông nước Hải Dương, nơi mà có cả sáu đầu sông chung nguồn chia nước, những Thương cùng Cầu hòa trong vào đục để rồi có một Thái Bình dồn sức về khơi.

Cùng với dữ kiện ấy, tâm sự ấy lòng ai không khỏi suy tư và liên tưởng xa xôi, nhất là khi cuộc đời cũng như bóng nắng cuối ngày đã ngả dài hơn một chút về tây. Khi đứng trên bờ đê ấy ngắm ánh hoàng hôn ấy hỏi sao không lay động, đây chính là chất xúc tác để bài thơ xuất hiện. Bài thơ có cái tên không mấy ăn nhập với đề tài cụ thể trong thơ, tuy nhiên lúc đó không hiểu sao lại đặt ra như thế.

Với dải trên của bài thơ đã để cho đề và thực đan xen vào nhau để mở ra cả một trường hình ảnh rộng lớn đặc trưng cho sự đơn côi của một người xa xứ. Nỗi đơn côi từ trong cánh chim bay hun hút về xa tắp; nỗi đơn côi trong sự trôi nổi của một ngọn cỏ nhỏ nhoi trên dòng nước xiết lướt qua trước mặt đã quá thừa để nói về cái buồn đến tê tái của người xa xứ.

Những hình ảnh chợt tan đi để dải sau dồn nén cao độ phát thoại vào câu chữ. Đó là tình cảm gắn bó với sự thân quen của bao hình ảnh hiện tại trên mảnh đất mà ta đang sống, đang tựa vào đó mà tồn tại, mà mưu cầu hạnh phúc. Chính từ đây lòng càng yêu mến cái miền quê mới ấy, bởi từ nơi miền quê mới ấy đã thành kỷ niệm khó rời xa. Cũng ngay trong lúc ấy bất chợt những gì thân thiết cũ cũng hiện ra sáng rõ. Đó là những gì mãi còn trong tâm thức từ những ngày thơ bé; đâu là hình ảnh ông bà, cha mẹ, anh em thân thiết cứ bung ra và lớn dần lên mãi, nên cho dù lòng ta đã thân quen với vùng nước lạ, nhưng vẫn không sao quên được cái khoảng sa bồi, cái khoảng nhỏ hẹp chôn rau cắt rốn và cũng là nơi nuôi lớn chính mình.

 

Mắt đã thân quen vùng nước lạ

Lòng còn vướng bận khoảng sa bồi

 

Chỉ cần hai câu trên đủ để tỏ lòng mình trước những gì thiêng liêng cao quý, từ đó tỏ được nỗi niềm của người xa xứ với một ý tứ bé nhỏ: cho dù ta đã yêu nơi quê mới nhưng vẫn không quên, không bạc với quê cũ của mình. Tuy nhiên điều muốn nói đến ở đây lại là cái sự buồn trên cả nỗi buồn vì những nhà biên tập đã bắt bẻ để đến nỗi thơ không thơ… được.

(Câu thơ trên cũng có thể dùng (lặng) thay (lạ) thì đối chỉnh hơn, nhưng dùng từ (lạ) mới tỏ được cái ý đây là miền quê mới) 

  Như trên đã nói sau một thời gian gửi bài đi, tác giả đã nhận được bản bông với nhiều dòng gạch, xóa, khoanh tròn phần cuối câu 5 và 6. Bên cạnh đó xuất hiện một mũi tên cùng với cùm từ ghi là (không đối). Phía dưới còn kèm theo một mẩu gợi ý nên chữa (khoảng sa bồi) thành (vạt sương bồi). Cho đến mãi về sau cũng chưa ai lý giải rằng vì sao khi chữa thành (vạt sương bồi) thì thoát khỏi lỗi không đối mà ban biên tập khép vào cho bài viết.

  Cho dù mọi sự đã đi qua lâu rồi nhưng cái sự biên tập chắc không phải lúc nào cũng suôn sẻ và mực thước. Chỉ mong rằng người làm thơ gắng sao chọn từ chọn ý, còn người biên tập thì cũng nên xét kỹ giùm cho.

 

CŨNG CHỈ LÀ SAI MỘT CHỮ THÔI

 

Vào những ngày tháng 10 năm 2013 ông tổ trưởng tổ thơ Câu lạc bộ Côn Sơn yêu cầu chọn khoảng 25 bài thơ để in trong tập “Kỷ yếu 20 năm xây dựng và trưởng thành của Câu lạc bộ Côn Sơn”. Các bài gửi đi đều đã được duyệt khá kỹ thế mà khi biên tập người ta đã tùy ý sửa. Điều đáng tiếc cái sự sửa ấy đã làm mất đi những điều thơ nhất trong thơ.

        Bài thơ bị sửa có nhan đề là Thơ về mẹ, đây là một trong muôn ngàn bài thơ viết về mẹ như bao người đã viết. Tuy nhiên bài thơ hơi khác thường vì toàn bộ nội dung không dùng những lời lẽ to lớn để ca tụng công lao và tình mẹ đã dành cho những người con. Bài thơ còn khảng định bao lời đẹp đẽ nhất,  thắm thiết nhất và cao sang nhất đã bị đời lấy dùng hết cả rồi. Nhưng cho dù là thế thì người làm thơ cũng đã dùng từ ngữ để mô phỏng bài thơ về mẹ. Sự mô phỏng đủ để cho người đọc hiểu thơ về mẹ vốn thiêng liêng và cao quý nếu chỉ tỏ bằng ngôn ngữ, giấy mực thì sao nói hết được lòng con với mẹ.

 

THƠ VỀ MẸ

 

Thơ về mẹ viết hoài không đủ ý

Bao lời thương đời lấy cả rồi

Thơ về mẹ chói loà trang sách quý

Chỉ riêng mình con đọc được mà thôi.

 

Thơ về mẹ viết không có chữ

Giấy là tim, mực máu chảy vô hồi

Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ

Đến khi nào cạn sạch thì thôi.

 

Thơ về mẹ chẳng con nào viết nổi

Vì mẹ là thơ của muôn thơ

Bao nhiêu cũng chỉ là chẳng đủ

Mẹ đi rồi…ta ước chỉ là mơ (!)

 

Sự mô phỏng ấy cũng đã khảng định mẹ vốn là thơ, mỗi thời khắc vẫn cứ thường xuyên tồn tại trong sâu thẳm tấm lòng của mỗi người con. Để rồi với tim ấy, máu ấy từng câu thơ hiện ra trong “ý nghĩ” của mỗi người con từ khi còn rất bé cho đến khi lớn lên, giả cả, cho đến khi rời khỏi cõi đời.

Tuy nhiên, Thơ về mẹ đã bị sửa câu (Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ) thành (Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩa). Từ “nghĩ” trở thành “nghĩa” trong câu và chỉ một từ “nghĩa” mọc ra thật vô nghĩa dường bao.


A mistake ruin POEM
America's 53 newsletters Kunshan club organized a poetry poem is titled SOCCER was written with the full text:

 

SOCCER

Today marks the farewell yet still

Block may still immature enough water along

Paying the world still has not exhausted other

Vulture material such as corrosiveness

His hair was silver though the green spring

The dream has not yet rounded young son

Farewell to not go anywhere anymore

The ball still go though.

 

Questions about the content of the poem do not get too much to say for it's sending a pretty clear the center of a bitter feeling when I realized that what people do with their free verse promises not yet completed the last two sentences Comment:

 

His hair was silver though the green spring

The dream has not yet rounded young son

 

Content That was followed by another with a mind that is a reminder that no matter what, when I was sworn to his heart that there must be complete. For though every human born, survive and go on to eternity where alone with her in life. Whether it's the most normal person in his life is also on the ancestors, grandparents, parents and children themselves under and the generation after that. Much more so macho even as his father's old wanted to reach out to "keep house, governance, average galaxy". It is also responsible for the gentleman, our own shadow leaves along with the ancient oath. But two verses of the poem speech was printed in:

 

His hair was silver though the green spring

Dreams Spring has yet young disabled

 

Perhaps when printing the editor did not look back and let two verses are rather lost on two words, which is from ( spring) instead of (son) and from ( disabled) instead of ( rounded). terms from (spring ) instead of ( son ) actually do not have that much damage, however (spring) was repeated again in all laws that make poetry Sugar Sugar the law always abstain from repeating the wish to have the "56 jewels you "for a poem

With word ( disabled) instead of ( circular) , the poem has acquired two shortcomings can hardly compensate. First of all to say that rhyme ( police) were located outside of the spell (on) smoothly from beginning to end of the poem the author. Second shortcoming is not retained intention ( self-talk ) but expressed ( brag) despite slightly older but still not wreak, wreak enough power to complete the unfulfilled vows during the five-month-old young. With that mistake in this way will not lack what make people blurted out: "Kids do not eat anyone else's ..."

Just a word alone with that poem with the theme too far and harm so great and so. Perhaps the editors do not try to keep the author a household word like love poems and poetry to complete.

 

FIRE hairdresser did worse

 

2012 per member clubs sent in Can Tho Sugar Land in Vietnam two articles, the author (LTH) as well as sent to everyone and unfortunately this is one of two articles also carry out repair. But the correction do not get too big but sadly what the editor did not understand Prosodic and thereby leading to belittle the author.

Despite the fact that poetry is a form of literature that brings versatility, even if readers do not need to understand properly the subject of the poem in which the author lived. However, the editor has tried to capture the attention of the author to the quarter-edge for sure, even if they do not understand how that is to be left alone (excluding all the big mistakes, then cut it all off) .

Last post on Poetry Street author Vietnamese law Male episode 7 is all the space here is a poem about Street Law melancholy mood:

 

Glade

Afternoon on the dike in order to lower the

concentration

Wharf vast abundance

Green waves rolling waters

Sparkling red in the optical field

A few yellow leaves fly between wind

The fast flowing wipe withering cross-river

Or such things somewhere else

Leave shores void.

The poem is simple and does not dare to be unique, just feel a bit like the old (can say the old school style will do). Post only one word extinguisher ( it) at the end of verse 7 (right) and add text right after a huge question mark (?) .

 

A few yellow leaves fly between wind

The fast flowing wipe withering cross-river

Or where such things about it?

Leave shores void.

 

What the editors do not understand that the verse concludes with the question put two images together with the opening pair which is not not understand what the (yellow leaves fly) and (wipe withered away) will go!

The question is nothing less than to have to ask questions, which ask for an excuse to talk about the emptiness there's not only the author but need someone to guide (gold leaf) and (wipe wilting) will go where. So also that ( eh ... release ) ... is not poetry.

 

DO NOT SIGN FOR YOU EVEN THO pink book

 

In 2009 Unesco Club Road poetry collection poetry in post to print it. Like other authors (LTH) also sent two posts and after some time the editorial board of the galleys sent back along with two poems were unfair treatment by radio messages and not for . Also, each post is also the editor of your proposal according to their wording. Of course, the author does not agree because if they do not fix poetry thanks to his feelings turned out to be correct. That feeling was correct, then what is the point to write poetry and authors that if the correct information had not been posted. Finally, the editors have not posted and that is lucky! ... Please have the following pair of lines of the poem.

  The first article is titled Visiting Hue . This is a narrative poem written in Hue, one of which still retains much evidence of one of the kings of characterizing long Monarchy Vietnam thousands of years on earth.

To be able to talk about Hue is much more to say, especially in recent years has been introduced Hue Festival makes the whole world also love the own right but where Hue Vietnam one. Yet poetry is poetry about Hue and Hue Street about how law can both Hue intact concrete poetry. It was for that reason that options and selection are necessary. But the choice should probably also a bit impartial to both past and present, for both material culture and intangible sure that would be better.

Think how to do it and then have a heart of Hue in itself a long poem than a little bit has been written.

 

POEM ABOUT HUE

 

Flower lamp float forever on the river

South sonorous phrases, sentences Ly

The invitation to inadvertently or intentionally

Does anyone of you not in the Hue (?)

 

About Hue has long been wanted

Sight to remember the golden old days

Listen to the lyrics to see the mountain river

Hundreds of years there are kings

 

The porcelain on the wall blooms, on column

Roof flaming pearl lapis sunset

Rock star faces silent world

Footprint ever through Ngo Mon gate

 

Welcome here Hue distances sleepy

Remove skin verses call us on

Old garden still "smooth turquoise"

Top high copper nursery after the summer sun.

 

I suddenly found the stone to Hue Hue

Who sells durian Dong Ba Market

Who invited the rice bowl of mussels seat

Who poured tea sip sen porch.

 

About Hue! Today in Hue

Water Perfume River waiting for you to sing

Chuong Thien Mu lit tumultuous joy

In order to feel drunk off a season of poetry.

 

But to have a poem about the Hué Street law is what the law rhymer desired street and the block chosen in this picture can see what the most selective. Finally, a concise picture of Hue also appeared. That's the setting sun on the roof pouring lapis blue sky sing sweat halo of how the potter. It is a faithful color purple robes of a long shirt over her shoulder bag which matched Hue in Han Mac Tu Huu and in poetry during his life. That is the golden storey and the travel lane anchor caught weekdays. If he can combine, in the same scene probably does not give the poet and Visiting Hue out from there

VISIT HUE

New stars were eager to see that

River music and voice guidance

Floor ancient turquoise sun poured

New garden flower color dew chamber

Thai Temple sauntered waiting for passengers to

Trang Tien welcome people bustling through

Just meet revenue Hue pm

Every day tomorrow unfortunately had far

 

Visit Hue enough so the court music "mentor"; Visit Hue has lazuli tiles inspired afternoon sun, a garden Han Mac Tu 's with ball waiting period, there are Thai Temple Church of the dynasty of the Kings , Visit Hue also Trang Tien daily lives Hue magnificent symbol of our time.

The sad thing is all Visiting Hue has also been modified to take a word (let go) with good intention. From (release) This means that mistakes bar messages (let) and (flower) are the same bar with no sign. As from (let) the position was eliminated, the editor suggested that should be changed from (installed) on it (including the very reasonable as well). The error message does not sound right does not understand that the author is deliberately ignoring this error to take a word ( let go) talk about something beautiful flowers ... the flowers, and (dew installed) on purple flower is just a flower of the flowers only. Much more has a lot of old stuff like poetry Ba Huyen Thanh Quan, Ho Xuan Huong, Nguyen Extension would not hesitate to use this method for the poetry of the instrument.

NOT BECAUSE NOT TO BE IN

 

In the above circumstances, the author of the poem was attributed not to heal and then also being true to the requests of the editors. The poem, entitled:

 

NEWS OF THE DAY AFTERNOON

It was then off to the sunny west

Afternoon gradually drifting like smoke occasionally

Smoked wings smoking inside empty sky

Grass silently between the orphan

Eyes were familiar strange waters

The heart was encumbered about sediment

Separation Baoji not experienced

Clustered to find out how many people

 

This is a poem about nostalgia (s) in the author's homeland wistfully troubled time when the country decided not to stay in place that establish a new home now. Talking about the country, the author is not necessarily as good as others but nostalgic, thinking about home, perhaps someone who is the same. Which is the author's hometown where saline soils in southernMaleDinh, one of the land enriched by the perennial river from the bottom of the sea and the immense East. As a new country where the author is in the domain of Hai Duong River, where the river has started all six countries sharing common resources, the Trade and Globalization in on a chisel and then focusing their efforts on the Pacific coast.

Along with that data, who said he could not help thinking heart and think distant, especially when life as well as the end of the day the sun shadow has fallen a bit longer than the west. When standing on the sea wall watching the sunset was asked why he did not shake, this was the catalyst for the poem appeared. The poem has a few names not fit in with specific themes in poetry, but then somehow put out like that.

With a range of poems on the subject and has intertwined to open a large image field for the characteristic of a lonely exile. That lonely bird flying from the smoke of spurious hun; that the floating alone in a little grass on strong currents pass in front was too excessive to say about the sad numbness of expatriates.

The picture suddenly melt away to strip later found highly compressed voice into words. It's emotional attachment to the familiar image of how existing land on which we live, are entitled to that which exists, that the pursuit of happiness. It is from this love heart as the country's new, because the new country from where he had a difficult memories away. Also right in that moment suddenly close the old what also appeared brighter. That's what was in the mind forever from his childhood days; Where is the image grandparents, parents, brothers and dear inflates itself grows forever, so even though my heart was familiar with strange waters, but never forget that the sediment about , what about small narrow buried native vegetables and also raised his own place.

 

Eyes were familiar strange waters

The heart was encumbered about sediment

 

Just two questions on his full dedication to spiritual advance what noble sentiments which were expressed by expatriates with a little considerate: even if we have love new hometown but still not forget, not silver with their former homeland. however mean there is a sadness on sadness because the editor retorted that verse to verse ... is not.

(Verse can also be used on (quietly) instead of (strange) it to adjust more, but use of (strange) is a new show that this is a new country) 

  As mentioned above after posting a time away, the author has received galley with tile lines, delete, circle end sentences 5 and 6. Besides appearing with an arrow phrase is recorded (not to). Underneath

was accompanied by a suggested repair pieces (about sediment) into ( tie compensation dew.) So nobody ever after also explain why the treatment that the (lap dew compensation) then exit out error for not closing on the editorial board for the post.

  Although things have gone so long gone but the editors do not always make smooth and level meters. Just hope that people write poems to choose from choosing the star, and the editors should also carefully reviewed behalf.

 

 

Th Hai, 7 tháng 4, 2014

ĐÔI VẦN LỤC BÁT HÔM XƯA

 

THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG
Ai làm say đắm hồn ta
Để bâng khuâng những chiều xa đợi chờ
Lời xưa hò hẹn chưa mờ
Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi
Cho dù trăng đã khuyết rồi
Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho nhau.
Chẳng thà đắt lúa rẻ cau
Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…
Hôm nay khép áo lên chùa
Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ
Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ
Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến không.
Nhìn ra bốn phía mênh mông
Thả tay buông nắm tơ hồng ngày xưa.

TRĂNG XANH
Mai về nối lại lời yêu
Quên đi tất cả những chiều cách xa
Nắm trong tay của người ta
Đợi vầng trăng lại ló ra tỏ tình
Bâng khuâng sao những ảnh hình
Ngày xưa cứ bám theo mình mà đi
Hình như trăng của mọi khi
Vẫn xanh biếc dưới bờ mi thuở nào.

HOA CAU
Bảo rằng “sông rộng một gang”
Chỉ qua “dải yếm” là sang tới rồi
Thế mà mấy chục năm trời
Vẫn không đến được với người tri âm.
Khi yêu người chỉ nói thầm
Lấy đâu báu vật để cầm làm tin
Nhỏ nhoi, trời rộng cánh chim
Biết đâu lối cũ mà tìm được nhau.
Đành chờ đợi để lần sau
Bâng khuâng ngồi ngắm hoa cau nở vàng.

LẠI MƠ
Đã mơ gom ánh trăng vàng
Gửi vào câu hát mơ màng bên sông
Đã mơ gom nắng tươi hồng
Để pha vào gió vẽ cùng thời gian
Ngờ đâu sau giấc mơ tan
Nhìn ra chỉ thấy muôn ngàn xa xăm
Tìm đâu ước hẹn trăm năm
Tròn đầy với những đêm rằm trăng treo
Ai làm xô dạt cánh bèo
Để đau mãi một mái chèo sang ngang.

HOA NGÔ
Đã lâu người mới quay về
Hoa ngô xào xạc bên đê sông Cầu
Áo ai phơi tím ruộng mầu
Tóc ai chảy bạc cả đầu bến sông
Chói chang khắp hết cánh đồng
Con đò…đã chẳng còn trông thấy gì
Gậy tre chống dọc đường đi
Nghiêng tai mãi chẳng nghe chi những lời
Thôi đành mượn ánh mắt cười
Gật đầu đáp lại với người thương yêu
Bờ đê vàng nắng trong chiều
Chuyện ngày xưa, chẳng nhớ nhiều nữa đâu!
Hoa ngô xào xạc bên nhau
Rưng rưng hỏi lại…năm sau có về?

RAU KHÚC
Chẳng ai trồng khúc bao giờ
Vẫn xanh, vẫn trắng cả bờ bãi sông
Nếp hương ai lựa trắng bong
Đậu xanh ai đãi vàng ong bên hè
Em cười, khẽ rụt tay về
Có là chi một chút nghề giản đơn…
Nửa chiều bãi đất trống trơn
Bao cây rau khúc cô đơn mọc hoài
Bồn chồn ngày ngắn, đêm dài
Tiếng rao lanh lảnh vang ngoài tường vôi
Phố thay làng đã lâu rồi
Chỉ còn rau khúc…bồi hồi tiếng rao.

KHÓI RƠM VÀNG
Chiều rồi gió lộng bờ đê
Khói rơm vàng thổi cháy khê cổng đình
Trời cao sao khéo vô tình
Lấy chảo mây úp ta mình vào trong
Nhìn xa chỉ thấy cong cong
Bâng khuâng trước mặt chấn song cửa gầy
Có bao nhiêu lớp mây dầy
Dấu chân trần thuở thơ ngây đã mờ
Tìm đâu ra lối bây giờ
Khói rơm vàng cứ lượn lờ quanh ta.

GỬI TÌNH CHO TRĂNG
Xa nhau suốt cả cuộc đời
Không hình, không tiếng, không lời nhắn nhe
Để tàn bao lớp hoa tre
Để khô bao lớp vàng hoe duối vàng
Mười hai bến nước cho nàng
Mười hai cửa ải cho chàng mãi xa
Chẳng giận mình, chẳng giận ta
Thương sông, thương núi, chẳng hòa vào nhau           
Đêm nay người ở nơi đâu
Nhìn lên trăng để khắc sâu chữ tình.

VỢ MỜI UỐNG RƯỢU
Em nào có nghiện rượu đâu
Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.
Có say thì đã say rồi
Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.
Say từ mới nở hoa cau
Chẳng cần mặc cả trước sau thế nào.
Say từ rời chỏm trái đào
Đến nay lấm tấm bước vào tuyết sương.
Tha lôi khắp các công trường
Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô
Giường ghép ván, gạo đựng xô
Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu
Mưa rơi chảy ướt trên đầu
Đành ngồi bó gối nhìn nhau mà cười.
Có say, lúc ấy say mười
Bữa nay chẳng biết uống rồi có say.
Rõ là những đắng cùng cay
Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.
Uống cùng em…một chén thôi
Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu
Nuốt vào hết mọi nỗi sầu
Để say như thuở ban đầu mới quen.

THĂM LẠI PHÁO ĐÀI 44
(Nhà máy điện Hàm Rồng Thanh Hóa)
Lối xưa hoang vắng mất rồi
Một bờ công sự bồi hồi đợi ai
Cỏ cây vô ý mọc hoài
Che đi một thuở đỏ trời đạn bom
Che đi hết những chiều hôm
Khói theo hầm gạch gió nồm khẽ bay
Nối nguồn sông Mã về đây
Nước tuần hoàn lại tưới cây trên đồng
Hiểm nguy vẫn chẳng ngã lòng
Tuổi thanh xuân với tim hồng đẹp sao
Bỗng đâu lòng lại dạt dào
Đôi dòng mờ tỏ khắc vào tháng năm.

LỆ ĐÁ
Lại về thăm thánh Mị Châu
Nỗi đau hồn đá không đầu còn đây
Tưởng rằng gương hận đã đầy
Thân trai ngậm ngọc bấy chầy còn đau
Mai sau, dài những mai sau
Có còn ai đó phải lau lệ buồn.

NHỚ LỜI HEO MAY
Chỉ còn có gió heo may
Thổi vào góc bếp làm cay mắt già
Chiều nào một cháu một bà
Nửa niêu cơm độn với cà kho tương
Tưởng đâu đời lắm sắc hương
Các con quên cả góc giường chuối khô
Quên con đường nhỏ ngoại ô
Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn khênh
Một đời bà mãi lênh đênh
Nuốt vào tim những chông chênh ở đời
Mai sau con có nên người
Nhớ về quê để nghe lời heo may.

HUN KHÓI GIỮA RỪNG SÂU
Ai hun khói giữa rừng sâu
Những hầm than nguội lừ lâu bên rào
Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào
Cất vào đâu để đi vào tuyết sương
Câu thơ nhân ái, yêu thương
Hùng tâm tráng khí vô thường còn đây
Nghe đàn suối, uống rượu cây
Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi niềm
Bỏ đằng sau những tị hiềm
Để quay trở lại mà phiền lụy thân
Nỗi đau đâu chỉ một lần
Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng qua…
Oan khiên đâu dễ tìm ra
Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu
Ai hun khói giữa rừng sâu
Sáu trăm năm chửa nhạt mầu bi thương.

ĐỐT LÁ THAY RƠM
Ngày xưa ai đã đốt rơm
Khói bay, bay mãi từng cơn lên trời
Bên tai ru bấy nhiêu lời
Bảo cho cái kiến phải rời củ khoai
Ngoài kia ai đến cùng ai
Phải chăng vẫn chỉ là trai với cò
Mỏ dài, vỏ cứng chẳng lo
Lại đau cái nắng làm cho yếu mềm
Thì ra cái ác, ác thêm
Hùa nhau để mở ruột mềm trai ra.
Bao giờ rụng hết lá đa
Để ta cầm chổi theo ra quét chùa
Gom bao lá rụng cuối mùa
Đốt lên để ngắm khói lùa thay rơm.

TÌM THƠ
Anh ngồi lặng lẽ tìm thơ
Sáu mươi năm, đến bây giờ rồi sao…
Ai ngồi bên bậc cầu ao
Đếm hoa bèo để gửi vào phân vân
Ai ngồi bên giậu cúc tần
Đếm tơ hồng để gieo vần tặng anh
Ai ngồi bên mái nhà tranh
Đếm hoa ngâu để chép thành tình ca
Ai ngồi bên lũy tre ngà
Đếm con cò trắng để mà dậy con
Ai ngồi dưới bóng trưa tròn
Giặt manh áo nhuộm nâu non của chồng…
Ai mơ má thắm môi hồng
Còn ai tất cả vì chồng vì con.

LỤC BÁT RU THƠ
Bồn chồn nghe khúc ru xa
Vẫn câu lục bát quê nhà đó thôi
Bao năm rồi vẫn bồi hồi
Dòng sông trong vắt núi đồi mênh mông
Xóm làng kề cận ruộng đồng
Có cha mẹ có vợ chồng anh em
Có tháng năm, có ngày đêm
Có ta có cả bốn bên họ hàng
Câu thơ lục bát nhẹ nhàng
Đựng bao lời ngọc lời vàng bên trong

LẠI TÌM XUÂN VỚI HOA ĐÀO
Lại tìm xuân với hoa đào
Giữa chiều tết lạnh xôn xao tiếng lòng
Cành nào chan chứa sắc hồng
Cành nào thắm đỏ bềnh bồng trong mơ
Cành nào phai lạt bâng quơ
Cành nào tha thiết đợi chờ thi nhân
Cành nào tươi thắm tình xuân
Thời gian ghi dấu bao lần trong thơ
Dịu dàng đàn nối dây tơ
Lại tìm xuân, lại tìm mơ hoa đào.

QUÉT XÁC HOA ĐÀO
Anh ngồi quét xác hoa đào
Gói mùa xuân lại gửi vào mênh mông
Chiều tàn theo ngọn gió đông
Đợi hoài đợi mãi người không trở về
Lối xưa, ai chắp câu thề
Rằng mai đây, mãi cận kề bên nhau
Ai dè “đắt lúa, rẻ cau”
Từ ngày hôm ấy…đã lâu không về
Các con thương suốt mùa hè
Sang mùa thu với bộn bề, tả tơi
Những ngày “cơm vãi, cơm rơi”
Có làm thay đổi cuộc đời cho ai (?)
Mơ chi tháng rộng, năm dài
Nối thêm kỳ hạn, phí hoài thanh xuân
Hoa đào nở được mấy lần
Để anh còn được một phần của em
Mơ hồ xuân lạ, xuân quen
Hoa đào đã rụng mà em chưa về (!)

TẬP VIẾT CÙNG CON
Cha ngồi tập viết cùng con
Nét vuông nối với nét tròn cạnh nhau
Nét nào trước, nét nào sau
Khi cao, khi thấp, khi mau, khi dầy
Khi to, khi béo, khi gầy
Từng trang tiếp nối tháng ngày trong mơ.
Dù cho nét tỏ nét mờ
Đừng làm hoen ố bao tờ trắng trong.
Nhớ nghe con giữ thẳng dòng
Đừng quên kẻ vạch mà cong, mà chùng
Thiết tha, thẳng thắn, hào hùng
Tay con khéo lựa hòa cùng tay cha
Mai sau con lớn lên già
Chữ nhân, chữ  nghĩa nhớ mà thẳng ngay
Âm thầm nét chữ, bàn tay
Cha ngồi cần mẫn mỗi ngày bên con  

BIẾT YÊU ĐỜI
Viết câu lục bát cho con
Rải trên khắp các lối mòn xung quanh
Đời cha giăng sợi tơ mành
Đời con cái nhẽ phải xanh cây đời
Biết yêu hoa biết yêu người
Biết yêu đời để cho đời yêu đáng yêu.

 

CỐ ĐỂ MÀ QUÊN

CỐ QUEN

Cố quen một chút bụi đời

Cố quen một chút những lời chua cay

Cố làm như đắm như say

Để che đi một kiếp này buồn tênh

 

CHỚ KÊU ĐAU

Đã đau thì khóc vẫn đau

Lặng im san sẻ chia nhau chịu cùng

Gắng mà chôn chặt vào lòng

Để đời vui nốt những dòng đang vui

 

ĐỪNG QUÊN

Quên thì cũng một lần thôi

Cũng đừng quên mãi để rồi lại quên

Quên nhà quên ngõ quên tên

Xin đừng huyễn hoặc mà quên làm người

 

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

THƠ RU

 

THƯƠNG NGƯỜI CHỊU MỆNH

(Kính dâng Thái Hậu Dương Vân Nga)

Chưa tàn đâu ngọn cờ lau

Mười hai xứ loạn còn đau nỗi niềm.

Nào ai ganh ghét, tị hiềm

Quanh co bến cạn, giữa miền sóng con.

Nào ai dạ sắt, lòng son

Giữ cho bờ cõi, nước non thái bình

Nào ai trọn nghĩa, vẹn tình

Ghé vai san sẻ nỗi mình xót đau…

Thương người chịu mệnh về sau

Giữ cho muôn bóng cờ lau trắng trời

Tràng An muôn sự đổi dời

Nén hương hậu thế thay lời tri ân.

 

LẠI THAY PHÔNG CẢNH CHO CHÈO

Lại thay phông cảnh cho chèo

Thoắt thôi mà đã giầu nghèo hiện ra

Nhỏ nhoi một góc sân nhà

Mênh mông với cả quốc gia cơ đồ

Một con đường sỏi mấp mô

Một bờ cỏ rậm bên hồ mù sương...

Vai chèo quằn quại đau thương

Lớp chèo biết mấy đoạn trường bên trong

Cảnh chèo lận đận long đong

Đời chèo diễn mãi chưa xong một đời

Sân chèo nay đổi mai dời

Rồi đây biết có ai mời phân vai.

 

THƠ RU

Thả hồn theo cánh chim bay

Bâng khuâng viết lại bao ngày thơ ru.

Ru rừng đang gió mùa thu

Ru sông mùa hạ, mịt mù bão đông

Ru ngàn con sóng biển Đông

Ru mênh mang những cánh đồng lúa xanh

Ru con đường nhỏ lượn quanh

Ru căn nhà lá yên lành tháng năm.

Ru buồn cây cải xa xăm

Ru thương cay đắng rau răm giữa đời

Ru tan nát cả bao lời

Ru trào nước mắt mây trời ngày Ngâu.

Ru người đi vắng đã lâu

Suốt từ năm ấy ở đâu không về (?)

Ru ai giữ vẹn lời thề

Một mình chịu đựng chẳng nề thiệt hơn.

Ru căn bếp nhỏ cô đơn

Mẹ già tóc bạc thêm hơn mấy lần.

Ru người vợ trẻ tảo tần

Nuôi cha, nuôi mẹ, chăm phần các con.

Ru dòng máu đỏ như son

Chảy ra tô thắm nước non ngàn đời.

Ru ơi ru hỡi ru hời

Xé lòng ta để cất lời thơ ru (!)

 

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

ĐI LỄ ĐẦU XUÂN

 

Đầu xuân đi lễ cầu may - (Ảnh LTH 20120)

 

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2014

XUÂN NỐI MÙA XUÂN

 

KHAI BÚT KHAI XUÂN

Chào xuân khai bút viết thơ xuân

Mời bạn gần xa hoạ mấy vần

Xuân đến, xuân sang, xuân gặp tết

Tết về, tết lại, tết tìm xuân

Xuân thêm một tuổi xuân chờ tết

Tết tới một năm tết đợi xuân

Xuân! Tết! Xuân xuân! Xuân tết tết

Tết! Xuân! Tết tết! Tết xuân xuân.

 

TẾT NĂM BÍNH TUẤT

Chợt thấy mây tan ló mặt trời

M­ưa phùn rả rích chẳng còn rơi

Ruộng đồng cầy cấy đà xong hết

Nhà cửa thu gom cũng gọn rồi

Đèn nến hương  hoa vừa sắm đủ

Rượu chè bánh trái đã xong xuôi

Lơ mơ chén cúc bên bàn tiệc

Có phải giao thừa sắp tới nơi (?)

 

TẾT NGHÈO

Trừ tịch năm nay gió lạnh nhiều

Đầu hồi thông thống bấc luồn theo

Trên ban trống vắng không hoa rượu

Dưới bếp lặng yên chẳng lửa reo

Tết đến thêm lo nhà túng bấn

Xuân sang sợ nợ đến kỳ kèo

Xuân dăm ba bữa nhanh mà hết

Tết mấy mươi ngày chóng để veo                  

 

XUÂN TẾT

Chén vui cũng đã thấy làng nhàng

Muốn để mừng xuân lấy sự sang

Vỏ gỗ long bong dăm tiếng trống

Dây tơ phừn phựt nửa cung đàn

Đổi già làm trẻ ngân đôi khúc

Lộn cổ sang kim hét một tràng

Hánh mắt dòm xuân, xuân đổ dọc

Bần thần ngó tết, tết xoay ngang

 

XUÂN

Một chén đầu năm gọi đón xuân

Hồn hoa ghé lại một bên sân

Lơn mơn nắm gió xoa lên tóc

Lác đác hòn sương rụng xuống chân

Giường chiếu làm chi cho khó nhọc

Đất đai đã rộng lại thêm gần

Biết xuân từ những ngày năm trước

Mãi đến bây gìơ mới rõ xuân. 

 

XUÂN CẢM

Vườn đào hé nụ giữa tinh khôi

Đổi mới xuân nay đã khác rồi

Vào khối thị trường vừa kết hội

Lên sàn cổ phiếu đã sinh lời

Năm xưa chiến trận không thua kế

Buổi mới làm ăn chẳng luỵ thời

Độc lập tự do luôn giữ gốc

Giầu sang phú quý quyết theo người

NGHĨ VỀ XUÂN

Cứ nghĩ xuân sang cũng đã nhiều

Lấy gì để gửi chút tình theo

Ra sân gió bấc xoa vào mặt

Xuống bếp sương hàn chạm tới kheo

Xóm trại loanh quanh đường khó đến

Đường thôn luẩn quẩn dốc khôn trèo

Xuân như ngại tới thăm người khó

Tết cũng quên qua chỗ kẻ nghèo.

 

ĐINH HỢI GIEO THƠ

Non sông đã nở rộ muôn hoa

Cảm tác đôi câu gửi mọi nhà

Tích nước Sơn La bao kín lại

Khai dầu Dung Quất mở dần ra

Cổ phần công hữu vừa khai triển

Góp vốn tư doanh cũng kịp đà

Đón tết tưng bừng vui đổi mới

Mừng xuân nhộn nhịp cất lời ca

 

TÌM XUÂN

Đã mấy lâu nay bạn chẳng qua

Để thơ cằn cỗi trở nên già

Giấy điều đợi đó câu không đến

Bút mực chờ kia chữ chẳng ra

Giương kính tìm vần nơi đáy rượu

Thắp đèn kiếm tứ giữa sân hoa

Tìm xuân gặp dịp ai mà chẳng

Gọi chút tâm tình gửi bạn xa.

 

XUÂN BUỒN

Nhớ những năm nao cũng cảnh này

Xuân buồn day dứt đã về đây

Cơm non vực bát khoai dây độn

Áo nửa bao gai mụn vá đầy

Không pháo không hoa không rượu thịt

Chẳng nhà chẳng ruộng chẳng trâu cày

Lang thang một lũ trên đường phố

Đâu biết xuân vui được mấy ngày.

 

XUÂN MONG ĐỢI

Trước ngõ xuân như đã đến rồi

Mấy ngày vui tết cứ dần trôi

Ngoài đường vắng lạnh chim chưa hót

Dưới nước trong veo cá chẳng bơi

Mong chút nắng hanh hong ấm đất

Đợi làn mưa nhỏ tưới xanh chồi

Sao cho sớm sủa qua cơn rét

Để lúa chiêm xuân héo lại hồi.

 

XUÂN ĐẾN NHÀ

Xuân vừa chợt đến nở muôn hoa

Mừng được đông vui đủ trẻ già

Trong bếp đàn con đang sắp cỗ

Ngoài sân lũ cháu đợi chia quà

Nụ đào chúm chím hồng bên cửa

Cành lộc đu đưa biếc giữa nhà

Đôi khổ thơ xuân còn ướt mực

Một ly nước mới dậy hương trà.

 

GIAO THỪA

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

Đêm lạnh trăng không dạ nhuốm sầu

Kẻ đến dùng dằng mong nán lại

Người về tấp tểnh muốn qua mau

Ai giao ai nhận ai giao nhận

Ai đến ai về ai tiếp sau

Cái sự luân phiên vô sở cứ

Giao thừa vẫn vậy khác gì đâu

 

THƠ LÚC GIAO THỪA

Giao thừa gọi có tý nông sâu

Một chút vây vo khúc dạo đầu

Thơ mượn rung đùi chôm mấy tứ

Từ vay nhếch mép thuổng vài câu

Ngoài trời mưa bụi rơi chưa ngớt

Trong bếp lò than cháy đã lâu

Ai trót đọc qua thông cảm hộ

Thơ vừa mới đạo nhớ đừng tâu 

 

KHAI BÚT ĐẦU NĂM

Đầu năm khai bút viết gì đây

Thi phú vui buồn dạ chẳng khuây

Lắc rắc quanh nhà mưa nối hạt

Lờ mờ cuối phố khói chăng dây

Hoa đào gió lạnh chưa thèm nở

Bướm trắng mưa dầm chửa muốn bay

Xuân đến xin chờ cho một chút

Chủ nhân quá chén vẫn con say.

 

VỊNH TẾT

Tiếng trẻ râm ran các ngả đường

Nắng vàng trải rộng khắp muôn phương

Đầu làng pháo nổ inh trời đất

Cuối chợ người đi kín phố phường

Núi biếc ngàn hoa phô trước gió

Trời xanh cánh én vút trong sương

Xuân sang nhớ lại bao mùa trước

Hạnh phúc đang về dậy sắc hương

 

THƠ NHÀM

Xuân chờ trước cửa đã từ lâu

Cứ muốn vui theo chợt lại sầu

Chén rượu nửa chừng say sắp hết 

Tuần hương mới thắp cháy còn lâu

Chó con ngoài ngõ lai rai sủa

Kiến gió chân tường xúm xít bâu

Có biết giao thừa đang đứng đợi

Thơ nhàm viết vội một đôi câu

 

AI NHẬN, AI TRAO

Giao thừa ai nhận để ai trao

Một thoáng hương quê thật ngọt ngào

Áo trắng anh về trong rực rỡ

Khăn hồng em đến giữa thanh tao

Câu thơ người đọc bên cành lý

Khúc hát ai ngân dưới gốc đào

Đỏ mặt kìa xuân e ấp mãi

Giao thừa ai nhận để ai trao.

 

CUỐI XUÂN

Lại những chiều hôm lạnh thấu trời

Từng đêm dằng dặc đếm sao rơi

Một chùm hương dịu mây đưa đến

Nửa mảnh xuân nồng sóng cuốn trôi

Buồn cũ hình như đang trở lại

Vui này hồ dễ sắp chia phôi

Lòng ai luống những mong xum họp

Người đã vô tình muốn rẽ đôi.

 

CUỐI XUÂN CẢM TÁC

Xuân đã dần qua cuối tiết rồi

Gốc đào trước cổng đứng đơn côi

Tiếng chim sau núi lưa thưa hót

Bông gạo trên cành lặng lẽ rơi

Ánh nắng chiều vàng đang tụ lại

Vầng trăng đêm trắng sắp chia phôi

Giật mình một chốc mười năm lẻ

Một áng thơ buồn tỏ khúc nhôi

 

HỘI XUÂN QUÊ

Một hội xuân quê mới mở ra

Chia vui khắp hết cả muôn nhà

Sân đu đầy chặt trai bên gái

Bãi vật chen nhau trẻ cạnh già

Đầu xóm hân hoan mùa đã gọn

Cuối thôn hể hả lúa thêm trà

Đất trời toả rộng hương no ấm

Ngàn tiếng ca vui giữa thái hoà.

 

VỀ VỚI CHỢ VIỀNG

Qua tết về quê xuống chợ Viềng

Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng

Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo

Vợ dặn tìm cho một cái kiềng

Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi

Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng

Cả năm mới có ngày thư giãn

Cũng phải khao mình tí cái riêng

 

ĐƯỢC GÓI XÔI

Viết mãi thơ xuân chật cả rồi

Bây giờ thêm tý để chơi thôi

Này câu Lục bát xanh mi mắt

Nọ khúc Đường thi tím khoé môi

Dài ngắn cũng thì đen nét mực

Thấp cao hồ dễ trắng dòng vôi

Đầu năm cóp nhặt vài ba chữ

Cố đấm may thì được gói xôi

 

TÌNH XUÂN

Rét mướt hình như trốn cả rồi

Chỉ còn một chút gió heo thôi

Cành giâm vụ trước lưa thưa búp

Hạt trỉa năm nay loáng thoáng chồi

Chậu cúc soi vàng bên bể nước

Gốc đào thắp đỏ mé tường vôi

Bình minh chiếu rọi qua song cửa

Ai biết tình xuân lặng lẽ trôi…

 

XUÂN BẠN HOÀ THEO  (Hoạ thơ)

Xuân đến rồi sao cứ đợi trông

Xuân thưa rằng vắng cánh hoa hồng

Xuân già tám chục còn tươi thế

Xuân trẻ đôi mươi có thắm không

Xuân đã từng quen chừng khó nhớ

Xuân dù vẫn lạ khéo hay mong

Xuân ta gửi gấm bao tình cảm

Xuân bạn hoà theo hẳn ấm nồng.

 

CẬN KỀ

Dứt áo chia tay lúc trở về

Nỗi buồn day dứt cả chiều quê

Ngỡ xuân năm ngoái còn son rỗi

Tiếc hạ năm nay đã mọi bề

Gió thổi xạc xào trên đỉnh núi

Sương buông dày đặc dưới triền đê

Chỉ mong ai đó đêm cùng thức

Mượn những vần thơ để cận kề.

 

TÌM THƠ                                       

Sắp hết xuân rồi não vẫn trơ

Ngồi nhà nghĩ mãi chẳng ra thơ

Ngoài hiên lất phất mưa dày mỏng

Trong án đìu hiu nến tỏ mờ

Bớt dưới thêm trên nhoè cả giấy

Chèn sau gạch trước rối như tơ

Loanh quanh bới khắp đôi thùng sách

Chẳng biết tìm đâu một cái (ơ)

 

TẾT RƯỢU

Tết đã bon bon đến cạnh nhà

Thế mà cổng chửa mở toang a

Chắc cơn mộng mị còn chưa chín

Hay giấc hoàng lương vẫn chửa già

Tí tách mưa dầm đào nảy lộc

Lâm thâm rét ngọt mận đơm hoa

Tiếc xuân ngồn ngộn bày trên chiếu

Rượu uống say rồi chẳng muốn ra

 

TẾT MƯA

Tết đã lanh canh gõ trước nhà

Thế mà khói bếp chửa lên a

Chắc gân gạo nếp còn chưa nhuyễn

Hay cuộng giong xanh đã quá già

Gió đẩy hiên tre kêu loạt xoạt

Mưa tràn ngõ đất ngập bùn hoa

Chắc xuân mệt mỏi còn đang ngủ

Nên cửa nhà ai chửa hé ra

 

GẶP XUÂN (Họa thơ)

Gặp xuân từ ấy nặng lòng thương

Bến lạ sông quen nối dặm đường

Cứ tưởng vườn đào còn thắm sắc

Đâu ngờ ngõ mận đã phai hương

Sân vôi lá rụng dầm mưa nắng

Ngõ gạch rêu phong gội gió sương

Vẫn biết ngày xưa không trở lại

Sao lòng ai đó mãi tơ vương

 

CHẮP XUÂN (Họa thơ)

Chắp bốn xuân vào mới bẩy ba

Cõi tình ngày tháng vẫn thăng hoa

Vườn xưa mòn mỏi người đi vắng

Ngõ cũ mơ màng kẻ cách xa

Cuộc rượu vẫn mong chờ Chúa Chổm

Chiếu thơ còn đợi đón Hằng Nga

Cần chi than thở trong buồn tủi

Để bận lòng nhau một chữ già

 

XUÂN LẠNH (2007)

Lạnh thế mà xuân cũng đến a

Mưa dầm gió bấc phủ quang nhà

Đầu hồi trống trếnh như diều sáo

Hèm cửa vênh vao tựa mõ già

Quất đỏ vừa tô cành trĩu trái

Đào hồng mới vẽ gốc đầy hoa

Bao xuân dồn hết về đây cả

Đã vậy cần chi mở cửa ra


ĐÓN TẾT

Phú quý xem ra chẳng đến mình

Cần gì bày vẽ chuyện linh tinh

Bánh chưng vợ gói dăm ba cặp

Rượu cẩm con ngâm sáu bẩy bình

Quất ế đầu làng kêu tới vác

Đào thừa cuối phố gọi sang rinh

Xì xằng thịt cá vài mươi ký

Đủ để mời xuân thỏa chút tình

 

THƠ TẶNG XUÂN GIÀ

Thêm một lần xuân đến tặng đời

Đuổi mùa đông lạnh cuốn xa khơi

Lửa rơm trong bếp liu riu cháy

Mưa bụi ngoài sân lấm tấm rơi

Chè Thái vừa chuyên còn bốc khói

Rượu Vân mới rót đã xông  hơi

Xuân già lọm khọm qua ngang cửa

Sao chẳng vào thăm để chén vơi.

 

LÊN LÃO MÀ CHI

Cứ ngỡ mình đang ở tuổi xuân

Nào hay già hết mấy mươi phần

Tóc râu có nhẽ dần thưa bớt

Răng lợi hình như cũng lỏng dần  

Mắt mũi lõm lồi bầy chẳng gọn

Mặt mày rúm ró xếp không cân

Chân tay cứ tưởng như đi mượn

Lên lão mà chi mệt tấm thân

 

HOA HỒNG DẠI

Tết vẫn chờ ta đến xếp vần

Ngắn dài cao thấp khó mà cân

Này cô hồng bạch da khô héo

Nọ chị hồng nhung má đỏ rần

Kia thím hồng vàng sờ kém mượt

Đây bà hồng đỏ nắn toàn gân

Chỉ em hồng dại chơi đầu ngõ

Nghe xứng tầm cho một cái xuân

 

THƠ RƯỢU VÀ MƠ

Lại tìm đến rượu để khoe thơ

Mấy chục năm quen đến tận giờ

Đây cụ cả Nho dòm đỏ khé

Kia ông ba Cúc ngó xanh lơ

Nọ anh bẩy Sắn nhìn trong vắt

Kìa bác chín Ngô ngắm đục lờ

Chả biết vị nào vừa đến độ

Để cho muôn thực hóa thành mơ

 

NHỚ XƯA MẸ VẪN ĂN TRẦU

Tết mẹ năm nao cũng có trầu

Bình vôi men ngọc trữ từ lâu

Cau tươi nhà hái đôi ba quả

Rễ quạch con mua hẳn một cầu

Cối cũ quai đồng tươi sắc đỏ

Chày xưa cán thép bóng mầu nâu

Đêm nao mẹ cũng ngồi bên cửa

Đợi thuốc con đưa để thử trầu.

 

LẠI GẶP NÀNG XUÂN

Cuốn lịch thời gian mỏng lại dầy

Bao nhiêu ngày tháng đã qua đây

Nhớ khi tiền tuyến vây đồn giặc

Vui lúc hậu phương lái máy cầy

Bão gió phôi pha da nhuộm nắng

Tuyết sương gội trắng tóc hòa mây

Vừa toan đặt bút vần thơ mới

Đã thấy nàng xuân má đỏ hây

 

CUNG CHÚC TÂN XUÂN ẠN SỰ NHƯ Ý

Cung kính dâng cao ngọn đuốc hồng

Chúc mừng đổi mới cả non sông

Tân niên sản xuất làng tươi thắm

Xuân mới dựng xây phố rực hồng

Vạn khó mỗi nhà lo gắng sức

Sự thành cả nước góp thêm công

Như lời Bác dặn luôn đoàn kết

Ý Đảng lòng dân thắng bão giông

 

GẶP XUÂN(Họa thơ NXN)

Gặp xuân từ ấy nặng lòng thương

Bến lạ sông quen nối dặm đường

Cứ tưởng vườn đào còn thắm sắc

Đâu ngờ ngõ mận đã phai hương

Sân vôi lá rụng dầm mưa nắng

Ngõ gạch rêu phong gội gió sương

Vẫn biết ngày xưa không trở lại

Sao lòng ai đó mãi tơ vương

 

DU XUÂN QUÝ TỴ

Mặt hồ gợn sóng tím trong sương

Cây trái xum xuê kín phố phường

Rừng vải đơm hoa soi đáy nước

Vườn na nảy nụ khắp đồi nương

Vầng mây lờ lững xanh triền núi

Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường

Lữ khách du xuân vừa cập bến

Đào mai nở rộ ngát mùi hương

 

XUÂN CHIỀU

Từ chiều xuân ấy mãi tơ vương

Nào có xa chi nửa dặm trường

Xóm Lác người thưa mưa gội tóc

Sông Cầu bến vắng nắng soi gương

Bao cồn cát trắng phơi ngoài bãi

Mấy dải đay xanh kín mặt đường

Làng cũ tranh tre không thấy nữa

Nhà tầng san sát dưới màn sương

 

GIÓ THƠM VƯƠNG

Chiều xuân đi hội với người thương

Khách đến xôn xao mọi nẻo đường

Vách đá Kỳ Lân mưa thấm lạnh

Rừng thông nảy lộc gió đưa hương

Đào hồng khép nụ phơi trong nắng

Cúc tím xòe hoa đọng dưới sương

Mắt biếc lướt sang vai áo mỏng

Tóc mây chợt xổ gió thơm vương

 

XUÂN GIÀ (Xuân Canh Dần)

Năm nay gặp nhuận tháng dư ra

Tết cũng thong dong chẳng vội mà

Bánh trái vừa mua đầy gác bếp

Quất đào mới sắm chật hiên nhà

Gà nuôi thóc sạch đầy chuồng đợi

Rau tưới nước trong kín bãi chờ

Thêm cháu mới sinh về quấn quít

Thảnh thơi nâng bút vịnh xuân già

 

XUÂN PHẢ LẠI

Heo may đã tạnh cuối trời xa

Nắng mới soi lên vạn mái nhà

Thạch Thuỷ quất vàng mời khách tới

Thành Phao đào đỏ đón người qua

Trẻ thơ hăm hở đi chơi tết      

Già lão thong dong xuống lễ chùa

Phả Lại sang xuân vui rộn rã

Phố xưa đổi mới chẳng ai ngờ

 

DỌA XUÂN

Viết lắm thơ xuân lại sợ nhàm

Trẻ trung phơi phới mãi cho cam

Trèo lên quán dốc còn ưa thích

Bước xuống ruộng cà vẫn cứ ham

Chớ dại đi theo phường bán quýt

Đừng tham đến với lũ buôn cam

Chẳng may gặp phải quân gian xảo

Thiên hạ chê cười yếu vẫn tham

 

Thứ Hai, 28 tháng 4, 2014

MỘT SỐ BÀI THƠ NĂM 2014

 

GỬI VỀ XỨ NGHỆ

(Tặng Nguyễn Thị Nam Quỳnh Đôi)

Gửi về xứ Nghệ một tình yêu

Nói ít mong ai đó hiểu nhiều

Héo dạ khêu mưa khi chợn rợn

Mặc lòng thả lửa lúc phiêu diêu

Khơi tình ngắm nụ khi mờ sáng

Cạn lý xem hoa lúc xế chiều

Có gặp được đâu mà ước hẹn

Nên đành mượn bút thả vần yêu

 

VẬN THƠ BÀ CHÚA

(Nhân nghe nói về quê bà chúa)

Bà Chúa Thơ Nôm đã mất rồi

Chỉ còn cái bóng ở đây thôi

Đời trai vất vả đau bao thuở

Kiếp gái truân chuyên cực mấy hồi

Chỉ ngại người quen đòi nợ khuyêt

Lại thương kẻ lạ vướng duyên bồi

Nét quê khéo vận hòa trong cảnh

Để những miền thơ lại nảy chồi

 

GỬI MẤY ĐƯỜNG TƠ

(Tặng Nguyễn Thị Nam Quỳnh Đôi)

May mắn vì đâu một áng thơ

Để quen người chửa gặp bao giờ

Đã từng trước mặt còn chưa ngỏ

Huống lúc sau lưng chỉ khép hờ

Hạt cát qua truông gờm vách núi

Cành lau xuống thác ngại đôi bờ

Chút tình bé nhỏ mong gìn giữ

Dù chỉ đơn sơ gửi mấy tờ

 

THƯ ĐÃ ĐỌC RỒI

(Họa bài Bức thư định gửi)

Thơ bạn hôm nay đã đọc rồi

Lòng còn vương vấn mãi không thôi

Người ngoan đã muốn đem trao ý

Kẻ xạo đành theo phải gửi lời

Cái nhẽ thường tình quen thế vậy

Gặp khi trái khoáy khó lòng vui

Mới hay mọi sự không toàn vẹn

Thư bạn hôm nay đã đọc rồi

 

LẼ NÀO TA CỨ QUÊN THƠ

Có một khi nào đấy ta chợt buồn mà không biết nói cùng ai. Có một người bạn bảo rằng hãy nói cùng thơ, vì thơ hiểu cả, thơ có thể chia sẻ và an ủi bao nhiêu cũng được.  Thế mà từ lâu đã quên thơ, không biết thơ có giận ta không (?)

 

QUÊN THƠ

Tưởng rằng thơ cứ là thơ

Một mai nhuộm nắng, ươm tơ những chiều

Chợt đâu thơ cũng đói nghèo

Nghiêng theo mặt giấy, gieo neo một đời

Câu thơ dần cứ xa vời

Để người thơ... đã một thời, quên thơ.

 

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

ĐỜI THƯỜNG 1

TUỔI THƠ

 

1

         

Những ngày chơi bời lêu lổng của Hằng đã không còn nữa bởi đám bạn cùng tuổi đã phải bắt đầu với các công việc vặt trong gia đình của chúng. Thế là chỉ còn có một mình cậu thuộc diện rỗi rãi, tha thẩn hết vào lại ra với vài thứ đồ chơi vặt vãnh của chính cậu. Gọi là đồ chơi nh­ưng thực ra cũng chẳng sang trọng gì. Một vài cái mảnh sành đ­ược mài nhẵn để làm con chọi. Mấy hòn đá xanh nhặt ở đ­ường tàu về để đẽo gọt làm bi.

Ngoài những lúc ngủ, thời gian còn lại cậu đều dành cả vào các trò nghịch ngợm và chế tác những đồ chơi ấy. Hai tay và quần áo Hằng lúc nào cũng toàn đất cát, bột đá trắng, sản phẩm của việc gia công chế tạo các viên bi. Đây cũng chính là công việc chiếm mất nhiều thời gian nhất của cậu.

Công đoạn chính của việc chế tạo bi bắt đầu là việc dùng dao rựa cùn để đẽo các viên đá từ to thành nhỏ rồi mài sơ bộ vào nền gạch cho tròn. Tiếp đó là việc đ­ưa các viên đá này vào giữa hai vòng tròn của hai cái kẹp đạn rồi lại xoay đi xoay lại làm cho viên đá trơn và nhẵn. Cái công đoạn này đ­ược các cậu bé trong làng gọi là lùa bi.

Việc làm ra một viên bi từ khi đẽo đá đến khi lùa cho thật tròn, thật nhẵn cũng phải mất hàng ngày, hàng buổi chứ không phải nhanh chóng gì đâu. Thế mà khi đem ra đánh với lũ bạn chỉ cần sơ ý hoặc kém tài một chút là mất vào tay chúng, lúc ấy mới tiếc làm sao. Tất cả mọi đứa trẻ trai trong làng đều ham làm và ham có nhiều các viên bi bằng đá nên khi làm ra đư­ợc một viên bi công phu quá, đẹp quá, nhẵn quá đến lúc mất, còn tiếc hơn ng­ười lớn tiếc khi mất một cục vàng.

Bên cạnh cái trò bi, đáo ấy lại còn trò chơi khăng, thổi diêm, thổi nịt. Trò nào cũng cuốn hút, bởi trò nào cũng gắn với những được mất. Cho dù cái được mất ấy chả đáng bao nhiêu về giá trị vật chất nhưng với lũ trẻ trong làng thì thế cũng đã là to lắm, vì có khi nào chúng nó có đủ tiền để mua được nổi một bao diêm hay một xâu nịt đâu. Diêm của chúng đều do lấy cắp bớt trong bao của bố mẹ, còn nịt thì do chúng nhặt nhạnh trong các gói hàng mà người ta tháo ra lấy hết đồ bỏ rơi lại đó.

          Từ mấy năm nay ở làng vẫn có một lớp học tổ chức ngay ở cái điếm giữa. Cái lớp học này dạy kèm một chương trình vỡ lòng với chương trình lớp một. Ai có học hơn từ trước thì cũng tự hạ xuống, còn ai chưa học thì cũng cố mà theo, thành ra việc học cũng thật khó khăn cho cả thầy và trò. Ông giáo dạy cái lớp hổ lốn này là ông trưởng bạ, trưởng bạ chỉ là tên công việc ông thường làm trước đây, còn ông tên là gì thì rất ít người đề cập đến. Ông trưởng bạ cũng đã dạy học nhiều năm ở các nơi khác nên ông tuy giống ông đồ nhưng cũng đã có những nét của một ông thầy có sự đào tạo về sư phạm chính quy. Ông rất dữ đòn và thường xuyên đòi hỏi học trò tôn kính ông giống như các vị lớn tuổi ngày xưa đi học chữ nho. Ông có một cái roi bằng mây nhưng lại buộc chập hai cái thành một, mỗi khi có người không thuộc bài là roi ông lại vút lên giáng vào những cái mông nghe mà phát sợ. Cũng có khi ông dùng nó quật lên những bàn tay đặt ngửa trên bàn khi có người quên viết tập hoặc viết chữ quá xấu, quá bẩn. Những người bị đánh vào tay thường đau đến hai ba ngày mới khỏi, nhiều khi vết đánh đỏ mãi đến cả tuần. Có điều là chỗ nào có lỗi thì ông đánh đúng vào chỗ đó, nên bàn tay phải chính là nơi ông trừng phạt, khi bị trừng phạt, bị đau thì lại  viết xấu, viết xấu lại sẽ bị đánh, bị đau. Mỗi con người đều sinh ra hai tay, mỗi tay đều phải dùng để làm việc, nhưng mà bao giờ cái tay bên phải cũng đều vất vả nhất, gian nan nhất và cho đến khi gặp ông trưởng bạ thì nó lại còn bị đau nhất. Đáng lý nó phải được khen khao hoặc giả cũng được quan tâm bằng một hình thức nào đó, vậy mà trên khắp thế gian này đã có ai phán giúp một đôi điều. 

          Cậu con trai nhà ông Tân cũng được gửi vào lớp học của ông trưởng bạ như một học sinh vỡ lòng cùng một quyển vở với một cây bút. Ông Tân gửi cậu vào đây hy vọng là cậu đọc được cái chữ thì chỉ in ít mà thôi, còn cái chính là muốn để cho ông giáo rèn cặp cậu, giữ để cho cậu không bỏ đi chơi lang thang đây đó. Cho nên việc đi học của cậu cũng chỉ là do có mấy cái tiện thể cùng một lúc mà buộc phải làm. Ngoài việc tập đánh vần, tập đọc trên lớp, mỗi ngày cậu còn phải tô chì một bài mà thầy đã viết sẵn, sao cho các nét mực không được trệch ra khỏi nét chì mà thầy đã viết trong vở. Cậu cũng được thầy ưu ái hơn vì nhà cậu ở ngay lớp học, hàng ngày thầy vẫn thường xuyên vào chè nước cùng ông bố của cậu nên có sự gì ông giáo cũng nói ngay cho bố cậu biết mà không cần phải xử phạt. Cũng chính vì thế mà cậu lười học hơn những đứa khác, kém hơn những đứa khác.

Bài học ông trưởng bạ dạy cho học trò luôn bám sát với chương trình của nha giáo dục phổ cập từ  khi còn ở chế độ cũ. Ngoài các chương trình học bằng tiếng Việt, các học trò còn phải học thêm chương trình tiếng Pháp, những bài tập đọc, tập viết tiếng Pháp luôn làm cho số học sinh mới vào gặp khó khăn. Những bài học thuộc lòng lại càng khó hơn nữa, đến ngay cả đọc phát âm còn không nhớ huống hồ còn nói đến chuyện dịch nghĩa, chính vì thế mà có rất nhiều cô cậu phải đòn, càng phải đòn càng ghét môn tiếng Pháp và rồi lại càng ghét thêm thực dân Pháp. Nhiều lúc cậu nghĩ sao mà cái thằng Pháp nó ác thế, bom đạn nó mang sang giết người ác đã đành đến cái chữ của nó mang sang cũng làm cho người ta điêu đứng, khổ sở. 

 

                                                      2

 

Sang đầu tháng hai năm 1955 ông Tân về thăm quê, lần này ông mang theo Hằng cùng về. Việc thăm quê chỉ là phụ, việc chính là ông đưa cậu  con của bà hai cùng về rồi để lại trông nom cháu bé cho chị cả đi làm. Dưới quê hồi này mùa màng thật là bận rộn, anh cả thì đi vắng, chị cả thì chẳng có ai đỡ đần, hơn nữa khi vào đông vụ chí kỳ ai ai cũng đều bận, chị cả vướng cháu không ra đồng được nên ông bà Tân đành phải cho cậu về quê giúp chị một thời gian. Thế là trong lần đi học đầu tiên này cậu đã phải bỏ học giữa chừng.

          Làng Tây Lạc cách tỉnh lỵ có hơn chục cây số, con đường về làng cũng không được rộng rãi gì, cho dù đây là tuyến đường chính đi từ tỉnh lỵ xuống biển. Hàng ngày có đến hàng dăm chục chuyến xe ô tô qua lại, ngoài ra còn có hàng trăm chuyến xe ngựa đi về vừa chở hàng lẫn chở khách. Quang cảnh bên đường thật là tiêu điều xơ xác, đây đó một vài quán hàng lẻ tẻ dọc đường bán vài cốc nước chè xanh chủ yếu để phục vụ cho những người đi bộ hoặc gánh hàng rong giải khát với một chút tiền ít ỏi không làm vơi đi tý xíu tiền công mà họ vừa kiếm được trong ngày. Cái thứ tiền công chỉ vừa đủ mua nổi không quá hai đấu gạo, còn số gạo thì lại không đủ cho hai bữa của một gia đình đông người.

          Chị cả chưa có nhà ở riêng mà phải ở nhờ nhà của người chú ruột, cũng may chú cũng không đông con nên cũng không đến nỗi quá chật chội. Ngôi nhà ông chú và vợ chồng của người con lớn của chú ở là một ngôi nhà tranh bốn gian lợp rạ, tường trình bằng đất rất khéo. Bức tường được trình phẳng đến nỗi nếu không đến tận nơi xem thì chắc sẽ cho là tường gạch trát vữa, duy có bức tường hậu là có vết nứt hơi lớn đe doạ đến việc đổ tường. Chị cả và cháu đều ở dưới nhà ngang, ngôi nhà này nối với nhà trên theo hình thước thợ, đây cũng là căn nhà tre nhưng bé hơn nhà trên một ít, vốn trước đây nó cũng là nhà ở chính của gia đình ông chú nhưng từ khi dựng được ngôi nhà trên thì mới không ở nữa. Cũng là mái tranh tường đất nhưng tất cả mọi chỗ từ trong nhà ra ngoài, sân chỗ nào cũng sạch sẽ. Hàng ngày sau khi làm xong mọi việc cụ Nhẫm lại quét dọn và sắp xếp nên mọi thứ rất gọn gàng, ngăn nắp. Bên trong hai căn nhà nối nhau theo hình thước thợ là một cái sân đất khá rộng rãi được đầm nén phẳng phiu và vuông vắn. Hàng ngày cụ Nhẫm ra vườn đằng sau chặt vài cây tre mang vào pha ra để đan lát, khi thì là cái rá, cái rổ, lúc lại là cái giần hay cái sàng để dùng trong nhà. Mỗi lần đan xong một thứ cụ lại mang vào bếp hơ lên ngọn lửa để đốt các sợi lông tre xổ ra. Đến khi nứt cạp cụ thường dùng răng cắn vào cạp rồi mới rút sợi mây, thành thế nên trên vòng cạp của rổ hoặc rá đều có vết răng của cụ. Một lần cụ chợt nhìn thấy Hằng đang nhìn mình cắn cạp rổ rá, cụ cười và kèm sau đó là lời giải thích:

          - Có cắn thế cạp mới chắc! Những người đi chợ mua rổ rá thường nhìn vào dấu cắn này mà chọn, có thế mới mua được thứ tốt.

          Hằng cũng chỉ cười mà không nói gì, trong bụng thì cậu nghĩ rằng sau này cậu sẽ không làm nghề đan lát vì nếu cứ cắn như vậy thì rất ghê răng. Có lẽ cụ Nhẫm trêu cậu thế thôi chứ nếu cái rổ nào cũng làm thế thì chả mấy chốc mà gẫy hết cả răng.

          Hàng ngày Hằng phải dậy rất sớm để trông cháu cho chị cả đi làm. Cũng vì đồng xa nên chị cả chỉ đi làm có một buổi sáng, còn buổi chiều thì chị ở nhà trông cháu để cho Hằng đi học cùng với cô A con của ông Khánh và cô Tý con bà Xước. Thầy dạy học cho bọn trẻ là cụ Mậu, cụ cũng chỉ là thầy đồ có một chút vốn chữ quốc ngữ vừa đủ để dạy cho bọn trẻ vỡ lòng, mẫu giáo mà thôi. Lớp học của cụ ở ngay trên nền nhà, bọn trẻ tự mang theo những cái ghế để vừa kê sách khi viết bài, còn lúc tập đọc thì dùng làm ghế ngồi. Những bài học hàng ngày vẫn là tập tô, tập viết, tập đọc và học thuộc lòng. Những bài học thuộc lòng đa phần là những bài ca dao ngắn, những bài hát ru lục bát nên cũng dễ học, dễ nhớ. Điều quan trọng đối với cụ Mậu là làm thế nào để cho các học trò nhỏ của mình tỏ ra có tiến bộ, bên cạnh sự hiểu biết của các học trò là điều mong muốn của người thầy làm thế nào để cho các bậc phụ huynh dễ nhận ra rằng con cháu của mình cũng đã học được mà tiếp tục gửi con, gửi cháu đến cho cụ, để rồi họ sẽ đóng góp cho cụ một vài đấu gạo trong lúc đói kém khó khăn này.

 

                                                                 3

         

Ngoài việc trông cháu và đi học chú em chồng của chị Thảo chẳng giúp thêm cho chị được gì nữa, còn chị thì tất bật suốt cả ngày. Cũng có lần chị cả cho cậu đi tập làm việc cùng với chị khi chị gửi cháu cho cụ Nhẫm. Lần ấy hai chị em ra bờ ao trước cửa làng lấy bèo cái về cho lợn, cũng không biết chị mượn đâu được đôi quang gánh ngắn khá vừa so với độ cao của Hằng. Bèo vừa chất lên là cậu gánh thử ngay, xem ra cậu gánh cũng được nên chị cả cũng không để ý đến nữa, chị cúi xuống để nhặt bèo vào gánh của mình. Chú em thì hăm hở lắm nhưng chỉ mới đi được một đoạn đã thấy lấy tay sờ lên vai, có lẽ là cậu bị đòn gánh cọ đi, cọ lại nên đã bắt đầu đau vai. Đây là lần đầu tiên trong đời cậu tập gánh nên dễ đau và nhanh đau là phải, thế là cậu nghĩ đến việc đổi vai nọ sang vai kia cho đỡ đau. Vì là lần đầu tập gánh nên việc đổi vai như thế nào cậu cũng chưa tường tận lắm. Lúc đầu cậu định dừng lại rồi xoay đòn gánh trên vai, nhưng xoay đến đâu thì cứ như cái đòn gánh lại cứa vào vai và cổ đến đó, thế là cậu đành hạ cả gánh xuống rồi chui đầu qua đòn gánh để sang vai bên trái. Vừa sang vai xong thì thấy chị cả cười ngặt, cười nghẽo, rồi chị tiến lại gần bảo chú em hạ gánh xuống để xem chị dở vai. Thực ra thì việc dở vai cũng không khó lắm, cái đáng lưu tâm ở đây là vai của cậu đỏ tía và đã sưng lên rồi nên cậu không muốn để cho cái đòn gánh nó nhay lên trên đó mà thôi. Thế rồi chị cả làm động tác đổi vai cho Hằng xem, chị lại định còn bắt cậu dở vai thử để cho chị xem có được hay không, chị nhấn mạnh việc đổi vai phải xoay về đằng sau mà không được xoay về đằng trước. Thì ra lúc nãy khi chị ngước lên thì thấy Hằng vừa chui đầu từ bên này sang bên kia nên chị tưởng là cậu xoay đòn gánh ra đằng trước, có lẽ vì thế mà chị buồn cười đến mức như vậy. Sau lần tập gánh với bao chuyện buồn cười lại đến chuyện tập tát nước. Thực ra cũng không còn là chuyện tập nữa mà là tát nước thật.

Mùa nắng năm ấy đã kéo dài mấy tháng liền, nên ngay từ khi cấy các thửa ruộng của nhà đã thiếu nước. Hàng ngày các hộ có ruộng ở vùng ấy đều có ý chia phần cho từng nhà đến tát nước. Chờ mãi đến năm sáu ngày liền, hôm ấy mới đến phiên chị cả lấy nước. Dồn tát nước vào ruộng sâu quá thành ra không dùng được gầu sòng mà phải dùng gầu giai. Chị cả lại chỉ có một mình nên chẳng làm gì được. Chị cũng đã cố gắng đi mượn người nhưng tất cả những người có thể giúp chị thì đều quá bận, bất đắc dĩ lắm chị đành phải bảo cậu em chồng đi tát nước cùng chị. Hằng nghe nói được đi tát nước thì rất vui vẻ vì mình sắp được làm các công việc của người lớn mà lâu nay cậu chưa bao giờ được sờ đến.

Chị cả cũng buộc lại sợi dây gầu cho ngắn lại sao cho Hằng có thể kéo được. Sau khi tìm chỗ đứng cho mình, chị cả lại đi sang chỗ của Hằng để hướng dẫn cho cậu về cách đứng, rồi cách cầm dây gầu. Mới kéo  gầu nước đầu tiên Hằng đã chúi cả người về phía dồn nước, tý nữa thì ngã nhào xuống dồn. Chị cả hoảng quá định thu dây gầu lại nhưng chú em không cho, xem ra có lẽ cậu vẫn muốn tập tát nước cho bằng được. Đến lần thử thứ hai thì cậu có tiến bộ hơn tuy rằng chị cả chỉ dám múc có lưng gầu một. Hai chị em cố gắng nhũng nhẵng mãi cũng cũng múc được ướt mặt ruộng. Đến lúc này thì cậu đã quá mệt và đòi nghỉ. Ngay chị cả cũng muốn nghỉ vì chị cũng mệt. Chị cả mệt không phải vì làm quá nhiều, chẳng qua chị mệt vì cứ phải lựa theo cậu em. Nếu kéo mạnh thì sợ cậu ngã thành ra cứ phải kéo nhè nhẹ. Mỗi lần thả gầu chị lại phải cố hạ thấp xuống cho cân đối rồi đưa dần gầu nước lên như kéo nước từ giếng khơi lên vậy. Dù sao thì cũng ướt được chân lúa, thế cũng đã là quý lắm rồi, còn muốn kéo thêm cho đầy thì tối nay sẽ nhờ số chị em trong họ ra giúp thêm cho một lúc. Với một cái thành quả bé tý như vậy cũng làm cho Hằng vui thích, mà không vui sao được vì chỉ mới gần chín tuổi cậu đã có thể làm được công việc của người lớn, cho dù công việc đó chẳng có đáng gì so với nhiều công việc khác của nhà nông.

 

                                                           4

         

Ngoài việc trông cháu, giúp việc cho chị và đi học cậu còn luôn bày ra cho số bạn cùng tuổi rất nhiều các trò nghịch ngợm, nào là các trò bán hàng bằng lá cây để vui chơi, trò trốn tìm lẫn nhau trong đêm tối. Riêng trò trốn tìm thì cậu luôn luôn chiến thắng, tất cả bọn trẻ con từ cái A đến cái Tý, cùng mấy đứa bé tý khác ở trong xóm. Chúng nó chả làm thế nào tìm ra được cậu. Chỉ riêng mỗi một mình cậu nếu đã đi trốn thì chỉ khi nào cậu không thích chơi nữa mà tự đi ra thì lũ trẻ mới bắt được cậu. Cũng có khi Hằng đi trốn vào một cái đống rơm của nhà cụ Đãng hoặc của nhà cụ Đồ rồi ngủ luôn ở trong đó làm cho chị cả đi tìm trợn cả mắt lên mà vẫn không thấy. Những lúc như thế chị cả lại sợ cậu giận gì mình mà đi trốn nên càng lo lắng, nhiều khi bỏ cả cơm nước rồi cuống cuồng lên để đi tìm em. Cho dù sau đó đã nghe Hằng nói rõ nguyên nhân rồi nhưng chị vẫn bán tín bán nghi, cho là mình đã làm điều gì đó không phải nên em phật ý giận mình. Những lúc như vậy chị chỉ mong sao bố sớm về để trả cậu về cho bố mẹ. Ngoài các trò chơi thông thường của bọn trẻ ra Hằng còn có những trò nghịch tệ hại hơn nữa. Một trong các trò ấy là trò chơi ăn trầu bằng thân của cây sắn giây mà cậu cắt được ở trong vườn của cụ Đồ. Một mình cậu đã bày ra một đám cưới của một đứa trẻ này với một đứa trẻ khác, bất chấp đó là cô cháu hay là anh em cậu chỉ cần có đám cưới là được, vì chỉ có đám cưới mới có lý do để ăn trầu. Những đứa trẻ lại cũng chẳng cần gì cả miễn là cứ được nhai các đoạn sắn giây rất ngọt là được. Cũng phải nói rằng vào thời bấy giờ trẻ con ít được ăn đường mật hoặc các thức ăn có chất đường nếu như chưa đến các ngày hội hè hoặc tết nhất, vì vậy mà cái chất ngòn ngọt của cây sắn dây cũng là những thứ mà chúng ao ước được ăn. Cây sắn giây có vị ngọt nhiều nhất là đoạn thân bánh tẻ nằm gần giữa gốc và ngọn, cũng chính vì vậy mà mỗi lần cắt được đoạn thân trên thì cây sắn cũng bị cắt cụt. Chỉ trong có mấy ngày  mà hết vườn nhà cụ Đồ lại đến vườn nhà bà Đãng đều có cây sắn giây bị héo lá. Những người có vườn cũng chỉ nghĩ rằng có lẽ là cây sắn bị sâu, về sau thấy cây sắn bị chết nhiều quá đâm nghi thế là họ phát hiện ra cây sắn bị ai đó cắt. Chắc họ cũng đoán ra thủ phạm nhưng lại không bắt được tận tay nên họ chỉ dám nói bóng, nói gió mà thôi.Thế rồi chuyện này cũng đến tai chị cả, chị bực lắm nhưng mà không biết nói vào đâu, chị chỉ hỏi cậu xem cậu có cắt sắn hay không, dĩ nhiên là cậu phải chối chứ chả lẽ lại đứng ra nhận, mà đứng ra nhận thì chắc chắn là sẽ bị mắng hoặc có thể còn bị đánh là đằng khác. Đành rằng chị cả là không dám đánh nhưng mấy đứa cháu của cụ Đồ chắc gì chúng đã tha. Thế rồi cũng tý nữa là bị lộ nếu như cậu không nhanh trí bế ngay thằng cháu rời khỏi nhà ngay lúc đấy. Chẳng là mỗi lần cậu muốn chơi lâu thì cậu lại bắc ghế với lên mái nhà là nơi cậu giấu các đoạn sắn giây để lấy cho thằng cháu một đoạn sắn giây để nó cho vào mồm nhằn đi, nhằn lại. Lần này không biết thế nào tự nhiên nó lại nghĩ ra cái trò nhằn cái thân sắn giây thế là nó cứ chỉ lên mái nhà rồi khóc ré lên đòi chị cả, cũng may là chị cả cũng chẳng hiểu thằng bé đòi gì còn cậu em chồng khi phát hiện ra đã bế vội nó đi chơi, dĩ nhiên là khi vắng người cậu đã di chuyển những đoạn sắn giây ấy đi nơi khác.

          Sau những ngày hè nóng bỏng với các trò chơi kéo dài từ ngày này sang ngày khác tưởng như vô tận cũng đã kết thúc. Những ngày thu đầu tiên đang từ từ đến trong tiết heo may se lạnh, ngoài đồng cây lúa đã tròn mình. Những ông bà già sớm ngày ra đã có người phải mặc áo sợi dài tay cùng với cái khăn đen trùm kín trên đầu chống lạnh. Suốt trong những ngày hè Hằng thường trốn đi cùng mấy đứa trẻ trong xóm để đi bơi lội ở các ao làng chạy dọc bên đường cái. Người ta đồn rằng trong làng có đến năm mươi tư cái ao tất cả, trong đó có đến hai phần ba số ao là của nhà lão Quản Ri. Số ao này bây giờ đã không còn của Quản Ri nữa mà nó đã thuộc về các ông nông dân mà đội cải cách đã chia cho mọi người. Cũng chính vì cứ lặn hụp trong những cái ao đó mà cậu bị đau mắt. Trông cậu lúc này thật buồn cười, hai chân đất lúc nào cũng nhem nhuốc bùn đất. Cái áo sơ mi trắng nhờ giờ nhuộm đầy mực tím cùng với than gio trông thật bẩn thỉu, cái quần cộc bằng vải chéo go màu đen cứng còng mà lại rộng tuềnh trông cứ như là đi mượn của ai chứ không phải của mình vậy. Bên dưới bộ tóc rễ tre cứng quèo là hai con mắt đỏ hoe hoe lúc nào cũng đầy rử rạp ở hai đầu khoé mắt.

 

                                                                     5

 

Cũng không biết ông Tân về quê từ lúc nào vì khi về ông lại về nhà ông Khánh trước chứ cũng không về chỗ con dâu và cháu. Có lẽ ông cũng e nơi con cháu mình ở chỉ là nơi ở nhờ, ở cậy mà thôi, dẫu sao thì nhà ông Khánh cũng là nhà anh em gần gận hơn so với nhà của cụ Nhẫm, chú của con dâu. Sau mấy ngày ở chơi cùng anh em họ hàng và con cháu, ông Tân đưa cậu cùng lên Hà Nội. Khi chia tay chị em bịn rịn không muốn rời xa, nhất là thằng cháu thì cứ khóc dãy lên đòi đi với chú. Có lẽ nó tưởng là chú vẫn cõng nó đi chơi như mọi khi nên nó khóc và đòi đi dữ lắm, nhất là mấy hôm nay nó lại có một ông nào đó luôn bế ẵm và cho nó ăn quà, đặc biệt là lại rất thương yêu nó, mãi sau cái Tý phải bế nó đi chơi nơi khác để cho nó tạm quên đi. Cũng từ hôm bố về chị cả mới ít đi làm hơn, ngoài phần thời gian chợ búa mua sắm thức ăn để lo tiếp đãi ông bố thì chị luẩn quẩn hơn với cậu em chồng, chị hỏi kỹ hơn về sở thích ăn uống, rồi cả về các việc chơi bời, học hành của cậu nữa. Chị dặn đi, dặn lại về các việc gì mà chị làm em không vui thì đừng nói với thầy để thầy khỏi mắng chị. Cậu em cũng chỉ gật đầu thế thôi vì cậu chả để ý đến việc gì nữa ngoài việc mừng vui khấp khởi là sắp được về với mẹ.

          Sau quãng đường gần mười lăm cây số đi bằng xe ngựa từ chợ mới Giao Cù qua chợ Chùa rồi lên đến thành phố Nam Định, hai bố con ông Tân vào bến xe Nam Định để mua vé lên xe. Mọi việc đều do ông bố làm, cậu con thì chỉ như cái đuôi bám theo ở đằng sau, vậy mà vẫn còn sợ bị lạc. Vừa lên xe là cậu đã bắt đầu ngủ, một giấc ngủ kéo dài đến mấy giờ liền trong lòng ông bố. Ngoài trời se lạnh nên sự ấm nóng trong xe thật hợp với giấc ngủ của trẻ nhỏ, hơn nữa cái sự rung xóc của xe lại cứ như là ai đó đang đưa nôi nên bất kỳ ai cũng đều như muốn ngủ chứ không riêng gì bọn trẻ con như cậu. Khi cậu thức dậy thì xe đã lên đến Hà Nội, ông bố đánh thức cậu dậy rồi lại kéo cậu đi dọc hai con phố đầy dãy các cửa hàng tạp hoá. Có rất nhiều các loại đồ chơi mà cậu nhìn thấy, nhưng hình như cậu biết bố cậu cũng không có tiền để mua nên cậu cũng chỉ nhìn vậy để thèm mà thôi. Sau khi ông bố mua cho cậu một cái bánh chưng ăn cho đỡ đói rồi hai bố con lại lên xe để về nhà. Bắt đầu lên xe bố đã dặn người phụ xe là cho ông về đến Bia Đổ. Bia Đổ thực chất không phải là một địa danh mà đúng theo nghĩa đen của nó là tại đó có một cái bia đá hình khối vuông rất to nằm đổ kềnh ngay đầu con đường rẽ liên tỉnh đi qua huyện Từ Sơn để rồi đi sâu hơn nữa vào các thôn xã của tỉnh Bắc Ninh. Con đường này đã là con đường chính từ nhiều năm trước đó cho mãi đến khi có con đường quốc lộ số một thì nó mới chịu nhường lại chữ chính để nhận mình thành con đường phụ, tuy nhiên nếu là đối với người đi bộ thì cái tên chính vẫn còn nguyên giá trị. Thế là cái bia đổ từ chỉ điểm bằng hình ảnh cụ thể đã thành tên gọi quen miệng của những anh tài xế và các khách đi đường chờ xe. Quãng đường từ bến xe về đến Bia Đổ rất ngắn chỉ độ non mười cây số là cùng, tuy nhiên tuyến xe thì còn rất dài. Từ bến khởi đầu là bến Hàng Vôi ngay đầu cầu Long Biên, xe sẽ đi lên tận Vĩnh Phúc rồi lên đến cả Lào Cai, Yên Bái và còn có thể xa hơn nữa, tuy nhiên hai bố con ông Tân lại chỉ đi đến Bia Đổ mà thôi. Ngoài cái bia đổ là đặc điểm của lối rẽ này người ta còn gọi chỗ ấy bằng một cái tên là Vực  Gạo, cái tên này chủ yếu là gọi tên một cái vực ở ngay bên phải của đường rẽ này. Cũng không ai biết Vực Gạo có tự bao giờ, mà chỉ biết rằng khi mình đẻ ra thì nó đã có rồi. Vực Gạo rộng độ gần hai hecta và có bề mặt hơi vuông, cũng không rõ từ bao giờ người ta truyền tụng rằng Vực Gạo thông đến với sông Đuống và còn có thể thông đến tận sông Hồng. Vực Gạo sâu lắm, nhiều người có hơi dài đã từng ra đến chỗ sâu nhất để lặn xuống thì họ bảo rằng họ đã lặn hết cả một hơi vẫn không đến đáy, chính vì vậy mà người ta đồn rằng vực thông với sông Đuống, Sông Hồng. Nhưng có lẽ là họ muốn doạ những người yếu bóng vía hoặc họ muốn doạ lũ trẻ con để chúng khỏi đi nghịch nước để tránh bị chết đuối mà thôi. Từ Vực Gạo vào đến làng Đồng Dầu chỉ độ tám trăm mét nên hai bố con ông Tân lững thững đi bộ để về nhà. Ông Tân thong thả đi trước còn Hằng thì phải chạy gằn ở đằng sau, vì chân cậu ngắn nên khi bố bước một bước thì cậu phải bước đến hai, ba bước mới theo kịp nên trông cậu giống như đang phải chạy gằn. Cũng vì cậu bị đau mắt nên khi còn ở trên xe ông Tân đã đưa cho cậu đeo cái kính dâm của ông, lúc ngồi trên xe thì kính không tuột do cậu ngồi hơi ngửa ra, nhưng đến khi xuống xe đứng thẳng lên, thành ra cái kính cứ tuột ra, cậu vừa chạy gằn vừa phải giơ tay lên giữ kính nên cậu đi càng chậm, ông Tân lại cứ vừa đi vừa phải đứng chờ. Quãng đường gần một cây số cũng đã làm cho cậu mệt xoài, vì lâu nay cậu cũng hay chạy nhảy nhưng cũng không mấy khi đi cả một quãng đường dài liên tục như vậy bao giờ.

          Đi bộ mãi rồi hai bố con ông cũng về đến nhà, người đầu tiên cậu gặp là bà mẹ của cậu, bà đón cậu bằng cách đứng nhìn chăm chú và chỉ hơi mỉm cười mà không nói gì. Sau khi đã nhìn kỹ cậu từng tý một bà đến lấy hộ cho cậu cái kính ra khỏi đầu rồi đem cất lên trên mặt cái hòm thóc. Mãi cho đến lúc này bà mới  cất tiếng nói vừa như phân bua vừa như xác nhận:

- Trông cũng đã cao hơn thì phải? Có lẽ thế thì số quần áo cũ cũng đã chật rồi!

Ngay lúc đó bà đưa cậu ra ngoài bể nước mưa rồi lấy khăn ra rửa mặt cho cậu, vừa rửa bà vừa ca cẩm về cái sự bẩn thỉu và cả cái sự đău mắt của cậu, bà bảo với cậu:

- Chỉ cần dử của một bên mắt thì hai con lợn xề ăn no, gớm sao mà chị em nhà mày lại chẳng biết chữa chạy gì xất cả cơ chứ.

                                                       6

 

Bà xuống bếp đơm cho cậu một bát cơm nguội chan với canh cua mà nhà ăn từ trưa còn lại, cũng chả biết nhà nấu thế nào mà mới độ hơn tiếng đồng hồ mà đám canh cua nấu với rau lang đã xanh biêng biếc đến kỳ lạ, trông bát cơm thấy cứ như là cơm bị nhuộm phẩm xanh, tuy thế nhưng khi ăn vào lại thấy rất ngon, nhất là trong lúc này cậu đang rất đói, cậu ăn thêm gần hai nưng nữa rồi mới thôi.

          Sau khi cơm nước xong cậu mới để ý thấy nhà mình vắng vẻ quá, quanh đi cũng chỉ có bố, quanh lại cũng chỉ có mẹ với hai cô em bé tý, xung quanh làng nước đều ở xa cả.Từ ngày chia quả thực bố không chịu nhận ngôi nhà của ông lý Long vì bố không muốn lấy không của người khác bất cứ một cái gì, rồi đội cải cách cứ nhất thiết yêu cầu cả nhà ra khỏi cái điếm để đội lấy làm trụ sở thì nhà đã dọn ra chùa thay chân cho nhà cụ Vá đã bỏ về quê. Ngôi chùa của làng Đồng Dầu khá rộng và có cách bố trí khá đẹp cả về kiến trúc nhà lẫn khuôn viên bên ngoài, chùa được thiết kế có kết cấu theo hình chữ đinh quay về hướng tây, phía trước chùa là một khoảnh sân gạch rộng gần một sào, tiếp theo là một dẻo vườn chạy dọc theo sân chùa, đây là khoảng chuyển tiếp để đến một cái ao rộng gần hai sào bắc bộ, ngăn cách giữa ao và vườn là một bờ tre khá dày ngả ngọn xuống ao trông thật hữu tình. Hai bên chùa là khu ruộng đến hơn năm sào Bắc Bộ, đây là ruộng riêng của chùa, vẫn gọi là ruộng nội tự. Phía sau chùa cũng là một khoảnh vườn rộng cũng phải đến hơn mười thước Bắc Bộ trồng cây ăn quả. Toàn bộ khuôn viên trên được bao phủ bằng một luỹ tre dằy dặn mà bên ngoài muốn vào cũng không vào được.

          Chùa chính có năm gian, gian đầu tiên bên trái là nơi thờ Đức Ông, tượng của ngài to gần bằng người thật ngồi ngay ngắn trên ngai, mình ngài mặc áo thụng có nhiều hoạ tiết hoa lá, đầu đội mũ cánh chuồn màu đen, chân đi hài thêu hoa rực rỡ. Khuôn mặt của ngài mang sắc đỏ thẫm rất đặc trưng. Toàn bộ khuôn hình của ngài toát ra sự oai phong và trang nghiêm đến dễ sợ. Gian tiếp theo là nơi đặt bệ thờ tượng vị hộ pháp cao lớn ngồi trên mình sư tử, đầu chạm mái chùa. Ngài có khuôn mặt trắng và rất hiền, khuôn mặt của ngài có các nét của người phụ nữ. Một tay ngài giơ lên ngang đầu và hướng ra phía trước như muốn phô ra một vật gì đó, theo mọi người nói thì hình như đó là một viên ngọc thì phải. Gian đầu tiên bên phải là tượng một vị thánh có khuôn mặt màu chì hơi xanh bên dưới khuôn miệng là một bộ râu quai nón. Tiếp theo về bên trái là tượng Đức Thánh Hiền, ngài cũng có khuôn hình to gần bằng người thật, ngài có khuôn mặt mang sắc trắng, mình mặc áo thụng vàng ống rộng, trên đầu đội mũ tỳ lư có đến tám tấm thẻ hình hoa ghép lại, mỗi tấm trông giống như là một cánh hoa sen, trên đó vẽ nhiều các vân hoa và đường viền rất đẹp. Toàn bộ khuôn hình của ngài toát ra một nét hiền lành chân thật giống như một người mẹ. Gian kế bên là nơi đặt tượng vị hộ pháp có khuôn mặt đỏ hồng râu và lông mày khá rậm cũng cao lớn chạm nóc chùa, cũng ngồi trên mình  sư tử, tay ôm một thanh long đao to lớn đang giơ lên như sắp giáng xuống mình những kẻ nào dám xâm phạm đến mọi thứ trong chùa. Gian giữa được nới rộng gấp đôi so với các gian khác và được phát triển về phía sau thành cái chuôi vồ để làm tam bảo. Tam bảo được chia thành ba khuôn chạy dọc về phía sau, hai bên hẹp độ non một thước đặt tổ hợp tượng nói về tích Quan Âm Thị Kính ở về bên trái, còn bên phải cũng là một tổ hợp tượng trong đó có một pho mang dáng hình của nữ nhân. Khoảng giữa được xây giật bậc từ thấp đến cao, bề mặt của mỗi bậc rộng hẹp tuỳ theo diện tích đáy của các tượng đặt trên đó. Bậc đầu tiên cao hơn mặt nền gần một mét, trên đó có giàn Cửu Long gồm tượng của đức phật Thích Ca Mầu Ni để trần mặc xà rông đứng chân trước, chân sau có vẻ như hơi kiễng chân, người hơi khom về phía trước, tay bắt quyết giơ lên cao. Cả bức tượng nhỏ như một quả bí xanh con được chế bằng đồng đen nên mỗi khi đánh sáng ra mầu đỏ rồi lại tự đen ngay sau đó vài phút. Giàn Cửu Long uốn theo hình cầu vồng, bên trên đó có đến hơn một chục tượng La Hán, có lẽ cũng làm bằng đồng đen. Bậc tiếp theo là tượng các vị Phán Quan, trên nữa là Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay, hai bên là Thiện Tài Đồng Tử. Trên nữa là Phật Tổ Như Lai, hai bên Phật Tổ là Anan và Cadiếp. Trên cùng là toà Tam Thế cùng với các bức tượng, tượng trưng ba kiếp là quá khứ, hiện tại và vị lai. Đa số các chùa đều có cấu trúc nhà cửa cùng với các tượng na ná giống nhau. Nhưng có lẽ là tượng chùa Đồng Dầu có nhiều nét thanh tú rất gần với đời thường nên nhìn rất đẹp. Sát góc ngoài hồi phải có một quả chuông lớn đúc rất đẹp treo trên quá giang. Trên thành chuông có rất nhiều văn bản bằng chữ nho khắc chìm trên bốn mặt. Các vú chuông có hình viền bằng các hạt tròn luôn sáng loáng do thường xuyên dùng vồ để gõ vào. Bên dưới quả chuông là một cỗ ngựa bạch được đặt trên một giá có bánh xe để tiện cho di chuyển.

          Đằng sau chùa là ngôi nhà tổ năm gian lợp ngói mũi, đây cũng là một ngôi nhà khá lớn so với rất nhiều ngôi nhà dân có ở trong vùng. Gian giữa là nơi đặt điện thờ thánh mẫu, trên ban có ba pho tượng mẫu cỡ lớn được che phủ bằng những vuông khăn nhiễu đỏ, ngoài ra còn có rất nhiều các đồ thờ cúng khác. Bên dưới ban thờ mẫu là nơi thờ công đồng tứ phủ cùng với tranh ngũ hổ sơn son thếp vàng trên gỗ. Trên quá giang của gian giữa là đôi thanh xà, bạch xà cuốn quanh mình gỗ. Gian cạnh về bên phải là nơi đặt các bát hương của con hương đệ tử gửi bán và thờ cúng tại chùa. Gian cạnh bên trái là nơi thờ tổ, trên ban có tượng của vị tổ trụ trì đầu tiên ở chùa. Hai đầu hồi nhà là hai gian buồng, buồng bên trái là nơi chứa các loại xoong nồi, bát đũa, phục vụ cho những khi mở cỗ bàn, tiệc tùng trong các kỳ đại lễ. Còn gian buồng bên phải được lấy làm nơi ở cho cả gia đình, đó là cái tổ ấm của  bố mẹ và cả ba anh em của Hằng. Giáp với hồi bên phải là ngôi nhà ngang bốn gian bằng gỗ lợp ngói nối với nhà tổ thành hình thước thợ, nơi này dùng làm nơi sắp cỗ cho khách thập phương hoặc con hương, đệ tử  ở xa về. Đầu hồi bên trái có một cái bể nước mưa chứa  được gần mười khối nước dùng làm nước ăn quanh năm. Lùi xuống thêm một chút nữa là một cái bếp tường đất lợp rạ. Ngoài hai gian dành cho nấu nướng, bếp còn để ra một gian làm chuồng trâu và chuồng lợn.

          Với toàn bộ các kết cấu nói trên làm cho ta cứ liên tưởng đến một khu trang trại, tuy nhiên đây lại chỉ là nơi cư trú tạm thời của gia đình Hằng. Tóm lại là gia đình cậu vẫn là gia đình không có nhà, vẫn phải làm người đi ở nhờ, vô gia cư, cho dù nơi ở hiện nay là một nơi ở rất tốt đẹp và lý tưởng. Đến một ngày nào đó gia đình cậu sẽ lại phải ra đường khi mà những người trong làng không còn muốn để cho họ ở đây nữa.Việc từ chối tất cả những quả thực của đội cải cách chia cho có phải là quyết định đúng đắn của ông Tân hay không sẽ còn cần phải xem lại về sau này, nhất là quyết định này đã đi ngược lại với tất cả mọi người lúc bấy giờ.

 

                                                                 7

 

Vào ngày mồng năm tháng chín dương lịch năm ấy là ngày khai trường cho tất cả các cấp học ở trên khắp miền Bắc Việt Nam. Ngày khai trường giống như một ngày hội cho tất cả mọi người. Không riêng gì các em lớn tuổi, các em nhỏ cũng được các bậc cha mẹ đưa đến trường. Hằng cũng như những đứa trẻ khác được bố đưa đến trường đi học. Ông Tân cũng không biết con mình học ở mức nào nên ông đưa cậu đến học lớp vỡ lòng của ông giáo Nguyễn Văn Thiện. Nơi lớp học ông Thiện dạy lại ở ngay ngôi điếm giữa làng, nơi mà gia đình cậu đã bị đội cải cách đuổi ra hồi cải cách ruộng đất.

          Ngay trong ngày đầu tiên cậu đã bị thầy Thiện gọi lên sát hạch. Nói là sát hạch cho đúng từ ngữ hồi đó thôi chứ thực ra chỉ là cuộc thăm dò sức học của học sinh mà thôi. Bài giảng của thầy Thiện hôm đó nhằm giúp cho học sinh biết cách phân chia vần, cách ghép vần và cách đánh vần. Bài có vần ia và vần ua, cả bài gồm mấy từ  (IA- Chia rẽ mỉa mai - UA) .Tất nhiên là cậu có thể đọc ngay cả câu một cách ngon lành mà không phải đánh vần như thầy yêu cầu. Thấy cậu học trò có vẻ khá, thầy Thiện lại muốn khai thác thêm bằng cách yêu cầu cậu giải nghĩa xem từ đó nói lên cái gì. Đến lúc này thì cậu  có vẻ bí, vì cả câu chả nói lên điều gì cả. Cậu đứng hơi lâu mà vẫn chưa nghĩ ra được cái gì, thế rồi cậu cũng nói bừa đi cho xong:

- Thưa thầy đây nói về không đoàn kết ạ!

          Thầy ồ lên phấn khởi rồi giải thích thêm cho học sinh nghe. Thầy nói về ý nghĩa của việc đoàn kết, thầy nói cả việc toàn dân đoàn kết đánh giặc Pháp thắng lợi bằng các câu chuyện rất là hay, đến nỗi tất cả học sinh đang mất trật tự là thế mà cũng im phăng phắc để nghe. Vậy mà không ai ngờ được thầy lại là một nhân viên phòng nhì trong bộ máy của chính quyền thực dân Pháp. Điều này cho mãi đến năm 1962, nghĩa là sau đó gần sáu năm thì chính phủ mới cho người đánh xe ô tô về tận sân đình làng đọc lệnh bắt đưa đi làm mọi người không gì còn ngạc nhiên hơn thế.

          Trong thời gian học thầy Thiện, cậu chả phải lo gì đến việc học vì tất cả chương trình học chỉ nhằm cho học sinh đọc thông, viết thạo, thì cái việc đó cậu đã qua từ lâu rồi. Lẽ dĩ nhiên là cậu được thầy hết sức yêu quý vì dẫu sao cậu cũng là con mồi để thầy sử dụng khi cả lớp gặp bế tắc. Nhiều khi lớp gặp những bài khó đọc, thầy đã gọi đến ba bốn em mà vẫn chưa có em nào đọc tốt thì đến lúc đó cậu sẽ được gọi lên đọc làm mẫu để cho không khí lớp học đỡ căng thẳng đồng thời cũng kích thích các học sinh khác sẽ cố gắng chăm học hơn. Sau một năm học cậu cũng đã lên lớp một với sự đánh giá tốt của thầy giáo Thiện.

          Lên lớp một Hằng vẫn học ở lớp cũ nhưng là học buổi chiều, thầy giáo mới của lớp một là thầy Nguyễn Huy Chuyên, thầy là người ở ngay Tiền Thôn, nhà thầy cách lớp học có độ một cây số, hàng ngày thầy đi bộ tắt qua cánh đồng để xuống lớp học. Thầy Chuyên rất dữ đòn, thầy dữ đòn không khác cụ trưởng bạ ngày xưa là mấy. Cũng đã có nhiều bậc phụ huynh phản ảnh với nhà trường về việc này nhưng hầu như thầy cũng không chịu thay đổi.  Hàng ngày thầy không dùng roi mây nhưng lại dùng một cái thước gỗ bằng lim khá dài vừa để làm cây chỉ vào các chữ cho học sinh đọc bài, vừa để gõ xuống bàn làm hiệu lệnh yêu cầu học sinh trật tự, đến khi phạt học sinh thì cây thước trở thành một cái roi rất lợi hại.

          Thầy Chuyên cũng khá thân với cha mẹ cậu nên ông cũng không mấy khi động đến cậuT, nhưng cái chính là cậu cũng ít khi mắc lỗi, bài học thì không còn phải nói gì hơn vì mọi nội dung trên lớp cậu đều hoàn tất và vẫn giữ được phong độ như khi còn học ở lớp vỡ lòng. Thời gian học ở lớp một cũng qua đi nhanh chóng và sang đến năm 1958 thì cậu  đã lên học lớp hai. Mỗi ngày đi dạy học thầy Chuyên thường đi sớm hơn bình thường để vào nói chuyện với ông Tân trước khi đến lớp. Câu chuyện của hai người mỗi ngày cũng chỉ xoay quanh về thơ phú chữ Hán và vài ba câu chuyện về làng xóm cùng một vài quan niệm về văn phong, lễ giáo v v... Hình như hai ông có hẹn nhau từ trước nên khi thầy Chuyên xuống đến nơi thì ông Tân đã đun sẵn nước và pha xong ấm trà hiệu Chính Thái ướp hoa sói, đến khi uống tàn ấm trà thì cũng vừa lúc thầy đi đến lớp giảng bài. Cũng có nhiều hôm do mải đàm đạo mà thầy cũng đến hơi muộn, nhiều bạn xôn xao định bỏ về nhưng Hằng đã tiết lộ là thầy đã đến rồi nên các bạn ở lại chờ. Sang đầu năm học lớp hai cậu học kém hẳn đi vì hồi này cha cậu ốm khá nặng, nhiều hôm cậu phải nghỉ học để ở nhà để giúp bố một số việc sinh hoạt hàng ngày. Thầy Chuyên hồi này cũng ít qua lại uống trà vì thầy cũng bận nhiều việc, nhất là từ khi thầy lấy người vợ thứ hai này về lo quán xuyến việc nhà thay cho bà cả mất đã lâu.

 

                                     8

 

Việc học tập của Hằng đang có những tiến bộ thì lại không thể tiếp tục vì ông Tân ốm ngày càng nặng thêm lên, thế là Hằng phải nghỉ học để ở nhà trông nom bố cho mẹ ra đồng. Đến gần tết âm lịch năm 1960 thì ông cụ yếu đi nhiều, nhưng sau một thời gian chạy chữa thuốc men cùng nơi, khắp chốn ông cụ có khoẻ trở lại nhưng lại bị mất tiếng. Hàng ngày ông lại mở giấy bút ra để làm giấy sớ cho các con hương, đệ tử chuẩn bị cho kỳ khai xuân vào ngày mồng chín tháng giêng năm mới. Rất nhiều công việc cần sai phái nhưng cô con gái bé quá lại mải chơi nên ông Tân không gọi được chính vì vậy nên rất cần có người ở liền ngay bên cạnh để có thể ghé tai sát gần miệng nghe ông sai bảo.Thế là cậu lại phải bỏ học lần thứ ba trong quãng đời học sinh ngắn ngủi của mình để ở nhà giúp bố, có lẽ số phận đã xui khiến như vậy.

Tết canh tý năm 1960 chầm chậm qua đi trong không khí nặng nề và buồn. Ngay từ những ngày trước tết cậu đã không được đi chơi đâu xa vì còn phải ở nhà giúp bố các công việc dọn dẹp, bài trí tất cả các nơi thờ cúng trong chùa. Từ việc quét dọn toàn bộ khuôn viên cả chùa đến việc lau chùi các ban bệ, bao sái các pho tượng và các đồ thờ cả từ  trên tam bảo đến phủ mẫu cũng hết mấy ngày. Thế rồi thay chân hương, thay nước, thay hoa ở khắp mọi nơi, mọi chỗ cũng mất khá là thời gian.Từ chiều ba mươi đến hết ngày mồng ba tết, tất cả những người đi lễ chùa đều đến nhận sớ rồi tự mang lên tam bảo dâng lễ rồi lại tự mang sớ ra sân chùa để hoá.

          Ngày mồng chín tháng giêng đến rồi mà ông Tân vẫn bị mất tiếng chắc chắn là ông không có thể hoàn thành khoá lễ đầu năm được, trong lúc không thể tìm đâu ra người thay thế ông đành cố vận động con mạnh dạn đứng ra làm lễ thay mình. Trong mấy năm qua cậu có đọc thông viết thạo nhưng chỉ là đối với loại chữ quốc ngữ thôi chứ còn với loại chữ nho thì cậu chả biết một tý gì. Ông Tân liền đưa cho cậu một quyển kinh bằng chữ quốc ngữ và bảo cậu đọc thử, cậu đọc rất nhanh nhưng nó dõng dạc quá và chẳng ra thế nào cả. Ông Tân vẫn bắt cậu tập đi tập lại đến mấy lần, mỗi lần ông bắt cậu đọc lại nét mặt ông nghiêm đến lạnh lùng làm cho Hằng cũng hoảng. Cậu nghĩ có lẽ lần này nếu cậu không làm được chắc ông cụ sẽ cho mấy gậy chứ chẳng chơi, mặc dù từ khi bé đến lúc đó cậu chưa hề bị ông đánh lần nào. Cũng có lẽ chưa bao giờ bị đánh đòn nên cậu rất giát đòn, mặc dù cái sự miễn cưỡng đến khổ sở cậu vẫn đành phải có tập, cuối cùng thì cậu cũng đã đọc tương đối giống ông bố của cậu.

Thế rồi ngày mở khoá lễ khai xuân cũng đã đến, cả hai bố con ông Tân cùng ngồi trên sàn lễ, ông Tân thì gõ mõ còn Hằng thì đọc kinh thay cho ông trong một quyển sách in bằng chữ quốc ngữ. Nhiều người khi nghe cậu đọc kinh thì cứ tấm tắc khen có giọng đọc nghe thật êm dịu, duy chỉ mỗi việc là cậu không đọc được các bản sớ bằng chữ nho nên các con hương đệ tử  chưa được vừa ý lắm. Lần đầu tiên ngồi trên sàn lễ lại ngay trước mặt rất nhiều các cụ cao tuổi cậu run lắm, nhiều lúc tưởng như bị hụt hơi không đọc được nữa. Do cậu cũng chưa quen với việc kéo dài giọng ở những từ cuối và các đoạn nghỉ lấy hơi không được đúng chỗ thành ra nhiều cụm từ cũng bị cắt rời ra không còn liền mạch. Cũng may những câu kinh viết theo từ Hán nên khi đọc lên người nghe chỉ thấy âm thanh đều đều như nhau, còn về ý nghĩa thì cả người đọc lẫn người nghe cũng chẳng hiểu gì, có lẽ vì thế nên chả có cụ nào có phản ứng cả. Sau khi đọc tên các lá sớ của từng gia đình xong thì cậu được rút lui khỏi sàn lễ, thật là một phen hú vía. Những ngày sau đó ông Tân vẫn tiếp tục bắt cậu  lên làm lễ vào các buổi chiều. Mỗi buổi cậu lại phải đọc một bản kinh vẫn bằng cái giọng kéo dài nghe chẳng rõ tiếng nào vào với tiếng nào. Những hôm ông Tân mệt mỏi  không giám sát là Hằng chỉ thắp hương nhanh nhanh, chóng chóng cho xong rồi lẩn ra phía cổng để vào trong làng chơi với lũ bạn cùng tuổi.

Từ sau những ngày tết sức khoẻ ông Tân ngày càng giảm sút, sự đi lại cũng chỉ loanh quanh trong nhà mà không ra khỏi cổng chùa. Nhiều việc sinh hoạt cá nhân đã thấy cần phải có người giúp đỡ mới hoàn thành, thế là cậu lại phải nghỉ học ở nhà giúp bố. Ban đầu tưởng cũng chỉ mươi ngày là cụ Tân sẽ khỏi không ai ngờ được cũng từ ngày đó cụ cứ suy yếu dần cho đến khi cụ mất.

Phải nghỉ học để ở nhà trông bố ốm là việc rất cần phải làm, không những thế còn cần phải tự nguyện một cách hết mình mới thể hiện là một người con có hiếu, giống như lời răn dạy của các thầy giáo thường ngày trên lớp. Cho dù là vậy nhưng đó là đối với những người đã lớn, còn đối với các cô cậu nhóc con thì dù có nói thế nào thì cái sự ham chơi, ham tụ tập cùng với chúng bạn vẫn luôn lôi kéo và cuốn hút không gì cưỡng lại được. Ngoài cái sự chơi bời còn cái sự học của cậu cũng đang có nhiều điều tốt đẹp, trong khi cậu rất vui vì được thầy yêu, bạn mến vì cậu học khá mà lại hay giúp đỡ bạn bè nên cái việc phải bỏ học làm cho cậu buồn hơn cả việc không được đi chơi. Thế là lại một lần nữa Hằng lại phải bỏ học khi chưa qua hết học kỳ một của lớp hai trường phổ thông.

Sau ngày bố mất, nhà còn không biết bao nhiêu là chuyện sảy ra đang cần phải giải quyết. Nào là chuyện nợ nần chồng chất của mẹ trong khi vay mượn để thuốc men cho bố trong suốt hai năm vừa qua. Mãi sau này mẹ kể lại cậu mới biết số nợ lúc đó phải trả trong suốt bẩy năm mới hết, cậu không ngờ số nợ lại lớn đến như vậy. Sau việc nợ lại đến việc làng muốn nhà cậu phải rời đi để làng đón sư về trông coi chùa cho làng, chả là vì việc cúng lễ mẹ cậu không làm bao giờ còn cậu thì bé quá, cậu không thể đảm đương được. Thật là những việc tày trời cả, những việc không thể đừng được nữa, những việc dường như quá lớn đối với một gia đình của một người đàn bà goá cùng với những đứa trẻ hết sức ngây thơ. Có lẽ những con người nhỏ bé kia sẽ không vượt qua được mất nếu như họ không gặp được những điều may mắn mà số phận đã giành cho.

Ngày làng đón nhà sư nữ Đàm Thuỷ về chùa thì mẹ con Hằng vẫn chưa tìm được nơi cư trú. Sau mấy ngày đi vắng vào mãi tận Quan Đình, Quan Độ để thăm hỏi, tìm kiếm vẫn chưa có kết quả, bà mẹ Hằng  đành quay trở nhà để tìm cách khác. Khi về đến nhà thì bà mới biết nhà sư mới làng đón đã về chùa rồi. Sau một hồi gặp gỡ, bà cũng nói qua cho nhà sư biết về hoàn cảnh của mình, rồi bà hứa sẽ cố gắng chuyển đi trong thời gian ngắn nhất. Có lẽ lúc ấy bà cũng cứ nói phóng vậy thôi chứ kỳ thực bà cũng chưa biết tính thế nào. Mãi đến chiều hôm đó thì nhà sư mới gọi bà ra để nói về quyết định của sư về việc đồng ý cho gia đình bà cùng ở lại chùa cho đỡ vắng vẻ. Chỉ có điều là số ruộng trong khu nội tự được tính vào số ruộng mà đội cải cách chia cho thì gia đình phải nhượng lại một phần cho sư canh tác để lấy lương thực và giành một phần cho sắm sửa hương đèn. Đang lúc khó khăn về nơi ở mà lại có được điều này thì đó là sự đáng mừng không còn gì hơn được. Sau chuyện nhà ở là đến chuyện nợ nần, chuyện này còn nan giải hơn nữa vì nhà cậu đã ở vào trạng thái nghèo túng đến mức chẳng có gì có thể bán được lấy dăm chục bạc. Không biết sẽ giải quyết việc này ra sao nếu như bà Thơ Bẩy có ý đòi các khoản nợ mà mẹ cậu vay mượn trong suốt thời gian vừa qua.

Nói về bà Thơ Bẩy trước hết phải kể về mối quan hệ của bố Hằng với ông Thơ Bẩy cách đó mười mấy năm về trước. Ngày ấy Hà Nội và một phần của tỉnh Bắc Ninh vẫn nằm trong vùng tạm chiếm của quân Pháp, chính quyền của làng xã vẫn theo cách sắp đặt của chính quyền phong kiến, nghĩa là việc quản lý làng xã vẫn do lý trưởng cùng với các ông chánh phó hội cùng với các chức dịch đảm trách. Bên cạnh đó là các bộ phận chuyên môn như trưởng bạ, thơ ký làm các công việc về giấy tờ văn tự, khế ước vv… Các công việc giấy tờ này ông Thơ Bẩy vẫn thường nhờ ông Tân phụ giúp mỗi khi cần phải trình lên bề trên vào các dịp cuối năm hoặc cuối các kỳ phu phen thuế khoá. Ngoài các công việc về tính toán, ghi chép sổ sách, ông Tân lại khá thông thuộc các thuật dự đoán về vận mệnh thông qua tứ trụ và bốc quẻ dịch nên khi xong công việc hai ông thường ngồi bàn nhau về lẽ thuận nghịch của trời đất, số mệnh của xã hội cũng như của  bản thân mỗi người. Trước đó ông Tân đã dự đoán về đứa con sắp sửa chào đời của ông là trai, đến khi bà vợ của ông đã sinh ra một cậu con trai vừa trắng trẻo vừa bụ bẫm thì ông càng tin tưởng. Cũng từ đấy mối quan hệ của hai ông càng thân mật hơn và lẽ đương nhiên là có sự quan hệ gần gũi hơn của hai bà vợ, sau khi ông Thơ Bẩy mất đi, mối quan hệ có thưa đi một chút nhưng cũng không phải là hoàn toàn mất hẳn.

Trong những năm giảm tô, cải cách nhà bà Mỹ, vợ ông Thơ Bẩy bị đội cải cách quy thành địa chủ. cũng từ đó gia đình bà luôn bị giám sát và bị cách ly ra khỏi cộng đồng, mọi người trong gia đình bà luôn sống cô đơn trong sự ghẻ lạnh của tất cả mọi người trong họ, ngoài làng. Kể ra mà nói thì chưa hẳn mọi người đã muốn xa lánh gia đình nhà bà, mà chủ yếu là sợ đội ghép cho tội thông đồng với địa chủ để rồi chuyển thành tội phạm phản dân, hại nước nên chẳng dám gần. Biết đâu họ chả lại vu cho là địch để rồi đem đi bắn thì khốn. Cả làng lúc ấy chỉ còn ông bà Tân là dám đi lại với bà Mỹ bởi vì ông bà Tân là những người quá bần cùng trong suốt cả một thời gian dài, cái sự bần cùng đã có lúc làm cho ông bà Tân không còn cảm nhận ra sống tốt hơn hay là chết tốt hơn nữa, cũng chính vì vậy mà ông bà  không còn biết sợ đội là gì nữa, nhất là sau khi đội không cho ông Tân vào Nông hội, khi ông không nghe theo lời đội tố ông Tổng Tường là một địa chủ ở ngay gần nhà ông.

Chính từ mối giao cảm ấy mà sau này bà Mỹ đã đối tốt trở lại với bà Sâm và giúp bà một cách vô tư đến thế. Ngoài bà Mỹ ra bà Sâm còn nhờ cậy được rất nhiều người khác trong làng nữa nên số nợ bà vay khi ông Tân ốm đã được hoãn, trả, vay rồi lại hoãn, trả, vay cho đến khi trả hết kéo dài đến gần bẩy năm liền mà chẳng ai có điều tiếng gì.

 

                                                   9

 

Mặc dù nhà chùa đã có lời như vậy nhưng hai mẹ con cậu vẫn muốn tìm cách để sớm có điều kiện mua được ngôi nhà cho mình, trả lại gian buồng bấy lâu nhà chùa vẫn cho ở nhờ. Trong một lần toàn xã có chủ trương cấp đất ở cho một số hộ đông con, Hằng đã cùng với mẹ lên gặp ban lãnh đạo của thôn để xin đất làm nhà. Kỳ họp năm ấy ban lãnh đạo của xã kết hợp với thôn đã chia đất cho rất nhiều người, mẹ con bà Sâm cũng được chia mười thước đất để làm nhà ở. Có đất cũng đã là rất đáng mừng, nhưng mà còn lấy cái gì để mà dựng thành nhà mới là khó.

Trong những năm đầu ra ở chùa ông Tân đã cùng các con trồng một lứa xoan có dễ đến hai chục cây nhằm để sau này đốn xuống đem ngâm để làm nhà. Đến khi có đất bà Sâm định cho đốn xuống đem ngâm thì ban lãnh đạo của làng ra giữ lại. Sau khi nghe mẹ con bà Sâm trình bày về dự định trồng xoan và cố chứng minh về việc trồng xoan là do gia đình của bà thực hiện cùng những chứng thực của nhiều người nhưng những người lãnh đạo vẫn kiên quyết không chấp thuận. Họ ngang nhiên thừa nhận rằng họ có biết số xoan này là của ông bà trồng nhưng là trồng trên đất của làng nên bà không được lấy. Trước những phán quyết hết sức cứng rắn của các ngài chức sắc thời mới của làng, mẹ con bà Sâm đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế là kế hoạch làm nhà của gia đình Hằng đã hoàn toàn phá sản. Cái sự vui mừng bao nhiêu khi được cấp đất đã được thay bằng nỗi tuyệt vọng bấy nhiêu khi triển khai kế hoạch làm nhà.

Tuy rằng không làm được nhà nhưng việc phải rời chùa luôn canh cánh trong lòng Hằng. Nhiều lần Hằng cằn nhằn với mẹ khi thấy bà cụ hình như không đả động gì đến việc rời chùa. Ngày ấy có một đôi vợ chồng người con cả của ông lý Xương tên là Long vừa mới xây lại nhà nhưng chưa ở được bao lâu thì anh Long lăn ra chết. Người vợ bồng bế hai con về quê mẹ đẻ bỏ lại cho người em chồng ngôi nhà vừa mới xây xong còn chưa sạch mùi vôi. Người em ấy không ai khác lại chính là anh Phượng, người mà một thời bà Sâm đã từng làm vú nuôi trông nom anh khi bà đến làm vú cho nhà ông lý Xương. Tuy làm vú nuôi nhưng bà Sâm coi anh Phượng như con của mình nên ngay cả khi anh Phượng đã lớn tuổi rồi anh vẫn luôn quý mến bà cụ như người ruột thịt, đến khi bà Sâm ngỏ ý đến ở nhờ là anh đồng ý ngay. Ngày hôm sau anh Phượng dọn sang nhà của người anh để ở, gian nhà cũ của anh cũng kề bên cạnh anh nhường lại để bà Sâm dọn vào. Cũng từ ngày ấy gia đình Hằng không còn ở chùa nữa, tuy nhiên gia đình Hằng vẫn là người chưa có nhà, một gia đình có hoàn cảnh đặc biệt ở nông thôn lúc bấy giờ...

 

 

                                                    ĐI HỌC

 

                                                         1

 

Sau ngày ông Tân mất một thời gian thì cũng đã gần hết năm học đối với các trường phổ thông, thế là Hằng đành phải bỏ dở hơn nửa năm học, chả biết rồi khi sang năm mới cậu sẽ đi học như thế nào. Ngày ấy anh cả vừa mới từ bộ đội chuyển ngành về Công ty xây dựng của Bộ nội thương, đơn vị của anh đóng ở khu Sở Dầu thành phố Hải Phòng khu này rất gần khu ga Thượng Lý. Công việc hàng ngày của anh là cùng với các công nhân khác vào sở dầu để xây lắp các bồn dầu bằng thép.

Suốt trong mấy ngày về nhà lo việc tang lễ xong anh cả lại về đơn vị công tác. Gần hai tuần sau đó anh mới lại lên bàn với mẹ kế về việc đưa cậu em xuống ở với anh một thời gian. Việc cho cậu xuống với anh có nhẽ là để cho cậu đỡ buồn và cũng để hai anh em có dịp gần gũi nhauS, để rồi cùng bàn kế hoạch ổn định đời sống gia đình trong thời gian tới. Thế rồi Hằng đi cùng với anh cả xuống Hải Phòng gần ba tháng trời rong chơi khắp nơi trên thành phố cảng. Khi Hằng rời Hải Phòng về đến nhà cũng vừa dịp bước vào năm học mới nhưng cậu không thể đi học cùng các bạn cùng lớp cũ vì cậu đã bỏ học thời gian quá dài, chắc gì cậu đã theo được, nhưng điều quan trọng hơn cả là không ai có quyền cho cậu học tắt. Thấy cậu con trai hình như có ý không chịu đi học nữa bà Sâm đành vào gặp thầy giáo Chuyên để nhờ thầy động viên cậu đi học tiếp. Thầy Chuyên vốn có mối quan hệ tốt với gia đình cậu từ trước nên ông đã ra tận nhà động viên cậu tiếp tục đi học. Ông hứa sẽ nói với nhà trường về hoàn cảnh  cùng với học lực của cậu để nhà trường xem xét chấp nhận cho cậu cùng lên học ở lớp ba như các bạn khác. Ông nói lớp ba của cậu sẽ học là do ông Bàng trực tiếp dạy, ông Bàng lại là ông chú của thầy nên thầy sẽ nói để ông nhận cậu vào. Sáng hôm sau cậu cũng chuẩn bị sách vở đến lớp như các bạn khác nhưng trong bụng thì luôn lo lắng không biết đến lúc vào lớp thì sự việc sẽ diễn ra làm sao.

Lớp ba mà Hằng sẽ theo học được bố trí tại góc bên trái của đình làng Tiền Thôn như lời của thầy Chuyên nói nhưng không phải do thầy Bàng dạy mà lại do một thầy giáo mới chuyển từ nơi khác về từ mấy ngày trước đó. Tất cả các bạn đã tập trung đến lớp sớm hơn mọi khi, trong đó có cả Hằng. Mọi người lại tổ chức các trò chơi như mọi ngày kể cả khi ở làng cũng như khi đến lớp của năm học trước, chỉ có mình Hằng thì rất lo, nhất là khi thấy thầy giáo dạy lớp này không phải là thầy Bàng. Cậu cứ nghĩ không biết thầy Chuyên có biết điều này không, ngộ nhỡ thầy giáo mới hỏi đến thì mình sẽ nói ra sao nhỉ. Càng nghĩ cậu càng lo lắng, lo lắng đến nỗi bồn chồn đứng ngồi không yên, lo lắng đến ngao ngán cả người. Có lẽ linh tính của cậu đã đúng về sự việc mà cậu vừa nghĩ tới và rồi sự việc ấy đã sảy ra. Sau khi thầy giáo vẫy tay gọi các học sinh về để tập trung, thầy đọc lần lượt danh sách học sinh của lớp, thầy đọc qua gần hết số học sinh có tên với các chữ cái ở vần Đ rồi sang các vần khác, Hằng nghĩ có lẽ sắp tới sẽ có tên mình. Thế rồi thầy chuyển qua hết vần có tên của Hằng mà cũng không thấy, Hằng lại nghĩ có lẽ việc mình nghĩ đến vừa rồi chả lẽ lại đúng như thế chăng, hay là tên mình sẽ ở cuối cùng vì đây là trường hợp đặc biệt được bổ sung vào sau. Hằng đang nghĩ ngợi lan man thì thầy Hiệu đã đọc đến tên học sinh cuối cùng của lớp. Khi thầy rời mắt khỏi quyển sổ điểm ngước lên thì thầy nhận ra vẫn còn một học sinh nữa chưa vào chỗ ngồi, thầy hơi bối rối,  có lẽ thầy cho là mình đọc sót tên một ai đó, thầy xin lỗi sau đó thầy hỏi:

- Em tên là gì?

Hằng lý nhí trong miệng nói tên của mình raH, thầy lại cúi mặt vào sổ điểm để tìm tên của cậu, thầy tìm đi, tìm lại nhưng vẫn không thấy, trông rõ là thầy rất băn khoăn chưa biết là sẽ sử lý trường hợp này ra sao. Kể từ khi Hằng biết mình không có tên trong sổ điểm Hằng đã nghĩ đến việc thầy Chuyên có khi đã quên không nói việc này với thầy Bàng, hoặc giả thầy Bàng chuyển giao lớp cho thầy Hiệu lại quên không nói về trường hợp của mình nên đến bây giờ sự thể đã sảy ra như vậy, tuy nhiên lúc ấy Hằng đâu có nghĩ được mạch lạc như thế. Phần thì lo lắng, phần thì xấu hổ với bạn bè, mặt thì đỏ gay, đỏ gắt, tay chân thì luống cuống không biết để vào đâu, cậu gần như phát khóc lên được khi chỉ còn có một mình đứng ở ngoài hàng. Có lẽ phải đến ba, bốn phút sau cậu mới trấn tĩnh lại được, lúc này cậu lo nhất là thầy sẽ cho là mình là người gian trá, còn việc có học hay không đã không còn là chuyện quan trọng nữa vì dù sao cậu đã quyết định nghỉ học rồi, chẳng qua việc cậu lên nhập học hôm nay là do thầy Chuyên bàn ra và bảo cậu làm chứ cậu có tự nhiên để lên đây rồi lại chịu xấu hổ như thế này đâu. Sau khi tự tìm cho mình một lý do mà cậu cho là chính đáng thì cậu mạnh dạn hẳn lên và cậu quyết định nói hết tất cả cho thầy Hiệu về sự việc mà thầy thấy lạ như vừa rồi. Sau khi nghe Hằng nói một thôi những câu đứt quãng thì thầy Hiệu cũng vỡ lẽ được phần nào, thế rồi thầy Hiệu nhanh chóng quyết định nhận Hằng vào Lớp. Thầy chuyển một bạn ở bàn đầu xuống cuối lớp để xếp cho Hằng ngồi ngay vào chỗ đó. Vừa xếp vị trí cho Hằng thầy vừa nói với Hằng và dường như thầy cũng nói với cả lớp:

- Trước hết em cứ học buổi hôm nay, ngày mai tôi sẽ trao đổi lại với các thầy rồi sẽ sắp đặt lại sau.

Sau khi phát biểu với học sinh về việc thầy vừa chuyển về dạy ở trường và nói thêm về lý do tại sao thầy Bàng sẽ không dạy ở lớp này như sự mong muốn của các phụ huynh đề nghị hồi cuối năm ngoái vì thầy Bàng còn phải đi chữa bệnh mất một thời gian. Tiếp theo sau các phát biểu của thầy là một chương trình ôn tập kiến thức năm cũ, thầy nhắc lại một số nội dung đã học năm ngoái sau đó thầy kiểm tra. Người được thầy gọi lên bảng đầu tiên là Hằng, thầy ra một đề toán đố sau đó bảo Hằng giải, thầy còn yêu cầu viết cả phép tính lẫn lời giải. Lúc nãy mất bình tĩnh bao nhiêu thì giờ đây cậu lại bình tĩnh bấy nhiêu, các phép tính và lời giải được Hằng viết ra một cách nắn nót trông đến đẹp làm thầy Hiệu rất hài lòng, thầy cất giọng hỏi:

- Tất cả các em đều có đáp số như thế chứ?

Cả lớp đồng thanh cất tiếng (có) âm vang khắp cả một góc đình. Thầy tiếp tục kiểm tra một số bạn khác, cũng có bạn không làm được nhưng rồi lại có bạn xung phong lên làm thay cuối cùng đều giải xong các bài tập thầy ra. Buổi học qua đi nhanh chóng và chẳng để lại điều gì vướng bận, chỉ có mỗi mình Hằng lại phải lo nghĩ trên suốt chặng đường về. Ngay chiều hôm ấy Hằng nói với mẹ về ý định nghỉ học của mình với sự quyết đoán đến không ngờ. Nhìn sắc mặt con bà mẹ không khỏi lo lắng, không biết có việc gì đã làm cho nó bất mãn đến vậy. Có lẽ câu chuyện buổi sớm nay đã làm cậu tổn thương quá lớn về lòng tự trọng của mình nên sau khi nói xong với mẹ là cậu bỏ đi chơi ngay mà không có vẻ muốn giải thích gì thêm. Biết tính con bà từ khi còn nhỏ nên bà không khỏi băn khoăn, bà đoán mãi mà vẫn không biết lý do ra làm sao, bà nghĩ có lẽ phải hỏi lũ bạn nó thì mới tìm ra được nguyên nhân của việc này. Thế rồi bà cũng tìm ra nguyên nhân của sự việc, bà liền vào gặp thầy Chuyên để hỏi xem có cách gì giải quyết được không. Cũng may là hồi này thầy Chuyên dạy vào buổi chiều nên bà vào gặp được ngay. Sau khi nghe bà nói lại sự việc thầy Chuyên mới giật mình nhớ ra, thầy dặn buổi chiều thầy sẽ rẽ qua chỗ hội đồng nhà trường để nói lại với thầy hiệu trưởng, ông còn dặn bà về bảo ngày mai nó cứ đến lớp kẻo các thầy phiền lòng. Ông còn bảo với bà rằng ông đã nói với thầy hiệu trưởng và thầy đã đồng ý rồi chắc vì thay giáo viên nên mới xảy ra việc vừa rồi bà bảo nó cứ yên tâm mà đi học. Chiều tối về nhà cậu nghe mẹ nói vậy cũng vẫn bán tín bán nghi, tuy nhiên cậu vẫn làm hết các bài tập để ngày mai đến lớp.

Vừa bắt đầu vào lớp thầy Hiệu liền điểm danh, khi đọc đến tên của Hằng ở dòng cuối của sổ điểm thầy thông báo với cả lớp về sự việc của Hằng hôm qua, thầy nói:

- Trong lớp ta có thêm bạn Hằng nữa là có tất cả sáu mươi học sinh. Bạn Hằng không có học bạ nên danh sách các thầy chưa kịp đưa vào, lớp có hơi đông các em cố gắng tập trung nghe giảng hôm sau nhà trường sẽ sắp xếp lại.

Ngay sau thông báo cho cả lớp thầy Hiệu quay sang nói với Hằng:

-Tối qua thầy Trường hiệu trưởng đã trao đổi với thầy về việc này, Hằng cứ đi học bình thường cùng các bạn, trường hợp không theo được thì sẽ chuyển lớp sau.

Buổi học thứ hai bắt đầu bằng việc kiểm tra vở bài tập ở nhà của một số các bạn, người phải mang vở lên đầu tiên vẫn là Hằng. Thầy xem vở của Hằng khá kỹ, sau đó mới xem đến vở của các bạn khác, xem xong thầy bảo với cả lớp:

- Số bài tập thầy cho các em về nhà làm không khó mà lại nằm ở ngay trong sách giáo khoa vậy mà các em làm sai cả. Trong bốn em chỉ có Hằng làm hết và làm đúng cả số bài ra, còn lại hầu như các em làm thiếu và lại sai hết cả.

Sau khi thầy ghi chép vào các quyển vở của các bạn xong thầy ngửng đầu lên và cất tiềng gọi:

- Em Hằng lên bảng, em giải bài số hai cho cả lớp tham khảo, các em nhớ ghi lại bài này, số bài còn lại hôm sau thầy sẽ chữa.

Hằng lại lên bảng để chữa bài tập như hôm trước, cậu viết nắn nót hơn và trình bầy rất gọn gàng cả vế làm tính lẫn vế lời giải. sau khi viết xong bài giải lên bảng thầy vẫy Hằng lại đưa cho số vở thầy vừa thu để kiểm tra lúc đầu giờ, thầy bảo:

- Em trả lại sách cho các bạn chép bài.

Về đến chỗ ngồi Hằng mới giở vở ra xem, một hàng chữ viết bên lề vở cứ đỏ rực lên – (Làm bài tốt, cần cố gắng hơn) Trên mỗi đáp số thầy viết một chữ (Đ) trông như những trái đào đỏ bao trùm lên trên những con số viết bằng mực tím. Cũng ở bên lề trái của cuốn vở, chỗ bài tập số hai thầy viết con số mười rõ to, dưới con số là một cái gạch dài kéo gần hết một phần tư chiều rộng cuốn vở.

Hằng vui lắm với con số mười đầu tiên của năm học và cũng là con số mười đầu tiên của cả lớp. Từ đấy trở đi hình như Hằng đã quên đi cái sự đã làm cậu buồn bã suốt hai ngày qua, cậu lại vui chơi ồn ào cùng các bạn như những ngày nào. Từ sau ngày phải nghỉ học ở nhà trông nom bố trong hơn sáu tháng qua hình như đây là lần đầu tiên cậu bỏ được khuôn mặt rầu rĩ để trở lại khuôn mặt rạng rỡ thông minh vốn có.

 

                                                          2

 

Những năm học lớp ba cũng qua đi nhanh chóng, trong lòng của Hằng không để lại một chút ấn tượng nào về sự việc diễn ra hồi đầu năm học. Kết quả của chín tháng học với bẩy lần lên bảng danh dự đã làm cho các thầy có liên quan đến câu chuyện đặc biệt của Hằng thở phào nhẹ nhõm. Trong kỳ phát phần thưởng cuối năm học Hằng thật vui khi lên nhận những quyển vở bìa đỏ mới tinh thơm mùi giấy mà thầy hiệu trưởng trao cho. Cũng trong năm học ấy Hằng được các anh phụ trách thiếu niên kết nạp vào Đội TNTP của trường. Ngoài việc sinh hoạt ở Đội TNTP của trường Hằng còn sinh hoạt ở Đội TNTP ở làng và cũng được các anh phụ trách rất yêu mến và giao cho rất nhiều công tác. Hàng ngày sau các buổi học về Hằng lại đi chăn bò cùng các bạn, buổi tối thì tham gia sinh hoạt văn nghệ của Đội thiếu niên ở trong thôn. Anh Thỏ phụ trách thiếu niên là người rất yêu văn nghệ, anh có chân trong đội tuồng cổ của làng, anh thường đóng các vai kép nhỏ trong các vở. Hình như máu nghệ sĩ trong anh đã cuốn hút rất mạnh bọn trẻ trong Đội thiếu niên, nhất là những cậu bé cũng ham thích ca hát như Hằng. Suốt cả mùa hè năm ấy Hằng ít khi ở nhà bởi những cuộc vui trang lứa và các cuộc văn nghệ liên miên không khi nào dứt. Hầu như các đêm khuya sau khi sinh hoạt xong Hằng ngủ ở nhà bạn mà không về nhà. Sau mấy lần thấy Hằng đi vắng mẹ cũng đi tìm, đến khi thấy Hằng ngủ ở nhà bạn mà không có chuyện gì sảy ra thì bà cũng yên tâm mặc cho Hằng muốn ở đâu thì ở. Có lẽ phải đến hơn một năm Hằng chuyên ngủ ở nhà Bộ, về sau Hằng còn ngủ ở nhà Quỳnh và nhà Đĩnh, đấy là nói chuyện của những năm sau này. Bạn bè của Hằng không chỉ có những đứa cùng học một lớp mà còn cả những đứa ở làng lớn hơn một chút như Quỳnh và cả những đứa cùng tuổi nhưng không cùng học một trường như Bộ, ngoài ra còn cả bọn ít tuổi hơn vài tuổi cũng bị cuốn hút vào cái guồng máy mê chơi và nghịch ngợm. Nói là mê chơi và nghịch ngợm vậy thôi chứ thực ra tất cả các đứa trẻ đều rất dễ thương và đáng mến bởi những trò chơi của chúng chẳng làm hại cho ai. Mỗi ngày chúng vẫn hoàn thành công việc của mình như chăn bò, cắt cỏ, rồi cả các việc như bắt cua, bắt cá, lấy rau lợn và còn biết bao nhiêu việc khác nữa trong các việc vặt của gia đình.

Ngày ấy các sinh hoạt văn hoá hết sức hiếm hoi, ngoại trừ những ngày làng vào đám thì mới có một vài tối biểu diễn văn nghệ. Những làng có đội văn nghệ thì tự đứng ra biểu diễn lấy, còn những làng không có đội văn nghệ thì đi thuê ở các làng bên cạnh. Mỗi tháng cả xã mới được đội chiếu bóng lưu động về xã chiếu cho hai buổi, hoặc giả các làng lân cận không biết bằng cách nào đó thuê được các đội cải lương Chuông vàng Thủ đô, đội cải lương Kim Phụng về diễn một vài tối thì vui không thể nào kể xiết. Những buổi như thế người đi xem thường rất đông, nên cả trẻ con lẫn người lớn đều cố gắng nấu cơm ăn sớm để đi đến mua vé vào xem. Nhiều khi mua vé vào sân từ lúc chưa lặn mặt trời, rồi chờ đợi hơn ba tiếng đồng hồ buổi diễn mới bắt đầu thế mà rồi cũng chả thấy ai ca thán điều gì. Riêng lũ trẻ con thì không thể chủ động về việc cơm nước được vì bố mẹ chúng có cần gì mà phải nấu cơm vào lúc nửa chừng nửa vời như vậy, vì thế mà chúng thường nhịn đói để đi xem. Lúc chờ đợi và lúc xem thì chúng không thấy đói, chỉ đến lúc về thì chúng mới lả người ra, nhưng lúc ấy chúng cũng đành phải chịu vậy không biết kêu ai, mà kêu ai cho được, mình làm mình chịu thế thôi. Đấy là nói những đứa có tiền, lại còn những đứa không có tiền thì chỉ còn cách trốn chui rào để mà vào. Đa số các đội chiếu bóng cũng như các đội biểu diễn văn nghệ hay thuê các vị trong ban công an của địa phương hoặc các tổ dân quân du kích canh gác và họ làm rất chặt nên nhiều khi các cậu nhí không thể có cách nào chui trốn được. Lẽ dĩ nhiên đành phải đứng ngoài chờ tháo khoán mới được vào xem vớt vát được vài cảnh, vài màn cuối.  Không biết có phải do cách giáo dục ngày ấy nghiêm cẩn hơn thời bây giờ hay sao mà đa số các đứa trẻ không tiền thì cũng tự chịu vậy thôi chứ chả có đứa nào dám ăn cắp đồ của cha mẹ đi bán lấy tiền đi xem bao giờ.

Ngày ấy lũ trẻ cũng có rất nhiều các trò chơi và chúng thường tổ chức chơi một cách nhanh chóng. Những trò chơi đơn thuần mang tính ăn thua như đánh bi, đánh đáo, thổi diêm, thổi nịt, thậm chí cả các trò đánh rải ranh, đánh cóc, chơi ô ăn quan, là những trò rất dễ tổ chức. Ngoài ra còn các trò chơi như đánh bi chọi, đánh khăng; những trò chơi mà những kẻ thắng có quyền bắt kẻ thua phải cõng, phải kiệu, phải hầu hạ kẻ thắng một việc gì đó ví thử như dắt trâu, gánh cỏ vv…Cũng có trò chơi cho phép kẻ thắng bôi lên mặt kẻ thua một vệt nhọ nồi đen kít trông đến ngộ. Trò này rất thịnh với các ván bài Tam cúc hoặc Tu lơ khơ giữa ba bốn đứa quây tròn cùng đánh trong những chiều đông rét mướt.

 

                                                        3

 

Năm nay các học trò lớp bốn phải lên học nhờ ở một cái đình của làng Thạc Quả. Mấy đứa ở Tiền Thôn, mấy đứa ở Hậu Thôn đi học gần hơn nên chúng thường đến rất sớm. Hôm nào cũng vậy, khi Hằng và bọn học trò của làng Đồng Dầu vừa đến là lớp vào học ngay nên không đứa nào kịp giở sách ra xào qua bài cũ nên khi thầy kiểm tra hầu như các cậu không trả lời được. Nhất là những hôm trong xã có văn nghệ hoặc có chiếu phim thì càng tệ hơn vì bọn trẻ càng không kịp học bài cũ, không kịp làm bài tập và lẽ dĩ nhiên là thường bị thầy phạt bắt ra khỏi lớp đứng ở ngoài đó mà nghe giảng cho đến hết tiết học mới được vào. Trong số học sinh ở Tiền Thôn luôn bị mắng, bị phạt là cậu Lực, cậu Thu. Thật ra là các cậu này bận việc nhà quá nhiều nên không có thời gian mà học nữa. Tuy nhiên khi đã là học sinh thì cho dù thế nào thì việc học cũng không được trễ nải, cho dù thế nào thì thầy cũng không chấp nhận cho những học sinh như vậy. Tuy học hơi kém nhưng mà Lực lại rất khéo tay, Lực làm những bộ râu giả bằng sợi hệt như các bộ râu của phường tuồng, ngoài ra Lực còn làm những cái gậy nhọn đầu buộc những sợi tơ xanh đỏ cũng giống như các đạo cụ của phường tuồng trông đến là đẹp. Mỗi hôm đến lớp sớm là Lực đeo râu, mang gầy ra rồi nhảy từ bàn này sang bàn khác múa hát như một kép hát. Lực đóng đủ các vai mà Lực biết, khi thì là vai Trương Phi, có khi lại là vai vua, mà cũng không biết vua của triều đại nào vì vua Đường thì cũng như vua Tống, cũng chỉ có bấy nhiêu câu hát như vậy mà thôi.

Thế rồi chín tháng học của lớp bốn cũng đã qua đi một cách nhanh chóng. Đây là năm học cuối cùng của chương trình học cấp một. Rất nhiều học phần khá cao đã được đưa vào chương trình để làm cơ sở kiến thức cho bậc học cấp hai sắp tới. Những cô bé, cậu bé không dễ gì có thể tiếp nhận được nếu không chịu khó học bài và làm các bài tập một cách đầy đủ. Sang năm nay Hằng học tốt hơn so với năm ngoái. Thầy Vũ Kim Đàm luôn để ý khá đặc biệt đến cậu trong suốt cả năm học về mọi mặt làm cho cậu lúc nào cũng như bị căng ra. Không biết có phải vì câu chuyện vào lớp theo kiểu nhảy cóc của cậu hồi năm trước hay không mà hầu như hiếm có buổi học nào thầy bỏ quên kiểm tra đến cậu. Có lẽ chính vì thế mà kết quả học của cậu khá tốt so với nhiều bạn cùng lớp. Ngoài những phần thưởng cậu được nhà trường khen cậu còn được thầy đã ghi vào học bạ những điều thật tốt đẹp. Thầy còn mạnh dạn ghi vào đó nhận định của thầy về triển vọng văn học của cậu. Những điều thầy ghi vào học bạ nói trên cũng mãi sau này cậu mới biết do cậu được nhận lại được quyển học bạ do cô giáo chủ nhiệm lớp 5c của cậu đưa cho.

Khi ngồi viết những dòng này trên trang sách cậu không khỏi trạnh lòng khi nghĩ về những dòng nhận xét của thầy giáo Đàm. Những dòng nhận xét vừa có ý khen ngợi nâng đỡ, vừa mang tính khuyến khích dường như thầy bảo hãy cố gắng hơn lên. Thế mà cậu đã không làm được gì, thật không xứng đáng với niềm mong mỏi của một người thầy. Kể ra thì quyển học bạ cũng đã bị cháy mất cùng với hàng đống sách vở tài liệu mà cậu đã gửi anh Hiệp trưởng kho vật tư của nhà máy điện Thanh Hoá trước khi cậu đi bộ đội. Không biết thế nào mà khi cả đống sách vở của cậu cùng với hàng đống các sổ sách cùng với phiếu xuất kho bùng cháy không sao cứu được thì quyển học bạ lại vẫn còn. Sau khi cậu rời bộ đội phục viên về đơn vị nghe tin kho bị cháy, trong đó có cả số sách vở tài liệu của cậu thì cậu cũng chẳng còn muốn đến hỏi anh Hiệp làm gì nữa. Thế mà đến gần hai năm trời sau anh Hiệp lại đưa cho cậu quyển học bạ rách bìa này, thành ra mỗi khi cầm đến nó cậu lại tự dằn vặt về những lời thầy đã ghi trong đó.

 

                                                       4

 

Từ sau ngày hoà bình lập lại Đảng và Chính phủ cũng đã tập trung nhiều cho công tác giáo dục, tuy nhiên mọi sự cố gắng cũng chỉ giúp cho xã Dục Tú có cơ ngơi cho một cấp học mà thôi. Cả huyện Đông Anh lúc đó mới có ba bốn ngôi trường cấp hai, nên việc đi học cấp hai buộc các học sinh phải rời trường của xã để đi học nhờ xã khác. Cũng có một số học sinh sang trường cấp hai Tiền Phong ở thị trấn Yên Viên thuộc huyện Gia Lâm học nhờ. Mãi đến năm 1962 huyện Đông Anh mới mở thêm một số trường cấp hai trong đó có một trường cấp hai được mở ở xã Quyết Tâm (bây giờ gọi là xã Cổ Loa) thì số học sinh lên cấp hai của xã Dục Tú mới chuyển về học ở Cổ Loa. Lúc ấy trường thường mang tên của các xã, nên trường có tên là trường cấp hai Quyết Tâm. Tên trường thì có đấy nhưng phòng học của trường thì lại chẳng có cái nào. Khi ấy các lớp học được gửi ở các ngôi chùa, ngôi đền, thậm chí còn gửi nhờ ở các nhà dân. Lớp 5c của Hằng được gửi ở đình làng Cổ Loa; nơi ấy tập trung rất nhiều các di tích lịch sử xây dựng từ xưa. Đầu tiên phải kể đến là cây đa cổ thụ có trên một ngàn tuổi. Cây đa này có thân mình đồ sộ đến mức người ta đã xây bên trong thân nó một khuôn cửa tò vò có bề ngang đến một mét rưỡi, chiều cao đến hơn một đầu một với, nghĩa là chiều cao đến hơn hai mét. Xung quanh khu vực gốc đa quy vuông đến gần ba trăm mét vuông có đến mười mấy cái rễ từ các cành đa rủ xuống cắm sâu vào lòng đất, cái lớn nhất cũng phải vừa hết một vòng ôm của người lớn, cái nhỏ cũng có đường kính trên hai mươi nhăm phân tây. Còn các cành của nó thì che kín gần hết phân nửa sân đình. Một di tích khá đặc biệt là am thờ Công chúa Mỵ Châu. Am thờ bé đến nỗi chỉ vừa đủ diện tích để đặt pho tượng đá cụt đầu, nên mỗi khi vào trong am đi quanh pho tượng cảm thấy rất chật chội. Pho tượng đá này tương truyền là hiện thân của Công chúa Mỵ Châu được các bậc tiền nhân khiêng từ nơi khác đem về, sau nhiều lần những người già cả trong làng được Công chúa báo mộng. Pho tượng đá khá to lớn, có lẽ cũng gấp ba bốn người thường. Tượng đã bị quân Pháp phá vỡ tạo ra các vết nứt và cũng đã được trám vá bằng chất liệu xi măng. Vào những mùa hè tượng bị hấp hơi nước ướt rườn rượt, khi sờ vào mát lạnh cả tay. Không xa bao nhiêu  về phía Bắc là cả một quần thể của cả khu vực đền thờ An Dương Vương cùng với dấu vết của tường thành ốc xưa còn lại. Lũ trẻ hàng ngày đến Cổ Loa đi học chưa có nhiều kiến thức lịch sử về nơi mình vẫn đang sinh sống, nhất là lại thường quá quen thuộc với những hình ảnh, đồ vật, quang cảnh mà họ bắt gặp thường ngày nên đôi khi còn rất coi thường. Nhưng dù sao thì mỗi ngày qua họ được các thầy, các cô giảng giải nên không biết từ lúc nào trong lòng mỗi người cũng có sự ngấm nghía để rồi mai ngày lớn lên trong họ có cái hình, cái bóng của quê hương cùng với những gì tốt đẹp được nhân lên trong mỗi bước đường mà họ sẽ đi trong cuộc đời đầy sóng gió và cũng đầy vinh quang rực rỡ trong những năm lao động và chiến đấu sau này.

Trường cấp hai Quyết Tâm về cơ cấu sẽ có ba khối học, mỗi khối có ba lớp, tuy nhiên trong năm đầu tiên này thì mới chỉ có một khối đó là khối các lớp 5. Hằng và cả số học sinh của làng Đồng Dầu được đưa vào lớp 5c do cô Lê Thị Yến vừa làm chủ nhiệm vừa làm giáo viên giảng môn toán học. Môn văn thì do thầy Trần Ngọc Kim giảng dạy. Hai môn sử địa đều là của thầy Vũ Tú Nguyên, còn  môn sinh vật là của cô Kim Bảo.

Những ngày đầu tiên bước vào cấp hai thật là vui, riêng Hằng còn vui hơn khi cậu được bầu vào ban cán sự lớp. Cho dù chẳng hiểu là mình sẽ phải làm gì trong cái chức trách cán sự nhưng Hằng cũng thấy rất khoái chí. Hằng đâu có ngờ rằng sau này cậu lại bị liên luỵ quá nhiều bởi cái chức trách hữu danh vô thực này. Hàng ngày cứ đến mỗi giờ học các thầy, các cô đều nhằm đích vào Hằng. Nào là cả lớp có làm bài tập hay không, cả lớp đã đóng học phí chưa. Khổ sở hơn nữa là cậu cứ phải đầy đủ bài vở vì cứ mỗi khi các thày, các cô kiểm tra các bạn mà có độ ba, bốn người không thuộc là các thầy, các cô sẽ gọi đến Hằng. Đành rằng đi học là phải học bài, làm bài đầy đủ, nhưng đôi khi các học trò cũng tự cho mình được quên học bài, quên làm bài tập để vào bãi chiếu phim  một đôi lần trong một tháng, bởi vì có phải dễ gì có được một buổi chiếu phim ở nơi thôn quê đồng ruộng. Tất nhiên là không thể bỏ học, bỏ làm bài tập để xem phim mà chỉ là ngầm khất chương trình hôm đó đến hôm sau mà thôi. Nhưng Hằng thì đâu có được làm như thế bởi cái chức trách lớ ngớ vừa nói ở trên.

 

Được cái Hằng học khá thông minh nên kết quả năm học cậu đạt khá cao. Hầu như tất cả các bài kiểm tra của các môn Hằng đều được điểm 5. Hằng đã đạt học sinh xuất sắc toàn diện ở mức A1. Các bạn, các thầy chia vui với Hằng. Cái tiếng học giỏi của Hằng bay về tận làng Đồng Dầu, bay về tận trường Dục Tú làm vui lòng biết bao những người thân yêu của Hằng, làm thoả lòng biết bao các thầy cô đã dạy dỗ Hằng. Có một người thầy luôn luôn nhìn Hằng bằng một bên mắt nheo lại như bảo cậu rằng chớ có tự vừa lòng để rồi phí công tôi đặt niềm tin ở cậu. Đó là thầy Chuyên, người thầy đã hơn một lần hết lòng vì cái cậu bé nhóc con lầm lỳ ít nói và hay ngồi lặng lẽ nhìn xa tận phía chân trời.

                                5

 

Cứ như thế Hằng học hết ba năm học cấp hai ở trường Quyết Tâm trong ba năm liên tiếp. Ngày rời trường đã đến mà mọi người vẫn tưởng chỉ là chia tay về hè như mọi năm thôi. Chả biết mọi người nghĩ sao còn Hằng thì băn khoăn bối rối không biết tính thế nào. Việc có đi học tiếp được hay không quả thật là rất khó, bởi trường cấp 3 lại ở mãi trên huyện, một địa điểm quá xa để có thể đi bộ đến trường vào các buổi sáng, phần thì nhà Hằng lại quá nghèo, đâu có thể mua nổi một cái xe đạp để mà đi học như mấy đứa con nhà khá giả. Mỗi ngày nhà Hằng cũng chỉ có gạo ăn ở mức hơi thiếu một tý cho cả nhà, nếu Hằng mang đi một ít để học trọ thì nhà sẽ bị đói. Như vậy thì việc học của Hằng sẽ chẳng còn có thể tiếp tục được nữa. Thêm nữa mẹ Hằng đã già yếu lắm rồi việc làm ăn đã đến lúc cần Hằng san sẻ bớt. Với bằng ấy lý do đã bắt buộc Hằng không còn cách lựa chọn nào khác hơn là phải nghỉ học.

Không như một số các bạn khác nghỉ hè rồi vẫn còn được rong chơi để thăm thú bạn bè, bắt đầu vào hè là Hằng về nhà để đi làm hợp tác. Ngay từ những ngày đầu đi làm hợp tác Hằng đã được bà con trong đội đề nghị đứng ra làm thư ký đội thay cho người thư ký cũ lên làm thư ký cho hợp tác xã. Kể ra mà nói thì đây cũng là sự may mắn rất lớn của cậu, vì cùng lúc đó có khối các cậu cùng về mà bà con lại không tín nhiệm. Nói về cái học khá của cậu có lẽ chỉ là phần thứ yếu vì công việc làm thơ ký đội chủ yếu chỉ là ghi chép công điểm cho bà con, thế rồi cộng trừ nhân chia một tý công điểm, một tý thóc lúa hoa màu mà các xã viên được chia trong từng vụ mà thôi. Cái sự tín nhiệm ở đây chủ yếu là các ông bà xã viên đã yêu mến cậu ở cái sự vui tươi, lễ phép và cả cái tính thẳng thắn, ngay từ bé đã không trộm cắp hoặc tham lam của ai bất cứ thứ gì.

Từ sau ngày nghỉ hè cô giáo hiệu trưởng Nguyễn Thị Ngọc Anh vẫn xuống thăm chơi nhà của các phụ huynh, cũng đến mấy lần cô vận động Hằng cùng các bạn tiếp tục đi học lên cấp 3. Bà còn hứa với bà mẹ của Hằng là bà sẽ dùng uy tín của mình để xin cho Hằng có được học bổng như khi còn học cấp 2, nhưng vì ngại ngần trong việc nhờ cậy, làm phiền đến cô nên Hằng vẫn quyết định sẽ nghỉ học. Cô Anh lại phân tích thêm về một số cách học khác và cuối cùng thì cô động viên Hằng đi học chuyên nghiệp. Thực ra thì Hằng cũng đã làm hồ sơ xin đi học chuyên nghiệp để gửi về trường ngay từ  khi còn đang học dở cấp 2, tuy nhiên đến lúc ấy thì các trường chuyên nghiệp chưa nơi nào gọi cả.

Vào trung tuần tháng 8 năm ấy thì Hằng có giấy gọi đi học trường trung cao cơ điện. Phần vì nghe bạn bè kháo nhau rằng học trung cao kéo dài đến hơn ba năm, hơn nữa là sau khi ra trường phải làm cán bộ kỹ thuật, một công việc mà Hằng rất ghét ngay từ khi tiếp xúc với một số cán bộ kỹ thuật của nhà máy diêm, nhà máy gỗ trong lúc Hằng đi làm thuê những năm trước đó. Mỗi lần trông thấy họ Hằng chỉ muốn chửi cho họ một trận bởi cái sự vênh váo của họ trong lúc giao nhận công việc hàng ngày. Rồi đến vài giấy gọi nữa nhưng Hằng cũng không đi vì một trong các giấy ấy là giấy gọi của trường trung cấp ăn uống, giấy còn lại là của trường trung cấp dệt, lúc ấy Hằng cho rằng đây toàn là những công việc của phụ nữ nên chẳng thiết gì đến sự học nữa.

Cũng chính trong thời gian này ở cục vật tư địa chất đóng ngay ở Dốc Vân lại thông báo tuyển người. Chỉ cần làm việc trong 6 tháng là sẽ được vào biên chế thành công nhân như tất cả mọi người. Đang lúc bế tắc lại có cơ hội tốt, thế là Hằng quyết định sẽ đi làm cho ngành địa chất. 

 

                                                    6

 

Ngay khi vào làm ở địa chất Hằng cùng các bạn đã được đưa lên ô tô chở một mạch lên huyện Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn. Nơi đây được cục vật tư địa chát cho xây dựng một cái kho để chứa hàng đề phòng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày một tăng lên. Công việc ở đây ban đầu chủ yếu là  phát rừng san đường vào sâu trong dãy núi Cai Kinh, rồi bốc đá làm đường để cho xe ô tô có thể ra vào được.

Hàng ngày từng tốp công nhân mới tuyển còn chưa được cấp phát bảo hộ cắm cúi làm việc. Cho dù công việc chẳng nhẹ nhàng gì, nhưng đa số mọi người trong đội đều là những thanh niên, thanh nữ trẻ nên họ rất vui. Cho dù là đào hàng khối đất hào rắn đanh đến bốc hàng chục khối đá từ mỏ đá Núi Voi về công trường nhưng ai cũng say mê với công việc. Những chàng trai trẻ đều muốn thể hiện sự hơn hẳn của mình trước các cô gái để mong các cô có chút cảm tình. Còn các cô gái thì lại muốn mình là những người xinh đẹp chịu thương, chịu khó để lọt mắt các chàng trai. Chính vì thế mà các anh trong ban lãnh đạo của đội như anh Dậu hầu như chẳng cần phải đôn đốc mà công việc vẫn chạy băng băng.

Ngoài những vất vả trong công việc mọi người còn phải đối đầu với nguy hiểm do máy bay địch bắn phá khi đi trên đường hoặc đến làm việc ở những nơi trọng điểm. Cũng có nhiều lần họ thoát chết trong gang tấc bởi chỉ nhờ may mắn trong nhanh chậm, giống như lần máy bay Mỹ ném bom phá huỷ cửa hàng ăn uống chợ Mẹt hay lần chúng ném bom hòng cắt đứt cầu Mẹt chặn đường giao thông của chúng ta.

Công việc ăn uống của đội đều do đội tự làm lấy, ngoài mấy món trường ca như bí ngô, cá mắm, lại đến muối vừng, măng tre hoặc lạc rang để cả vỏ tẩm muối mặn chát. Lâu lắm mới có một ít thịt con lửng mua được ở các chợ quanh vùng, cũng có khi có một ít thịt trâu mang từ cơ quan lên khi có các cán bộ về công tác.

Người Nùng ở xã Cai Kinh và các vùng quanh khu vực đều kiêng ăn thịt trâu, bò và thịt chó. Họ cũng không ăn hành và một vài gia vị khác nên lúc đầu khi  chưa làm được lán còn phải ở nhờ nhà dân thì sự  kiêng khem thật là vất vả. Về mặt ăn uống thì thế nhưng về tình cảm thì giữa công nhân với nhân dân trong vùng lại thật tốt, nhất là với đám con gái người Nùng thì sự gắn bó còn khăng khít hơn nhiều. Lấy cớ giao lưu để học tiếng và tìm hiểu phong tục có vài đôi trai gái hình như bắt đầu đã có những mối cảm tình hết sức tế nhị.Trong số thanh niên trẻ trong đội chỉ có Hằng là trắng trẻo thư sinh hơn cả, hơn nữa lại ăn nói khá mạnh dạn nên có rất nhiều cô gái muốn gần. Lẽ dĩ nhiên là cậu cũng thể tránh khỏi bị cuốn hút vào cái không khí chung ấy. Sau rất nhiều cuộc gặp gỡ trò chuyện cho dù là chỉ ở trong nhà của các cô gái cùng với bố mẹ của các cô nhưng cái sự đầu mày cuối mắt thì vẫn cứ lộ ra.

Người Nùng ở Cai Kinh có một số đặc điểm rất đặc biệt đó là đa số các chàng trai thì rất đẹp traiN, còn đa số các cô gái thì lại rất xấu. Những chàng trai cao lớn và trắng trẻo bao nhiêu thì các cô gái lại đen và nhỏ bé bấy nhiêu. Trong cả một bản có lẽ chỉ được mươi cô còn có chút ưa nhìn, số còn lại thì thật đáng ngại gặp, ngại gặp không phải vì họ xấu mà vì đám thanh niên vùng xuôi sợ họ mồi chài. Đã từ lâu người ta đồn đại rằng các cô con gái ở vùng cao thường có một số loại thuốc hoặc các loại bùa rất đáng sợ. Nếu chàng trai nào ở dưới xuôi không may mà bị họ thích là họ sẽ chài, thế rồi các chàng trai này cứ lú lẫn bỏ cả quê hương cha mẹ để mà ở lại với cô ta cho đến hết đời mà không thể thoát ra được. Ngoài ra họ còn sợ nhiều thứ khác, giả như họ có thể bị người nhà của các cô gái giết bằng cách đưa đến các vùng rừng có hổ để cho hổ ăn thịt rồi loan tin là bị hổ vồ. Đến lúc ấy thì ngay cả chết cũng bị chết oan mà không thể tìm ra tội chứng của kẻ giết người. Chính vì vậy nên cái sự yêu đương thì hình như chưa cậu nào dám đặt vấn đề. Còn cái chuyện lợi dụng tình ái khi họ tiếp xúc hàng ngày cùng nhau thì chả cậu con trai nào dám, kể cả trong khi nói chuyện ở nơi vắng vẻ cũng như khi đi vào rừng hái quýt, hái ổi riêng rẽ chỉ có hai người với nhau.

 

                                                             7

 

Trong số các cô gái người Nùng, có một cô khá xinh xắn có tên là Hoàng Thị Cỏm. Cô mới chỉ mười sáu tuổi đang đi học văn hoá ở trường nội trú của tỉnh. Ngoài nước da trắng, khuôn mặt trái xoan cô còn có sức quyến rũ bởi dáng người thon thả và duyên dáng. Cô nói tiếng kinh khá sõi, nếu chỉ hỏi han trò chuyện trong độ mươi phút thì không ai bảo cô là người Nùng, ngoại trừ bộ quần áo chàm cô rất hay mặc khi cô về nhà. Cho dù chiếc áo chàm khá rộng, luôn dài đến ngang đùi che đi phần thân thể của cô nhưng người ta vẫn nhận ra cơ thể đầy sức quyến rũ của cô.

Trong một lần về nhà cô được tiếp xúc với đám thanh niên vùng xuôi thông qua sự giới thiệu của các bạn, cô đã nói chuyện rất nhiều bằng tiếng Nùng với Hằng. Không biết có phải do cô thích cái anh chàng trắng trẻo này hay là cô chỉ thích nói chuyện với cậu chỉ vì lúc ấy cậu là người biết nhiều tiếng Nùng hơn so với các bạn.

Lúc chia tay cô ghé sát tai cậu và thì thào:

- Mình với anh cùng tên, mình với anh là một đấy nhé!

Hằng không kịp hỏi gì thêm thì cô ấy đã vụt quay trở vào nhà. Hằng đứng ngây ra đến một lúc lâu mà vẫn chẳng nghĩ ra được sự thể là thế nào. Chả lẽ tiếng Nùng âm Cỏm là Hằng hay là khi cô ấy đến trường học cô đổi tên theo tiếng Kinh với cái tên mới là Hằng.  Cho mãi đến về sau này điều thắc mắc ấy cậu vẫn không được ai giải đáp cho.

Họ chia tay cũng không lâu la gì lắm, chỉ mới qua hết một tuần học đã thấy cô có mặt ở nhà. Anh trai của cô đã bảo cho Hằng biết trong lúc đi ngang qua lán công nhân để vào rừng đặt bẫy. Trong số các chàng trai cùng đi làm với Hằng ngày ấy hầu như chỉ có mình Hằng là hay chơi bời cùng số con trai và cũng hay thăm viếng với các ông ké, bà mế nên Hằng khá thân thiện với số đông những người trong bản. Riêng về anh trai của Cỏm thì khá thân hơn vì anh này khá thông minh và lại rất khéo tay. Nhiều lần anh bảo nhận Hằng làm em rể cho dù Hằng chưa hề gặp cô em ấy lần nào. Lần này thì không thể tránh được rồi nhất là cái cô em ấy lại hưởng ứng một cách nhiệt tình sự gợi ý của ông anh. Có lẽ vì thế mà anh vừa tin cho Hằng biết vừa cười một cách ý nhị.

Thực ra thì Hằng chưa bao giờ nói gì đến cái sự gắn bó của mình với cô ấy vì Hằng cũng sợ bị cô ấy chài như ngày nào mẹ Hằng đã kể. Còn cô ấy thì hình như mặc nhiên coi cái sự ấy như là đã định rồi. Có lẽ việc này là do người anh của Cỏm bịa ra. Phải chăng anh cũng muốn cho cô em gặp được văn minh của miền xuôi hay là muốn cô em rời xa hẳn cái cơ ngơi của cha mẹ để sau này anh chẳng vướng bận gì.

Những ngày xa vắng bất chợt bị cuốn đi để sự rạo rực tràn ngập dồn lại cho những giờ khắc gặp gỡ.Tuy rằng tất cả cũng chỉ là những câu chuyện cuộc sống cùng với sự động chạm da thịt vào nhau thôi nhưng sao mà cảm xúc lạ kỳ đến vậy. Nhiều lúc Hằng tưởng như mình bị tan ra bên sắc màu lam tím của những nếp vải thô ráp nhuộm chàm. Hay là Hằng đã bị chài rồi! Có lẽ là chưa vì sau những lúc như thế Hằng lại thấy bình tĩnh trở lại tự điều chỉnh được mình. Mười sáu tuổi, chỉ mới mười sáu tuổi, còn mình nào có nhiều hơn được bao nhiêu.

Mỗi lần gặp gỡM, mỗi lần trò chuyện, Hằng thường nghĩ đến những câu chuyện tình yêu từ trong phim ảnh, từ trong sách vở, từ trong tiểu thuyết. Sự đẹp đẽ đến thánh thiện, đến đắm say và cả đến oanh liệt nữa cũng dần hé mở lôi kéo đi theo, khuyến khích học theo. Cả đống những ý tưởng làm họ choáng ngợp, làm họ bối rối; bối rối đến không còn biết sẽ làm gì nữa.. Họ chỉ dám hôn thật nhẹ vào bất chợt chỗ nào mà họ chạm vào thế rồi chia tay và tiếc mãi về những gì mà họ cùng khao khát.    

     

                                                     8

 

Những ngày vui chưa được bao lâu thì công trình cũng đã sắp hoàn thành. Một số công nhân đã chuyển đi công trường mới ở tận trên khu vực Đồng Mỏ, số còn ở lại Cai Kinh không còn nhiều, trong đó có Hằng. Ngoài công việc ban ngày, Hằng còn phải ở lại trông coi lán vào ban đêm mà không vào bản như mọi khi vì trong thời gian này Cỏm cũng ít về. Không biết có phải do bận học hay do Cỏm giận vì Cỏm chờ mãi mà chưa thấy Hằng nói ra cái điều quan trọng kia. Cỏm không biết rằng trong lúc ấy Hằng băn khoăn đến thế nào về hoàn cảnh của mình.

Ngày ấy nhà Hằng Nghèo lắm. Rời chùa mới được vài năm, nhà Hằng vẫn phải ở nhờ nhà của anh Phượng. Xin đất xong, cố mãi nhà Hằng vẫn chưa làm nổi một ngôi nhà. Đồ dùng thì chả có thứ gì ngoài hai cái giường gỗ tận dụng mà ông bố của Hằng tự đóng lấy từ năm nảo, năm nào, đến nay thì đã bắt đầu mọt ruỗng ra rồi. Lấy vợ về, vợ sẽ ở đâu! Trong cái căn nhà không buồng, không vách của nhà anh Phượng. Lại còn công việc làm ăn, còn miếng cơm, manh áo cho mẹ, cho em và cho cả đôi uyên ương nửa xuôi, nửa ngược này nữa. Lại còn sự nghiệp vừa mới bắt đầu! Mình còn phải đi! Ai sẽ là người đỡ đần người vợ trẻ con này khi mình đi vắng. Rồi còn địa phương họ có cho phép hay không khi cô ấy chưa đủ tuổi. Miền xuôi đâu có thể làm bừa đi như trên vùng cao thiểu số mà được. Tất cả những điều ấy đã bắt Hằng phải chần chừ, lưỡng lự mặc dù Hằng biết sẽ chẳng bao giờ Hằng còn có thể tìm được một người con gái đẹp mê hồn như thế nữa. Tất cả những điều ấy Hằng đâu có thể nói ra với Cỏm và với gia đình cô ấy.

Chính trong những ngày buồn bã ấy thì chú Phó cục trưởng đi công tác qua rẽ vào gửi cho mảnh giấy của mẹ nhắn Hằng về. Không biết mẹ nhắn về để làm gì mà gấp gáp như thế nên Hằng quyết định sẽ tự mình ra về mà không chờ chú cục phó đón như lời dặn của chú lúc đưa thư cho cậu.

Vừa đi vừa lạc phải mất hơn năm tiếng đồng hồ Hằng mới đến được ga Bắc Lệ để lên tàu về nhà. Cuộc ra đi này của Hằng chỉ có vài người trong ban lãnh đạo của đội biết, bạn bè và cả Cỏm cũng không sao biết được. Hằng cũng không ngờ lần ra đi này cũng là lần từ biệt Cai Kinh, từ biệt Chợ Mẹt, Lạng Sơn đến mãi gần bốn mươi năm sau mới lại có dịp quay trở lại trên một chuyến xe khách chạy sáu mươi cây số lướt đi trên đường, trong một lần tham quan Trung Quốc.

Về đến nhà Hằng được mẹ đưa cho một bì thư trong đó là giấy báo đi học của Trường điện lực Thái Nguyên. Nhận giấy mà Hằng ngạc nhiên đến sững sờ cả mình mẩy vì không hiểu tại sao mình lại có giấy báo này. Trong kỳ làm hồ sơ đi học chuyên nghiệp Hằng chỉ làm có ba bộ, đã có ba trường gọi mất rồi. Các trường đều ghi là sẽ không trả hồ sơ vậy thì hồ sơ này làm sao mình lại có. Sau khi ba trường gọi Hằng không đi, Hằng đã làm thêm hai bộ nữa lên xin xã nhưng xã nói chỉ có thể xác nhận không quá ba bộ, thế là Hằng mang về vứt ở nhà, làm gì còn bộ nào nữa đâu mà lại có giấy gọi. Hay là trường họ nhầm lẫn gì chăng. Hằng xem đi xem lại tờ giấy báo nhưng không thấy chỗ nào sai kể cả họ tên và nơi ở. Mà cái làng Đồng Dầu này làm gì có ai là Hằng nữa đâu. Tìm hiểu mãi rồi cũng vỡ lẽ ra do khi Hằng đi làm vắng cô Ngọc Anh xuống thăm số phụ huynh học sinh cũ đã rẽ vào thăm mẹ Hằng. Sau khi nghe bà mẹ Hằng kể lại sự tình thế là bà lấy số hồ sơ của Hằng để lại mang lên xã xin xác nhận cho rồi gửi tiếp về ban tuyển sinh huyện và thế là Hằng mới có tờ giấy báo thứ tư này. Có lẽ cán bộ xã nể bà giáo là huyện uỷ viên mà họ quen biết  trong các kỳ họp nên đã xác nhận số hồ sơ mà bà mang lên xin hộ.

Khỏi phải nói đến sự hàm ơn của Hằng đối với cô hiệu trưởng đến thế nào. Vậy mà từ khi ấy cho mãi đến sau này Hằng không còn có thể gặp lại cô giáo đáng kính của mình nữa. Khoảng cách địa lý của mỗi người, công việc xã hội, công việc gia đình của mỗi người, đã vĩnh viễn chia cách cô trò của họ. Cô như là một người mẹ lo cho rất nhiều những đứa con, chắc cô không còn nhớ những gì đã lo cho Hằng. Còn với Hằng thì không bao giờ có thể quên được tấm lòng của người mẹ ấy.

                                         9

 

Sau gần mười ngày lo cắt hộ khẩu, lo bán lương thực để lấy giấy cắt chuyển lương thực xong là Hằng lên nhập trường. Cứ như trong giấy báo này thì có đến vô số những con số một bắt buộc các học sinh phải nhớ và phải thực hiện. Đầu tiên là các học sinh phải đến trường vào ngày 11 tháng 11 năm 1965, tiếp theo là các học sinh phải hỏi thăm đến số nhà 111 phố Đồng Bẩm Thành phố Thái Nguyên để vào nhập học.

Hằng lên đường với một cái ba vuông mà anh cả cho. Đây là vật dùng để đựng quần áo của bộ đội thời  kháng chiến chống Pháp. Nó là một miếng vải bạt cắt theo hình chữ thập. Các góc được may một miếng vải chéo để khi gấp vào đồ dùng nhỏ không từ các góc rơi ra. Hai bộ quần áo bằng vải ka ki và vải pôpơlin Nam Định, một cái chăn chiên là tất cả những gì mà Hằng mang theo.Tuy rằng nhà Hằng nghèo thật nhưng Hằng lại chưa khi nào phải mặc quần nâu áo vá như nhiều các bạn khác. Đồ đạc mới duy nhất chỉ có cái màn một và mấy thứ lặt vặt như lọ thuốc đánh răng, cái bàn chải, cùng mấy quyển sách, quyển vở mà thôi .

Chuyến tàu Bắc, Yên Viên đi Quán Triều chậm như bò trên đường. Chỉ có hơn bẩy chục cây số mà suốt từ tối đến quá nửa đêm mới đến được ga Đồng Quang. Trời đêm không đèn, không điện vì tránh máy bay Mỹ đánh phá, vả lại cũng quá khuya nên đường xá vắng ngắt không một bóng người. Sau khi đã hỏi thăm khách trên tàu về địa điểm mình sẽ đến, Hằng cũng đã sơ lược nắm được phần nào quãng đường mình sẽ phải đi. Mò mẫm mãi rồi Hằng cũng đến được phố Bắc Nam của thị xã Thái Nguyên. Đang không biết tìm ai để hỏi thăm tiếp thì nghe phía trước có người đang nói chuyện rì rầm. Hằng cố đi thật nhanh cho kịp mong sao hỏi thăm được về phố Đồng Bẩm, bởi Hằng nghĩ nếu không hỏi thăm được thì khó có điều kiện gặp được ai nữa để mà hỏi thăm. Vừa ghé sát vào mặt hai người đi đường để hỏi thăm về Đồng Bẩm thì nghe cả hai cùng nói chúng tôi cũng về đó mà không biết đường đây. Thật không còn gì chán chường hơn khi nghe hai người đi đường nói vậy. Dù sao thì từ lúc một mình bây giờ có thêm hai người nữa thành ba cùng đi nên cũng đỡ buồn hơn. Cả ba đang  lếch thếch mò đi trong đêm tối đen như mực thì đến một chiếc cầu. Một ngọn đèn phòng không leo lét bên đường làm cho cả ba mừng không thể nào tả xiết. Một người trong họ buột miệng:

- May quá, có chỗ hỏi thăm rồi.

Giọng nói của người này hơi ngòng ngọng, nghe rất quen, hình như mình đã nghe nói khi nào rồi thì phải. Đang còn phán đoán thì chợt lại nghe người thứ hai cất tiếng hỏi thăm đường. Ngoài giọng nói rất quen thuộc còn cả địa chỉ hỏi thăm cũng lại quá quen nữa làm Hằng chột dạ. Hằng nghĩ chả lẽ mấy cậu này cũng đi học như mình. Mãi đến khi giáp mặt thì cả ba người mới nhận ra nhau là bạn cùng trường.

- Thế nào, có phải các cậu cũng vào trường điện lực phải không?

Họ hỏi thăm nhau hết chuyện nọ đến chuyện kia có lẽ phải đến hai mươi phút rồi mới lại tiếp tục lên đường. Hoá ra hai anh bạn vừa gặp lại chính là Nội và Thảo học ở lớp 7A. Thảo khá nổi tiếng về sự tinh nghịch, còn Nội thì lại nổi tiếng về các hoạt động tập thể và có tiếng là lành tính. Nội học cũng vào loại giỏi và lại là một trong những đoàn viên đầu tiên của chi đoàn học sinh của trường. Nội khá đẹp trai và có nhiều tài vặt, đặc biệt là rất sát gái. Cứ như sau này Nội nói ra thì hình như ngay khi còn học ở trường phổ thông Nội đã yêu khá thành thạo, yêu ngay cả những bạn gái cùng học trong lớp 7A của chính mình.

Ba người lại mò mẫm đi tiếp, bây giờ thì họ đã đi qua cầu Gia Bẩy, nơi mà họ vừa dừng lại để hỏi thăm và đã nhận ra nhau. Cây cầu khá rùng rợn vì nó là nơi chứng kiến sự chết chóc của mấy trăm người trong hai lần giặc Mỹ đem tàu bay phản lực ném bom vào cầu trong ngày 17 tháng 10 trước đó mới gần một tháng. Mọi người không ai nói gì nhưng Hằng biết trong mỗi người đang nghĩ về cái chết chóc gớm giếc đó mà căm thù quân giặc, xót xa cho tất cả những người xấu số. Thật đáng buồn khi mọi người chúng ta đã không thể làm gì để ngăn cản tất cả những tàn ác mà kẻ thù đang từng ngày trút xuống đầu những người dân vô tội.

Không thể tìm ra ngôi nhà số 111 và cũng chả hỏi thăm được aiK, ba anh em đành vào ngủ nhờ trên hè của một cửa hàng bán sách để chờ đến sáng. Mệt mỏi do đi bộ mang nặng lại thức quá khuya cả ba ngủ như chết cho đến tận sáng banh ra mới dậy được. Vừa thu gọn đồ dùng vừa nhanh chóng quay đến khu vực tối qua đã đến để tìm. Hằng hỏi thăm mấy người làm vôi ở ngay con dốc nhỏ cạnh đấy thì được họ cho biết số nhà 111 chính là căn nhà tranh lụp xụp mà đêm qua ba anh em đã qua lại đến mòn cả chân ở đấy. Căn nhà ấy không phải là trường mà chỉ là điểm đến hỏi thăm con đường rẽ để vào nơi trường sơ tán. Từ đây vào đó còn phải đi đến hơn cây số nữa mới đến nơi. Đang còn hỏi thăm chưa xong thì từ xa đã nghe tiếng củaThảo la ré lên:

- Tìm thấy số nhà 111 rồi chúng mày ơi!

Mọi người quay về phía phát ra tiếng nói củaThảo thì thấy Thảo từ mái hiên lụp xụp chui ra. Thảo vừa cười vừa chỉ ngược vào bên trong mái nhà có ý bảo cái số nhà ở bên trong đó. Thì ra đây là căn nhà không có người ở, trên tường chả có chỗ đóng đanh treo biển nên chủ nhà đã gài cái biển số vào bên trong mái hiên, chính vì thế mà mấy anh em tìm không được.

Lại thêm một lần chán chường nữa mà không thể nói ra, bởi ai cũng nghĩ rằng ngôi nhà số 111 ấy phải là ngôi nhà cao ba bốn tầng trông thật nguy nga tráng lệ và rồi hàng ngày họ sẽ cắp cặp đến học hành và làm việc. Nào ngờ cái trường mà họ học lại ở trong tít mãi ở tận rừng xanh núi đỏ và còn chưa biết là nó to bé ra sao. Tuy vậy họ cũng đành phải vào để mà nhập học chứ còn biết làm thế nào bây giờ.

 

                                    10

 

Ngay sau khi gặp cán bộ của trường mọi người mới biết là trường có ba khu học tập. Khu thứ nhất tập kết các học sinh học về cơ khí và điện ở ngay tại xóm Cổ Rùa. Khu thứ hai ở lùi vào sâu bên trong một ít gọi là xóm Thác Lở, là nơi tập kết số học sinh học về nghề sửa chữa lò hơi. Số học sinh học nghề sửa chữa Tua bin thì vào sâu mãi tận khu mỏ đá Núi Voi (Núi Voi của Thái Nguyên chứ không phải của Lạng Sơn), nơi ấy gọi là xóm Cầu Đá. Cũng chỉ đi quá ra ngoài một chút đã là phường phố, thế mà nơi Hằng và các bạn đến lại là thôn bản của rừng rú buồn rứt cả người.

Những ngày học tập, lao động liên miên làm cho các cậu không còn có thì giờ để chơi bời nữa, thế là việc lên lớp và nhất là việc đi lao động làm đường sắt sơ tán máy biến thế hoặc đi xúc xỉ đổ vào sọt treo quanh tường nhà máy để chống bom đạn là những lúc vui hơn cả. Dù sao thì có lúc như thế họ mới được gặp nhau để mà trò chuyện, để mà tán tỉnh lẫn nhau, làm khuây khoả nỗi buồn chán ở nơi khỉ ho cò gáy này.

Ngày ấy các học sinh đi học chuyên nghiệp và cả các sinh viên học đại học cũng đều do nhà nước nuôi không. Chế độ sinh hoạt đều rập khuôn theo kiểu trại lính, mà không được có ý kiến gì khác. Mỗi tháng các học sinh được ăn 15 cân lương thực, trong đó có đến ba mươi phần trăm là chất độn. Chất độn có thể là mỳ bột hoặc ngô say ghế lẫn với gạo. Buổi sáng, mỗi người được ăn bữa phụ bằng một cái bánh mỳ luộc nhỏ như  nắm tay trẻ con. Mặc dù cái bánh chả ngon gì nhưng vì hàng ngày ăn uống luôn luôn thiếu nên dù không ngon cũng không ai bỏ. Bữa trưa và chiều thì ăn bữa chính có cơm và vài món thức ăn. Đang sức ăn, sức lớn bây giờ không đủ no nên hầu như anh, chị nào cũng thèm cơm. Có một điều không biết tại sao luôn thiếu ăn như vậy nhưng các cô, các cậu đều cứ lớn vượt trội hẳn lên.

Trong mấy tuần gần đây quân Mỹ tập trung tăng cường đánh phá vào Thái Nguyên nên mỗi buổi học lớp cứ phải dừng để ra hầm trú ẩn ba bốn lần. Những lần đi sang nhà máy bây giờ cũng không còn được an toàn nữa. Nhà máy điện Thái Nguyên bị đánh phá mấy lần liên tiếp. Khu điều khiển trung tâm và cả cầu vượt từ đó sang nhà máy chính cũng bị làm sập. Rồi cả khu vực đuôi lò cũng bị bom làm hư hại nhiều. Những tầng tầng, lớp lớp các sọt xỉ che phủ bên ngoài cũng chả giúp che chở được. Cả khu tập thể và cái căng tin hàng ngày vẫn bán và phân phối nhu yếu phẩm cũng bị sập đổ tan tành. Số gia đình công nhân ở trong khu tập thể cũng phải sơ tán vào mãi tận rừng xanh, núi đỏ.

Ban ngày các lớp đều tập trung vào học lý thuyết cơ sở và lý thuyết chuyên môn, ban đêm lại sang nhà máy tham gia lao động. Những kiến thức mà các học sinh hàng ngày được học hầu như mới mẻ hoàn toàn đối với tất cả mọi người. Phần lý thuyết cơ sở bao gồm có vật liệu cơ khí, điện học, nhiệt học, vẽ kỹ thuật, nguyên lý và cấu tạo của máy tua bin và lò hơi cho nghề vận hành và sửa chữa lò, máy. Phần học về chuyên môn thì có các công nghệ gia công cơ khí với ba bốn năm nghề như rèn, gò, tiện, nguội và cả nghề hàn điện, hàn hơi. Các bài về sửa chữa gồm thêm cả các phần về tháo lắp, căn chỉnh và cách sửa chữa từng bộ phận khi chúng bị hư hỏng. Việc học lý thuyết đối với mọi người xem ra rất mơ hồ, chỉ đến khi thực hành các học sinh mới được vỡ vạc ra đôi chút. Cuối cùng thì khoá học cũng đến lúc kết thúc sau mười mấy tháng trời vất vả.

Trong thời gian vừa quaT, ngoài việc đánh phá nhằm ngăn cản ta về mặt quân sự, bọn Mỹ còn tập trung phá hoại ta về kinh tế. Các nhà máy điện là mục tiêu hàng đầu ở lĩnh vực này. Trên miền Bắc có mấy cái nhà máy điện thì bấy nhiêu cái  bị đánh phá, nên đa số các nhà máy đều đang cần khôi phục, sửa chữa ngay để kịp thời cung cấp điện cho sản xuất và chiến đấu. Lẽ dĩ nhiên là rất cần có thêm các công nhân sửa chữa để thực hiện nhiệm vụ này. Cũng chính vì vậy nên mới qua một năm các học sinh đã phải ra trường mà chả cần đủ mười tám tháng như chương trình học đã thông tri trên giấy gọi.

Năm nay nhà trường thay  phương pháp tổ chức thi tốt nghiệp từ việc làm bài trên giấy bằng vấn đáp ngay trên hội trường. Các thầy phải đổi khối dạy để tổ chức thi cho khách quan. Có lẽ các thầy biết khá rõ về kết quả học của Hằng nên hầu như các thầy chỉ hỏi những câu hỏi chính mà không cần đặt câu hỏi phụ nên Hằng thi rất nhanh chứ không như các bạn khác luôn bị các thầy vặn vẹo cho đến là khổ. Cùng với kết quả thi đạt điểm năm cho toàn bộ các môn học Hằng được nhà trường khen và được cả Đoàn thanh niên khen về thành tích học tập và lao động. Sau này thầy giáo chủ nhiệm lớp sửa chữa tua bin có nói với cả lớp rằng Hằng là một trường hợp chỉ có một từ trước đến giờ và có lẽ cả về sau này nữa cũng khó có thể có lại trường hợp như thế này một lần nữa. Đọc đến chỗ này có thể có người nghĩ đây là truyện ký và đoạn trên có phần hư cấu theo thể truyện. Cũng xin nói rằng đây là đoạn sự thật viết theo thể ký. Với toàn bộ các điểm tổng kết và điểm thi của các môn đạt điểm năm, Hằng là một trong những học sinh học vào loại khá nhất của trường lúc đó, nên đi đâu Hằng cũng được các thầy các bạn biết đến.

                            

                                                RA TRƯỜNG

 

                                                           1

 

Tất cả các bạn trong lớp đều đã có danh sách  chuyển về các đơn vị trong ngành. Đoàn thì về ngay nhà máy điện Thái Nguyên, đoàn thì đi nhà máy điện Uông Bí, đoàn thì đi Hà Bắc, cũng có một số có cha, anh trong ngành đến tận trường xin chuyển cho con cái của họ. Lớp của Hằng có đến mười hai người đi Thanh Hoá, số còn lại thì đi Nam Định và bổ sung con số cho các đoàn khác. Chỉ còn có mỗi Hằng là vẫn chưa có tên ở một đoàn nào. Số nhà gần thì đã ba lô khăn gói đi ngay từ chiều hôm nghe thông báo, chỉ còn những người ở xa phải chờ cắt lương thực, hộ khẩu là sẽ lên đường.

Các thầy thì đi vắng cả, còn lại ai thì cũng bận họp liên miên, chả lẽ lại cứ xông vào chỗ các thầy đang họp để hỏi thế thì bất lịch sự quá, rõ là sốt ruột mà không biết làm gì. Cũng đành về nhà cụ Tô Long nằm khèo một chỗ, đánh giấc để chờ vậy.

Giật mình dậy thì trời đã muộn Hằng vội vàng đi ra Thác Lở để tìm thầy chủ nhiệm. Vừa gặp đã nghe thầy nói:

- Thầy đi tìm để thông báo cho em biết quyết định của trường mà không biết em bỏ đi đâu.

Sau khi hỏi han đôi chút về nguyện vọng thầy kín đáo nói cho Hằng biết quyết định của trường về việc giữ Hằng lại để làm giáo viên của trường. Thầy dặn cứ bình tĩnh chờ đợi thông báo chính thức của trường. Lúc chi tay thầy còn nhấn mạnhS, thầy bảo:

 - Việc này đã bàn từ lâu, bây giờ chỉ còn chờ hiệu trưởng duyệt lại một lần để rồi ra quyết định là xong.

Hằng ra về với sự băn khoăn lớn mà không biết nói cùng ai. Kể ra mà nói việc được giữ lại ở trường là điều mong ước của rất nhiều người, chỉ có Hằng là lại không thấy thích lắm. Cái điều mà Hằng không thích xưa nay là công việc giấy tờ, công việc ngồi bàn giấy vậy mà ở lại dạy học thì chả phải cái nghiệp bàn giấy đó là gì . Tuy nghĩ vậy nhưng Hằng không thể nói ra vì nói ra về cái sự thích hay không thích ấy là không yên tâm công tác, không chấp hành kỷ luật, không chấp hành nhiệm vụ rồi thiếu vững vàng tư tưởng lập trường. Ngày ấy không kể chỉ có đảng viên, đoàn viên mà cả những ông bà dân thường khác cũng phải giữ vững lập trường tư tưởng.

Đã qua đi một ngày, số học sinh còn lại ở trường chả còn lại bao nhiêu vậy mà Hằng vẫn chưa nhận được thông báo gì về công tác của cậu. Chiều nay các thầy sẽ họp xong nên có thể quyết định sẽ khá muộn đây, Hằng nghĩ thế rồi đi đi, lại lại từ nhà ra trường để chờ thầy chủ nhiệm.

Có lẽ Hằng đi lại đến ba lượt thì mới gặp được thầy. Từ xa nhìn thấy thầy hình như có chuyện gì buồn thì phải nên Hằng không vội vã đến với thầy như mọi khi. Cậu cố tìm hiểu trong đầu và dự đoán linh tinh các lý do có thể xảy ra, nào là thầy gặp chuyện buồn trong gia đình, thầy có khúc mắc với thầy nào khác trong lúc họp chiều nay.

Thế rồi cái sự buồn ấy cũng được thầy nói ra. Câu nói của thầy có vẻ chậm rãi hơn ngày thường, hình như thầy cố chọn cách nói thế nào cho nhẹ nhàng nhất:

-Trường mình thế là sẽ phải giải thể em ạ!

Thầy dừng lại chờ xem Hằng có hỏi gì không. Có lẽ thầy nghĩ cứ để cho Hằng từ từ hỏi còn thầy giải thích có lẽ sẽ làm cho câu chuyện đi đến đoạn kết  bình ổn hơn chăng!

Thế rồi quả nhiên cách nói của thầy đã đưa được Hằng vào quỹ đạo của thầy. Chờ mãi mà chưa thấy thầy nói gì thêm Hằng đành hỏi:

- Có lẽ thế thì trường chẳng cần thêm giáo viên nữa phải không thầy?

Thầy không trả lời thẳng vào câu hỏi của Hằng mà thầy lại dùng câu hỏi để hỏi lại:

- Không còn được ở lại trường nữa em có buồn không?

Lần này thì Hằng lại im lặng làm cho thầy phải nhìn thẳng vào Hằng như có ý bảo hãy trả lời tôi đi chứ.

Tuy rằng Hằng cũng chẳng có ham thích ở lại trường nhưng mà từ khi thầy bảo cho Hằng biết, Hằng coi như mọi sự đã an bài rồi, đến nay lại thay đổi trách nào không thể không thấy cụt hứng, không buồn, không khó chịu. Hằng cũng không trả lời thẳng vào câu hỏi của thầy mà lại trả lời thầy bằng một câu hỏi:

- Thưa thầy…Không biết em sẽ đi đâu?

- Em sẽ đi Thanh Hoá! Trong ấy họ cần rất nhiều người để khôi phục nhà máy vừa bị đánh phá. Cũng hơi khó khăn đấy nhưng thầy tin là em sẽ vượt qua!

Đây cũng là buổi nói chuyện cuối cùng của thầy với Hằng, bởi ngày mai thầy được trường cho nghỉ phép về quê ở mãi tận Thái Bình đến hơn mười ngày thì phải. Trong câu chuyện tiếp theo giữa hai thầy trò Hằng nhận thấy hình như thầy muốn khoả lấp cái sự ân hận vì đã gieo vào lòng cậu học sinh yêu quý của mình một sự mừng hụt quá lớn.

Hằng không còn buồn về cái sự ở lại trường hụt nữa mà lại nghĩ về cuộc đi Thanh Hóa của mình sắp tới với bao nhiêu lo lắng, ưu tư. Hằng cũng nói về điều đó cho thầy nghe và khuyên thầy đừng buồn về sự việc vừa qua vì thực tế Hằng cũng không thích ở lại trường. Chắc thầy không tin điều đó là thật mà chỉ cho rằng cậu ta nói vậy để cố an ủi mình mà thôi. Dù sao thì cả hai thầy trò cũng đã tươi tắn trở lại. Hai thầy trò chia tay chào đi, chào lại trong khi hoàng hôn đang tím dần đi nơi xóm núi Thác Lở đầy kỷ niệm.

 

                                                           2

 

Sau một vài ngày về qua nhà chơi bời với các bạn bè và người thân Hằng lại gói ghém đồ đạc để đi nhận công tác. Hằng cũng biết là đi Thanh Hoá bây giờ là vào nơi chiến tranh nguy hiểm, nhưng cái sự nguy hiểm nó đến mức nào thì Hằng không biết, cho dù Hằng đã một vài lần gặp các cuộc oanh kích của bọn giặc lái Mỹ ở Mẹt, ở Thái Nguyên. Tuy nhiên sau mỗi đợt bom rơi đạn nổ thì mọi cái lại trở về trạng thái yên tĩnh nên cái sự chiến tranh cũng chẳng làm Hằng để tâm đến. Mẹ Hằng thì lo lắng lắm nhưng thấy con trai cứ tươi hơn hớn thì cũng thấy yên tâm hơn. Bà nhắc lại câu mà bà bảo đấy là lời bố Hằng nói lại sau khi xem đi xem tử vi của cậu từ hồi cậu còn bé tý.

- Bố mày bảo bỏ mày ở bờ tre, mày cũng không chết được.

Bà mẹ của Hằng là người không biết chữ, nhiều điều mà bà hiểu biết thường ngày đều là do bà nghe lại từ sự truyền khẩu từ người này qua người khác. Lẽ tất nhiên là bà rất tin ở chồng vì trong con mắt bà, ông là người hiểu biết hơn nhiều người khác nên ông đã nói là sẽ không sai.

Cũng không biết bà có tin thật về lời dự đoán của chồng không hay là bà chỉ muốn nhắc lại lời của ông để tự trấn an mình khi đứa con trai bé bỏng của mình sinh ra trong đói rét rồi lại nuôi nấng trong khó nhọc lắm mới lớn được ngần này sắp sửa đi vào nơi bom rơi, đạn lạc chín phần chết mới có một phần sống.

Hằng ra đi vào một buổi chiều mùa đông ảm đạm chẳng có cỗ bàn chia tay như nhiều người khác và chẳng có ai cho quà cáp hoặc tiễn đưa. Cũng vẫn là cái ba lô và một số đồ đạc mang từ trường về, hôm nay lại vẫn nguyên như thế để ra tầu. Chuyến tầu đêm Yên Viên sang Hà Nội chuyển tầu đi thanh Hoá tại ga Hàng Cỏ vào lúc hơn mười giờ. Tầu thời chiến không thắp đèn để phòng máy bay giặc phát hiện đánh phá vậy mà cũng chật ních như nêm cối. Có lẽ tầu quá dài và lại phải chờ các tầu khác nên nó đi chậm rì rì như rùa bò. Từ trong tàu nhìn ra chỉ thấy một màu đen của bóng tối cùng với những lùm cây, nhà cửa cũng một mầu đen thoắt hiện thoắt ẩn. Bên trong tầu mùi hơi người nồng nặc thật khó chịu, nhất là lúc tầu dừng lại chờ đợi hàng tiếng đồng hồ. Mọi người đều mệt mỏi thiếp đi dựa ngả vào nhau im lặng sau khi đã tranh nhau kể về chiến thắng này, chiến thắng khác ở miền Nam, rồi lại đến chuyện ta bắn rơi máy bay ở chỗ này, chỗ khác trên miền Bắc.Thực ra thì những tin tức trên đã được các đài phát thanh phát cả ngày rồi và có lẽ mọi người đều đã biết, thế nhưng mà họ vẫn cứ muốn nói để mà tự hào về những gì mà ta đã làm được trong cuộc chiến giữa một đất nước nhỏ bé với một tên đế quốc đầu sỏ đứng đầu cái thế lực thực dân, đế quốc của cả thế giới này.

Trời đã sáng rõ dần ra, mọi người đã tỉnh cả dậy và trở lại không khí ồn ào, ầm ĩ vốn có ở chỗ đông người. Tầu đã dừng hẳn lại sau một cú phanh giật lên, giật xuống mấy lần. Một giọng nói ề à theo kiểu nhà tầu cất lên thông báo về điểm trả khách cuối cùng bởi cầu Lèn bị hỏng chưa chữa xong, đường từ ga Thanh Hoá ra Lèn cũng vừa bị hỏng đêm qua, nên tầu tăng bo ở ga Thanh Hoá cũng không ra được. Thế là lại phải cuốc bộ dài dài đây, thật là cái số không may! Sao mà lắm cái không may đến thế.

Đang lóc ca lóc cóc với mấy thứ đồ đạc trên vai sải bước cùng với mồ hôi toá ra ướt đẫm cả lưng áo thì nghe có người gọi rối lên ở đằng sau. Kể ra thì nghe gọi đúng là tên mình nhưng cậu lại nghĩ trên đời này thiếu gì người có tên như thế, hơn nữa chỗ này làm sao mình có người quen được nên cậu chẳng thèm quay lại. Mãi đến khi có ai đó vỗ vào vai cậu mới giật mình quay lại. Đang định nổi đoá với cái người vừa làm cậu giật mình thì cậu lại há hốc mồm ra vì không phải ai khác mà là mấy cậu bạn cùng học một lớp của trường điện Thái Nguyên.

Trông thấy dáng điệu bơ phờ lôi thôi, lếch thếch của các cậu bạn làm cậu buồn cười quá, tý nữa thì sặc nước lên mũi. Cậu nghĩ có lẽ mình cũng giống mấy cậu bạn này nên hết ngẩng lên lại cúi xuống tự ngắm lại mình. Bắt tay nhau xong rồi tất cả lại cùng vừa đi vừa trò chuyện. Chuyện ồn ào hơn cả là Thạch Văn Bát quê ở Yên Viên, Gia Lâm. Bát mang ít đồ nên cậu ta đi rất khoẻ, kể chuyện như một cái máy. Lì xì ít nói hơn cả là Nguyễn Văn Mở quê ở Vân Trì, Đông Anh. Mở vừa thấp lại vừa bé nhưng gói đồ thì lại to quá trông  cậu ta cứ như một cậu bé con.

 

                                                            3

 

Quãng đường đi cũng đã dài  mà hình như càng ngày người đi đường lại càng thưa hơn thì phải. Sau khi vượt qua chiếc cầu sắt không có lan can được kê đỡ bằng những chồng tà vẹt từ dưới sông lên thì lại đến một chiếc cầu sắt đầy vết đạn cùng những thanh lan can cong queo rỉ đỏ, những tấm ván gỗ lát sàn bong ra  rải rác trên mặt thì các cậu không còn đường đi nữa. Đang thất thưởng vừa đi vừa ngó nghiêng, đoán già, đoán non xem đây có phải là cầu Hàm Rồng hay không thì có một người mặc quần áo gụ, dáng chừng là một nông dân vội vã đi ngang qua đầu cầu, thế là tất cả đều xô lại để hỏi thăm. Người ấy cũng không dừng lại mà còn đi nhanh hơn, vừa đi người ấy vừa trả lời:

- Đây chính là cầu Hàm Rồng đấy, các anh mau đi nhanh xuống phía cầu phao Nam Ngạn mà sang. Bây giờ đã gần đến giờ cao điểm, nó lại sắp đánh bây giờ đấy, mau đi nhanh lên!

Nghe đến đây thì các cậu mới giật mình hoảng sợ vội vàng chạy một mạch bên dưới chân một hòn núi đá loang lổ vết bom đạn để xuống đê tìm cầu phao Nam Ngạn. Đến khi qua được cầu phao rồi các cậu mới thấy được cái sự mệt mỏi do quá gắng sức. Mãi cho đến lúc này Hằng vẫn không khỏi ngạc nhiên về chuyện cái cầu và cả quang cảnh yên tĩnh trên suốt quãng đường đi từ sớm đến giờ. Hằng không thể ngờ rằng mình đã vừa đến được Hàm Rồng, nơi mà mới chỉ ít tháng trước đây được nhắc đến như là một nơi khốc liệt của chiến tranh. Còn nữa, nơi mà cả nước ngưỡng mộ bởi những chiến công oanh liệt vào loại bậc nhất trên miền Bắc của những con người và mảnh đất nơi đây. Cái ngọn núi lở lói kia có phải là núi Ngọc hay không mà sao tất cả đều im lặng, bình thản đến lạ kỳ.

Vừa đi vừa quay nhìn lại nơi mình vừa mới đi qua Hằng nhận ra một khu vực nhà cửa khá đồ sộ nhưng đã bị bom đánh trơ ra. Các bức tường gạch đỏ nham nhở vết thương bên cạnh là những thanh sắt như những con rắn ngóc đầu uốn lượn thành những đường cong kỳ dị phô cái màu rỉ nâu đỏ trông đến thảm hại. Từ xa nhìn lại ta như thấy cả sự hoang tàn đổ nát của nó hiển hiện trên bầu trời màu chì xám ngắt, có cái gì đó làm cho ta phải gai gai trong ý nghĩ về những gì rất nguy hiểm sẽ sắp sửa xảy ra.

Cầu phao là những đám tre luồng, ván gỗ hỗn độn lát trên những thùng phao bằng thép nối vào nhau nổi trên mặt nước. Những khi yên tĩnh các phao được chắp nối vào nhau cho người và xe đi qua, những khi có máy bay thì lại được tháo ra sơ tán dọc theo hai bờ đê. Kể ra mà nói thì đáng lẽ ra lúc này cầu đã phải tháo ra để sơ tán, nhưng vì thời tiết hôm nay có vẻ xấu, giặc Mỹ cũng ít hoạt động vì thế nên cầu vẫn còn để đến bây giờ. Số khách qua cầu cũng đã được nhắc nhở đi nhanh để cho các nhân viên tháo cầu sơ tán.

Con đường đê nối từ đầu cầu phía nam vòng vào giữa làng Nam Ngạn rồi đi tiếp lên phía thị xã chắc đã nhiều lần được đổ đá nên bề mặt có vẻ cứng. Rải rác có các đoạn bị bom đánh đã lấp lại nhưng vẫn tạo ra một khoảng lõm gồ ghề khá lớn chứa trong đó những ổ bụi ngập qua mắt cá chân, mỗi lần có cậu dẫm phải lại làm cho cả bọn chạy té ra hai bên để tránh. Vừa mới bắt đầu chạm vào đầu làng Nam Ngạn thì cả bọn gặp hai ông già mặc áo bảo hộ đạp xe đạp từ phía thị xã đi ra. Hằng nghĩ có lẽ đây là những công nhân ở trong khu vực này nên hỏi có thể họ sẽ biết cơ quan nhà máy điện ở đâu. Nghĩ thế nào làm thế ấy cậu liền đứng ra gần giữa đường có ý ngăn họ lại để hỏi thăm:

- Hai bác cho cháu hỏi thăm một tý ạ? Hai vị khách mặc áo bảo hộ liền phanh xe dừng lại, một người cao lớn có khuôn mặt rất vui cất tiếng sang sảng hỏi lại:

- Các anh hỏi gì nhỉ?

Hằng mau mắn trả lời:

- Chúng cháu ở trường điện lực được cử về Nhà máy điện Thanh Hoá công tác mà tìm mãi vẫn không biết cơ quan ở đâu, không biết các bác có thể chỉ đường hộ cho chúng cháu được không ạ!

- Thế hả! Chúng tôi là nhà máy điện đây.

Bác cao lớn vừa trả lời vừa chỉ tay vào người thấp nhỏ đi cùng với mình và nói như có ý giới thiệu:

- Bác này là bác Hổ tổ trưởng tổ sửa chữa máy, còn tôi là Long tổ trưởng tổ sửa chữa lò. Có cậu nào học sửa chữa lò không đấy?

- Dạ, chúng cháu đều là sửa chữa ạ, có cả lò và máy.

- Thế thì tốt quá rồi, bây giờ chúng tớ phải ra nhà máy, các cậu cứ theo con đường lớn này mà đi đến ngã ba Bia thì hỏi thăm đến khu nông lâm thổ sản là nơi phân xưởng cơ điện sơ tán về đó.

Nói xong hai ông già lại giơ tay chào rồi tiếp tục lên xe đi ra phía đầu cầu. Tất cả mấy anh em cũng bắt đầu  cuốc bộ về phía thị xã Thanh Hoá.

 

                                                     4

 

Vừa đi vừa hỏi thăm mãi rồi cũng đến được phân xưởng Cơ điện. Những người gặp đầu tiên lại chính là các cậu cùng lớp quê ở Thái Bình và Nam Định. Sau một hồi líu ríu chuyện trò, hỏi han nhau xong các cậu vào trước dẫn số mới lên gặp lãnh đạo trên phân xưởng. Không may cho các cậu là ông quản đốc lại lên nhà máy để họp, thế là các cậu đành kéo nhau về phòng của các bạn để nghỉ. Số bạn vào trước lại xuống nhà ăn báo cơm hộ rồi cả lũ kéo nhau ra ngoài phố uống nước. Với cái phố thị xã thời chiến lúc này thì cũng chẳng có gì đáng kể gọi là ngon để mà đãi nhau. Quanh đi thì nước mía, quanh lại cũng chỉ có nước dừa, uống mãi chỉ tổ đầy bụng, thế là lại về nhà. Mệt mỏi và buồn Hằng ngủ một mạch đến lúc mấy cậu bạn gọi đi ăn cơm mới dậy.

Xuống nhà ăn cậu thấy ai ai cũng lạ, mỗi người đều có những bộ cặp lồng hoặc ít ra cũng có mấy cái bát men to để đựng cơm canh và thức ăn mặn còn Hằng chẳng có một thứ gì. Đang không biết xoay xở ra làm sao thì có một người mang đến cho mượn bộ cặp lồng men vàng, người ấy lại bảo:

- Mấy thằng ấy nó ăn xong đã kéo nhau đi chơi hết cả rồi, chú mang đồ vào lấy cơm ăn đi không có nguội.

Lúc ấy Hằng cũng không biết anh ấy là ai, mãi đến sau này cậu mới biết người hôm ấy cho mượn cặp lồng là anh Tảo làm trong tổ máy mà sau này cậu cũng về làm việc ở đó.

Mãi tới chiều hôm sau số công nhân mới được phân xưởng bố trí về các tổ. Tất cả mọi người đều được bố trí vào các tổ theo đúng với nghề của mình. Lò về Lò, máy về Máy, chỉ có một vài người được về các tổ trong mô hình mới của phân xưởng ví như Thảo thì về tổ Van. Cũng có một số vào trước thì lại bị bố trí sang phân xưởng vận hành như Nhâm, Hưng, Vũ.

Hàng ngày các tổ đều phải đi bộ từ nơi ở ra nhà máy để làm việc. Quãng đường đi cắt ngang một cánh đồng khá rộng, vòng qua làng Đông Tác, bắt vào khe núi Cánh Tiên rồi mới vào nhà máy. Trên suốt dọc đường là những hố bom sâu hoắm, cái mới giáp vào cái đã cũ, nếu nhìn từ trên cao xuống ta cảm thấy giống như một cái bánh đa nướng với những chỗ phồng lên xẹp xuống kề cận bên nhau.

Khu vực nhà máy còn bị tàn phá càng ghê gớm hơn sau ba ngày từ hai mốt đến hai ba tháng chín năm sáu sáu. Toàn bộ khu lòng chảo của nhà máy được bao lại bởi phía bắc là khu công nghiệp máy xay cùng với đường đê nam sông Mã, phía tây là con đường sắt cùng với cầu Chui chạy dọc chân núi Mắt Rồng, phía nam là dãy đồi Quyết Thắng và phía đông là núi Cánh Tiên đã bị giặc Mỹ đổ xuống hơn bẩy ngàn tấn bom đạn. Theo như đài địch tuyên truyền lúc bấy giờ là chúng đã huỷ diệt hoàn toàn nhà máy điện này của Việt Cộng. Sự thật phải nói rằng hầu như toàn bộ mảnh đất đã bị cày xới, đào ngoáy lên không còn sót một chỗ nào rộng quá chục mét vuông. Còn việc có huỷ diệt được như kẻ thù đã nói thì hoàn toàn không, bởi vì sau đó không lâu nhà máy lại đã phát điện trở lại. Có điều đáng nói là cho dù ác liệt là thế mà đơn vị vẫn bám lò, bám máy để sản xuất, sự mất mát lớn nhất lúc ấy là sự  hy sinh của một người chiến sĩ tự vệ nhà máy.

Công việc sửa chữa chính bây giờ là làm sao để nhà máy sớm đi vào hoạt động. Ngoài những việc tháo gỡ các dầm xà bê tông nặng hàng dăm chục tấn ra khỏi các thiết bị còn có một việc là phải hàn vá mấy miếng thủng trên mình nồi hơi. Đây là việc nan giải nhất cần phải bàn bạc, bởi việc hàn vá nồi hơi là việc không được phép làm trong quy trình quản lý và sử dụng các thiết bị áp lực.

Thực ra những người chủ trương hàn vá nồi hơi  không phải họ không biết điều đó, họ đã nghĩ rằng họ có thể gặp điều không may do làm sai quy trình, nhưng họ hiểu sẽ còn không may hơn là nếu không có điện phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu, thì rồi cái sự tàn sát của kẻ thù còn làm cho cái sự chết chóc lớn hơn thế rất nhiều. Sự quả cảm và ý chí quyết thắng đã cho họ có một tiếng nói chung là phải làm cho bằng được.

Ngay sau khi có chủ trương hàn vá nồi hơi là công việc được tiến hành ngay. Những người cán bộ đảng viên và những bộ phận có chuyên môn này được huy động tới mức cao nhất. Lực lượng công nhân mới cũng được tập trung vào công việc ngay trong những ngày đầu tiên về phân xưởng. Đắp lò, cắt phôi, nung phôi cho đỏ rực lên rồi dùng búa cái bẩy cân thay nhau đánh xuống bề mặt những tấm tôn thép dày gần ba mươi ly để uốn thành các tấm có hình cong phù hợp với hình dáng của nồi hơi. Rồi cắt gọt, tạo vát, đánh bóng cả chỗ thủng lẫn miếng vá chuẩn bị cho công nghệ hàn vá. Sau này Hằng được biết công việc ban đầu mà các cậu đã được tham gia ở một vài công đoạn đã được thực hiện thành công và được ca ngợi hết lời trong ngành điện.

 

                                                         5

 

Những ngày sống ở ngã ba Bia thật là náo nhiệt, náo nhiệt bởi đám trẻ mới từ vùng ngoài chuyển vào  ăn chơi, phá phách. Chỗ nào cũng thấy bóng dáng của họ lồ lộ ra bởi sự khác lạ trong ăn mặc, đi đứng, nói cười, cả trong lúc đi làm việc cũng như trong khi họ vui chơi. Nhất là những ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ, họ ở xa không thể về nhà được, thế là từng đoàn kéo nhau đi rong khắp các phố từ sáng đến chiều.

Từ lâu nay những người dân ở cái thị xã của khu vực giáp khu Bốn miền Trung này luôn sống rất bình lặng cả về mọi mặt, thế mà chỉ sau có mấy ngày những cái đầu xoáy tây Đức, những bộ tóc mai uốn cong, những đuôi tóc rậm rạp ốp vào gáy chờm ra cả bên ngoài cổ áo cứ bất chợt xuất hiện làm cho lớp người lớn cảm thấy khó chịu khi gặp ngoài đường, còn lũ trẻ mới lớn thì trố mắt ra mà nhìn với vẻ thích thú và tán thưởng, và cũng  không lâu sau đã gây phiền toái cho những ông thợ cạo về những yêu cầu mới cho những cái đầu của họ. Lại còn quần áo của họ mới thật đáng sợ, có cậu thì quần bó sát mông, sát cẳng, có cậu thì lại loè xoè với chiếc quần ống loe mà lỗ miệng gấu quần rộng đến mức cả con lợn con chui vào cũng lọt.

Chỉ với mức lương bậc hai thôi nhưng mỗi ngày đến nhà máy là mỗi người lại được thêm tiền đi đường, tiền độc hại, tiền bồi dưỡng hiện vật thành ra mỗi ngày họ cũng được gần đến một đồng nữa, nên lương của họ đã tương đương với lương của công nhân bậc năm chứ đâu phải ít. Lẽ dĩ nhiên là họ tiêu pha xả láng bởi họ đều chưa có gia đình, chưa phải lo toan cho ai khác ngoài cái bản thân của họ. Nhưng cái chính là họ xa nhà và lại còn quá trẻ, cái sự ham chơi và cả cái bệnh sĩ diện, thích tỏ ra mình là người sành điệu ăn chơi theo kiểu thành phố lớn mà ra. Kỳ thực thì đa số họ sinh ra, lớn lên ở các vùng nông thôn là chính. Trước đó chưa  lâu họ cũng vẫn cày bừa, gặt hái lăn lê ngoài đồng ngoài ruộng như những người dân thôn quê thực sự chứ cũng chẳng ghê gớm gì đâu. Tuy chơi bời vậy nhưng sự dũng cảm, lỳ lợm trong bom đạn, sự cần mẫn, sáng tạo trong lao động sản xuất và các việc hoạt động trong đời sống hàng ngày thì không ai có thể chê họ vào đâu được.

Công việc phục hồi nhà máy gần xong về cơ bản thì việc phục hồi nhà máy thuỷ điện Bàn Thạch cũng đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thành, thế là lại phải thành lập một bộ phận mới để làm công việc này. Một chuyến ô tô tải với đủ cả người lẫn máy chồng chất lên đó để đi lên Thọ Xuân làm việc đã khởi hành. Hằng và một số bạn ở các tổ khác cùng với một số công nhân cũ đã lên Thọ Xuân ngay sau cuộc họp phân xưởng buổi chiều hôm đó.

Sau khi dỡ hàng xong thì mọi người được phòng hành chính của Bàn Thạch dẫn đi đến các nhà dân quanh khu vực nhà máy để ở trọ trong những ngày phục hồi nhà máy. Hằng được dẫn đến một gia đình ở ngay cạnh đường rẽ vào xí nghiệp Công nông của huyện Thọ Xuân cũng sơ tán gần khu vực nhà máy. Cũng chỉ kịp ném cái túi du lịch bằng bạt cùng với chăn màn quần áo xuống cái giường mà chủ nhà dành cho mượn xong là vác bát ra nhà ăn để ăn cơm tối. Ngoài việc ăn uống các cậu trẻ còn chuyện vãn một lúc lâu nên mãi tối mò mới về đến nhà trọ.

Rửa ráy xong xuôi Hằng mang từ trong túi ra bàn một gói bánh nướng cùng với một gói nhỏ các loại kẹo của công ty bánh kẹo Thanh Hoá làm ra và bán phân phối cho cán bộ công nhân nhà nước. Gọi là bánh nướng cho sang vậy thôi chứ thực ra thì cái chất trong nó chẳng có gì. Tất cả đều là bột mỳ trộn đường, ngào nước làm vỏ bọc một chút nhân bên trong cũng bằng bột mỳ lẫn bột khoai với một tý đậu không biết là loại đậu nào được trộn nhiều đường hơn một chút cho giống kiểu chè kho ở vùng ngoài rồi đem nướng lên trong lò như nướng bánh mỳ vậy thôi. Còn kẹo thì càng thảm hại hơn nữa, nó cũng được trộn bằng bột mỳ với đường rồi nhào lẫn với vài mảnh lạc rang, cán ra cắt thành thỏi vuông bằng ngón tay cái bọc giấy vào là thành. Có lẽ nên gọi nó là viên chè lam chế biến hơi khô thì đúng hơn, chè lam còn được làm từ gạo nếp chứ kẹo của Thanh Hoá lúc ấy thì thật đáng ngại.  Cánh công nhân trẻ vẫn quen gọi loại kẹo này là gạch xỉ tro lò bởi nó tuy nhỏ nhưng màu của nó, dáng của nó có cái kích thước rất tỷ lệ với viên gạch được đóng bằng xỉ lò với một chút vôi rất chi là khiêm tốn.  Kể ra mà nói thì lúc ấy có những thứ ấy cũng đã là quý lắm rồi vì chỉ ở cơ quan nhà nước mới được phân phối còn ở ngoài thị trường làm gì có mà mua vì vậy mà mấy đứa trẻ con nhà chủ vẫn rất say sưa ăn đến viên kẹo cuối cùng, lẽ dĩ nhiên là các cô, các cậu nhí rất thích ông anh công nhân trẻ và trắng như con gái vừa đến ở nhà mình.

Sau khi hỏi han về gia đình rồi quê quán của người đến ở trọ xong cả ông lẫn bà đều xởi lởi thông báo về hoàn cảnh của nhà để cho cậu khách bất đắc dĩ tiện trong sinh hoạt hàng ngày. Qua thông báo của nhà chủ Hằng biết được nhà có người con lớn là một cô bé mới độ mười sáu tuổi cao lều nghều vừa chạy ở đâu về là thụt ngay vào buồng với mẹ. Thế có lẽ cũng tốt, cũng đỡ cho mình khỏi phải giữ ý, giữ tứ; một việc mà cậu vẫn rất ngại từ trước đến giờ.

Máy thuỷ điện của Bàn Thạch công suất rất nhỏ, cả ba máy chỉ có chín trăm ki lô oát, được đặt đứng xuyên qua ba tầng nhà máy. Phần dưới cùng là buồng xoắn cùng với thùng côn, các cửa hướng nước và ba cánh quạt của tua bin to như những cái nia. Phần giữa là cấu trúc ổ trục định hướng bằng cao su cùng với các đường nước lọc bôi trơn cho trục khi quay. Tầng trên cùng là máy phát điện cùng với thiết bị điều khiển và các máy ngắt. Tất cả tầng trên được che chắn bằng một giàn gỗ xẻ xếp chồng lên mấy lớp để phòng khi máy bay đánh phá không làm cho máy bị hỏng quá nặng. Lần đánh phá vừa qua chỉ làm cho các thiết bị ngoài nhà máy bị hư hại, còn nhà máy chính có lẽ chỉ  bị nghiêng đi một chút thì phải. Tuy vậy công việc phục hồi cũng không thể một sớm, một chiều mà xong được.

 

                                                      6

 

Các công việc phục hồi cuối năm 1966 của nhà máy điện được kết hợp với việc vét đất cát trên lòng sông nông giang khơi thông dòng chảy ở phía thượng lưu nhà máy do địa phương đảm trách nên cùng một lúc có đến hàng mấy trăm người cùng làm việc trên một khu vực. Những chàng trai, cô gái vừa làm vừa trêu ghẹo lẫn nhau, tiếng hò, tiếng hát ầm vang tưởng như đất nước đang ở khung cảnh thanh bình nếu như thỉnh thoảng không có tiếng rít của các máy bay Mic cất cánh bay lên từ phía sân bay Sao Vàng gần đó để cảnh giới và chặn đánh bọn Thần Sấm, Con Ma của Mỹ vẫn cắn trộm hàng ngày.

Cũng chỉ không quá mười ngày thì đám dân công của các xã quanh khu vực nhà máy cũng đã rút hết chỉ còn trơ lại mấy người công nhân sửa chữa. Công việc phục hồi ở khu cửa điều tiết, khu âu thuyền và cả các cửa cống thượng lưu tuy nhiều nhưng lại đơn giản nên số công nhân sửa chữa cũng đã rút bớt về thị xã, chỉ còn bốn năm người của tổ máy là phải ở lại. Trong số họ hầu như đều đã có gia đình cả chỉ còn ba người chưa có gia đình thì trong đó Loan đã có người yêu sắp cưới, chỉ còn mỗi anh Khâu và Hằng là chưa có một tý tình yêu nào. Kể ra mà nói thì cả anh Khâu cũng đã có ý trung nhân rồi thì phải vì Hằng thấy các anh lớn vẫn nhắc đến để trêu anh Khâu về một cô Hải nào đó ở cơ khí 250 và một cô Dung nào đó ở trên khối văn phòng của nhà máy. Thường khi mọi người trêu, anh lại đưa hai tay ra khoanh một vòng từ trên xuống dưới vẽ ra một không gian dựng đứng thắt nhỏ ở giữa còn hai đầu thì phình ra cực lớn ý chừng như muốn bảo rằng mấy cô này lùn tịt còn mông và ngực thì lại quá to nên khó chấp nhận được. Chỉ có Hằng là hoàn toàn chưa yêu ai cả nên cậu rất vô tư luôn chỉn chu với công việc hàng ngày.

Sau tám tiếng ban ngày lại đến bốn tiềng ban đêm, về đến nhà là cậu lăn ra ngủ không còn biết giời đất là gì nữa. Kẻng báo động máy bay khua ầm khắp xóm mà cậu cũng chẳng chịu ra hầm. Hết bác trai lại đến bác gái chủ nhà vào dựng dậy cậu cũng chỉ nhỏm dậy một tý rồi lại ngã kềnh ra giường ngủ tiếp. Cũng có lần cậu bị đánh thức thì bất chợt thấy cô bé Hương con nhà chủ đang lôi tay kéo dậy. Lần ấy vì thấy cô ấy cầm tay kéo nên cậu đành phải dậy đi ra hầm, tuy vậy nhưng mà cậu cũng chỉ ngồi ngay trên miệng hầm mà không chịu xuống bên dưới.

Công việc sửa chữa khó khăn nhất là việc căn chỉnh độ thẳng đứng của cả hệ trục và độ trùng tâm của các đoạn trục nối với nhau mà từ trước đến nay chưa phải động đến. Lần này do bị đánh phá nên hệ trục bị sai lệch quá nhiều, nếu không điều chỉnh lại thì không ai dám quyết định cho chạy máy.

Việc căn chỉnh độ thẳng đứng và độ đồng tâm của hệ trục được tiến hành bằng cách đo khoảng cách từ trục ra đến các sợi dây dọi nằm ở bốn hướng quanh trục để biết độ sai lệch mà điều chỉnh. Việc đo đạc, lấy thông số thường phải làm rất lâu mới xong. Nhưng để có thể căn chỉnh được thì sai lệch của thông số trong quá trình đo đạc phải ở trong giới hạn cho phép mới có thể đem ra tính toán được. Việc này không phải là một việc khó, nhưng lại cần ở người đo có độ thính nhạy và thật sự đồng bộ giữa đôi tay và đôi tai để đến khi vừa nghe thấy tiếng kêu sột soạt ở tai nghe là dừng tay vặn Panme thì con số sẽ chính xác. Tuy vậy cái sự thính nhạy ấy không phải ai cũng giống ai. Chính vì thế mà những người đo có kinh nghiệm nhất cũng chỉ có thể tóm được một vài lần trong cả chục lần đo. Cái sự căn chỉnh buộc phải kéo dài có khi cả ngày mà vẫn không xong là thế. 

Sau mấy ngày Hằng cầm các cục pin và tai nghe theo sát người đo mà vẫn không xong được máy nào thì cậu cũng thấy nản. Lắm khi ngồi chờ đo buồn ngủ đến ríu cả mắt lại. Cứ mỗi lần thay đổi vị trí là anh Khâu và anh Dưa lại phải gọi cậu dậy để chuyển chỗ. Mỗi lần bị gọi dậy cậu lại lơ ngơ như mới lạc ở đâu về làm cho các anh ấy buồn cười đến rũ cả ra:

- Bò lạc của nông trường đây, chúng mày ơi!

Đo chán lại nghỉ uống chè và hút thuốc lào, nước  thuốc xong rồi lại đo nhưng cũng chẳng hơn gì. Cũng đã mấy ngày rồi mà vẫn chưa xong lấy một tổ máy, ai cũng thấy mệt mỏi. Vừa hút xong điếu thuốc anh Khâu vừa thở vừa phàn nàn về công việc với vẻ chán chường, mệt mỏi. Lưng dựa vào thành Stato máy phát điện, hai chân để soải ra trên mặt đất anh Khâu ngoái đầu về phía Hằng:

- Này! Da tay mày có vẻ mỏng, lần này cho mày đo thử để tao cầm pin cho.

Suốt mấy ngày phụ đo vừa rồi cậu cũng đã hiểu cách đo rồi nên nghe nói vậy cậu cũng chẳng từ chối mà đứng lên để đo ngay. Cũng phải mất một lúc lâu  cậu mới đo xong tám điểm đo. Anh Khâu đặt bộ pin xuống để cầm lấy bản ghi các thông số của cậu rồi anh lại bỏ ngay bên cạnh đó để hút thuốc lào vẻ như không tin là cậu ta có thể đo được.

Đang nói chuyện với mấy người ngồi cạo rỉ cho đỡ buồn ngủ phía cửa ra vào thì nghe anh Khâu gọi váng lên:

- Này, cậu ghi chính xác đấy chứ?

- Vâng! Em ghi đúng như khi đo từng điểm một mà lại!

- Thôi lần này cậu đo xong rồi cậu đọc cho tớ ghi xem sao.

Cũng chỉ trong một thời gian ngắn cậu đã đo xong tám điểm trên trục, lần đo này có vẻ còn nhanh hơn lần trước. Vừa tháo tai nghe ra, cậu đang định chạy đến chỗ mấy anh bạn để tiếp tục câu chuyện dở lúc nãy thì anh Khâu lại gọi giật lại:

- Chớ đi vội, cậu đo lại cho tớ một vài điểm này nữa xem sao.

Hằng lại tháo dây buộc Panme đo theo chỉ dẫn của anh Khâu, có đến bốn điểm nữa thì anh Khâu mới bảo dừng lại và ra hiệu cho cậu đi ra. Sau một hồi tính toán anh lại gọi cậu lại và bảo:

- Này cậu đo ghi đúng đấy chứ?

- Anh ghi đấy chứ có phải em đâu!

- Ừ! ấy là tớ bảo cậu không được đọc số giả đấy nhé!... Kẻo đến khi máy hỏng là cả tớ và cậu đều vào nhà đá tất.

Dừng một chốc anh Khâu lại nói tiếp:

- Thôi, hôm nay thắng lợi cho các cậu nghỉ sớm.

Nhìn đồng hồ trên tường thấy đã bốn giờ, tất cả đều vòng xuống hạ lưu để rửa tay rồi ra về. Suốt cả mấy ngày vật lộn với căn chỉnh, mãi đến hôm nay mọi người ra về mới cảm thấy nhẹ nhõm đi đôi chút.

 

                                                            7

 

Chiều thứ bẩy hôm nay tất cả nhóm được xả hơi sau gần một tháng làm liên tục cả ngày sang đêm không nghỉ. Cái chính là muốn cho một số anh em ở gần về qua thăm nhà chứ còn cái bọn thân đơn, gối chiếc như Hằng thì chỉ muốn làm nhanh cho xong để về thị xã cho sớm. Hình như mấy hôm trước anh Côn bên vận hành có hẹn Hằng ở nhà để nói điều gì thì phải, thế mà đã gần hai giờ chiều rồi vẫn chưa thấy đâu. Chờ mãi sốt ruột Hằng quyết định đi lên huyện và một vài nơi quanh khu vực xem có gì hay không.

Vừa dạo bước trên bờ đê Hằng vừa nghĩ nếu như không có chiến tranh phá hoại mà Mỹ đang tiến hành ở trên miền Bắc thì có lẽ không khí nơi này chắc cũng rất vui. Làm sao không vui cho được với một vùng quê đẹp tựa tranh như thế này. Làng Tây Hồ ở bên trái còn  làng Xuân Quang ở về mé bên phải của con sông nông giang tràn ngập một màu xanh ngăn ngắt của dừa và các cây ăn quả khác. Xen kẽ với những tán cây là những mái nhà lợp lá kè bàng bạc cùng với một đôi làn khói đang lên, ta như thấy có một cái gì đó thật là gần gũi, gắn bó và thân thiết như chính nơi quê hương của mình vậy. Lại nhớ hôm nào mới đến, dòng sông nông giang nước trong xanh chảy chầm chậm bên dưới chiếc cầu xi măng uốn cong bắc qua trông thật nên thơ. Một vài con đò nhỏ lách cách gõ mái chèo đuổi cá. Cũng có lúc thì cả một đoàn các bè tre nứa, luồng gỗ nối đuôi nhau dừng trước âu thuyền để chờ dâng nước vào âu đi tiếp xuống phía hạ lưu. Từng đàn trâu bò gặm cỏ trên các triền đê thoai thoải giống như trên nền một tấm thảm xanh được gắn vào đấy những bông hoa chấm vậy. Xa xa hơn nữa là những dãy núi nhấp nhô mờ trong sương khói trông thật huyền diệu. Thật may mắn cho những người có một vùng quê đẹp như thế làm nơi chôn rau, cắt rốn.

Phố huyện Thọ Xuân cũng chỉ có một vài ngôi nhà của các cơ quan huyện và các cửa hàng là to lớn hơn cả. Các ngôi nhà dân thì nhỏ bé, kế tiếp nhau chạy dọc con phố. Có đến hơn một nửa số nhà dân vẫn là nhà tranh, lá lụp xụp. Ngay tại trung tâm huyện là nơi tập trung một số cửa hàng của nhà nước như cửa hàng hàng thực phẩm, cửa hàng bách hoá, cửa hàng công nghệ phẩm xen kẽ cạnh nhau. Hàng hoá chủ yếu được công ty cấp ba phân phối về để cung cấp cho các cơ quan. Qua hết đợt phân phối là hàng lại hết sạch không còn gì cả. Các hàng lẻ của tư nhân cũng chẳng lấy gì làm phong phú cho lắm, vì hàng ở đây cũng đều do được tuồn từ nơi sản xuất của nhà nước ra là chính. Người bán cũng chỉ muốn ăn chênh lệch một chút gọi là đối với những người không  có tiêu chuẩn cung cấp.

Toàn bộ cái thị trấn ở vùng trung du này nằm trong diện gần như nghèo nàn nhất trong cả nước. Có lẽ do sống trong cảnh thời chiến nên họ cũng chẳng muốn củng cố, xây dựng làm gì, vì nay bom, mai đạn chả biết có được nguyên vẹn hay không. Sau khi vào hàng kem mậu dịch ăn vài cái cho đỡ nhớ Hà Nội rồi Hằng lại cuốc bộ để về Bàn Thạch.

Cũng đến nhá nhem tối Hằng mới về được đến nhà ăn tập thể. Bác Trường cấp dưỡng mang cho Hằng một bát cơm to và một bát canh rau ngót, một chốc bác mới lại mang ra cho cậu một đĩa thịt kho, bên cạnh lại còn có một khúc cá nheo hầm lá riềng thơm phức.

- Bác Trường ơi! Sao hôm nay phong phú thế?

- À chả là cậu về hơi muộn nên tớ để dành hơi khá hơn một chút!

- Thế thì hôm sau cháu lại về muộn.

- Còn có hôm sau nữa ấy à! Có mà tớ cho cậu nhịn vì tớ cũng phải về nhà với vợ con tớ chứ.

Đến lúc này cậu mới nhận ra là cậu đã làm phiền bác Trường thì chuyện đã rồi. Cậu vội nói như là có ý xin lỗi bác:

- Đến lúc đó bác cứ treo ngoài bờ rào cho cháu!

- Thế có mà…!

Bác Trường vừa nói đến đây thì đã nghe ồn ồn ngoài cửa nhà ăn, đúng là giọng ông Khâu rồi! Không biết có chuyện gì mà hối hả thế không biết được. Vừa thò đầu vào cửa nhìn thấy Hằng là anh đã phán một thôi một hồi làm cho Hằng không kịp hiểu điều gì ra điều gì cả.

- Này cậu có biết người ta đợi bao lâu không hả?

- Chiều nay anh cho nghỉ cơ mà? Có việc gì đột xuất thế anh?

- Này cậu cũng thiên biến vạn hoá vừa vừa chứ, hôm nọ mới bảo chưa có cô nào thế mà hôm nay có đến hai cô đến hỏi thăm có chết không chứ?

- Anh nói thế nào chứ mãi hôm nay em mới được đi chơi làm gì có quen ai mà có người đến hỏi thăm! Có chăng là mấy cô dân công ở Xuân Thành hôm vào thau bể lọc thì anh cũng biết rồi còn gì? Với lại hình như họ có cảm tình với anh thì đúng hơn chứ không phải cảm tình với em.

- Chả lẽ cái cô Ba, Tư nào đấy tròn như cái hạt mít ấy lại không phải là bạn của cậu?

- Làm gì có! Em thề đấy!

- Hay là cô ấy hỏi thăm Hằng gò nhỉ? À mà hai cô này là do ông Côn điếc miền Nam dẫn đến mày ạ.

 

                                                             8

 

Cơm nước xong cả hai anh em lại cùng ra về. Vừa đi Hằng vừa nghĩ chả lẽ anh Côn hẹn mình chiều nay đến là vì việc của hai cô này. Không có thể thế được, vì từ khi mình vào Thanh Hoá mình chưa quen ai, chắc có lẽ là hai cô này quen một Hằng nào khác mà anh Côn ngộ nhận là mình. Mọi việc rồi cũng qua đi, mãi cho đến chiều hôm sau đang định theo hẹn đi chơi với mấy anh ở vận hành thì anh Côn đến, anh Côn đến còn dẫn theo hai cô gái thật, đúng là hai cái hạt mít như anh Khâu nói tối qua. Nhìn xa thì thấy hình như hai người này cũng hơi quen quen nhưng không làm sao nhớ ra được. Mãi đến khi ba người vào đến cửa rồi mà Hằng vẫn như người mộng du ở đâu ấy. Chỉ đến khi một cô gái bật quát lên:

- Không nhớ à! Tuyn, Tuýt, Tư đây! Đã nhận ra chưa?

Đến lúc nay thì Hằng mới bừng tỉnh và nhận ra mấy cô gái Thanh Hoá cùng học năm lớp bẩy hồi nào.

Ngày ấy ba cô gái quê Thanh theo người nhà ra Hà Nội sơ tán. Chả biết thế nào lại vào học cùng lớp với Hằng ở tận trường Cổ Loa. Tuy Hằng không quen thân lắm nhưng mà cũng đã có lần họ đến thăm nhà của Hằng. Lúc ấy họ có nói quê ở Thanh Hoá nhưng Hằng chẳng để tâmN, chỉ là nghe rồi biết vậy mà thôi. Thế mà làm thế nào quả đất quay tròn họ lại gặp nhau tại nơi xa tít mù tắp này cơ chứ?

- Này thế còn Tuyết cao đâu mà không thấy?

- Tuyết cao ở lại học tiếp cấp ba, chỉ có mình và Tư là về nhà thôi.

- Thế chả lẽ quê của các bạn lại ở đây à? Từ ngày ấy đến giờ các bạn đã làm gì rồi?

Cả hai đều gật đầu thay cho câu hỏi, mãi sau rồi Tư cũng lại trả lời tiếp:

- Bọn mình về giúp nhà làm ruộng thôi… Mãi hôm rồi nghe anh Côn nói có cậu ở Cổ Loa vào mình đoán ngay là cậu nên ra thăm xem đã có gì đổi mới chưa!

Tư vừa nói chửa dứt lời thì Tuyên đã cướp lời nói tiếp:

- Này, đợi suốt cả chiều hôm qua mà không thấy về. Chắc đã có cô nào ở gần đây hay sao mà đi kỹ thế không biết?

Mấy người bạn đã lâu mới được gặp nhau nên có không biết bao nhiêu là chuyện. Hết người này lại đến người kia hỏi rồi trả lời. Đầu tiên là hỏi về những người đang có mặt, tiếp sau đó là hỏi và trả lời về những người bạn mà họ cùng quen biết. Hằng cho họ biết ngoài Hằng có mặt ở Thanh Hoá còn có cả Nội, Thảo ở lớp 7A cũng đã vào Thanh nhưng họ còn ở Hàm Rồng. Cánh trẻ mải chuyện đến nỗi gần như quên hẳn sự có mặt của anh Côn, mãi đến một lúc lâu sau anh Côn mới có dịp chen vào câu chuyện được. Bằng giọng nói đặc sệt của vùng quê Nam Bộ anh kể về cuộc gặp của anh và Hằng. Cũng qua câu chuyện của hai người mà anh biết được Hằng có quen với mấy cô gái của làng Tây Hồ. Bất ngờ hơn cả là việc anh chính là chồng chị Lượng là cán bộ phụ nữ ở xã Dục Tú của Hằng. Đến lúc ấy thì Hằng mới hiểu ra mọi sự. Thì ra bữa trước hai anh em kể cho nhau nghe về chuyện của mỗi người thì anh đã biết cái sự quen biết của mấy người rồi mà anh không nói gì cho Hằng biết, có lẽ anh muốn để cho Hằng bị bất ngờ như thế mới vui. Câu chuyện lại được chuyển sang những đề tài mới kéo dài đến mấy tiếng đồng hồ mà hình như vẫn chưa cạn. Đến gần bốn giờ thì anh Côn nói anh phải đi ca chiều nên anh sẽ về trước, anh dặn Hằng đưa Tuyên và Tư  về sau.

Cứ mỗi lần nhìn hai cô gái Hằng lại bật cười chả là vì ngày ấy ba cô gái Thanh vào lớp học, Hằng có hỏi tên của từng người để ghi vào sổ điểm thì cô Tuyên đã mau mồm, mau miệng chỉ vào từng người rồi cất đúng cái giọng Thanh Hoá của mình lên để giới thiệu:

- Tôi là Tuyn, đây là Tuýt còn đây là Tư…

Tuyên cũng mới chỉ nói đến đó thì tất cả những người đứng xung quanh đều đã bật cười ầm cả lên. Chả là vì tên của họ khi nói bằng tiếng Thanh Hoá đều mất đi chữ Ê thế nên các bạn vùng ngoài mới bật cười như thế.

Chuyện thêm được một lúc nữa thì cả hai cô cũng từ biệt để về. Hết chào đi, chào lại rồi lại hẹn đến chơi nhà mãi rồi mới chia tay được. Hai cô chắc là sợ bạn bè biết được sự quen biết này sẽ lại trêu đùa nên không cho tiễn mà chỉ tự mình đạp xe lai nhau về. Với lại nếu Hằng muốn đi tiễn thì cả ba sẽ lại cùng đi bộ vì Hằng đã làm gì có xe đạp.

Đến lúc ăn cơm buổi tối thì Hằng phải chấp nhận sự quen biết hai cô gái tròn như hai cái hạt mít với anh Khâu và tất cả mọi người. Tất nhiên là cậu lại phải kể toàn bộ câu chuyện ban chiều cho cả nhóm cùng nghe.  Vừa nghe kể một số anh trong nhóm cũng lại xen vào trêu cợt:

- Này cậu nói thế nào ấy chứ? Đã học mãi với nhau, lại đến nhà nhau rồi thế mà lại nhanh quên đến thế cho được!

- Thì em nói thật mà lại!

- Thế nào mà chả có tý cảm tình hay là cậu định giấu chúng tớ thì bảo. Này đến lúc có chuyện gì… thì đừng có bảo chúng tớ đứng ra giúp đấy nhé!

Mọi người đều cười ồn cả lên rồi kéo nhau ra nhà máy làm thêm giờ buổi tối.

 

                                                         9                            

 

Công việc phục hồi kết thúc xong thì cũng đã vào ngày hai mươi sáu tết. Những đồ dùng nặng chuyên dụng đã được lau chùi bàn giao cho anh Đà là công nhân sửa chữa theo ca của Bàn Thạch cất vào kho của nhà máy. Một số dụng cụ cầm tay thì anh em có xe đạp đã chở về Hàm Rồng từ chiều hôm qua. Cả nhóm chỉ còn ba anh em Khâu, Hằng và Loan ở lại chạy nghiệm thu rồi chờ xe lên đón về sau.

Việc nghiệm thu cũng rất nhanh chóng vì phần cơ sử lý tốt hơn hẳn so với mọi lần. Máy chạy êm không hề có một tý rung động nào. Việc hòa điện lên lưới của máy thuỷ vốn đã rất dễ nay lại càng nhanh hơn. Cánh anh Tiếp kều nhận máy cười tươi rói bắt tay cánh cơ điện ra ý chúc mừng.

Ba anh em chờ suốt cả ngày hai bẩy sang ngày hai tám tết vẫn chẳng có xe. Mãi đến gần tối ngày hai tám ông Huy quản đốc mới báo tin là phân xưởng Cơ điện đang phải tập trung sơ tán khỏi thị xã lên cây số tám Rừng Thông nên không có xe, các anh em ở lại qua tết hãy về. Vừa buồn, vừa chán, mấy anh em đi rong khắp nơi quanh khu vực rồi lại về ăn cơm ở bếp tập đoàn. Xung quanh khu vực từ các nhà dân đến nhà công nhân cơ khí huyện cũng đang ráo riết chuẩn bị cho đón tết. Nào là các mặt hàng về thực phẩm, hàng nhu yếu phẩm và cả đến những hàng xa xỉ phẩm dùng cho tết cũng đã được bày đặt đầy ở các chợ. Các cơ quan cũng đã tổ chức đi lấy hàng từ các cửa hàng công nghệ về cho đơn vị của mình. Chỉ có ba anh em là phất phơ đây đó chả biết làm gì.

Tối ấy Hằng đi ngủ muộn nên đến sáng hôm sau trời sáng rõ rồi mà cậu vẫn còn ngủ say mê mệt. Các bác nhà chủ cũng không muốn gọi cậu dậy sớm vì họ nghĩ cậu phải ngủ bù đợt phục hồi vừa rồi. Vẫn đang còn say sưa trên giường thì đã thấy anh Khâu vào kéo dậy.

Vừa bị dựng dậy, còn ngái ngủ nên Hằng chẳng biết anh Khâu vừa thì thầm bên tai điều gì. Mãi đến hơn mười phút sau cậu mới hiểu ra câu chuyện anh Khâu kể về nội dung cuộc họp của bộ phận công đoàn Bàn Thạch bàn soạn về việc tết cho mấy anh em bên Cơ điện mà anh nghe được tối qua. Chả biết cái sự bàn bạc có những ý kiến thế nào mà anh Khâu bảo anh đã nghe được có một vài ý kiến không vui vẻ lắm khi phải  chia sẻ hàng tết cho số khách bất đắc dĩ là cánh ta.

Không ai còn lạ gì hoàn cảnh của cả nước trong những năm tháng chiến tranh. Cho dù chỉ là vài cân ngô răng ngựa mọt mang ra để trợ cấp thôi cũng phải xét lên, xét xuống mới xong được, huống hồ đây lại là những hàng nhu yếu phẩm phân phối theo tiêu chuẩn của từng người, làm sao mà chẳng có ý kiến lên, ý kiến xuống. Tuy vậy khi nghe nói có một người nào đó cứ cân lên, đặt xuống một cái việc rất chi là vật chất mà lại dính dáng đến mình thì cũng chẳng lấy gì làm hài lòng cho lắm. Cũng chính vì thế mà sau khi nghe đến câu chuyện trên thì tất cả ba anh em đã quyết định đi bộ về đơn vị cũ để tránh làm khó dễ cho đơn vị bạn. Thế là sáng hai chín tết năm 1966 ba anh em khăn gói quả mướp cuốc bộ gần bốn mươi cây số để về thị xã.

Ngay từ tám giờ sáng cả ba người đã bắt đầu khởi hành. Đầu tiên đi dọc theo sông nông giang trước nhà máy để xuôi về Hậu Hiền rồi về tới Ngã ba Chè và đến gần sáu giờ tối hôm đó thì về đến cây số tám Rừng Thông. Phân xưởng cũng vừa hoàn thành chuyến di chuyển cuối cùng về sân kho của một địa phương cạnh đường. Ông Tư quản đốc cũng chỉ kịp gặp bắt tay, hỏi han qua loa ba người xong là lại tiếp tục chỉ đạo công tác quản lý số hàng ở sân kho. Hàng nhiều nhất chỉ là của bộ phận cơ khí còn các tổ khác thì chẳng có bao nhiêu. Sau một hồi giúp các tổ thu dọn vật liệu xong thì Hằng mới đi về nơi ở của tổ ở trong làng Bản Nguyên. Trời thì tối nên Hằng chả biết cái làng ấy nó rộng hẹp, đẹp xấu ra sao, mãi đến khi vào gia đình ở trọ thì Hằng mới nhận ra số anh em trong tổ qua ánh đèn dầu. Vừa đặt túi du lịch và các đồ dùng xuống là cậu ngồi bẹt ngay xuống đất mặc kệ anh chủ nhà kêu đứng lên để anh giải chiếu.

- Anh cứ mặc kệ em, người em bẩn lắm, vừa rồi em lại bê vác một số đồ đạc cho tổ cơ khí nên cả tay cũng bẩn lắm.

Sau khi đã sắp xếp các bộ phận đâu vào đó thì cũng đã hơn mười giờ. Hằng được bố trí nghỉ ngay tại nhà anh chị chủ vừa đến mà không phải chuyển đi, thế là cậu lăn ngay ra ngủ một chập đến tận sáng hôm sau.

Tết đến mà như không ai biết gì về tết, người ta vẫn phải đi chuyển đồ đạc, còn nhân dân trong vùng thì cũng đang củng cố hầm hố để đề phòng giặc Mỹ leo thang gay gắt hơn trong thời gian tới. Bên cạnh đó lại còn việc phải cấy xong lúa chiêm xuân và các hoa màu khác nên hợp tác cũng chỉ nghỉ có hai ngày tết mà thôi. Tết thời chiến cái gì cũng gấp rút, cái gì cũng gọn nhẹ, cái gì cũng giảm tiện.

Thế là lần đầu tiên trong đời Hằng ăn tết ở xa nhà, xa những người thân. Tết mà như là không tết (!)

 

                                                      10

 

Những ngày tết đi qua thật nhanh chóng, tất cả mọi người lại tiếp tục với những công việc thường ngày của mình. Những trận đánh phá của kẻ thù ngày một dầy thêm, ngày một ác liệt thêm. Rất nhiều nơi xung quanh khu vực Hàm Rồng bị thiệt hại về người và của. Những trận địa pháo phòng không bố trí ở trên các đỉnh đồi hàng ngày phơi lưng ra để hứng những trận mưa sắt thép, rất nhiều các chiến sĩ đã hy sinh. Nhưng cũng chính những con người quả cảm ấy đã từng ngày giữ vững cây cầu nối liền huyết mạch giao thông từ Bắc vào Nam, từng ngày ghi thêm những chiến công vào trận chiến lớn lao của cả dân tộc trong cuộc đối đầu với tên giặc hung dữ nhất của thời đại.

Không chỉ có những chiến sĩ trực tiếp đánh giặc ở phương Nam, không chỉ những chiến sĩ ngồi trên mâm pháo bắn vào kẻ thù, còn cả những người lao động cũng ngày đêm đứng ở nơi trận địa ác liệt nhất để giữ vững công việc sản xuất ra thóc, gạo, ngô, khoai, thịt, cá, muối, rau nuôi sống mọi người họ cũng đã như những người lính xung trận góp phần vào chiến thắng chung to lớn ấy.

Những người công nhân ngành điện lại càng gặp nhiều nguy hiểm, khó khăn hơn khi kẻ thù ngày đêm nhằm vào những nơi như thế để mà đánh phá, để mà huỷ diệt. Mỗi ngày từng kíp thợ lần lượt thay nhau vào cái pháo đài đầy thương tích để sửa chữa và vận hành khối bê tông, sắt thép ấy để tạo ra năng lượng điện phục vụ cả xã hội. Tất cả những người từng hiểu biết về công việc của những người thợ điện đều yêu mến và cảm phục về sự quả cảm của những người thợ chiến sỹ trong cái “Pháo đài 44 anh hùng” trên quê hương của họ.

Từ mấy năm qua bọn giặc trời đã đánh hàng trăm trận bom vào khu vực cầu Hàm Rồng và những vùng lân cận. Nhà máy điện cũng là một mục tiêu mà bọn giặc luôn tìm cách huỷ diệt nên không lần nào đi ngang qua mà chúng không sẻ cho nhà máy một vài loạt bom, Rốckét. Điều đó cho thấy khi bước chân vào nhà máy những người thợ cũng không khác gì một người lính xung phong cảm tử. Người ta có thể nói về việc quen thuộc của con người đối với môi trường và sự vật chứ còn nói là quen thuộc với hiểm nguy và chết chóc nghe ra thật khó chấp nhận. Tuy vậy một khi chung sống với hiểm nguy và chết chóc nhiều cũng làm cho người ta dạn dĩ hơn, thông minh hơn và biết cách tránh được một phần những điều không may mắn.

Cũng phải nói rằng sự hy sinh, quả cảm của mỗi người cộng với sức lôi cuốn của cả một cộng đồng to lớn với phong trào sản xuất, chiến đấu vì Tổ Quốc đang sôi lên trên cả nước đã tiếp sức cho họ, nên suốt mấy năm qua chưa có một người công nhân thợ điện nào chịu rời bỏ vị trí công tác của mình, mặc dù họ biết có thể chỉ ngày mai thôi họ sẽ không có mặt trên đời này nữa. 

Sớm nay 12 tháng 6, trời có vẻ trong sáng hơn mọi ngày thường, những ngày tháng sáu là những ngày có thời gian ban ngày rất dài. Cũng chỉ còn gần mười ngày nữa là gặp ngày hạ chí, ngày dài nhất trong năm. Mọi ngày bằng giờ đã nghe bộ đội trên đồi pháo báo động đến cả chục lần, vậy mà hôm nay lại có vẻ im ắng khác thường. Những biểu hiện như trên dường như lần nào cũng dự báo có sự việc nghiêm trọng sẽ xảy ra.  Lãnh đạo đơn vị cũng đã mấy lần qua các nhóm nhắc phải sẵn sàng đến nơi trú ẩn gần nhất và nhanh nhất khi có báo động. Trong cả cái khối hộp gạch và bê tông sứt sẹo ấy cũng chỉ có khu hầm lò là có vẻ chắc chắn hơn một chút, còn tất cả đều mỏng manh chỉ cần có một vật nặng độ vài tạ rơi xuống là đã xuyên thủng mái nhà rơi xuống đến tận mặt sàn tầng trệt, huống hồ nếu là một trái bom với sức công phá lớn thì chẳng chỗ nào có thể chịu nổi, kể cả cái hầm lò vừa nói trên kia.

Những người công nhân họ thường nói đùa với nhau rằng hôm nay chưa chắc bọn giặc đã đến, đến chưa chắc đã đánh vào nhà máy, đánh vào nhà máy chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã vào nóc lò, vào nóc lò chưa chắc đã nổ, nổ chưa chắc đã phá được xuống đáy, xuống đáy chưa chắc đã có thể chết hết được. Thế rồi tất cả cùng cười, cùng động viên lẫn nhau và rồi chả bao lâu sau đã nghe tiếng kẻng báo yên của bộ đội từ trên đồi Quyết Thắng, họ lại tiếp tục với các công việc như không có chuyện gì xảy ra.

Những năm tháng ấy thật hào hùng và thật tươi đẹp. Mỗi người như mỗi bông hoa tươi, trên từng cánh của nó hầu như không có một tý dập nát, một tý đốm lạ mầu, và cả không có một mảy may quăn mép. Những con người ở vào những năm sau này sẽ đáng tiếc biết bao khi đã không một lần được sống trong những phút giây như thế, cho dù họ có thừa mứa về điều kiện vật chất và những điều kiện hiện đại khác mà ngày đó chưa có được.

Không khí yên tĩnh kéo dài thường làm cho người ta dễ sinh chủ quan, mất chủ động và chỉ mới chưa hết nửa hồi kẻng báo động từ đồi pháo thì đã nghe thấy tiếng nổ ùng ục khắp bốn xung quanh nhà máy. Chưa kịp bám vào cây cột bằng ống kẽm vẫn dựng ở chỗ lỗ thủng của nền tầng hai cho các công nhân tụt xuống đã nghe từ phía trước nhà máy có tiếng đổ rất nặng. Vật gì có thể tạo ra được âm thanh nặng nề đến vậy, nếu không phải là cái ống khói của nhà máy bị đổ. Vừa kịp nghĩ đến đó thì cả cái hầm lò đã tối đen như mực, bụi than, bụi gạch phả đầy cả vào mồm. Cái câu “chưa chắc đã trúng” có lẽ không còn hiệu nghiệm nữa, thế nhưng hình như tất cả chưa ai làm sao cả thì phải. Có nghĩa là “trúng cũng chưa chắc đã làm sao…” vẫn hiệu nghiệm đấy chứ.

Những hồi kẻng báo yên đã vang lên và bụi khói trong hầm lò cũng tan dần, mọi người cũng đã nhìn thấy nhau. Trời ơi! Thật là kinh khủng! Tất cả đều đã đen thui kể cả da thịt lẫn quần áo, không còn ai nhận ra ai. Tiếng nói thì khẳn đặc thành ra mọi người nhận ra nhau chỉ còn cách dự đoán qua khổ người và hình dáng đi đứng riêng hàng ngày mà thôi.

Cột ống khói cao tướng hàng ngày đã đổ gẫy ra làm mấy khúc, cứ như ai đó nhặt ở đâu những vòng cống khổng lồ đem về đặt trước nhà máy. Một trái bom hai trăm năm mươi cân đã chui qua khe của giàn  ống đứng không nổ mà tự rách theo chiều dọc rồi nằm kẹt giữa các khe ống, giống hệt quả bom xuyên qua trần gian máy cũng xé dọc thân mà không nổ, rơi ở đầu bình ngưng số một vài năm trước đây. Dù sao thì tất cả đều đã không ai làm sao cả và những câu nói đùa lại có dịp được cất lên rôm rả hơn bao giờ hết.

Thử lửa? Thử lửa ư? Chắc hẳn là thế rồi…! Cái chết đã lướt qua mạng sườn của họ không chỉ một vài lần. Chỉ có điều nói đến cái sự thử lửa mà lại hài hước đến vậy thì cái sự thử lửa ấy dễ làm cho người ta nghĩ là câu chuyện sân khấu. Xin nói với độc giả rằng tôi đã cố gắng hết sức để diễn cảm ý nghĩ thực lúc đó và không tô vẽ thêm một chút nào.

Sau trận bom nhà máy buộc phải dừng lại để sửa chữa phục hồi vì không phải chỉ có ống khỏi đổ mà cả khối giàn ống đứng, giàn ống nghiêng, bộ sấy không khí, bộ hâm và nhiều khối thiết bị khác cũng bị hỏng hoàn toàn. Những người công nhân vẫn bám chặt lấy lò máy của họ để rồi nghĩ ra trăm phương ngàn kế phục hồi lại lò máy và họ đã làm được tất cả.

 

                                                 TÌNH YÊU

 

                                                        1

 

Công việc sửa chữa phục hồi nhà máy điện Hàm Rồng lần này có rất nhiều hạng mục. Phần thiết bị đều  tập trung ở khối lò hơi của tổ sửa chữa lò. Phần máy hầu như chỉ phải kiểm tra bảo dưỡng sơ bộ ở phần thiết bị phụ. Cũng do công việc của lò nhiều quá nên phân xưởng giao thêm cho tổ sửa chữa máy sửa chữa một số các thiết bị lẻ của lò hơi như hệ thống thổi bụi cho các giàn ống sinh hơi, giàn ống quá nhiệt, máy kéo ghi, và chế tạo lại bộ sấy không khí. Công việc của tổ lần này chủ yếu cần nhiều đến sức khoẻ nên tổ bố trí nhóm công tác gồm các thanh niên là chính.

Vừa ở công trường lắp cụm phát điện Điêdel ở Đa Nê, Yên Định về đến đơn vị đóng ở làng Vồm được mấy hôm, Hằng đã phải nhập vào nhóm phục hồi để đi xuống Hàm Rồng công tác. Để cách xa vùng trọng điểm đánh phá của kẻ địch mà lại gần nơi sản xuất nên đơn vị đã liên hệ cho các nhóm công tác đóng ở hai làng là Định Hoà và làng Đại Khối. Nếu cứ chiếu theo đường thẳng thì từ chỗ ở đến nhà máy cũng không quá hai cây số, nhưng ai có thể vượt qua mấy chục đỉnh núi nên đành phải đi vòng xa đến gần năm cây số mới tới được nhà máy.

Cũng do Hằng đi công tác về muộn nên khi xuống Đại Khối phải trọ một mình ở một nhà. Nhà Hằng trọ là nhà một ông cán bộ huyện, có lẽ ông cũng có chức vị khá nên gia đình ông cũng được xếp vào loại có kinh tế so với số đông các gia đình trong làng. Chỉ có bà vợ cả và mấy đứa con nhỏ ở nhà, còn ông cán bộ huyện mà làng xóm vẫn cứ gọi ông là ông Thơi thì thường vắng nhà luôn.

Hằng được gia đình nhà chủ bố trí cho nằm ngủ ở một chiếc giường lim kê sát với gian buồng bên phải, kế theo đó là gian giữa kê bộ bàn ghế gỗ đóng khá chắc chắn, có lẽ cũng được làm bằng gỗ lim nên nó có mầu đen hơi thẫm. Chỉ từ sau khi Hằng đến ở bộ bàn ghế mới có vẻ được chăm sóc, còn trước đó có lẽ bộ bàn ghế này hàng ngày hầu như ít ai sử dụng đến nên mặt ghế có phần khô xác mà không bóng nhẵn như của mọi nhà. Sau này Hằng mới biết nhà vợ hai của ông Thơi cũng ở không xa hơn nhà bà cả bao nhiêu, mỗi lần về có lẽ ông Thơi ở nhà bà hai nhiều hơn thì phải.

Qua lại trên đất Thanh Hoá cũng đã nhiều nơi nhưng không đâu lại có phong tục như làng Đại Khối, ở đây người ta gọi mẹ đẻ ra mình là chị, còn chị gái thị lại gọi bằng ả. Dò hỏi mãi về sau Hằng mới biết nguyên do là làng có tục thờ Thánh Mẫu nên họ kiêng gọi tiếng mẹ, chính vì thế mà họ đã gọi chệch đi hai ngôi nói trên.

Đến làng Đại Khối cũng đã lâu mà Hằng cũng chẳng đi đâu, ngoài đi làm hàng ngày ở nhà máy. Các buổi tối về nhà chủ Hằng chỉ chăm chú đọc sách về kỹ thuật và các cuốn tiểu thuyết dày cộp mà Hằng nhặt được ở các cửa hàng sách và các thư viện dưới thị xã bị đánh phá bỏ bừa ra đó. Nhà ông Thơi cũng có cô con gái lớn tên là Thảo nhưng cô này lại ở cùng với bà hai, chỉ thỉnh thoảng mới thấy cô rẽ về nhà mẹ cả vào các buổi tối.

Mấy ngày gần đây làng Đại Khối tập trung vào việc đánh tranh rạ để lợp nhà và các công trình của hợp tác xã. Có lẽ vì sân nhà mẹ cả của cô rất rộng nên đã mấy ngày nay cô Thảo về nhà thường xuyên hơn để bàn với mẹ cả về việc đem rạ về đánh tranh ở nhà mình. Mỗi lần cô về nhà là cô kéo theo về mấy cô bạn nữa làm cho không khí trong nhà ầm ĩ cả lên. Những lúc như thế Hằng thường bỏ đi chơi bên nhà cụ Tú để tránh các cô cho đến khi thấy im ắng  rồi mới về nhà. Cũng chỉ tránh được mấy ngày thôi bởi ngay sau đó cô Thảo đã cho chuyển về nhà hàng đống rạ lớn và cứ tối đến là cô cùng với cả đám bạn tập trung ở đó đánh tranh.

Bắt đầu là các câu chuyện rì rào nho nhỏ thế rồi câu chuyện rộ dần lên và chẳng bao lâu sau đó là gọi, là hỏi, là trêu nhau, rồi thì cười, rồi thì hát, rồi thì hò hét đến inh tai nhức óc. Cũng đã có một vài cô động chạm đến cái người lúc nào cũng im như thóc ngồi đọc sách trong nhà bằng những câu hò với những lời bóng gió. Người ngồi trong nhà cũng biết vậy nhưng cũng cố tình như không nghe thấy và tất nhiên là không nhìn thấy bởi các cô ngồi dưới bóng trăng suông gần phía cổng vào nhà. Có nhẽ các cô cũng biết rằng cái anh chàng này không thể nhìn thấy nên mới trêu mạnh thế chứ nếu lại nhìn rõ được thì đố có dám. Sau mỗi lần có cô nào đó chọn được một câu khá sắc nhọn một chút hoặc khá rõ ý tứ một chút là có đến hàng loạt những tiếng cười như xé vải phụ hoạ thêm vào. Cứ mỗi lần như thế bà cả Thơi lại nhìn Hằng cười mỉm như bảo rằng (cậu đã thấy gái làng Đại Khối chưa). Những lúc ấy Hằng cũng mỉm cười đáp lại bà thật hiền lành và thân thiện.

Thực ra cậu cũng có để ý đến các cô nhưng sau mấy lần về phép trước đó xem ý mẹ thì nghe ra bà cụ không muốn cho cậu lấy vợ ở nơi xa. Có lần cụ nói với con trai rằng:

- Em nó rồi cũng lấy chồng, nhà chỉ có một mẹ một con, anh lại ở trong ấy chắc rồi tôi cũng chết khô, chết héo ở ngoài này thôi!

Nhưng cái chính có lẽ là cụ nghĩ mình chẳng có nhà có cửa,  kinh tế lại eo hẹp quá nên việc đưa một cô dâu ở nơi xa về chưa chắc người ta đã thông cảm và chịu đựng được với hoàn cảnh của mình và điều đó có thể sẽ làm cho hạnh phúc của con cái đi đến đổ vỡ. Có lẽ chính vì thế mà bà cụ không muốn cho con lấy vợ ở xa. Hiểu được nỗi lo lắng của mẹ nên cậu không muốn làm trái ý của bà. Nhất là lần về phép vừa qua bà cụ đã gạn cho cậu một cô bé ở quê, cho dù cậu chưa đồng ý nhưng hình như hai bên đã có lời lẽ nên cũng làm cho cậu thật khó nghĩ. Đây cũng là lý do làm cho cậu không muốn tiếp xúc nhiều với các cô gái của làng Đại Khối.

Sau rất nhiều thủ đoạn mà các cô vẫn chưa lay chuyển được cái con người quá đáng này thì các cô lại càng bị kích động bởi sự tò mò muốn biết cái anh chàng này có gì đặc biệt không mà kiêu kỳ đến thế. Thế rồi các cô kêu khát ầm lên, hết réo gọi Thảo lại hỏi sang bà cả Thơi xem nước ở đâu rồi kéo nhau vào nhà ra ý đi tìm nước uống. Đến nước này thì chắc chắn là phải chạm mặt rồi đây...

Hôm nay Hằng đi làm về muộn, cơm nước xong một lúc lâu Hằng mới về nhà. Ngõ nhỏ lại sâu nên trời rất tối, có lẽ cũng còn một lý do là hôm nay trăng muộn hơn mọi ngày. Vừa ra khỏi cổng nhà ăn, tý nữa Hằng đã đâm sầm vào hai người đang đứng giữa đường. Hoảng quá, sau khi đi quá thêm đoạn nữa Hằng đành đứng lại để cho mắt quen với bóng tối rồi mới đi tiếp. Thì ra hai người mà tý nữa Hằng đâm phải là hai cô gái đang đứng giữa đường nói chuyện với nhau.

- Này con trai chi mà trắng thế không biết, cứ như con gái ấy mày ạ!

Một cô vừa nói dứt lời thì cô thứ hai đã tiếp một cách hào hứng:

- Chuyện! Trai Hà Nội của người ta mà lại!

- Chết nhá! Của người ta từ bao giờ thế hả?

- Vớ vẩn, đấy là người ta nói đệm vào lại.

- Không nghe! Không nghe! Tối nay nhất định choa bảo cho chàng biết cái Dụng nó đã nhận rồi.

Liền ngay lúc đó là các tiếng đấm, tiếng thụi vào lưng nhau cùng với cả tiếng cười cứ réo lên ồn ã cả cái con ngõ hẻm tối om, tối óp.

Đến bây giờ thì Hằng đã nhận ra đây có lẽ là mấy cô gái vẫn đến nhà bà cả Thơi đánh tranh các buổi tối, còn cái con người Hà Nội mà họ vừa đùn đẩy kia không biết là ai? Hằng gai cả người khi nghĩ đến nếu cái con người kia lại chính là Hằng. Chả lẽ mình lại bị mang ra bàn luận, đùn đẩy đến mức như vậy sao? Vừa đi Hằng vừa lôi từ trong bộ nhớ ra xem cái cô Dụng là cô nào mà mãi không thể nhớ ra.

Về nhà được một lúc thì mới thấy các cô gái kéo đến. Câu chuyện của họ hôm nay hình như có vẻ rôm rả hơn mọi hôm rất nhiều. Đặc biệt là bọn họ hay trêu một cô nào đó trong nhóm của họ, còn có một người thì cứ chạy đuổi hết cô này đến cô kia để đấm, để thụi, để càu nhàu. Có lẽ người từ nãy đến giờ vẫn chạy đuổi các bạn chính là cô Dụng.

- Này! Không nhận hả? Để đấy nhường cho cái Thảo! Tiện của nhà chả phải đi đâu cho xa!

- Thảo có rồi còn gì! Để đấy tớ, tớ nhận cho, đến lúc đó đừng có mà tiếc đấy nhé!

Chợt có một giọng rất là đàn chị của một cô nào đó cất lên khá đanh để ra lệnh cho cả nhóm:

- Này! Làm đi thôi kẻo mai là hạn nộp cuối cùng rồi đấy! Các cụ ấy mà hét cho thì đừng có mà…

Không khí hơi lặng đi một chút nhưng chẳng bao lâu sau đâu lại đóng đó, lại ầm ĩ, lại cười, lại hò hát cho mãi đến tận đêm khuya. 

                                                            2

 

Những đêm đánh tranh ở nhà bà Thơi rồi cũng hết, có điều là từ sau cái buổi tối các cô gái cố tình vào tìm nước uống để xem mặt cái anh chàng lập dị nọ ra làm sao thì cả hai bên đã có sự gần gũi hơn, thế nhưng cũng rất lâu sau Hằng mới biết mặt Dụng.

Dụng năm ấy mới vừa đủ mười tám tuổi. Dụng khá xinh và trắng trẻo, người tròn lẳn như rất nhiều các cô gái khác. Mỗi lần bất chợt gặp giữa đường Dụng chỉ dám chào lý nhí mà không chào to. Mỗi lần gặp và chào nhau như thế hình như Dụng có vẻ rất luống cuống và đỏ mặt lên trông đến ngại. Biết vậy nên Hằng thường chủ động hơn trong các câu hỏi để cho cô bình tĩnh trở lại. Kể ra cũng lạ, không biết sao từ trước khi biết nhau họ lại chỉ gặp nhau rất ít, mặc dù nhà Dụng ở ngay trên đoạn đường mà hàng ngày khi đi làm Hằng vẫn đi qua. Còn từ sau ngày biết nhau rồi thì hầu như không ngày nào hai người không chạm mặt nhau đến một vài lần.

Nhà Dụng chỉ có hai bố mẹ cùng với ba chị em. Chị cả tên là Lợi cũng đã hai mươi và hình như đã có người ở bên Đông Thổ đến xin hỏi cưới, chắc cũng chỉ chờ đến mùa đông hoặc mùa xuân năm tới là chị sẽ về nhà chồng. Sau Dụng là cậu em út cũng đã lên tám tuổi nhưng người thì nhỏ bé mà lại cao lều nghều trông đến là ngộ. Bố mẹ Dụng đều là những người nông dân thuần tuý dễ mến, cho dù Hằng chưa bao giờ tiếp xúc với họ mà chỉ gặp và chào họ khi bất chợt gặp họ trên đường như với bao nhiêu người khác nhưng Hằng vẫn nhận ra ở họ có những nét thân tình...

Sau một ngày về nơi sơ tán của đơn vị để họp tổng kết Hằng đã thấy có cái gì đó cứ bồn chồn, nóng ruột giống như linh tính cho thấy có ai đó cứ nhắc đến tên mình vậy. Nhiều lúc thấy như thiếu vắng một cái gì đó mà không thể nghĩ ra được đó là cái gì. Chỉ mãi đến khi rời làng Vồm xuống Đại Khối, Hằng mới thấy bớt đi sự nóng ruột mà trong suốt thời gian ngồi họp đã xảy ra. Vừa quăng cái túi đựng mấy thứ vặt vãnh cùng với mấy quyển sách vào giường thì Hằng nhận ra có ai đó vừa chào bà cả Thơi bước vội ra sân theo lối cửa của gian nhà kế gian buồng bên trái.

- Bác Thơi đã ăn cơm chưa?

- Tôi ăn cơm rồi, cháu đi họp về đấy hả?

- Vâng, cháu vừa mới xuống đến nơi!

- Sao không ở đến mai mà lại xuống tối thế?

- Cháu cứ thấy sốt ruột thế nào ấy, với lại nhà bà Ao ở trên Vồm hôm nay có khách nên đằng nào cháu cũng phải đi ngủ nhờ thế là cơm nước xong là cháu đi ngay đỡ sớm mai phải thức dậy đi sớm.

- Cũng may mà cháu đi có một ngày chứ nếu đi độ mấy ngày thì choa cũng đến hết hơi về nó!

Còn đang cố lắng nghe xem bà cả Thơi nói gì thì đã nghe bà tiếp:

- Này! Từ sáng đến giờ nó xuống hỏi thăm mày có đến bốn lượt rồi đấy!

- Ai thế hả bác?

- Này, các anh chị đừng có che mắt tôi nhé! Cái Thảo nó bảo cho tôi biết từ bữa trước rồi. Hình như ông bà ấy cũng không phản đối đâu. Nhà họ có ông em cũng lấy vợ và ở ngoài ấy rồi. Mỗi lần họ về trông sang trọng và lịch sự, làm cả làng ao ước mà không được ấy chứ!

Ngừng một chút, không kịp để cho Hằng nói gì bà cả  Thơi lại nói tiếp:

- Kể ra mà cái Thảo nhà tôi nó yêu anh thì tôi bàn với gì nó là cứ cho không.

Đến lúc này thì Hằng cũng đã đoán ra được phần nào những điều bà Thơi vừa nói và cả cái người bà Thơi bảo đã đến làm phiền bà đến bốn lượt trong một ngày kia rồi. Tuy nhiên Hằng nghĩ là mình bị oan nên cố thanh minh:

- Bác nói thế làm oan cho cháu! Tất cả là các cô ấy gán ghép đấy chứ!

- Này, không có lửa lấy đâu ra có khói, đừng có mà giấu giếm, rồi đến lúc cần nhờ chúng tôi là khó chứ chẳng chơi đâu!

Biết có thanh minh nữa cũng chẳng ăn thua gì nên cậu cười xí xoá với bà Thơi rồi đi ra ngõ, định sang Định Hoà đi hò với bọn cậu Thảo ở tổ sửa chữa Van .

Trăng đầu tháng lờ mờ nhưng Hằng vẫn nhận ra có một người con gái đứng ở một góc tường của một gia đình trong ngõ khi vừa chợt đi qua.

-  Anh đi đâu đấy ạ!

Vừa nghe câu chào nhỏ nhẹ Hằng đã nhận ra đó là Dụng, Hằng cũng vội chào lại:

- Dụng đi đâu về đấy?

- Em định xuống nhà bác Thơi!

Đang định đi tiếp thì Hằng lại nghe Dụng hỏi:

- Vừa nãy bác Thơi nói xấu gì em thế?

- Làm gì có!

- Em ở ngoài sân nghe hết cả thế mà anh lại còn bênh cho bác ấy!

Nghe đến đây Hằng cũng thấy chột dạ, không biết lúc nãy mình có động chạm gì đến cô ấy không biết? Có lẽ là không thì phải.

- Em còn nghe người ta dãy nảy lên vì bị gán ghép nữa cơ! Chả là người ta là người Hà Nội mà lại.

Biết cô ấy cũng khá lâu nhưng chưa thấy cô ấy nói nhiều và lại có ý mát mẻ như thế bao giờ nên Hằng cũng bất ngờ đứng sững lại không biết nói làm sao cho được. Kể ra mà nói trong con mắt nhìn của Hằng thì Dụng là một cô gái tương đối hợp với ý muốn tìm kiếm của cậu. Nếu như mỗi lần về nhà cậu không phải nghe mẹ nhắc về việc không muốn cho lấy vợ ở xa thì Hằng đã chủ động tìm hiểu cô ấy ngay từ bữa trước chứ cần gì phải để cho sự việc rơi vào hoàn cảnh như thế này. Đang suy nghĩ để tìm cách nói lại với Dụng thì lại nghe cô ấy lên tiếng, lần này giọng nói của cô ấy nghe có vẻ buồn hẳn đi:

- Bọn con gái quê mùa lại ít học như chúng em, các anh có quen biết chẳng qua cũng chỉ làm cho các anh xấu hổ thêm mà thôi…

Vừa nghe được mấy lời này Hằng chợt tìm ra được câu trả lời cho Dụng, cậu liền cướp lời nói luôn:

- Em cứ nói thế chứ ai chẳng như ai. Thanh Hoá anh hùng, nhiều người vùng ngoài ao ước còn không được nữa là.

Mặc dù biết mình hơi sáo trong những câu chữ vừa rồi nhưng cậu vẫn cứ tràng giang đại hải để che đậy những bế tắc từ nãy đến giờ. Chắc cậu vẫn còn diễn thuyết nữa nếu như không có một bà cụ vừa đi qua trước mặt hai người làm cho cả hai cùng phải né người để tránh. Vừa tránh Dụng vừa chào với theo bà cụ:

- Bà ơi sao bà về sớm thế?

- Con Dụng đấy hả? Mẹ mày đang tìm đấy!

- Vâng ạ!

- Em có phải về nhà không? Hằng hỏi

- Mẹ em lúc nào chả tìm về để đấm lưng, chả là mẹ em thỉnh thoảng vẫn bị đau lưng khi dở giời mà lại.

Ngừng một chút Dụng lại tiếp:

- Mình đứng đây gặp lắm người quá hay là đi ngược lại phía bờ ao nói chuyện tiện hơn.

Vừa nói Dụng vừa đi ngược lại lướt qua bên cạnh, mặc kệ Hằng có đồng ý hay không. Phần vì đường hẹp, phần vì tối trời nên khi Dụng nhỡ chân cọ sát vào bên sườn của Hằng làm cho cả hai cùng loạng choạng tý nữa thì ngã. Mặc dù suýt bị ngã nhưng Hằng vẫn cảm thấy có cái gì đấy thật mềm mại và gợi cảm đến là kỳ lạ mà không thể nào giải thích được.

Bờ ao hợp tác khá rộng và lại có rất nhiều cây dừa mới trồng tạo thành những cái ô lớn che khuất cả về phía đường nên nếu ai đi qua mà không để ý thì không nhận ra người đứng ở dưới gốc của nó, cũng chính vì thế mà hai người đã đứng ở đó gần năm tiếng đồng hồ cùng với những câu chuyện không đầu, không cuối mà chẳng bị ai quấy rầy. Họ chỉ chia tay khi câu chuyện đã có phần kết khá thân mật cùng với việc hẹn hò đêm mai gặp lại.

 

                                                     3

 

   Đã lâu lắm mà Hằng vẫn không ngủ được. Tất cả những sự kiện xảy ra trong thời gian vừa qua hình thành những câu hỏi luôn lởn vởn trong đầu. Có nên yêu không? Yêu hay không yêu? Yêu để lấy hay chỉ để cho vui? Những cô gái ở quê có ai bằng cô ấy không? Hình thức, tính cách? Mặc dù Hằng đã cố gắng không nghĩ đến nhưng vẫn không thể xua đi hết được. Một chuỗi những suy nghĩ kéo dài đã làm anh mệt mỏi. Có gì đó như muốn thoả hiệp, muốn buông trôi. Cùng lúc ấy trong anh cũng xuất hiện một tình cảm lạ, nó óng ánh, nó rực rỡ và khô nóng làm ra sự khao khát đến cháy bỏng mà không gì dập tắt, không gì ngăn cản nổi. Tự thân trạng thái ấy cứ thôi thúc buộc ta phải đi theo sự mời gọi của nó để rồi mặc kệ tất cả mọi sự muốn ra sao thì ra…

Chưa bao giờ một ngày làm việc lại dài đến thế! Mặt trời thì cứ đứng im mãi ở trên đầu, đôi kim của chiếc đồng hồ hình như không chịu quay, chiếc kẻng bằng quả bom cũng như bị câm mà không chịu cất lên những tiếng keng keng làm cho cái sự chờ đợi cứ dài dằng dặc ra đến mức không còn chịu đựng thêm được nữa.

Đôi trai gái ấy cũng đã có nhiểu đêm chờ đợi, nhiều đêm gặp gỡ, tuy vậy họ cũng vẫn còn có gì đó tựa như muốn giữ ý với nhau. Nhưng đến lần hẹn tối hôm qua thì hình như có điều gì đó rất khác so với những lần trước đó. Chờ đợi mãi thì rồi trời cũng đã tối và cái thời điểm hò hẹn cũng đã đến. Gốc dừa lại một lần nữa chứng kiến sự gặp gỡ của đôi trai gái cùng với những gì mà họ chưa kịp bắt đầu từ những đêm hôm trước. Khác với mọi đêm, đôi trai gái đêm nay có phần dạn dĩ hơn, họ ngồi gần nhau hơn, những câu chuyện của họ cũng tươi vui hơn mà không còn những câu hỏi có ý thăm dò và khách khí như những đêm trước nữa. Từ bên trong tâm hồn của mỗi người đều đã nhận ra cái điều mà họ hiểu sẽ phải xảy ra trong khoảng thời gian đang đến rất gần.

Tất cả những câu chuyện dùng để làm cái cớ cho sự gặp gỡ hầu như đã không còn cần nữa, cả hai người đều im lặng đợi chờ và khi hai thân người chợt chạm vào nhau thì mọi ngăn cách hầu như đã không còn. Những chùm sao trên trời, những chùm sao dưới nước hình như cùng lúc ánh lên sáng rỡ. Cũng giống như những chùm sao, ánh mắt của cả hai người như hút vào nhau lúc một gần thêm, gần thêm và chợt ánh lên sáng lấp lánh khi hai cặp môi gắn vào nhau không muốn rời ra nữa.

Từ sau nụ hôn kéo dài vô tận ấy họ không còn nói với nhau bằng lời mà bắt đầu nói với nhau bằng mắt, bằng sự tiếp xúc da thịt của nhau trong vòng ôm đến nghẹt thở. Những gì chất chứa trong lòng được dịp phơi bày không cần phải giữ gìn gì nữa. Gần một đêm trắng bên nhau trong yêu, trong khao khát, làm họ ngây ngất trong hạnh phúc tràn ngập và họ chia tay nhau khi hướng đông đã bắt đầu ửng đỏ, thai nghén một ngày mới trên trái đất xiết bao rực rỡ.

Những cuộc gặp gỡ cứ liên tiếp hết đêm này sang đêm khác, trừ những ngày Hằng phải làm thêm giờ hoặc cả hai gặp những cuộc họp thanh niên, phụ nữ của cả bên cơ quan của Hằng và bên địa phương của Dụng. Tất cả các cuộc gặp đều như không đủ dài để họ có thể ở bên nhau lâu hơn, nói với nhau nhiều hơn. Có lẽ cái ý nghĩ đêm hình như bị ngắn đi đều có ở trong tất cả những người đang yêu.

Bước tiến của bản thân trong công tác, cùng với tình yêu của Dụng trong những ngày qua như tiếp sức cho Hằng trong những ngày lao động vất vả, những ngày đạn bom khốc liệt. Mọi người ở bên cạnh cũng vui mừng cho họ và nhìn họ với sự khích lệ hết sức chân thành. Thời gian đã gắn kết họ lại đến mức có lẽ không gì có thể làm cho họ xa nhau được. Công việc khôi phục của tổ máy chỉ còn vài ngày nữa thì xong, ngày chia tay với Đại Khối càng lúc càng gần. Hai người tranh thủ gặp nhau thường xuyên hơn để nếu sau này có phải xa nhau cũng đỡ buồn, đỡ tiếc những ngày gần gũi.

Tất cả mọi đồ đạc Hằng đã gửi xe mang về Vồm từ mấy ngày hôm trước, hôm nay Hằng chỉ còn mỗi việc từ biệt gia đình và Dụng nữa mà thôi. Chia tay với bố mẹ Dụng xong là cả hai đứa đưa nhau về phía cuối làng để rồi từ đó Hằng sẽ đi tắt về Vồm. Cứ mỗi lần chào nhau xong lại thấy không thể rời nhau ra được. Nào là những hẹn hò xuống thăm vào ngày nọ, ngày kia lại đến bàn bạc về một kế hoạch nào đấy cho việc cưới xin vào năm tới. Chán các chuyện nghiêm chỉnh lại đến những trò hờn dỗi, nào là anh về vài bữa chắc lại quên mất, hoặc là mấy cô cơ quan lúc nào chả đẹp lại sạch sẽ, còn bọn con gái thôn quê làm sao theo kịp vân vân và vân vân…

Không hiểu thế nào mà mãi đến khi trăng lên rồi cặp trai gái vẫn còn ở gốc đa trên cánh đồng Đại Khối. Sau bao nhiêu là chuyện, cả hai người lại im lặng ngắm nhìn nhau, trên má Dụng ánh trăng soi rõ hai hàng nước mắt tràn trề làm cho Hằng cảm thấy hai bên cánh mũi cũng cay cay như muốn khóc. Nhìn Dụng lúc ấy sao mà thương yêu đến thế, không thể cầm lòng được nữa, Hằng ôm chặt lấy Dụng đặt lên lòng rồi hôn lên tất cả mọi chỗ trên khuôn mặt đẫm ướt.

Cũng như Hằng, Dụng ôm ghì chặt lấy người yêu như muốn áp toàn bộ thân thể của mình vào người yêu để cảm nhận tất cả những gì mà chỉ trong vài giờ nữa sẽ phải xa cách, không biết bao lâu mới gặp lại được. Trong một khoảnh khắc mềm yếu đến tột cùng làm cả hai người hầu như không còn nghĩ đến điều gì khác, họ hoàn toàn để mặc bản thân hoà vào sự kêu gọi của bản năng tự nhiên mà không hề muốn cưỡng lại.

Trong ánh sáng huyền ảo của trăng hạ tuần, cơ thể Dụng mềm mại và đẹp đến mức không bút nào tả hết được. Toàn thân của cô, cùng với tay chân cứ như những mảnh lụa biết cử động. Những đường viền rõ nét bao lấy mảng màu trắng mờ tuyệt vời nhất của thế gian. Nơi đẹp nhất, nơi cuốn hút nhất luôn réo gọi, luôn chờ đợi. Dụng đã muốn dâng hiến tất cả cho người yêu mà không có ý đòi hỏi một điều gì khác. Bàn tay của tình yêu đã đặt lên mọi chỗ trên bức tranh của tạo hoá với cảm xúc về sắc thái, về âm hưởng đến vô cùng, vô tận của tình yêu.

Tất cả chợt tan đi trong một giây phút rất đặc biệt, cùng với những lời lẽ thật dịu dàng sau một cái hôn dài ngang với cái hôn lần đầu của họ.

- Chúng mình sẽ là vợ chồng! Chúng mình sẽ có tất cả trong những ngày không xa nữa!

Nước mắt lại tràn ra trên khuôn mặt cô gái cùng với câu nói đứt đoạn:

- Em sẽ yêu anh mãi mãi!

Trong tất cả những tháng ngày đầy kỷ niệm, hình như đây là lần đầu tiên một trong hai người đã nói đến chữ yêu, đó là lời yêu duy nhất trong một lần yêu muôn đời không quên được…

Cuối năm đó chàng trai trở về nhà để chuẩn bị cho việc làm nhà, đồng thời chuẩn bị cho bước tiếp theo Bài ca tình yêu của mình. Cũng đã cố gắng hết sức nhà Hằng mới mua được một ngôi nhà tranh ba gian ở tận làng Thiên Hội. Cái nhà cũng chẳng tốt gì, mọi cái để nguyên thì còn, nếu dỡ ra thì chắc sẽ có nhiều cái hỏng. Rất nhiều cái kèo, cái cột đã ải mục dỡ ra là phải bỏ, vì vậy mà khi dựng lại ngôi nhà chỉ còn đủ được một gian với hai cái chái. Với cơ ngơi như vậy thật khó có thể nói đây là một gia đình có cuộc sống tốt đẹp. Điều này cũng chính là sự trở ngại về hoàn cảnh, khiến người con trai mong muốn có thêm một thời gian nữa để thu xếp ổn định đời sống trước khi xây dựng gia đình. Nhưng cậu có thể nói gì được trong lúc này và thế là lịch trình mà một nửa kia chờ đợi đã không được thoả mãn. Cũng chính từ đó phía đối tác đã hình thành những mối ngờ vực ngày một lớn hơn, không ai có thể thanh minh cho được và rồi Bài ca tình yêu hay tuyệt đã bất ngờ dừng lại sau một thời gian phô diễn tất cả những cái tuyệt mỹ trong phần mở đầu của nó.

Vào một ngày đầu tháng hai năm ấy người con gái đã đến gặp người con trai để mời tham dự chương trình Bài ca tình yêu mới của cô và rồi từ đó mọi dư âm của bài ca ngày cũ đã không bao giờ còn vang lên nữa. Lời yêu tắt lịm và chắc còn lâu mới có thể quay trở lại được.

 

                                                              4

 

Những ngày tháng buồn bã kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Cho dù công việc đã cuốn đi hết cả thời gian nhưng chỉ cần ngơi ra lúc nào là những hình ảnh cũ chợt quay trở lại. Sự hể hả của bà mẹ, sự vui tươi của ông bố ở thời điểm đầu tiên tăng lên bao nhiêu thì cũng xẹp đi bấy nhiêu khi kết thúc buổi gặp mặt với chàng rể tương lai sau khi về quê ăn tết trở vào. Tất cả những câu hỏi từ xa đến gần về công việc cưới xin mà các cụ gợi ra đã không có được lấy một lời bày tỏ của chàng trai trẻ…

Cô ấy đã đi lấy chồng và cũng lại phải lấy chồng ở nơi thật xa bởi nếu không thì rồi có không biết bao nhiêu câu chuyện được thêu dệt ra và điều đó thật là bất lợi cho cô ấy. Chẳng có người phụ nữ nào dám đứng ra giữa một cộng đồng để nói rằng tôi vẫn còn trong trắng sau một tình yêu rực lửa mà tất cả mọi người đều đã nghe, đã biết.

Ai còn lạ gì cái sự yêu nhau của các cô, các cậu! Cái sự quyến luyến dễ làm cho người ta quên đi tất cả và rồi cái sự động chạm về thể xác chắc hẳn cũng phải xảy ra, ai mà chả thế! Thế rồi sự ngờ vực sẽ ngày một tăng lên, sự ngờ vực đâu chỉ có ở mấy người già, mấy cậu con trai trong làng, sự ngờ vực còn có thể ở chính ngay trong lòng của những người bạn gái thân nhất của cô. Tất nhiên là cô sợ, cô xấu hổ với mọi người, với bè bạn, cô không còn con đường nào khác.

Cho đến mãi về sau này chàng trai vẫn cứ tự trách  mình về sự ấu trĩ và sự sĩ diện hão của bản thân. Tại sao lại không thể nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về hoàn cảnh của mình? Tại sao lại không nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về cái sự cần thiết phải chờ đợi để cho cậu có thời gian củng cố đời sống gia đình? Tại sao cậu lại im lặng? Im lặng để rồi mọi cái đều tan nát cả?

Đã từ lâu cậu luôn tự hào về cái nghèo khó nhưng rất thanh cao của gia đình mình qua những việc làm của người cha trong thời cải cách. Vậy mà sao đến lúc này cậu lại không thể nói về điều đó cho họ nghe một cách vô tư được. Có lẽ là cậu đã nhận ra sự chờ đợi của cả cô gái và gia đình của cô về mối lương duyên này với hy vọng về một cuộc sống mới ở nơi thủ đô với những gì mà một số người thân của họ có được khi họ nhìn thấy những người đó trong những ngày về phép. Cậu nghĩ rằng cậu không có quyền làm tắt đi những hy vọng của họ và cậu cũng không thể đang tâm để mà làm tắt đi sự hy vọng đó khi cậu nói cho họ hiểu rằng gia đình của cậu còn khó khăn hơn họ đến mấy lần. Có thể nói một cách chính xác rằng ở vào thời điểm ấy cậu vẫn chưa đủ bản lĩnh để hiểu thấu đáo về những điều mà người cha của cậu đã làm. Sự thiếu tự tin trước một quan niệm đã bắt cậu phải trả giá cho việc mất đi mối tình đầu để rồi nhiều năm sau trong lòng vẫn day dứt khôn nguôi...

Đơn vị lại bước vào một đợt sửa chữa mới được nhà máy giao cho, đó là việc khôi phục phân xưởng Trung tâm. Lần công tác này đơn vị không đóng ở làng Đại Khối nữa mà chuyển về làng Định Hoà. Làng Đại Khối bây giờ có thêm hai lực lượng công nhân của Đoạn đường sắt phía Nam đến đóng quân tại đó. Khối công nhân đường sắt đóng ở đó gồm có Đại đội 315 biên chế toàn các thanh niên để làm các công việc nặng và Đại đội 324 lại biên chế toàn là nữ để làm các công việc nhẹ hơn.

Hàng ngày các tốp công nhân này vẫn đi từ Đại Khối qua ven làng Định Hoà để xuống khu ga Thanh Hoá phục hồi và sửa chữa các đoạn đường sắt bị hư hỏng. Thường thì họ làm suốt cả ngày đến tối mới trở về nhà. Mỗi lần đi qua làng Định Hoà họ vẫn cứ hay cất lên vài câu hò để trêu mấy chàng thanh niên của nhà máy điện.

Số công nhân nhà máy điện đóng ở Định Hoà cũng khá đông, đa số đều là các chàng trai chưa vợ và cũng khá lịch duyệt. Rất nhiều người có tài lẻ về thơ ca, hò  hát như Thanh ở phố Lò Đúc Hà Nội, Vĩ ở Vũ Thư, Thái Bình vv… đều là những cây đơn ca của nhà máy trong các kỳ hội diễn Quân khu Ba, hội diễn tỉnh và cả của nhà máy nữa. Các chàng trai này đa số đều đã có người yêu nhưng thấy các cô hò ghẹo nhiều lần thì các chàng trai này cũng cứ hò đối cho vui mà thôi. Thường thì mở đầu các câu hò khá hay nhưng càng về cuối thì những câu hò thường hay đi vào sự trêu cợt chọc tức lẫn nhau, thậm chí còn có cả những câu hò khá cợt nhả cùng những câu hò chửi bới khá thô tục, tuy vậy nhưng chỉ sau buổi hôm ấy rồi các chàng trai lại lãng quên ngay. Vậy nhưng các cô gái thì không quên đâu, có đến mấy ngày sau họ còn dò tìm xem cái thằng cha nào hôm trước hò ngoa ngoắt thế không biết.

Từ khi chia tay với Dụng, Hằng đã tự đặt ra cho mình là phải phấn đấu làm sao để cùng với mẹ lo củng cố gia đình để nâng cao kinh tế lên rồi mới lo đến chuyện vợ con. Chính vì thế mà cũng có khối cô gái ở các đơn vị trong nhà máy và cả ở các địa phương Hằng đến trọ đã để ý đến, Hằng vẫn làm ngơ như không biết. Thực ra Hằng cũng đã rút ra được bài học từ lần yêu trước, nên không đến mức sợ yêu. Cái chính là tất cả những cô gái có ý tứ lại không hợp với con mắt của Hằng, mặc dù với mọi người thì các cô gái được đánh giá là “sạch nước cản”.

Có lẽ Hằng cũng là một người mang tính cực đoan bởi rất nhiều người cho rằng một cô gái nào đó là rất đẹp thì Hằng lại không tán thành. Không phải là Hằng hoàn toàn phủ nhận, nhận định của mọi người nhưng những cô gái đẹp sắc xảo một chút Hằng đều không ưa lắm. Trong con mắt của Hằng thì ít nhất là cô gái ấy phải có sự hiền lành, nhu mì, ít nói, tất nhiên là phải không xấu lắm. Nói một cách khác là cô gái ấy phải có duyên, dễ gần, dễ mến. Hằng thường nghĩ những cô gái như thế sẽ đối xử tốt với chồng và cả với bà mẹ một đời gian nan vất vả của Hằng. Như thế có lẽ cũng là có sự kén chọn chứ không đến mức thế nào cũng được. Tuy nghĩ ra thì nhiều nhưng làm thì không hẳn đã theo được mấy và đấy cũng là nguyên cớ để có cuộc tình tiếp theo với rất nhiều kỷ niệm.

Mặt trời đã lặn sau những vòm cây của những làng xóm mờ xa ở phía tây. Màu hồng vẫn còn hắt lên bầu trời một quầng sáng khá rộng. Vừa thập thững đi dọc con đường ra cánh đồng của làng Định Hoà vừa chúi mắt vào cuốn tiểu thuyết Ruồi Trâu trên tay thì cậu giật nảy mình vì những câu chào rõ to của một toán con gái bịt mặt bằng những chiếc khăn bông lớn. Chẳng khó gì mà không nhận ra các cô ấy là những công nhân đường sắt. Có lẽ các cô ấy vẫn bực mình vì trận hò thua mấy cậu công nhân trọ bên nhà bà Sinh chiều qua. Cậy đông và lại được các tấm khăn che kín mặt nên các cô đồng thanh chào rõ to có ý làm giật mình cho bõ tức. Nhưng rồi các cô ấy cũng nhận ra là cái anh chàng này không phải là người vẫn hò trêu cợt cùng các cô nên cô nào cô nấy đều tỏ ra khép nép và có ý hối hận về việc làm của mình.

Hằng miễn cưỡng chào lại rồi lại tiếp tục cúi mặt vào những trang sách. Chưa kịp tìm ra dấu dòng vừa đọc lại thấy các cô gái hỏi tiếp:

- Có phải anh ở ngôi nhà đầu làng kia không ạ?

- Vâng! Tôi ở ngôi nhà đầu tiên ấy.

- Có mấy anh ở đấy hò hay thế không biết?

- À! Thế có lẽ các cô là những người vẫn hò mấy buổi tối hôm trước đấy hả? Thế tối nay có hò nữa không?

- Anh hò với chúng em nhé?

- Được thôi, nhưng mà tôi hò kém lắm với lại không đối đáp được các cô như mấy cậu ấy đâu!

- Chúng em cũng kém như anh thôi!

- Không! Tôi cũng đã nghe các cô hò buổi tối hôm kia rồi! Dữ quá!

Một cô gái mở đầu bằng một câu hò nói về tình yêu bằng chất giọng miền trong thật cao và ấm. Hằng cũng hò đáp lại bằng một câu hò nói về tình yêu vận ra từ một bài hát dân ca. Tất cả các cô đều ồ lên khen hay và ấm. Hò đi, hò lại đối nhau đến bốn năm câu thì trời tối hẳn, các cô xin phép ra về để còn tắm giặt. Cả bọn líu ríu hỏi tên và hò hẹn đến chơi.

Một buổi tối đầu tháng không có trăng sao, Dậu là quân của đại đội 315 quê ở thành phố Nam Định mà Hằng và Ngữ quen từ hồi trong năm đã dẫn đường sang thăm mấy cô gái vừa làm quen hôm trước. Nói là quen biết nhưng khi đến nơi thì chỉ có các cô ấy biết mình chứ còn mình thì lại chẳng biết ai cả vì mình chỉ gặp hình dáng còn khuôn mặt thì chưa lần nào nhìn được bởi những chiếc khăn che kín mít. Cũng phải nói chuyện một lúc thì rồi mới nhận được người quen. Người quen của Ngữ là cô Tuyến cán bộ đoàn thanh niên của đơn vị, còn cô gái có giọng nói miền trong mà Hằng hò đối hôm trước là cô tiểu đội trưởng Hằng Trường.

 

                                                         5

 

Trường cứng tuổi hơn các cô khác, khuôn mặt không xinh lắm nhưng có duyên. Vầng trán rộng làm cho cô có cái nét mặt của sự thông minh hơn là sự duyên dáng. Trường hình như cũng đã yêu một người nào đó trong đơn vị, đó là Hằng suy đoán vậy thôi. Không biết mấy cô gái trong nhóm có biết hay không mà vẫn cứ gán ghép Trường với Hằng bằng cái tên ghép của Trường, còn Trường thì chỉ cười như không có chuyện gì xảy ra.

Trong khoảng thời gian buổi tối đầu tiên chủ yếu là những câu chuyện hội đồng giữa tất cả mọi người. Chỉ thỉnh thoảng mới có một cặp nói chuyện riêng với nhau tranh thủ khi những câu chuyện tập thể bị lắng xuống. Dù sao thì mỗi chàng trai đến với những cô gái không ai là không quan sát để tìm cho mình một khuôn mặt mà mình ưng ý, Hằng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.

Những cuộc thăm nhau qua lại trong cả tháng trời cùng với những cuộc đưa tiễn sau mỗi lần đến thăm kéo dài đến cả tiếng đồng hồ trong đêm tối làm cho mỗi người thấy thân mật hơn lên. Mặc dù sự quen biết ở đây là sự quen biết của cả một nhóm nhưng rồi không hiểu thế nào chỉ trong một thời gian rất ngắn đã  hình thành ra từng cặp một. Cặp đôi Hằng và Trường cũng có vẻ gắn bó nhưng nếu quan sát kỹ người ta vẫn nhận ra giữa hai người có cái gì đó vẫn còn chút miễn cưỡng.

Từ trong sâu thẳm tâm hồn của chàng trai, mối tình cũ cùng với những kỷ niệm cứ luôn trở lại réo gọi. Còn với cô gái thì luôn bâng khuâng về hai hình ảnh đang cùng lúc lướt qua trong trí não đòi hỏi phải mau có một quyết định nhận cái nào và bỏ cái nào, còn bản thân cô thì lại cứ phân vân không tự quyết nổi. Cũng giống như một người đi đường nhìn thấy hai con cá lớn đang rạch về hai phía, muốn bắt nhưng chưa biết nên bắt con nào trong khi chỉ còn một vài cái quẫy đuôi nữa là cả hai con cá sẽ trườn xuống lòng mương mất.

Trong một lần Hằng đến chơi thì Trường lại bận đi họp, người đón tiếp Hằng là một cô bé người thấp nhỏ nhưng da trắng và đặc biệt là có đôi mắt ươn ướt tựa như biết nói, hình như cô nói bằng mắt hơn là nói bằng lời. Trong một khoảng thời gian ngắn nhưng Hằng cũng đã khai thác được một số nét về gia đình và về bản thân cô ấy.

Quê nhà cô ở một làng chài ven biển của huyện Hậu Lộc. Nhà cô ở cách bờ biển không quá một trăm mét nhưng lại không sống bằng nghề đi biển đánh cá. Ông bố cô có nghề cắt thuốc chữa bệnh bằng các vị thuốc Nam, mẹ cô và em gái thì làm ở hợp tác xã nông nghiệp. Vừa mới qua tuổi thiếu niên là cô đã xin đi thanh niên xung phong và được bố trí vào đại đội 324 tổng đội đường sắt phíaNam.

Câu chuyện của hai người hầu hết là những câu hỏi và những câu trả lời của cả hai người kéo dài đến cả tiếng đồng hồ nhưng rồi cũng đã đến lúc dần cạn. Ngồi chờ đợi Trường lâu quá làm Hằng cảm thấy ngại, thế là Hằng đứng lên chào mọi người để ra về. Sau khi giữ khách lại không được cô gái đành phải đi theo để tiễn khách thay. Quãng đường đi tiễn đã dài mà hình như cô gái ấy vẫn chưa tỏ vẻ muốn chia tay với ông khách của bạn. Cũng đã mấy lần ông khách dừng lại bởi đoạn đường đã dài quá rồi nhưng người đi tiễn hình như không để ý đến điều đó. Cũng chỉ còn vài bước chân nữa là đã đến gốc gạo ở giữa cánh đồng của hai làng, có nghĩa là đã đến điểm chia đôi khoảng đường từ nhà chủ đến nhà khách. Sau khi cả hai người đã ngồi lại bên gốc gạo đến gần nửa giờ thì khách đành nhắc chủ chia tay. Thế là khách lại phải tiễn chủ quay trở lại.

Cô gái thay Trường tiếp khách cũng là một người trong nhóm quen biết ngay từ buổi ban đầu, cô có tên là Nghi, một cái tên rất hiếm gặp ở ngoài đời, ở cô hầu như không thấy có gì là sự khách sáo. Những câu chuyện của cô có cái gì đó rất tự nhiên và thân mật, tiếp xúc với cô, Hằng thấy giống như tiếp xúc với một người cùng làng. Sau lần thay bạn tiếp khách ấy cô còn phải thay bạn tiếp khách đến vài ba lần nữa vì Trường hay phải đi công tác xa đơn vị, còn ở nhà thì rất hay bận họp. Cuối cùng vỡ lẽ ra là Trường luôn bị khống chế để phải bận khi có khách đến chơi thông qua một cán bộ cấp trên đã để ý đến Trường.

Thực ra thì cả hai người cũng chưa có sự gắn bó nào mà chỉ mới cảm thấy mến nhau mà thôi, nên việc rời xa nhau cũng không đến nỗi khó khăn lắm, người này thì không muốn làm cho người kia phải khó khăn trong công tác, còn người kia thì lại cũng không muốn gặp trở ngại trong việc giao tiếp với người bên trên để còn có điều kiện phát triển bản thân. Có một điều đáng nói ở chàng trai là anh ta chỉ muốn có một người khả dĩ thay thế người con gái vừa tuột khỏi tay mình để rồi mau chóng quên đi mối tình cũ, nên khi thấy mối quan hệ mới có vẻ phức tạp như thế thì cũng thấy nản. Hơn nữa bên cạnh lại đã có một người mới thay thế nên cái sự rời bỏ cũng không khó khăn gì.

Hình như trong lĩnh vực tình yêu người con gái không bao giờ chủ động ngỏ lời trước nhưng một khi đã quen nhau rồi thì họ lại rất khéo dẫn dắt đối tác đi theo quỹ đạo của họ. Còn các chàng trai thì cứ tưởng đấy là chương trình do mình đặt ra, thế rồi lao theo một cách hết sức nhiệt tình. Nhiều khi còn tự hào cho rằng mình là người chiến thắng oanh liệt, kỳ thực thì họ là người luôn bị dắt mũi và chịu những thất bại ê chề. Mặc dù cố giữ trạng thái quan hệ bạn bè trong một thời gian khá dài nhưng rồi việc gì đến sẽ vẫn phải đến. Quan hệ của hai người đã có bước phát triển khác so với ý định ban đầu. Các cô bạn trong đơn vị đã không còn gán ghép Hằng với cô Trường nữa, họ đã nhận ra sự thay đổi đối tượng của cặp bạn này.

Cũng trong thời gian này quân Mỹ đã ngừng đánh phá miền Bắc. Khối công nhân sửa chữa thiết bị lò máy của nhà máy điện đã được chuyển về khu Lán ổi để đi lại cho nó gần. Những đội viên của 324 cũng được phân công đi sâu vào phía Nam. Từng bộ phận nhỏ được chuyển về các ga kéo dài từ ga Thanh Hoá vào đến ga Vinh và xa hơn nữa như ga Đồng Hới của tỉnh Quảng Bình. Công việc của họ là khôi phục nhanh các ga để thông tuyến đường sắt vận chuyển của cải, phương tiện từ ngoài Bắc vào giúp cho công việc xây dựng lại các địa phương đã bị tàn phá trong chiến tranh. Chuyên chở các phương tiện quân sự và các đơn vị quân đội bổ sung cho chiến trường miền Nam tiếp tục công cuộc giải phóng đất nước, thống nhất tổ quốc.

Bộ phận của Nghi cũng được chuyển đến ga Minh Khôi vừa để sửa chữa nhà ga và sửa chữa các cung đường kế tiếp các bộ phận khác. Sau mỗi tuần làm việc Nghi lại theo tầu về thăm người yêu vào các buổi chiều thứ bẩy và rồi lại theo tàu vào Minh Khôi vào các chiều chủ nhật. Những bữa cơm tập đoàn độn ngô cùng với một chút thức ăn mua thêm để cải thiện cùng với mấy người bạn nhưng vẫn rôm rả không kém những đợt đi ăn cơm tiệm ở Hà Nội. Những buổi tối dạo chơi trên những bờ đê đẫm sương hoà trộn với hương lúa đồng thơm ngát cùng với bao nhiêu những dự định về cuộc sống ngày mai sau mỗi tuần làm việc càng làm cho tình yêu của họ ngày càng đằm thắm. Một ngày nào đó người chồng sẽ vẫn cứ làm công nhân của nhà máy điện, còn người vợ sẽ làm việc ở một nhà ga nào đó, để rồi cuối tuần lại trở về gặp nhau với những bữa cơm gia đình giống như các anh, chị trong đơn vị mà hai người vẫn đến thăm hàng ngày. Sau khoảng thời gian quan hệ cùng nhau hai người đã bàn nhau tiếp cận hơn nữa về phía gia đình và một ngày hạ tuần tháng ba họ đã quyết định cùng về thăm nhà cô gái.

Làng chài Minh Đức xã Minh Lộc cũng như bao nhiêu làng quê ven biển trên khắp nước Việt Nam, cũng có bãi biển toàn cát trắng cùng với những hàng phi lao chắn sóng trồng thành những hàng đều nhau chaỵ dọc theo bờ biển. Những mái nhà ngói chen lẫn những mái nhà lợp lá kè ngày đêm toả khói giữ nhịp sống cho bao gia đình người dân đất Việt. Những ông già, bà già nước da nâu bóng đi lại mạnh mẽ trên bãi cát từ sớm đến chiều say sưa làm việc. Người thì giăng phơi các vàng lưới cắm cúi vá những chỗ lưới bị thủng, người thì đan sửa lại các thúng sọt để đón cá về vào các buổi chiều.

Người nhà cô gái đón bạn trai của cô hết sức vui vẻ và nhiệt tình, ông bố thì nheo mắt ngắm nghía chàng thanh niên khá kỹ suốt từ đầu đến chân rồi vào nhà pha nước, còn bà mẹ và cô em gái thì ríu rít mời chàng trai vào nhà, cả bà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên cũng vội vã sang chơi. Sau khi cô gái dẫn bạn ra giếng rửa chân tay mặt mũi xong vừa vào đến nhà là hàng loạt các câu hỏi thăm nom với đủ các lĩnh vực. Từ công việc làm ăn đến hoàn cảnh gia đình rồi thì đến có bao nhiêu anh em cô bác, chàng trai chưa kịp trả lời xong người này đã lại phải trả lời sang người khác. Cuối cùng thì cũng đến lượt cậu hỏi lại những người trong gia đình, từ công việc làm ăn hàng ngày đến bà con họ hàng xóm láng. Đến khi hỏi đến công việc của ông bố thì cậu đành phải ngồi im để nghe ông kể về việc chữa bệnh của ông. Ông cụ kể ra rất nhiều những con bệnh mà ông đã chữa khỏi. Hết kể về con bệnh ông lại kể về cách sử dụng các cây thuốc, trong câu chuyện của ông có cái say nghề của một người luôn coi công việc mà mình đang làm như là một lý tưởng của cả cuộc đời.

Câu chuyện hàn huyên đang còn rất sôi nổi thì người nhà đã dọn cơm chiều. Cơm nước xong thì Nghi dẫn bạn trai sang nhà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên chơi. Chị gái của Nghi tên là Thuận lấy chồng là bộ đội hiện đang tại ngũ, anh chị đã có hai con nhỏ. Tuy chị chỉ có một mình nhưng chị làm ăn khá giỏi so với nhiều người khác. Hàng đêm chị đi đánh moi ngoài biển đến khuya mới về nhà. Chị nói chuyện chả khác Nghi là mấy, thẳng thắn và không cần khách sáo. Trong lúc Nghi đang chơi với các cháu ở ngoài sân, chị nói chị sẽ có quà cho hai người khi hai người tổ chức cưới. Vừa nghe đến đây Hằng chợt giật mình không biết nói thế nào, trong bụng thầm trách Nghi đã nói chuyện này với gia đình quá sớm.

Vừa về đến nhà hai người cũng gặp ông bố vừa đi làm thuốc về, ông lại tiếp tục kể về công việc chữa bệnh của ông cho cả hai người cùng nghe. Từ cách chữa bệnh cho phụ nữ, trẻ em đến chữa các bệnh đậu mùa, bệnh bỏng nước, bỏng lửa. Ngừng một lúc ông cất cao giọng:

- Chả biết gì chứ lấy con gái tao thì chắc là vớ được cả mớ những sẹo bỏng ở mông đít.

Nghe xong câu nói này của ông cụ chàng trai thấy nóng bừng cả người và không còn biết nói sao nữa, cũng may mà trời đã bắt đầu nhá nhem tối nên chắc ông cụ cũng không thấy khuôn mặt ngượng ngập của cậu. Trời tối hẳn, trong nhà đã bắt đầu lên đèn, hai người xin phép ông bố để đi ra chơi ngoài bãi biển. Hai người đi ra đến cổng mới nghe ông bố dặn với ra:

- Nhớ về sớm đấy nhé!

- Vâng!

Cô gái cất giọng khá to trả lời ông cụ khi đã bước ra khỏi cổng nhà.

Cũng chả phải đi đâu xa xôi bởi sau hàng phi lao cạnh nhà đã là bãi cát vừa phẳng, vừa rộng. Từ hàng phi lao ra tới mép nước biển cách xa đến gần nửa cây số, thoải mái cho hai người đi dạo. Ra đến sát mép nước thì trời đã tối, hai người cầm tay nhau đi dọc theo mép nước biển trong màn đêm mờ sáng ánh sao. Đi chán rồi lại ngồi cạnh nhau trên bãi cát cùng nhìn ra mặt nước nghe từng đợt sóng biển ộp oạp vỗ vào bờ cát. Giữa khoảng không gian đầy thơ mộng được bóng đêm che phủ không có cặp tình nhân nào không tranh thủ để mà thổ lộ tình cảm, để mà âu yếm lẫn nhau. Tay trong tay, mặt kề mặt, hai thân thể nóng bỏng khao khát áp chặt vào nhau, những cái hôn dài tưởng như không dứt. Những nét thân thuộc trên cơ thể của nhau lại có dịp được tìm lại sau những ngày xa cách. Bầu trời, mặt biển, bờ cát cùng những vì sao thêm một lần chứng kiến tình yêu cháy bỏng của đôi trai gái.

Họ đã ngồi với nhau như thế rất lâu, rất lâu. Thời gian như ngừng trôi, vũ trụ như ngừng quay và tất cả mọi người trên trái đất hình như đã ngủ say hết để cho đôi người của họ thổ lộ cùng nhau lời yêu tha thiết nhất.  Phía đông đã hơi ánh lên chút ánh sáng tựa hồ như từ nơi ấy sắp có một điều gì đó kỳ lạ sắp xảy ra. Cũng đúng lúc ấy từ ngoài khơi xa có một rền vang giống như tiếng rền của sấm. Nghi giật mình vội đứng dậy kéo tay người yêu chạy vội vào bờ phi lao. Chàng trai thật sự bất ngờ không hiểu gì cả nhưng khi thấy người yêu kéo chạy thì chàng trai cũng chạy theo như một phản ứng dây chuyền vậy. Vừa chạy chàng trai vừa ngoái lại đằng sau thì thấy nước biển đã dâng lên đuổi sát theo chân của hai người. Vừa lúc hai người ngã nhào vào bờ phi lao thì nước biển cũng đã ngập bàn chân. Thì ra tiếng sấm rền vừa rồi là tín hiệu mở đầu cho những đợt thuỷ triều ở những vùng biển mà chàng trai “đường nhựa” không biết.

                 

                                        QUÂN NGŨ

 

                                                   1

 

          Tất cả những dự định tiếp theo của cặp trai gái chắc chắn đã có thể thực hiện được nếu như không có một sự kiện đặc biệt đã xảy ra, có lẽ đó là số phận đã xui lên như vậy. Chỉ mới qua cuộc thăm nhau nhân ngày chủ nhật chưa đầy nửa tháng thì Hằng nhận được quyết định gọi nhập ngũ của ban quân sự tỉnh. Đợt tuyển quân lần này gấp rút đến mức các quân nhân không có điều kiện được về nhà chia tay với gia đình mà phải tập trung ngay về các đơn vị huấn luyện. Trừ những quân nhân quê ở Thanh Hoá thì còn có thể kịp nhắn cho gia đình và bè bạn đến để đi tiễn. Còn Hằng và một số anh em quê ở ngoại tỉnh thì chỉ có chính mình tiễn mình lên đường vào quân ngũ.

          Những ngày tháng quân ngũ khép kín với những buổi tập tành, học họp cứ kế tiếp qua đi. Thời gian quân ngũ đã dài gần bốn tháng mà Hằng cũng chẳng viết thư cho ai trừ một lá thư gửi về cho mẹ. Trong những năm sống trên đất lửa Hàm Rồng, Hằng đã nhận ra sự khốc liệt của chiến tranh. Những năm tháng sắp tới mình cũng sẽ vào cuộc như rất nhiều những chiến sỹ phòng không đã từng sát cánh cùng mình trong những trận chiến đấu đầy hy sinh gian khổ. Những năm tháng chiến tranh sẽ còn rất dài, tất cả những người chiến sĩ sẽ chỉ có thể ra về khi chiến tranh kết thúc hoặc bản thân họ bị thương tích đến mức không còn tiếp tục chiến đấu được nữa như những thương binh trong các trại mà Hằng đã có lần được gặp. Những người liên quan đến mình rồi đây sẽ ra sao khi mình là một người tàn phế, hoặc mình là người sẽ hy sinh không bao giờ còn có thể trở về được nữa. Những chị Hả, chị Thục ở quê mình, những chị Thuận của nhà Nghi sẽ cô đơn cho đến hết cuộc đời, mỗi lần nhìn thấy họ mà lòng lại nao nao khôn tả. Chả lẽ mình rồi sẽ lại là một trong những người đàn ông như những người đàn ông của chị Hả, chị Thục và chị Thuận mãi mãi không bao giờ trở về nữa. Mình có nên để cho những người thân yêu của mình phải chịu sự bất hạnh mà mình đã quá biết, quá hiểu này không?

          Tuy vậy đôi khi nghĩ đến mẹ, Hằng lại thấy hình như mình có lỗi khi quyết định sự việc theo cách nghĩ này. Chắc chẳng có người mẹ nào lại không mong muốn mình có con, có cháu để cho chúng kế tục cái sự nghiệp mà bản thân họ cả một đời nhịn ăn, nhịn mặc, đổ mồ hôi công sức để gây dựng lên. Huống chi trên đời này cũng đã có hàng vạn người phụ nữ có hoàn cảnh như vậy mà họ có ta thán gì đâu. Có lẽ mình cũng nên có một đứa con cho dù bằng cách nào cũng được miễn là người ấy có thể chấp nhận. Cho đến cuối cùng thì cái lý lẽ không nên làm cho người khác bị đau khổ đã thắng thế. Hằng đã quyết không báo tin cho Nghi nữa. Sự đời đâu có theo ý của riêng mình, cái mình muốn nhiều khi tự nhiên vẫn bị thay đổi bởi nhiều nguyên nhân ngẫu nhiên, ngẫu nhiên đến không thể tượng tượng nổi.

Cũng không biết tiểu đoàn làm thế nào mà lại được phân phối một con trâu khá to làm thực phẩm. Sáng ấy Hằng được cử lên tiểu đoàn để phối hợp với các đơn vị khác làm thịt xong rồi nhận thịt tiêu chuẩn mang về đơn vị. Ăn thịt trâu thì có lẽ đa số mọi người đã từng, nhưng làm thịt trâu thì số anh em tập trung ở đây chả có ai đã từng trải qua. Làm sao để cho con trâu ngã ra, chết ngất đi thì mới dễ dàng cắt cổ lấy tiết và rồi mới có thể mổ bụng, bỏ lòng ruột ra rồi cắt thịt chia cho mọi người được. Mỗi người đề xuất một kiểu cho đến cuối cùng thì đi đến kết luận là cần phải lấy cái gì đó thật nặng để đập vào đầu cho nó ngã ra. Nói thì thế nhưng rồi hết anh này thay anh khác bổ vào đầu trâu đến vài chục nhát búa chim mà nó vẫn không chịu chết. Không những thế nó còn tự dứt đứt mũi của mình ra rồi cứ nghênh cặp sừng theo hướng các “chuyên gia” thịt trâu để mà húc làm cho các “chuyên gia” này không dám tiếp cận nó nữa. Cũng may khi trước đã buộc vào chân nó một sợi dây chão chứ không thì nó đã phóng đi mất và rồi cả tiểu đoàn sẽ phải nhịn món thịt trâu đã ở trong tầm miệng. Cuối cùng thì anh cán bộ quân giới của tiểu đoàn đề xuất là nên dùng súng để bắn cho nó chết, chỉ cần có người nào dám bắn là được. Nhìn lướt qua một lượt thì thấy đa số các cậu đều là học sinh mới vào quân ngũ và cũng chưa được một lần bắn súng, cuối cùng thì ông anh Hằng là người nhiều tuổi nhất lại đã tham gia bắn máy bay rồi phải làm nhiệm vụ bắn trâu. Sau bốn năm lần kê súng vào đầu trâu rồi mà vẫn không bắn được. Khi thì hướng đạn vào nhà dân, khi thì đầu trâu cứ ngoảy đi, ngoảy lại không làm sao bắn được. Cuối cùng thì cũng tìm ra được quy luật ngoảy đầu của nó để rồi dùng phương pháp bắn đón mới xong. Sau tiếng nổ đanh khô khốc con trâu hung hãn thế mà rồi cũng từ từ khuỵu xuống.

          Chia xong thịt thì cũng đã gần một giờ chiều đang định gánh thịt về thì Hằng nghe thấy có người tìm mình. Đang còn nghến cổ về hướng đại đội thì đã nghe có tiếng của Lệ gọi ở phía sau.

          - Thế nào xong chưa? Về ngay có khách!

          - Vớ vẩn! Tớ thì làm sao có thể có khách được! Vì tớ có cho ai biết đâu mà có người đến thăm!

          - Thôi cứ về rồi khắc biết.

          Cũng may là Lệ đi sang bằng xe đạp thế là cậu ta  chở hộ thịt trâu để cho Hằng đi bộ lững thững đằng sau. Bộ quân phục bằng vải chéo Triều Tiên xổ lông của Hằng dính đầy các loại mỡ màng Hằng cũng mặc kệ chả cần chấn chỉnh làm gì, bởi Hằng nghĩ là Lệ trêu mình vậy thôi. Mãi đến khi về gần đến nhà trọ thì Hằng nhận ra cô gái đang đứng chờ bên hàng rào ô rô đúng là Nghi. Làm sao cô ấy biết mình ở đây mà đến được thế nhỉ? Hay là Lệ quen cô ấy từ trước và Lệ cho cô ấy biết? Sau một hồi đoán già đoán non mà chả đi đến đâu đã làm Hằng nhận ra rằng cái việc cô ấy nhờ đâu mà biết địa chỉ bây giờ đã không cần để ý đến nữa, điều cần nghĩ là bây giờ mình sẽ phải đối xử thế nào với cô ấy trong khi mình đã đặt ra kế hoạch bí mật từ giã để cho cô ấy quên mình đi, để rồi cô ấy sẽ tự tìm lấy cho mình một người đàn ông khác. Cuối cùng thì việc Nghi biết được địa chỉ đóng quân để có thể đến thăm là do cô bạn của Lệ mà Nghi đã gặp được trong khi trở lại khu công nhân của nhà máy điện để tìm gặp người yêu. Nghi đã đến người anh kết nghĩa mượn xe để chở cô bạn của Lệ cùng đi.

          Chỉ bằng quá trình trở đi, trở lại không biết bao nhiêu lượt từ nơi công tác đến đơn vị của người yêu rồi lại lần dò để có được địa chỉ rồi đến được nơi người yêu ở đã làm cho chàng trai xúc động và thương biết chừng nào. Chỉ tiếc rằng khi ấy lại ở thời điểm ban ngày, rất nhiều bà con trong xóm và đồng đội đang chia vui nên chàng trai không thể ôm lấy cô gái của mình để rồi không rời ra nữa. Tất cả những suy nghĩ từ bấy lâu nay đã bị xoá hết để trở lại tình yêu và tình thương tha thiết như những ngày nào.

          Có lẽ trong thời gian chờ đợi người yêu Nghi đã kể chuyện của hai người cho các anh trong ban chỉ huy nghe nên đơn vị đã cho Hằng được miễn công tác và các phiên gác từ chiều hôm đó đến hết ngày hôm sau. Từ lúc gặp nhau cho đến buổi tối hôm đó hai người đã ở bên nhau, câu chuyện của họ vẫn như ngày chàng trai còn ở ngoài dân sự. Chàng trai vẫn chờ cô gái trách móc về sự ra đi mà không cho mình biết để đến nỗi mình phải đi tìm vất vả nhường ấy, nhưng trong suốt thời gian gặp nhau cô ấy hình như không có một lời trách móc nào. Đến lúc ấy chàng trai mới hiểu người bạn gái của mình thật là một người có nghị lực và có lòng vị tha to lớn. Với một trái tim như thế, tấm lòng như thế thật khó có thể tìm được người thứ hai. Tại sao mình lại không để lại cho cô ấy một chút kỷ niệm như mình đã nghĩ tới. Chỉ cần một lá thư giới thiệu chắc mẹ mình sẽ chấp nhận cô ấy. Mình hiểu mẹ qua rất nhiều việc mẹ đã làm, từ việc cụ nhận nuôi người chị gái mà cụ nhặt được trên đường tản cư trong lúc bản thân cụ cũng phải lo kiếm ăn từng bữa, đến việc nuôi nấng bao nhiêu đứa cháu cho người em họ của chồng, rồi còn biết bao những cái tốt trong cư xử  đối với mọi người trong họ nhà chồng cho thấy cụ có thừa tấm lòng rộng mở nhất là mình lại có thư giới thiệu rằng đây là dâu, là cháu của cụ.

          Buổi tối gặp nhau sau gần bốn tháng càng làm cho cặp tình nhân khao khát hơn cả trong những ngày tháng trước đó. Họ ở bên nhau và quện chặt vào nhau, sao mà vui đến thế, sao mà đẹp đến thế nhưng cũng thật đáng thương bởi chỉ sớm mai đây họ lại phải chia tay nhau không biết đến bao giờ gặp lại, hoặc cũng có khi họ không bao giờ còn gặp được nhau nữa.

          Chỉ còn một nửa của đêm nay nữa thôi, từ phía cô gái dường như tất cả cũng đã rất sẵn sàng và những quyết định mới nhất của chàng trai sẽ được thực hiện trong những giờ phút sắp tới. Đêm lặng lẽ trôi để dần mất đi khoảng thời gian quý báu nhất mà hai người có được, sự quyết định sao mà vẫn khó khăn đến thế… Điều gì đã ngăn trở họ có nhau, điều gì đã ngăn trở họ làm cho nhau thoả mãn cả về những đòi hỏi bản năng lẫn những đòi hỏi về trách nhiệm của một con người trong việc duy trì nòi giống, duy trì dòng họ và duy trì phiên bản của chính họ trên cõi đời này? Xin tất cả mọi người đừng bao giờ trả lời cho những câu hỏi vừa rồi. Bởi tất cả mọi câu trả lời đều sẽ là rất khập khiễng và rất giáo điều.

          Họ chia tay vào buổi sáng hôm sau với bao lưu luyến không nói được thành lời. Người con gái thật là buồn thảm, còn người con trai thì cũng chẳng hơn gì, mặc dù chàng trai đã cố gắng để không đến nỗi quá buồn trên nét mặt, nhưng bên trong thì tựa như tất cả đang rớm lệ. Nhưng dù sao thì chàng trai cũng đã chiến thắng được chính mình, nung nấu thêm cái quyết tâm quên mình cho những người mình thương yêu nhất.  

                                                             2

 

          Vào những ngày cuối tháng chín năm 1970 đơn vị bắt đầu làm công tác chuyển quân từ khung huấn luyện sang cho các đơn vị mới. Toàn đơn vị lúc này đang tập kết tại khu vực Đồng Nẻ địa điểm cũ của cơ quan nông trường bộ, nông trường Yên Mỹ. Những buổi học tập chính trị kéo dài đến cả tuần, nào là nghe nói chuyện về tình hình, nhiệm vụ mới, tình hình chống Mỹ ngày một lan rộng trên thế giới, tình hình chiến sự miền Nam cùng với những con số rất cụ thể. Rồi thì  những thành tích trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc, phong trào tất cả vì miền Nam ruột thịt,  tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược và còn rất nhiều chương trình khác nữa. Không khí sinh hoạt trong đơn vị hết sức sôi nổi và hừng hực khí thế. Các chiến sỹ háo hức ra mặt trận ngay để trả thù cho đồng bào và chiến sỹ miền Nam đang bị kẻ thù đàn áp, ra mặt trận ngay để kịp đóng góp một phần xương máu của mình cho chiến thắng của dân tộc. Người ta cứ nghĩ rằng nếu không nhanh thì không còn cơ hội tham gia vào công việc chiến đấu của dân tộc. Tiếp theo đó là các đoàn viên đăng ký làm đơn tình nguyện xung phong ra mặt trận.

Cuối cùng thì ngày lên đường chiến đấu cũng đã đến sau mấy ngày tập dượt báo động chuyển quân. Các chiến sĩ được lệnh bao gói ba lô vào các túi mưa để làm phao vượt vùng nước dài gần năm cây số ngay từ sáng sớm. Những cơn mưa kéo dài gần cả tuần lễ đã làm cho toàn bộ khu vực từ thung lũng dưới chân đồi Đồng Nẻ đến ngã ba Chuồng đều ngập dưới hai đến ba mét nước. Đợt chuyển quân ngẫu nhiên lại hoá thành một đợt thực hành chuyển quân trên đồng nước mà không phải lúc nào cũng có được. Mặc dù chưa có kinh nghiệm lại thiếu thốn về phương tiện nhưng đơn vị cũng đã hoàn thành công việc chuyển quân.

Gần hai tiểu đoàn bộ đội đã tập kết về các khu vực quanh ga Thị Long nên hầu như nhà nào trong vùng cũng đều có các anh bộ đội đến ở nhờ. Từ trước đó trên địa bàn đã có một đơn vị công nhân đường sắt nên lại càng chật chội. Đôi chỗ cả công nhân lẫn với bộ đội đều cùng trọ chung trong một nhà. Tiểu đội của Hằng có hơn chục người cũng bị chia nhỏ ra để gửi vào các nhà dân. Nhóm của Hằng chỉ có hai người gồm có Hằng và Liên tiểu đội trưởng đóng ở nhà của anh xã đội phó. Ngay buổi chiều hôm đó vợ chồng anh xã đội phó đã tiếp hai anh em bằng những câu chuyện hết sức vui vẻ. Anh kể rất nhiều chuyện về những vụ đánh án bắt bọn trộm cướp ở ngay tại địa phương. Câu chuyện của anh ly kỳ như những trận đánh án của công an trung ương vẫn được kể trên đài.

Sau khi ổn định chỗ ở hai anh em cùng đi ăn cơm ở bếp đại đội. Mải chuyện với cánh cùng tiểu đội đến khi về nhà trọ thì trời đã tối. Buổi tối hôm nay Hằng có cuộc họp đoàn triển khai nghị quyết, hưởng ứng lời kêu gọi thi đua đánh giặc của quân uỷ nên Hằng chào tạm biệt anh xã đội phó để đến một nhà ở đầu xóm hội ý với  cán bộ các phân đoàn.

Trời tối quá nên Hằng dò dẫm men theo con đường làng nhỏ hẹp lép nhép đất ướt đến một lúc lâu mới đến chỗ tập kết cuộc họp. Vào đến sân Hằng chưa vào nhà vội mà đi tìm chỗ có lợi gạch gõ cho bùn đất rụng ra để vào nhà cho đỡ bẩn. Ngay giữa sân có đến bốn, năm người phụ nữ ngồi bóc lạc trong một cái thúng đều cất tiếng chào, lúc ấy Hằng mới nhận ra đấy đều là những cô gái trẻ. Hằng đoán có lẽ họ đều là các công nhân đường sắt ở nhờ. Hằng chào lại một cách chiếu lệ rồi đi vào nhà, ngồi vào bàn triển khai chương trình họp. Thực ra thì chương trình và nội dung họp đồng chí chính trị viên phó đã triển khai hôm trước rồi, việc các đơn vị nhỏ lại phải tiếp tục họp chủ yếu là tập trung con số tránh để các chiến sỹ tự do đi lại làm lộn xộn khu vực đóng quân, đồng thời cũng là cách ngăn chặn những anh chàng thích tự do trốn về nhà để khi tập trung lên tàu vẫn giữ được đầy đủ con số. Cuộc họp diễn ra không quá một giờ thì giải tán, các chiến sỹ lại ai về nhà ấy để triển khai công việc gác sách.

Sáng hôm sau các tiểu đội đi nhận quân trang, vũ khí mãi đến quá trưa mới xong. Vừa về đến nhà đã thấy anh xã đội phó gọi ra cho biết có người đến hỏi thăm, chờ đợi khá lâu không gặp nên đã vừa về rồi. Đang còn phân vân không biết là ai thì đã thấy anh xã đội nói to từ ngoài ngõ:

- Cậu ấy vừa về xong, cô vào ngay đi!

Vừa quay nhìn ra cửa Hằng đã nhận ra không phải ai khác mà đó chính là Nghi, mặc dù cô che mặt rất kín bằng chiếc khăn voan màu trắng. Cô nhẹ nhàng bước vào nhà và ngồi vào cái ghế băng để kề bên cái bàn gỗ tạp kê ở giữa nhà. Hằng để cho Liên ngồi tiếp hộ rồi xuống bếp rót nước vào cái ca men mang lên mời cô gái uống.

- Làm sao em biết anh ở đây mà tìm đến?

Nghi mỉm cười rồi nói:

- Anh thấy em có tài không?

- Anh chịu!

Sau vài câu chuyện mở đầu Hằng bắt đầu giới thiệu cho anh xã đội phó và Liên biết quan hệ của hai người. Sau mấy câu hỏi xã giao, anh chủ nhà và Liên đều cáo từ rời khỏi nhà có ý để cho hai người tự nhiên nói chuyện.

- Các anh còn ở đây lâu không?

- Có lẽ đơn vị sẽ ở lại đây gần một tuần gì đó.

- Sáng nay em mới biết anh về đây qua cái Ngọc kể lại, thế là em đã xin nghỉ mấy ngày để tiễn chân anh.

- Làm sao Ngọc biết được anh đến đây mà anh lại không thấy cô ấy nhỉ?

- Tối qua nó nhìn thấy anh tổ chức họp ở ngay nhà nó trọ thế là nó bảo cho em biết.

- Thế mà nó chẳng thèm chào anh một tiếng, hay là nó giận gì anh không biết?

- Nó không dám nhận anh vì nó sợ bọn trong tiểu đội trêu anh là người yêu của nó, hơn nữa nó cũng sợ mọi người biết quan hệ của anh với em rồi suốt ngày trêu cợt không làm sao mà chịu được.

Ngừng lại một lúc Nghi lại nói tiếp:

- Chiều mai em định tổ chức liên hoan chia tay anh, có cả các anh trong ban lãnh đạo tiểu đoàn của anh cũng tham dự anh nhớ đến nhé!

- Mấy ngày tới có lẽ anh bận giải quyết một số thủ tục về giấy chuyển sinh hoạt đoàn cho một số anh em còn thiếu để kịp lên đường nên chưa chắc anh đã đến được đâu.

- Thế thì em tổ chức vào buổi trưa vậy, có được không anh?

- Để anh xem thế nào đã, buổi trưa đơn vị tập trung điểm nghiệm quân tư trang, có lẽ anh cũng không sắp xếp được...Thôi để khi nào có điều kiện anh sẽ bảo cho em biết sau vậy!

- Mặc anh! Nhất định anh phải đến đấy! Em sẽ báo cáo lãnh đạo hộ cho anh.

Chia tay với Nghi rồi mà Hằng vẫn cảm thấy không yên, những dự định và sự quyết tâm khi hai người gặp nhau lần trước đang có cơ bị thất bại. Lại một lần gặp nhau ngẫu nhiên khác! Hằng không sao giải thích nổi, có lẽ số phận đã không cho họ rời nhau ra được. Suốt cả buổi chiều hôm đó rồi cả buổi tối khi hai người ở bên nhau Hằng vẫn cố gắng xây dựng quyết tâm thêm một lần nữa. Những lúc gần nhau Hằng đều tránh để không chạm vào người của Nghi, cho dù cô luôn áp sát vào anh như mọi khi. Cứ mỗi lần vô tình chạm vào nhau Hằng lại lựa khéo để hai người cách xa ra thêm một chút.

Để có thể giữ vững quyết tâm của mình trong việc rời xa cô ấy để cô ấy giận dỗi từ bỏ mình để tìm một tình yêu mới. Để cô không phải chịu hoàn cảnh cô đơn và héo hắt trong chờ đợi như những người chị của cô, Hằng đã quyết định sẽ không gặp cô nữa. Ngay lúc đó trong đầu Hằng đã hình thành một kế hoạch tránh gặp mặt Nghi. Suốt ngày Hằng đi hết chỗ này đến chỗ khác để nhắc nhở các phân đoàn tổ chức họp triển khai nghị quyết của chi đoàn. Hằng nhờ Liên chuẩn bị quân tư trang và mọi thứ hộ còn mình thì luôn vắng nhà để cô ấy không tìm được. Cuối cùng thì Hằng cũng đã thực hiện được kế hoạch của mình một cách hoàn chỉnh. Hằng đã lên tàu rồi mà cô ấy vẫn không tìm gặp  được. Cẩn thận hơn, Hằng cũng không về chỗ tập trung của tiểu đội mà ở lại chỗ của trung đội trưởng Nhận là người cùng quê Đông Anh với Hằng.

Cuộc chia tay ban chiều không biết có được tổ chức hay không, nhưng Hằng đã không đến. Cô ấy chắc sẽ vô cùng nóng ruột trong suốt thời gian chờ đợi và sẽ đau khổ biết bao khi thời gian đã quá muộn mà chàng trai của cô vẫn chưa chịu đến hay nói cho thật đúng là chàng trai của cô đã không đến. Có một điều mà cô ấy sẽ không bao giờ hiểu được đó là trong mỗi giây phút mà cô ấy đau khổ thì chàng trai của cô ấy cũng đang chịu bao sự dằn vặt, đớn đau.

Mặt trời đã khuất sau những ngọn núi phía xa, hoàng hôn màu tím lan toả trên khắp sân ga. Từ bên hàng cọc gỗ làm rào ngăn cách nhà ga với làng xóm, có một người con gái đứng lặng lẽ nhìn lên những toa tàu đầy chặt những chàng trai màu xanh áo lính mà không làm sao tìm thấy được chàng trai của riêng mình. Cũng trong thời gian ấy từ trên một ô cửa sổ của con tàu có một người lính cũng cố gắng thu vào tầm mắt như muốn ghi sâu vào trong tim mình hình ảnh nhỏ bé, cô đơn của người con gái mình yêu trong những giây phút cuối cùng trước lúc đi ra mặt trận.

Những bánh thép từ từ lăn về hướng Nam xa tắp chở theo trong đó hàng ngàn những chàng trai đang cất cao từng đoạn những ca khúc rực lửa chiến đấu. Trong đó chắc không thiếu những người lính đang nhẩm đọc những vần thơ bi tráng, thấm đẫm tình yêu vĩnh cửu của riêng mình... 

                                       

                                                      3

 

Công việc bàn giao quân thật nhanh chóng vì rất nhiều đơn vị sau chiến dịch xuân 1968 đã mất nhiều quân số, cho nên số tân binh đã được huấn luyện chu đáo cả về kỹ năng sử dụng các loại vũ khí và thông thạo về kỹ chiến thuật lại được rèn luyện mang nặng, đi dài là rất quý cho các đơn vị nhận quân. Số quân của Thanh Hoá lần này được giao cho sư đoàn 320, một trong bốn sư đoàn cơ động của bộ quốc phòng. Nói là chỉ có bốn sư đoàn cơ động nhưng thực ra thì không biết lúc đó có mấy sư đoàn cơ động, bởi vì mỗi sư đoàn chỉ mang một số hiệu nhưng nó còn có thêm những chữ A, B, C, D, E, gì đó. Chính vì vậy mà quân địch rất khó biết ta có thực lực quân số là bao nhiêu.

Trừ các cán bộ khung huấn luyện ở lại, quân số của tiểu đoàn được chia nhỏ ra để bổ sung vào các trung đoàn và các đơn vị trực thuộc ngay tại khu ga Thị Long. Toàn bộ đại đội huấn luyện của Hằng được bổ sung vào tiểu đoàn 25 trực thuộc phòng hậu cần sư đoàn. Tiểu đoàn 25 là một đơn vị vận tải bộ, nhiệm vụ chính của cả tiểu đoàn là vận chuyển vũ khí đạn dược từ các kho của quân khu về, rồi lại chuyển đến các mặt trận tiếp tế cho các đơn vị chiến đấu. Ngoài vận chuyển vũ khí đơn vị còn làm công tác chuyển thương từ mặt trận về các đại đội quân y của các trung đoàn hoặc chuyển về tiểu đoàn quân y của sư đoàn. Ngoài các công việc trên, đơn vị còn thực hiện các công việc khác nữa mà phòng hoặc sư đoàn yêu cầu đột xuất.

Những ngày đầu tiên về đơn vị mới lại là các việc học chính trị và rèn luyện. Cán bộ cấp trên luôn lấy việc chấp hành quân phong, quân kỷ là mục tiêu giáo dục các chiến sĩ. Cùng với những nội dung trên là hàng loạt các hoạt động như việc làm báo tường, xin vật liệu về làm các giá đỡ súng, thậm chí là vào rừng chặt cây về làm nhà, làm bếp. Tất nhiên là các đồng chí lính mới rất hăng say làm suốt ngày, suốt đêm mong sao để được đẹp hơn các tiểu đội, đẹp hơn các trung đội khác. Họ cũng không ngờ rằng tất cả những công việc ấy chưa kịp hoàn thành thì đã lại phải báo động chuyển quân đi nơi khác. Đương nhiên là lãnh đạo cấp trên họ đã biết rất rõ là như thế những họ vẫn phải triển khai. Cũng có nhiều cán bộ cấp trên nói rằng cứ phải bắt làm cho thật nhiều để tránh cái việc “nhàn cư vi bất thiện”. Tất nhiên là như các cụ ta xưa đã nói một câu cưả miệng là “nước sông công lính” nhưng nghĩ cho cùng thì từ cách nghĩ, việc làm như trên cũng là một cách giữ gìn bí mật. Biết đâu trên địa bàn chả có các nhóm gián điệp hàng ngày chỉ thăm dò hiện tượng chuyển quân để mà dự đoán ra kế hoạch tác chiến để bố phòng lực lượng đối phó làm thất bại kế hoạch của ta.

Ngay khi rời ga Thị Long đơn vị của Hằng đi một mạch vào tận xã Quảng Hưng, Quảng Trạch, Quảng Bình. Ngay những ngày đầu tiên đơn vị đã triển khai công tác huấn luyện. Thao trường luyện tập là một cánh đồng cát trắng bao la bát ngát của xã Quảng Hưng. Bài học chủ yếu là cách cứu chữa, băng bó cho các chiến sỹ với hầu hết các dạng vết thương trên mọi chỗ của cơ thể. Tiếp theo là cách buộc võng cáng thương binh kết hợp vận động trong các tình huống. Gian nan nhất là việc khênh thương binh chạy trên các địa hình với quãng đường đủ dài để rèn luyện sự dẻo dai của chiến sỹ. Việc khênh nặng chạy trên cát quả thật là một việc không phải dễ dàng. Cứ mỗi bước chân lên được hai mươi phân thì khi bàn chân tiếp cát lại lún xuống mất mười phân. Nhưng mệt nhất là việc mỗi bước chân lại phải kéo theo lượng cát nằm trên mu bàn chân. Nhiều lần kéo cát như thế bàn chân cứ như muốn rời ra khỏi ống chân.

Từ mấy tháng nay chính quyền nguỵ nhiều lần  hô hào trên các phương tiện phát thanh và báo chí về  kế hoạch Bắc tiến. Chúng đưa hai chiếc tàu khu trục ra vùng biển ven vịnh Bắc Bộ làm như sẽ chuẩn bị tiến công ra miền Bắc. Mặc dù chúng đã nhiều lần gào thét như vậy nên chả ai thèm quan tâm đến những điều chúng nói. Người ta thừa hiểu rằng ngay trên mảnh đất chúng còn đang chiếm giữ, chúng đã chẳng thể nào giữ nổi huống gì chúng lại mưu toan làm những việc tầy đình này. Mặc dù vậy nhưng hình như lần này cấp trên có vẻ rất chú trọng và có phần nào khẩn trương trong tổ chức phòng thủ dọc bờ biến suốt từ Quảng Bình ra mãi vùng Quảng Ninh, Uông Bí.

Tiểu đoàn 25 vận tải cũng được huy động vào công tác phòng thủ cùng với các đơn vị khác trong sư đoàn. Sau đợt chuyển các hòm gỗ dùng để đựng đạn pháo và đạn cối ra vùng biển Cảnh Dương xong thì cả đơn vị lại lên xe hành quân ra Thanh Hoá. Khi hành quân vào các đoàn xe đều buông bạtT, còn khi ra thì chẳng thấy nói gì về việc giữ bí mật mà có vẻ như cấp trên còn muốn khoa trương thanh thế cho mọi người cùng biết rằng ta đang phòng thủ đây. Đồng thời cũng ngầm răn đe kẻ địch về sự chuẩn bị này để chúng hiểu rằng tiến ra Bắc là sẽ chỉ có con đường chết.

Những ngày cuối năm đang đến gần, hôm nay đã là ngày tết ông Táo hai mươi ba tháng chạp rồi, không khí tết đã rộn rã trên khắp các vùng quê. Từ các ngả đường thôn xóm người đi lại có vẻ gấp gáp và khẩn trương hơn. Các chợ trong vùng đông đúc, tấp nập khác hẳn những ngày thường. Nhiều mặt hàng ngày thường không có hôm nay cũng bày bán khắp cả chợ.  công việc chặt cây rừng về làm nhà cũng đã gần hoàn chỉnh. Một số trung đội đã cắt đủ tranh để lợp nhà. Cứ tưởng chuyến này sẽ được ăn tết ở vùng rừng núi Như Xuân, vậy mà sớm nay đại đội lại phải lên đường để vào lại Quảng Bình. Lần này thì đơn vị tập kết ở vùng Tuyên Hoá, miền tây của Quảng Bình.

Công việc chính của đại đội 2 là nhận hàng từ  kho của sư đoàn về trang bị cho trung đoàn 64 đi B dài trong thời gian tới. Kể ra cũng lạC, bởi quân tư trang của 64 lần này không giống với đồ dùng của các đơn vị đi B dài khác. Những bộ quần áo mới thì chẳng nói làm gì bởi nó vẫn như quần áo mọi khi. Nhưng tăng võng và các trang bị khác như thuốc men và các thứ hàng hoá cấp kèm theo thì rất sơ sài. Nhiều người nghĩ rằng có lẽ nhà nước mình có khó khăn do kháng chiến kéo dài nên cũng thiếu thốn hơn chăng.

          Chỉ đến khi cuộc chiến đã mở ra và toàn thắng ở vùng đường 9 Nam Lào người ta mới hiểu rằng mọi công việc mà cánh lính tráng hậu cần chúng tôi làm trong mấy tháng qua chỉ là động tác nghi binh trong chiến thuật mà thôi. Người ta càng không thể ngờ rằng sư đoàn trưởng Kim Tuấn đã vào khảo sát vùng chiến trường từ trước đó khá lâu. Người ta càng không thể ngờ rằng trung đoàn 64 của sư đoàn 320 chẳng đi B dài mà là vào đón lõng tại một vùng hiểm yếu để tiêu diệt toàn bộ quân địch định bất ngờ đánh vào hậu phương của ta mà chúng đặt tên là chiến dịch Lam Sơn 719. Có một điều càng không thể ngờ được đó là kẻ địch tưởng ta đã bị chúng nghi binh thu hút lực lượng vào cuộc phòng thủ miền Bắc. Chúng có biết đâu rằng ta đã chờ chúng hàng mấy tháng trời tại cái nơi mà chúng tổn hao không biết bao sức lực vào đó để rồi hàng ngàn quân, hàng ngàn ô tô, xe tăng, trọng pháo và cả những máy bay lên thẳng đã không kịp chạy thoát thân. Bản tin chiến sự đã mô tả cuộc rút chạy hỗn loạn ấy không khác nào một đàn vịt bị săn đuổi. Hàng ngàn những ô tô, xe tăng vẫn đang nổ máy còn bọn lính lái xe đã tháo chạy không biết tự bao giờ. Cả đống những phương tiện chiến tranh bị bỏ lại trên đoạn đường dài mấy cây số. Trong cái mớ hỗn độn ấy người ta còn thấy cả những chiếc máy bay lên thẳng hạ xuống rồi không kịp bay lên trốn chạy. Trung đoàn 64 là một trong những đơn vị lập công lớn trong chiến dịch. Có một điều đặc biệt hơn là trung đoàn còn bắt sống được đại tá Thọ lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù, một trong những người đứng đầu chiến dịch Lam Sơn 719 của quân địch. Nghe đâu Thọ còn là một nhân vật của CIA, cục tình báo trung ương Mỹ.

          Sau khi hoàn thành cuộc nghi binh chiến thuật, khối hậu cần trong đó có tiểu đoàn 25 vận tải và một số các đơn vị chiến đấu của trung đoàn 48 được điều vào tiếp ứng để chặn đánh một số bộ phận quân địch chạy tán loạn khắp vùng lân cận. Đại đội 2 của Hằng được đưa lên xe chở vào vùng Cự Nẫm của địa phận của tỉnh Quảng Bình rồi sau đó hành quân bộ đi sâu vào miền rừng khọc của Tỉnh XaVaNakhệt trên đất của nước bạn Lào. Cuộc hành quân của đại đội 2 dừng lại ở vùng Na Thông, Na En để phối hợp với các đơn vị chiến đấu tiến đánh các cứ điểm ở khu vực Pha Lan, Đồng Hến. Cho đến tháng 6 năm 1971 thì tất cả mọi lực lượng tham gia cuộc tập kích của quân địch ra đường 9 năm 71 mà chúng lấy con số năm 71 cùng với địa danh đường 9 ghép lại đã hoàn toàn bị tiêu diệt.

 

                                                               4

 

          Những ngày đầu tháng sáu âm lịch vừa mới bắt đầu thì cũng là những ngày mở màn cho những trận mưa đầu mùa trên đất bạn. Cả đại đội hàng trăm người vừa mới mạnh khoẻ là thế mà giờ đây đang lên cơn sốt rét run lên cầm cập. Ban chỉ huy đại đội 2 cả từ chính trị viên, đại đội trưởng đến các thành viên khác cũng bệnh tơi bời. Hai cậu liên lạc trẻ Tâm và Luận khoẻ thế mà cũng nằm rên hừ hừ mỗi thằng một xó. Cũng không biết thế nào mà Hằng lại nằm ở con số bốn người trong đại đội không bị sốt. Ba trong số bốn người không bị sốt thì đều đã từng sốt ở Thượng Lào năm trước còn có thể nói là có sự miễn dịch chứ Hằng thì đâu đã sốt bao giờ. Sau nhiều năm nghiên cứu về bệnh nhiệt đới nhiều học giả người nước ngoài đã cho biết Nam Lào là vùng tập trung của các loại bệnh sốt rét do muỗi gây ra vào diện đứng đầu thế giới, thế mà Hằng lại không bị sốt thì quả thật là lạ.Tất nhiên là không sốt thì phải cáng đáng toàn bộ mọi việc cho những người ốm. Đâu là việc chăm lo cơm nước, giặt dũ áo quần, thậm chí cả việc gác sách đêm hôm cũng phải cáng đáng nhiều hơn. Cũng may là cụm công tác của Hằng chỉ có mỗi một anh Nhu đại đội phó cùng với mấy người, chứ nếu ở đại đội bộ phía trong bãi đá Na En thì chắc là cậu chạy tướt bơ cả ngày sang đêm không hết việc.

          Còn đang dọn dẹp một vài thứ vũ khí của anh em để bên miệng hầm kèo thì đã nghe có người gọi từ bên hầm của đại đội phó, Hằng đứng lên thắt lại dây lưng quần rồi chạy sang nhận lệnh. Vừa thấy mặt, tham mưu trưởng sư đoàn Phát đã giao cho cậu một thư lệnh bảo phải gấp rút đưa vào cho tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quý ở mãi tận Na En. Nhận thư xong Hằng nhét thư vào ngực áo rồi chạy về hầm của mình để chuẩn bị lên đường. Đường đi vào Na En chỉ độ hai chục cây số và hầu như cũng rất an toàn, nên Hằng cũng không cần chuẩn bị gì nhiều. Vừa khoác khẩu AK báng gấp lên người định đi thì đại đội phó gọi lại bắt mang thêm khẩu K54 với đủ ba băng đạn nữa rồi mới cho đi.

          Cũng thật may cho Hằng là hôm nay trời tương đối khô ráo nên đường xá quang đãng có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ ở khá xa nên không lo bị địch phục kích. Mặc dù vừa đi vừa chạy gằn nhưng Hằng không khỏi lo lắng sợ rằng mình đến không kịp thời gian quy định. Trong suốt thời gian tập luyện các cán bộ khung đã nhấn mạnh đến trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đặc biệt là nhiệm vụ giao thông liên lạc, chuyển mang tài liệu trong chiến đấu. Các tài liệu phải được bảo đảm hoàn toàn bí mật, không để lọt vào tay kẻ địch, phải mang đến nơi nhận đúng địa điểm, đúng thời gian. Đây cũng là lần đầu Hằng làm nhiệm vụ này nên trách gì không khỏi lo lắng dọc đường.

          Đang vừa đi vừa suy nghĩ, chợt Hằng thoáng nghe trong gió hình như có tiếng người từ phía trước mặt vọng lại. Nhanh như một vận động viên chạy việt dã Hằng vượt qua khoảng trống để lẩn nhanh vào khu vực cây cối um tùm của một ốc đảo. Dựa mình vào một cái rễ cây khá lớn đủ che khuất người rồi tập trung quan sát ra bốn phía xung quanh. Ngón tay cái khẽ khàng  ấn khoá hãm của khẩu AK báng gấp rồi đặt ngón trỏ vào vòng cò súng. Có lẽ là số lượng của nhóm người này khá đông nên tiếng ồn ào nghe khá rõ. Cũng không phải đợi lâu thì người đi đầu đã xuất hiện. Một người đàn ông mặc áo rằn ri, tiếp theo là một người đàn ông mặc một cái áo cộc ba lỗ, bên dưới quấn xà rông, kế đến là hai người phụ nữ mặc váy hoa. Phía sau hình như còn có mấy đứa trẻ con lũn cũn sau đám cỏ tranh. Đã gần lắm rồi, có lẽ chỉ còn cách hai trăm mét là cùng! Một trăm rưởi mét! Một trăm mét! Gần quá rồi, có lẽ phải bắt đầu thôi. Nhưng sao thế nhỉ? Tất cả họ đều không mang súng hoặc một thứ vũ khí gì mà chỉ có các loại dao, gùi, ống nước! Có lẽ đây là một gia đình người Lào đi thăm người hoặc ra nương thì phải. Chỉ còn độ năm mươi mét nữa là chạm nhau rồi. Chợt ba đứa trẻ con vùng chạy đuổi nhau lao nhanh về hướng Hằng phục kích. Chúng chạy nhanh quá và chợt đứng sững lại vì chúng đã nhận ra có người lạ ở bên gốc cây trước mặt mình. Cả ba đứa cùng la eo éo và chỉ tay về phía Hằng báo cho những người lớn biết. Nói thì lâu chứ thực tế thì từ khoảng thời gian Hằng phát hiện ra nhóm người đó cho đến lúc lũ trẻ vọt chạy đuổi nhau kéo dài chỉ độ năm sáu  phút. Ngay cả những ý nghĩ chợt đến, sự liên hệ tình hình ở trong đầu đến khi đánh giá xong sự việc để đi đến hành động cũng chỉ nhanh chóng lướt qua trong vài mươi giây là cùng.

Những người lớn trong nhóm sau khi nghe lũ trẻ la lối cũng dừng lại cả và thận trọng nhìn về phía Hằng. Họ đứng nguyên với tư thế khi họ bất chợt dừng lại mà không dám thay đổi tư thế khác vì sợ bị đối phương hiểu lầm về hành động của họ. Họ có vẻ lo lắng hoảng sợ khi thấy Hằng hướng mũi súng về phía họ. Sau giây phút bị bất ngờ vì lũ trẻ phát hiện ra mình thì Hằng cũng đã trấn tĩnh lại và quan sát kỹ cả nhóm người đứng trước mặt, trong khi tay vẫn chạm sát vòng cò súng. Trong lúc cả mấy người vẫn đứng nguyên tại chỗ Hằng đã nhìn lại người mặc áo rằn ri, người này vào khoảng bốn mươi, còn người già thì không thể đoán ra tuổi được bởi mặt mũi thì nhăn nhúm, lưng lại còng gập xuống. Cái áo rằn họ mặc cũng đã quá cũ, nhiều chỗ trên vạt đã rách sơ ra chỉ còn cái vệt xanh đen khoang khuở thì vẫn còn nhìn khá rõ. Cũng giống như Hằng, sau cú chạm mặt bất ngờ làm cho nhóm người ấy sợ sệt đôi chút nhưng họ thấy người cầm súng không có ý làm hại đến họ thì họ có vẻ an tâm hơn. Sau một lúc cả hai bên im lặng nhìn nhau thì chợt nghe thấy cả mấy người trong nhóm léo xéo với nhau mấy câu gì đó rồi thì tất cả bằng ấy người nối theo nhau rẽ xiên về phía bên trái để vòng xa người cầm súng một chút. Hai người đàn bà có vẻ rón rén hơn, vừa đi vừa túm tay lũ nhỏ lôi theo làm cho chúng không còn chạy nhảy được như lúc trước. Hằng thở phào nhẹ nhõm khoá súng lại rồi đi tiếp khi nhóm người của gia đình người Lào ấy đã đi khuất hẳn phía sau.

Gần một giờ đồng hồ vừa đi vừa chạy Hằng mới đến được bờ một con suối lớn. Nghe số các đồng chí đã đi qua nói lại thì con suối này là điểm chia đôi khoảng đường từ trạm trung chuyển nơi Hằng ở đến bãi đá Na en là nơi tập kết của cả đơn vị. Con suối mà anh em kể nghe thật nhỏ bé, còn con suối Hằng gặp sao lại lớn quá thế này. Thậm chí nó có thể là sông chứ không còn là suối, bởi chiều ngang mặt nước rộng đến hơn bốn mươi mét. Còn dòng nước của nó thì cuồn cuộn chảy trông thật hung hãn và đầy thách thức đối với những người muốn vượt qua nó. Cùng với những xoáy nước đục ngầu là những đợt sóng chồm lên vật xuống lao đi với hàng ngàn tiếng ồn ào đinh tai nhức óc. Tuy nhiên điều đó còn không đáng sợ bằng những những cây gỗ, cây tre và hàng ngàn các vật nhọn có, kềnh càng có đang thi nhau vun vút lao đi trên khắp mặt nước với tốc độ ghê người.

Sau một thoáng phân vân lo là mình bị lạc đường thì Hằng cũng nhận ra dấu của anh em đi công tác hàng ngày để lại như lời dặn lúc ra đi. Thế là bây giờ chỉ còn mỗi một việc là làm thế nào để vượt sang bên kia nữa mà thôi. Việc phải bơi qua là điều tất nhiên rồi nhưng mà có thể qua được bên kia không hay là bị gỗ thúc vào người và vĩnh viễn nằm lại ở đáy sông mới là điều cần phải nghĩ đến. Thời gian! Thời gian không cho mình nghĩ lâu hơn nữa và việc phải bơi qua sông đã được dự kiến trong đầu. Kiểm tra lại công văn một lần nữa rồi thắt lại bao súng ngắn. Khẩu AK báng gấp cũng được quàng qua người rồi lại buộc vào ngang lưng bằng một đoạn dây dù.

Một gốc cây lớn với những khúc rễ, cành cồng kềnh vừa trôi tới. Không còn nghĩ gì nữa Hằng lao người thật nhanh ra mặt sông men theo những cành cây rườm rà trước mặt. Thật không thể ngờ được là Hằng không thể bám kịp  được vào đám cành rễ đó bởi vừa khi chuẩn bị bám vào đám cành lá thì một súc gỗ ở đâu đó bất ngờ nổi lên theo xoáy nước lao thẳng vào Hằng. Ngay lúc đó Hằng buộc phải láng về bên phải để tránh khúc gỗ ma quái kia. Một xoáy nước rút Hằng xuống khỏi mặt nước, Hằng vẫn còn cảm thấy hình như  bề mặt vỏ xù xì của khúc gỗ trượt qua mạng sườn bên trái. Cũng may cho Hằng là cái xoáy nước sau khi lôi Hằng xuống khá sâu thì nó lại thả Hằng ra để cho Hằng trồi được lên mặt nước. Đến lúc này thì  đành phải mặc kệ mọi điều nguy hiểm ở cả hai bên người, Hằng chỉ còn biết bơi và bơi cho nhanh bất chấp điều gì có thể xảy ra.

Có lẽ khi đã là một vật như bao vật khác cùng trôi trên sông thì tốc độ của mọi vật cũng ngang nhau mà Hằng có khác gì một vật đang trôi nên ngay phía trước, phía sau, bên trái, bên phải Hằng ngồn ngộn là những vật lớn có, nhỏ có mà vẫn không thấy chạm vào người. Hằng nhận ra rằng mình không nên cố vượt các vật cản mà nên lựa theo chúng rồi tranh thủ né mình hướng về bờ sông bên trái, đồng thời cố gắng tránh xa các đợt sóng cùng những xoáy nước thỉnh thoảng xuất hiện ngay bên cạnh là sẽ thành công. Cũng không biết thời gian kéo dài bao lâu, chỉ đến khi áp sát vào bờ sông bên kia Hằng mới tin là mình còn sống. Sau khi cởi tất cả quần áo ra để vắt bớt nước, ngồi nghỉ một lúc cho lại sức, Hằng mặc lại bộ đồ ướt rồi tiếp tục lên đường. Hằng đi ngược lại theo chiều nước chảy có lẽ phải đến gần nửa cây số mới gặp lại con đường mòn đơn vị vẫn đi công tác hàng ngày. Như vậy thì quãng đường mà nước cuốn Hằng đi cũng khá là xa đấy chứ!

                 

                                              5

 

Sau khi trao công văn cho lãnh đạo, lại kể cho bọn Tâm và Luận nghe câu chuyện vượt sông xong mới thấy mệt và đói. Vừa mỉm cười nghe ông anh “đường nhựa” nói về cái việc vượt sông chả lấy gì làm ghê gớm âý, Luận vừa vào bếp mang ra một cái xoong đựng cơm và nưng bát thịt kho lõng bõng. Đặt xoong cơm và bát thịt trước mặt Hằng, Luận bảo:

- Anh may nhé! Hôm nay bắt được một con nhím nên nấu hơi nhiều cơm! Biểu dương thành tích bằng bát thịt nhím này đấy nhé!

Vừa cơm nước xong thì đã thấy bên trung đội ba của anh Giao hò la ầm ĩ. Hằng chột dạ hỏi Tâm và Luận:

- Này! Không sợ lộ bí mật nơi đóng quân à!

- Bọn nguỵ chạy sạch cả rồi! Làm gì còn thằng nào mà phải bí mật.

- Này, tớ vừa gặp một gia đình Lào lúc đi vào đây, tý nữa thì tớ xả súng diệt gọn. May mà trong đám ấy có ba đứa trẻ con chứ không thì …!

- Dân ở đây lỳ lắm, họ còn vào cứ điểm vừa đánh xong để vét chiến lợi phẩm đấy anh ạ!

Đang còn nói chuyện với nhau thì đại đội trưởng đã về đến. Vừa vào đến lán anh đã hô bọn Tâm, Luận thu dọn quân tư trang. Cả bọn còn đang ngơ ngác chưa biết gì thì đã nghe đại đội trưởng bảo:

- Thế nào? Có ra không thì bảo!

Luận nhanh mồm hỏi lại:

- Ra hẳn hay tạm thời hả thủ trưởng?

- Đã ra lại còn có cả ra tạm thời nữa à? Riêng cậu ra tạm thời còn chúng tớ thì ra hẳn.

Cũng chỉ đợi có thế là Luận vỗ tay hét lên ầm ĩ. Thì ra không biết nghĩ thế nào mà trưa nay Luận bảo không nên giặt quần áo để tránh phải bỏ quần áo ướt vào ba lô. Còn Tâm thì không nghe, đã đem cả hai bộ nhúng nước giặt phơi ngoài bờ suối bây giờ vẫn còn ướt rườn rượt.

Đến lúc này thì Hằng mới biết công văn mà mình mang vào lúc nãy là lệnh rút quân mà trên đưa xuống. Hằng vội gặp đại đội trưởng trình bày về tình hình sông nước vừa gặp lúc đi vào. Nghe xong đại đội trưởng bảo:

- Không sao đâu! Có khi mình ra đến nơi thì suối đã cạn khênh rồi ấy chứ. Vùng này thỉnh thoảng nước lũ vẫn tràn về như vậy nhưng chỉ ba bốn tiếng là lại cạn ngay.

Dừng một lúc đại đội trưởng lại hỏi Hằng:

- Thế vừa rồi cậu đi vào bằng cách nào?

- Đành phải nhảy xuống mà bơi thôi chứ còn biết làm thế nào hả thủ trưởng!

Nghe đến đây thì đại đội trưởng ngạc nhiên thực sự, anh vừa quét mắt nhìn khắp một lượt trên người của Hằng vừa bảo:

- Thế mà cậu chả dìm luôn cả người lẫn công văn xuống suối để chúng tớ lại bị một phen đi tìm bở hơi tai thì mới vừa.

- Làm thế nào được! Ông Phát bảo phải kịp thời, không thì ông ấy cho ra bã!

- Mà cũng phải…! Thôi cậu dẫn đường đi, cậu giúp thằng Tâm mang mấy bao gạo ra luôn ngoài ấy.

Không lâu sau toàn bộ lực lượng của sư đoàn đã rút quân ra tận Kỳ Tây, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tiếp tục những ngày học tập và huấn luyện, chuẩn bị cho những nhiệm vụ tiếp theo ở một mặt trận nào đó mà không ai có thể dự đoán được. 

Về Kỳ Tây mới chỉ được mấy hôm đơn vị đã lại bắt đầu đi vào học tập và rèn luyện. Những bài tập bắn bia được ôn lại từ đầu như khi mới vào bộ đội. Từ bia số 4, số 6 đến bia số 7, bia thằng còm di động, chả thiếu loại bia nào. Các buổi tối không sinh hoạt thì tập bắn đèn ở sân kho của hợp tác xã. Cũng chẳng biết thế nào mà ngay hôm tập bắn đèn đầu tiên cậu Long ở trung đội 2 lại cho nổ một viên đạn. Cũng may là viên đạn không gây sát thương cho ai mà chỉ làm vỡ cây cột cái bằng luồng của một nhà dân ở bên trái sân kho. Làm mất công trung đội phải đi thương lượng xin lỗi gia đình bị nạn. Sau vụ này đơn vị họp lên họp xuống để tìm nguyên nhân mà vẫn không tìm ra nguyên nhân của sự việc. Trung đội trưởng trung đội 2 nói anh đã cho khám súng rất cẩn thận trước khi vào huấn luyện lại có cả chính trị viên phó cùng tham gia buổi tập xác nhận. Mãi về sau này, khi sự việc đã dần lãng quên rồi người ta mới đoán rằng có lẽ có cậu nào đang ở phiên gác đã đi qua bãi tập rẽ vào rồi để lẫn súng gác với súng tập. Những người gác hôm ấy thì cũng có đến mấy người, nhưng người làm lẫn súng thì mọi người cũng đã biết. Có điều sự việc đã nhạt rồi nên ban chỉ huy chỉ gọi cậu ta lên để phê bình rút kinh nghiệm một lúc rồi cũng thôi không kỷ luật nữa.

Công tác đoàn cùng với các chương trình văn nghệ đã làm cho Hằng bận suốt ngày không hết việc, nay lại càng bận thêm với cái chức phó chủ tịch hội đồng quân nhân của đại đội mà Hằng vừa được bầu vào trong đợt củng cố đơn vị lần này. Nào là tổ chức dạy những bài hát truyền thống, nào là viết kịch bản và dàn dựng các vai kịch cho tổ văn nghệ, rồi thì tập huấn diễn viên. Lại còn khổ hơn khi chả có ai muốn đóng vai cố vấn Mỹ vừa nham hiểm, độc ác, vừa đểu giả với các cô gái trong cốt kịch do Hằng viết ra. Thế là Hằng đành phải vào vai kịch này vậy.

Cuối cùng thì đơn vị cũng tổ chức thành công buổi biểu diễn văn nghệ với hàng chục các tiết mục từ tấu nói đến ca hát tập thể, ca hát cá nhân và cuối cùng đêm diễn là vở kịch viết về các chiến sĩ biệt động miền Nam tổ chức đánh Mỹ ngay tại nội đô Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngoài các khán giả là cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị ra còn có rất đông thanh niên và nhân dân của địa phương cũng đến xem. Mỗi tiết mục kết thúc là tiếng vỗ tay lại vang lên không ngớt, làm cho không khí của một vùng quê như bừng dậy sau rất nhiều thời gian im lìm vắng lặng của những năm chiến tranh bom đạn.

Suốt trong mấy ngày nay trên đài nói nhiều về mức nước sông Hằng, sông Đuống ngày một lên to. Những người quê ở gần các vùng sông này luôn lo lắng về một cuộc vỡ đê có thể sảy ra. Trong những năm Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng cũng đã nhiều lần đánh vào đê đập và các công trình thuỷ lợi. Nhiều chỗ mới chỉ kịp hàn vá mà chưa củng cố được nên rất xung yếu không biết vỡ lúc nào. Thế rồi cái việc luôn lo lắng ấy cũng đã sảy ra ở đê sông Đuống. Đê làng Tình Quang thuộc huyện Gia Lâm chính là điểm vỡ lớn nhất. Cả một khu vực rộng lớn bao gồm cả mấy huyện của Hà Bắc, Hải Hưng và Hà Nội đều bị ngập lụt có chỗ sâu tới ba, bốn mét nước. Đơn vị cũng có rất nhiều chiến sĩ quê ở trong vùng bị lụt nên cũng đã báo cáo lên cấp trên cho về phép đặc biệt. Các đề nghị cũng đã được sư đoàn chấp nhận và giao cho các đơn vị bố trí.

Sau cuộc họp điểm danh buổi tối xong anh Huynh chính trị viên phó nháy Hằng ra cổng doanh trại không biết để làm gì mà nghe có vẻ rất bí mật. Đoán chắc lại bàn về công tác thanh niên nên Hằng lừng chừng mãi không chịu ra. Vừa lúc ấy hai cậu liên lạc cùng với y tá Cứ lại rủ đánh bài bôi nhọ nồi thế là Hằng quên luôn không ra cổng nữa. Chờ mãi không thấy Hằng, anh Huynh lại quay trở vào nhà kho. Vừa thấy Hằng đang quỳ trên chiếu anh liền dùng hai đốt ngón tay dọi cho một cái vào đầu rồi bảo:

- Lúc họp nói thế nào mà lại không ra thế hở?

Lúc ấy Hằng mới nhớ ra, bèn xếp bài lại tiện tay đưa cho anh nuôi trưởng Toán rồi theo anh Huynh ra ngoài cổng. Thì ra anh Huynh gọi Hằng ra để báo cho biết là cậu được về phép đặc biệt vào sáng ngày mai. Hằng vừa nghe được đã định hét toáng lên thì anh Huynh giơ ta bịt mồm lại:

- Này cả đơn vị chỉ có mỗi một mình cậu được đi thôi đấy! Đừng làm ồn lên ảnh hưởng đến đơn vị.

Ngừng một lúc anh lại nói tiếp:

- Xuống ngay chỗ cậu Binh quản lý thanh toán tiền đi đường cho kịp mai đi sớm. Chốc nữa tớ gửi mấy bức thư mang về ngoài đó bỏ cho nhanh.

- Thủ trưởng yên tâm em sẽ bỏ ở nơi bưu điện lớn nhất tỉnh để thư đến cho nhanh.

- Thôi không phải về tỉnh mà chỉ cần bỏ ở Hà Nội là được, Hà Tây nhà tớ ở ngay cạnh Hà Nội còn gì!

Công việc thanh toán cũng chả lâu la gì vì hình như Anh Binh quản lý đã được biết trước nên đã chuẩn bị sẵn rồi.

Đêm sao mà dài thế đến thế! Hình như Hằng chưa thấy có một đêm nào dài đến thế bao giờ. Vừa thao thức nhớ về nhà vừa bị mấy cậu liên lạc lạo xạo viết thư trong góc nhà không sao yên tĩnh được nên Hằng đành giương mắt thao láo ra để chờ sáng.

Thực ra thì có rất nhiều người quê ở vùng lụt nhưng chỉ mỗi một mình Hằng được về thì đó quả là một điều đặc biết. Có lẽ Hằng là người ở trong đại đội bộ nên các thủ trưởng cũng tin tưởng hơn số anh em khác. Bởi vì khi cho một chiến sĩ về nhà cách xa đơn vị đến hơn bốn trăm cây, rồi chiến sĩ ấy có trả phép đúng hẹn hay không hoặc giả có thể cậu ta đảo ngũ không trở lại thì sao? Có lẽ ngoài lý do trên các thủ trưởng cũng như có ý thưởng công cho Hằng vì những cố gắng trong mấy tháng qua về công tác đoàn, công tác báo chí và công tác hoạt động văn nghệ. Thôi thì vì cái gì cũng được miễn là mình là người được về thăm nhà thế là quý lắm rồi.

Trời còn chưa sáng rõ mặt người, Hằng đã ba lô khăn gói từ biệt các thủ trưởng và các bạn trong đại đội bộ lên đường. Chặng đường từ Kỳ Tây lên thị trấn Kỳ Hoa cũng khá dài và lại chẳng có loại xe chở khách nào nên Hằng đành phải đi bộ. Chưa đi được năm sáu cây số Hằng đã gặp đến năm, sáu cái ngầm. Ngầm nào cũng ngập nước thế là Hằng cũng chẳng buồn thay quần nữa mà cứ mặc ướt để đi. Đang mừng vì sắp đến Kỳ Hoa thì lại gặp ngay một cái ngầm nữa. Ngầm dài đến hơn ba chục mét mà nước thì lại có vẻ rất sâu. Những khối nước không biết từ đâu dồn về lao đi cuồn cuộn va vào bờ đá tung bọt trắng xoá, cùng với những khối nước sẵn có từ trước xoáy cuộn ào ào chảy từ bên này đường rồi đổ xuống bên kia đường với độ cao đến năm sáu mét. Chẳng dễ gì trụ lại trên những xoáy nước mặt đường mà không bị khối nước kia hắt xuống bên kia đường rồi trôi tuột đi đâu không biết. Thế là lại phải đợi mất mấy tiếng đồng hồ chờ nước cạn. Chắc chắn lại nhỡ chuyến xe đêm nay rồi, thật là ngán ngẩm hết chỗ nói.

Dòng nước vẫn chảy dường như không có dấu hiệu của sự thuyên giảm. Đường đồi vắng ngắt không một bóng người. Từ trên một sườn núi cách đó không xa vẫn còn đó hai sợi dây cáp của cây cầu treo thời đi bộ hành quân vàoNam. Thực ra cái thời vừa nói đến cũng chẳng xa gì bởi con đường 559 cũng mới được bắt đầu khai thác trong vòng sáu năm đây thôi. Bởi con đường từ KỳTây đi lên Kỳ Hoa cũng vẫn còn nguyên màu tươi mới của đất đồi đỏ dọi. Đâu đây hình bóng những cô gái mặc áo phòng không vẫn còn đâu đó ở trên đường cùng với những cuốc xẻng, quang gánh bên một đoạn đường đầy hố bom sâu hoắm. Những người con gái chỉ mới vừa mười sáu tuổi đã  bước chân vào cuộc chiến với sự quả cảm ít người sánh nổi. Trên đoạn đường ngầm này thôi, không biết đã có bao nhiêu người đã ngã xuống, không bao giờ còn trở lại quê hương được nữa.

Đang mải nhìn lên những sợi dây cáp trên đỉnh núi cao và suy nghĩ linh tinh nên Hằng không để ý từ phía bên kia ngầm đã xuất hiện hai người đàn ông, một già, một trẻ, đang đứng ngó nghiêng quãng đường ngập nước. Sau khi nghe hai người ở phía bên kia vừa trao đổi với nhau mấy câu bằng cái giọng của địa phương miền trong vừa sắn quần, sắn áo thì Hằng đoán rằng họ đang định vượt sông. Đến lúc này thì Hằng chăm chú theo dõi xem họ sẽ vượt sông như thế nào để rồi mình cũng sẽ bắt chước. Dù sao thì những người sống ở những vùng quê như thế này chắc họ sẽ biết được độ sâu nông, mạnh yếu của dòng nước hoặc ít ra thì họ cũng có kinh nghiệm vượt ngầm hơn mình.

Chưa đi được mấy bước thì cả hai người đã ngã nhào xuống mé đường, cũng may là đầu đường bên ấy khe nước không sâu lắm chứ không thì họ đã gặp nguy hiểm. Lóp ngóp lên bờ trong bộ quần áo ướt, trông họ thật đáng ngại. Cũng còn may là hôm nay trời không mưa rét chứ không thì họ cũng gặp nguy hiểm không kém. Mình thật là hy vọng hão huyền!

Còn đương dõi mắt nhìn về đầu ngầm bên kia thì đã có mấy người từ phía đằng sau tiến lại. Cũng không hiểu họ rẽ ra từ con đường nào mà trong đó lại có một cô bé mang theo một chiếc xe đạp. Có lẽ họ ở một khu nào đó ở giữa khoảng đường từ cái ngầm trước cái ngầm lớn này. Vừa nhìn thấy Hằng thì một người có độ tuổi trung niên cất giọng ồm ồm hỏi:

- Anh bộ đội đã đến đây lâu chưa hè?

Có lẽ người ấy muồn hỏi thế để dự đoán thời gian nước sẽ cạn xem có nên chờ hay là quay trở lại. Hằng chưa kịp trả lời thì người ấy lại hỏi tiếp:

- Rứa anh bộ đội đã có cách chi đi qua chưa?

Khi nghe hết hai câu hỏi vừa rồi Hằng chỉ mủm mỉm cười đáp lại và chỉ sang phía bên kia ngầm vừa kể cho cả mấy người nghe về vụ vượt ngầm không thành của hai người ở bên kia ngầm.

- Bác thấy đấy! Cháu cũng chưa nghĩ ra cách nào để vượt qua được đâu.

Nghe thấy Hằng nói vậy khuôn mặt người ấy cũng như buồn hẳn đi. Tuy vậy ông vẫn cất tiếng như là nói với mình:

- Chả lẽ phải quay trở lại…Thế thì nhỡ hết cả việc!

Chính trong lúc Hằng cùng người nhiều tuổi nói chuyện thì cả nhóm người vừa đến cũng rì rầm trao đổi với nhau. Cho đến khi câu chuyện của Hằng cùng ông già vừa kết thúc thì tất cả cũng đồng loạt im lặng, làm cho không khí càng nặng nề hơn. Cũng phải mất mấy phút không ai nói với ai lời nào mà chỉ còn mỗi tiếng nước chảy của con ngầm như sôi lên trong lòng mọi người.

Có lẽ mọi người đã chẳng còn hy vọng gì vào việc vượt ngầm nữa nên họ lại quay ra để hỏi thăm nhau. Người này thì hỏi người kia là người ở đâu đến người nọ thì hỏi người này là sẽ về đâu. Chỉ có mỗi Hằng cùng ông già là đứng im lặng nhìn dọc cái ngầm đang sôi lên từng đợt sóng. Vừa lúc đó ông già lại cất giọng ồm ồm lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Hằng:

- Làm sao mà kỳ ni nước lâu rút vậy hè!

Trong khoảng thời gian tư duy ngắn ấy Hằng chợt nảy ra một ý nghĩ khá táo bạo, thế là Hằng trao đổi với cả sáu người mới đến về cách vượt ngầm của mình. Thực ra cũng chẳng có gì phức tạp lắm về cách vượt ngầm mà Hằng đề xuất. Cái chính là Hằng muốn lợi dụng việc người nọ lấy người kia làm cọc chống để chống lại sức nước mà thôi.

Nghe xong phương án vượt ngầm của Hằng, ông già lúc nãy liền đồng ý ngay. Tức khắc ông lại cất cái  giọng ồm ồm lên để đôn đốc mọi người:

- Choa biết các anh bộ đội là giỏi lắm he! Bây chừ tui sắp thế ni! Tui với anh bộ đội đứng ở mạn nước xuôi, cậu thanh niên tê thì đỡ cái xe đứng vô giữa, còn lại thì người ni nối người tê rồi cùng xuống một lượt nghe!

Ngay khi vừa mới xuống mọi người nghe có vẻ rất chới với, nhất là cô gái có cái xe đạp thì hình như run bắn cả lên. Thế nhưng đi được độ mươi bước thì cái vòng người có vẻ ổn định trở lại. Trong vòng tròn thì chỉ có tiếng của ông già, còn từ đầu bên kia là tiếng của hai người đàn ông hô hoán ầm ĩ át cả tiếng nước chảy.

Cuối cùng thì tất cả mọi người cũng sang được phía bên kia, mặc dù tất cả đều ướt như chuột lột. Nghỉ được một lúc, mọi người định đi thì lại phát hiện ra hai người ở bên này còn chưa đi được, thế là cả nhóm, trừ cô con gái, còn tất cả lại phải đưa hai người quay sang bờ bên kia rồi mới quay trở lại. Cả sáu người bắt tay chào nhau xong là hối hả lên đường. Nhìn những khuôn mặt hể hả vui tươi chào mình Hằng chợt nhớ lại lời ông già nói trước lúc chia tay:

- Choa biết, cứ khi nào có khó khăn mà gặp các anh bộ đội là choa không lo chi hết mô! Cách chi các anh ấy cũng vượt qua được!

Dù sao thì cũng phải có mọi người cùng chung sức, chứ nếu chỉ có một mình thì anh bộ đội của ông cũng cứ là phải chờ thôi đấy ạ! Một loạt những ý nghĩ trong đầu về dân vận và về nhiều điều khác nữa trong những năm tháng quân ngũ cứ lướt qua như những trang sách. Tất cả hầu như đều là những điều tốt đẹp và thật cao thượng.

Hằng đến Kỳ Hoa vừa kịp mua vé xe ra Bắc và chỉ sau một đêm quãng đường đã được rút ngắn lại, cho dù tầu hoả cũng vẫn chậm rề rề như mọi khi. Lọc cọc suốt hai ngày đêm rồi Hằng cũng đã về đến Hà Nội. Xuống tầu thì trời đã chiều nên Hằng không vào chỗ thím Đối mà về ngay nhà. Từ ga về nhà có lẽ cũng phải hơn chục cây số. Quãng đường như vậy đối với một đồng chí bộ đội đã từng rèn luyện đi Nam lại đã trải qua chiến đấu trên mặt trận Nam Lào thì mười cây số có đáng kể gì.


                                                             MẶT TRẬN

 

                                                1

 

Cũng thật là may cho đồng chí bộ đội vì vừa bước chân lên cầu Long Biên thì gặp ngay một ông cán bộ dân sự quần áo trắng tuốt đang cưỡi trên chiếc xe máy JaVa dừng lại ngay trước mặt mời lên xe cùng đi. Cho dù chiếc ba lô cứ giật bình bịch sau lưng mỗi khi xe đi vào các ổ gà nhưng Hằng cũng chả để ý. Trong đầu cậu chỉ còn nghĩ làm sao để có thể về nhà gặp mẹ và mọi người trong nhà nhanh hơn mà thôi. Vừa đi người cán bộ vừa hỏi anh bộ đội về tình hình chiến trường trong thời gian vừa qua. Suy nghĩ một thoáng rồi Hằng cũng kể một vài chi tiết về chiến thắng của quân ta cho người cán bộ vừa lòng. Có lẽ Hằng cũng chỉ có thể nói ở mức như đài đã nói mà thôi, vì nếu nói nhiều hơn nữa có khi lại vi phạm kỷ luật giữ bí mật của quân đội thì thật là không đáng. Đã có không ít những câu chuyện về giữ gìn bí mật trong tiết mục kể chuyện cảnh giác ở trên đài mà mọi người vẫn được nghe. Có điều để đối xử với một người tốt với mình như thế này thật không thể không làm cho họ có một chút hài lòng về những điều mà họ đang mong mỏi muốn biết. Chả lẽ mình lại có thể máy móc đến mức quá đáng thế chăng. Dù sao thì mình cũng là một quân nhân, kỷ luật buộc mình phải nghĩ và làm như vậy, cũng mong đồng chí thông cảm cho.

Vừa bắt đầu vào Ô Cách đã thấy quang cảnh lụt lội hiện ra ngay trên đường quốc lộ. Hàng ngàn những bao tải đất, cùng với những hòn đất nặn tròn như những cái bánh tàu hoả nằm rải rác trên khắp cánh đồng trước mặt và cả hai bên đường quốc lộ. Đây đó ngay bên vệ đường cũng xếp từng đống lớn những thứ mà nước đã cuốn chúng từ chỗ đê bị vỡ về đây. Có lẽ các địa phương có sông đi qua đã được lệnh chuẩn bị những thứ như vậy để phòng lụt và bây giờ đã được mang ra sử dụng. Có điều đáng lẽ tất cả những thứ này phải nằm ở chỗ đê bị vỡ thì mới chặn được nước, thế mà lại bị đẩy đi xa đến hàng chục cây số thế này thì chắc là chỗ vỡ to lắm. Bất chợt Hằng nghĩ không biết ở nhà có ai làm sao không? Căn nhà tranh nhà mình ọp ẹp quá không biết có bị trôi đi hay không? Gần cả đời mẹ mới có một căn nhà cho mình và các con, nếu lại bị đổ nát hoặc bị nước cuốn trôi đi mất thì chắc là bà buồn lắm.

Cuối cùng thì Hằng cũng về đến nhà, sau một hồi lặn lội từ đường quốc lộ vào làng. Có lẽ cũng phải đến gần một cây số Hằng phải đội ba lô lên đầu rồi dò dẫm trong nước mãi mới về được đến cổng làng. Ngôi nhà tranh nhà Hằng chưa bị đổ nhưng nước ngập ngang cột hiên. Cả khu xóm mới này vắng ngắt không một bóng người, không biết hỏi ai được về tình hình mẹ và em gái ra sao. Nghĩ lại trận lụt năm 1957 Hằng tin rằng có thể mẹ và em vào ở nhà anh Chìu chị Mão vì nơi này cao nhất làng từ trước đến giờ. Hằng đang bươn bả đi vào nhà anh rể thì gặp chị cả đi từ trong nhà anh rể đi ra. Hai chị em mừng rỡ túm lấy nhau hô hoán ầm ĩ cả lên. Thì ra chị nghe tin trên nhà lụt to nên cũng vội vàng thu xếp việc nhà rồi vội vã theo tàu lên từ mấy hôm trước.

Hai chị em vào nhà thì thấy mọi người tập trung khá đông đủ ở đây, mọi người hỏi thăm lẫn nhau ồn ã đến một lúc lâu mới tạm lắng đi. Lên thăm lụt kỳ này còn có ông bố và người anh chú Thành, chồng cô Hà cũng từ Thái Bình mới lên sớm nay. Cũng may cho kỳ phép đặc biệt lần này mà Hằng gặp được người nhà chú Thành, bởi khi hai người tổ chức cưới nhau Hằng ở chiến trường nên chẳng được biết tý gì.

Ngay hôm sau số khách các nơi ai nấy đều đã về cả bởi đã biết việc lụt lội cũng đã khá ổn định lại rồi huống gì việc ăn ở cũng rất chật chội. Hằng ở lại nhà mấy ngày với mẹ và em rồi lại cùng anh cả về Nam Định. Việc về Nam Định lần này là do anh cả đề xuất nhằm mục đích tìm cho Hằng một cô vợ để sau này Hằng sẽ ở lại quê để gây dựng cuộc sống cùng với anh cả gánh vác việc họ, việc nhà. Cũng thật không may là anh cả lại dính vào dịch đau mắt đỏ thế là chả đi được đến đâu, mọi dự định đành phải bỏ dở lại cả. Hai chú cháu Hằng rong chơi quanh làng, ngoài chợ vài ngày cho đến hết mấy ngày phép rồi Hằng lại lên đường về đơn vị. 

 

                              2

         

Gần một tuần lĩnh nhận quân tư trang và các loại nhu yếu phẩm, thuốc men, súng đạn kết hợp với học tập chính trị, toàn đơn vị đã bắt đầu lên đường làm nhiệm vụ. Vẫn là tiến vào vùng Cự Nẫm để rồi lên xe đi vào tuyến lửa. Những năm chiến tranh kéo dài không riêng gì các miền đất phải đương đầu với bom đạn là gặp khó khăn gian khổ. Những vùng quê miền trung quanh năm hạn hán kéo dài cũng khó khăn không kém những miền quê khác. Mỗi ngày các ông già bà cả, kể cả bọn con nít cũng chỉ có khoai và sắn. Vậy mà cả khoai và sắn cũng phải ăn dè, hạt tiện mới có thể tùng tiệm qua ngày. Cứ sau mỗi đợt chuyển quân Hằng lại đến một gia đình và Hằng lại thấy những người giống y như thế. Khó khăn là thế nhưng mỗi khi các gia đình có một vài anh bộ đội đến ở thì cả nhà náo nhiệt vui không thể nào nói hết. Có lẽ vì thế mà mỗi ngày xa gia đình những người lính phần nào vơi đi những nỗi buồn để phấn chấn hơn chuẩn bị cho những ngày ra đi sắp tới.

Nhớ lại ngày đầu tiên khi Hằng đến ngôi nhà lá của cụ Thêm ở Kỳ Thượng lại thấy buồn vui lẫn lộn. Khi Hằng và anh Như người Thái Bình vác ba lô đến thì chỉ thấy cụ chủ nhà đi thoáng qua rồi không trở lại. Thế là hai anh em phải chờ gần ba tiếng đồng hồ vẫn chưa có chỗ nghỉ ngơi, trong khi cả đại đội đều đã ổn định xong chỗ ở. Mỏi quá Hằng để cả ba lô trên hè rồi ngồi dựa vào bờ vách bằng gỗ ngủ thiếp đi. Khi thức dậy không thấy anh Như đâu cả đang định đi tìm thì thấy ba lô của anh vẫn để ngay bên cạnh. Đang chưa biết làm thế nào thì anh Như lò dò về đến sân, cùng đi với anh còn có trung đội trưởng Giao vừa đi vừa cười rổn rổn. Không biết có chuyện gì mà vui đến thế không biết, trong khi các tướng đã ăn ngon ngủ yên còn hai anh em người ta vẫn loay hoay ở một đầu hè.

- Tất cả là tại cậu đấy!

Thấy anh Giao vừa nói vừa nhìn vào mình, Hằng đâm nghi hoặc hỏi lại.

- Cái gì mà tại em hả anh Giao?

- Tại cậu là dân Hà Nội.

- Hà Nội thì làm sao?

- Chả là mấy năm trước có mấy toán thanh niên xung phong đến làm đường, họ chơi bời phóng túng quá mà bọn này toàn là dân Hà Nội thành ra cụ ấy có ác cảm với dân Hà Nội của các cậu.

- Nhưng mà em đã gặp …ông cụ ấy bao giờ đâu!

- Thì thế mới nên chuyện! Chả là khi phân phối nhà ở ông Nhu nhà mình lại còn giới thiệu thêm những cái tốt của cánh lính tráng chúng ta. Đâu là có văn hoá, có trình độ, sinh ra lớn lên ở những nơi có truyền thống để cho bà con dễ chấp nhận, nào ngờ nói đến cậu sinh ra lớn lên ở thủ đô thì ai cũng ngài ngại. Ông cụ chủ nhà các cậu lại đang ở đó thế là ông cụ kiên quyết tẩy chay, thế mới chết chứ!

Ngừng lại một lúc để lấy hơi vì sợ người khác chê nói dài, mà quả là cũng dài thật còn gì, anh Giao lại tiếp tục giảng giải

- Chỉ tý nữa là cụ chủ về thôi, chúng tớ đã giải toả tâm lý cho cụ ấy rồi, cứ yên tâm chờ đợi! Thế thôi tớ về nhé!

- Thế còn cơm nước thế nào?

- Thì tý nữa sang nhà trung đội ăn cơm! Lâu nay cậu có háu ăn, háu uống như thế bao giờ đâu? Nay mai vào trong ấy có khi còn nhỡ bữa đôi ba ngày là chuyện thường ấy chứ!

Lại tràng giang đại hải, hỏi mỗi nửa câu mà trả lời đến mấy câu liền, khiếp thật. Ông ấy mà là chính trị viên thì chỉ những họp rồi lê thê mà mệt chứ chẳng chơi. Nghĩ vậy nhưng thật ra trong lòng Hằng, anh Giao là người mà cậu rất tin yêu và  quý mến. Từ ngày về trung đội của anh, Hằng chưa bao giờ thấy anh nóng giận ai bao giờ. Cho dù là mấy cậu lính đồng hương Hải Phòng của anh luôn trốn trại đi chơi làm anh mất mặt, đến cánh lãnh đạo cấp trên ít tuổi hơn anh hay làm phách phê phán này nọ anh cũng chỉ cười ồ ồ rồi bỏ đi nơi khác. Anh có biệt tài hoà giải mọi người trong khi bất đồng quan điểm, kể cả khi bàn công việc lẫn khi đỏ mặt tía tai trên những bàn cờ đang vào nước bí. Cũng không biết thế nào mà khi các đối thủ đang căng nhau anh lại đưa tay vào bàn cờ của họ để rồi gỡ hộ bên này một nước, hoặc mách cho bên kia một vài nước mà họ lại đều để mặc cho anh thao túng. Cứ như thế cho đến khi các đối thủ say sưa trở lại cuộc chơi một cách êm thắm. Chuyện ngày thường là thế nhưng khi vào nhiệm vụ thì anh lại thay đổi khác hẳn. Từ việc phân công, giao nhiệm vụ đến việc kiểm tra kết quả công tác anh không bỏ sót một chi tiết nào. Đôn đốc nhắc nhở chi tiết, kỹ lưỡng đến chân tơ kẽ tóc, phê bình khiển trách cụ thể, sát sàn sạt đến tận mặt không vị nể một ai. Vậy nhưng hầu như chưa ai bất bình về những việc mà anh đã quyết định có liên quan tới họ, kể cả đó là những lời phê phán khá là nặng nề. Mọi người thấy anh luôn tròn trặn và không bận tâm nhiều về anh vì anh thật giản dị. Sự có mặt của anh trong đơn vị giống như là khí trời vốn dĩ lúc nào cũng sẵn có trong tự nhiên vậy. Một người lãnh đạo như thế tựa như của hiếm trong ngàn vạn con người. Ai sẽ là người nhận ra những viên ngọc sáng đẹp ấy để mà xếp vào đúng cái vị trí của nó. Những người tuyển ngọc vốn dĩ không là ngọc, thế thì họ biết thế nào về màu sắc, hình dáng của ngọc!

Cơm nước xong được một lúc thì đại đội tập trung điểm danh như thường lệ. Kể ra nếu như ở vùng gần nơi phường phố thì cái sự tranh thủ te tắt để ngó nghiêng quang cảnh một tý là cái việc thường xảy ra nên không hiếm những buổi đơn vị phải tổ chức đi tìm người. Còn ở nơi xa lắc này, chỉ toàn rừng rú thì việc kiểm tra con số cũng chỉ là làm theo nguyên tắc mà thôi. Thế nên cũng chỉ độ ba mươi phút là đơn vị đã giải tán, ai về nhà ấy. Đang định theo anh Như về nhà trọ thì cậu Luận xô đến bên:

- Thế nào rồi anh?

- Thế nào thì anh biết cậu hỏi cái gì?

Chưa kịp nghe Luận giải thích về câu hỏi vừa rồi đã nghe từ phía sau có giọng nói cất lên:

- Thì cái việc nhà trọ ấy?

Té ra là Kiệm thư sinh, không biết cũng đã đến bên cạnh từ lúc nào.

- Xong rồi! Xong rồi!

Cũng đã lâu lắm mấy anh em không có dịp trò chuyện cùng nhau, nhất là vừa rồi Hằng lại vừa về phép qua nhà vào. Sau một hồi trả lời hàng loạt câu hỏi của hai chàng trai trẻ Hằng cũng kể thêm sự gặp mặt với mấy cô gái Hà thành làm cho các chàng trai trẻ thích thú không khác gì nghe đọc tiểu thuyết tình yêu. Sau những câu chuyện của Hằng, những câu chuyện riêng của từng cậu cũng được bộc lộ với vẻ lo lắng bần thần.

- Không biết cô ấy có còn nhớ em không biết!

- Mới xa nhau chưa được một năm, làm gì mà đã nhanh quên đến thế!

- Anh không biết đâu! Bên cạnh cô ấy có đến ba bốn đứa nhằm vào, em lại ở xa! Cự ly như thế chắc là bất lợi rồi anh ạ.

- Đừng bi quan và cũng đừng coi thường chị em phụ nữ. Một khi người ta đã yêu thì họ phải say mình một điều gì chứ không phải họ yêu theo cảm tính đâu, thế nên các cậu chỉ cần chăm viết thư về là được.

- Thế mà vừa rồi em lại cứ phân vân mới chết chứ. Em sợ nói chuyện tình cảm nhiều rồi đến khi họ lấy người khác họ đem ra đọc cho nhau nghe rồi họ cười với nhau thì chán chết.

- Không bao giờ đâu! Cậu chỉ lo bò trắng răng mà thôi. Một khi đã đi với người khác họ lại lo cái người mới biết chuyện cũ còn hơn là lo gặp hổ đón hơi ấy chứ.

- Thế thì em phải viết thư ngay hôm nay mới được anh ạ.

- Thế còn thằng này thế nào?

Kiệm chậm rãi trả lời:

- Em thì chỉ mới thích cô ấy, chứ còn cô ấy thế nào thì em không biết.

- Thế thì đâu đã có gì được. Này nhưng lúc cậu lên đường đi bộ đội cô ấy đối với cậu thế nào?

- Từ khi em trúng tuyển nghĩa vụ, chiều nào cô ấy cũng sang chơi. Còn thằng Lượng ở ngay bên cạnh cũng đi với em một đợt mà chả thấy cô ấy đến thăm hỏi lần nào.

- Thế là yêu rồi! Sao mà dốt thế không biết! Người ta đợi cậu nói ra đến đỏ con mắt mà lại không nói gì có chết không cơ chứ.

- Không biết thế nào mà lúc chia tay em chỉ nói với cô ấy là thỉnh thoảng bạn đến chơi cho mế tớ đỡ buồn, cô ấy nói đồng ý thế rồi cô ấy cũng buồn lây theo em mà rơm rớm nước mắt anh ạ!

- Đồ con khỉ! Cô ấy làm gì phải buồn lây vì cậu mà cô ấy buồn vì phải xa cậu! Hiểu chửa đồ con khỉ?

- Thật thế hả anh?

- Chứ còn sao nữa!

Rõ là anh loà lại dẫn anh mù! Một anh chàng chưa yêu nổi một mối tình nào cho trọn vẹn lại đi hướng dẫn về tình yêu cho những người khác nghe thật tức cười. Nhưng dù sao thì giữa xứ mù có một anh chột cũng đã là có sự hơn hẳn rồi, nhất là anh ta lại có cái mốc tuổi đời nhiều hơn họ đến ba bốn năm chứ chẳng chơi.

Câu chuyện của những chàng trai trẻ chưa vợ thì có rất nhiều, nhưng vốn dĩ vẫn là những câu chuyện mang đề tài tình yêu là chính. Xin cũng đừng trách cứ họ thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí trong lúc đất nước đang từng ngày hướng đến một mục đích lớn lao hơn, trong lúc xã hội đòi hỏi ở họ những điều to lớn hơn về trách nhiệm của những người lính mà họ lại nghĩ nhiều đến cái sự tư riêng như vậy. Tuổi trẻ thường là thế, cho dù bất kỳ ở thời nào họ vẫn luôn yêu hết mình, nhưng không phải vì thế mà họ không dám quên mình cho sự nghiệp chung của đất nước. Cho dù ngay sau những giây phút say đắm với những kỷ niệm thân thiết họ vẫn vững vàng lao vào cuộc chiến cho dù họ biết họ có phải hy sinh.

Ngay từ những ngày tập trung huấn luyện ở tỉnh đội bộ ba một già, hai trẻ này vẫn luôn gắn bó với nhau. Cũng không thể nói họ gắn bó với nhau vì một lý do nào cả vì họ đến với nhau rất tự nhiên không hò hẹn thề thốt kết nghì, kết ngãi. Tất cả sự gắn bó tựu trung lại chỉ là sự đồng cảm nào đó mà mọi người và cả chính họ cũng không thể nhận ra. Nhưng có một mối quan hệ mà ai cũng phải thừa nhận giữa họ đó là  những người đồng đội.

      

                          3

 

          Mới sáng ngày ra mà đã thấy cụ Thêm đi từ trên nương về. Chả biết có cái gì quan trọng mà thấy cụ đặt cái rổ xuống bên sân một cách khá thận trọng, trước khi vít cái cần tre cho cái gầu hạ xuống múc nước để rửa tay chân. Mặc dù cụ sống ở vùng thôn bản khá xa chợ búa và các vùng phường phố nhưng cụ cũng biết khá nhiều kiểu sống của các tầng lớp dưới xuôi. Qua câu chuyện cụ kể lại người ta tưởng cụ chỉ là người vùng xuôi lên chơi với con cháu ở trên này mà thôi. Sự kiện buổi đầu cụ gây ra cho anh Như và Hằng hầu như mọi người đã quên hẳn rồi. Mấy ngày gần đây cụ đối xử với hai anh em khá gần gũi và thân thiện. Tuy vậy cụ lại vắng nhà luôn nên cả hai anh em vẫn chưa có dịp ngồi với cụ, loại trừ vài lần cụ mang nước chè xanh ra mời hai anh em uống. Nước chè xanh thì Hằng không ham lắm nhưng anh Như thì có vẻ thích, nhất là vào buổi sớm và sau khi ăn cơm ở nhà bếp về. Cụ bà mất cũng đã khá lâu, các con gái thì đã về nhà chồng cả cho nên cụ chỉ có một mình. Sáng thì đi nương, trưa lại về nhà lo cơm, lo nước. Cái vòng tròn ấy hình như đã theo cụ từ lâu, bây giờ đã thành nề, thành nếp mất rồi. Những quan niệm về cách sống, cách cư xử của cụ giản dị như mọi người vùng cao khác trên đất nước mình. Quan niệm ấy đã truyền từ đời này sang đời khác cho dù nhiều năm gần đây phong trào Hợp tác xã đã mở ra nhiều mối giao tiếp giữa những người trong cùng thôn bản và rồi cũng có nhiều đơn vị, cơ quan sơ tán về cùng sống đưa đến khá nhiều kiểu văn minh và cũng mang đến khối chuyện phiền toái và không hợp với đạo lý của vùng quê này.

          Cũng không biết thế nào mà cách đây mấy năm có một đơn vị Thanh niên xung phong nói là ở Thủ đô vào ở nhờ một thời gian để chữa đườngC, đến khi rút đi rồi lòng dân có vẻ bất mãn quá, đến mức chỉ nghe nói là người Hà Nội là đã mất hết thiện cảm như cụ Thêm chủ nhà mà Hằng và anh Như trọ trong những ngày đầu khi hai anh em mới đến.

          Sau một hồi loay hoay cạnh cái giếng cụ Thêm cũng đã vào nhà với cái rổ trong tay. Cụ đi thẳng tới trước mặt hai anh em và chìa cái miệng rổ ra nói với anh Như:

- Bên vườn có quả mít chín, ta mang về mấy ông con cùng ăn.

Anh Như vội xua tay nói:

- Cụ để cho các cháu bên các chị ấy dùng, anh em chúng con cũng đã ăn bên cụ Phúc hôm qua rồi.

Cụ Phúc là chủ nhà anh Giao trọ, cụ có đến vài chục cây cối các loại trong vườn, riêng mít cũng có đến sáu bẩy cây. cụ Thêm biết vậy nhưng cụ vẫn cố ép hai anh em cùng ăn:

- Bên nhà chúng cũng có, với lại hôm rồi ta cũng cho chúng một quả to rồi, cái này là cho ông con mình nếm xem quả vụ này có khá hơn không.

Nói chưa dứt lời cụ đã đi xuống bếp để lấy dao lên bổ mít.

Từ khi đến đóng quân ở vùng này Hằng cũng đã nhận thấy đây là vùng quê có khá nhiều khó khăn về kinh tế. Thóc gạo xem ra không có mấy, thức ăn thường ngày của cả vùng là những bữa cơm độn một gạo có đến hai, ba ngô hoặc sắn khô. Thức ăn thì hầu như không mấy khi mua ở chợ . Phần vì chợ xa, vả lại người dân ở đây cũng rất hiếm tiền, chính vì vậy nên ra rừng kiếm được cái gì thì ăn cái đó. Khi thì là con cầy, con rúi săn được, nhưng mà rất hiếm, còn lại chủ yếu là các con vật nuôi trong nhà cùng với đôi ba vạt rau còi cọc vì thiếu nước trồng ở trong vườn. Thoảng hoặc có thu hoạch được vài loại hoa trái thì lại đem xuống chợ bán lấy tiền mua lấy ít muối, đường cùng các vật dụng cần thiết khác. Món mít xanh cũng là một nguồn thức ăn dự trữ của mọi nhà ở các dạng muối, xào, kho để có chút mặn mồm nuốt trôi đôi ba bát cơm độn thường ngày.

Mỗi lần qua bếp anh nuôi ăn cơm xong Hằng cũng hay lọ mọ xuống chỗ anh Toán anh nuôi trưởng ngồi chơi. Thực ra thì Hằng xuống xem có cái gì ăn được là Hằng xin về cho cụ Thêm. Anh Toán cũng biết vậy nên hôm thì ít muối, ít mỡ xào rán còn lại, cũng có khi là một phần của hộp thịt đã chia cho các mâm còn lại anh cũng đưa cho Hằng. Những khi có chút gì Hằng mang về cho cụ Thêm đều cất đặt khá kín đáo rồi cái thì đem cho mấy đứa cháu, cái gì ít ỏi một chút thì cụ để lại cho mình. Cũng không phải ngay từ đầu cụ Thêm đã nhận những thứ Hằng mang về ngay đâu. Cụ ngờ vực Hằng bớt xén để mang về rồi đơn vị sẽ phê bình, về sau nghe Hằng giải thích mãi cụ mới thôi không cật vấn nữa.

Cũng phải đến gần một tháng ở trong nhà cụ Thêm, giờ đây hai anh em mới lại tìm thấy nét tươi vui hài hước của cụ. Những câu chuyện về gia đình và bản thân cụ lần lượt được cụ kể lại cho hai anh em nghe. Đâu là chuyện đi săn thú trên rừng, chuyện vui tết của ngày xưa, cả chuyện cụ phải lòng cụ bà như thế nào cũng được kể ra. Thế rồi cụ lại nói đến đám người ngày xưa đã trọ trong nhà cụ, từ việc họ ôm ấp nhau ra sao đến chuyện họ gần gũi quá đáng cùng nhau làm cho cụ thấy nó khó nhìn và đáng xấu hổ. Mỗi lần nghe đến đó Hằng lại phì cười rồi bao biện cho đám người nọ:

- Đó là bố chưa quen gặp cảnh này bao giờ mà thôi! Người nước ngoài họ cho đó là chuyện bình thường bố ạ.

- Đấy biết ngay mà! Đã là dân Hà Nội anh nào chả thế! Chẳng qua là cánh Hà Nội kỳ này chỉ có mỗi mình cậu nên cậu bất lực mà thôi. Cho dù thế nào thì bố cũng không tán thành cách sống như vậy. Vừa lúc đó anh Như xen vào:

- Bố có biết cái Xoan cháu ngoại của bố đang nhắm vào đứa nào không? Nó đấy bố ạ! Cậu ấy còn phải trốn không dám gặp để tránh sự phê bình của ông Giao đấy! 

Vừa nói đến đây thì cụ Thêm bật quát lên:

- Này anh đừng tưởng anh là người văn minh mà anh coi thường cháu tôi đấy nhé! Cả bản chỉ có mình nó là xinh nhất thôi đấy, anh còn đòi gì hơn nữa nào.

- Thế nhớ! Nếu mà mai đây nó lại mang văn minh đến cho cháu của bố thì làm thế nào?

- Cháu của ta chắc hẳn là nó không như thế chứ…!

Cụ Thêm hơi lưỡng lự vừa như trả lời anh Như, vừa như tự nói với mình về sự ngờ vực không biết cháu mình nó có tránh được cái sự ấy không? Cái Huyền nhà bà Tám chả bảo chín chắn đó sao thế mà rồi cũng trốn nhà đi biệt có thấy về đâu.

- Này thế mày đã thế nào với cái Xoan hả?

- Bố cứ yên tâm đi cô ấy còn ít tuổi, mà con cũng có người yêu rồi.

- Chả lẽ cháu của ta không bằng người yêu gì đó của cậu à?

- Không phải thế, chỉ là cháu làm sao lại có thể bội bạc với ngườì yêu của cháu được!

- Cậu ấy và cô bạn gái đã chia tay từ nửa năm trước rồi, nó chẳng còn cô nào nữa đâu bố ạ.

- Thế sao cậu lại dám dối bố thế nhỉ?

- Chả là tại bố cứ lo cháu của bố hư hỏng nên…

Cụ Thêm vội cướp lời:

- Này cái việc ấy thì bố cũng đã xem trên chiếu bóng rồi. Liên Xô họ cũng thế thì chắc cũng không có gì là xấu. Nhưng dù sao thì cũng ở chỗ kín chứ cứ đứng giữa đường mà cũng thế thì người ta phải phê phán thôi.

- Có nghĩa là bố đồng ý cho nó được ấy... chứ gì?

- Ấy là thế nào? Chỉ được hôn nhau thôi nhưng mà không được cho ai nhìn thấy, nhỡ sau này các cậu không về đây nữa, bỏ rơi nó thì làm thế nào?

Cụ Thêm nói một thôi một hồi mà vẫn sợ hai người này không hiểu ý mình. Chẳng qua là cụ cũng kết một cậu cháu rể như kiểu này rồi nhưng lại sợ cháu mình cũng quá yêu rồi để quá ra thì mang tiếng nên cụ không biết nói như thế nào cho thoả đáng. Thấy cụ có vẻ lúng túng anh Như cũng thôi không trêu cụ nữa, anh bảo với ông cụ:

- Bố yên tâm đi, đơn vị chúng con là đơn vị chủ lực của bộ nên cán bộ, chiến sĩ không ai được vi phạm kỷ luật đâu.

          Mặc dù cái việc đơn vị chủ lực là gì, nó có quan hệ thế nào đến mối tình của bọn con trai, con gái hay không thì đến người nói ra cũng chẳng hiểu nữa là cụ Thêm, nhưng dù sao thì câu nói đó cũng làm cho cụ yên lòng hơn.

          - Chuyện rông dài mãi, ta phải đi mượn cái thang để lấy cái gầu lên kẻo không có cái gì múc nước nấu cơm bây giờ đây.

          - Sao bố không làm cái dây bằng sắt cho chắc mà lại làm bằng dây rừng cho hay đứt.

          - Dây sắt cũng không chịu được đâu, ta cũng đã làm rồi mà không được vì nó cứ oải cái móc ra, thế là lại tuột.

          - Không sao đâu, con đã làm cho nhiều người rồi, múc cả thùng to vẫn không đứt, không tuột được. Con đã thấy bố có đám dây thép tráng kẽm kia rồi, bây giờ chỉ cần một cái chạm chặt và một cái búa là xong thôi.

          - Các thứ thì có nhưng không biết cái dây có chịu được không?

          - Bố cứ yên tâm đi, con làm nhiều lần rồi mà.

          Thế là ông cụ bê cả đám đồ nghề bụi bặm trong gậm giường ra cho cậu, tuy rằng trong bụng vẫn không tin là cậu có thể làm được. Có lẽ cụ cũng định cứ để cho cậu thất bại, rồi quyết đoán là cậu nói ngoa để rồi lấy cớ răn đe cô cháu gái nên cụ chấp nhận tốn ít dây thép mà cụ nhặt nhạnh từ hồi còn chiến tranh để lại.

          Hằng tìm trong đống đồ cũ đưa ra hai đoạn sắt phi sáu dài đến mười phân rồi đóng xuống tấm gỗ dầy mà cụ Thêm vẫn làm đòn kê. Từ một cái cọc sắt Hằng quấn một vòng tròn vào đó xong rồi kéo sang cái cọc  sắt thứ hai quấn tiếp hai vòng tròn khác. Cứ như vậy mà quấn sau một hồi cậu đã có đến hàng chục đoạn dây thép với hai vòng tròn ở hai đầu dính liền vào nhau. Sau khi đã quấn được nhiều các đoạn dây giống nhau Hằng liền tháo các đoạn dây rồi chặt từng cái rời ra. Cứ để nguyên như thế Hằng bẻ gập chỗ giữa của đoạn dây để hai vòng tròn hai đầu chập vào nhau. Cứ hai vòng đầu của đoạn này móc vào đoạn uốn giữa của đoạn kia rồi dùng búa gõ cho kín các vòng tròn đầu lại thế là các đoạn nối liên tiếp với nhau kéo dài mãi ra. Hằng làm chỉ trong một buổi nghỉ mà được hơn mười mét vừa đủ độ dài của giếng.

          Cũng không ngờ cuộc thử dây lại náo nhiệt đến thế. Hàng xóm có, bộ đội có, con cháu của cụ Thêm nghe tin cũng đến, lẽ dĩ nhiên là có cả cô Xoan cháu gái của cụ Thêm với đôi mắt lúc nào cũng ánh lên tia sáng như muốn thiêu cháy cái anh bộ đội ở nhà của ông mình. Sau khi đã gắn vào dây cả cái thùng gánh nước, một chàng thanh niên thả thùng xuống giếng rồi thì lắc, giật một lúc lâu mà cái thùng cũng chẳng chịu rời ra và thùng nước đã được kéo lên đầy ắp. Cũng không thiếu những người còn chưa tin về sự chắc chắn của dây, họ vẫn kéo giăng ra để tìm xem có chỗ nào khả dĩ có bị oải ra không. Cũng không bao lâu sau người ta đã thừa nhận là cái dây có thể chịu đựng được sức vóc của thùng nước và rồi họ cùng cười chia vui với cụ Thêm. Lẽ dĩ nhiên là cụ Thêm đã quên từ lâu cái sự nghi ngờ đối với chàng trai nọ. Cụ không còn ngại về cái việc cháu gái của cụ mê say anh chàng bộ đội quê ngoài Hà Nội đang ở nhà mình nữa. Còn một điều mà cụ để ý kỹ hơn xem cái con cháu gái của cụ có mê trai thật hay không. Tất nhiên là cụ phải thừa nhận thôi vì cụ đã thấy cháu của cụ chả để ý gì đến thử dây mà suốt cả buổi con bé chỉ hút mắt vào cái bóng xanh biêng biếc nọ. Cụ thở dài: Thế có chết không cơ chứ!

          Không quá ba tháng sau đơn vị lại rời quê hương của cụ Thêm để lên đường đi chiến đấu. Anh Như thì đã chuyển đơn vị về tuyến sau, chỉ còn mỗi một mình Hằng chia tay với ông cháu của cụ Thêm. Câu chuyện say đắm của cô Xoan cháu cụ Thêm cũng chưa kịp phát triển bởi Hằng luôn cố gắng xa lánh cho dù cô Xoan đã cố tìm cách thể hiện mối cảm tình của mình mà chàng trai nọ vẫn cứ lơ lửng vậy. Điều này thì Hằng biết nhưng mà Hằng có sự quyết tâm từ nhiều lần trước đã thành kinh nghiệm rồi nên mọi sự rồi cũng qua nhanh chóng. Cô Xoan cũng chỉ nước mắt lưng tròng một chút vậy thôi.

          Chỉ còn ba mươi phút nữa là đơn vị sẽ xuất phát. Trong mấy ngày qua Hằng đã thu thập được một số quần áo dư thừa của mình và cả của mấy cậu bạn mà không phải thu cũ đổi mới gói vào một bọc khá to. Hằng lại xin được một cái mũ cối còn khá mới gói vào một tờ báo cũ để lại trên tấm phản mà Hằng và anh Như vẫn nằm ngủ. Bắt đầu nghe còi của anh Giao cất lên ở đầu xóm Hằng mới gọi cụ Thêm lại để đưa cho cụ số đồ dùng nọ. Cụ cứ ngần ngại từ chối, Hằng phải động viên mãi cụ vẫn chưa chịu nhận:

          - Tất cả những thứ này cho dù có thu về rồi cũng huỷ bỏ mà thôi, con muốn để lại cho bố và mọi người dùng cho khỏi phí, huống chi ở mình còn nhiều người rách rưới quá, ngay bố cũng vá víu nhiều như thế cơ mà.

          - Bố ngại rồi trong thôn bản họ sẽ không nghĩ như thế, họ cho là bố lợi dụng!

          - Biết vậy nên con đã viết giấy nói rõ việc này rồi lại còn có cả ý kiến của anh Giao trong ấy nữa đấy bố ạ. Ai hỏi bố cứ đưa giấy ra cho họ là được.

          Vừa lúc đó anh Giao cũng vào đến cửa:

          - Thế nào! Hai bố con chia tay xong chưa, ra tập trung thôi chứ!

          Cả hai cùng chào ông cụ Thêm rồi bước ra, cũng vừa lúc ấy ông trưởng thôn vào đến trước cửa, ông  cất giọng nói với cụ Thêm:

          - Việc này chúng cháu đã biết rồi, cụ cứ nhận để mà dùng cụ ạ! 

          Từ trên khuôn mặt già nua của cụ Thêm phảng phất một nỗi buồn mà cụ ít khi thể hiện ra ngoài mặt, cụ giơ tay lên như vẫy chào tạm biệt hai người chiến sĩ, mồm mấp máy không nói thành lời, mắt thì nhìn về một nơi xa đến vô cùng, vô tận. Có lẽ cụ nghĩ về cái nơi mà những người chiến sĩ sắp đến, cụ hiểu rồi những con người tốt ấy sẽ gặp chuyện gì và rồi cụ cầu khấn mong cho họ tránh được mọi sự nguy hiểm, luôn gặp được những điều may mắn. Đoàn quân đã ra đi và chàng trai Hà Nội ấy cũng không có điều kiện để trở lại vùng quê ấy nữa. Trong lòng của chàng trai ấy vẫn luôn nhớ về một vùng đất nghèo về vật chất mà giầu tình người. Câu chuyện về tình dân như thế đâu có gì đặc biệt và đâu chỉ có ở riêng một vùng nào. 

 

                            4

 

          Gần đến sáu giờ chiều đơn vị mới bắt đầu tập kết về bãi xe để chuẩn bị lên đường. Suốt cả buổi chiều mọi người làm các công việc chuẩn bị mà có vẻ như vẫn chưa xong. Đâu là vài cuốn sổ, cây bút máy, đâu là mấy bộ quần áo lót, rồi thì tăng võng, hộp thuốc cá nhân. Vài anh nghiện thuốc lào thì còn nhiều thứ nữa, đâu là cái bật lửa, bình xăng để tra bật lửa. Những gói thuốc dự trữ được vò đi ép lại sao cho nhỏ nhất để ba lô còn đựng thêm trăm thứ bà rằn khác nữa. Những thứ bắt buộc ai cũng có như súng đạn, bao gạo thì không thể làm thay đổi khối lượng được nên mọi người chẳng để tâm đến việc sắp đặt làm gì, chỉ cần khoác lên thế là xong. Hằng kiểm lại chiếc ba lô của mình lần cuối để tránh bị bỏ lại những thứ cần thiết cho sau này. Hai bộ quân phục, hai bộ đồ lót, cả cái áo sợi có hàng khuy trước ngực màu cỏ úa mà anh em quen gọi là áo bà Định. Bà Định không là ai khác mà là bà Nguyễn Thị Định Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam lúc bấy giờ. Cũng không biết cơn cớ gì mà anh em chiến sĩ lại gọi đó là áo mang tên của bà. Những chiếc áo sợi kiểu này khá giống những chiếc áo len hoặc sợi vẫn bán ở miền Bắc cho các bà các cô dùng. Một mặt nó lại chỉ được cấp khi họ sắp làm quân giải phóng của bà nên có lẽ vì thế mà họ gọi đó là áo bà Định. Ngoài những thứ của riêng, Hằng còn phải mang cho đại đội một số quân cụ và còn có cả một bọc khá lớn mềm trơn. Có lẽ đây là các loại cờ quạt, giấy má mà đại đội cần dùng cho các cuộc học họp. Công việc chuẩn bị chỉ kết thúc khi tất cả đã lên xe để đi vào mặt trận.

          Đoàn xe đã bắt đầu chuyển bánh từ từ lượn trên những đoạn đường cuối của miền đất phương Bắc. Những bãi khách đã không còn ai ở đang trơ ra những hàng cọc buộc võng mà mọi người để lại từ những đêm trước. Không riêng gì đơn vị của Hằng ra trận, bởi có nhiều bãi khách vắng như thế này.

          Tất cả những người lính hầu như đều im lặng ngồi trong xe và nhìn ra hai bên đường như cố thu vào tầm mắt những hình ảnh thân thương của miền Bắc trước khi bóng tối che đi tất cả mọi thứ. Những gì đã sảy ra trong những ngày gần nhất và cả những gì đã sảy ra trong quá khứ hầu như đều hiện lên tất cả trong đầu. Thế rồi đến hình ảnh của những người thân, những bạn bè và cả những người phụ nữ đã quen biết trong những ngày qua cũng hiện lên cùng với những hình thân mật trìu mến nhất của họ mà Hằng đã cảm nhận và có ấn tượng ở họ. Có rất nhiều cuộc ra đi đã từng sảy ra trong mỗi đời người ví như rời nhà đi chơi đâu đó ở nơi họ hàng dăm ba ngày rồi lại về. Có những lần ra đi xa nhà lâu hơn như đi học nghề, đi làm việc nhưng rồi cũng lại trở về cho dù có lâu hơn một chút cũng đã làm cho ta xao xuyến, nhớ nhung.Tuy nhiên những khoảnh khắc ấy nhanh chóng tan đi, nhường cho các trạng thái bình thường trở lại để con người vui vẻ và cởi mở như trạng thái vốn có. Nhưng lần ra đi này đã không như thế bởi ngoài cái xao xuyến, nhớ nhung còn một điều ta phải nghĩ đến đó là lần ra đi này đã đành là rất lâu mới trở lại và rồi còn có thể trở lại được nữa không mới là điều đáng phải nghĩ đến. Ta hiểu sự hy vọng vượt qua được sự nguy hiểm và cái chết trong chiến tranh là điều không tưởng, sự hy vọng ở đây chỉ còn là sự cầu may mà thôi. Tuy nhiên như vậy nhưng con người ta không chỉ nghĩ về một điều đó, sự lôi cuốn của cả xã hội, sự hứng khởi vì một sự quang vinh, sự thù hận vì một hành vi tàn ác đối với đồng loại, sự ganh đua cho cái hơn hẳn của cá nhân, của đồng bọn, đồng phe với mình cũng là những xúc tác để con người dẹp bỏ đi tất cả mọi điều để dành cho điều đó. Những lúc ấy cái nguy hiểm và cả cái chết cũng bị coi là nhỏ, nhờ thế mà có bao sự tích anh hùng làm cho chính ta và cho cả kẻ thù của ta cũng phải nể phục. Tất nhiên là họ ngạc nhiên và nể phục bởi vì họ đâu có ở trong cái không khí đầy chặt ý niệm như vậy, họ đâu có đau thương, đâu có mất mát gì để mà phải cố giành giật lại. Cái của họ là chiếm lấy bằng sức mạnh, chiếm lấy để thoả mãn sự tham lam vô lối mà thôi. Tuy vậy họ cũng không phải không cố sống, cố chết để giữ bằng được những thứ mà họ sắp sửa chiếm được, vì họ cũng đã mất nhiều công sức cho cái mưu đồ nhơ nhuốc ấy, họ cũng đã mất không ít của nả, công sức và cả sự sống nhiều người của chính họ. Một điều đáng kể nữa là họ đã bị nhục nhã khi cái sức vóc hổ, báo của họ lại bị thua bởi con giun, cái kiến và rồi còn bao con giun, cái kiến khác đã ở trong tay họ, đang ở trong tầm ngắm của họ cũng sẽ tuột khỏi, cũng sẽ coi khinh họ, như thế thì làm sao mà họ không cố sống, cố chết trong cuộc chiến này… Cũng chỉ là tự mình nghĩ ra mọi chuyện như thế, rồi lại tự đưa mình đến với cao trào của sự yêu thương, sự bất bình, sự căm thù và rồi chỉ còn lại một điều duy nhất đó là sự quyết định rằng ta không thể tiếc xương máu trong cái sự nghiệp lớn lao này của dân tộc. Ta sẽ chiến đấu thật dũng cảm và không ngại ngần hy sinh một cách anh dũng như những người đồng đội đã đi trước vì mọi người, vì gia đình và Tổ quốc. 

          Những chiếc xe Vọt Tiến của Trung Quốc viện trợ dùng để chuyển quân cứ nối tiếp nhau lao đi trên những quãng đường rừng, đường đèo tối om om dài như vô tận. Những quầng sáng đèn gầm chỉ nhỏ bằng cái sàng làm sao có thể soi nổi con đường phía trước, thế mà những người chiến sĩ lái xe vẫn chẳng cần giảm tốc độ. Có lẽ họ đi theo sự quen thuộc trong đầu chứ không phải dựa vào bóng sáng nhỏ nhoi kia. Những cú xóc tung lên, hạ xuống cứ liên tiếp xảy ra làm cho người ngồi trên xe cũng nảy lên, nảy xuống như xóc ốc. Những cú ngoặt tựa hồ như muốn hắt người từ góc này sang góc khác nếu như họ không bám chặt vào thành xe và không ngồi sát vào nhau. Ánh sao mờ tỏ trên những khoảng rừng thưa như hé mở cho ta nhìn thấy sự nguy hiểm hầu như lúc nào cũng có thể xảy ra, bởi khi đầu xe đã nhô ra sát mép bờ vực mà vẫn chưa thấy đoạn đầu cua ở đâu. Quả thật nếu không quen thuộc chắc là cả xe và người đã xuống thám hiểm đáy vực từ lâu rồi. Những gì có thể nói về người chiến sỹ lái xe hết đêm này sang đêm khác vẫn đi, về trong hiểm nguy, trong bom đạn. Đâu có phải cứ ôm súng lao vào cửa mở mới là những anh hùng!

          Sau rất nhiều lần bò lên những cái dốc dài vô tận đoàn xe cũng đã lên đến một đỉnh cao. Từ đây đã nghe thấy tiếng máy bay L19 của địch lượn lờ, cùng những chùm đèn dù vàng ệch ma quái trên đầu. Những đám cháy lân tinh xanh lét ngún khói trên những thân cây đen xì chồng đống lên nhau. Cả một bầu không khí chứa đầy mùi thuốc bom khét lẹt.

          Chỉ đi thêm một đoạn nữa thì cả đoàn xe phải dừng lại vì phía trước con đường đầy bùn nước không sao tiến lên được. Một khẩu lệnh nhỏ truyền từ người này sang người khác: Tất cả mang quân trang, súng đạn xuống xe! Tất cả mang quân trang, súng đạn xuống xe!... Thế có nghĩa là đã đến chiến trường rồi đấy! Có nghĩa nơi ta đang đứng đây cũng chính là gianh giới của hoà bình và chiến tranh! Gianh giới của hoà bình và chiến tranh chỉ là một quãng đường ô tô không quá ba tiếng đồng hồ vậy thôi sao? Thực ra gianh giới của vùng này sang vùng khác cũng chỉ là ước lệ vậy thôi. Với từng gia đình thì bên này hàng rào là sân vườn nhà mình, còn bên kia hàng rào là sân vườn nhà khác. Thế nhưng gianh giới của hai làng, hai tỉnh, hai nước nhiều khi chả có cái rào nào để mà ngăn chia. Gianh giới của hoà bình và chiến tranh cũng vậy thôi. Mọi cái luôn ở cạnh nhau, mọi cái luôn ở trong nhau, luôn hoà trộn vào nhau. Mái đồi bên này khô khan chết cây, cháy lá, mái đồi bên kia mưa chảy nước trôi. Mái đồi bên này là hoà bình yên vui, còn mái đồi bên kia là chiến tranh, bom đạn.

          Có lẽ mùa mưa phía sau dãy Trường Sơn đã bắt đầu khá lâu rồi nên ngay trên đỉnh đồi mà bùn vữa ngập ngụa đến là khủng khiếp. Vừa mới đi được một đoạn ngắn mà anh nào anh ấy cũng đã thấm mệt. Mà không mệt sao được khi mỗi bước chân đều ngập trong bùn sâu gần đến háng. Đang mải miết bước lên cho kịp hàng quân phía trước thì nghe tiếng cậu Luận gọi réo lên ở phía sau:

          - Anh Hằng ơi lại kéo em một tý, chân em mút chặt xuống bùn rồi!

          - Đợi một tý, anh cũng đang dính chặt dưới bùn rồi đây.

          Không biết làm sao vừa mới bước đi ngon thế mà mới chỉ dừng lại nghe cậu Luận gọi thì chân lại dính chặt xuống bùn thế này không biết.

          - Cậu phải tự tìm cách thoát lấy thôi, ông anh của chú cũng như có nhựa gắn xuống bùn rồi đây này.

          - Thế chả lẽ cứ đứng mãi ở đây hả anh!

          Hằng đang cố sức xoay bàn chân cho đám bùn vữa rộng ra nên cũng chẳng kịp trả lời Luận nữa. Hết ngả người ra phía trước, rồi lại ngả người về phía sau mà đám bùn cũng chỉ rộng ra một chút. Dù sao thì cũng cứ thử rút chân lên xem sao. Sau một hồi cố hết sức bình sinh thì chân cũng đã rút lên được một tý nhưng mà chỉ là chân thôi còn giầy thì nằm lại không chịu theo chân lên nữa.

- Này Luận ơi! Cậu làm thế nào cho giầy nó tụt ra là rút chân lên được đấy.

- Thế thì làm gì có giầy mà đi hả anh?

- Đành vậy thôi, đơn vị đi xa quá rồi.

- Nhưng mà em buộc chặt quá không sao rút ra khỏi giầy được.

- Thì cố xoay cho bùn vào trong khe chân là nó tuột ra thôi.

Cũng phải mất một lúc thì hai anh em mới thoát ra khỏi vũng bùn, đành chịu để đôi giày ở lại. Cái lỗi này là do mình gây ra mà thôi, trách ai bây giờ. Thực ra thì khi sức nặng cơ thể dồn vào chân làm cho nó lún sâu xuống bùn thì đồng thời cũng tạo ra một cái lỗ, nếu ngay sau đó rút ngay lên thì không sao, nhưng nếu để một lúc thì bùn xung quanh dồn đầy vào, một mặt chặn lên trên, đồng thời vùng đế giày lại bị rút hết khí thành chân không, thế là lại bị ép mạnh hơn. Cách tốt nhất là cựa chân sao cho có khe hở cho khí tràn vào là rút lên được. Có điều là ngoáy mãi chân thì bùn vào cả khe chân và giày làm trơn tuột chân lên còn giày thì nằm lại. Một cách lấy cắp giày của ông thần bùn thật là hữu dụng, không chê vào đâu được.

Sau mấy giờ đi bộ trong bùn vữa dưới ánh sáng lờ mờ của các vì sao thì trời cũng dần dần sáng. Hết len lỏi qua các rặng cây lại leo thang qua các vách đá, hết bám dây song co mình lên dốc đứng, lại sờ xẩm, dò dẫm lội dọc suối, rồi thì buộc phao bơi vượt qua sông, mãi đến khi đi cắt ngang đường Chín thì trời đã sáng rõ. Nếu không có tiếng máy bay ì ầm trên đầu thì với quang cảnh ấy cũng chỉ như đi dã ngoại trong tập luyện ở ngoài Bắc mà thôi. Điều đáng để nói là từ đây mới thật sự bắt đầu vào đường dây ra trận. Từ đây đã bắt đầu là chiến trường, mà chiến trường thì không thể nói chơi được. Chiến trường là chiến đấu, là gian khổ, là xương máu hy sinh, đâu có giản đơn như diễn tập. 

Khi cả đơn vị về đến bãi khách tiếp theo thì trời đã tối, mọi người vội vàng buộc tăng võng lên những thân cây đã nhẵn thín vì các đoàn quân đi trước đã cọ quệt, đã chà xát sau mỗi đợt quân vào. Sau bữa cơm dã chiến cả trung đội tập trung để nghe quán triệt nhiệm vụ cho những ngày sau. Thật may là vị trí bãi khách của đơn vị tập kết lại không gặp mưa nên các chàng trai đều đã lên võng nghỉ ngơi. Bộ quần áo ngâm bùn đêm trước đã được gột sạch trong lúc lội suối giờ cũng đã khô và cứng còng. Hằng nằm yên trên võng thả lỏng người để lắng nghe những âm thanh xung quanh, mặc kệ các lớp vải cứng cứ cọ vào da thịt. Đôi chân đã rời rã sau một ngày bươn trải với một cường độ cao nhất từ trước đến giờ cũng không thèm động đậy. Tuy vậy nhưng Hằng cũng không thể ngủ ngay được bởi phiên gác đầu tiên nơi bãi khách lại là phiên gác của Hằng và Lượng sẽ phải bắt đầu sau mươi phút nữa.

Những ồn ào của hàng trăm người đã át đi mọi âm thanh khác của rừng đã có sẵn từ cái thời nguyên thuỷ xa xôi nào đó, giờ đây chợt vang lên như một bản hoà tấu với trăm ngàn cung bậc khác nhau. Rất nhiều âm thanh không biết của loài nào lại cứ ri ri rỉ rỉ. Cũng có âm thanh cứ buông ra đều đặn tiếng một tựa như tiếng gõ nhịp trong các bài hát dân ca. Cũng có nhiều âm thanh rất quen thuộc giống như những âm thanh vẫn phát ra sau vườn nhà những khi còn nhỏ đã từng nghe thấy trong khi chơi trò trốn tìm vào những đêm trăng sáng. Đôi chỗ vẫn còn vài cậu chưa chịu ngủ, thoảng hoặc lại lào thào với nhau không biết chuyện gì đó bên cánh võng ở cuối của bãi khách…

Đã hết phiên gác lâu rồi mà Hằng vẫn chưa sao ngủ được. Những hình ảnh thân thuộc về quê hương§, nơi người cha của cậu đã sinh ra và lớn lên ở đó. Cái làng Tây Lạc cùng những cái ao đầy bèo tấm và khoai nước liên tiếp nối nhau vừa lướt qua, lại đến những hình ảnh gần gũi về con đường đất với hàng xà cừ cao lớn, cùng với khu đầm sen rõ rộng, luôn toả hương thơm trong những mùa hè đầy nắng và gió ở cái làng Đồng Dầu, một vùng đất thuần nông của ngoại thành Hà Nội, nơi Hằng đã sống cùng với cha mẹ và những người thân suốt cả một thời tuổi nhỏ.

Mảng trời sao lộ ra từ tán rừng thưa cũng chả khác gì bầu trời sao của làng Tây Lạc trên quê hương Nam Định, lại càng không khác với bầu trời sao của làng Đồng Dầu trên đất ngoại thành Hà Nội. Từ trên những bầu trời sao ấy người lính thấy như lại được trở về gần gũi với những người thân của mình vậy. Bầu trời sao ấy đã theo những người lính ra mặt trận hôm nay và còn theo người lính trong những ngày sau nữa để mà an ủi, để mà vỗ về trong khi họ xa vắng những người thân. Có thể cùng trong lúc ấy người lính cùng những người thân của họ cũng đang nhìn lên những ngôi sao để nhớ nhau, để nghĩ về nhau và nói cùng nhau những lời tha thiết nhất. Chính vì thế nên không chỉ riêng ai, bầu trời sao đã trở nên thân thiết với tất cả những người lính trong những năm tháng chinh chiến ở xa.

Giấc ngủ của Hằng đến rất từ từ sau rất nhiều những hình ảnh thân yêu của mẹ hiện ra. Bà lặng lẽ đi tìm những đoạn dây để nối dài ra, buộc vào bốn góc của cái màn xô căng trên chiếc chiếu giải dưới sân nơi cậu con trai của bà đã ngủ quên không chịu mắc màn…   

                                  5

 

Sau gần một tháng, ngày đi đêm nghỉ đơn vị cũng đã vào đến nơi tập kết. Kể từ khi cả đoàn quân vượt sông Xê Bang Hiêng thì tất cả những người lính chỉ còn biết rằng mình đang đi vào hướng Nam mà thôi. Những cánh rừng nghỉ tạm sau một đêm không tên không tuổi cũng tuột ra khỏi bộ não mà chẳng để lại chút gì gọi là vương vấn. Nhiều chỗ đoàn quân đi qua rồi mới nghe một đôi người kháo rằng đấy là vùng ngã ba biên giới hoặc một địa danh nào đó do những người đã vào ra một đôi lần nói lại thế thôi. Thực ra mấy người này cũng đoán già, đoán non khi thấy những khoảng rừng có vẻ giông giống vậy thôi chứ cũng không dám khảng định một cách thật đúng. Chỉ có cái tên bằng số là không có thể sai được bởi hàng ngày lãnh đạo cấp trên phát lệnh hành quân đều nói đến trong lúc xuất phát.

Bãi khách T73 đêm mới rồi bị máy báy địch đánh phá nên cả đoàn lại phải đi thêm một quãng khá xa để vào bãi khách dự phòng. Đây cũng là trạm cuối của đường dây Xã hội chủ nghĩa mà đơn vị đi qua, ngày mai đoàn quân sẽ đến binh trạm 1 của đường dây Giải phóng. Theo như dự đoán của mấy cậu thạo tin thì đơn vị còn phải hành quân qua 15 binh trạm nữa thì mới đến hậu cứ của đơn vị. Thế thì đôi chân chưa thể được nghỉ ngơi mà còn phải đi dài dài hơn nữa. Dù sao thì ở đâu cũng đều là đất mình cả vậy thôi, chẳng có gì cần phải phân vân điều này, điều nọ cho mệt. Nói như mấy cậu người Mường Cẩm Thuỷ thì (khắc đi, khắc đến). Đã lâu không thấy ai hỏi đến ngày, tháng nên cũng chẳng biết khi đơn vị vào đến cứ là ngày bao nhiêu. Có điều chắc chắn là vào khoảng cuối tháng mười một sang đầu tháng mười hai âm lịch, vì suốt mấy buổi tối chẳng thấy bóng dáng ông trăng đâu cả.

Cũng không ai ngờ được trong suốt thời gian ở Đường 9 Nam Lào Hằng không bị sốt rét, ngay cả khi ra ngoài Bắc củng cố mấy tháng liền Hằng cũng không biết sốt rét là gì, thế mà vừa đặt chân vào hậu cứ Tây Nguyên lần này thì Hằng lăn ra sốt. Việc đào hầm hố Hằng chả tham gia được tý nào, từ việc đào đắp đất đến chặt gỗ làm nóc hầm kèo đều dồn cả vào hai ông y sỹ là Cứ và Bình. Chẳng những thế hai ồng này còn phải để mắt đến Hằng, sợ Hằng biến chứng sang sốt rét ác tính. Mấy ngày sau đó Hằng cũng không cất mình lên được, việc ăn uống đều nhờ vào anh Toán là anh nuôi trưởng của đại đội. Gần nửa tháng chiến dịch Hằng không được tham gia một buổi nào cả bởi cơn sốt cứ kéo dài liên miên không dứt. Sau mỗi ngày đi chiến dịch về Luận, Tâm và Kiệm lại sang hầm nói chuyện với Hằng về đánh đấm của các tiểu đoàn mà đại đội 2 của Hằng phối thuộc. Công việc của đại đội vẫn chỉ là tiếp đạn, chuyển thương là chính, thoảng hoặc có gặp địch thì lại phải lựa để tránh không phải đọ súng, có thế mới bảo vệ được thương binh. Sau hàng loạt những chuyện vui về chiến thắng, bao giờ về cuối các cậu ấy cũng tỏ vẻ bực dọc vì khi ao ước làm bộ đội là để có dịp đánh giặc thế mà đến khi giặc ở ngay trước mắt lại phải tránh đi thì cớ gì mà họ chả bực mình.

Hôm nay đã là ngày thứ ba Hằng cắt cơn sốt. Đề nghị mãi đại đội phó Nhu mới cho đi chiến dịch. Anh Nhu cho Hằng đi cũng chỉ là mang theo một khẩu súng đỡ cho vài người khi phải khênh cáng quá nhiều và dự phòng khi có người bị thương thêm thôi chứ không giao nhiệm vụ gì quan trọng cả.

Cao điểm 1049 cũng như  muôn vàn những cao điểm khác với tầng tầng, lớp lớp những cây cổ thụ, xen lẫn những vạt rừng le cuốn thành những vòm mái che phủ kín cả mặt đất. Rồi thì các loại nứa tép, vầu, tre gai cao vút trên khắp cả một dải rừng chuyển tiếp làm cho ta chẳng thể nhận ra đâu là đỉnh của cao điểm. Thực ra cao điểm 1049 chính là đỉnh Ngọc Rinh Rua cao nhất của cao nguyên miền Trung mà ngày còn học phổ thông có lần thầy Vũ Tú Nguyên đã gọi lên chỉ nó trên bản đồ địa lý. Cao nguyên miền Trung còn có một cao điểm nữa là cao điểm 1015, sách địa lý gọi nó là đỉnh Ngọc Tô Ba. Đây cũng là một địa danh mà quân ta đã tiêu diệt mấy tiểu đoàn quân trong năm1968.

Kể từ ngày vào chiến trường đến nay mọi người hầu như lúc nào cũng nhớ nhà, nhớ người thân. Những người đồng đội nói chuyện với nhau cho dù là đề tài gì thì sau một hồi thế nào cũng lại quay lại đề tài gia đình, bè bạn. Những câu chuyện cho dù ở ngoài Bắc có kín đến đâu thì đến bây giờ cũng bị lôi ra để mà góp vào không khí chung của mọi người. Có những người được tiếng là kín nhất như chính trị viên Sinh và chính trị viên phó Huynh cũng đã tham gia vào tiết mục kể chuyện này. Chuyện về người thân mà người chiến sĩ đề cập đến nhiều nhất là chuyện về người yêu của họ. Cũng chẳng ai biết những người con gái ấy có thật xinh đẹp hay không nhưng qua lời kể của các chàng trai đang yêu thì họ đều như tiên cả. Tuy vậy cũng có những chàng trai đã bị lộ “bem” bởi người yêu cũng đã từng đến thăm và lẽ dĩ nhiên là nhiều người đã gặp. Lại còn cái đám cùng quê thì họ chả còn lạ gì những cô gái của nhau, thế nhưng họ vẫn muốn nói cho nhau nghe về những cô bạn ấy với những tình tiết hết sức đặc biệt mà theo họ thì những tình tiết của các cô ấy chỉ có thể dành riêng cho người con trai của các cô ấy mà thôi. Những câu chuyện như thế thì thật là chỉ còn biết nghe kể và cười vui phụ hoạ.

Cũng không biết làm thế nào mà câu chuyện Hằng tránh gặp bạn gái trước khi đi chiến đấu dạo nào cũng đã bị mấy chàng thạo tin kháo ra từ ngay những buổi đầu tiên có tiết mục này. Trong rất nhiều những nhận xét mà Hằng nghe được thì hình như có rất nhiều ý luôn đối nghịch lẫn nhau. Người thì cho đây là một mối tình cao thượng hiếm có không mấy ai làm được. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong việc này thì chàng trai là người đã quá tự đề cao mình mà phủ nhận những điều tốt đẹp của người khác. Những ý kiến ấy nêu ra kèm theo hàng loạt những đánh giá thật cao đẹp về người phụ nữ. Đâu là sự dũng cảm không thua nam giới, đâu là sự hy sinh chịu đựng hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác. Nhiều đêm Hằng nghĩ về điều này và tự vấn lòng mình về sự vô tư trong suy nghĩ. Đúng là Hằng chỉ muốn làm sao cho người thân yêu của mình không phải côi cút như bao người phụ nữ và bao đứa trẻ khi gặp cảnh éo le để rồi khốn khổ trong cảnh vợ nọ con kia. Hằng đâu có tự đề cao mình lên như nhiều đồng đội đã đánh giá như vậy. Có điều dù có nói thế nào đi nữa thì việc làm của Hằng cũng cứ lồ lộ ra dưới sự xét đoán theo hướng như vậy. Sự thật thì Hằng cũng đã thấy, đã biết có đến hàng vạn người phụ nữ của thời chín năm kháng chiến, hàng vạn người phụ nữ của cả hai miền Nam Bắc đã mất chồng, mất con sống trong cảnh goá bụa mà đã có bao giờ họ sợ điều đó đâu. Họ vẫn yêu, vẫn chờ đợi, vẫn hy vọng cho dù hy vọng thật nhỏ nhoi. Họ đâu có cần những ai phải lo cho họ! Họ đâu có cần ai thương hại họ! Cho dù những ý kiến này chưa ai nói thẳng với Hằng, nhưng Hằng nghĩ nếu có lần thứ hai như thế thì nhất định Hằng sẽ phải cân nhắc sâu sắc hơn nữa. Nhưng thôi, mọi sự đã xảy ra rồi làm sao có thể thay đổi được nữa.

Đơn vị chuyển địa điểm đến một vùng khác sau mấy ngày đường hành quân bộ, để rồi lại tiếp tục với việc phục vụ chiến đấu. Lần này đơn vị phải chuyên chở đạn, gạo qua sông PôCô cho các đơn vị đánh vào phía Nam CôngTum nên gặp khá nhiều khó khăn vất vả. Sau những trận đánh giằng dai giữa ta và địch thì sự ác liệt lại tăng lên khi cả hai bên đều muốn đi đến những thắng lợi nhất định, bởi khi mùa mưa đến việc di chuyển và tiếp tế lương thực, súng đạn sẽ bị cản trở. Lẽ dĩ nhiên là khi chiến dịch càng ác liệt thì đơn vị của Hằng cũng chung chịu với các đơn vị chiến đấu. Những trận B52 rải thảm, những trận pháo bầy liên hồi kỳ trận của địch luôn chặn vào đầu và quét vào đuôi đội hình của các trung đội, tuy vậy đơn vị cũng chưa có thương vong nào.

Đêm nay đơn vị lại tiếp tục lên đường cùng với trung đoàn 48 để tiến đánh vào Công Tum. Đạn cối 120 nặng đến 17 cân một quả, mỗi người phải mang 3 quả, đạn cối 82 mỗi người phải mang đến 6 quả. Rồi thì đạn K56 dùng cho súng AK, đạn Nổ, đạn xuyên lõm cho DKZ 75, DKZ 82. Cao cấp hơn còn có đạn pháo D74, DKB, hoả tiễn H12, Hoả tiễn B72, mỗi loại đều khá nặng và cồng kềnh khó mang vác. Vũ khí bộ binh thì có lựu đạn tấn công, thủ pháo, thuốc nổ TNT, CH4, đạn B40, B41 vv…Cũng không thiếu  mìn phóng MF 1A, mìn Định hướng DH 35 để phá hàng rào và diệt bộ binh địch.

Mỗi lần vận chuyển cho dù cả đơn vị cố sức cũng chả được bao nhiêu, thế mà chỉ cạch, oành một cái đã đi đứt một quả đạn cối. Thật là nhanh và tốn kém quá đi mất. Thôi thì cũng đành vậy chứ còn biết làm sao cho được khi kẻ địch còn xài gấp cả chục lần chúng ta xài. Chúng ta đâu có muốn làm như vậy trên chính mảnh đất của chúng ta. Cuộc chiến như chúng ta biết thật là buồn, thật là tàn bạo và thật là không đáng có. Chúng ta đã cố gắng hoà hoãn trong nhiều lần ký kết các hiệp ước và gần nhất là ký kết hiệp định Giơ ne vơ của hơn mười năm trước. Tất cả đã không thể dừng lại được và vận mệnh dân tộc lại phải trải qua những ngày tháng đạn bom cực kỳ man rợ.

Những người chiến sĩ phải hoàn thành nhiệm vụ của mình, đó là trách nhiệm lớn nhất. Còn việc dũng cảm, xông tới và chiến thắng đối phương đó là công việc của người lính, vì nếu không thế thì cần gì phải có họ. Tuy nhiên cũng nhờ thế mà họ bảo vệ được đồng bào, bảo vệ được tổ quốc và tự bảo vệ được chính mình. Họ có quyền tự hào vì sự hy sinh của họ cho dân tộc, cho đất nước vì điều đó là nhân văn lớn nhất của thời điểm lúc bấy giờ. Còn trước đó và cả về sau này, mỗi thời điểm lại có một mục đích ý nghĩa riêng của nó. Đừng bao giờ bắc đồng cân để mà đong đo thời này, thời khác bởi như thế thì thật là khập khiễng, thật là không phải.

Chiến dịch ngày càng khốc liệt hơn trong những ngày đầu năm 1972. Đại đội 2 cũng đã di chuyển chỗ đóng quân mấy lần liên tiếp. Hình như mặt trận ngày càng rộng ra nên đơn vị cũng bị chia sẻ thành nhiều bộ phận để phối thuộc. Riêng đại đội bộ thì vẫn tập trung ở một chỗ, khi có trận đánh lớn thì mới cử cán bộ trực tiếp chỉ huy. Cơ bản vẫn là đại đội trưởng Điền và chính trị viên trưởng Sinh, còn chính trị viên phó Huynh và đại đội phó Nhu thì đã đi chỉ đạo trực tiếp ở các trung đội 1 và 2. Chỉ có anh Giao ở trung đội 3 luôn chỉ có một mình trong mọi việc.

Chiến dịch dường như đã có những chuyển hướng khác với nhiệm vụ ban đầu. Nhiều đơn vị được phân tán để căng địch ra làm cho chúng không thể tập trung được. Trong khi đó các đơn vị luôn xuất hiện với đủ mọi cái tên vốn đã quen thuộc nhưng lại ở quá nhiều địa điểm khác nhau, thành ra đi đến chỗ nào kẻ địch cũng thấy là quân của sư 320, quân của sư 2, sư 10 và nhiều sư đoàn khác nữa. Kẻ địch chắc phải hoang mang thật sự vì mới sớm nay chúng chạm mặt 320 ở Tây Nguyên thì ngay chiều hôm đó chúng lại chạm mặt với 320 ở Quảng Trị. Chúng biết 320 có A, có B nhưng chúng lại không biết họ có C, có D hay không. Điều này là một bí mật chiến lược làm sao mà chúng biết được.

 

                       RA BẮC

 

                               1

 

Sáng mai Hằng được phân công đi cùng trung đội 2 tách khỏi đại đội đến phối thuộc với trung đoàn 52 về vùng dưới. Cũng may là ở trung đội 2 còn có Yên là người cùng sở Điện Thanh Hoá với Hằng nên cũng đỡ buồn. Hai người vừa đi vừa nói chuyện về gia đình của nhau trên suốt dọc đường. Yên không gầy nhưng khuôn mặt của Yên cứ phô ra cái sự gầy bởi cái cằm của Yên cứ đua ra nhòn nhọn, hai má thì hóp vào, hố mắt thì sâu thành ra ai cũng bảo Yên còm cõi. Không biết Yên có thêm gì của riêng mà ba lô của cậu ấy cứ to kềnh, to càng ra làm cho bước đi của Yên cứ  nghiêng hết cả về phía trước.Vậy nhưng Yên vẫn chuyện rất rôm rả, thoảng hoặc lại pha trò cười hin hít nghe thật là ngộ.

Suốt từ hai hôm trước Hằng lại lên cơn sốt, y sĩ Bình đã tiêm cho Hằng mấy ống thuốc trợ sức và cả mấy ống Qui nin trị sốt rét vậy mà hình như cơn sốt vẫn không chịu giảm cơn. Cũng không biết thế nào mà mỗi khi sốt rét thân nhiệt lên rất là cao, có người lên đến 41 độ vậy mà xem ra cũng vẫn chẳng hề hấn gì. Còn chuyện 40 độ trở xuống thì mọi người cứ coi như là không sốt, vẫn gùi gạo, gánh đạn và khênh thương binh đi thoăn thoắt.

Chặng đường đi có lẽ cũng đã được gần hai giờ đồng hồ mà Hằng vẫn không thấy đỡ. Trước mặt lại là một cái dốc dựng đứng đầy bùn đất và lá khô vụn mủn, chỉ mới vòng qua một đoạn cua ngắn đường bằng mà Hằng theo mãi vẫn chưa thấy đội hình, có lẽ mình phải chạy mới theo kịp nhóm đằng trước. Chỉ mới kịp nghĩ lướt qua trong đầu Hằng đã thực hiện ngay thế mà phải gần hai mươi phút sau Hằng mới bắt kịp đội hình. Có lẽ thấy Hằng tụt lại lâu quá nên lãnh đạo đại đội đã cử y sĩ Bình lùi lại để chờ Hằng chứ đơn vị thì đã đi xa rồi.

Vừa gặp Hằng ì ạch chạy đến Bình đã sờ tay lên trán của Hằng để xem có nóng quá không. Mới sờ vào trán Hằng đã thấy cậu ta rụt tay lại để lấy thuốc ra tiêm cho Hằng. Sau phát tiêm vào cánh tay cậu ta lại bắt Hằng ngồi nguyên đó kéo quần xuống chọc ngay Seranh thuốc vào mông. Có lẽ cũng đành tiêm ngồi như thế bởi đất dưới chân chả khác gì bùn nhão thì nằm ra sao được. Không tiêm thì Hằng còn chịu được, tiêm rồi thì mắt hoa đầu váng mỗi lúc một tăng làm Hằng không còn gượng dậy được, thế rồi Hằng thấy tối sầm lại, không còn biết gì nữa. Cũng không biết sau bao nhiêu thời gian Hằng mới tỉnh trở lại, chỉ đến khi mở mắt ra thì Hằng đã thấy cả một đám đông vây kín lấy Hằng. Anh Điền đại đội trưởng cũng đang dòm nom ngay sát bên cạnh. Cũng chỉ kịp thoáng nhìn thấy trong một vài phút rồi Hằng lại lịm đi.

Cũng không biết Hằng đã sốt như thế nào mà mấy ngày sau khi tỉnh lại chỉ thấy mỗi một mình nằm trên một cái sạp nứa trải trong một căn nhà hầm ẩm thấp. Cuộc điều trị có lẽ phải mất hơn một tháng mới đỡ, tuy là đã đỡ nhưng Hằng còn rất yếu nên cũng chỉ chống gậy đi bộ xung quanh trước lán mà thôi. Mỗi ngày Hằng lò dò theo mọi người đi qua lán nhà bếp để ăn cơm. Tiêu chuẩn của người ốm nặng khá hơn các bệnh nhân khác ở chỗ có thêm mấy miếng thịt hộp của miền Bắc đưa vào còn lại thì cũng chỉ có măng le, cá khô và ruốc bông. Hàng ngày Hằng ăn cũng không được nhiều nên khi ốm Hằng ăn càng ít. Cơm canh còn lại đã có mấy cậu lính bị thương giải quyết hết nên cậu cũng chả cần lo rửa, bát rửa đũa mà chỉ chào các bạn là lại lò dò về lán.

Vừa qua bên lán 6 chợt nghe thấy tiếng hò hét ồn ào náo nhiệt không biết là có chuyện gì. Chờ mãi mới thấy mấy cậu bên khoa ngoại về qua cho biết bên ấy có một cậu sốt rét ác tính nhiều lần biến chứng tâm thần. Nghe vậy Hằng càng lo không biết rồi đây mình có thể lại như cậu ấy hay không. Cứ nghĩ đến mấy cô gái điên Hằng vẫn gặp ở quê ngày nào Hằng lại thấy gai gai sợ. Tóc tai các cô ấy rũ rượi, mặt vêu vao đầy ghét bám. Bàn tay khẳng kheo gầy giơ ra mò mẫm ở rãnh thoát nước, gặp gì cho vào mồm ăn nấy. Những miếng vải xơ xưới lua tua không còn biết gọi là màu gì choàng từ cái cần cổ cứ đuỗn đuồn ra lao về phía trước. Cặp mông lép kẹp sần sùi những vẩy thoảng hoặc lại phơi ra khi cô ấy bước đi hoặc khi gió đánh tạt về một phía. Cái thảm hại hơn có lẽ lại là việc mấy đứa trẻ con lúc nào cũng theo đằng sau trêu chọc. Đứa lành hơn thì cũng lấy cái que đánh bò khều vào bộ giẻ trên người cô ấy. Đứa dữ dằn hơn chúng chả nể nang gì mà không quất một vài roi vào cái thân hình quắt queo đen đúa người không ra người, ma không ra ma ấy. Chả lẽ rồi có một ngày ta cũng điên như thế bởi những cơn sốt rét ác tính mà người bạn bên lán 6 vẫn đang gào thét ngoài kia.

Đang suy nghĩ luẩn quẩn một mình chợt tiếng chân chạy huỳnh huỵch từ mé sau nhà vọng đến làm cắt đứt luồng suy nghĩ của Hằng. Vừa chống cái gậy tre đi về phía sau nhà đã thấy cậu bạn tâm thần đang vắt vẻo trên một cây bứa khá cao ngay đầu hồi phòng làm thuốc. Vừa khoa chân, khoa tay cậu ta vừa hô xung phong ầm ĩ tưởng như sẽ nhảy ngay xuống đất làm cho các y tá, bác sĩ đứng dưới luống cuống mà không biết làm gì. Có một anh y sĩ đang đứng bên cửa nhà thuốc tay lăm lăm một cái võng mồm thì gọi mấy anh từ trong nhà thuốc ra giúp sức. Cũng đã mấy lần anh bạn tâm thần doạ sẽ nhảy từ trên cây xuống làm cho mọi người cứ cuống cả lên. Những cành bứa xoè tán hết tầng này đến tầng khác đâm ngang ra xung quanh có làm cản trở anh ta rơi xuống, nhưng thân gỗ của nó kiêng gì đầu, mình, chân, tay mà không làm cho cái sự va chạm để rồi dẫn đến gẫy, vỡ, toác, để rồi có thêm những chấn thương về thể xác hợp với sang chấn về tinh thần đưa anh ta đến chỗ chết hoặc tàn phế hơn nữa. Những tiếng thét xung phong, những âm thanh giả làm tiếng nổ của anh như cứa vào lòng mọi người. Một cái gì đó vừa bi thương, vừa oanh liệt cứ như khía vào quả tim của những người đang đứng cùng anh ngay phía bên dưới gốc cây bứa với những cành ngang vô cảm.

Sau mấy tuần điều trị với đủ các loại thuốc, đâu là DDS, NIVAQUIN, B1, B12, KINACRIN rồi thì tiêm QUY NIN đến ù cả tai mà sức khoẻ Hằng cũng chẳng thấy khá hơn. Đã hơn một tuần nay uống viên phòng số 2 là loại khá mạnh trong thuốc điều trị mà cũng chẳng khả quan hơn tý nào. Mãi đến hôm kia anh Điều y sĩ mới  quyết định điều trị cho Hằng phác đồ mới là viên phòng số 3 màu đỏ. Xem ra loại thuốc này hợp với Hằng hơn. Những ngày tập đi với chiếc gậy tre rồi cũng đã qua, Hằng đã có thể đi lại bình thường. Cái gậy tre mà anh Điều đưa cho bữa trước đã bị bỏ xó không còn cần đến nữa. Nói là đã đi lại bình thường nhưng tốc độ di chuyển của cậu hình như vẫn còn rất chậm. Mỗi lần đi lại cũng chỉ vài trăm mét cậu đã thấy mỏi chân giống như ngày nào hành quân từ Bắc vào Nam.

Vừa cắt cơn sốt là Hằng đã lang thang đây đó mà chẳng chịu ngồi yên một chỗ. Khi thì Hằng sang chỗ đồng chí Điều bên khu quân y sĩ, khi thì Hằng sang khu thương binh hỏi xem có ai là người Hà Nội hay không. Sớm nay đồng chí Điều xuống điều trị có nói cho Hằng biết về kế hoạch giám định sức khoẻ cho thương bệnh binh trong kỳ tới. Bên hành chính của viện đã lập danh sách báo về các bộ phận rất nhiều các đồng chi thương binh bị mất hoặc hỏng các chức năng nhìn, nghe, đi lại, cầm nắm và cả các trường hợp tâm thần. Phía các bệnh binh sốt rét quá yếu cũng phải giám định một vài trường hợp. Hằng nghe nói vậy thì biết vậy, cậu cũng chẳng hiểu cái việc giám định như vậy để làm gì. Có chăng là việc cậu mong sớm giám định để kịp về với đơn vị không thì khi về đơn vị đã di chuyển là cậu lại phải đi đơn vị khác thì thật là phiền. Nghĩ thế nào làm thế ấy, cậu liền hỏi thăm dò:

- Không biết em đã được giám định chưa anh Điều nhỉ?

- Tớ thấy có một Hằng trong danh sách nhưng không biết là Hằng nào vì ngay trong diện điều trị của tớ cũng còn một cậu Hằng bên lán 4, lại còn có đến 2 Hằng khác ở nhóm điều trị nội khoa khác.

- Em chỉ lo khi về đơn vị đi vào sâu quá không còn tìm được, lại phải về một đơn vị nào đó của miền thì chán ngắt. Dẫu sao thì làm quân chủ lực trong sư cơ động vẫn hay hơn anh ạ.

- À không! Tớ nói giám định đây là giám để đưa về hậu phương vì mất sức chiến đấu chứ không phải giám để cho xuất viện.

- Lại hậu phương, em đã chán với cái cảnh hậu phương, hậu cứ rồi. Đành rằng đâu cũng là nhiệm vụ thế mà một đằng bom pháo hy sinh ở phía sau với lại một đằng trực tiếp ngoài chiến hào đánh cho thật đã rồi hy sinh thì chỗ nào hơn?

Nghe Hằng nói anh Điều chỉ mỉm cười lặng lẽ, khá lâu sau anh mới nhẹ nhàng nói:

- Thế cậu bảo tất cả chúng tớ chả lẽ không nghĩ vậy hay sao...

- Nhưng các anh lại có chuyên môn khác chúng em nên phải theo đúng chuyên môn chứ.

- Chả nhẽ chúng tớ không trải qua bắn súng, ném lựu đạn và thả cối chắc? Chúng tớ cũng muốn trực tiếp lập chiến công chứ đâu có muốn kể ra rằng chưa bao giờ cầm súng xông lên đánh giặc trong khi mình là một người chiến sĩ ra đi chiến đấu để giải phóng đất nước.

Có lẽ những lời hùng hồn mà anh nói ra không phải chỉ để nói với Hằng mà hình như anh nói với cả anh nữa. không khí im lặng đến không ngờ sau những tuyên ngôn của anh Điều chợt bị phá vỡ:

- Mà cậu cũng là một dạng chuyên môn đấy chứ?

- Không em chỉ là bị bắt cóc lên làm trong thời gian nào đó mà thôi.

- Này, tý nữa thì quên! Chỗ hành chính của viện họ nhờ hỏi xem cậu có cách nào hàn được cái nồi cất bằng nhôm hay không?

- Hàn nhôm phải có máy và môi chất, ở trong này chả có cách nào hàn được đâu anh ạ.

- Thế thì gay go quá, không biết lấy gì để vô trùng dụng cụ mổ xẻ và hấp bông băng được. Hay là cậu cứ xuống xem xem thế nào.

- Thế lỗ thủng có to không anh?

- Chỉ là lỗ của mấy viên bi xuyên qua, lỗ to thì lọt ngón tay còn lỗ bé thì vừa lọt chính viên bi mà thôi.

- Thôi được để em xuống xem thế nào.

Hai người đi vòng vèo qua ba bốn cái lán cho đến khi gặp con suối nhỏ thì dừng lại trước một căn nhà hầm nửa chìm, nửa nổi, bên trong khá rộng nhưng chỉ thấy dụng cụ, còn người thì đi đâu không rõ. Loanh quanh một lúc lâu vẫn chẳng có ai về, anh Điều bực dọc lẩm bẩm:

- Nói mãi mà vẫn không rút kinh nghiệm. Đi đâu thì cũng phải có một mống ở nhà để mà gác sách chứ, đừng tưởng đây xa địch mà chủ quan, đến khi thám báo nó đến tận nơi thì mới trắng mắt ra!

Chờ mãi chẳng được anh Điều đành vào trong nhà lôi ra vài thứ dụng cụ đun nấu. Trong số đó có một cái nồi nhôm khá lớn, nắp đậy bằng nhôm đúc dày, có bốn cái đinh khuy kẹp chặt với miệng nồi. Chỗ gần miệng có mấy lỗ nhỏ bằng đầu ngón út miệng loe ra như hoa rău muống. Vừa lúc đang ngắm nghía cái nồi nhôm ấy thì anh Điều quay trở lại.

- Cái này thì làm được anh ạ! Em chỉ cần nói qua là họ làm được thôi. Trước hết anh bảo họ lấy cái kẹp đạn mài sắc sau đó khoét hai bên miệng lỗ loe thêm ra, còn ở giữa để nguyên sau rồi lấy đuôi cánh bom cắt lấy một đoạn nhỏ đập cho tròn rồi cho vào lỗ tán hai bên cho chặt thế là xong anh ạ.

- Tớ sợ khi áp lực cao chỗ ấy không chịu nổi.

- Không sao đâu anh ạ.

- Ừ thôi thế cũng được, lát nữa tớ bảo các cậu ấy làm thử xem sao.

Hai anh em lại lọc cọc quay về lán điều trị, cả hai đều không nói gì nữa. Mỗi người đều có những suy nghĩ của riêng mình .

                                       2

 

Gần một tuần vừa làm thuốc vừa ăn uống với tiêu chuẩn cao, sức khoẻ của Hằng đã khá hơn mọi khi, nhưng nhìn chung thì cậu vẫn xanh và gầy. Kể ra thì cậu cũng mới chỉ cắt sốt mấy hôm, trong thời gian ngắn thế làm sao mà béo tốt ngay được.

Chả biết có chuyện gì mà sớm nay anh Điều bắt số bệnh binh tập trung về hội trường ngay từ sớm. Hằng vì mệt mỏi hơn ngày thường nên đến khá muộn, khi đến nơi thì hội trường chỉ còn độ ba chục bệnh binh với bốn ông bác sĩ còn ngồi ở đó. Hằng nghe loáng thoáng hình như có ai đó gọi tên mình mà không biết có phải hay không. Cũng chẳng biết thế nào mà sau khi uống mấy viên phòng số ba rồi thì tai ù đặc hết cả.

Thế rồi cả đám bệnh binh đều đã khám hết chỉ còn trơ lại mỗi mình mới thấy một ông bác sĩ hỏi đến Hằng. Ông ta hỏi tên tuổi và cả quê quán của Hằng sau khi đã khám đi, khám lại con người của Hằng sau đó thì ra hiệu cho Hằng về lán.

Vừa đi vừa nghỉ rồi Hằng cũng đã về đến lán của mình. Vừa về đến lán đã thấy bốn năm anh em chờ mình ở bên trong xô ra hỏi han loạn xạ chả hiểu ra thế nào. Người thì hỏi kết luận của anh ở loại nào, người thì hỏi rằng anh có được ra không, cũng chẳng biết cậu ấy bảo ra đâu. Cũng phải rất lâu Hằng mới hiểu ra những câu hỏi của mấy anh em cùng cảnh sốt rét ác tính như mình. Nói là hiểu thế thôi chứ thực ra Hằng cũng không biết mình ở loại ba hay bốn, chỉ thấy đồng chí viện trưởng xem đi xem lại bệnh án rồi hỏi về tình hình ăn uống sinh hoạt của Hằng. Cuối cùng thì đồng chí ấy ghi gì vào bệnh án mà thấy đầy những chữ là chữ. Một lúc lâu sau đồng chí viện trưởng cũng ngẩng đầu lên rồi động viên vài câu đại loại là “cố gắng ăn uống cho nó tăng hồng cầu lên một tý, không thì rồi đi cũng không nổi đâu đấy...”

Hằng cũng không ngờ lần đi viện này lại là lần xa đơn vị mãi mãi, bởi chỉ gần một tuần sau đó Hằng đã phải chống gậy theo đoàn quân ra Bắc. Trên đường đi ra Hằng còn phải vài lần cấp cứu nữa, mà lần nào cũng cứ mê man nóng rét rồi co giật làm cho mọi ngưòi phát hoảng.

Cũng không hiểu thế nào mà đến Binh trạm T. 14 ngoài bữa ăn khá thịnh soạn với rất nhiều đồ hộp, mỗi người được phát một ít kẹo bánh và đường sữa, rồi thì còn có cả thuốc lá bao miền Bắc hẳn hoi. Hỏi ra mới biết hôm nay chính là ngày mồng một tết âm lịch năm 1975.

Thế là đã gần năm năm trôi qua, năm cái tết chiến trường, năm cái tết giữa bom rơi đạn nổ. Những gì là vui Hằng đã nếm qua, những gì là buồn Hằng cũng đã nếm qua. Cho dù là thế nào thì những năm tháng này cũng là những thời khắc đặc biệt mang dấu ấn trong cuộc đời. Những gì đã đi qua sẽ không bao giờ trở lại, cho dù điều đó là khốc liệt, là tàn lụi, là chết chóc. Bởi chính từ nơi đó ta hiểu được cái “bản ngã” của chính ta, nó là dũng cảm ngoan cường hay là sự run sợ yếu hèn mà bất kỳ người nào cũng phải có trước cái sự thực chết chóc, hy sinh trong cuộc đấu tranh một mất một còn của những người chiến sĩ. Qua những năm tháng ấy cho ta nhận ra chính ta. Rồi đây sau bao năm tháng đã đi qua, có một khi nào đó ta ngồi ta nghĩ về mình, ta sẽ nói gì với con cái. Ta có thể cao giọng dạy bảo chúng rằng hãy sống cho ra sống như bố mẹ chúng đã từng sống.

Cũng nhờ có cái đài của mấy anh cán bộ ở các đơn vị mặt trận cùng ra nên anh em trong đoàn biết được nhiều tin tức về tết và đặc biệt là nhiều tin về chiến sự trên khắp miền Nam. Không khí mấy ngày này có cái gì đó rất lạ, giống như cái không khí hừng hực của bẩy năm về trước, không khí của những cuộc tổng tiến công nhằm vào kẻ địch. Trên đường không chỗ nào không nói về điều đó cùng với  những dự đoán khác nhau. Tuy nhiên tất cả các dự đoán đều có ý như đây là cuộc chiến sau cùng để thống nhất đất nước giành độc lập dân tộc, điều mà mỗi người con dân đất Việt đã mong đợi hàng ngàn năm nay.

Bắt đầu ra đến đất Bắc thì không còn phải hành quân bộ nữa mà đi bằng ô tô. Vẫn những cái xe Gát mang nhãn hiệu Trung Hoa như ngày nào đã chở người vào, nay lại chở người ra. Đường xá mấy năm giặc đánh phá vẫn chưa sửa được nên những cái xe chả khác nào cái rổ cứ xóc những người ngồi trên nó như là xóc ốc. Qua trạm 10 Quảng Bình mấy ngày thì mọi người được nhận quân trang mới. Những cái màn vải xô nhuộm xanh, những bộ quân phục cũng màu xanh, rồi thì mũ dày, ba lô cũng vẫn xanh một màu như thế cả. Cũng từ đây người ta đã phân chia quân nhân tỉnh nào về tỉnh ấy và rồi từng người lại đi tiếp về các đoàn an dưỡng của các tỉnh. Hằng không kê khai nơi mình nhập ngũ mà khai nơi sinh và thế là Hằng được đưa về Đoàn 869 của Hà Nội. Vừa về đến đoàn an dưỡng Hằng đã phải đi điều trị ở Viện 12. Cũng vẫn bệnh sốt rét là chính, ngoài ra còn thêm cả bệnh sưng phổi đã phát triển trên dọc đường hành quân trước đó.

 

                                                    3

 

Cũng do ốm yếu quá nên dù rất gần nhà nhưng suốt từ ngày về đoàn an dưỡng Hằng vẫn chưa dám về nhà gặp mẹ. Sớm nay chủ nhật, đại đội tập trung chiến sĩ phổ biến một số nhiệm vụ sau đó công bố cho một phần ba số chiến sĩ ở gần được đi tranh thủ về qua nhà.

Sau mấy tháng vừa điều trị vừa an dưỡng, Hằng cũng đã cắt cơn sốt rét, nhìn người cũng đã thấy có da có thịt. Hôm cân trọng lượng kiểm tra sức khoẻ cậu cũng đã đạt được trọng lượng cân của ngày nhập ngũ. Cũng nhờ có nước da khá sáng sủa nên dù đã gần ba mươi tuổi nhưng chợt nhìn người ta ngỡ cậu mới độ hai ba, hai bốn là cùng.

Ba lô quần áo, chăn màn và cả số bánh kẹo, đường sữa tiêu chuẩn đơn vị phát cho Hằng vẫn để dành để làm quà khi về nhà cũng đã được gói buộc xong, vậy mà cậu vẫn chưa chịu rời đơn vị ra về. Có bao nhiêu điều cậu tưởng tượng ra khi gặp mẹ và em gái. Đâu là chuyện mẹ sẽ chạy vội ra để ôm lấy cậu, sờ nắn trên người cậu xem có bị thương tích gì không. Còn cậu sẽ cũng chạy thật nhanh đến bên mẹ lau giúp mẹ những giọt nước mắt sung sướng cứ chảy ràn rụa mãi không ngừng. Họ sẽ nói với nhau những gì là thương nhớ thật tha thiết và cảm động...

Thế nhưng ngay sau đó cậu lại phủ nhận tất cả những điều cậu vừa nghĩ ra trước đó. Bởi cuộc đời mẹ đã có bao nhiêu lần gặp gỡ, bao nhiêu lần từ biệt người thân. Thậm chí là bao nhiêu lần vĩnh biệt những người mà bà thương yêu nhất. Cùng với những khổ cực về tinh thần và vật chất mà bà từng chịu đựng hết năm này qua năm khác, làm cho bà thêm chai sạn, thêm cứng rắn và rồi mọi điều vui buồn trong lòng bà được nhìn nhận ở mức độ trầm tĩnh đến không ngờ. Dù sao thì việc nghĩ vẫn cứ phải nghĩ, bởi đó là thói thường của tất cả mọi người trước khi họ làm một việc gì.

Cuộc gặp gỡ xảy ra hoàn toàn khác với cả hai quang cảnh mà Hằng đã tưởng tượng ra, bởi ngay khi mở tấm liếp tre làm cánh cổng rồi vào đến sân Hằng chẳng gặp một ai. Chỉ đến khi bước vào căn nhà tranh tối tranh sáng, gỡ được hai quai ba lô đặt xuống mặt giường Hằng mới kịp nhận ra có một người đang ngồi trên tấm phản kê ở gian nhà phía hồi bên trái. Cũng phải mất một lúc Hằng mới nhận ra đó là một người đàn ông lạ mặt có mái tóc bạc có lẽ cũng sấp sỉ ở tuổi bẩy mươi. Hằng vội cất tiếng hỏi:

- Cụ ơi, cụ có biết bà cụ chủ nhà này đi đâu không nhỉ?

Ông già tóc trắng cũng bất ngờ không kém khi thấy có một chàng bộ đội tự nhiên cứ như vào nhà mình vậy, đã thế lại còn hỏi chủ nhà đi đâu nữa chứ. Mãi đến khi bình tĩnh trở lại cụ già mới thủng thỉnh trả lời:

- Cụ tôi vừa ra chùa làm lễ anh ạ!

Nghe xong câu trả lời Hằng cũng chào qua quýt cụ già nọ rồi cứ thế đi vội ra ngoài mà cũng chả nói cho ông cụ biết mình là ai và đến để làm gì. Cuối cùng thì  người Hằng gặp đầu tiên lại không phải là mẹ, chả biết đó có phải là điều không may hay không.

Sau khi quét quanh làng một vòng, gặp một loạt cả già lẫn trẻ cùng với hàng chục câu hỏi và câu trả lời thì rồi Hằng cũng về gặp mẹ. Có lẽ khi về nhà nghe ông lão tóc bạc kể lại chắc mẹ đã đoán được chàng trai bộ đội ấy là ai nên khi hai mẹ con gặp nhau thì chỉ thấy mẹ đứng im để nhìn cậu mà chẳng vồ vập hoặc tỏ ra bất ngờ một tý nào. Sau khi đã ngắm khá kỹ cậu con trai của mình rồi thì cụ cũng cất tiếng nhưng là để nói với ông lão tóc bạc mà không phải là nói với Hằng:

- Đây là thằng anh con Hà đấy!

Sau khi nghe mẹ nói như vậy thì ông lão tóc bạc vội đứng lên như có vẻ muốn bắt tay Hằng. Ông cất giọng chậm rãi nói:

- Thế thì con phải gọi ông ấy bằng ông mới đúng.

Mẹ Hằng hình như cũng cho là đúng mà không cải chính thêm điều gì. Đến lúc này Hằng mới biết và mới gặp được một người cháu của mẹ mình.

Không giống như nhiều nhà khác, cuộc trở về của Hằng thật giản dị, thật bình thường. Đó có phải cách sống đúng, sống tốt hay không thì không biết, tuy nhiên với hoàn cảnh ít họ hàng thân thích, lại khó về kinh tế thì có lẽ gặp mặt như thế là thích hợp.

          Gần một tuần ở nhà thật là vừa vui, vừa buồn, vui vì được gặp mẹ, gặp các anh chị em và các cháu, rồi thì còn cả số bạn bè cùng trang lứa, cùng học một lớp ngày nào. Còn buồn vì số đông bè bạn đều bận bịu gia đình  mà không qua lại thăm hỏi chuyện trò lâu được. Bọn họ còn phải lo làm, lo nuôi con cái và cả lo cha già, mẹ yếu.

          Cũng may trong suốt những ngày nghỉ có cậu Hợp thương binh cứng khớp hay đến chơi bời trò chuyện. Hợp còn ít tuổi bởi cậu là em thứ ba của Thu, mà Thu thì cũng còn kém Hằng đến hai tuổi chứ có ít đâu. Dù sao thì Hợp giống Hằng ở chỗ đang còn là trai tân chưa vợ đang ở vào diện cần phải đi đây đi đó để tìm mối cho mình.

          Trong đời bộ đội lúc nào cũng đều là quân phong, quân kỷ, đêm thì hội họp gác xách, ngày thì ra thao trường, chí ít cũng là tập đội ngũ, còn không thì lăn lê bò toài ngắm bắn bia, tập chiến thuật vân vân và vân vân với mọi vấn đề. Chỉ có ở đoàn an dưỡng mới được thoải mái đôi chút, nhờ đó Hằng hầu như chả ở đơn vị mấy mà chỉ ở nhà. Sau mấy tuần chơi bời, Hằng bắt đầu tham gia làm hợp tác giúp mẹ kiếm thêm ít công điểm. Mùa vụ thì cũng đã qua nên cũng chỉ còn mỗi việc gánh gạch vào lò, gánh gạch ra lò. Thôi thì có tý việc làm vừa đỡ buồn lại có thêm công điểm cho mẹ.

          Ngay từ nhiều năm còn ở độ tuổi trẻ con Hằng chẳng mấy khi tiếp xúc với nhiều người lớn, hơn nữa lại xa làng xóm ngay từ khi mới lớn, nên cậu ít hiểu về họ. Gần đây đi làm cùng với mọi người trong làng Hằng mới có dịp ngồi lâu với họ và phần nào cậu đã hiểu về họ hơn. Những câu chuyện chiến đấu mà Hằng kể cho họ nghe, làm cho họ thấy thật cảm phục, còn những câu chuyện đời thường hài hước mà những người này kể về những người kia không có mặt tại đấy nghe thật buồn cười thật là vui làm cho công việc có phần nhẹ nhõm hơn nhiều.

          Cùng đi làm hợp tác cũng còn có vài cô bé người làng vừa mới lớn lên mà Hằng chẳng biết là con nhà ai. Ngay từ khi bước chân ra khỏi nhà họ đã bịt kín mặt bằng những tấm khăn bông trắng nên Hằng chỉ còn biết trả lời những câu chào của họ khi gặp mặt mà không thể chủ động hỏi han gì họ được. Họ chỉ hơi hé mở ra lau mồ hôi những khi giải lao rồi lại trùm kín lại nên đã mấy ngày rồi mà Hằng chẳng biết họ là ai. Tuy nhiên qua đôi mắt của họ Hằng cũng đã nhận ra vài cô có cái nhìn hết sức ý nghĩa. Những khi giải lao họ ngồi gần Hằng hơn và không ít lần chăm chắm nhìn sang hoặc vội vàng nhìn ra phía khác khi bất chợt gặp ánh mắt dò hỏi của Hằng nhìn vào khuôn mặt họ.

 

                                             4

 

          Không phải chỉ riêng Hằng thấy được ý tứ ấy ở các cô gái mới lớn kia mà cả mấy ông bà già cũng đã nhận ra được những ánh mắt đưa tình ấy. Cũng chả ngại ngần gì mà họ không cất lời trêu chọc các cô:

          - Chiến sĩ đấy! Đứa nào có cảm tình thì ra mặt đi chứ không lại lỡ mất thời cơ.

          Vừa nghe đến đấy các cô liền ngúng nguẩy ra vẻ thẹn thùng kéo nhau bỏ chạy ra xa rồi cấu chí nhau la oai oái, họ giống như một bầy trẻ nhỏ vô tư lự mà ta vẫn gặp trên đường. Trong số đó có một cô bé không cao lắm có vẻ dạn dĩ hơn, các bạn vẫn gọi tên là Mận thường phải đổi vai với Hằng. Cũng chính nhờ thế mà hai người có điều kiện nói chuyện với nhau nhiều hơn so với những cô khác. Chả biết cô ấy có cảm tình như các bạn vẫn trêu hay không nhưng Hằng cũng cứ hẹn cô ấy ra chơi và cô ấy đã đồng ý.

          Ngay tối hôm đó và liền mấy tối hôm sau Mận đã ra nơi hẹn để gặp Hằng, họ đã đi chơi nói chuyện hàng mấy tiếng đồng hồ mỗi ngày trên dọc con đường từ nhà Hằng xuống đình làng. Tất cả những câu chuyện  hai người nói với nhau trong những lần đầu tiên đi chơi ấy thật chả ăn nhập vào đâu. Tuy nhiên đó lại là những cuộc gặp gỡ mở đầu cho mối quan hệ sau này của hai người.

          Mất mấy hôm Hằng phải về đơn vị để duy trì con số theo quy định. Chiều nay anh Đạt đại đội phó lại cho cậu tranh thủ về nhà. Cơm nước xong có lẽ cũng đã gần tám giờ tối, Hằng đang định đi vào phía trong làng thì thấy Mận bước vào cổng thế là Hằng đành phải quay trở lại. Ánh đèn dầu vang khè không đủ để soi rõ khuôn mặt của cô gái nhất là cô ấy lại hơi có ý đi vào góc khuất làm cho việc nhìn rõ khuôn mặt của cô càng khó khăn hơn. Tuy vậy bà mẹ của Hằng đang ngồi giần gạo ở giữa nền nhà vẫn nhận ra cô bé và cất tiếng chào trước:

- Cái Mận ra chơi đấy hả cháu?

- Vâng ạ!

- Cứ ngồi chơi nói chuyện với anh nhé, bác phải giần nốt mẻ gạo để mai có cái thổi cơm cháu ạ.

Sau khi chào hỏi mẹ của Hằng cô gái ghé mình ngồi xuống chiếc giường gỗ kê ở gian nhà phía bên trái. Hằng đi rót nước từ cái ấm tích ra để mời cô gái thì mẹ Hằng cũng mang cái đèn dầu nhỏ ở gần chỗ cụ đang giần sảy đến để vào cái ghế đẩu đặt trước mặt hai người. Thấy chỗ làm của mẹ bị tối và cũng muốn để cho cô gái tự nhiên hơn Hằng lại mang cái đèn trở lại cho mẹ nhưng bà bảo bà không cần đèn vẫn làm được, thế là Hằng lại mang cái đèn ấy về chỗ cũ. Câu chuyện giữa hai người dường như có sự dè dặt, đôi lúc họ hoàn toàn im lặng không biết nói với nhau điều gì. Những lúc như thế bà mẹ Hằng lại chen vào một câu hỏi để cho không khí cởi mở hơn. Điều làm Hằng khó nói chuyện nhất là cô gái không cùng lứa tuổi với Hằng, chính vì vậy mà khi Hằng hỏi một vài thông tin về các bạn của mình cho có chuyện thì cô ấy chả biết tý gì. Cũng phải thôi, vì khi cô ấy lớn lên Hằng đã không còn ở quê nữa. Hằng đã rời quê khi cô ấy mới độ sáu bẩy tuổi đến nay đã mười năm có lẻ, lẽ nào cô ấy chả lạ lẫm. Hằng cảm thấy buồn vì sự dè dặt và không hiểu biết của cả hai người. Nhìn kỹ cô gái dưới ánh đèn Hằng càng thấy ngần ngại khi mình đã trót mời cô ấy ra chơi. Sau một loạt những khoảng trống kế tiếp nhau thì Mận cũng thấy ái ngại, cô đứng lên chào mẹ Hằng rồi xin phép ra về. Hằng xin phép mẹ rồi ra đưa tiễn Mận về nhà, hai người vừa đi vừa tiếp tục câu chuyện đang dở, cách nhà khoảng độ gần ba trăm mét, cậu đang định chào lần nữa rồi về nhưng cậu thấy hình như Mận chưa muốn ra về thì phải. Chính cái lúc Hằng định nói lời cuối thì cô ấy lại hỏi rất nhiều chuyện, đâu là chuyện chiến đấu ở miền Nam rồi chuyện học hành ngày bé của của Hằng. Quãng đường hai người đi dần dần càng gần vào đoạn cổng chính của làng, dự đoán nơi ấy chắc khá đông thanh niên nam nữ nên hầu như cả hai đều có ý đi chậm lại, nếu không nói là đã dừng hẳn lại để nói chuyện mà không đi nữa. Ngay lúc đó có mấy người đi ngược ra bắt gặp hai người, tuy họ không biết hai người này là ai bởi trời quá tối, nhưng họ cũng có ý đi gần hơn xem bọn này là con cái nhà ai mà lại chuyện trò đêm hôm như thế. Có lẽ Mận cũng không thích cảnh này nên cô khẽ nói:

          - Mình ra xa làng một chút anh ạ!

          Đến đây thì Hằng nhận ra rằng Mận chưa muốn ra về, việc chào mẹ Hằng để về chẳng qua là muốn hai người nói chuyện được tự do hơn mà thôi. Thế là hai người lại quay lại con đường cũ và lần này thì họ vượt qua nhà Hằng để tiến ra xa làng thật sự. Đêm nay trời trở gió làm cho không khí khá lạnh, có lẽ đây là đợt rét cuối cùng của mùa đông mà ta quen gọi là rét Nàng Bân. Hằng luôn đi về phía bên phải của Mận có ý như muốn che đỡ cho cô những cơn gió lạnh thỉnh thoảng quét qua hai người. Chả biết đi đi lại lại thế nào hai người lại dừng ngay trước cái lò gạch mà ban chiều hai người đã cùng làm ở đó. Hằng vẫn đứng che gió cho Mận như khi nãy, mặc dù anh chẳng thể nào che hết được những cơn gió ngày càng mạnh hơn thổi từ đầm nước trước mặt. Đi qua, đi lại một lúc thì họ cũng tìm ra được một chỗ khuất gió đó là cái ô cửa đốt lò phía nam dài, rộng mỗi chiều chừng hai mét. Họ ngồi sát nhau trên một khúc gỗ đốt lò tìm được ở gần đó và tiếp tục câu chuyện. Câu chuyện ở nhà miễn cưỡng bao nhiêu thì bây giờ lại say sưa bấy nhiêu. Những câu hỏi và những câu trả lời với nhiều đề tài khác nhau nhưng có vẻ đã rất gắn bó mà không còn rời rạc như trước. Chả biết lúc ấy do lạnh hay do ít ngồi gần bọn con trai mà mỗi lần người Hằng chạm vào thấy Mận cứ run rẩy đến lạ, Hằng vội hỏi khẽ bên tai của Mận:

 

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

ĐỜI THƯỜNG 1

 TUỔI THƠ

 

1

         

Những ngày chơi bời lêu lổng của Hằng đã không còn nữa bởi đám bạn cùng tuổi đã phải bắt đầu với các công việc vặt trong gia đình của chúng. Thế là chỉ còn có một mình cậu thuộc diện rỗi rãi, tha thẩn hết vào lại ra với vài thứ đồ chơi vặt vãnh của chính cậu. Gọi là đồ chơi nh­ưng thực ra cũng chẳng sang trọng gì. Một vài cái mảnh sành đ­ược mài nhẵn để làm con chọi. Mấy hòn đá xanh nhặt ở đ­ường tàu về để đẽo gọt làm bi.

Ngoài những lúc ngủ, thời gian còn lại cậu đều dành cả vào các trò nghịch ngợm và chế tác những đồ chơi ấy. Hai tay và quần áo Hằng lúc nào cũng toàn đất cát, bột đá trắng, sản phẩm của việc gia công chế tạo các viên bi. Đây cũng chính là công việc chiếm mất nhiều thời gian nhất của cậu.

Công đoạn chính của việc chế tạo bi bắt đầu là việc dùng dao rựa cùn để đẽo các viên đá từ to thành nhỏ rồi mài sơ bộ vào nền gạch cho tròn. Tiếp đó là việc đ­ưa các viên đá này vào giữa hai vòng tròn của hai cái kẹp đạn rồi lại xoay đi xoay lại làm cho viên đá trơn và nhẵn. Cái công đoạn này đ­ược các cậu bé trong làng gọi là lùa bi.

Việc làm ra một viên bi từ khi đẽo đá đến khi lùa cho thật tròn, thật nhẵn cũng phải mất hàng ngày, hàng buổi chứ không phải nhanh chóng gì đâu. Thế mà khi đem ra đánh với lũ bạn chỉ cần sơ ý hoặc kém tài một chút là mất vào tay chúng, lúc ấy mới tiếc làm sao. Tất cả mọi đứa trẻ trai trong làng đều ham làm và ham có nhiều các viên bi bằng đá nên khi làm ra đư­ợc một viên bi công phu quá, đẹp quá, nhẵn quá đến lúc mất, còn tiếc hơn ng­ười lớn tiếc khi mất một cục vàng.

Bên cạnh cái trò bi, đáo ấy lại còn trò chơi khăng, thổi diêm, thổi nịt. Trò nào cũng cuốn hút, bởi trò nào cũng gắn với những được mất. Cho dù cái được mất ấy chả đáng bao nhiêu về giá trị vật chất nhưng với lũ trẻ trong làng thì thế cũng đã là to lắm, vì có khi nào chúng nó có đủ tiền để mua được nổi một bao diêm hay một xâu nịt đâu. Diêm của chúng đều do lấy cắp bớt trong bao của bố mẹ, còn nịt thì do chúng nhặt nhạnh trong các gói hàng mà người ta tháo ra lấy hết đồ bỏ rơi lại đó.

          Từ mấy năm nay ở làng vẫn có một lớp học tổ chức ngay ở cái điếm giữa. Cái lớp học này dạy kèm một chương trình vỡ lòng với chương trình lớp một. Ai có học hơn từ trước thì cũng tự hạ xuống, còn ai chưa học thì cũng cố mà theo, thành ra việc học cũng thật khó khăn cho cả thầy và trò. Ông giáo dạy cái lớp hổ lốn này là ông trưởng bạ, trưởng bạ chỉ là tên công việc ông thường làm trước đây, còn ông tên là gì thì rất ít người đề cập đến. Ông trưởng bạ cũng đã dạy học nhiều năm ở các nơi khác nên ông tuy giống ông đồ nhưng cũng đã có những nét của một ông thầy có sự đào tạo về sư phạm chính quy. Ông rất dữ đòn và thường xuyên đòi hỏi học trò tôn kính ông giống như các vị lớn tuổi ngày xưa đi học chữ nho. Ông có một cái roi bằng mây nhưng lại buộc chập hai cái thành một, mỗi khi có người không thuộc bài là roi ông lại vút lên giáng vào những cái mông nghe mà phát sợ. Cũng có khi ông dùng nó quật lên những bàn tay đặt ngửa trên bàn khi có người quên viết tập hoặc viết chữ quá xấu, quá bẩn. Những người bị đánh vào tay thường đau đến hai ba ngày mới khỏi, nhiều khi vết đánh đỏ mãi đến cả tuần. Có điều là chỗ nào có lỗi thì ông đánh đúng vào chỗ đó, nên bàn tay phải chính là nơi ông trừng phạt, khi bị trừng phạt, bị đau thì lại  viết xấu, viết xấu lại sẽ bị đánh, bị đau. Mỗi con người đều sinh ra hai tay, mỗi tay đều phải dùng để làm việc, nhưng mà bao giờ cái tay bên phải cũng đều vất vả nhất, gian nan nhất và cho đến khi gặp ông trưởng bạ thì nó lại còn bị đau nhất. Đáng lý nó phải được khen khao hoặc giả cũng được quan tâm bằng một hình thức nào đó, vậy mà trên khắp thế gian này đã có ai phán giúp một đôi điều. 

          Cậu con trai nhà ông Tân cũng được gửi vào lớp học của ông trưởng bạ như một học sinh vỡ lòng cùng một quyển vở với một cây bút. Ông Tân gửi cậu vào đây hy vọng là cậu đọc được cái chữ thì chỉ in ít mà thôi, còn cái chính là muốn để cho ông giáo rèn cặp cậu, giữ để cho cậu không bỏ đi chơi lang thang đây đó. Cho nên việc đi học của cậu cũng chỉ là do có mấy cái tiện thể cùng một lúc mà buộc phải làm. Ngoài việc tập đánh vần, tập đọc trên lớp, mỗi ngày cậu còn phải tô chì một bài mà thầy đã viết sẵn, sao cho các nét mực không được trệch ra khỏi nét chì mà thầy đã viết trong vở. Cậu cũng được thầy ưu ái hơn vì nhà cậu ở ngay lớp học, hàng ngày thầy vẫn thường xuyên vào chè nước cùng ông bố của cậu nên có sự gì ông giáo cũng nói ngay cho bố cậu biết mà không cần phải xử phạt. Cũng chính vì thế mà cậu lười học hơn những đứa khác, kém hơn những đứa khác.

Bài học ông trưởng bạ dạy cho học trò luôn bám sát với chương trình của nha giáo dục phổ cập từ  khi còn ở chế độ cũ. Ngoài các chương trình học bằng tiếng Việt, các học trò còn phải học thêm chương trình tiếng Pháp, những bài tập đọc, tập viết tiếng Pháp luôn làm cho số học sinh mới vào gặp khó khăn. Những bài học thuộc lòng lại càng khó hơn nữa, đến ngay cả đọc phát âm còn không nhớ huống hồ còn nói đến chuyện dịch nghĩa, chính vì thế mà có rất nhiều cô cậu phải đòn, càng phải đòn càng ghét môn tiếng Pháp và rồi lại càng ghét thêm thực dân Pháp. Nhiều lúc cậu nghĩ sao mà cái thằng Pháp nó ác thế, bom đạn nó mang sang giết người ác đã đành đến cái chữ của nó mang sang cũng làm cho người ta điêu đứng, khổ sở. 

 

                                                      2

 

Sang đầu tháng hai năm 1955 ông Tân về thăm quê, lần này ông mang theo Hằng cùng về. Việc thăm quê chỉ là phụ, việc chính là ông đưa cậu  con của bà hai cùng về rồi để lại trông nom cháu bé cho chị cả đi làm. Dưới quê hồi này mùa màng thật là bận rộn, anh cả thì đi vắng, chị cả thì chẳng có ai đỡ đần, hơn nữa khi vào đông vụ chí kỳ ai ai cũng đều bận, chị cả vướng cháu không ra đồng được nên ông bà Tân đành phải cho cậu về quê giúp chị một thời gian. Thế là trong lần đi học đầu tiên này cậu đã phải bỏ học giữa chừng.

          Làng Tây Lạc cách tỉnh lỵ có hơn chục cây số, con đường về làng cũng không được rộng rãi gì, cho dù đây là tuyến đường chính đi từ tỉnh lỵ xuống biển. Hàng ngày có đến hàng dăm chục chuyến xe ô tô qua lại, ngoài ra còn có hàng trăm chuyến xe ngựa đi về vừa chở hàng lẫn chở khách. Quang cảnh bên đường thật là tiêu điều xơ xác, đây đó một vài quán hàng lẻ tẻ dọc đường bán vài cốc nước chè xanh chủ yếu để phục vụ cho những người đi bộ hoặc gánh hàng rong giải khát với một chút tiền ít ỏi không làm vơi đi tý xíu tiền công mà họ vừa kiếm được trong ngày. Cái thứ tiền công chỉ vừa đủ mua nổi không quá hai đấu gạo, còn số gạo thì lại không đủ cho hai bữa của một gia đình đông người.

          Chị cả chưa có nhà ở riêng mà phải ở nhờ nhà của người chú ruột, cũng may chú cũng không đông con nên cũng không đến nỗi quá chật chội. Ngôi nhà ông chú và vợ chồng của người con lớn của chú ở là một ngôi nhà tranh bốn gian lợp rạ, tường trình bằng đất rất khéo. Bức tường được trình phẳng đến nỗi nếu không đến tận nơi xem thì chắc sẽ cho là tường gạch trát vữa, duy có bức tường hậu là có vết nứt hơi lớn đe doạ đến việc đổ tường. Chị cả và cháu đều ở dưới nhà ngang, ngôi nhà này nối với nhà trên theo hình thước thợ, đây cũng là căn nhà tre nhưng bé hơn nhà trên một ít, vốn trước đây nó cũng là nhà ở chính của gia đình ông chú nhưng từ khi dựng được ngôi nhà trên thì mới không ở nữa. Cũng là mái tranh tường đất nhưng tất cả mọi chỗ từ trong nhà ra ngoài, sân chỗ nào cũng sạch sẽ. Hàng ngày sau khi làm xong mọi việc cụ Nhẫm lại quét dọn và sắp xếp nên mọi thứ rất gọn gàng, ngăn nắp. Bên trong hai căn nhà nối nhau theo hình thước thợ là một cái sân đất khá rộng rãi được đầm nén phẳng phiu và vuông vắn. Hàng ngày cụ Nhẫm ra vườn đằng sau chặt vài cây tre mang vào pha ra để đan lát, khi thì là cái rá, cái rổ, lúc lại là cái giần hay cái sàng để dùng trong nhà. Mỗi lần đan xong một thứ cụ lại mang vào bếp hơ lên ngọn lửa để đốt các sợi lông tre xổ ra. Đến khi nứt cạp cụ thường dùng răng cắn vào cạp rồi mới rút sợi mây, thành thế nên trên vòng cạp của rổ hoặc rá đều có vết răng của cụ. Một lần cụ chợt nhìn thấy Hằng đang nhìn mình cắn cạp rổ rá, cụ cười và kèm sau đó là lời giải thích:

          - Có cắn thế cạp mới chắc! Những người đi chợ mua rổ rá thường nhìn vào dấu cắn này mà chọn, có thế mới mua được thứ tốt.

          Hằng cũng chỉ cười mà không nói gì, trong bụng thì cậu nghĩ rằng sau này cậu sẽ không làm nghề đan lát vì nếu cứ cắn như vậy thì rất ghê răng. Có lẽ cụ Nhẫm trêu cậu thế thôi chứ nếu cái rổ nào cũng làm thế thì chả mấy chốc mà gẫy hết cả răng.

          Hàng ngày Hằng phải dậy rất sớm để trông cháu cho chị cả đi làm. Cũng vì đồng xa nên chị cả chỉ đi làm có một buổi sáng, còn buổi chiều thì chị ở nhà trông cháu để cho Hằng đi học cùng với cô A con của ông Khánh và cô Tý con bà Xước. Thầy dạy học cho bọn trẻ là cụ Mậu, cụ cũng chỉ là thầy đồ có một chút vốn chữ quốc ngữ vừa đủ để dạy cho bọn trẻ vỡ lòng, mẫu giáo mà thôi. Lớp học của cụ ở ngay trên nền nhà, bọn trẻ tự mang theo những cái ghế để vừa kê sách khi viết bài, còn lúc tập đọc thì dùng làm ghế ngồi. Những bài học hàng ngày vẫn là tập tô, tập viết, tập đọc và học thuộc lòng. Những bài học thuộc lòng đa phần là những bài ca dao ngắn, những bài hát ru lục bát nên cũng dễ học, dễ nhớ. Điều quan trọng đối với cụ Mậu là làm thế nào để cho các học trò nhỏ của mình tỏ ra có tiến bộ, bên cạnh sự hiểu biết của các học trò là điều mong muốn của người thầy làm thế nào để cho các bậc phụ huynh dễ nhận ra rằng con cháu của mình cũng đã học được mà tiếp tục gửi con, gửi cháu đến cho cụ, để rồi họ sẽ đóng góp cho cụ một vài đấu gạo trong lúc đói kém khó khăn này.

 

                                                                 3

         

Ngoài việc trông cháu và đi học chú em chồng của chị Thảo chẳng giúp thêm cho chị được gì nữa, còn chị thì tất bật suốt cả ngày. Cũng có lần chị cả cho cậu đi tập làm việc cùng với chị khi chị gửi cháu cho cụ Nhẫm. Lần ấy hai chị em ra bờ ao trước cửa làng lấy bèo cái về cho lợn, cũng không biết chị mượn đâu được đôi quang gánh ngắn khá vừa so với độ cao của Hằng. Bèo vừa chất lên là cậu gánh thử ngay, xem ra cậu gánh cũng được nên chị cả cũng không để ý đến nữa, chị cúi xuống để nhặt bèo vào gánh của mình. Chú em thì hăm hở lắm nhưng chỉ mới đi được một đoạn đã thấy lấy tay sờ lên vai, có lẽ là cậu bị đòn gánh cọ đi, cọ lại nên đã bắt đầu đau vai. Đây là lần đầu tiên trong đời cậu tập gánh nên dễ đau và nhanh đau là phải, thế là cậu nghĩ đến việc đổi vai nọ sang vai kia cho đỡ đau. Vì là lần đầu tập gánh nên việc đổi vai như thế nào cậu cũng chưa tường tận lắm. Lúc đầu cậu định dừng lại rồi xoay đòn gánh trên vai, nhưng xoay đến đâu thì cứ như cái đòn gánh lại cứa vào vai và cổ đến đó, thế là cậu đành hạ cả gánh xuống rồi chui đầu qua đòn gánh để sang vai bên trái. Vừa sang vai xong thì thấy chị cả cười ngặt, cười nghẽo, rồi chị tiến lại gần bảo chú em hạ gánh xuống để xem chị dở vai. Thực ra thì việc dở vai cũng không khó lắm, cái đáng lưu tâm ở đây là vai của cậu đỏ tía và đã sưng lên rồi nên cậu không muốn để cho cái đòn gánh nó nhay lên trên đó mà thôi. Thế rồi chị cả làm động tác đổi vai cho Hằng xem, chị lại định còn bắt cậu dở vai thử để cho chị xem có được hay không, chị nhấn mạnh việc đổi vai phải xoay về đằng sau mà không được xoay về đằng trước. Thì ra lúc nãy khi chị ngước lên thì thấy Hằng vừa chui đầu từ bên này sang bên kia nên chị tưởng là cậu xoay đòn gánh ra đằng trước, có lẽ vì thế mà chị buồn cười đến mức như vậy. Sau lần tập gánh với bao chuyện buồn cười lại đến chuyện tập tát nước. Thực ra cũng không còn là chuyện tập nữa mà là tát nước thật.

Mùa nắng năm ấy đã kéo dài mấy tháng liền, nên ngay từ khi cấy các thửa ruộng của nhà đã thiếu nước. Hàng ngày các hộ có ruộng ở vùng ấy đều có ý chia phần cho từng nhà đến tát nước. Chờ mãi đến năm sáu ngày liền, hôm ấy mới đến phiên chị cả lấy nước. Dồn tát nước vào ruộng sâu quá thành ra không dùng được gầu sòng mà phải dùng gầu giai. Chị cả lại chỉ có một mình nên chẳng làm gì được. Chị cũng đã cố gắng đi mượn người nhưng tất cả những người có thể giúp chị thì đều quá bận, bất đắc dĩ lắm chị đành phải bảo cậu em chồng đi tát nước cùng chị. Hằng nghe nói được đi tát nước thì rất vui vẻ vì mình sắp được làm các công việc của người lớn mà lâu nay cậu chưa bao giờ được sờ đến.

Chị cả cũng buộc lại sợi dây gầu cho ngắn lại sao cho Hằng có thể kéo được. Sau khi tìm chỗ đứng cho mình, chị cả lại đi sang chỗ của Hằng để hướng dẫn cho cậu về cách đứng, rồi cách cầm dây gầu. Mới kéo  gầu nước đầu tiên Hằng đã chúi cả người về phía dồn nước, tý nữa thì ngã nhào xuống dồn. Chị cả hoảng quá định thu dây gầu lại nhưng chú em không cho, xem ra có lẽ cậu vẫn muốn tập tát nước cho bằng được. Đến lần thử thứ hai thì cậu có tiến bộ hơn tuy rằng chị cả chỉ dám múc có lưng gầu một. Hai chị em cố gắng nhũng nhẵng mãi cũng cũng múc được ướt mặt ruộng. Đến lúc này thì cậu đã quá mệt và đòi nghỉ. Ngay chị cả cũng muốn nghỉ vì chị cũng mệt. Chị cả mệt không phải vì làm quá nhiều, chẳng qua chị mệt vì cứ phải lựa theo cậu em. Nếu kéo mạnh thì sợ cậu ngã thành ra cứ phải kéo nhè nhẹ. Mỗi lần thả gầu chị lại phải cố hạ thấp xuống cho cân đối rồi đưa dần gầu nước lên như kéo nước từ giếng khơi lên vậy. Dù sao thì cũng ướt được chân lúa, thế cũng đã là quý lắm rồi, còn muốn kéo thêm cho đầy thì tối nay sẽ nhờ số chị em trong họ ra giúp thêm cho một lúc. Với một cái thành quả bé tý như vậy cũng làm cho Hằng vui thích, mà không vui sao được vì chỉ mới gần chín tuổi cậu đã có thể làm được công việc của người lớn, cho dù công việc đó chẳng có đáng gì so với nhiều công việc khác của nhà nông.

 

                                                           4

         

Ngoài việc trông cháu, giúp việc cho chị và đi học cậu còn luôn bày ra cho số bạn cùng tuổi rất nhiều các trò nghịch ngợm, nào là các trò bán hàng bằng lá cây để vui chơi, trò trốn tìm lẫn nhau trong đêm tối. Riêng trò trốn tìm thì cậu luôn luôn chiến thắng, tất cả bọn trẻ con từ cái A đến cái Tý, cùng mấy đứa bé tý khác ở trong xóm. Chúng nó chả làm thế nào tìm ra được cậu. Chỉ riêng mỗi một mình cậu nếu đã đi trốn thì chỉ khi nào cậu không thích chơi nữa mà tự đi ra thì lũ trẻ mới bắt được cậu. Cũng có khi Hằng đi trốn vào một cái đống rơm của nhà cụ Đãng hoặc của nhà cụ Đồ rồi ngủ luôn ở trong đó làm cho chị cả đi tìm trợn cả mắt lên mà vẫn không thấy. Những lúc như thế chị cả lại sợ cậu giận gì mình mà đi trốn nên càng lo lắng, nhiều khi bỏ cả cơm nước rồi cuống cuồng lên để đi tìm em. Cho dù sau đó đã nghe Hằng nói rõ nguyên nhân rồi nhưng chị vẫn bán tín bán nghi, cho là mình đã làm điều gì đó không phải nên em phật ý giận mình. Những lúc như vậy chị chỉ mong sao bố sớm về để trả cậu về cho bố mẹ. Ngoài các trò chơi thông thường của bọn trẻ ra Hằng còn có những trò nghịch tệ hại hơn nữa. Một trong các trò ấy là trò chơi ăn trầu bằng thân của cây sắn giây mà cậu cắt được ở trong vườn của cụ Đồ. Một mình cậu đã bày ra một đám cưới của một đứa trẻ này với một đứa trẻ khác, bất chấp đó là cô cháu hay là anh em cậu chỉ cần có đám cưới là được, vì chỉ có đám cưới mới có lý do để ăn trầu. Những đứa trẻ lại cũng chẳng cần gì cả miễn là cứ được nhai các đoạn sắn giây rất ngọt là được. Cũng phải nói rằng vào thời bấy giờ trẻ con ít được ăn đường mật hoặc các thức ăn có chất đường nếu như chưa đến các ngày hội hè hoặc tết nhất, vì vậy mà cái chất ngòn ngọt của cây sắn dây cũng là những thứ mà chúng ao ước được ăn. Cây sắn giây có vị ngọt nhiều nhất là đoạn thân bánh tẻ nằm gần giữa gốc và ngọn, cũng chính vì vậy mà mỗi lần cắt được đoạn thân trên thì cây sắn cũng bị cắt cụt. Chỉ trong có mấy ngày  mà hết vườn nhà cụ Đồ lại đến vườn nhà bà Đãng đều có cây sắn giây bị héo lá. Những người có vườn cũng chỉ nghĩ rằng có lẽ là cây sắn bị sâu, về sau thấy cây sắn bị chết nhiều quá đâm nghi thế là họ phát hiện ra cây sắn bị ai đó cắt. Chắc họ cũng đoán ra thủ phạm nhưng lại không bắt được tận tay nên họ chỉ dám nói bóng, nói gió mà thôi.Thế rồi chuyện này cũng đến tai chị cả, chị bực lắm nhưng mà không biết nói vào đâu, chị chỉ hỏi cậu xem cậu có cắt sắn hay không, dĩ nhiên là cậu phải chối chứ chả lẽ lại đứng ra nhận, mà đứng ra nhận thì chắc chắn là sẽ bị mắng hoặc có thể còn bị đánh là đằng khác. Đành rằng chị cả là không dám đánh nhưng mấy đứa cháu của cụ Đồ chắc gì chúng đã tha. Thế rồi cũng tý nữa là bị lộ nếu như cậu không nhanh trí bế ngay thằng cháu rời khỏi nhà ngay lúc đấy. Chẳng là mỗi lần cậu muốn chơi lâu thì cậu lại bắc ghế với lên mái nhà là nơi cậu giấu các đoạn sắn giây để lấy cho thằng cháu một đoạn sắn giây để nó cho vào mồm nhằn đi, nhằn lại. Lần này không biết thế nào tự nhiên nó lại nghĩ ra cái trò nhằn cái thân sắn giây thế là nó cứ chỉ lên mái nhà rồi khóc ré lên đòi chị cả, cũng may là chị cả cũng chẳng hiểu thằng bé đòi gì còn cậu em chồng khi phát hiện ra đã bế vội nó đi chơi, dĩ nhiên là khi vắng người cậu đã di chuyển những đoạn sắn giây ấy đi nơi khác.

          Sau những ngày hè nóng bỏng với các trò chơi kéo dài từ ngày này sang ngày khác tưởng như vô tận cũng đã kết thúc. Những ngày thu đầu tiên đang từ từ đến trong tiết heo may se lạnh, ngoài đồng cây lúa đã tròn mình. Những ông bà già sớm ngày ra đã có người phải mặc áo sợi dài tay cùng với cái khăn đen trùm kín trên đầu chống lạnh. Suốt trong những ngày hè Hằng thường trốn đi cùng mấy đứa trẻ trong xóm để đi bơi lội ở các ao làng chạy dọc bên đường cái. Người ta đồn rằng trong làng có đến năm mươi tư cái ao tất cả, trong đó có đến hai phần ba số ao là của nhà lão Quản Ri. Số ao này bây giờ đã không còn của Quản Ri nữa mà nó đã thuộc về các ông nông dân mà đội cải cách đã chia cho mọi người. Cũng chính vì cứ lặn hụp trong những cái ao đó mà cậu bị đau mắt. Trông cậu lúc này thật buồn cười, hai chân đất lúc nào cũng nhem nhuốc bùn đất. Cái áo sơ mi trắng nhờ giờ nhuộm đầy mực tím cùng với than gio trông thật bẩn thỉu, cái quần cộc bằng vải chéo go màu đen cứng còng mà lại rộng tuềnh trông cứ như là đi mượn của ai chứ không phải của mình vậy. Bên dưới bộ tóc rễ tre cứng quèo là hai con mắt đỏ hoe hoe lúc nào cũng đầy rử rạp ở hai đầu khoé mắt.

 

                                                                     5

 

Cũng không biết ông Tân về quê từ lúc nào vì khi về ông lại về nhà ông Khánh trước chứ cũng không về chỗ con dâu và cháu. Có lẽ ông cũng e nơi con cháu mình ở chỉ là nơi ở nhờ, ở cậy mà thôi, dẫu sao thì nhà ông Khánh cũng là nhà anh em gần gận hơn so với nhà của cụ Nhẫm, chú của con dâu. Sau mấy ngày ở chơi cùng anh em họ hàng và con cháu, ông Tân đưa cậu cùng lên Hà Nội. Khi chia tay chị em bịn rịn không muốn rời xa, nhất là thằng cháu thì cứ khóc dãy lên đòi đi với chú. Có lẽ nó tưởng là chú vẫn cõng nó đi chơi như mọi khi nên nó khóc và đòi đi dữ lắm, nhất là mấy hôm nay nó lại có một ông nào đó luôn bế ẵm và cho nó ăn quà, đặc biệt là lại rất thương yêu nó, mãi sau cái Tý phải bế nó đi chơi nơi khác để cho nó tạm quên đi. Cũng từ hôm bố về chị cả mới ít đi làm hơn, ngoài phần thời gian chợ búa mua sắm thức ăn để lo tiếp đãi ông bố thì chị luẩn quẩn hơn với cậu em chồng, chị hỏi kỹ hơn về sở thích ăn uống, rồi cả về các việc chơi bời, học hành của cậu nữa. Chị dặn đi, dặn lại về các việc gì mà chị làm em không vui thì đừng nói với thầy để thầy khỏi mắng chị. Cậu em cũng chỉ gật đầu thế thôi vì cậu chả để ý đến việc gì nữa ngoài việc mừng vui khấp khởi là sắp được về với mẹ.

          Sau quãng đường gần mười lăm cây số đi bằng xe ngựa từ chợ mới Giao Cù qua chợ Chùa rồi lên đến thành phố Nam Định, hai bố con ông Tân vào bến xe Nam Định để mua vé lên xe. Mọi việc đều do ông bố làm, cậu con thì chỉ như cái đuôi bám theo ở đằng sau, vậy mà vẫn còn sợ bị lạc. Vừa lên xe là cậu đã bắt đầu ngủ, một giấc ngủ kéo dài đến mấy giờ liền trong lòng ông bố. Ngoài trời se lạnh nên sự ấm nóng trong xe thật hợp với giấc ngủ của trẻ nhỏ, hơn nữa cái sự rung xóc của xe lại cứ như là ai đó đang đưa nôi nên bất kỳ ai cũng đều như muốn ngủ chứ không riêng gì bọn trẻ con như cậu. Khi cậu thức dậy thì xe đã lên đến Hà Nội, ông bố đánh thức cậu dậy rồi lại kéo cậu đi dọc hai con phố đầy dãy các cửa hàng tạp hoá. Có rất nhiều các loại đồ chơi mà cậu nhìn thấy, nhưng hình như cậu biết bố cậu cũng không có tiền để mua nên cậu cũng chỉ nhìn vậy để thèm mà thôi. Sau khi ông bố mua cho cậu một cái bánh chưng ăn cho đỡ đói rồi hai bố con lại lên xe để về nhà. Bắt đầu lên xe bố đã dặn người phụ xe là cho ông về đến Bia Đổ. Bia Đổ thực chất không phải là một địa danh mà đúng theo nghĩa đen của nó là tại đó có một cái bia đá hình khối vuông rất to nằm đổ kềnh ngay đầu con đường rẽ liên tỉnh đi qua huyện Từ Sơn để rồi đi sâu hơn nữa vào các thôn xã của tỉnh Bắc Ninh. Con đường này đã là con đường chính từ nhiều năm trước đó cho mãi đến khi có con đường quốc lộ số một thì nó mới chịu nhường lại chữ chính để nhận mình thành con đường phụ, tuy nhiên nếu là đối với người đi bộ thì cái tên chính vẫn còn nguyên giá trị. Thế là cái bia đổ từ chỉ điểm bằng hình ảnh cụ thể đã thành tên gọi quen miệng của những anh tài xế và các khách đi đường chờ xe. Quãng đường từ bến xe về đến Bia Đổ rất ngắn chỉ độ non mười cây số là cùng, tuy nhiên tuyến xe thì còn rất dài. Từ bến khởi đầu là bến Hàng Vôi ngay đầu cầu Long Biên, xe sẽ đi lên tận Vĩnh Phúc rồi lên đến cả Lào Cai, Yên Bái và còn có thể xa hơn nữa, tuy nhiên hai bố con ông Tân lại chỉ đi đến Bia Đổ mà thôi. Ngoài cái bia đổ là đặc điểm của lối rẽ này người ta còn gọi chỗ ấy bằng một cái tên là Vực  Gạo, cái tên này chủ yếu là gọi tên một cái vực ở ngay bên phải của đường rẽ này. Cũng không ai biết Vực Gạo có tự bao giờ, mà chỉ biết rằng khi mình đẻ ra thì nó đã có rồi. Vực Gạo rộng độ gần hai hecta và có bề mặt hơi vuông, cũng không rõ từ bao giờ người ta truyền tụng rằng Vực Gạo thông đến với sông Đuống và còn có thể thông đến tận sông Hồng. Vực Gạo sâu lắm, nhiều người có hơi dài đã từng ra đến chỗ sâu nhất để lặn xuống thì họ bảo rằng họ đã lặn hết cả một hơi vẫn không đến đáy, chính vì vậy mà người ta đồn rằng vực thông với sông Đuống, Sông Hồng. Nhưng có lẽ là họ muốn doạ những người yếu bóng vía hoặc họ muốn doạ lũ trẻ con để chúng khỏi đi nghịch nước để tránh bị chết đuối mà thôi. Từ Vực Gạo vào đến làng Đồng Dầu chỉ độ tám trăm mét nên hai bố con ông Tân lững thững đi bộ để về nhà. Ông Tân thong thả đi trước còn Hằng thì phải chạy gằn ở đằng sau, vì chân cậu ngắn nên khi bố bước một bước thì cậu phải bước đến hai, ba bước mới theo kịp nên trông cậu giống như đang phải chạy gằn. Cũng vì cậu bị đau mắt nên khi còn ở trên xe ông Tân đã đưa cho cậu đeo cái kính dâm của ông, lúc ngồi trên xe thì kính không tuột do cậu ngồi hơi ngửa ra, nhưng đến khi xuống xe đứng thẳng lên, thành ra cái kính cứ tuột ra, cậu vừa chạy gằn vừa phải giơ tay lên giữ kính nên cậu đi càng chậm, ông Tân lại cứ vừa đi vừa phải đứng chờ. Quãng đường gần một cây số cũng đã làm cho cậu mệt xoài, vì lâu nay cậu cũng hay chạy nhảy nhưng cũng không mấy khi đi cả một quãng đường dài liên tục như vậy bao giờ.

          Đi bộ mãi rồi hai bố con ông cũng về đến nhà, người đầu tiên cậu gặp là bà mẹ của cậu, bà đón cậu bằng cách đứng nhìn chăm chú và chỉ hơi mỉm cười mà không nói gì. Sau khi đã nhìn kỹ cậu từng tý một bà đến lấy hộ cho cậu cái kính ra khỏi đầu rồi đem cất lên trên mặt cái hòm thóc. Mãi cho đến lúc này bà mới  cất tiếng nói vừa như phân bua vừa như xác nhận:

- Trông cũng đã cao hơn thì phải? Có lẽ thế thì số quần áo cũ cũng đã chật rồi!

Ngay lúc đó bà đưa cậu ra ngoài bể nước mưa rồi lấy khăn ra rửa mặt cho cậu, vừa rửa bà vừa ca cẩm về cái sự bẩn thỉu và cả cái sự đău mắt của cậu, bà bảo với cậu:

- Chỉ cần dử của một bên mắt thì hai con lợn xề ăn no, gớm sao mà chị em nhà mày lại chẳng biết chữa chạy gì xất cả cơ chứ.

                                                       6

 

Bà xuống bếp đơm cho cậu một bát cơm nguội chan với canh cua mà nhà ăn từ trưa còn lại, cũng chả biết nhà nấu thế nào mà mới độ hơn tiếng đồng hồ mà đám canh cua nấu với rau lang đã xanh biêng biếc đến kỳ lạ, trông bát cơm thấy cứ như là cơm bị nhuộm phẩm xanh, tuy thế nhưng khi ăn vào lại thấy rất ngon, nhất là trong lúc này cậu đang rất đói, cậu ăn thêm gần hai nưng nữa rồi mới thôi.

          Sau khi cơm nước xong cậu mới để ý thấy nhà mình vắng vẻ quá, quanh đi cũng chỉ có bố, quanh lại cũng chỉ có mẹ với hai cô em bé tý, xung quanh làng nước đều ở xa cả.Từ ngày chia quả thực bố không chịu nhận ngôi nhà của ông lý Long vì bố không muốn lấy không của người khác bất cứ một cái gì, rồi đội cải cách cứ nhất thiết yêu cầu cả nhà ra khỏi cái điếm để đội lấy làm trụ sở thì nhà đã dọn ra chùa thay chân cho nhà cụ Vá đã bỏ về quê. Ngôi chùa của làng Đồng Dầu khá rộng và có cách bố trí khá đẹp cả về kiến trúc nhà lẫn khuôn viên bên ngoài, chùa được thiết kế có kết cấu theo hình chữ đinh quay về hướng tây, phía trước chùa là một khoảnh sân gạch rộng gần một sào, tiếp theo là một dẻo vườn chạy dọc theo sân chùa, đây là khoảng chuyển tiếp để đến một cái ao rộng gần hai sào bắc bộ, ngăn cách giữa ao và vườn là một bờ tre khá dày ngả ngọn xuống ao trông thật hữu tình. Hai bên chùa là khu ruộng đến hơn năm sào Bắc Bộ, đây là ruộng riêng của chùa, vẫn gọi là ruộng nội tự. Phía sau chùa cũng là một khoảnh vườn rộng cũng phải đến hơn mười thước Bắc Bộ trồng cây ăn quả. Toàn bộ khuôn viên trên được bao phủ bằng một luỹ tre dằy dặn mà bên ngoài muốn vào cũng không vào được.

          Chùa chính có năm gian, gian đầu tiên bên trái là nơi thờ Đức Ông, tượng của ngài to gần bằng người thật ngồi ngay ngắn trên ngai, mình ngài mặc áo thụng có nhiều hoạ tiết hoa lá, đầu đội mũ cánh chuồn màu đen, chân đi hài thêu hoa rực rỡ. Khuôn mặt của ngài mang sắc đỏ thẫm rất đặc trưng. Toàn bộ khuôn hình của ngài toát ra sự oai phong và trang nghiêm đến dễ sợ. Gian tiếp theo là nơi đặt bệ thờ tượng vị hộ pháp cao lớn ngồi trên mình sư tử, đầu chạm mái chùa. Ngài có khuôn mặt trắng và rất hiền, khuôn mặt của ngài có các nét của người phụ nữ. Một tay ngài giơ lên ngang đầu và hướng ra phía trước như muốn phô ra một vật gì đó, theo mọi người nói thì hình như đó là một viên ngọc thì phải. Gian đầu tiên bên phải là tượng một vị thánh có khuôn mặt màu chì hơi xanh bên dưới khuôn miệng là một bộ râu quai nón. Tiếp theo về bên trái là tượng Đức Thánh Hiền, ngài cũng có khuôn hình to gần bằng người thật, ngài có khuôn mặt mang sắc trắng, mình mặc áo thụng vàng ống rộng, trên đầu đội mũ tỳ lư có đến tám tấm thẻ hình hoa ghép lại, mỗi tấm trông giống như là một cánh hoa sen, trên đó vẽ nhiều các vân hoa và đường viền rất đẹp. Toàn bộ khuôn hình của ngài toát ra một nét hiền lành chân thật giống như một người mẹ. Gian kế bên là nơi đặt tượng vị hộ pháp có khuôn mặt đỏ hồng râu và lông mày khá rậm cũng cao lớn chạm nóc chùa, cũng ngồi trên mình  sư tử, tay ôm một thanh long đao to lớn đang giơ lên như sắp giáng xuống mình những kẻ nào dám xâm phạm đến mọi thứ trong chùa. Gian giữa được nới rộng gấp đôi so với các gian khác và được phát triển về phía sau thành cái chuôi vồ để làm tam bảo. Tam bảo được chia thành ba khuôn chạy dọc về phía sau, hai bên hẹp độ non một thước đặt tổ hợp tượng nói về tích Quan Âm Thị Kính ở về bên trái, còn bên phải cũng là một tổ hợp tượng trong đó có một pho mang dáng hình của nữ nhân. Khoảng giữa được xây giật bậc từ thấp đến cao, bề mặt của mỗi bậc rộng hẹp tuỳ theo diện tích đáy của các tượng đặt trên đó. Bậc đầu tiên cao hơn mặt nền gần một mét, trên đó có giàn Cửu Long gồm tượng của đức phật Thích Ca Mầu Ni để trần mặc xà rông đứng chân trước, chân sau có vẻ như hơi kiễng chân, người hơi khom về phía trước, tay bắt quyết giơ lên cao. Cả bức tượng nhỏ như một quả bí xanh con được chế bằng đồng đen nên mỗi khi đánh sáng ra mầu đỏ rồi lại tự đen ngay sau đó vài phút. Giàn Cửu Long uốn theo hình cầu vồng, bên trên đó có đến hơn một chục tượng La Hán, có lẽ cũng làm bằng đồng đen. Bậc tiếp theo là tượng các vị Phán Quan, trên nữa là Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay, hai bên là Thiện Tài Đồng Tử. Trên nữa là Phật Tổ Như Lai, hai bên Phật Tổ là Anan và Cadiếp. Trên cùng là toà Tam Thế cùng với các bức tượng, tượng trưng ba kiếp là quá khứ, hiện tại và vị lai. Đa số các chùa đều có cấu trúc nhà cửa cùng với các tượng na ná giống nhau. Nhưng có lẽ là tượng chùa Đồng Dầu có nhiều nét thanh tú rất gần với đời thường nên nhìn rất đẹp. Sát góc ngoài hồi phải có một quả chuông lớn đúc rất đẹp treo trên quá giang. Trên thành chuông có rất nhiều văn bản bằng chữ nho khắc chìm trên bốn mặt. Các vú chuông có hình viền bằng các hạt tròn luôn sáng loáng do thường xuyên dùng vồ để gõ vào. Bên dưới quả chuông là một cỗ ngựa bạch được đặt trên một giá có bánh xe để tiện cho di chuyển.

          Đằng sau chùa là ngôi nhà tổ năm gian lợp ngói mũi, đây cũng là một ngôi nhà khá lớn so với rất nhiều ngôi nhà dân có ở trong vùng. Gian giữa là nơi đặt điện thờ thánh mẫu, trên ban có ba pho tượng mẫu cỡ lớn được che phủ bằng những vuông khăn nhiễu đỏ, ngoài ra còn có rất nhiều các đồ thờ cúng khác. Bên dưới ban thờ mẫu là nơi thờ công đồng tứ phủ cùng với tranh ngũ hổ sơn son thếp vàng trên gỗ. Trên quá giang của gian giữa là đôi thanh xà, bạch xà cuốn quanh mình gỗ. Gian cạnh về bên phải là nơi đặt các bát hương của con hương đệ tử gửi bán và thờ cúng tại chùa. Gian cạnh bên trái là nơi thờ tổ, trên ban có tượng của vị tổ trụ trì đầu tiên ở chùa. Hai đầu hồi nhà là hai gian buồng, buồng bên trái là nơi chứa các loại xoong nồi, bát đũa, phục vụ cho những khi mở cỗ bàn, tiệc tùng trong các kỳ đại lễ. Còn gian buồng bên phải được lấy làm nơi ở cho cả gia đình, đó là cái tổ ấm của  bố mẹ và cả ba anh em của Hằng. Giáp với hồi bên phải là ngôi nhà ngang bốn gian bằng gỗ lợp ngói nối với nhà tổ thành hình thước thợ, nơi này dùng làm nơi sắp cỗ cho khách thập phương hoặc con hương, đệ tử  ở xa về. Đầu hồi bên trái có một cái bể nước mưa chứa  được gần mười khối nước dùng làm nước ăn quanh năm. Lùi xuống thêm một chút nữa là một cái bếp tường đất lợp rạ. Ngoài hai gian dành cho nấu nướng, bếp còn để ra một gian làm chuồng trâu và chuồng lợn.

          Với toàn bộ các kết cấu nói trên làm cho ta cứ liên tưởng đến một khu trang trại, tuy nhiên đây lại chỉ là nơi cư trú tạm thời của gia đình Hằng. Tóm lại là gia đình cậu vẫn là gia đình không có nhà, vẫn phải làm người đi ở nhờ, vô gia cư, cho dù nơi ở hiện nay là một nơi ở rất tốt đẹp và lý tưởng. Đến một ngày nào đó gia đình cậu sẽ lại phải ra đường khi mà những người trong làng không còn muốn để cho họ ở đây nữa.Việc từ chối tất cả những quả thực của đội cải cách chia cho có phải là quyết định đúng đắn của ông Tân hay không sẽ còn cần phải xem lại về sau này, nhất là quyết định này đã đi ngược lại với tất cả mọi người lúc bấy giờ.

 

                                                                 7

 

Vào ngày mồng năm tháng chín dương lịch năm ấy là ngày khai trường cho tất cả các cấp học ở trên khắp miền Bắc Việt Nam. Ngày khai trường giống như một ngày hội cho tất cả mọi người. Không riêng gì các em lớn tuổi, các em nhỏ cũng được các bậc cha mẹ đưa đến trường. Hằng cũng như những đứa trẻ khác được bố đưa đến trường đi học. Ông Tân cũng không biết con mình học ở mức nào nên ông đưa cậu đến học lớp vỡ lòng của ông giáo Nguyễn Văn Thiện. Nơi lớp học ông Thiện dạy lại ở ngay ngôi điếm giữa làng, nơi mà gia đình cậu đã bị đội cải cách đuổi ra hồi cải cách ruộng đất.

          Ngay trong ngày đầu tiên cậu đã bị thầy Thiện gọi lên sát hạch. Nói là sát hạch cho đúng từ ngữ hồi đó thôi chứ thực ra chỉ là cuộc thăm dò sức học của học sinh mà thôi. Bài giảng của thầy Thiện hôm đó nhằm giúp cho học sinh biết cách phân chia vần, cách ghép vần và cách đánh vần. Bài có vần ia và vần ua, cả bài gồm mấy từ  (IA- Chia rẽ mỉa mai - UA) .Tất nhiên là cậu có thể đọc ngay cả câu một cách ngon lành mà không phải đánh vần như thầy yêu cầu. Thấy cậu học trò có vẻ khá, thầy Thiện lại muốn khai thác thêm bằng cách yêu cầu cậu giải nghĩa xem từ đó nói lên cái gì. Đến lúc này thì cậu  có vẻ bí, vì cả câu chả nói lên điều gì cả. Cậu đứng hơi lâu mà vẫn chưa nghĩ ra được cái gì, thế rồi cậu cũng nói bừa đi cho xong:

- Thưa thầy đây nói về không đoàn kết ạ!

          Thầy ồ lên phấn khởi rồi giải thích thêm cho học sinh nghe. Thầy nói về ý nghĩa của việc đoàn kết, thầy nói cả việc toàn dân đoàn kết đánh giặc Pháp thắng lợi bằng các câu chuyện rất là hay, đến nỗi tất cả học sinh đang mất trật tự là thế mà cũng im phăng phắc để nghe. Vậy mà không ai ngờ được thầy lại là một nhân viên phòng nhì trong bộ máy của chính quyền thực dân Pháp. Điều này cho mãi đến năm 1962, nghĩa là sau đó gần sáu năm thì chính phủ mới cho người đánh xe ô tô về tận sân đình làng đọc lệnh bắt đưa đi làm mọi người không gì còn ngạc nhiên hơn thế.

          Trong thời gian học thầy Thiện, cậu chả phải lo gì đến việc học vì tất cả chương trình học chỉ nhằm cho học sinh đọc thông, viết thạo, thì cái việc đó cậu đã qua từ lâu rồi. Lẽ dĩ nhiên là cậu được thầy hết sức yêu quý vì dẫu sao cậu cũng là con mồi để thầy sử dụng khi cả lớp gặp bế tắc. Nhiều khi lớp gặp những bài khó đọc, thầy đã gọi đến ba bốn em mà vẫn chưa có em nào đọc tốt thì đến lúc đó cậu sẽ được gọi lên đọc làm mẫu để cho không khí lớp học đỡ căng thẳng đồng thời cũng kích thích các học sinh khác sẽ cố gắng chăm học hơn. Sau một năm học cậu cũng đã lên lớp một với sự đánh giá tốt của thầy giáo Thiện.

          Lên lớp một Hằng vẫn học ở lớp cũ nhưng là học buổi chiều, thầy giáo mới của lớp một là thầy Nguyễn Huy Chuyên, thầy là người ở ngay Tiền Thôn, nhà thầy cách lớp học có độ một cây số, hàng ngày thầy đi bộ tắt qua cánh đồng để xuống lớp học. Thầy Chuyên rất dữ đòn, thầy dữ đòn không khác cụ trưởng bạ ngày xưa là mấy. Cũng đã có nhiều bậc phụ huynh phản ảnh với nhà trường về việc này nhưng hầu như thầy cũng không chịu thay đổi.  Hàng ngày thầy không dùng roi mây nhưng lại dùng một cái thước gỗ bằng lim khá dài vừa để làm cây chỉ vào các chữ cho học sinh đọc bài, vừa để gõ xuống bàn làm hiệu lệnh yêu cầu học sinh trật tự, đến khi phạt học sinh thì cây thước trở thành một cái roi rất lợi hại.

          Thầy Chuyên cũng khá thân với cha mẹ cậu nên ông cũng không mấy khi động đến cậuT, nhưng cái chính là cậu cũng ít khi mắc lỗi, bài học thì không còn phải nói gì hơn vì mọi nội dung trên lớp cậu đều hoàn tất và vẫn giữ được phong độ như khi còn học ở lớp vỡ lòng. Thời gian học ở lớp một cũng qua đi nhanh chóng và sang đến năm 1958 thì cậu  đã lên học lớp hai. Mỗi ngày đi dạy học thầy Chuyên thường đi sớm hơn bình thường để vào nói chuyện với ông Tân trước khi đến lớp. Câu chuyện của hai người mỗi ngày cũng chỉ xoay quanh về thơ phú chữ Hán và vài ba câu chuyện về làng xóm cùng một vài quan niệm về văn phong, lễ giáo v v... Hình như hai ông có hẹn nhau từ trước nên khi thầy Chuyên xuống đến nơi thì ông Tân đã đun sẵn nước và pha xong ấm trà hiệu Chính Thái ướp hoa sói, đến khi uống tàn ấm trà thì cũng vừa lúc thầy đi đến lớp giảng bài. Cũng có nhiều hôm do mải đàm đạo mà thầy cũng đến hơi muộn, nhiều bạn xôn xao định bỏ về nhưng Hằng đã tiết lộ là thầy đã đến rồi nên các bạn ở lại chờ. Sang đầu năm học lớp hai cậu học kém hẳn đi vì hồi này cha cậu ốm khá nặng, nhiều hôm cậu phải nghỉ học để ở nhà để giúp bố một số việc sinh hoạt hàng ngày. Thầy Chuyên hồi này cũng ít qua lại uống trà vì thầy cũng bận nhiều việc, nhất là từ khi thầy lấy người vợ thứ hai này về lo quán xuyến việc nhà thay cho bà cả mất đã lâu.

 

                                     8

 

Việc học tập của Hằng đang có những tiến bộ thì lại không thể tiếp tục vì ông Tân ốm ngày càng nặng thêm lên, thế là Hằng phải nghỉ học để ở nhà trông nom bố cho mẹ ra đồng. Đến gần tết âm lịch năm 1960 thì ông cụ yếu đi nhiều, nhưng sau một thời gian chạy chữa thuốc men cùng nơi, khắp chốn ông cụ có khoẻ trở lại nhưng lại bị mất tiếng. Hàng ngày ông lại mở giấy bút ra để làm giấy sớ cho các con hương, đệ tử chuẩn bị cho kỳ khai xuân vào ngày mồng chín tháng giêng năm mới. Rất nhiều công việc cần sai phái nhưng cô con gái bé quá lại mải chơi nên ông Tân không gọi được chính vì vậy nên rất cần có người ở liền ngay bên cạnh để có thể ghé tai sát gần miệng nghe ông sai bảo.Thế là cậu lại phải bỏ học lần thứ ba trong quãng đời học sinh ngắn ngủi của mình để ở nhà giúp bố, có lẽ số phận đã xui khiến như vậy.

Tết canh tý năm 1960 chầm chậm qua đi trong không khí nặng nề và buồn. Ngay từ những ngày trước tết cậu đã không được đi chơi đâu xa vì còn phải ở nhà giúp bố các công việc dọn dẹp, bài trí tất cả các nơi thờ cúng trong chùa. Từ việc quét dọn toàn bộ khuôn viên cả chùa đến việc lau chùi các ban bệ, bao sái các pho tượng và các đồ thờ cả từ  trên tam bảo đến phủ mẫu cũng hết mấy ngày. Thế rồi thay chân hương, thay nước, thay hoa ở khắp mọi nơi, mọi chỗ cũng mất khá là thời gian.Từ chiều ba mươi đến hết ngày mồng ba tết, tất cả những người đi lễ chùa đều đến nhận sớ rồi tự mang lên tam bảo dâng lễ rồi lại tự mang sớ ra sân chùa để hoá.

          Ngày mồng chín tháng giêng đến rồi mà ông Tân vẫn bị mất tiếng chắc chắn là ông không có thể hoàn thành khoá lễ đầu năm được, trong lúc không thể tìm đâu ra người thay thế ông đành cố vận động con mạnh dạn đứng ra làm lễ thay mình. Trong mấy năm qua cậu có đọc thông viết thạo nhưng chỉ là đối với loại chữ quốc ngữ thôi chứ còn với loại chữ nho thì cậu chả biết một tý gì. Ông Tân liền đưa cho cậu một quyển kinh bằng chữ quốc ngữ và bảo cậu đọc thử, cậu đọc rất nhanh nhưng nó dõng dạc quá và chẳng ra thế nào cả. Ông Tân vẫn bắt cậu tập đi tập lại đến mấy lần, mỗi lần ông bắt cậu đọc lại nét mặt ông nghiêm đến lạnh lùng làm cho Hằng cũng hoảng. Cậu nghĩ có lẽ lần này nếu cậu không làm được chắc ông cụ sẽ cho mấy gậy chứ chẳng chơi, mặc dù từ khi bé đến lúc đó cậu chưa hề bị ông đánh lần nào. Cũng có lẽ chưa bao giờ bị đánh đòn nên cậu rất giát đòn, mặc dù cái sự miễn cưỡng đến khổ sở cậu vẫn đành phải có tập, cuối cùng thì cậu cũng đã đọc tương đối giống ông bố của cậu.

Thế rồi ngày mở khoá lễ khai xuân cũng đã đến, cả hai bố con ông Tân cùng ngồi trên sàn lễ, ông Tân thì gõ mõ còn Hằng thì đọc kinh thay cho ông trong một quyển sách in bằng chữ quốc ngữ. Nhiều người khi nghe cậu đọc kinh thì cứ tấm tắc khen có giọng đọc nghe thật êm dịu, duy chỉ mỗi việc là cậu không đọc được các bản sớ bằng chữ nho nên các con hương đệ tử  chưa được vừa ý lắm. Lần đầu tiên ngồi trên sàn lễ lại ngay trước mặt rất nhiều các cụ cao tuổi cậu run lắm, nhiều lúc tưởng như bị hụt hơi không đọc được nữa. Do cậu cũng chưa quen với việc kéo dài giọng ở những từ cuối và các đoạn nghỉ lấy hơi không được đúng chỗ thành ra nhiều cụm từ cũng bị cắt rời ra không còn liền mạch. Cũng may những câu kinh viết theo từ Hán nên khi đọc lên người nghe chỉ thấy âm thanh đều đều như nhau, còn về ý nghĩa thì cả người đọc lẫn người nghe cũng chẳng hiểu gì, có lẽ vì thế nên chả có cụ nào có phản ứng cả. Sau khi đọc tên các lá sớ của từng gia đình xong thì cậu được rút lui khỏi sàn lễ, thật là một phen hú vía. Những ngày sau đó ông Tân vẫn tiếp tục bắt cậu  lên làm lễ vào các buổi chiều. Mỗi buổi cậu lại phải đọc một bản kinh vẫn bằng cái giọng kéo dài nghe chẳng rõ tiếng nào vào với tiếng nào. Những hôm ông Tân mệt mỏi  không giám sát là Hằng chỉ thắp hương nhanh nhanh, chóng chóng cho xong rồi lẩn ra phía cổng để vào trong làng chơi với lũ bạn cùng tuổi.

Từ sau những ngày tết sức khoẻ ông Tân ngày càng giảm sút, sự đi lại cũng chỉ loanh quanh trong nhà mà không ra khỏi cổng chùa. Nhiều việc sinh hoạt cá nhân đã thấy cần phải có người giúp đỡ mới hoàn thành, thế là cậu lại phải nghỉ học ở nhà giúp bố. Ban đầu tưởng cũng chỉ mươi ngày là cụ Tân sẽ khỏi không ai ngờ được cũng từ ngày đó cụ cứ suy yếu dần cho đến khi cụ mất.

Phải nghỉ học để ở nhà trông bố ốm là việc rất cần phải làm, không những thế còn cần phải tự nguyện một cách hết mình mới thể hiện là một người con có hiếu, giống như lời răn dạy của các thầy giáo thường ngày trên lớp. Cho dù là vậy nhưng đó là đối với những người đã lớn, còn đối với các cô cậu nhóc con thì dù có nói thế nào thì cái sự ham chơi, ham tụ tập cùng với chúng bạn vẫn luôn lôi kéo và cuốn hút không gì cưỡng lại được. Ngoài cái sự chơi bời còn cái sự học của cậu cũng đang có nhiều điều tốt đẹp, trong khi cậu rất vui vì được thầy yêu, bạn mến vì cậu học khá mà lại hay giúp đỡ bạn bè nên cái việc phải bỏ học làm cho cậu buồn hơn cả việc không được đi chơi. Thế là lại một lần nữa Hằng lại phải bỏ học khi chưa qua hết học kỳ một của lớp hai trường phổ thông.

Sau ngày bố mất, nhà còn không biết bao nhiêu là chuyện sảy ra đang cần phải giải quyết. Nào là chuyện nợ nần chồng chất của mẹ trong khi vay mượn để thuốc men cho bố trong suốt hai năm vừa qua. Mãi sau này mẹ kể lại cậu mới biết số nợ lúc đó phải trả trong suốt bẩy năm mới hết, cậu không ngờ số nợ lại lớn đến như vậy. Sau việc nợ lại đến việc làng muốn nhà cậu phải rời đi để làng đón sư về trông coi chùa cho làng, chả là vì việc cúng lễ mẹ cậu không làm bao giờ còn cậu thì bé quá, cậu không thể đảm đương được. Thật là những việc tày trời cả, những việc không thể đừng được nữa, những việc dường như quá lớn đối với một gia đình của một người đàn bà goá cùng với những đứa trẻ hết sức ngây thơ. Có lẽ những con người nhỏ bé kia sẽ không vượt qua được mất nếu như họ không gặp được những điều may mắn mà số phận đã giành cho.

Ngày làng đón nhà sư nữ Đàm Thuỷ về chùa thì mẹ con Hằng vẫn chưa tìm được nơi cư trú. Sau mấy ngày đi vắng vào mãi tận Quan Đình, Quan Độ để thăm hỏi, tìm kiếm vẫn chưa có kết quả, bà mẹ Hằng  đành quay trở nhà để tìm cách khác. Khi về đến nhà thì bà mới biết nhà sư mới làng đón đã về chùa rồi. Sau một hồi gặp gỡ, bà cũng nói qua cho nhà sư biết về hoàn cảnh của mình, rồi bà hứa sẽ cố gắng chuyển đi trong thời gian ngắn nhất. Có lẽ lúc ấy bà cũng cứ nói phóng vậy thôi chứ kỳ thực bà cũng chưa biết tính thế nào. Mãi đến chiều hôm đó thì nhà sư mới gọi bà ra để nói về quyết định của sư về việc đồng ý cho gia đình bà cùng ở lại chùa cho đỡ vắng vẻ. Chỉ có điều là số ruộng trong khu nội tự được tính vào số ruộng mà đội cải cách chia cho thì gia đình phải nhượng lại một phần cho sư canh tác để lấy lương thực và giành một phần cho sắm sửa hương đèn. Đang lúc khó khăn về nơi ở mà lại có được điều này thì đó là sự đáng mừng không còn gì hơn được. Sau chuyện nhà ở là đến chuyện nợ nần, chuyện này còn nan giải hơn nữa vì nhà cậu đã ở vào trạng thái nghèo túng đến mức chẳng có gì có thể bán được lấy dăm chục bạc. Không biết sẽ giải quyết việc này ra sao nếu như bà Thơ Bẩy có ý đòi các khoản nợ mà mẹ cậu vay mượn trong suốt thời gian vừa qua.

Nói về bà Thơ Bẩy trước hết phải kể về mối quan hệ của bố Hằng với ông Thơ Bẩy cách đó mười mấy năm về trước. Ngày ấy Hà Nội và một phần của tỉnh Bắc Ninh vẫn nằm trong vùng tạm chiếm của quân Pháp, chính quyền của làng xã vẫn theo cách sắp đặt của chính quyền phong kiến, nghĩa là việc quản lý làng xã vẫn do lý trưởng cùng với các ông chánh phó hội cùng với các chức dịch đảm trách. Bên cạnh đó là các bộ phận chuyên môn như trưởng bạ, thơ ký làm các công việc về giấy tờ văn tự, khế ước vv… Các công việc giấy tờ này ông Thơ Bẩy vẫn thường nhờ ông Tân phụ giúp mỗi khi cần phải trình lên bề trên vào các dịp cuối năm hoặc cuối các kỳ phu phen thuế khoá. Ngoài các công việc về tính toán, ghi chép sổ sách, ông Tân lại khá thông thuộc các thuật dự đoán về vận mệnh thông qua tứ trụ và bốc quẻ dịch nên khi xong công việc hai ông thường ngồi bàn nhau về lẽ thuận nghịch của trời đất, số mệnh của xã hội cũng như của  bản thân mỗi người. Trước đó ông Tân đã dự đoán về đứa con sắp sửa chào đời của ông là trai, đến khi bà vợ của ông đã sinh ra một cậu con trai vừa trắng trẻo vừa bụ bẫm thì ông càng tin tưởng. Cũng từ đấy mối quan hệ của hai ông càng thân mật hơn và lẽ đương nhiên là có sự quan hệ gần gũi hơn của hai bà vợ, sau khi ông Thơ Bẩy mất đi, mối quan hệ có thưa đi một chút nhưng cũng không phải là hoàn toàn mất hẳn.

Trong những năm giảm tô, cải cách nhà bà Mỹ, vợ ông Thơ Bẩy bị đội cải cách quy thành địa chủ. cũng từ đó gia đình bà luôn bị giám sát và bị cách ly ra khỏi cộng đồng, mọi người trong gia đình bà luôn sống cô đơn trong sự ghẻ lạnh của tất cả mọi người trong họ, ngoài làng. Kể ra mà nói thì chưa hẳn mọi người đã muốn xa lánh gia đình nhà bà, mà chủ yếu là sợ đội ghép cho tội thông đồng với địa chủ để rồi chuyển thành tội phạm phản dân, hại nước nên chẳng dám gần. Biết đâu họ chả lại vu cho là địch để rồi đem đi bắn thì khốn. Cả làng lúc ấy chỉ còn ông bà Tân là dám đi lại với bà Mỹ bởi vì ông bà Tân là những người quá bần cùng trong suốt cả một thời gian dài, cái sự bần cùng đã có lúc làm cho ông bà Tân không còn cảm nhận ra sống tốt hơn hay là chết tốt hơn nữa, cũng chính vì vậy mà ông bà  không còn biết sợ đội là gì nữa, nhất là sau khi đội không cho ông Tân vào Nông hội, khi ông không nghe theo lời đội tố ông Tổng Tường là một địa chủ ở ngay gần nhà ông.

Chính từ mối giao cảm ấy mà sau này bà Mỹ đã đối tốt trở lại với bà Sâm và giúp bà một cách vô tư đến thế. Ngoài bà Mỹ ra bà Sâm còn nhờ cậy được rất nhiều người khác trong làng nữa nên số nợ bà vay khi ông Tân ốm đã được hoãn, trả, vay rồi lại hoãn, trả, vay cho đến khi trả hết kéo dài đến gần bẩy năm liền mà chẳng ai có điều tiếng gì.

 

                                                   9

 

Mặc dù nhà chùa đã có lời như vậy nhưng hai mẹ con cậu vẫn muốn tìm cách để sớm có điều kiện mua được ngôi nhà cho mình, trả lại gian buồng bấy lâu nhà chùa vẫn cho ở nhờ. Trong một lần toàn xã có chủ trương cấp đất ở cho một số hộ đông con, Hằng đã cùng với mẹ lên gặp ban lãnh đạo của thôn để xin đất làm nhà. Kỳ họp năm ấy ban lãnh đạo của xã kết hợp với thôn đã chia đất cho rất nhiều người, mẹ con bà Sâm cũng được chia mười thước đất để làm nhà ở. Có đất cũng đã là rất đáng mừng, nhưng mà còn lấy cái gì để mà dựng thành nhà mới là khó.

Trong những năm đầu ra ở chùa ông Tân đã cùng các con trồng một lứa xoan có dễ đến hai chục cây nhằm để sau này đốn xuống đem ngâm để làm nhà. Đến khi có đất bà Sâm định cho đốn xuống đem ngâm thì ban lãnh đạo của làng ra giữ lại. Sau khi nghe mẹ con bà Sâm trình bày về dự định trồng xoan và cố chứng minh về việc trồng xoan là do gia đình của bà thực hiện cùng những chứng thực của nhiều người nhưng những người lãnh đạo vẫn kiên quyết không chấp thuận. Họ ngang nhiên thừa nhận rằng họ có biết số xoan này là của ông bà trồng nhưng là trồng trên đất của làng nên bà không được lấy. Trước những phán quyết hết sức cứng rắn của các ngài chức sắc thời mới của làng, mẹ con bà Sâm đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Thế là kế hoạch làm nhà của gia đình Hằng đã hoàn toàn phá sản. Cái sự vui mừng bao nhiêu khi được cấp đất đã được thay bằng nỗi tuyệt vọng bấy nhiêu khi triển khai kế hoạch làm nhà.

Tuy rằng không làm được nhà nhưng việc phải rời chùa luôn canh cánh trong lòng Hằng. Nhiều lần Hằng cằn nhằn với mẹ khi thấy bà cụ hình như không đả động gì đến việc rời chùa. Ngày ấy có một đôi vợ chồng người con cả của ông lý Xương tên là Long vừa mới xây lại nhà nhưng chưa ở được bao lâu thì anh Long lăn ra chết. Người vợ bồng bế hai con về quê mẹ đẻ bỏ lại cho người em chồng ngôi nhà vừa mới xây xong còn chưa sạch mùi vôi. Người em ấy không ai khác lại chính là anh Phượng, người mà một thời bà Sâm đã từng làm vú nuôi trông nom anh khi bà đến làm vú cho nhà ông lý Xương. Tuy làm vú nuôi nhưng bà Sâm coi anh Phượng như con của mình nên ngay cả khi anh Phượng đã lớn tuổi rồi anh vẫn luôn quý mến bà cụ như người ruột thịt, đến khi bà Sâm ngỏ ý đến ở nhờ là anh đồng ý ngay. Ngày hôm sau anh Phượng dọn sang nhà của người anh để ở, gian nhà cũ của anh cũng kề bên cạnh anh nhường lại để bà Sâm dọn vào. Cũng từ ngày ấy gia đình Hằng không còn ở chùa nữa, tuy nhiên gia đình Hằng vẫn là người chưa có nhà, một gia đình có hoàn cảnh đặc biệt ở nông thôn lúc bấy giờ...

 

 

                                                    ĐI HỌC

 

                                                         1

 

Sau ngày ông Tân mất một thời gian thì cũng đã gần hết năm học đối với các trường phổ thông, thế là Hằng đành phải bỏ dở hơn nửa năm học, chả biết rồi khi sang năm mới cậu sẽ đi học như thế nào. Ngày ấy anh cả vừa mới từ bộ đội chuyển ngành về Công ty xây dựng của Bộ nội thương, đơn vị của anh đóng ở khu Sở Dầu thành phố Hải Phòng khu này rất gần khu ga Thượng Lý. Công việc hàng ngày của anh là cùng với các công nhân khác vào sở dầu để xây lắp các bồn dầu bằng thép.

Suốt trong mấy ngày về nhà lo việc tang lễ xong anh cả lại về đơn vị công tác. Gần hai tuần sau đó anh mới lại lên bàn với mẹ kế về việc đưa cậu em xuống ở với anh một thời gian. Việc cho cậu xuống với anh có nhẽ là để cho cậu đỡ buồn và cũng để hai anh em có dịp gần gũi nhauS, để rồi cùng bàn kế hoạch ổn định đời sống gia đình trong thời gian tới. Thế rồi Hằng đi cùng với anh cả xuống Hải Phòng gần ba tháng trời rong chơi khắp nơi trên thành phố cảng. Khi Hằng rời Hải Phòng về đến nhà cũng vừa dịp bước vào năm học mới nhưng cậu không thể đi học cùng các bạn cùng lớp cũ vì cậu đã bỏ học thời gian quá dài, chắc gì cậu đã theo được, nhưng điều quan trọng hơn cả là không ai có quyền cho cậu học tắt. Thấy cậu con trai hình như có ý không chịu đi học nữa bà Sâm đành vào gặp thầy giáo Chuyên để nhờ thầy động viên cậu đi học tiếp. Thầy Chuyên vốn có mối quan hệ tốt với gia đình cậu từ trước nên ông đã ra tận nhà động viên cậu tiếp tục đi học. Ông hứa sẽ nói với nhà trường về hoàn cảnh  cùng với học lực của cậu để nhà trường xem xét chấp nhận cho cậu cùng lên học ở lớp ba như các bạn khác. Ông nói lớp ba của cậu sẽ học là do ông Bàng trực tiếp dạy, ông Bàng lại là ông chú của thầy nên thầy sẽ nói để ông nhận cậu vào. Sáng hôm sau cậu cũng chuẩn bị sách vở đến lớp như các bạn khác nhưng trong bụng thì luôn lo lắng không biết đến lúc vào lớp thì sự việc sẽ diễn ra làm sao.

Lớp ba mà Hằng sẽ theo học được bố trí tại góc bên trái của đình làng Tiền Thôn như lời của thầy Chuyên nói nhưng không phải do thầy Bàng dạy mà lại do một thầy giáo mới chuyển từ nơi khác về từ mấy ngày trước đó. Tất cả các bạn đã tập trung đến lớp sớm hơn mọi khi, trong đó có cả Hằng. Mọi người lại tổ chức các trò chơi như mọi ngày kể cả khi ở làng cũng như khi đến lớp của năm học trước, chỉ có mình Hằng thì rất lo, nhất là khi thấy thầy giáo dạy lớp này không phải là thầy Bàng. Cậu cứ nghĩ không biết thầy Chuyên có biết điều này không, ngộ nhỡ thầy giáo mới hỏi đến thì mình sẽ nói ra sao nhỉ. Càng nghĩ cậu càng lo lắng, lo lắng đến nỗi bồn chồn đứng ngồi không yên, lo lắng đến ngao ngán cả người. Có lẽ linh tính của cậu đã đúng về sự việc mà cậu vừa nghĩ tới và rồi sự việc ấy đã sảy ra. Sau khi thầy giáo vẫy tay gọi các học sinh về để tập trung, thầy đọc lần lượt danh sách học sinh của lớp, thầy đọc qua gần hết số học sinh có tên với các chữ cái ở vần Đ rồi sang các vần khác, Hằng nghĩ có lẽ sắp tới sẽ có tên mình. Thế rồi thầy chuyển qua hết vần có tên của Hằng mà cũng không thấy, Hằng lại nghĩ có lẽ việc mình nghĩ đến vừa rồi chả lẽ lại đúng như thế chăng, hay là tên mình sẽ ở cuối cùng vì đây là trường hợp đặc biệt được bổ sung vào sau. Hằng đang nghĩ ngợi lan man thì thầy Hiệu đã đọc đến tên học sinh cuối cùng của lớp. Khi thầy rời mắt khỏi quyển sổ điểm ngước lên thì thầy nhận ra vẫn còn một học sinh nữa chưa vào chỗ ngồi, thầy hơi bối rối,  có lẽ thầy cho là mình đọc sót tên một ai đó, thầy xin lỗi sau đó thầy hỏi:

- Em tên là gì?

Hằng lý nhí trong miệng nói tên của mình raH, thầy lại cúi mặt vào sổ điểm để tìm tên của cậu, thầy tìm đi, tìm lại nhưng vẫn không thấy, trông rõ là thầy rất băn khoăn chưa biết là sẽ sử lý trường hợp này ra sao. Kể từ khi Hằng biết mình không có tên trong sổ điểm Hằng đã nghĩ đến việc thầy Chuyên có khi đã quên không nói việc này với thầy Bàng, hoặc giả thầy Bàng chuyển giao lớp cho thầy Hiệu lại quên không nói về trường hợp của mình nên đến bây giờ sự thể đã sảy ra như vậy, tuy nhiên lúc ấy Hằng đâu có nghĩ được mạch lạc như thế. Phần thì lo lắng, phần thì xấu hổ với bạn bè, mặt thì đỏ gay, đỏ gắt, tay chân thì luống cuống không biết để vào đâu, cậu gần như phát khóc lên được khi chỉ còn có một mình đứng ở ngoài hàng. Có lẽ phải đến ba, bốn phút sau cậu mới trấn tĩnh lại được, lúc này cậu lo nhất là thầy sẽ cho là mình là người gian trá, còn việc có học hay không đã không còn là chuyện quan trọng nữa vì dù sao cậu đã quyết định nghỉ học rồi, chẳng qua việc cậu lên nhập học hôm nay là do thầy Chuyên bàn ra và bảo cậu làm chứ cậu có tự nhiên để lên đây rồi lại chịu xấu hổ như thế này đâu. Sau khi tự tìm cho mình một lý do mà cậu cho là chính đáng thì cậu mạnh dạn hẳn lên và cậu quyết định nói hết tất cả cho thầy Hiệu về sự việc mà thầy thấy lạ như vừa rồi. Sau khi nghe Hằng nói một thôi những câu đứt quãng thì thầy Hiệu cũng vỡ lẽ được phần nào, thế rồi thầy Hiệu nhanh chóng quyết định nhận Hằng vào Lớp. Thầy chuyển một bạn ở bàn đầu xuống cuối lớp để xếp cho Hằng ngồi ngay vào chỗ đó. Vừa xếp vị trí cho Hằng thầy vừa nói với Hằng và dường như thầy cũng nói với cả lớp:

- Trước hết em cứ học buổi hôm nay, ngày mai tôi sẽ trao đổi lại với các thầy rồi sẽ sắp đặt lại sau.

Sau khi phát biểu với học sinh về việc thầy vừa chuyển về dạy ở trường và nói thêm về lý do tại sao thầy Bàng sẽ không dạy ở lớp này như sự mong muốn của các phụ huynh đề nghị hồi cuối năm ngoái vì thầy Bàng còn phải đi chữa bệnh mất một thời gian. Tiếp theo sau các phát biểu của thầy là một chương trình ôn tập kiến thức năm cũ, thầy nhắc lại một số nội dung đã học năm ngoái sau đó thầy kiểm tra. Người được thầy gọi lên bảng đầu tiên là Hằng, thầy ra một đề toán đố sau đó bảo Hằng giải, thầy còn yêu cầu viết cả phép tính lẫn lời giải. Lúc nãy mất bình tĩnh bao nhiêu thì giờ đây cậu lại bình tĩnh bấy nhiêu, các phép tính và lời giải được Hằng viết ra một cách nắn nót trông đến đẹp làm thầy Hiệu rất hài lòng, thầy cất giọng hỏi:

- Tất cả các em đều có đáp số như thế chứ?

Cả lớp đồng thanh cất tiếng (có) âm vang khắp cả một góc đình. Thầy tiếp tục kiểm tra một số bạn khác, cũng có bạn không làm được nhưng rồi lại có bạn xung phong lên làm thay cuối cùng đều giải xong các bài tập thầy ra. Buổi học qua đi nhanh chóng và chẳng để lại điều gì vướng bận, chỉ có mỗi mình Hằng lại phải lo nghĩ trên suốt chặng đường về. Ngay chiều hôm ấy Hằng nói với mẹ về ý định nghỉ học của mình với sự quyết đoán đến không ngờ. Nhìn sắc mặt con bà mẹ không khỏi lo lắng, không biết có việc gì đã làm cho nó bất mãn đến vậy. Có lẽ câu chuyện buổi sớm nay đã làm cậu tổn thương quá lớn về lòng tự trọng của mình nên sau khi nói xong với mẹ là cậu bỏ đi chơi ngay mà không có vẻ muốn giải thích gì thêm. Biết tính con bà từ khi còn nhỏ nên bà không khỏi băn khoăn, bà đoán mãi mà vẫn không biết lý do ra làm sao, bà nghĩ có lẽ phải hỏi lũ bạn nó thì mới tìm ra được nguyên nhân của việc này. Thế rồi bà cũng tìm ra nguyên nhân của sự việc, bà liền vào gặp thầy Chuyên để hỏi xem có cách gì giải quyết được không. Cũng may là hồi này thầy Chuyên dạy vào buổi chiều nên bà vào gặp được ngay. Sau khi nghe bà nói lại sự việc thầy Chuyên mới giật mình nhớ ra, thầy dặn buổi chiều thầy sẽ rẽ qua chỗ hội đồng nhà trường để nói lại với thầy hiệu trưởng, ông còn dặn bà về bảo ngày mai nó cứ đến lớp kẻo các thầy phiền lòng. Ông còn bảo với bà rằng ông đã nói với thầy hiệu trưởng và thầy đã đồng ý rồi chắc vì thay giáo viên nên mới xảy ra việc vừa rồi bà bảo nó cứ yên tâm mà đi học. Chiều tối về nhà cậu nghe mẹ nói vậy cũng vẫn bán tín bán nghi, tuy nhiên cậu vẫn làm hết các bài tập để ngày mai đến lớp.

Vừa bắt đầu vào lớp thầy Hiệu liền điểm danh, khi đọc đến tên của Hằng ở dòng cuối của sổ điểm thầy thông báo với cả lớp về sự việc của Hằng hôm qua, thầy nói:

- Trong lớp ta có thêm bạn Hằng nữa là có tất cả sáu mươi học sinh. Bạn Hằng không có học bạ nên danh sách các thầy chưa kịp đưa vào, lớp có hơi đông các em cố gắng tập trung nghe giảng hôm sau nhà trường sẽ sắp xếp lại.

Ngay sau thông báo cho cả lớp thầy Hiệu quay sang nói với Hằng:

-Tối qua thầy Trường hiệu trưởng đã trao đổi với thầy về việc này, Hằng cứ đi học bình thường cùng các bạn, trường hợp không theo được thì sẽ chuyển lớp sau.

Buổi học thứ hai bắt đầu bằng việc kiểm tra vở bài tập ở nhà của một số các bạn, người phải mang vở lên đầu tiên vẫn là Hằng. Thầy xem vở của Hằng khá kỹ, sau đó mới xem đến vở của các bạn khác, xem xong thầy bảo với cả lớp:

- Số bài tập thầy cho các em về nhà làm không khó mà lại nằm ở ngay trong sách giáo khoa vậy mà các em làm sai cả. Trong bốn em chỉ có Hằng làm hết và làm đúng cả số bài ra, còn lại hầu như các em làm thiếu và lại sai hết cả.

Sau khi thầy ghi chép vào các quyển vở của các bạn xong thầy ngửng đầu lên và cất tiềng gọi:

- Em Hằng lên bảng, em giải bài số hai cho cả lớp tham khảo, các em nhớ ghi lại bài này, số bài còn lại hôm sau thầy sẽ chữa.

Hằng lại lên bảng để chữa bài tập như hôm trước, cậu viết nắn nót hơn và trình bầy rất gọn gàng cả vế làm tính lẫn vế lời giải. sau khi viết xong bài giải lên bảng thầy vẫy Hằng lại đưa cho số vở thầy vừa thu để kiểm tra lúc đầu giờ, thầy bảo:

- Em trả lại sách cho các bạn chép bài.

Về đến chỗ ngồi Hằng mới giở vở ra xem, một hàng chữ viết bên lề vở cứ đỏ rực lên – (Làm bài tốt, cần cố gắng hơn) Trên mỗi đáp số thầy viết một chữ (Đ) trông như những trái đào đỏ bao trùm lên trên những con số viết bằng mực tím. Cũng ở bên lề trái của cuốn vở, chỗ bài tập số hai thầy viết con số mười rõ to, dưới con số là một cái gạch dài kéo gần hết một phần tư chiều rộng cuốn vở.

Hằng vui lắm với con số mười đầu tiên của năm học và cũng là con số mười đầu tiên của cả lớp. Từ đấy trở đi hình như Hằng đã quên đi cái sự đã làm cậu buồn bã suốt hai ngày qua, cậu lại vui chơi ồn ào cùng các bạn như những ngày nào. Từ sau ngày phải nghỉ học ở nhà trông nom bố trong hơn sáu tháng qua hình như đây là lần đầu tiên cậu bỏ được khuôn mặt rầu rĩ để trở lại khuôn mặt rạng rỡ thông minh vốn có.

 

                                                          2

 

Những năm học lớp ba cũng qua đi nhanh chóng, trong lòng của Hằng không để lại một chút ấn tượng nào về sự việc diễn ra hồi đầu năm học. Kết quả của chín tháng học với bẩy lần lên bảng danh dự đã làm cho các thầy có liên quan đến câu chuyện đặc biệt của Hằng thở phào nhẹ nhõm. Trong kỳ phát phần thưởng cuối năm học Hằng thật vui khi lên nhận những quyển vở bìa đỏ mới tinh thơm mùi giấy mà thầy hiệu trưởng trao cho. Cũng trong năm học ấy Hằng được các anh phụ trách thiếu niên kết nạp vào Đội TNTP của trường. Ngoài việc sinh hoạt ở Đội TNTP của trường Hằng còn sinh hoạt ở Đội TNTP ở làng và cũng được các anh phụ trách rất yêu mến và giao cho rất nhiều công tác. Hàng ngày sau các buổi học về Hằng lại đi chăn bò cùng các bạn, buổi tối thì tham gia sinh hoạt văn nghệ của Đội thiếu niên ở trong thôn. Anh Thỏ phụ trách thiếu niên là người rất yêu văn nghệ, anh có chân trong đội tuồng cổ của làng, anh thường đóng các vai kép nhỏ trong các vở. Hình như máu nghệ sĩ trong anh đã cuốn hút rất mạnh bọn trẻ trong Đội thiếu niên, nhất là những cậu bé cũng ham thích ca hát như Hằng. Suốt cả mùa hè năm ấy Hằng ít khi ở nhà bởi những cuộc vui trang lứa và các cuộc văn nghệ liên miên không khi nào dứt. Hầu như các đêm khuya sau khi sinh hoạt xong Hằng ngủ ở nhà bạn mà không về nhà. Sau mấy lần thấy Hằng đi vắng mẹ cũng đi tìm, đến khi thấy Hằng ngủ ở nhà bạn mà không có chuyện gì sảy ra thì bà cũng yên tâm mặc cho Hằng muốn ở đâu thì ở. Có lẽ phải đến hơn một năm Hằng chuyên ngủ ở nhà Bộ, về sau Hằng còn ngủ ở nhà Quỳnh và nhà Đĩnh, đấy là nói chuyện của những năm sau này. Bạn bè của Hằng không chỉ có những đứa cùng học một lớp mà còn cả những đứa ở làng lớn hơn một chút như Quỳnh và cả những đứa cùng tuổi nhưng không cùng học một trường như Bộ, ngoài ra còn cả bọn ít tuổi hơn vài tuổi cũng bị cuốn hút vào cái guồng máy mê chơi và nghịch ngợm. Nói là mê chơi và nghịch ngợm vậy thôi chứ thực ra tất cả các đứa trẻ đều rất dễ thương và đáng mến bởi những trò chơi của chúng chẳng làm hại cho ai. Mỗi ngày chúng vẫn hoàn thành công việc của mình như chăn bò, cắt cỏ, rồi cả các việc như bắt cua, bắt cá, lấy rau lợn và còn biết bao nhiêu việc khác nữa trong các việc vặt của gia đình.

Ngày ấy các sinh hoạt văn hoá hết sức hiếm hoi, ngoại trừ những ngày làng vào đám thì mới có một vài tối biểu diễn văn nghệ. Những làng có đội văn nghệ thì tự đứng ra biểu diễn lấy, còn những làng không có đội văn nghệ thì đi thuê ở các làng bên cạnh. Mỗi tháng cả xã mới được đội chiếu bóng lưu động về xã chiếu cho hai buổi, hoặc giả các làng lân cận không biết bằng cách nào đó thuê được các đội cải lương Chuông vàng Thủ đô, đội cải lương Kim Phụng về diễn một vài tối thì vui không thể nào kể xiết. Những buổi như thế người đi xem thường rất đông, nên cả trẻ con lẫn người lớn đều cố gắng nấu cơm ăn sớm để đi đến mua vé vào xem. Nhiều khi mua vé vào sân từ lúc chưa lặn mặt trời, rồi chờ đợi hơn ba tiếng đồng hồ buổi diễn mới bắt đầu thế mà rồi cũng chả thấy ai ca thán điều gì. Riêng lũ trẻ con thì không thể chủ động về việc cơm nước được vì bố mẹ chúng có cần gì mà phải nấu cơm vào lúc nửa chừng nửa vời như vậy, vì thế mà chúng thường nhịn đói để đi xem. Lúc chờ đợi và lúc xem thì chúng không thấy đói, chỉ đến lúc về thì chúng mới lả người ra, nhưng lúc ấy chúng cũng đành phải chịu vậy không biết kêu ai, mà kêu ai cho được, mình làm mình chịu thế thôi. Đấy là nói những đứa có tiền, lại còn những đứa không có tiền thì chỉ còn cách trốn chui rào để mà vào. Đa số các đội chiếu bóng cũng như các đội biểu diễn văn nghệ hay thuê các vị trong ban công an của địa phương hoặc các tổ dân quân du kích canh gác và họ làm rất chặt nên nhiều khi các cậu nhí không thể có cách nào chui trốn được. Lẽ dĩ nhiên đành phải đứng ngoài chờ tháo khoán mới được vào xem vớt vát được vài cảnh, vài màn cuối.  Không biết có phải do cách giáo dục ngày ấy nghiêm cẩn hơn thời bây giờ hay sao mà đa số các đứa trẻ không tiền thì cũng tự chịu vậy thôi chứ chả có đứa nào dám ăn cắp đồ của cha mẹ đi bán lấy tiền đi xem bao giờ.

Ngày ấy lũ trẻ cũng có rất nhiều các trò chơi và chúng thường tổ chức chơi một cách nhanh chóng. Những trò chơi đơn thuần mang tính ăn thua như đánh bi, đánh đáo, thổi diêm, thổi nịt, thậm chí cả các trò đánh rải ranh, đánh cóc, chơi ô ăn quan, là những trò rất dễ tổ chức. Ngoài ra còn các trò chơi như đánh bi chọi, đánh khăng; những trò chơi mà những kẻ thắng có quyền bắt kẻ thua phải cõng, phải kiệu, phải hầu hạ kẻ thắng một việc gì đó ví thử như dắt trâu, gánh cỏ vv…Cũng có trò chơi cho phép kẻ thắng bôi lên mặt kẻ thua một vệt nhọ nồi đen kít trông đến ngộ. Trò này rất thịnh với các ván bài Tam cúc hoặc Tu lơ khơ giữa ba bốn đứa quây tròn cùng đánh trong những chiều đông rét mướt.

 

                                                        3

 

Năm nay các học trò lớp bốn phải lên học nhờ ở một cái đình của làng Thạc Quả. Mấy đứa ở Tiền Thôn, mấy đứa ở Hậu Thôn đi học gần hơn nên chúng thường đến rất sớm. Hôm nào cũng vậy, khi Hằng và bọn học trò của làng Đồng Dầu vừa đến là lớp vào học ngay nên không đứa nào kịp giở sách ra xào qua bài cũ nên khi thầy kiểm tra hầu như các cậu không trả lời được. Nhất là những hôm trong xã có văn nghệ hoặc có chiếu phim thì càng tệ hơn vì bọn trẻ càng không kịp học bài cũ, không kịp làm bài tập và lẽ dĩ nhiên là thường bị thầy phạt bắt ra khỏi lớp đứng ở ngoài đó mà nghe giảng cho đến hết tiết học mới được vào. Trong số học sinh ở Tiền Thôn luôn bị mắng, bị phạt là cậu Lực, cậu Thu. Thật ra là các cậu này bận việc nhà quá nhiều nên không có thời gian mà học nữa. Tuy nhiên khi đã là học sinh thì cho dù thế nào thì việc học cũng không được trễ nải, cho dù thế nào thì thầy cũng không chấp nhận cho những học sinh như vậy. Tuy học hơi kém nhưng mà Lực lại rất khéo tay, Lực làm những bộ râu giả bằng sợi hệt như các bộ râu của phường tuồng, ngoài ra Lực còn làm những cái gậy nhọn đầu buộc những sợi tơ xanh đỏ cũng giống như các đạo cụ của phường tuồng trông đến là đẹp. Mỗi hôm đến lớp sớm là Lực đeo râu, mang gầy ra rồi nhảy từ bàn này sang bàn khác múa hát như một kép hát. Lực đóng đủ các vai mà Lực biết, khi thì là vai Trương Phi, có khi lại là vai vua, mà cũng không biết vua của triều đại nào vì vua Đường thì cũng như vua Tống, cũng chỉ có bấy nhiêu câu hát như vậy mà thôi.

Thế rồi chín tháng học của lớp bốn cũng đã qua đi một cách nhanh chóng. Đây là năm học cuối cùng của chương trình học cấp một. Rất nhiều học phần khá cao đã được đưa vào chương trình để làm cơ sở kiến thức cho bậc học cấp hai sắp tới. Những cô bé, cậu bé không dễ gì có thể tiếp nhận được nếu không chịu khó học bài và làm các bài tập một cách đầy đủ. Sang năm nay Hằng học tốt hơn so với năm ngoái. Thầy Vũ Kim Đàm luôn để ý khá đặc biệt đến cậu trong suốt cả năm học về mọi mặt làm cho cậu lúc nào cũng như bị căng ra. Không biết có phải vì câu chuyện vào lớp theo kiểu nhảy cóc của cậu hồi năm trước hay không mà hầu như hiếm có buổi học nào thầy bỏ quên kiểm tra đến cậu. Có lẽ chính vì thế mà kết quả học của cậu khá tốt so với nhiều bạn cùng lớp. Ngoài những phần thưởng cậu được nhà trường khen cậu còn được thầy đã ghi vào học bạ những điều thật tốt đẹp. Thầy còn mạnh dạn ghi vào đó nhận định của thầy về triển vọng văn học của cậu. Những điều thầy ghi vào học bạ nói trên cũng mãi sau này cậu mới biết do cậu được nhận lại được quyển học bạ do cô giáo chủ nhiệm lớp 5c của cậu đưa cho.

Khi ngồi viết những dòng này trên trang sách cậu không khỏi trạnh lòng khi nghĩ về những dòng nhận xét của thầy giáo Đàm. Những dòng nhận xét vừa có ý khen ngợi nâng đỡ, vừa mang tính khuyến khích dường như thầy bảo hãy cố gắng hơn lên. Thế mà cậu đã không làm được gì, thật không xứng đáng với niềm mong mỏi của một người thầy. Kể ra thì quyển học bạ cũng đã bị cháy mất cùng với hàng đống sách vở tài liệu mà cậu đã gửi anh Hiệp trưởng kho vật tư của nhà máy điện Thanh Hoá trước khi cậu đi bộ đội. Không biết thế nào mà khi cả đống sách vở của cậu cùng với hàng đống các sổ sách cùng với phiếu xuất kho bùng cháy không sao cứu được thì quyển học bạ lại vẫn còn. Sau khi cậu rời bộ đội phục viên về đơn vị nghe tin kho bị cháy, trong đó có cả số sách vở tài liệu của cậu thì cậu cũng chẳng còn muốn đến hỏi anh Hiệp làm gì nữa. Thế mà đến gần hai năm trời sau anh Hiệp lại đưa cho cậu quyển học bạ rách bìa này, thành ra mỗi khi cầm đến nó cậu lại tự dằn vặt về những lời thầy đã ghi trong đó.

 

                                                       4

 

Từ sau ngày hoà bình lập lại Đảng và Chính phủ cũng đã tập trung nhiều cho công tác giáo dục, tuy nhiên mọi sự cố gắng cũng chỉ giúp cho xã Dục Tú có cơ ngơi cho một cấp học mà thôi. Cả huyện Đông Anh lúc đó mới có ba bốn ngôi trường cấp hai, nên việc đi học cấp hai buộc các học sinh phải rời trường của xã để đi học nhờ xã khác. Cũng có một số học sinh sang trường cấp hai Tiền Phong ở thị trấn Yên Viên thuộc huyện Gia Lâm học nhờ. Mãi đến năm 1962 huyện Đông Anh mới mở thêm một số trường cấp hai trong đó có một trường cấp hai được mở ở xã Quyết Tâm (bây giờ gọi là xã Cổ Loa) thì số học sinh lên cấp hai của xã Dục Tú mới chuyển về học ở Cổ Loa. Lúc ấy trường thường mang tên của các xã, nên trường có tên là trường cấp hai Quyết Tâm. Tên trường thì có đấy nhưng phòng học của trường thì lại chẳng có cái nào. Khi ấy các lớp học được gửi ở các ngôi chùa, ngôi đền, thậm chí còn gửi nhờ ở các nhà dân. Lớp 5c của Hằng được gửi ở đình làng Cổ Loa; nơi ấy tập trung rất nhiều các di tích lịch sử xây dựng từ xưa. Đầu tiên phải kể đến là cây đa cổ thụ có trên một ngàn tuổi. Cây đa này có thân mình đồ sộ đến mức người ta đã xây bên trong thân nó một khuôn cửa tò vò có bề ngang đến một mét rưỡi, chiều cao đến hơn một đầu một với, nghĩa là chiều cao đến hơn hai mét. Xung quanh khu vực gốc đa quy vuông đến gần ba trăm mét vuông có đến mười mấy cái rễ từ các cành đa rủ xuống cắm sâu vào lòng đất, cái lớn nhất cũng phải vừa hết một vòng ôm của người lớn, cái nhỏ cũng có đường kính trên hai mươi nhăm phân tây. Còn các cành của nó thì che kín gần hết phân nửa sân đình. Một di tích khá đặc biệt là am thờ Công chúa Mỵ Châu. Am thờ bé đến nỗi chỉ vừa đủ diện tích để đặt pho tượng đá cụt đầu, nên mỗi khi vào trong am đi quanh pho tượng cảm thấy rất chật chội. Pho tượng đá này tương truyền là hiện thân của Công chúa Mỵ Châu được các bậc tiền nhân khiêng từ nơi khác đem về, sau nhiều lần những người già cả trong làng được Công chúa báo mộng. Pho tượng đá khá to lớn, có lẽ cũng gấp ba bốn người thường. Tượng đã bị quân Pháp phá vỡ tạo ra các vết nứt và cũng đã được trám vá bằng chất liệu xi măng. Vào những mùa hè tượng bị hấp hơi nước ướt rườn rượt, khi sờ vào mát lạnh cả tay. Không xa bao nhiêu  về phía Bắc là cả một quần thể của cả khu vực đền thờ An Dương Vương cùng với dấu vết của tường thành ốc xưa còn lại. Lũ trẻ hàng ngày đến Cổ Loa đi học chưa có nhiều kiến thức lịch sử về nơi mình vẫn đang sinh sống, nhất là lại thường quá quen thuộc với những hình ảnh, đồ vật, quang cảnh mà họ bắt gặp thường ngày nên đôi khi còn rất coi thường. Nhưng dù sao thì mỗi ngày qua họ được các thầy, các cô giảng giải nên không biết từ lúc nào trong lòng mỗi người cũng có sự ngấm nghía để rồi mai ngày lớn lên trong họ có cái hình, cái bóng của quê hương cùng với những gì tốt đẹp được nhân lên trong mỗi bước đường mà họ sẽ đi trong cuộc đời đầy sóng gió và cũng đầy vinh quang rực rỡ trong những năm lao động và chiến đấu sau này.

Trường cấp hai Quyết Tâm về cơ cấu sẽ có ba khối học, mỗi khối có ba lớp, tuy nhiên trong năm đầu tiên này thì mới chỉ có một khối đó là khối các lớp 5. Hằng và cả số học sinh của làng Đồng Dầu được đưa vào lớp 5c do cô Lê Thị Yến vừa làm chủ nhiệm vừa làm giáo viên giảng môn toán học. Môn văn thì do thầy Trần Ngọc Kim giảng dạy. Hai môn sử địa đều là của thầy Vũ Tú Nguyên, còn  môn sinh vật là của cô Kim Bảo.

Những ngày đầu tiên bước vào cấp hai thật là vui, riêng Hằng còn vui hơn khi cậu được bầu vào ban cán sự lớp. Cho dù chẳng hiểu là mình sẽ phải làm gì trong cái chức trách cán sự nhưng Hằng cũng thấy rất khoái chí. Hằng đâu có ngờ rằng sau này cậu lại bị liên luỵ quá nhiều bởi cái chức trách hữu danh vô thực này. Hàng ngày cứ đến mỗi giờ học các thầy, các cô đều nhằm đích vào Hằng. Nào là cả lớp có làm bài tập hay không, cả lớp đã đóng học phí chưa. Khổ sở hơn nữa là cậu cứ phải đầy đủ bài vở vì cứ mỗi khi các thày, các cô kiểm tra các bạn mà có độ ba, bốn người không thuộc là các thầy, các cô sẽ gọi đến Hằng. Đành rằng đi học là phải học bài, làm bài đầy đủ, nhưng đôi khi các học trò cũng tự cho mình được quên học bài, quên làm bài tập để vào bãi chiếu phim  một đôi lần trong một tháng, bởi vì có phải dễ gì có được một buổi chiếu phim ở nơi thôn quê đồng ruộng. Tất nhiên là không thể bỏ học, bỏ làm bài tập để xem phim mà chỉ là ngầm khất chương trình hôm đó đến hôm sau mà thôi. Nhưng Hằng thì đâu có được làm như thế bởi cái chức trách lớ ngớ vừa nói ở trên.

 

Được cái Hằng học khá thông minh nên kết quả năm học cậu đạt khá cao. Hầu như tất cả các bài kiểm tra của các môn Hằng đều được điểm 5. Hằng đã đạt học sinh xuất sắc toàn diện ở mức A1. Các bạn, các thầy chia vui với Hằng. Cái tiếng học giỏi của Hằng bay về tận làng Đồng Dầu, bay về tận trường Dục Tú làm vui lòng biết bao những người thân yêu của Hằng, làm thoả lòng biết bao các thầy cô đã dạy dỗ Hằng. Có một người thầy luôn luôn nhìn Hằng bằng một bên mắt nheo lại như bảo cậu rằng chớ có tự vừa lòng để rồi phí công tôi đặt niềm tin ở cậu. Đó là thầy Chuyên, người thầy đã hơn một lần hết lòng vì cái cậu bé nhóc con lầm lỳ ít nói và hay ngồi lặng lẽ nhìn xa tận phía chân trời.

                                5

 

Cứ như thế Hằng học hết ba năm học cấp hai ở trường Quyết Tâm trong ba năm liên tiếp. Ngày rời trường đã đến mà mọi người vẫn tưởng chỉ là chia tay về hè như mọi năm thôi. Chả biết mọi người nghĩ sao còn Hằng thì băn khoăn bối rối không biết tính thế nào. Việc có đi học tiếp được hay không quả thật là rất khó, bởi trường cấp 3 lại ở mãi trên huyện, một địa điểm quá xa để có thể đi bộ đến trường vào các buổi sáng, phần thì nhà Hằng lại quá nghèo, đâu có thể mua nổi một cái xe đạp để mà đi học như mấy đứa con nhà khá giả. Mỗi ngày nhà Hằng cũng chỉ có gạo ăn ở mức hơi thiếu một tý cho cả nhà, nếu Hằng mang đi một ít để học trọ thì nhà sẽ bị đói. Như vậy thì việc học của Hằng sẽ chẳng còn có thể tiếp tục được nữa. Thêm nữa mẹ Hằng đã già yếu lắm rồi việc làm ăn đã đến lúc cần Hằng san sẻ bớt. Với bằng ấy lý do đã bắt buộc Hằng không còn cách lựa chọn nào khác hơn là phải nghỉ học.

Không như một số các bạn khác nghỉ hè rồi vẫn còn được rong chơi để thăm thú bạn bè, bắt đầu vào hè là Hằng về nhà để đi làm hợp tác. Ngay từ những ngày đầu đi làm hợp tác Hằng đã được bà con trong đội đề nghị đứng ra làm thư ký đội thay cho người thư ký cũ lên làm thư ký cho hợp tác xã. Kể ra mà nói thì đây cũng là sự may mắn rất lớn của cậu, vì cùng lúc đó có khối các cậu cùng về mà bà con lại không tín nhiệm. Nói về cái học khá của cậu có lẽ chỉ là phần thứ yếu vì công việc làm thơ ký đội chủ yếu chỉ là ghi chép công điểm cho bà con, thế rồi cộng trừ nhân chia một tý công điểm, một tý thóc lúa hoa màu mà các xã viên được chia trong từng vụ mà thôi. Cái sự tín nhiệm ở đây chủ yếu là các ông bà xã viên đã yêu mến cậu ở cái sự vui tươi, lễ phép và cả cái tính thẳng thắn, ngay từ bé đã không trộm cắp hoặc tham lam của ai bất cứ thứ gì.

Từ sau ngày nghỉ hè cô giáo hiệu trưởng Nguyễn Thị Ngọc Anh vẫn xuống thăm chơi nhà của các phụ huynh, cũng đến mấy lần cô vận động Hằng cùng các bạn tiếp tục đi học lên cấp 3. Bà còn hứa với bà mẹ của Hằng là bà sẽ dùng uy tín của mình để xin cho Hằng có được học bổng như khi còn học cấp 2, nhưng vì ngại ngần trong việc nhờ cậy, làm phiền đến cô nên Hằng vẫn quyết định sẽ nghỉ học. Cô Anh lại phân tích thêm về một số cách học khác và cuối cùng thì cô động viên Hằng đi học chuyên nghiệp. Thực ra thì Hằng cũng đã làm hồ sơ xin đi học chuyên nghiệp để gửi về trường ngay từ  khi còn đang học dở cấp 2, tuy nhiên đến lúc ấy thì các trường chuyên nghiệp chưa nơi nào gọi cả.

Vào trung tuần tháng 8 năm ấy thì Hằng có giấy gọi đi học trường trung cao cơ điện. Phần vì nghe bạn bè kháo nhau rằng học trung cao kéo dài đến hơn ba năm, hơn nữa là sau khi ra trường phải làm cán bộ kỹ thuật, một công việc mà Hằng rất ghét ngay từ khi tiếp xúc với một số cán bộ kỹ thuật của nhà máy diêm, nhà máy gỗ trong lúc Hằng đi làm thuê những năm trước đó. Mỗi lần trông thấy họ Hằng chỉ muốn chửi cho họ một trận bởi cái sự vênh váo của họ trong lúc giao nhận công việc hàng ngày. Rồi đến vài giấy gọi nữa nhưng Hằng cũng không đi vì một trong các giấy ấy là giấy gọi của trường trung cấp ăn uống, giấy còn lại là của trường trung cấp dệt, lúc ấy Hằng cho rằng đây toàn là những công việc của phụ nữ nên chẳng thiết gì đến sự học nữa.

Cũng chính trong thời gian này ở cục vật tư địa chất đóng ngay ở Dốc Vân lại thông báo tuyển người. Chỉ cần làm việc trong 6 tháng là sẽ được vào biên chế thành công nhân như tất cả mọi người. Đang lúc bế tắc lại có cơ hội tốt, thế là Hằng quyết định sẽ đi làm cho ngành địa chất. 

 

                                                    6

 

Ngay khi vào làm ở địa chất Hằng cùng các bạn đã được đưa lên ô tô chở một mạch lên huyện Hữu Lũng của tỉnh Lạng Sơn. Nơi đây được cục vật tư địa chát cho xây dựng một cái kho để chứa hàng đề phòng chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ngày một tăng lên. Công việc ở đây ban đầu chủ yếu là  phát rừng san đường vào sâu trong dãy núi Cai Kinh, rồi bốc đá làm đường để cho xe ô tô có thể ra vào được.

Hàng ngày từng tốp công nhân mới tuyển còn chưa được cấp phát bảo hộ cắm cúi làm việc. Cho dù công việc chẳng nhẹ nhàng gì, nhưng đa số mọi người trong đội đều là những thanh niên, thanh nữ trẻ nên họ rất vui. Cho dù là đào hàng khối đất hào rắn đanh đến bốc hàng chục khối đá từ mỏ đá Núi Voi về công trường nhưng ai cũng say mê với công việc. Những chàng trai trẻ đều muốn thể hiện sự hơn hẳn của mình trước các cô gái để mong các cô có chút cảm tình. Còn các cô gái thì lại muốn mình là những người xinh đẹp chịu thương, chịu khó để lọt mắt các chàng trai. Chính vì thế mà các anh trong ban lãnh đạo của đội như anh Dậu hầu như chẳng cần phải đôn đốc mà công việc vẫn chạy băng băng.

Ngoài những vất vả trong công việc mọi người còn phải đối đầu với nguy hiểm do máy bay địch bắn phá khi đi trên đường hoặc đến làm việc ở những nơi trọng điểm. Cũng có nhiều lần họ thoát chết trong gang tấc bởi chỉ nhờ may mắn trong nhanh chậm, giống như lần máy bay Mỹ ném bom phá huỷ cửa hàng ăn uống chợ Mẹt hay lần chúng ném bom hòng cắt đứt cầu Mẹt chặn đường giao thông của chúng ta.

Công việc ăn uống của đội đều do đội tự làm lấy, ngoài mấy món trường ca như bí ngô, cá mắm, lại đến muối vừng, măng tre hoặc lạc rang để cả vỏ tẩm muối mặn chát. Lâu lắm mới có một ít thịt con lửng mua được ở các chợ quanh vùng, cũng có khi có một ít thịt trâu mang từ cơ quan lên khi có các cán bộ về công tác.

Người Nùng ở xã Cai Kinh và các vùng quanh khu vực đều kiêng ăn thịt trâu, bò và thịt chó. Họ cũng không ăn hành và một vài gia vị khác nên lúc đầu khi  chưa làm được lán còn phải ở nhờ nhà dân thì sự  kiêng khem thật là vất vả. Về mặt ăn uống thì thế nhưng về tình cảm thì giữa công nhân với nhân dân trong vùng lại thật tốt, nhất là với đám con gái người Nùng thì sự gắn bó còn khăng khít hơn nhiều. Lấy cớ giao lưu để học tiếng và tìm hiểu phong tục có vài đôi trai gái hình như bắt đầu đã có những mối cảm tình hết sức tế nhị.Trong số thanh niên trẻ trong đội chỉ có Hằng là trắng trẻo thư sinh hơn cả, hơn nữa lại ăn nói khá mạnh dạn nên có rất nhiều cô gái muốn gần. Lẽ dĩ nhiên là cậu cũng thể tránh khỏi bị cuốn hút vào cái không khí chung ấy. Sau rất nhiều cuộc gặp gỡ trò chuyện cho dù là chỉ ở trong nhà của các cô gái cùng với bố mẹ của các cô nhưng cái sự đầu mày cuối mắt thì vẫn cứ lộ ra.

Người Nùng ở Cai Kinh có một số đặc điểm rất đặc biệt đó là đa số các chàng trai thì rất đẹp traiN, còn đa số các cô gái thì lại rất xấu. Những chàng trai cao lớn và trắng trẻo bao nhiêu thì các cô gái lại đen và nhỏ bé bấy nhiêu. Trong cả một bản có lẽ chỉ được mươi cô còn có chút ưa nhìn, số còn lại thì thật đáng ngại gặp, ngại gặp không phải vì họ xấu mà vì đám thanh niên vùng xuôi sợ họ mồi chài. Đã từ lâu người ta đồn đại rằng các cô con gái ở vùng cao thường có một số loại thuốc hoặc các loại bùa rất đáng sợ. Nếu chàng trai nào ở dưới xuôi không may mà bị họ thích là họ sẽ chài, thế rồi các chàng trai này cứ lú lẫn bỏ cả quê hương cha mẹ để mà ở lại với cô ta cho đến hết đời mà không thể thoát ra được. Ngoài ra họ còn sợ nhiều thứ khác, giả như họ có thể bị người nhà của các cô gái giết bằng cách đưa đến các vùng rừng có hổ để cho hổ ăn thịt rồi loan tin là bị hổ vồ. Đến lúc ấy thì ngay cả chết cũng bị chết oan mà không thể tìm ra tội chứng của kẻ giết người. Chính vì vậy nên cái sự yêu đương thì hình như chưa cậu nào dám đặt vấn đề. Còn cái chuyện lợi dụng tình ái khi họ tiếp xúc hàng ngày cùng nhau thì chả cậu con trai nào dám, kể cả trong khi nói chuyện ở nơi vắng vẻ cũng như khi đi vào rừng hái quýt, hái ổi riêng rẽ chỉ có hai người với nhau.

 

                                                             7

 

Trong số các cô gái người Nùng, có một cô khá xinh xắn có tên là Hoàng Thị Cỏm. Cô mới chỉ mười sáu tuổi đang đi học văn hoá ở trường nội trú của tỉnh. Ngoài nước da trắng, khuôn mặt trái xoan cô còn có sức quyến rũ bởi dáng người thon thả và duyên dáng. Cô nói tiếng kinh khá sõi, nếu chỉ hỏi han trò chuyện trong độ mươi phút thì không ai bảo cô là người Nùng, ngoại trừ bộ quần áo chàm cô rất hay mặc khi cô về nhà. Cho dù chiếc áo chàm khá rộng, luôn dài đến ngang đùi che đi phần thân thể của cô nhưng người ta vẫn nhận ra cơ thể đầy sức quyến rũ của cô.

Trong một lần về nhà cô được tiếp xúc với đám thanh niên vùng xuôi thông qua sự giới thiệu của các bạn, cô đã nói chuyện rất nhiều bằng tiếng Nùng với Hằng. Không biết có phải do cô thích cái anh chàng trắng trẻo này hay là cô chỉ thích nói chuyện với cậu chỉ vì lúc ấy cậu là người biết nhiều tiếng Nùng hơn so với các bạn.

Lúc chia tay cô ghé sát tai cậu và thì thào:

- Mình với anh cùng tên, mình với anh là một đấy nhé!

Hằng không kịp hỏi gì thêm thì cô ấy đã vụt quay trở vào nhà. Hằng đứng ngây ra đến một lúc lâu mà vẫn chẳng nghĩ ra được sự thể là thế nào. Chả lẽ tiếng Nùng âm Cỏm là Hằng hay là khi cô ấy đến trường học cô đổi tên theo tiếng Kinh với cái tên mới là Hằng.  Cho mãi đến về sau này điều thắc mắc ấy cậu vẫn không được ai giải đáp cho.

Họ chia tay cũng không lâu la gì lắm, chỉ mới qua hết một tuần học đã thấy cô có mặt ở nhà. Anh trai của cô đã bảo cho Hằng biết trong lúc đi ngang qua lán công nhân để vào rừng đặt bẫy. Trong số các chàng trai cùng đi làm với Hằng ngày ấy hầu như chỉ có mình Hằng là hay chơi bời cùng số con trai và cũng hay thăm viếng với các ông ké, bà mế nên Hằng khá thân thiện với số đông những người trong bản. Riêng về anh trai của Cỏm thì khá thân hơn vì anh này khá thông minh và lại rất khéo tay. Nhiều lần anh bảo nhận Hằng làm em rể cho dù Hằng chưa hề gặp cô em ấy lần nào. Lần này thì không thể tránh được rồi nhất là cái cô em ấy lại hưởng ứng một cách nhiệt tình sự gợi ý của ông anh. Có lẽ vì thế mà anh vừa tin cho Hằng biết vừa cười một cách ý nhị.

Thực ra thì Hằng chưa bao giờ nói gì đến cái sự gắn bó của mình với cô ấy vì Hằng cũng sợ bị cô ấy chài như ngày nào mẹ Hằng đã kể. Còn cô ấy thì hình như mặc nhiên coi cái sự ấy như là đã định rồi. Có lẽ việc này là do người anh của Cỏm bịa ra. Phải chăng anh cũng muốn cho cô em gặp được văn minh của miền xuôi hay là muốn cô em rời xa hẳn cái cơ ngơi của cha mẹ để sau này anh chẳng vướng bận gì.

Những ngày xa vắng bất chợt bị cuốn đi để sự rạo rực tràn ngập dồn lại cho những giờ khắc gặp gỡ.Tuy rằng tất cả cũng chỉ là những câu chuyện cuộc sống cùng với sự động chạm da thịt vào nhau thôi nhưng sao mà cảm xúc lạ kỳ đến vậy. Nhiều lúc Hằng tưởng như mình bị tan ra bên sắc màu lam tím của những nếp vải thô ráp nhuộm chàm. Hay là Hằng đã bị chài rồi! Có lẽ là chưa vì sau những lúc như thế Hằng lại thấy bình tĩnh trở lại tự điều chỉnh được mình. Mười sáu tuổi, chỉ mới mười sáu tuổi, còn mình nào có nhiều hơn được bao nhiêu.

Mỗi lần gặp gỡM, mỗi lần trò chuyện, Hằng thường nghĩ đến những câu chuyện tình yêu từ trong phim ảnh, từ trong sách vở, từ trong tiểu thuyết. Sự đẹp đẽ đến thánh thiện, đến đắm say và cả đến oanh liệt nữa cũng dần hé mở lôi kéo đi theo, khuyến khích học theo. Cả đống những ý tưởng làm họ choáng ngợp, làm họ bối rối; bối rối đến không còn biết sẽ làm gì nữa.. Họ chỉ dám hôn thật nhẹ vào bất chợt chỗ nào mà họ chạm vào thế rồi chia tay và tiếc mãi về những gì mà họ cùng khao khát.    

     

                                                     8

 

Những ngày vui chưa được bao lâu thì công trình cũng đã sắp hoàn thành. Một số công nhân đã chuyển đi công trường mới ở tận trên khu vực Đồng Mỏ, số còn ở lại Cai Kinh không còn nhiều, trong đó có Hằng. Ngoài công việc ban ngày, Hằng còn phải ở lại trông coi lán vào ban đêm mà không vào bản như mọi khi vì trong thời gian này Cỏm cũng ít về. Không biết có phải do bận học hay do Cỏm giận vì Cỏm chờ mãi mà chưa thấy Hằng nói ra cái điều quan trọng kia. Cỏm không biết rằng trong lúc ấy Hằng băn khoăn đến thế nào về hoàn cảnh của mình.

Ngày ấy nhà Hằng Nghèo lắm. Rời chùa mới được vài năm, nhà Hằng vẫn phải ở nhờ nhà của anh Phượng. Xin đất xong, cố mãi nhà Hằng vẫn chưa làm nổi một ngôi nhà. Đồ dùng thì chả có thứ gì ngoài hai cái giường gỗ tận dụng mà ông bố của Hằng tự đóng lấy từ năm nảo, năm nào, đến nay thì đã bắt đầu mọt ruỗng ra rồi. Lấy vợ về, vợ sẽ ở đâu! Trong cái căn nhà không buồng, không vách của nhà anh Phượng. Lại còn công việc làm ăn, còn miếng cơm, manh áo cho mẹ, cho em và cho cả đôi uyên ương nửa xuôi, nửa ngược này nữa. Lại còn sự nghiệp vừa mới bắt đầu! Mình còn phải đi! Ai sẽ là người đỡ đần người vợ trẻ con này khi mình đi vắng. Rồi còn địa phương họ có cho phép hay không khi cô ấy chưa đủ tuổi. Miền xuôi đâu có thể làm bừa đi như trên vùng cao thiểu số mà được. Tất cả những điều ấy đã bắt Hằng phải chần chừ, lưỡng lự mặc dù Hằng biết sẽ chẳng bao giờ Hằng còn có thể tìm được một người con gái đẹp mê hồn như thế nữa. Tất cả những điều ấy Hằng đâu có thể nói ra với Cỏm và với gia đình cô ấy.

Chính trong những ngày buồn bã ấy thì chú Phó cục trưởng đi công tác qua rẽ vào gửi cho mảnh giấy của mẹ nhắn Hằng về. Không biết mẹ nhắn về để làm gì mà gấp gáp như thế nên Hằng quyết định sẽ tự mình ra về mà không chờ chú cục phó đón như lời dặn của chú lúc đưa thư cho cậu.

Vừa đi vừa lạc phải mất hơn năm tiếng đồng hồ Hằng mới đến được ga Bắc Lệ để lên tàu về nhà. Cuộc ra đi này của Hằng chỉ có vài người trong ban lãnh đạo của đội biết, bạn bè và cả Cỏm cũng không sao biết được. Hằng cũng không ngờ lần ra đi này cũng là lần từ biệt Cai Kinh, từ biệt Chợ Mẹt, Lạng Sơn đến mãi gần bốn mươi năm sau mới lại có dịp quay trở lại trên một chuyến xe khách chạy sáu mươi cây số lướt đi trên đường, trong một lần tham quan Trung Quốc.

Về đến nhà Hằng được mẹ đưa cho một bì thư trong đó là giấy báo đi học của Trường điện lực Thái Nguyên. Nhận giấy mà Hằng ngạc nhiên đến sững sờ cả mình mẩy vì không hiểu tại sao mình lại có giấy báo này. Trong kỳ làm hồ sơ đi học chuyên nghiệp Hằng chỉ làm có ba bộ, đã có ba trường gọi mất rồi. Các trường đều ghi là sẽ không trả hồ sơ vậy thì hồ sơ này làm sao mình lại có. Sau khi ba trường gọi Hằng không đi, Hằng đã làm thêm hai bộ nữa lên xin xã nhưng xã nói chỉ có thể xác nhận không quá ba bộ, thế là Hằng mang về vứt ở nhà, làm gì còn bộ nào nữa đâu mà lại có giấy gọi. Hay là trường họ nhầm lẫn gì chăng. Hằng xem đi xem lại tờ giấy báo nhưng không thấy chỗ nào sai kể cả họ tên và nơi ở. Mà cái làng Đồng Dầu này làm gì có ai là Hằng nữa đâu. Tìm hiểu mãi rồi cũng vỡ lẽ ra do khi Hằng đi làm vắng cô Ngọc Anh xuống thăm số phụ huynh học sinh cũ đã rẽ vào thăm mẹ Hằng. Sau khi nghe bà mẹ Hằng kể lại sự tình thế là bà lấy số hồ sơ của Hằng để lại mang lên xã xin xác nhận cho rồi gửi tiếp về ban tuyển sinh huyện và thế là Hằng mới có tờ giấy báo thứ tư này. Có lẽ cán bộ xã nể bà giáo là huyện uỷ viên mà họ quen biết  trong các kỳ họp nên đã xác nhận số hồ sơ mà bà mang lên xin hộ.

Khỏi phải nói đến sự hàm ơn của Hằng đối với cô hiệu trưởng đến thế nào. Vậy mà từ khi ấy cho mãi đến sau này Hằng không còn có thể gặp lại cô giáo đáng kính của mình nữa. Khoảng cách địa lý của mỗi người, công việc xã hội, công việc gia đình của mỗi người, đã vĩnh viễn chia cách cô trò của họ. Cô như là một người mẹ lo cho rất nhiều những đứa con, chắc cô không còn nhớ những gì đã lo cho Hằng. Còn với Hằng thì không bao giờ có thể quên được tấm lòng của người mẹ ấy.

                                         9

 

Sau gần mười ngày lo cắt hộ khẩu, lo bán lương thực để lấy giấy cắt chuyển lương thực xong là Hằng lên nhập trường. Cứ như trong giấy báo này thì có đến vô số những con số một bắt buộc các học sinh phải nhớ và phải thực hiện. Đầu tiên là các học sinh phải đến trường vào ngày 11 tháng 11 năm 1965, tiếp theo là các học sinh phải hỏi thăm đến số nhà 111 phố Đồng Bẩm Thành phố Thái Nguyên để vào nhập học.

Hằng lên đường với một cái ba vuông mà anh cả cho. Đây là vật dùng để đựng quần áo của bộ đội thời  kháng chiến chống Pháp. Nó là một miếng vải bạt cắt theo hình chữ thập. Các góc được may một miếng vải chéo để khi gấp vào đồ dùng nhỏ không từ các góc rơi ra. Hai bộ quần áo bằng vải ka ki và vải pôpơlin Nam Định, một cái chăn chiên là tất cả những gì mà Hằng mang theo.Tuy rằng nhà Hằng nghèo thật nhưng Hằng lại chưa khi nào phải mặc quần nâu áo vá như nhiều các bạn khác. Đồ đạc mới duy nhất chỉ có cái màn một và mấy thứ lặt vặt như lọ thuốc đánh răng, cái bàn chải, cùng mấy quyển sách, quyển vở mà thôi .

Chuyến tàu Bắc, Yên Viên đi Quán Triều chậm như bò trên đường. Chỉ có hơn bẩy chục cây số mà suốt từ tối đến quá nửa đêm mới đến được ga Đồng Quang. Trời đêm không đèn, không điện vì tránh máy bay Mỹ đánh phá, vả lại cũng quá khuya nên đường xá vắng ngắt không một bóng người. Sau khi đã hỏi thăm khách trên tàu về địa điểm mình sẽ đến, Hằng cũng đã sơ lược nắm được phần nào quãng đường mình sẽ phải đi. Mò mẫm mãi rồi Hằng cũng đến được phố Bắc Nam của thị xã Thái Nguyên. Đang không biết tìm ai để hỏi thăm tiếp thì nghe phía trước có người đang nói chuyện rì rầm. Hằng cố đi thật nhanh cho kịp mong sao hỏi thăm được về phố Đồng Bẩm, bởi Hằng nghĩ nếu không hỏi thăm được thì khó có điều kiện gặp được ai nữa để mà hỏi thăm. Vừa ghé sát vào mặt hai người đi đường để hỏi thăm về Đồng Bẩm thì nghe cả hai cùng nói chúng tôi cũng về đó mà không biết đường đây. Thật không còn gì chán chường hơn khi nghe hai người đi đường nói vậy. Dù sao thì từ lúc một mình bây giờ có thêm hai người nữa thành ba cùng đi nên cũng đỡ buồn hơn. Cả ba đang  lếch thếch mò đi trong đêm tối đen như mực thì đến một chiếc cầu. Một ngọn đèn phòng không leo lét bên đường làm cho cả ba mừng không thể nào tả xiết. Một người trong họ buột miệng:

- May quá, có chỗ hỏi thăm rồi.

Giọng nói của người này hơi ngòng ngọng, nghe rất quen, hình như mình đã nghe nói khi nào rồi thì phải. Đang còn phán đoán thì chợt lại nghe người thứ hai cất tiếng hỏi thăm đường. Ngoài giọng nói rất quen thuộc còn cả địa chỉ hỏi thăm cũng lại quá quen nữa làm Hằng chột dạ. Hằng nghĩ chả lẽ mấy cậu này cũng đi học như mình. Mãi đến khi giáp mặt thì cả ba người mới nhận ra nhau là bạn cùng trường.

- Thế nào, có phải các cậu cũng vào trường điện lực phải không?

Họ hỏi thăm nhau hết chuyện nọ đến chuyện kia có lẽ phải đến hai mươi phút rồi mới lại tiếp tục lên đường. Hoá ra hai anh bạn vừa gặp lại chính là Nội và Thảo học ở lớp 7A. Thảo khá nổi tiếng về sự tinh nghịch, còn Nội thì lại nổi tiếng về các hoạt động tập thể và có tiếng là lành tính. Nội học cũng vào loại giỏi và lại là một trong những đoàn viên đầu tiên của chi đoàn học sinh của trường. Nội khá đẹp trai và có nhiều tài vặt, đặc biệt là rất sát gái. Cứ như sau này Nội nói ra thì hình như ngay khi còn học ở trường phổ thông Nội đã yêu khá thành thạo, yêu ngay cả những bạn gái cùng học trong lớp 7A của chính mình.

Ba người lại mò mẫm đi tiếp, bây giờ thì họ đã đi qua cầu Gia Bẩy, nơi mà họ vừa dừng lại để hỏi thăm và đã nhận ra nhau. Cây cầu khá rùng rợn vì nó là nơi chứng kiến sự chết chóc của mấy trăm người trong hai lần giặc Mỹ đem tàu bay phản lực ném bom vào cầu trong ngày 17 tháng 10 trước đó mới gần một tháng. Mọi người không ai nói gì nhưng Hằng biết trong mỗi người đang nghĩ về cái chết chóc gớm giếc đó mà căm thù quân giặc, xót xa cho tất cả những người xấu số. Thật đáng buồn khi mọi người chúng ta đã không thể làm gì để ngăn cản tất cả những tàn ác mà kẻ thù đang từng ngày trút xuống đầu những người dân vô tội.

Không thể tìm ra ngôi nhà số 111 và cũng chả hỏi thăm được aiK, ba anh em đành vào ngủ nhờ trên hè của một cửa hàng bán sách để chờ đến sáng. Mệt mỏi do đi bộ mang nặng lại thức quá khuya cả ba ngủ như chết cho đến tận sáng banh ra mới dậy được. Vừa thu gọn đồ dùng vừa nhanh chóng quay đến khu vực tối qua đã đến để tìm. Hằng hỏi thăm mấy người làm vôi ở ngay con dốc nhỏ cạnh đấy thì được họ cho biết số nhà 111 chính là căn nhà tranh lụp xụp mà đêm qua ba anh em đã qua lại đến mòn cả chân ở đấy. Căn nhà ấy không phải là trường mà chỉ là điểm đến hỏi thăm con đường rẽ để vào nơi trường sơ tán. Từ đây vào đó còn phải đi đến hơn cây số nữa mới đến nơi. Đang còn hỏi thăm chưa xong thì từ xa đã nghe tiếng củaThảo la ré lên:

- Tìm thấy số nhà 111 rồi chúng mày ơi!

Mọi người quay về phía phát ra tiếng nói củaThảo thì thấy Thảo từ mái hiên lụp xụp chui ra. Thảo vừa cười vừa chỉ ngược vào bên trong mái nhà có ý bảo cái số nhà ở bên trong đó. Thì ra đây là căn nhà không có người ở, trên tường chả có chỗ đóng đanh treo biển nên chủ nhà đã gài cái biển số vào bên trong mái hiên, chính vì thế mà mấy anh em tìm không được.

Lại thêm một lần chán chường nữa mà không thể nói ra, bởi ai cũng nghĩ rằng ngôi nhà số 111 ấy phải là ngôi nhà cao ba bốn tầng trông thật nguy nga tráng lệ và rồi hàng ngày họ sẽ cắp cặp đến học hành và làm việc. Nào ngờ cái trường mà họ học lại ở trong tít mãi ở tận rừng xanh núi đỏ và còn chưa biết là nó to bé ra sao. Tuy vậy họ cũng đành phải vào để mà nhập học chứ còn biết làm thế nào bây giờ.

 

                                    10

 

Ngay sau khi gặp cán bộ của trường mọi người mới biết là trường có ba khu học tập. Khu thứ nhất tập kết các học sinh học về cơ khí và điện ở ngay tại xóm Cổ Rùa. Khu thứ hai ở lùi vào sâu bên trong một ít gọi là xóm Thác Lở, là nơi tập kết số học sinh học về nghề sửa chữa lò hơi. Số học sinh học nghề sửa chữa Tua bin thì vào sâu mãi tận khu mỏ đá Núi Voi (Núi Voi của Thái Nguyên chứ không phải của Lạng Sơn), nơi ấy gọi là xóm Cầu Đá. Cũng chỉ đi quá ra ngoài một chút đã là phường phố, thế mà nơi Hằng và các bạn đến lại là thôn bản của rừng rú buồn rứt cả người.

Những ngày học tập, lao động liên miên làm cho các cậu không còn có thì giờ để chơi bời nữa, thế là việc lên lớp và nhất là việc đi lao động làm đường sắt sơ tán máy biến thế hoặc đi xúc xỉ đổ vào sọt treo quanh tường nhà máy để chống bom đạn là những lúc vui hơn cả. Dù sao thì có lúc như thế họ mới được gặp nhau để mà trò chuyện, để mà tán tỉnh lẫn nhau, làm khuây khoả nỗi buồn chán ở nơi khỉ ho cò gáy này.

Ngày ấy các học sinh đi học chuyên nghiệp và cả các sinh viên học đại học cũng đều do nhà nước nuôi không. Chế độ sinh hoạt đều rập khuôn theo kiểu trại lính, mà không được có ý kiến gì khác. Mỗi tháng các học sinh được ăn 15 cân lương thực, trong đó có đến ba mươi phần trăm là chất độn. Chất độn có thể là mỳ bột hoặc ngô say ghế lẫn với gạo. Buổi sáng, mỗi người được ăn bữa phụ bằng một cái bánh mỳ luộc nhỏ như  nắm tay trẻ con. Mặc dù cái bánh chả ngon gì nhưng vì hàng ngày ăn uống luôn luôn thiếu nên dù không ngon cũng không ai bỏ. Bữa trưa và chiều thì ăn bữa chính có cơm và vài món thức ăn. Đang sức ăn, sức lớn bây giờ không đủ no nên hầu như anh, chị nào cũng thèm cơm. Có một điều không biết tại sao luôn thiếu ăn như vậy nhưng các cô, các cậu đều cứ lớn vượt trội hẳn lên.

Trong mấy tuần gần đây quân Mỹ tập trung tăng cường đánh phá vào Thái Nguyên nên mỗi buổi học lớp cứ phải dừng để ra hầm trú ẩn ba bốn lần. Những lần đi sang nhà máy bây giờ cũng không còn được an toàn nữa. Nhà máy điện Thái Nguyên bị đánh phá mấy lần liên tiếp. Khu điều khiển trung tâm và cả cầu vượt từ đó sang nhà máy chính cũng bị làm sập. Rồi cả khu vực đuôi lò cũng bị bom làm hư hại nhiều. Những tầng tầng, lớp lớp các sọt xỉ che phủ bên ngoài cũng chả giúp che chở được. Cả khu tập thể và cái căng tin hàng ngày vẫn bán và phân phối nhu yếu phẩm cũng bị sập đổ tan tành. Số gia đình công nhân ở trong khu tập thể cũng phải sơ tán vào mãi tận rừng xanh, núi đỏ.

Ban ngày các lớp đều tập trung vào học lý thuyết cơ sở và lý thuyết chuyên môn, ban đêm lại sang nhà máy tham gia lao động. Những kiến thức mà các học sinh hàng ngày được học hầu như mới mẻ hoàn toàn đối với tất cả mọi người. Phần lý thuyết cơ sở bao gồm có vật liệu cơ khí, điện học, nhiệt học, vẽ kỹ thuật, nguyên lý và cấu tạo của máy tua bin và lò hơi cho nghề vận hành và sửa chữa lò, máy. Phần học về chuyên môn thì có các công nghệ gia công cơ khí với ba bốn năm nghề như rèn, gò, tiện, nguội và cả nghề hàn điện, hàn hơi. Các bài về sửa chữa gồm thêm cả các phần về tháo lắp, căn chỉnh và cách sửa chữa từng bộ phận khi chúng bị hư hỏng. Việc học lý thuyết đối với mọi người xem ra rất mơ hồ, chỉ đến khi thực hành các học sinh mới được vỡ vạc ra đôi chút. Cuối cùng thì khoá học cũng đến lúc kết thúc sau mười mấy tháng trời vất vả.

Trong thời gian vừa quaT, ngoài việc đánh phá nhằm ngăn cản ta về mặt quân sự, bọn Mỹ còn tập trung phá hoại ta về kinh tế. Các nhà máy điện là mục tiêu hàng đầu ở lĩnh vực này. Trên miền Bắc có mấy cái nhà máy điện thì bấy nhiêu cái  bị đánh phá, nên đa số các nhà máy đều đang cần khôi phục, sửa chữa ngay để kịp thời cung cấp điện cho sản xuất và chiến đấu. Lẽ dĩ nhiên là rất cần có thêm các công nhân sửa chữa để thực hiện nhiệm vụ này. Cũng chính vì vậy nên mới qua một năm các học sinh đã phải ra trường mà chả cần đủ mười tám tháng như chương trình học đã thông tri trên giấy gọi.

Năm nay nhà trường thay  phương pháp tổ chức thi tốt nghiệp từ việc làm bài trên giấy bằng vấn đáp ngay trên hội trường. Các thầy phải đổi khối dạy để tổ chức thi cho khách quan. Có lẽ các thầy biết khá rõ về kết quả học của Hằng nên hầu như các thầy chỉ hỏi những câu hỏi chính mà không cần đặt câu hỏi phụ nên Hằng thi rất nhanh chứ không như các bạn khác luôn bị các thầy vặn vẹo cho đến là khổ. Cùng với kết quả thi đạt điểm năm cho toàn bộ các môn học Hằng được nhà trường khen và được cả Đoàn thanh niên khen về thành tích học tập và lao động. Sau này thầy giáo chủ nhiệm lớp sửa chữa tua bin có nói với cả lớp rằng Hằng là một trường hợp chỉ có một từ trước đến giờ và có lẽ cả về sau này nữa cũng khó có thể có lại trường hợp như thế này một lần nữa. Đọc đến chỗ này có thể có người nghĩ đây là truyện ký và đoạn trên có phần hư cấu theo thể truyện. Cũng xin nói rằng đây là đoạn sự thật viết theo thể ký. Với toàn bộ các điểm tổng kết và điểm thi của các môn đạt điểm năm, Hằng là một trong những học sinh học vào loại khá nhất của trường lúc đó, nên đi đâu Hằng cũng được các thầy các bạn biết đến.

                            

                                                RA TRƯỜNG

 

                                                           1

 

Tất cả các bạn trong lớp đều đã có danh sách  chuyển về các đơn vị trong ngành. Đoàn thì về ngay nhà máy điện Thái Nguyên, đoàn thì đi nhà máy điện Uông Bí, đoàn thì đi Hà Bắc, cũng có một số có cha, anh trong ngành đến tận trường xin chuyển cho con cái của họ. Lớp của Hằng có đến mười hai người đi Thanh Hoá, số còn lại thì đi Nam Định và bổ sung con số cho các đoàn khác. Chỉ còn có mỗi Hằng là vẫn chưa có tên ở một đoàn nào. Số nhà gần thì đã ba lô khăn gói đi ngay từ chiều hôm nghe thông báo, chỉ còn những người ở xa phải chờ cắt lương thực, hộ khẩu là sẽ lên đường.

Các thầy thì đi vắng cả, còn lại ai thì cũng bận họp liên miên, chả lẽ lại cứ xông vào chỗ các thầy đang họp để hỏi thế thì bất lịch sự quá, rõ là sốt ruột mà không biết làm gì. Cũng đành về nhà cụ Tô Long nằm khèo một chỗ, đánh giấc để chờ vậy.

Giật mình dậy thì trời đã muộn Hằng vội vàng đi ra Thác Lở để tìm thầy chủ nhiệm. Vừa gặp đã nghe thầy nói:

- Thầy đi tìm để thông báo cho em biết quyết định của trường mà không biết em bỏ đi đâu.

Sau khi hỏi han đôi chút về nguyện vọng thầy kín đáo nói cho Hằng biết quyết định của trường về việc giữ Hằng lại để làm giáo viên của trường. Thầy dặn cứ bình tĩnh chờ đợi thông báo chính thức của trường. Lúc chi tay thầy còn nhấn mạnhS, thầy bảo:

 - Việc này đã bàn từ lâu, bây giờ chỉ còn chờ hiệu trưởng duyệt lại một lần để rồi ra quyết định là xong.

Hằng ra về với sự băn khoăn lớn mà không biết nói cùng ai. Kể ra mà nói việc được giữ lại ở trường là điều mong ước của rất nhiều người, chỉ có Hằng là lại không thấy thích lắm. Cái điều mà Hằng không thích xưa nay là công việc giấy tờ, công việc ngồi bàn giấy vậy mà ở lại dạy học thì chả phải cái nghiệp bàn giấy đó là gì . Tuy nghĩ vậy nhưng Hằng không thể nói ra vì nói ra về cái sự thích hay không thích ấy là không yên tâm công tác, không chấp hành kỷ luật, không chấp hành nhiệm vụ rồi thiếu vững vàng tư tưởng lập trường. Ngày ấy không kể chỉ có đảng viên, đoàn viên mà cả những ông bà dân thường khác cũng phải giữ vững lập trường tư tưởng.

Đã qua đi một ngày, số học sinh còn lại ở trường chả còn lại bao nhiêu vậy mà Hằng vẫn chưa nhận được thông báo gì về công tác của cậu. Chiều nay các thầy sẽ họp xong nên có thể quyết định sẽ khá muộn đây, Hằng nghĩ thế rồi đi đi, lại lại từ nhà ra trường để chờ thầy chủ nhiệm.

Có lẽ Hằng đi lại đến ba lượt thì mới gặp được thầy. Từ xa nhìn thấy thầy hình như có chuyện gì buồn thì phải nên Hằng không vội vã đến với thầy như mọi khi. Cậu cố tìm hiểu trong đầu và dự đoán linh tinh các lý do có thể xảy ra, nào là thầy gặp chuyện buồn trong gia đình, thầy có khúc mắc với thầy nào khác trong lúc họp chiều nay.

Thế rồi cái sự buồn ấy cũng được thầy nói ra. Câu nói của thầy có vẻ chậm rãi hơn ngày thường, hình như thầy cố chọn cách nói thế nào cho nhẹ nhàng nhất:

-Trường mình thế là sẽ phải giải thể em ạ!

Thầy dừng lại chờ xem Hằng có hỏi gì không. Có lẽ thầy nghĩ cứ để cho Hằng từ từ hỏi còn thầy giải thích có lẽ sẽ làm cho câu chuyện đi đến đoạn kết  bình ổn hơn chăng!

Thế rồi quả nhiên cách nói của thầy đã đưa được Hằng vào quỹ đạo của thầy. Chờ mãi mà chưa thấy thầy nói gì thêm Hằng đành hỏi:

- Có lẽ thế thì trường chẳng cần thêm giáo viên nữa phải không thầy?

Thầy không trả lời thẳng vào câu hỏi của Hằng mà thầy lại dùng câu hỏi để hỏi lại:

- Không còn được ở lại trường nữa em có buồn không?

Lần này thì Hằng lại im lặng làm cho thầy phải nhìn thẳng vào Hằng như có ý bảo hãy trả lời tôi đi chứ.

Tuy rằng Hằng cũng chẳng có ham thích ở lại trường nhưng mà từ khi thầy bảo cho Hằng biết, Hằng coi như mọi sự đã an bài rồi, đến nay lại thay đổi trách nào không thể không thấy cụt hứng, không buồn, không khó chịu. Hằng cũng không trả lời thẳng vào câu hỏi của thầy mà lại trả lời thầy bằng một câu hỏi:

- Thưa thầy…Không biết em sẽ đi đâu?

- Em sẽ đi Thanh Hoá! Trong ấy họ cần rất nhiều người để khôi phục nhà máy vừa bị đánh phá. Cũng hơi khó khăn đấy nhưng thầy tin là em sẽ vượt qua!

Đây cũng là buổi nói chuyện cuối cùng của thầy với Hằng, bởi ngày mai thầy được trường cho nghỉ phép về quê ở mãi tận Thái Bình đến hơn mười ngày thì phải. Trong câu chuyện tiếp theo giữa hai thầy trò Hằng nhận thấy hình như thầy muốn khoả lấp cái sự ân hận vì đã gieo vào lòng cậu học sinh yêu quý của mình một sự mừng hụt quá lớn.

Hằng không còn buồn về cái sự ở lại trường hụt nữa mà lại nghĩ về cuộc đi Thanh Hóa của mình sắp tới với bao nhiêu lo lắng, ưu tư. Hằng cũng nói về điều đó cho thầy nghe và khuyên thầy đừng buồn về sự việc vừa qua vì thực tế Hằng cũng không thích ở lại trường. Chắc thầy không tin điều đó là thật mà chỉ cho rằng cậu ta nói vậy để cố an ủi mình mà thôi. Dù sao thì cả hai thầy trò cũng đã tươi tắn trở lại. Hai thầy trò chia tay chào đi, chào lại trong khi hoàng hôn đang tím dần đi nơi xóm núi Thác Lở đầy kỷ niệm.

 

                                                           2

 

Sau một vài ngày về qua nhà chơi bời với các bạn bè và người thân Hằng lại gói ghém đồ đạc để đi nhận công tác. Hằng cũng biết là đi Thanh Hoá bây giờ là vào nơi chiến tranh nguy hiểm, nhưng cái sự nguy hiểm nó đến mức nào thì Hằng không biết, cho dù Hằng đã một vài lần gặp các cuộc oanh kích của bọn giặc lái Mỹ ở Mẹt, ở Thái Nguyên. Tuy nhiên sau mỗi đợt bom rơi đạn nổ thì mọi cái lại trở về trạng thái yên tĩnh nên cái sự chiến tranh cũng chẳng làm Hằng để tâm đến. Mẹ Hằng thì lo lắng lắm nhưng thấy con trai cứ tươi hơn hớn thì cũng thấy yên tâm hơn. Bà nhắc lại câu mà bà bảo đấy là lời bố Hằng nói lại sau khi xem đi xem tử vi của cậu từ hồi cậu còn bé tý.

- Bố mày bảo bỏ mày ở bờ tre, mày cũng không chết được.

Bà mẹ của Hằng là người không biết chữ, nhiều điều mà bà hiểu biết thường ngày đều là do bà nghe lại từ sự truyền khẩu từ người này qua người khác. Lẽ tất nhiên là bà rất tin ở chồng vì trong con mắt bà, ông là người hiểu biết hơn nhiều người khác nên ông đã nói là sẽ không sai.

Cũng không biết bà có tin thật về lời dự đoán của chồng không hay là bà chỉ muốn nhắc lại lời của ông để tự trấn an mình khi đứa con trai bé bỏng của mình sinh ra trong đói rét rồi lại nuôi nấng trong khó nhọc lắm mới lớn được ngần này sắp sửa đi vào nơi bom rơi, đạn lạc chín phần chết mới có một phần sống.

Hằng ra đi vào một buổi chiều mùa đông ảm đạm chẳng có cỗ bàn chia tay như nhiều người khác và chẳng có ai cho quà cáp hoặc tiễn đưa. Cũng vẫn là cái ba lô và một số đồ đạc mang từ trường về, hôm nay lại vẫn nguyên như thế để ra tầu. Chuyến tầu đêm Yên Viên sang Hà Nội chuyển tầu đi thanh Hoá tại ga Hàng Cỏ vào lúc hơn mười giờ. Tầu thời chiến không thắp đèn để phòng máy bay giặc phát hiện đánh phá vậy mà cũng chật ních như nêm cối. Có lẽ tầu quá dài và lại phải chờ các tầu khác nên nó đi chậm rì rì như rùa bò. Từ trong tàu nhìn ra chỉ thấy một màu đen của bóng tối cùng với những lùm cây, nhà cửa cũng một mầu đen thoắt hiện thoắt ẩn. Bên trong tầu mùi hơi người nồng nặc thật khó chịu, nhất là lúc tầu dừng lại chờ đợi hàng tiếng đồng hồ. Mọi người đều mệt mỏi thiếp đi dựa ngả vào nhau im lặng sau khi đã tranh nhau kể về chiến thắng này, chiến thắng khác ở miền Nam, rồi lại đến chuyện ta bắn rơi máy bay ở chỗ này, chỗ khác trên miền Bắc.Thực ra thì những tin tức trên đã được các đài phát thanh phát cả ngày rồi và có lẽ mọi người đều đã biết, thế nhưng mà họ vẫn cứ muốn nói để mà tự hào về những gì mà ta đã làm được trong cuộc chiến giữa một đất nước nhỏ bé với một tên đế quốc đầu sỏ đứng đầu cái thế lực thực dân, đế quốc của cả thế giới này.

Trời đã sáng rõ dần ra, mọi người đã tỉnh cả dậy và trở lại không khí ồn ào, ầm ĩ vốn có ở chỗ đông người. Tầu đã dừng hẳn lại sau một cú phanh giật lên, giật xuống mấy lần. Một giọng nói ề à theo kiểu nhà tầu cất lên thông báo về điểm trả khách cuối cùng bởi cầu Lèn bị hỏng chưa chữa xong, đường từ ga Thanh Hoá ra Lèn cũng vừa bị hỏng đêm qua, nên tầu tăng bo ở ga Thanh Hoá cũng không ra được. Thế là lại phải cuốc bộ dài dài đây, thật là cái số không may! Sao mà lắm cái không may đến thế.

Đang lóc ca lóc cóc với mấy thứ đồ đạc trên vai sải bước cùng với mồ hôi toá ra ướt đẫm cả lưng áo thì nghe có người gọi rối lên ở đằng sau. Kể ra thì nghe gọi đúng là tên mình nhưng cậu lại nghĩ trên đời này thiếu gì người có tên như thế, hơn nữa chỗ này làm sao mình có người quen được nên cậu chẳng thèm quay lại. Mãi đến khi có ai đó vỗ vào vai cậu mới giật mình quay lại. Đang định nổi đoá với cái người vừa làm cậu giật mình thì cậu lại há hốc mồm ra vì không phải ai khác mà là mấy cậu bạn cùng học một lớp của trường điện Thái Nguyên.

Trông thấy dáng điệu bơ phờ lôi thôi, lếch thếch của các cậu bạn làm cậu buồn cười quá, tý nữa thì sặc nước lên mũi. Cậu nghĩ có lẽ mình cũng giống mấy cậu bạn này nên hết ngẩng lên lại cúi xuống tự ngắm lại mình. Bắt tay nhau xong rồi tất cả lại cùng vừa đi vừa trò chuyện. Chuyện ồn ào hơn cả là Thạch Văn Bát quê ở Yên Viên, Gia Lâm. Bát mang ít đồ nên cậu ta đi rất khoẻ, kể chuyện như một cái máy. Lì xì ít nói hơn cả là Nguyễn Văn Mở quê ở Vân Trì, Đông Anh. Mở vừa thấp lại vừa bé nhưng gói đồ thì lại to quá trông  cậu ta cứ như một cậu bé con.

 

                                                            3

 

Quãng đường đi cũng đã dài  mà hình như càng ngày người đi đường lại càng thưa hơn thì phải. Sau khi vượt qua chiếc cầu sắt không có lan can được kê đỡ bằng những chồng tà vẹt từ dưới sông lên thì lại đến một chiếc cầu sắt đầy vết đạn cùng những thanh lan can cong queo rỉ đỏ, những tấm ván gỗ lát sàn bong ra  rải rác trên mặt thì các cậu không còn đường đi nữa. Đang thất thưởng vừa đi vừa ngó nghiêng, đoán già, đoán non xem đây có phải là cầu Hàm Rồng hay không thì có một người mặc quần áo gụ, dáng chừng là một nông dân vội vã đi ngang qua đầu cầu, thế là tất cả đều xô lại để hỏi thăm. Người ấy cũng không dừng lại mà còn đi nhanh hơn, vừa đi người ấy vừa trả lời:

- Đây chính là cầu Hàm Rồng đấy, các anh mau đi nhanh xuống phía cầu phao Nam Ngạn mà sang. Bây giờ đã gần đến giờ cao điểm, nó lại sắp đánh bây giờ đấy, mau đi nhanh lên!

Nghe đến đây thì các cậu mới giật mình hoảng sợ vội vàng chạy một mạch bên dưới chân một hòn núi đá loang lổ vết bom đạn để xuống đê tìm cầu phao Nam Ngạn. Đến khi qua được cầu phao rồi các cậu mới thấy được cái sự mệt mỏi do quá gắng sức. Mãi cho đến lúc này Hằng vẫn không khỏi ngạc nhiên về chuyện cái cầu và cả quang cảnh yên tĩnh trên suốt quãng đường đi từ sớm đến giờ. Hằng không thể ngờ rằng mình đã vừa đến được Hàm Rồng, nơi mà mới chỉ ít tháng trước đây được nhắc đến như là một nơi khốc liệt của chiến tranh. Còn nữa, nơi mà cả nước ngưỡng mộ bởi những chiến công oanh liệt vào loại bậc nhất trên miền Bắc của những con người và mảnh đất nơi đây. Cái ngọn núi lở lói kia có phải là núi Ngọc hay không mà sao tất cả đều im lặng, bình thản đến lạ kỳ.

Vừa đi vừa quay nhìn lại nơi mình vừa mới đi qua Hằng nhận ra một khu vực nhà cửa khá đồ sộ nhưng đã bị bom đánh trơ ra. Các bức tường gạch đỏ nham nhở vết thương bên cạnh là những thanh sắt như những con rắn ngóc đầu uốn lượn thành những đường cong kỳ dị phô cái màu rỉ nâu đỏ trông đến thảm hại. Từ xa nhìn lại ta như thấy cả sự hoang tàn đổ nát của nó hiển hiện trên bầu trời màu chì xám ngắt, có cái gì đó làm cho ta phải gai gai trong ý nghĩ về những gì rất nguy hiểm sẽ sắp sửa xảy ra.

Cầu phao là những đám tre luồng, ván gỗ hỗn độn lát trên những thùng phao bằng thép nối vào nhau nổi trên mặt nước. Những khi yên tĩnh các phao được chắp nối vào nhau cho người và xe đi qua, những khi có máy bay thì lại được tháo ra sơ tán dọc theo hai bờ đê. Kể ra mà nói thì đáng lẽ ra lúc này cầu đã phải tháo ra để sơ tán, nhưng vì thời tiết hôm nay có vẻ xấu, giặc Mỹ cũng ít hoạt động vì thế nên cầu vẫn còn để đến bây giờ. Số khách qua cầu cũng đã được nhắc nhở đi nhanh để cho các nhân viên tháo cầu sơ tán.

Con đường đê nối từ đầu cầu phía nam vòng vào giữa làng Nam Ngạn rồi đi tiếp lên phía thị xã chắc đã nhiều lần được đổ đá nên bề mặt có vẻ cứng. Rải rác có các đoạn bị bom đánh đã lấp lại nhưng vẫn tạo ra một khoảng lõm gồ ghề khá lớn chứa trong đó những ổ bụi ngập qua mắt cá chân, mỗi lần có cậu dẫm phải lại làm cho cả bọn chạy té ra hai bên để tránh. Vừa mới bắt đầu chạm vào đầu làng Nam Ngạn thì cả bọn gặp hai ông già mặc áo bảo hộ đạp xe đạp từ phía thị xã đi ra. Hằng nghĩ có lẽ đây là những công nhân ở trong khu vực này nên hỏi có thể họ sẽ biết cơ quan nhà máy điện ở đâu. Nghĩ thế nào làm thế ấy cậu liền đứng ra gần giữa đường có ý ngăn họ lại để hỏi thăm:

- Hai bác cho cháu hỏi thăm một tý ạ? Hai vị khách mặc áo bảo hộ liền phanh xe dừng lại, một người cao lớn có khuôn mặt rất vui cất tiếng sang sảng hỏi lại:

- Các anh hỏi gì nhỉ?

Hằng mau mắn trả lời:

- Chúng cháu ở trường điện lực được cử về Nhà máy điện Thanh Hoá công tác mà tìm mãi vẫn không biết cơ quan ở đâu, không biết các bác có thể chỉ đường hộ cho chúng cháu được không ạ!

- Thế hả! Chúng tôi là nhà máy điện đây.

Bác cao lớn vừa trả lời vừa chỉ tay vào người thấp nhỏ đi cùng với mình và nói như có ý giới thiệu:

- Bác này là bác Hổ tổ trưởng tổ sửa chữa máy, còn tôi là Long tổ trưởng tổ sửa chữa lò. Có cậu nào học sửa chữa lò không đấy?

- Dạ, chúng cháu đều là sửa chữa ạ, có cả lò và máy.

- Thế thì tốt quá rồi, bây giờ chúng tớ phải ra nhà máy, các cậu cứ theo con đường lớn này mà đi đến ngã ba Bia thì hỏi thăm đến khu nông lâm thổ sản là nơi phân xưởng cơ điện sơ tán về đó.

Nói xong hai ông già lại giơ tay chào rồi tiếp tục lên xe đi ra phía đầu cầu. Tất cả mấy anh em cũng bắt đầu  cuốc bộ về phía thị xã Thanh Hoá.

 

                                                     4

 

Vừa đi vừa hỏi thăm mãi rồi cũng đến được phân xưởng Cơ điện. Những người gặp đầu tiên lại chính là các cậu cùng lớp quê ở Thái Bình và Nam Định. Sau một hồi líu ríu chuyện trò, hỏi han nhau xong các cậu vào trước dẫn số mới lên gặp lãnh đạo trên phân xưởng. Không may cho các cậu là ông quản đốc lại lên nhà máy để họp, thế là các cậu đành kéo nhau về phòng của các bạn để nghỉ. Số bạn vào trước lại xuống nhà ăn báo cơm hộ rồi cả lũ kéo nhau ra ngoài phố uống nước. Với cái phố thị xã thời chiến lúc này thì cũng chẳng có gì đáng kể gọi là ngon để mà đãi nhau. Quanh đi thì nước mía, quanh lại cũng chỉ có nước dừa, uống mãi chỉ tổ đầy bụng, thế là lại về nhà. Mệt mỏi và buồn Hằng ngủ một mạch đến lúc mấy cậu bạn gọi đi ăn cơm mới dậy.

Xuống nhà ăn cậu thấy ai ai cũng lạ, mỗi người đều có những bộ cặp lồng hoặc ít ra cũng có mấy cái bát men to để đựng cơm canh và thức ăn mặn còn Hằng chẳng có một thứ gì. Đang không biết xoay xở ra làm sao thì có một người mang đến cho mượn bộ cặp lồng men vàng, người ấy lại bảo:

- Mấy thằng ấy nó ăn xong đã kéo nhau đi chơi hết cả rồi, chú mang đồ vào lấy cơm ăn đi không có nguội.

Lúc ấy Hằng cũng không biết anh ấy là ai, mãi đến sau này cậu mới biết người hôm ấy cho mượn cặp lồng là anh Tảo làm trong tổ máy mà sau này cậu cũng về làm việc ở đó.

Mãi tới chiều hôm sau số công nhân mới được phân xưởng bố trí về các tổ. Tất cả mọi người đều được bố trí vào các tổ theo đúng với nghề của mình. Lò về Lò, máy về Máy, chỉ có một vài người được về các tổ trong mô hình mới của phân xưởng ví như Thảo thì về tổ Van. Cũng có một số vào trước thì lại bị bố trí sang phân xưởng vận hành như Nhâm, Hưng, Vũ.

Hàng ngày các tổ đều phải đi bộ từ nơi ở ra nhà máy để làm việc. Quãng đường đi cắt ngang một cánh đồng khá rộng, vòng qua làng Đông Tác, bắt vào khe núi Cánh Tiên rồi mới vào nhà máy. Trên suốt dọc đường là những hố bom sâu hoắm, cái mới giáp vào cái đã cũ, nếu nhìn từ trên cao xuống ta cảm thấy giống như một cái bánh đa nướng với những chỗ phồng lên xẹp xuống kề cận bên nhau.

Khu vực nhà máy còn bị tàn phá càng ghê gớm hơn sau ba ngày từ hai mốt đến hai ba tháng chín năm sáu sáu. Toàn bộ khu lòng chảo của nhà máy được bao lại bởi phía bắc là khu công nghiệp máy xay cùng với đường đê nam sông Mã, phía tây là con đường sắt cùng với cầu Chui chạy dọc chân núi Mắt Rồng, phía nam là dãy đồi Quyết Thắng và phía đông là núi Cánh Tiên đã bị giặc Mỹ đổ xuống hơn bẩy ngàn tấn bom đạn. Theo như đài địch tuyên truyền lúc bấy giờ là chúng đã huỷ diệt hoàn toàn nhà máy điện này của Việt Cộng. Sự thật phải nói rằng hầu như toàn bộ mảnh đất đã bị cày xới, đào ngoáy lên không còn sót một chỗ nào rộng quá chục mét vuông. Còn việc có huỷ diệt được như kẻ thù đã nói thì hoàn toàn không, bởi vì sau đó không lâu nhà máy lại đã phát điện trở lại. Có điều đáng nói là cho dù ác liệt là thế mà đơn vị vẫn bám lò, bám máy để sản xuất, sự mất mát lớn nhất lúc ấy là sự  hy sinh của một người chiến sĩ tự vệ nhà máy.

Công việc sửa chữa chính bây giờ là làm sao để nhà máy sớm đi vào hoạt động. Ngoài những việc tháo gỡ các dầm xà bê tông nặng hàng dăm chục tấn ra khỏi các thiết bị còn có một việc là phải hàn vá mấy miếng thủng trên mình nồi hơi. Đây là việc nan giải nhất cần phải bàn bạc, bởi việc hàn vá nồi hơi là việc không được phép làm trong quy trình quản lý và sử dụng các thiết bị áp lực.

Thực ra những người chủ trương hàn vá nồi hơi  không phải họ không biết điều đó, họ đã nghĩ rằng họ có thể gặp điều không may do làm sai quy trình, nhưng họ hiểu sẽ còn không may hơn là nếu không có điện phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu, thì rồi cái sự tàn sát của kẻ thù còn làm cho cái sự chết chóc lớn hơn thế rất nhiều. Sự quả cảm và ý chí quyết thắng đã cho họ có một tiếng nói chung là phải làm cho bằng được.

Ngay sau khi có chủ trương hàn vá nồi hơi là công việc được tiến hành ngay. Những người cán bộ đảng viên và những bộ phận có chuyên môn này được huy động tới mức cao nhất. Lực lượng công nhân mới cũng được tập trung vào công việc ngay trong những ngày đầu tiên về phân xưởng. Đắp lò, cắt phôi, nung phôi cho đỏ rực lên rồi dùng búa cái bẩy cân thay nhau đánh xuống bề mặt những tấm tôn thép dày gần ba mươi ly để uốn thành các tấm có hình cong phù hợp với hình dáng của nồi hơi. Rồi cắt gọt, tạo vát, đánh bóng cả chỗ thủng lẫn miếng vá chuẩn bị cho công nghệ hàn vá. Sau này Hằng được biết công việc ban đầu mà các cậu đã được tham gia ở một vài công đoạn đã được thực hiện thành công và được ca ngợi hết lời trong ngành điện.

 

                                                         5

 

Những ngày sống ở ngã ba Bia thật là náo nhiệt, náo nhiệt bởi đám trẻ mới từ vùng ngoài chuyển vào  ăn chơi, phá phách. Chỗ nào cũng thấy bóng dáng của họ lồ lộ ra bởi sự khác lạ trong ăn mặc, đi đứng, nói cười, cả trong lúc đi làm việc cũng như trong khi họ vui chơi. Nhất là những ngày chủ nhật hoặc ngày nghỉ, họ ở xa không thể về nhà được, thế là từng đoàn kéo nhau đi rong khắp các phố từ sáng đến chiều.

Từ lâu nay những người dân ở cái thị xã của khu vực giáp khu Bốn miền Trung này luôn sống rất bình lặng cả về mọi mặt, thế mà chỉ sau có mấy ngày những cái đầu xoáy tây Đức, những bộ tóc mai uốn cong, những đuôi tóc rậm rạp ốp vào gáy chờm ra cả bên ngoài cổ áo cứ bất chợt xuất hiện làm cho lớp người lớn cảm thấy khó chịu khi gặp ngoài đường, còn lũ trẻ mới lớn thì trố mắt ra mà nhìn với vẻ thích thú và tán thưởng, và cũng  không lâu sau đã gây phiền toái cho những ông thợ cạo về những yêu cầu mới cho những cái đầu của họ. Lại còn quần áo của họ mới thật đáng sợ, có cậu thì quần bó sát mông, sát cẳng, có cậu thì lại loè xoè với chiếc quần ống loe mà lỗ miệng gấu quần rộng đến mức cả con lợn con chui vào cũng lọt.

Chỉ với mức lương bậc hai thôi nhưng mỗi ngày đến nhà máy là mỗi người lại được thêm tiền đi đường, tiền độc hại, tiền bồi dưỡng hiện vật thành ra mỗi ngày họ cũng được gần đến một đồng nữa, nên lương của họ đã tương đương với lương của công nhân bậc năm chứ đâu phải ít. Lẽ dĩ nhiên là họ tiêu pha xả láng bởi họ đều chưa có gia đình, chưa phải lo toan cho ai khác ngoài cái bản thân của họ. Nhưng cái chính là họ xa nhà và lại còn quá trẻ, cái sự ham chơi và cả cái bệnh sĩ diện, thích tỏ ra mình là người sành điệu ăn chơi theo kiểu thành phố lớn mà ra. Kỳ thực thì đa số họ sinh ra, lớn lên ở các vùng nông thôn là chính. Trước đó chưa  lâu họ cũng vẫn cày bừa, gặt hái lăn lê ngoài đồng ngoài ruộng như những người dân thôn quê thực sự chứ cũng chẳng ghê gớm gì đâu. Tuy chơi bời vậy nhưng sự dũng cảm, lỳ lợm trong bom đạn, sự cần mẫn, sáng tạo trong lao động sản xuất và các việc hoạt động trong đời sống hàng ngày thì không ai có thể chê họ vào đâu được.

Công việc phục hồi nhà máy gần xong về cơ bản thì việc phục hồi nhà máy thuỷ điện Bàn Thạch cũng đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thành, thế là lại phải thành lập một bộ phận mới để làm công việc này. Một chuyến ô tô tải với đủ cả người lẫn máy chồng chất lên đó để đi lên Thọ Xuân làm việc đã khởi hành. Hằng và một số bạn ở các tổ khác cùng với một số công nhân cũ đã lên Thọ Xuân ngay sau cuộc họp phân xưởng buổi chiều hôm đó.

Sau khi dỡ hàng xong thì mọi người được phòng hành chính của Bàn Thạch dẫn đi đến các nhà dân quanh khu vực nhà máy để ở trọ trong những ngày phục hồi nhà máy. Hằng được dẫn đến một gia đình ở ngay cạnh đường rẽ vào xí nghiệp Công nông của huyện Thọ Xuân cũng sơ tán gần khu vực nhà máy. Cũng chỉ kịp ném cái túi du lịch bằng bạt cùng với chăn màn quần áo xuống cái giường mà chủ nhà dành cho mượn xong là vác bát ra nhà ăn để ăn cơm tối. Ngoài việc ăn uống các cậu trẻ còn chuyện vãn một lúc lâu nên mãi tối mò mới về đến nhà trọ.

Rửa ráy xong xuôi Hằng mang từ trong túi ra bàn một gói bánh nướng cùng với một gói nhỏ các loại kẹo của công ty bánh kẹo Thanh Hoá làm ra và bán phân phối cho cán bộ công nhân nhà nước. Gọi là bánh nướng cho sang vậy thôi chứ thực ra thì cái chất trong nó chẳng có gì. Tất cả đều là bột mỳ trộn đường, ngào nước làm vỏ bọc một chút nhân bên trong cũng bằng bột mỳ lẫn bột khoai với một tý đậu không biết là loại đậu nào được trộn nhiều đường hơn một chút cho giống kiểu chè kho ở vùng ngoài rồi đem nướng lên trong lò như nướng bánh mỳ vậy thôi. Còn kẹo thì càng thảm hại hơn nữa, nó cũng được trộn bằng bột mỳ với đường rồi nhào lẫn với vài mảnh lạc rang, cán ra cắt thành thỏi vuông bằng ngón tay cái bọc giấy vào là thành. Có lẽ nên gọi nó là viên chè lam chế biến hơi khô thì đúng hơn, chè lam còn được làm từ gạo nếp chứ kẹo của Thanh Hoá lúc ấy thì thật đáng ngại.  Cánh công nhân trẻ vẫn quen gọi loại kẹo này là gạch xỉ tro lò bởi nó tuy nhỏ nhưng màu của nó, dáng của nó có cái kích thước rất tỷ lệ với viên gạch được đóng bằng xỉ lò với một chút vôi rất chi là khiêm tốn.  Kể ra mà nói thì lúc ấy có những thứ ấy cũng đã là quý lắm rồi vì chỉ ở cơ quan nhà nước mới được phân phối còn ở ngoài thị trường làm gì có mà mua vì vậy mà mấy đứa trẻ con nhà chủ vẫn rất say sưa ăn đến viên kẹo cuối cùng, lẽ dĩ nhiên là các cô, các cậu nhí rất thích ông anh công nhân trẻ và trắng như con gái vừa đến ở nhà mình.

Sau khi hỏi han về gia đình rồi quê quán của người đến ở trọ xong cả ông lẫn bà đều xởi lởi thông báo về hoàn cảnh của nhà để cho cậu khách bất đắc dĩ tiện trong sinh hoạt hàng ngày. Qua thông báo của nhà chủ Hằng biết được nhà có người con lớn là một cô bé mới độ mười sáu tuổi cao lều nghều vừa chạy ở đâu về là thụt ngay vào buồng với mẹ. Thế có lẽ cũng tốt, cũng đỡ cho mình khỏi phải giữ ý, giữ tứ; một việc mà cậu vẫn rất ngại từ trước đến giờ.

Máy thuỷ điện của Bàn Thạch công suất rất nhỏ, cả ba máy chỉ có chín trăm ki lô oát, được đặt đứng xuyên qua ba tầng nhà máy. Phần dưới cùng là buồng xoắn cùng với thùng côn, các cửa hướng nước và ba cánh quạt của tua bin to như những cái nia. Phần giữa là cấu trúc ổ trục định hướng bằng cao su cùng với các đường nước lọc bôi trơn cho trục khi quay. Tầng trên cùng là máy phát điện cùng với thiết bị điều khiển và các máy ngắt. Tất cả tầng trên được che chắn bằng một giàn gỗ xẻ xếp chồng lên mấy lớp để phòng khi máy bay đánh phá không làm cho máy bị hỏng quá nặng. Lần đánh phá vừa qua chỉ làm cho các thiết bị ngoài nhà máy bị hư hại, còn nhà máy chính có lẽ chỉ  bị nghiêng đi một chút thì phải. Tuy vậy công việc phục hồi cũng không thể một sớm, một chiều mà xong được.

 

                                                      6

 

Các công việc phục hồi cuối năm 1966 của nhà máy điện được kết hợp với việc vét đất cát trên lòng sông nông giang khơi thông dòng chảy ở phía thượng lưu nhà máy do địa phương đảm trách nên cùng một lúc có đến hàng mấy trăm người cùng làm việc trên một khu vực. Những chàng trai, cô gái vừa làm vừa trêu ghẹo lẫn nhau, tiếng hò, tiếng hát ầm vang tưởng như đất nước đang ở khung cảnh thanh bình nếu như thỉnh thoảng không có tiếng rít của các máy bay Mic cất cánh bay lên từ phía sân bay Sao Vàng gần đó để cảnh giới và chặn đánh bọn Thần Sấm, Con Ma của Mỹ vẫn cắn trộm hàng ngày.

Cũng chỉ không quá mười ngày thì đám dân công của các xã quanh khu vực nhà máy cũng đã rút hết chỉ còn trơ lại mấy người công nhân sửa chữa. Công việc phục hồi ở khu cửa điều tiết, khu âu thuyền và cả các cửa cống thượng lưu tuy nhiều nhưng lại đơn giản nên số công nhân sửa chữa cũng đã rút bớt về thị xã, chỉ còn bốn năm người của tổ máy là phải ở lại. Trong số họ hầu như đều đã có gia đình cả chỉ còn ba người chưa có gia đình thì trong đó Loan đã có người yêu sắp cưới, chỉ còn mỗi anh Khâu và Hằng là chưa có một tý tình yêu nào. Kể ra mà nói thì cả anh Khâu cũng đã có ý trung nhân rồi thì phải vì Hằng thấy các anh lớn vẫn nhắc đến để trêu anh Khâu về một cô Hải nào đó ở cơ khí 250 và một cô Dung nào đó ở trên khối văn phòng của nhà máy. Thường khi mọi người trêu, anh lại đưa hai tay ra khoanh một vòng từ trên xuống dưới vẽ ra một không gian dựng đứng thắt nhỏ ở giữa còn hai đầu thì phình ra cực lớn ý chừng như muốn bảo rằng mấy cô này lùn tịt còn mông và ngực thì lại quá to nên khó chấp nhận được. Chỉ có Hằng là hoàn toàn chưa yêu ai cả nên cậu rất vô tư luôn chỉn chu với công việc hàng ngày.

Sau tám tiếng ban ngày lại đến bốn tiềng ban đêm, về đến nhà là cậu lăn ra ngủ không còn biết giời đất là gì nữa. Kẻng báo động máy bay khua ầm khắp xóm mà cậu cũng chẳng chịu ra hầm. Hết bác trai lại đến bác gái chủ nhà vào dựng dậy cậu cũng chỉ nhỏm dậy một tý rồi lại ngã kềnh ra giường ngủ tiếp. Cũng có lần cậu bị đánh thức thì bất chợt thấy cô bé Hương con nhà chủ đang lôi tay kéo dậy. Lần ấy vì thấy cô ấy cầm tay kéo nên cậu đành phải dậy đi ra hầm, tuy vậy nhưng mà cậu cũng chỉ ngồi ngay trên miệng hầm mà không chịu xuống bên dưới.

Công việc sửa chữa khó khăn nhất là việc căn chỉnh độ thẳng đứng của cả hệ trục và độ trùng tâm của các đoạn trục nối với nhau mà từ trước đến nay chưa phải động đến. Lần này do bị đánh phá nên hệ trục bị sai lệch quá nhiều, nếu không điều chỉnh lại thì không ai dám quyết định cho chạy máy.

Việc căn chỉnh độ thẳng đứng và độ đồng tâm của hệ trục được tiến hành bằng cách đo khoảng cách từ trục ra đến các sợi dây dọi nằm ở bốn hướng quanh trục để biết độ sai lệch mà điều chỉnh. Việc đo đạc, lấy thông số thường phải làm rất lâu mới xong. Nhưng để có thể căn chỉnh được thì sai lệch của thông số trong quá trình đo đạc phải ở trong giới hạn cho phép mới có thể đem ra tính toán được. Việc này không phải là một việc khó, nhưng lại cần ở người đo có độ thính nhạy và thật sự đồng bộ giữa đôi tay và đôi tai để đến khi vừa nghe thấy tiếng kêu sột soạt ở tai nghe là dừng tay vặn Panme thì con số sẽ chính xác. Tuy vậy cái sự thính nhạy ấy không phải ai cũng giống ai. Chính vì thế mà những người đo có kinh nghiệm nhất cũng chỉ có thể tóm được một vài lần trong cả chục lần đo. Cái sự căn chỉnh buộc phải kéo dài có khi cả ngày mà vẫn không xong là thế. 

Sau mấy ngày Hằng cầm các cục pin và tai nghe theo sát người đo mà vẫn không xong được máy nào thì cậu cũng thấy nản. Lắm khi ngồi chờ đo buồn ngủ đến ríu cả mắt lại. Cứ mỗi lần thay đổi vị trí là anh Khâu và anh Dưa lại phải gọi cậu dậy để chuyển chỗ. Mỗi lần bị gọi dậy cậu lại lơ ngơ như mới lạc ở đâu về làm cho các anh ấy buồn cười đến rũ cả ra:

- Bò lạc của nông trường đây, chúng mày ơi!

Đo chán lại nghỉ uống chè và hút thuốc lào, nước  thuốc xong rồi lại đo nhưng cũng chẳng hơn gì. Cũng đã mấy ngày rồi mà vẫn chưa xong lấy một tổ máy, ai cũng thấy mệt mỏi. Vừa hút xong điếu thuốc anh Khâu vừa thở vừa phàn nàn về công việc với vẻ chán chường, mệt mỏi. Lưng dựa vào thành Stato máy phát điện, hai chân để soải ra trên mặt đất anh Khâu ngoái đầu về phía Hằng:

- Này! Da tay mày có vẻ mỏng, lần này cho mày đo thử để tao cầm pin cho.

Suốt mấy ngày phụ đo vừa rồi cậu cũng đã hiểu cách đo rồi nên nghe nói vậy cậu cũng chẳng từ chối mà đứng lên để đo ngay. Cũng phải mất một lúc lâu  cậu mới đo xong tám điểm đo. Anh Khâu đặt bộ pin xuống để cầm lấy bản ghi các thông số của cậu rồi anh lại bỏ ngay bên cạnh đó để hút thuốc lào vẻ như không tin là cậu ta có thể đo được.

Đang nói chuyện với mấy người ngồi cạo rỉ cho đỡ buồn ngủ phía cửa ra vào thì nghe anh Khâu gọi váng lên:

- Này, cậu ghi chính xác đấy chứ?

- Vâng! Em ghi đúng như khi đo từng điểm một mà lại!

- Thôi lần này cậu đo xong rồi cậu đọc cho tớ ghi xem sao.

Cũng chỉ trong một thời gian ngắn cậu đã đo xong tám điểm trên trục, lần đo này có vẻ còn nhanh hơn lần trước. Vừa tháo tai nghe ra, cậu đang định chạy đến chỗ mấy anh bạn để tiếp tục câu chuyện dở lúc nãy thì anh Khâu lại gọi giật lại:

- Chớ đi vội, cậu đo lại cho tớ một vài điểm này nữa xem sao.

Hằng lại tháo dây buộc Panme đo theo chỉ dẫn của anh Khâu, có đến bốn điểm nữa thì anh Khâu mới bảo dừng lại và ra hiệu cho cậu đi ra. Sau một hồi tính toán anh lại gọi cậu lại và bảo:

- Này cậu đo ghi đúng đấy chứ?

- Anh ghi đấy chứ có phải em đâu!

- Ừ! ấy là tớ bảo cậu không được đọc số giả đấy nhé!... Kẻo đến khi máy hỏng là cả tớ và cậu đều vào nhà đá tất.

Dừng một chốc anh Khâu lại nói tiếp:

- Thôi, hôm nay thắng lợi cho các cậu nghỉ sớm.

Nhìn đồng hồ trên tường thấy đã bốn giờ, tất cả đều vòng xuống hạ lưu để rửa tay rồi ra về. Suốt cả mấy ngày vật lộn với căn chỉnh, mãi đến hôm nay mọi người ra về mới cảm thấy nhẹ nhõm đi đôi chút.

 

                                                            7

 

Chiều thứ bẩy hôm nay tất cả nhóm được xả hơi sau gần một tháng làm liên tục cả ngày sang đêm không nghỉ. Cái chính là muốn cho một số anh em ở gần về qua thăm nhà chứ còn cái bọn thân đơn, gối chiếc như Hằng thì chỉ muốn làm nhanh cho xong để về thị xã cho sớm. Hình như mấy hôm trước anh Côn bên vận hành có hẹn Hằng ở nhà để nói điều gì thì phải, thế mà đã gần hai giờ chiều rồi vẫn chưa thấy đâu. Chờ mãi sốt ruột Hằng quyết định đi lên huyện và một vài nơi quanh khu vực xem có gì hay không.

Vừa dạo bước trên bờ đê Hằng vừa nghĩ nếu như không có chiến tranh phá hoại mà Mỹ đang tiến hành ở trên miền Bắc thì có lẽ không khí nơi này chắc cũng rất vui. Làm sao không vui cho được với một vùng quê đẹp tựa tranh như thế này. Làng Tây Hồ ở bên trái còn  làng Xuân Quang ở về mé bên phải của con sông nông giang tràn ngập một màu xanh ngăn ngắt của dừa và các cây ăn quả khác. Xen kẽ với những tán cây là những mái nhà lợp lá kè bàng bạc cùng với một đôi làn khói đang lên, ta như thấy có một cái gì đó thật là gần gũi, gắn bó và thân thiết như chính nơi quê hương của mình vậy. Lại nhớ hôm nào mới đến, dòng sông nông giang nước trong xanh chảy chầm chậm bên dưới chiếc cầu xi măng uốn cong bắc qua trông thật nên thơ. Một vài con đò nhỏ lách cách gõ mái chèo đuổi cá. Cũng có lúc thì cả một đoàn các bè tre nứa, luồng gỗ nối đuôi nhau dừng trước âu thuyền để chờ dâng nước vào âu đi tiếp xuống phía hạ lưu. Từng đàn trâu bò gặm cỏ trên các triền đê thoai thoải giống như trên nền một tấm thảm xanh được gắn vào đấy những bông hoa chấm vậy. Xa xa hơn nữa là những dãy núi nhấp nhô mờ trong sương khói trông thật huyền diệu. Thật may mắn cho những người có một vùng quê đẹp như thế làm nơi chôn rau, cắt rốn.

Phố huyện Thọ Xuân cũng chỉ có một vài ngôi nhà của các cơ quan huyện và các cửa hàng là to lớn hơn cả. Các ngôi nhà dân thì nhỏ bé, kế tiếp nhau chạy dọc con phố. Có đến hơn một nửa số nhà dân vẫn là nhà tranh, lá lụp xụp. Ngay tại trung tâm huyện là nơi tập trung một số cửa hàng của nhà nước như cửa hàng hàng thực phẩm, cửa hàng bách hoá, cửa hàng công nghệ phẩm xen kẽ cạnh nhau. Hàng hoá chủ yếu được công ty cấp ba phân phối về để cung cấp cho các cơ quan. Qua hết đợt phân phối là hàng lại hết sạch không còn gì cả. Các hàng lẻ của tư nhân cũng chẳng lấy gì làm phong phú cho lắm, vì hàng ở đây cũng đều do được tuồn từ nơi sản xuất của nhà nước ra là chính. Người bán cũng chỉ muốn ăn chênh lệch một chút gọi là đối với những người không  có tiêu chuẩn cung cấp.

Toàn bộ cái thị trấn ở vùng trung du này nằm trong diện gần như nghèo nàn nhất trong cả nước. Có lẽ do sống trong cảnh thời chiến nên họ cũng chẳng muốn củng cố, xây dựng làm gì, vì nay bom, mai đạn chả biết có được nguyên vẹn hay không. Sau khi vào hàng kem mậu dịch ăn vài cái cho đỡ nhớ Hà Nội rồi Hằng lại cuốc bộ để về Bàn Thạch.

Cũng đến nhá nhem tối Hằng mới về được đến nhà ăn tập thể. Bác Trường cấp dưỡng mang cho Hằng một bát cơm to và một bát canh rau ngót, một chốc bác mới lại mang ra cho cậu một đĩa thịt kho, bên cạnh lại còn có một khúc cá nheo hầm lá riềng thơm phức.

- Bác Trường ơi! Sao hôm nay phong phú thế?

- À chả là cậu về hơi muộn nên tớ để dành hơi khá hơn một chút!

- Thế thì hôm sau cháu lại về muộn.

- Còn có hôm sau nữa ấy à! Có mà tớ cho cậu nhịn vì tớ cũng phải về nhà với vợ con tớ chứ.

Đến lúc này cậu mới nhận ra là cậu đã làm phiền bác Trường thì chuyện đã rồi. Cậu vội nói như là có ý xin lỗi bác:

- Đến lúc đó bác cứ treo ngoài bờ rào cho cháu!

- Thế có mà…!

Bác Trường vừa nói đến đây thì đã nghe ồn ồn ngoài cửa nhà ăn, đúng là giọng ông Khâu rồi! Không biết có chuyện gì mà hối hả thế không biết được. Vừa thò đầu vào cửa nhìn thấy Hằng là anh đã phán một thôi một hồi làm cho Hằng không kịp hiểu điều gì ra điều gì cả.

- Này cậu có biết người ta đợi bao lâu không hả?

- Chiều nay anh cho nghỉ cơ mà? Có việc gì đột xuất thế anh?

- Này cậu cũng thiên biến vạn hoá vừa vừa chứ, hôm nọ mới bảo chưa có cô nào thế mà hôm nay có đến hai cô đến hỏi thăm có chết không chứ?

- Anh nói thế nào chứ mãi hôm nay em mới được đi chơi làm gì có quen ai mà có người đến hỏi thăm! Có chăng là mấy cô dân công ở Xuân Thành hôm vào thau bể lọc thì anh cũng biết rồi còn gì? Với lại hình như họ có cảm tình với anh thì đúng hơn chứ không phải cảm tình với em.

- Chả lẽ cái cô Ba, Tư nào đấy tròn như cái hạt mít ấy lại không phải là bạn của cậu?

- Làm gì có! Em thề đấy!

- Hay là cô ấy hỏi thăm Hằng gò nhỉ? À mà hai cô này là do ông Côn điếc miền Nam dẫn đến mày ạ.

 

                                                             8

 

Cơm nước xong cả hai anh em lại cùng ra về. Vừa đi Hằng vừa nghĩ chả lẽ anh Côn hẹn mình chiều nay đến là vì việc của hai cô này. Không có thể thế được, vì từ khi mình vào Thanh Hoá mình chưa quen ai, chắc có lẽ là hai cô này quen một Hằng nào khác mà anh Côn ngộ nhận là mình. Mọi việc rồi cũng qua đi, mãi cho đến chiều hôm sau đang định theo hẹn đi chơi với mấy anh ở vận hành thì anh Côn đến, anh Côn đến còn dẫn theo hai cô gái thật, đúng là hai cái hạt mít như anh Khâu nói tối qua. Nhìn xa thì thấy hình như hai người này cũng hơi quen quen nhưng không làm sao nhớ ra được. Mãi đến khi ba người vào đến cửa rồi mà Hằng vẫn như người mộng du ở đâu ấy. Chỉ đến khi một cô gái bật quát lên:

- Không nhớ à! Tuyn, Tuýt, Tư đây! Đã nhận ra chưa?

Đến lúc nay thì Hằng mới bừng tỉnh và nhận ra mấy cô gái Thanh Hoá cùng học năm lớp bẩy hồi nào.

Ngày ấy ba cô gái quê Thanh theo người nhà ra Hà Nội sơ tán. Chả biết thế nào lại vào học cùng lớp với Hằng ở tận trường Cổ Loa. Tuy Hằng không quen thân lắm nhưng mà cũng đã có lần họ đến thăm nhà của Hằng. Lúc ấy họ có nói quê ở Thanh Hoá nhưng Hằng chẳng để tâmN, chỉ là nghe rồi biết vậy mà thôi. Thế mà làm thế nào quả đất quay tròn họ lại gặp nhau tại nơi xa tít mù tắp này cơ chứ?

- Này thế còn Tuyết cao đâu mà không thấy?

- Tuyết cao ở lại học tiếp cấp ba, chỉ có mình và Tư là về nhà thôi.

- Thế chả lẽ quê của các bạn lại ở đây à? Từ ngày ấy đến giờ các bạn đã làm gì rồi?

Cả hai đều gật đầu thay cho câu hỏi, mãi sau rồi Tư cũng lại trả lời tiếp:

- Bọn mình về giúp nhà làm ruộng thôi… Mãi hôm rồi nghe anh Côn nói có cậu ở Cổ Loa vào mình đoán ngay là cậu nên ra thăm xem đã có gì đổi mới chưa!

Tư vừa nói chửa dứt lời thì Tuyên đã cướp lời nói tiếp:

- Này, đợi suốt cả chiều hôm qua mà không thấy về. Chắc đã có cô nào ở gần đây hay sao mà đi kỹ thế không biết?

Mấy người bạn đã lâu mới được gặp nhau nên có không biết bao nhiêu là chuyện. Hết người này lại đến người kia hỏi rồi trả lời. Đầu tiên là hỏi về những người đang có mặt, tiếp sau đó là hỏi và trả lời về những người bạn mà họ cùng quen biết. Hằng cho họ biết ngoài Hằng có mặt ở Thanh Hoá còn có cả Nội, Thảo ở lớp 7A cũng đã vào Thanh nhưng họ còn ở Hàm Rồng. Cánh trẻ mải chuyện đến nỗi gần như quên hẳn sự có mặt của anh Côn, mãi đến một lúc lâu sau anh Côn mới có dịp chen vào câu chuyện được. Bằng giọng nói đặc sệt của vùng quê Nam Bộ anh kể về cuộc gặp của anh và Hằng. Cũng qua câu chuyện của hai người mà anh biết được Hằng có quen với mấy cô gái của làng Tây Hồ. Bất ngờ hơn cả là việc anh chính là chồng chị Lượng là cán bộ phụ nữ ở xã Dục Tú của Hằng. Đến lúc ấy thì Hằng mới hiểu ra mọi sự. Thì ra bữa trước hai anh em kể cho nhau nghe về chuyện của mỗi người thì anh đã biết cái sự quen biết của mấy người rồi mà anh không nói gì cho Hằng biết, có lẽ anh muốn để cho Hằng bị bất ngờ như thế mới vui. Câu chuyện lại được chuyển sang những đề tài mới kéo dài đến mấy tiếng đồng hồ mà hình như vẫn chưa cạn. Đến gần bốn giờ thì anh Côn nói anh phải đi ca chiều nên anh sẽ về trước, anh dặn Hằng đưa Tuyên và Tư  về sau.

Cứ mỗi lần nhìn hai cô gái Hằng lại bật cười chả là vì ngày ấy ba cô gái Thanh vào lớp học, Hằng có hỏi tên của từng người để ghi vào sổ điểm thì cô Tuyên đã mau mồm, mau miệng chỉ vào từng người rồi cất đúng cái giọng Thanh Hoá của mình lên để giới thiệu:

- Tôi là Tuyn, đây là Tuýt còn đây là Tư…

Tuyên cũng mới chỉ nói đến đó thì tất cả những người đứng xung quanh đều đã bật cười ầm cả lên. Chả là vì tên của họ khi nói bằng tiếng Thanh Hoá đều mất đi chữ Ê thế nên các bạn vùng ngoài mới bật cười như thế.

Chuyện thêm được một lúc nữa thì cả hai cô cũng từ biệt để về. Hết chào đi, chào lại rồi lại hẹn đến chơi nhà mãi rồi mới chia tay được. Hai cô chắc là sợ bạn bè biết được sự quen biết này sẽ lại trêu đùa nên không cho tiễn mà chỉ tự mình đạp xe lai nhau về. Với lại nếu Hằng muốn đi tiễn thì cả ba sẽ lại cùng đi bộ vì Hằng đã làm gì có xe đạp.

Đến lúc ăn cơm buổi tối thì Hằng phải chấp nhận sự quen biết hai cô gái tròn như hai cái hạt mít với anh Khâu và tất cả mọi người. Tất nhiên là cậu lại phải kể toàn bộ câu chuyện ban chiều cho cả nhóm cùng nghe.  Vừa nghe kể một số anh trong nhóm cũng lại xen vào trêu cợt:

- Này cậu nói thế nào ấy chứ? Đã học mãi với nhau, lại đến nhà nhau rồi thế mà lại nhanh quên đến thế cho được!

- Thì em nói thật mà lại!

- Thế nào mà chả có tý cảm tình hay là cậu định giấu chúng tớ thì bảo. Này đến lúc có chuyện gì… thì đừng có bảo chúng tớ đứng ra giúp đấy nhé!

Mọi người đều cười ồn cả lên rồi kéo nhau ra nhà máy làm thêm giờ buổi tối.

 

                                                         9                            

 

Công việc phục hồi kết thúc xong thì cũng đã vào ngày hai mươi sáu tết. Những đồ dùng nặng chuyên dụng đã được lau chùi bàn giao cho anh Đà là công nhân sửa chữa theo ca của Bàn Thạch cất vào kho của nhà máy. Một số dụng cụ cầm tay thì anh em có xe đạp đã chở về Hàm Rồng từ chiều hôm qua. Cả nhóm chỉ còn ba anh em Khâu, Hằng và Loan ở lại chạy nghiệm thu rồi chờ xe lên đón về sau.

Việc nghiệm thu cũng rất nhanh chóng vì phần cơ sử lý tốt hơn hẳn so với mọi lần. Máy chạy êm không hề có một tý rung động nào. Việc hòa điện lên lưới của máy thuỷ vốn đã rất dễ nay lại càng nhanh hơn. Cánh anh Tiếp kều nhận máy cười tươi rói bắt tay cánh cơ điện ra ý chúc mừng.

Ba anh em chờ suốt cả ngày hai bẩy sang ngày hai tám tết vẫn chẳng có xe. Mãi đến gần tối ngày hai tám ông Huy quản đốc mới báo tin là phân xưởng Cơ điện đang phải tập trung sơ tán khỏi thị xã lên cây số tám Rừng Thông nên không có xe, các anh em ở lại qua tết hãy về. Vừa buồn, vừa chán, mấy anh em đi rong khắp nơi quanh khu vực rồi lại về ăn cơm ở bếp tập đoàn. Xung quanh khu vực từ các nhà dân đến nhà công nhân cơ khí huyện cũng đang ráo riết chuẩn bị cho đón tết. Nào là các mặt hàng về thực phẩm, hàng nhu yếu phẩm và cả đến những hàng xa xỉ phẩm dùng cho tết cũng đã được bày đặt đầy ở các chợ. Các cơ quan cũng đã tổ chức đi lấy hàng từ các cửa hàng công nghệ về cho đơn vị của mình. Chỉ có ba anh em là phất phơ đây đó chả biết làm gì.

Tối ấy Hằng đi ngủ muộn nên đến sáng hôm sau trời sáng rõ rồi mà cậu vẫn còn ngủ say mê mệt. Các bác nhà chủ cũng không muốn gọi cậu dậy sớm vì họ nghĩ cậu phải ngủ bù đợt phục hồi vừa rồi. Vẫn đang còn say sưa trên giường thì đã thấy anh Khâu vào kéo dậy.

Vừa bị dựng dậy, còn ngái ngủ nên Hằng chẳng biết anh Khâu vừa thì thầm bên tai điều gì. Mãi đến hơn mười phút sau cậu mới hiểu ra câu chuyện anh Khâu kể về nội dung cuộc họp của bộ phận công đoàn Bàn Thạch bàn soạn về việc tết cho mấy anh em bên Cơ điện mà anh nghe được tối qua. Chả biết cái sự bàn bạc có những ý kiến thế nào mà anh Khâu bảo anh đã nghe được có một vài ý kiến không vui vẻ lắm khi phải  chia sẻ hàng tết cho số khách bất đắc dĩ là cánh ta.

Không ai còn lạ gì hoàn cảnh của cả nước trong những năm tháng chiến tranh. Cho dù chỉ là vài cân ngô răng ngựa mọt mang ra để trợ cấp thôi cũng phải xét lên, xét xuống mới xong được, huống hồ đây lại là những hàng nhu yếu phẩm phân phối theo tiêu chuẩn của từng người, làm sao mà chẳng có ý kiến lên, ý kiến xuống. Tuy vậy khi nghe nói có một người nào đó cứ cân lên, đặt xuống một cái việc rất chi là vật chất mà lại dính dáng đến mình thì cũng chẳng lấy gì làm hài lòng cho lắm. Cũng chính vì thế mà sau khi nghe đến câu chuyện trên thì tất cả ba anh em đã quyết định đi bộ về đơn vị cũ để tránh làm khó dễ cho đơn vị bạn. Thế là sáng hai chín tết năm 1966 ba anh em khăn gói quả mướp cuốc bộ gần bốn mươi cây số để về thị xã.

Ngay từ tám giờ sáng cả ba người đã bắt đầu khởi hành. Đầu tiên đi dọc theo sông nông giang trước nhà máy để xuôi về Hậu Hiền rồi về tới Ngã ba Chè và đến gần sáu giờ tối hôm đó thì về đến cây số tám Rừng Thông. Phân xưởng cũng vừa hoàn thành chuyến di chuyển cuối cùng về sân kho của một địa phương cạnh đường. Ông Tư quản đốc cũng chỉ kịp gặp bắt tay, hỏi han qua loa ba người xong là lại tiếp tục chỉ đạo công tác quản lý số hàng ở sân kho. Hàng nhiều nhất chỉ là của bộ phận cơ khí còn các tổ khác thì chẳng có bao nhiêu. Sau một hồi giúp các tổ thu dọn vật liệu xong thì Hằng mới đi về nơi ở của tổ ở trong làng Bản Nguyên. Trời thì tối nên Hằng chả biết cái làng ấy nó rộng hẹp, đẹp xấu ra sao, mãi đến khi vào gia đình ở trọ thì Hằng mới nhận ra số anh em trong tổ qua ánh đèn dầu. Vừa đặt túi du lịch và các đồ dùng xuống là cậu ngồi bẹt ngay xuống đất mặc kệ anh chủ nhà kêu đứng lên để anh giải chiếu.

- Anh cứ mặc kệ em, người em bẩn lắm, vừa rồi em lại bê vác một số đồ đạc cho tổ cơ khí nên cả tay cũng bẩn lắm.

Sau khi đã sắp xếp các bộ phận đâu vào đó thì cũng đã hơn mười giờ. Hằng được bố trí nghỉ ngay tại nhà anh chị chủ vừa đến mà không phải chuyển đi, thế là cậu lăn ngay ra ngủ một chập đến tận sáng hôm sau.

Tết đến mà như không ai biết gì về tết, người ta vẫn phải đi chuyển đồ đạc, còn nhân dân trong vùng thì cũng đang củng cố hầm hố để đề phòng giặc Mỹ leo thang gay gắt hơn trong thời gian tới. Bên cạnh đó lại còn việc phải cấy xong lúa chiêm xuân và các hoa màu khác nên hợp tác cũng chỉ nghỉ có hai ngày tết mà thôi. Tết thời chiến cái gì cũng gấp rút, cái gì cũng gọn nhẹ, cái gì cũng giảm tiện.

Thế là lần đầu tiên trong đời Hằng ăn tết ở xa nhà, xa những người thân. Tết mà như là không tết (!)

 

                                                      10

 

Những ngày tết đi qua thật nhanh chóng, tất cả mọi người lại tiếp tục với những công việc thường ngày của mình. Những trận đánh phá của kẻ thù ngày một dầy thêm, ngày một ác liệt thêm. Rất nhiều nơi xung quanh khu vực Hàm Rồng bị thiệt hại về người và của. Những trận địa pháo phòng không bố trí ở trên các đỉnh đồi hàng ngày phơi lưng ra để hứng những trận mưa sắt thép, rất nhiều các chiến sĩ đã hy sinh. Nhưng cũng chính những con người quả cảm ấy đã từng ngày giữ vững cây cầu nối liền huyết mạch giao thông từ Bắc vào Nam, từng ngày ghi thêm những chiến công vào trận chiến lớn lao của cả dân tộc trong cuộc đối đầu với tên giặc hung dữ nhất của thời đại.

Không chỉ có những chiến sĩ trực tiếp đánh giặc ở phương Nam, không chỉ những chiến sĩ ngồi trên mâm pháo bắn vào kẻ thù, còn cả những người lao động cũng ngày đêm đứng ở nơi trận địa ác liệt nhất để giữ vững công việc sản xuất ra thóc, gạo, ngô, khoai, thịt, cá, muối, rau nuôi sống mọi người họ cũng đã như những người lính xung trận góp phần vào chiến thắng chung to lớn ấy.

Những người công nhân ngành điện lại càng gặp nhiều nguy hiểm, khó khăn hơn khi kẻ thù ngày đêm nhằm vào những nơi như thế để mà đánh phá, để mà huỷ diệt. Mỗi ngày từng kíp thợ lần lượt thay nhau vào cái pháo đài đầy thương tích để sửa chữa và vận hành khối bê tông, sắt thép ấy để tạo ra năng lượng điện phục vụ cả xã hội. Tất cả những người từng hiểu biết về công việc của những người thợ điện đều yêu mến và cảm phục về sự quả cảm của những người thợ chiến sỹ trong cái “Pháo đài 44 anh hùng” trên quê hương của họ.

Từ mấy năm qua bọn giặc trời đã đánh hàng trăm trận bom vào khu vực cầu Hàm Rồng và những vùng lân cận. Nhà máy điện cũng là một mục tiêu mà bọn giặc luôn tìm cách huỷ diệt nên không lần nào đi ngang qua mà chúng không sẻ cho nhà máy một vài loạt bom, Rốckét. Điều đó cho thấy khi bước chân vào nhà máy những người thợ cũng không khác gì một người lính xung phong cảm tử. Người ta có thể nói về việc quen thuộc của con người đối với môi trường và sự vật chứ còn nói là quen thuộc với hiểm nguy và chết chóc nghe ra thật khó chấp nhận. Tuy vậy một khi chung sống với hiểm nguy và chết chóc nhiều cũng làm cho người ta dạn dĩ hơn, thông minh hơn và biết cách tránh được một phần những điều không may mắn.

Cũng phải nói rằng sự hy sinh, quả cảm của mỗi người cộng với sức lôi cuốn của cả một cộng đồng to lớn với phong trào sản xuất, chiến đấu vì Tổ Quốc đang sôi lên trên cả nước đã tiếp sức cho họ, nên suốt mấy năm qua chưa có một người công nhân thợ điện nào chịu rời bỏ vị trí công tác của mình, mặc dù họ biết có thể chỉ ngày mai thôi họ sẽ không có mặt trên đời này nữa. 

Sớm nay 12 tháng 6, trời có vẻ trong sáng hơn mọi ngày thường, những ngày tháng sáu là những ngày có thời gian ban ngày rất dài. Cũng chỉ còn gần mười ngày nữa là gặp ngày hạ chí, ngày dài nhất trong năm. Mọi ngày bằng giờ đã nghe bộ đội trên đồi pháo báo động đến cả chục lần, vậy mà hôm nay lại có vẻ im ắng khác thường. Những biểu hiện như trên dường như lần nào cũng dự báo có sự việc nghiêm trọng sẽ xảy ra.  Lãnh đạo đơn vị cũng đã mấy lần qua các nhóm nhắc phải sẵn sàng đến nơi trú ẩn gần nhất và nhanh nhất khi có báo động. Trong cả cái khối hộp gạch và bê tông sứt sẹo ấy cũng chỉ có khu hầm lò là có vẻ chắc chắn hơn một chút, còn tất cả đều mỏng manh chỉ cần có một vật nặng độ vài tạ rơi xuống là đã xuyên thủng mái nhà rơi xuống đến tận mặt sàn tầng trệt, huống hồ nếu là một trái bom với sức công phá lớn thì chẳng chỗ nào có thể chịu nổi, kể cả cái hầm lò vừa nói trên kia.

Những người công nhân họ thường nói đùa với nhau rằng hôm nay chưa chắc bọn giặc đã đến, đến chưa chắc đã đánh vào nhà máy, đánh vào nhà máy chưa chắc đã trúng, trúng chưa chắc đã vào nóc lò, vào nóc lò chưa chắc đã nổ, nổ chưa chắc đã phá được xuống đáy, xuống đáy chưa chắc đã có thể chết hết được. Thế rồi tất cả cùng cười, cùng động viên lẫn nhau và rồi chả bao lâu sau đã nghe tiếng kẻng báo yên của bộ đội từ trên đồi Quyết Thắng, họ lại tiếp tục với các công việc như không có chuyện gì xảy ra.

Những năm tháng ấy thật hào hùng và thật tươi đẹp. Mỗi người như mỗi bông hoa tươi, trên từng cánh của nó hầu như không có một tý dập nát, một tý đốm lạ mầu, và cả không có một mảy may quăn mép. Những con người ở vào những năm sau này sẽ đáng tiếc biết bao khi đã không một lần được sống trong những phút giây như thế, cho dù họ có thừa mứa về điều kiện vật chất và những điều kiện hiện đại khác mà ngày đó chưa có được.

Không khí yên tĩnh kéo dài thường làm cho người ta dễ sinh chủ quan, mất chủ động và chỉ mới chưa hết nửa hồi kẻng báo động từ đồi pháo thì đã nghe thấy tiếng nổ ùng ục khắp bốn xung quanh nhà máy. Chưa kịp bám vào cây cột bằng ống kẽm vẫn dựng ở chỗ lỗ thủng của nền tầng hai cho các công nhân tụt xuống đã nghe từ phía trước nhà máy có tiếng đổ rất nặng. Vật gì có thể tạo ra được âm thanh nặng nề đến vậy, nếu không phải là cái ống khói của nhà máy bị đổ. Vừa kịp nghĩ đến đó thì cả cái hầm lò đã tối đen như mực, bụi than, bụi gạch phả đầy cả vào mồm. Cái câu “chưa chắc đã trúng” có lẽ không còn hiệu nghiệm nữa, thế nhưng hình như tất cả chưa ai làm sao cả thì phải. Có nghĩa là “trúng cũng chưa chắc đã làm sao…” vẫn hiệu nghiệm đấy chứ.

Những hồi kẻng báo yên đã vang lên và bụi khói trong hầm lò cũng tan dần, mọi người cũng đã nhìn thấy nhau. Trời ơi! Thật là kinh khủng! Tất cả đều đã đen thui kể cả da thịt lẫn quần áo, không còn ai nhận ra ai. Tiếng nói thì khẳn đặc thành ra mọi người nhận ra nhau chỉ còn cách dự đoán qua khổ người và hình dáng đi đứng riêng hàng ngày mà thôi.

Cột ống khói cao tướng hàng ngày đã đổ gẫy ra làm mấy khúc, cứ như ai đó nhặt ở đâu những vòng cống khổng lồ đem về đặt trước nhà máy. Một trái bom hai trăm năm mươi cân đã chui qua khe của giàn  ống đứng không nổ mà tự rách theo chiều dọc rồi nằm kẹt giữa các khe ống, giống hệt quả bom xuyên qua trần gian máy cũng xé dọc thân mà không nổ, rơi ở đầu bình ngưng số một vài năm trước đây. Dù sao thì tất cả đều đã không ai làm sao cả và những câu nói đùa lại có dịp được cất lên rôm rả hơn bao giờ hết.

Thử lửa? Thử lửa ư? Chắc hẳn là thế rồi…! Cái chết đã lướt qua mạng sườn của họ không chỉ một vài lần. Chỉ có điều nói đến cái sự thử lửa mà lại hài hước đến vậy thì cái sự thử lửa ấy dễ làm cho người ta nghĩ là câu chuyện sân khấu. Xin nói với độc giả rằng tôi đã cố gắng hết sức để diễn cảm ý nghĩ thực lúc đó và không tô vẽ thêm một chút nào.

Sau trận bom nhà máy buộc phải dừng lại để sửa chữa phục hồi vì không phải chỉ có ống khỏi đổ mà cả khối giàn ống đứng, giàn ống nghiêng, bộ sấy không khí, bộ hâm và nhiều khối thiết bị khác cũng bị hỏng hoàn toàn. Những người công nhân vẫn bám chặt lấy lò máy của họ để rồi nghĩ ra trăm phương ngàn kế phục hồi lại lò máy và họ đã làm được tất cả.

 

                                                 TÌNH YÊU

 

                                                        1

 

Công việc sửa chữa phục hồi nhà máy điện Hàm Rồng lần này có rất nhiều hạng mục. Phần thiết bị đều  tập trung ở khối lò hơi của tổ sửa chữa lò. Phần máy hầu như chỉ phải kiểm tra bảo dưỡng sơ bộ ở phần thiết bị phụ. Cũng do công việc của lò nhiều quá nên phân xưởng giao thêm cho tổ sửa chữa máy sửa chữa một số các thiết bị lẻ của lò hơi như hệ thống thổi bụi cho các giàn ống sinh hơi, giàn ống quá nhiệt, máy kéo ghi, và chế tạo lại bộ sấy không khí. Công việc của tổ lần này chủ yếu cần nhiều đến sức khoẻ nên tổ bố trí nhóm công tác gồm các thanh niên là chính.

Vừa ở công trường lắp cụm phát điện Điêdel ở Đa Nê, Yên Định về đến đơn vị đóng ở làng Vồm được mấy hôm, Hằng đã phải nhập vào nhóm phục hồi để đi xuống Hàm Rồng công tác. Để cách xa vùng trọng điểm đánh phá của kẻ địch mà lại gần nơi sản xuất nên đơn vị đã liên hệ cho các nhóm công tác đóng ở hai làng là Định Hoà và làng Đại Khối. Nếu cứ chiếu theo đường thẳng thì từ chỗ ở đến nhà máy cũng không quá hai cây số, nhưng ai có thể vượt qua mấy chục đỉnh núi nên đành phải đi vòng xa đến gần năm cây số mới tới được nhà máy.

Cũng do Hằng đi công tác về muộn nên khi xuống Đại Khối phải trọ một mình ở một nhà. Nhà Hằng trọ là nhà một ông cán bộ huyện, có lẽ ông cũng có chức vị khá nên gia đình ông cũng được xếp vào loại có kinh tế so với số đông các gia đình trong làng. Chỉ có bà vợ cả và mấy đứa con nhỏ ở nhà, còn ông cán bộ huyện mà làng xóm vẫn cứ gọi ông là ông Thơi thì thường vắng nhà luôn.

Hằng được gia đình nhà chủ bố trí cho nằm ngủ ở một chiếc giường lim kê sát với gian buồng bên phải, kế theo đó là gian giữa kê bộ bàn ghế gỗ đóng khá chắc chắn, có lẽ cũng được làm bằng gỗ lim nên nó có mầu đen hơi thẫm. Chỉ từ sau khi Hằng đến ở bộ bàn ghế mới có vẻ được chăm sóc, còn trước đó có lẽ bộ bàn ghế này hàng ngày hầu như ít ai sử dụng đến nên mặt ghế có phần khô xác mà không bóng nhẵn như của mọi nhà. Sau này Hằng mới biết nhà vợ hai của ông Thơi cũng ở không xa hơn nhà bà cả bao nhiêu, mỗi lần về có lẽ ông Thơi ở nhà bà hai nhiều hơn thì phải.

Qua lại trên đất Thanh Hoá cũng đã nhiều nơi nhưng không đâu lại có phong tục như làng Đại Khối, ở đây người ta gọi mẹ đẻ ra mình là chị, còn chị gái thị lại gọi bằng ả. Dò hỏi mãi về sau Hằng mới biết nguyên do là làng có tục thờ Thánh Mẫu nên họ kiêng gọi tiếng mẹ, chính vì thế mà họ đã gọi chệch đi hai ngôi nói trên.

Đến làng Đại Khối cũng đã lâu mà Hằng cũng chẳng đi đâu, ngoài đi làm hàng ngày ở nhà máy. Các buổi tối về nhà chủ Hằng chỉ chăm chú đọc sách về kỹ thuật và các cuốn tiểu thuyết dày cộp mà Hằng nhặt được ở các cửa hàng sách và các thư viện dưới thị xã bị đánh phá bỏ bừa ra đó. Nhà ông Thơi cũng có cô con gái lớn tên là Thảo nhưng cô này lại ở cùng với bà hai, chỉ thỉnh thoảng mới thấy cô rẽ về nhà mẹ cả vào các buổi tối.

Mấy ngày gần đây làng Đại Khối tập trung vào việc đánh tranh rạ để lợp nhà và các công trình của hợp tác xã. Có lẽ vì sân nhà mẹ cả của cô rất rộng nên đã mấy ngày nay cô Thảo về nhà thường xuyên hơn để bàn với mẹ cả về việc đem rạ về đánh tranh ở nhà mình. Mỗi lần cô về nhà là cô kéo theo về mấy cô bạn nữa làm cho không khí trong nhà ầm ĩ cả lên. Những lúc như thế Hằng thường bỏ đi chơi bên nhà cụ Tú để tránh các cô cho đến khi thấy im ắng  rồi mới về nhà. Cũng chỉ tránh được mấy ngày thôi bởi ngay sau đó cô Thảo đã cho chuyển về nhà hàng đống rạ lớn và cứ tối đến là cô cùng với cả đám bạn tập trung ở đó đánh tranh.

Bắt đầu là các câu chuyện rì rào nho nhỏ thế rồi câu chuyện rộ dần lên và chẳng bao lâu sau đó là gọi, là hỏi, là trêu nhau, rồi thì cười, rồi thì hát, rồi thì hò hét đến inh tai nhức óc. Cũng đã có một vài cô động chạm đến cái người lúc nào cũng im như thóc ngồi đọc sách trong nhà bằng những câu hò với những lời bóng gió. Người ngồi trong nhà cũng biết vậy nhưng cũng cố tình như không nghe thấy và tất nhiên là không nhìn thấy bởi các cô ngồi dưới bóng trăng suông gần phía cổng vào nhà. Có nhẽ các cô cũng biết rằng cái anh chàng này không thể nhìn thấy nên mới trêu mạnh thế chứ nếu lại nhìn rõ được thì đố có dám. Sau mỗi lần có cô nào đó chọn được một câu khá sắc nhọn một chút hoặc khá rõ ý tứ một chút là có đến hàng loạt những tiếng cười như xé vải phụ hoạ thêm vào. Cứ mỗi lần như thế bà cả Thơi lại nhìn Hằng cười mỉm như bảo rằng (cậu đã thấy gái làng Đại Khối chưa). Những lúc ấy Hằng cũng mỉm cười đáp lại bà thật hiền lành và thân thiện.

Thực ra cậu cũng có để ý đến các cô nhưng sau mấy lần về phép trước đó xem ý mẹ thì nghe ra bà cụ không muốn cho cậu lấy vợ ở nơi xa. Có lần cụ nói với con trai rằng:

- Em nó rồi cũng lấy chồng, nhà chỉ có một mẹ một con, anh lại ở trong ấy chắc rồi tôi cũng chết khô, chết héo ở ngoài này thôi!

Nhưng cái chính có lẽ là cụ nghĩ mình chẳng có nhà có cửa,  kinh tế lại eo hẹp quá nên việc đưa một cô dâu ở nơi xa về chưa chắc người ta đã thông cảm và chịu đựng được với hoàn cảnh của mình và điều đó có thể sẽ làm cho hạnh phúc của con cái đi đến đổ vỡ. Có lẽ chính vì thế mà bà cụ không muốn cho con lấy vợ ở xa. Hiểu được nỗi lo lắng của mẹ nên cậu không muốn làm trái ý của bà. Nhất là lần về phép vừa qua bà cụ đã gạn cho cậu một cô bé ở quê, cho dù cậu chưa đồng ý nhưng hình như hai bên đã có lời lẽ nên cũng làm cho cậu thật khó nghĩ. Đây cũng là lý do làm cho cậu không muốn tiếp xúc nhiều với các cô gái của làng Đại Khối.

Sau rất nhiều thủ đoạn mà các cô vẫn chưa lay chuyển được cái con người quá đáng này thì các cô lại càng bị kích động bởi sự tò mò muốn biết cái anh chàng này có gì đặc biệt không mà kiêu kỳ đến thế. Thế rồi các cô kêu khát ầm lên, hết réo gọi Thảo lại hỏi sang bà cả Thơi xem nước ở đâu rồi kéo nhau vào nhà ra ý đi tìm nước uống. Đến nước này thì chắc chắn là phải chạm mặt rồi đây...

Hôm nay Hằng đi làm về muộn, cơm nước xong một lúc lâu Hằng mới về nhà. Ngõ nhỏ lại sâu nên trời rất tối, có lẽ cũng còn một lý do là hôm nay trăng muộn hơn mọi ngày. Vừa ra khỏi cổng nhà ăn, tý nữa Hằng đã đâm sầm vào hai người đang đứng giữa đường. Hoảng quá, sau khi đi quá thêm đoạn nữa Hằng đành đứng lại để cho mắt quen với bóng tối rồi mới đi tiếp. Thì ra hai người mà tý nữa Hằng đâm phải là hai cô gái đang đứng giữa đường nói chuyện với nhau.

- Này con trai chi mà trắng thế không biết, cứ như con gái ấy mày ạ!

Một cô vừa nói dứt lời thì cô thứ hai đã tiếp một cách hào hứng:

- Chuyện! Trai Hà Nội của người ta mà lại!

- Chết nhá! Của người ta từ bao giờ thế hả?

- Vớ vẩn, đấy là người ta nói đệm vào lại.

- Không nghe! Không nghe! Tối nay nhất định choa bảo cho chàng biết cái Dụng nó đã nhận rồi.

Liền ngay lúc đó là các tiếng đấm, tiếng thụi vào lưng nhau cùng với cả tiếng cười cứ réo lên ồn ã cả cái con ngõ hẻm tối om, tối óp.

Đến bây giờ thì Hằng đã nhận ra đây có lẽ là mấy cô gái vẫn đến nhà bà cả Thơi đánh tranh các buổi tối, còn cái con người Hà Nội mà họ vừa đùn đẩy kia không biết là ai? Hằng gai cả người khi nghĩ đến nếu cái con người kia lại chính là Hằng. Chả lẽ mình lại bị mang ra bàn luận, đùn đẩy đến mức như vậy sao? Vừa đi Hằng vừa lôi từ trong bộ nhớ ra xem cái cô Dụng là cô nào mà mãi không thể nhớ ra.

Về nhà được một lúc thì mới thấy các cô gái kéo đến. Câu chuyện của họ hôm nay hình như có vẻ rôm rả hơn mọi hôm rất nhiều. Đặc biệt là bọn họ hay trêu một cô nào đó trong nhóm của họ, còn có một người thì cứ chạy đuổi hết cô này đến cô kia để đấm, để thụi, để càu nhàu. Có lẽ người từ nãy đến giờ vẫn chạy đuổi các bạn chính là cô Dụng.

- Này! Không nhận hả? Để đấy nhường cho cái Thảo! Tiện của nhà chả phải đi đâu cho xa!

- Thảo có rồi còn gì! Để đấy tớ, tớ nhận cho, đến lúc đó đừng có mà tiếc đấy nhé!

Chợt có một giọng rất là đàn chị của một cô nào đó cất lên khá đanh để ra lệnh cho cả nhóm:

- Này! Làm đi thôi kẻo mai là hạn nộp cuối cùng rồi đấy! Các cụ ấy mà hét cho thì đừng có mà…

Không khí hơi lặng đi một chút nhưng chẳng bao lâu sau đâu lại đóng đó, lại ầm ĩ, lại cười, lại hò hát cho mãi đến tận đêm khuya. 

                                                            2

 

Những đêm đánh tranh ở nhà bà Thơi rồi cũng hết, có điều là từ sau cái buổi tối các cô gái cố tình vào tìm nước uống để xem mặt cái anh chàng lập dị nọ ra làm sao thì cả hai bên đã có sự gần gũi hơn, thế nhưng cũng rất lâu sau Hằng mới biết mặt Dụng.

Dụng năm ấy mới vừa đủ mười tám tuổi. Dụng khá xinh và trắng trẻo, người tròn lẳn như rất nhiều các cô gái khác. Mỗi lần bất chợt gặp giữa đường Dụng chỉ dám chào lý nhí mà không chào to. Mỗi lần gặp và chào nhau như thế hình như Dụng có vẻ rất luống cuống và đỏ mặt lên trông đến ngại. Biết vậy nên Hằng thường chủ động hơn trong các câu hỏi để cho cô bình tĩnh trở lại. Kể ra cũng lạ, không biết sao từ trước khi biết nhau họ lại chỉ gặp nhau rất ít, mặc dù nhà Dụng ở ngay trên đoạn đường mà hàng ngày khi đi làm Hằng vẫn đi qua. Còn từ sau ngày biết nhau rồi thì hầu như không ngày nào hai người không chạm mặt nhau đến một vài lần.

Nhà Dụng chỉ có hai bố mẹ cùng với ba chị em. Chị cả tên là Lợi cũng đã hai mươi và hình như đã có người ở bên Đông Thổ đến xin hỏi cưới, chắc cũng chỉ chờ đến mùa đông hoặc mùa xuân năm tới là chị sẽ về nhà chồng. Sau Dụng là cậu em út cũng đã lên tám tuổi nhưng người thì nhỏ bé mà lại cao lều nghều trông đến là ngộ. Bố mẹ Dụng đều là những người nông dân thuần tuý dễ mến, cho dù Hằng chưa bao giờ tiếp xúc với họ mà chỉ gặp và chào họ khi bất chợt gặp họ trên đường như với bao nhiêu người khác nhưng Hằng vẫn nhận ra ở họ có những nét thân tình...

Sau một ngày về nơi sơ tán của đơn vị để họp tổng kết Hằng đã thấy có cái gì đó cứ bồn chồn, nóng ruột giống như linh tính cho thấy có ai đó cứ nhắc đến tên mình vậy. Nhiều lúc thấy như thiếu vắng một cái gì đó mà không thể nghĩ ra được đó là cái gì. Chỉ mãi đến khi rời làng Vồm xuống Đại Khối, Hằng mới thấy bớt đi sự nóng ruột mà trong suốt thời gian ngồi họp đã xảy ra. Vừa quăng cái túi đựng mấy thứ vặt vãnh cùng với mấy quyển sách vào giường thì Hằng nhận ra có ai đó vừa chào bà cả Thơi bước vội ra sân theo lối cửa của gian nhà kế gian buồng bên trái.

- Bác Thơi đã ăn cơm chưa?

- Tôi ăn cơm rồi, cháu đi họp về đấy hả?

- Vâng, cháu vừa mới xuống đến nơi!

- Sao không ở đến mai mà lại xuống tối thế?

- Cháu cứ thấy sốt ruột thế nào ấy, với lại nhà bà Ao ở trên Vồm hôm nay có khách nên đằng nào cháu cũng phải đi ngủ nhờ thế là cơm nước xong là cháu đi ngay đỡ sớm mai phải thức dậy đi sớm.

- Cũng may mà cháu đi có một ngày chứ nếu đi độ mấy ngày thì choa cũng đến hết hơi về nó!

Còn đang cố lắng nghe xem bà cả Thơi nói gì thì đã nghe bà tiếp:

- Này! Từ sáng đến giờ nó xuống hỏi thăm mày có đến bốn lượt rồi đấy!

- Ai thế hả bác?

- Này, các anh chị đừng có che mắt tôi nhé! Cái Thảo nó bảo cho tôi biết từ bữa trước rồi. Hình như ông bà ấy cũng không phản đối đâu. Nhà họ có ông em cũng lấy vợ và ở ngoài ấy rồi. Mỗi lần họ về trông sang trọng và lịch sự, làm cả làng ao ước mà không được ấy chứ!

Ngừng một chút, không kịp để cho Hằng nói gì bà cả  Thơi lại nói tiếp:

- Kể ra mà cái Thảo nhà tôi nó yêu anh thì tôi bàn với gì nó là cứ cho không.

Đến lúc này thì Hằng cũng đã đoán ra được phần nào những điều bà Thơi vừa nói và cả cái người bà Thơi bảo đã đến làm phiền bà đến bốn lượt trong một ngày kia rồi. Tuy nhiên Hằng nghĩ là mình bị oan nên cố thanh minh:

- Bác nói thế làm oan cho cháu! Tất cả là các cô ấy gán ghép đấy chứ!

- Này, không có lửa lấy đâu ra có khói, đừng có mà giấu giếm, rồi đến lúc cần nhờ chúng tôi là khó chứ chẳng chơi đâu!

Biết có thanh minh nữa cũng chẳng ăn thua gì nên cậu cười xí xoá với bà Thơi rồi đi ra ngõ, định sang Định Hoà đi hò với bọn cậu Thảo ở tổ sửa chữa Van .

Trăng đầu tháng lờ mờ nhưng Hằng vẫn nhận ra có một người con gái đứng ở một góc tường của một gia đình trong ngõ khi vừa chợt đi qua.

-  Anh đi đâu đấy ạ!

Vừa nghe câu chào nhỏ nhẹ Hằng đã nhận ra đó là Dụng, Hằng cũng vội chào lại:

- Dụng đi đâu về đấy?

- Em định xuống nhà bác Thơi!

Đang định đi tiếp thì Hằng lại nghe Dụng hỏi:

- Vừa nãy bác Thơi nói xấu gì em thế?

- Làm gì có!

- Em ở ngoài sân nghe hết cả thế mà anh lại còn bênh cho bác ấy!

Nghe đến đây Hằng cũng thấy chột dạ, không biết lúc nãy mình có động chạm gì đến cô ấy không biết? Có lẽ là không thì phải.

- Em còn nghe người ta dãy nảy lên vì bị gán ghép nữa cơ! Chả là người ta là người Hà Nội mà lại.

Biết cô ấy cũng khá lâu nhưng chưa thấy cô ấy nói nhiều và lại có ý mát mẻ như thế bao giờ nên Hằng cũng bất ngờ đứng sững lại không biết nói làm sao cho được. Kể ra mà nói trong con mắt nhìn của Hằng thì Dụng là một cô gái tương đối hợp với ý muốn tìm kiếm của cậu. Nếu như mỗi lần về nhà cậu không phải nghe mẹ nhắc về việc không muốn cho lấy vợ ở xa thì Hằng đã chủ động tìm hiểu cô ấy ngay từ bữa trước chứ cần gì phải để cho sự việc rơi vào hoàn cảnh như thế này. Đang suy nghĩ để tìm cách nói lại với Dụng thì lại nghe cô ấy lên tiếng, lần này giọng nói của cô ấy nghe có vẻ buồn hẳn đi:

- Bọn con gái quê mùa lại ít học như chúng em, các anh có quen biết chẳng qua cũng chỉ làm cho các anh xấu hổ thêm mà thôi…

Vừa nghe được mấy lời này Hằng chợt tìm ra được câu trả lời cho Dụng, cậu liền cướp lời nói luôn:

- Em cứ nói thế chứ ai chẳng như ai. Thanh Hoá anh hùng, nhiều người vùng ngoài ao ước còn không được nữa là.

Mặc dù biết mình hơi sáo trong những câu chữ vừa rồi nhưng cậu vẫn cứ tràng giang đại hải để che đậy những bế tắc từ nãy đến giờ. Chắc cậu vẫn còn diễn thuyết nữa nếu như không có một bà cụ vừa đi qua trước mặt hai người làm cho cả hai cùng phải né người để tránh. Vừa tránh Dụng vừa chào với theo bà cụ:

- Bà ơi sao bà về sớm thế?

- Con Dụng đấy hả? Mẹ mày đang tìm đấy!

- Vâng ạ!

- Em có phải về nhà không? Hằng hỏi

- Mẹ em lúc nào chả tìm về để đấm lưng, chả là mẹ em thỉnh thoảng vẫn bị đau lưng khi dở giời mà lại.

Ngừng một chút Dụng lại tiếp:

- Mình đứng đây gặp lắm người quá hay là đi ngược lại phía bờ ao nói chuyện tiện hơn.

Vừa nói Dụng vừa đi ngược lại lướt qua bên cạnh, mặc kệ Hằng có đồng ý hay không. Phần vì đường hẹp, phần vì tối trời nên khi Dụng nhỡ chân cọ sát vào bên sườn của Hằng làm cho cả hai cùng loạng choạng tý nữa thì ngã. Mặc dù suýt bị ngã nhưng Hằng vẫn cảm thấy có cái gì đấy thật mềm mại và gợi cảm đến là kỳ lạ mà không thể nào giải thích được.

Bờ ao hợp tác khá rộng và lại có rất nhiều cây dừa mới trồng tạo thành những cái ô lớn che khuất cả về phía đường nên nếu ai đi qua mà không để ý thì không nhận ra người đứng ở dưới gốc của nó, cũng chính vì thế mà hai người đã đứng ở đó gần năm tiếng đồng hồ cùng với những câu chuyện không đầu, không cuối mà chẳng bị ai quấy rầy. Họ chỉ chia tay khi câu chuyện đã có phần kết khá thân mật cùng với việc hẹn hò đêm mai gặp lại.

 

                                                     3

 

   Đã lâu lắm mà Hằng vẫn không ngủ được. Tất cả những sự kiện xảy ra trong thời gian vừa qua hình thành những câu hỏi luôn lởn vởn trong đầu. Có nên yêu không? Yêu hay không yêu? Yêu để lấy hay chỉ để cho vui? Những cô gái ở quê có ai bằng cô ấy không? Hình thức, tính cách? Mặc dù Hằng đã cố gắng không nghĩ đến nhưng vẫn không thể xua đi hết được. Một chuỗi những suy nghĩ kéo dài đã làm anh mệt mỏi. Có gì đó như muốn thoả hiệp, muốn buông trôi. Cùng lúc ấy trong anh cũng xuất hiện một tình cảm lạ, nó óng ánh, nó rực rỡ và khô nóng làm ra sự khao khát đến cháy bỏng mà không gì dập tắt, không gì ngăn cản nổi. Tự thân trạng thái ấy cứ thôi thúc buộc ta phải đi theo sự mời gọi của nó để rồi mặc kệ tất cả mọi sự muốn ra sao thì ra…

Chưa bao giờ một ngày làm việc lại dài đến thế! Mặt trời thì cứ đứng im mãi ở trên đầu, đôi kim của chiếc đồng hồ hình như không chịu quay, chiếc kẻng bằng quả bom cũng như bị câm mà không chịu cất lên những tiếng keng keng làm cho cái sự chờ đợi cứ dài dằng dặc ra đến mức không còn chịu đựng thêm được nữa.

Đôi trai gái ấy cũng đã có nhiểu đêm chờ đợi, nhiều đêm gặp gỡ, tuy vậy họ cũng vẫn còn có gì đó tựa như muốn giữ ý với nhau. Nhưng đến lần hẹn tối hôm qua thì hình như có điều gì đó rất khác so với những lần trước đó. Chờ đợi mãi thì rồi trời cũng đã tối và cái thời điểm hò hẹn cũng đã đến. Gốc dừa lại một lần nữa chứng kiến sự gặp gỡ của đôi trai gái cùng với những gì mà họ chưa kịp bắt đầu từ những đêm hôm trước. Khác với mọi đêm, đôi trai gái đêm nay có phần dạn dĩ hơn, họ ngồi gần nhau hơn, những câu chuyện của họ cũng tươi vui hơn mà không còn những câu hỏi có ý thăm dò và khách khí như những đêm trước nữa. Từ bên trong tâm hồn của mỗi người đều đã nhận ra cái điều mà họ hiểu sẽ phải xảy ra trong khoảng thời gian đang đến rất gần.

Tất cả những câu chuyện dùng để làm cái cớ cho sự gặp gỡ hầu như đã không còn cần nữa, cả hai người đều im lặng đợi chờ và khi hai thân người chợt chạm vào nhau thì mọi ngăn cách hầu như đã không còn. Những chùm sao trên trời, những chùm sao dưới nước hình như cùng lúc ánh lên sáng rỡ. Cũng giống như những chùm sao, ánh mắt của cả hai người như hút vào nhau lúc một gần thêm, gần thêm và chợt ánh lên sáng lấp lánh khi hai cặp môi gắn vào nhau không muốn rời ra nữa.

Từ sau nụ hôn kéo dài vô tận ấy họ không còn nói với nhau bằng lời mà bắt đầu nói với nhau bằng mắt, bằng sự tiếp xúc da thịt của nhau trong vòng ôm đến nghẹt thở. Những gì chất chứa trong lòng được dịp phơi bày không cần phải giữ gìn gì nữa. Gần một đêm trắng bên nhau trong yêu, trong khao khát, làm họ ngây ngất trong hạnh phúc tràn ngập và họ chia tay nhau khi hướng đông đã bắt đầu ửng đỏ, thai nghén một ngày mới trên trái đất xiết bao rực rỡ.

Những cuộc gặp gỡ cứ liên tiếp hết đêm này sang đêm khác, trừ những ngày Hằng phải làm thêm giờ hoặc cả hai gặp những cuộc họp thanh niên, phụ nữ của cả bên cơ quan của Hằng và bên địa phương của Dụng. Tất cả các cuộc gặp đều như không đủ dài để họ có thể ở bên nhau lâu hơn, nói với nhau nhiều hơn. Có lẽ cái ý nghĩ đêm hình như bị ngắn đi đều có ở trong tất cả những người đang yêu.

Bước tiến của bản thân trong công tác, cùng với tình yêu của Dụng trong những ngày qua như tiếp sức cho Hằng trong những ngày lao động vất vả, những ngày đạn bom khốc liệt. Mọi người ở bên cạnh cũng vui mừng cho họ và nhìn họ với sự khích lệ hết sức chân thành. Thời gian đã gắn kết họ lại đến mức có lẽ không gì có thể làm cho họ xa nhau được. Công việc khôi phục của tổ máy chỉ còn vài ngày nữa thì xong, ngày chia tay với Đại Khối càng lúc càng gần. Hai người tranh thủ gặp nhau thường xuyên hơn để nếu sau này có phải xa nhau cũng đỡ buồn, đỡ tiếc những ngày gần gũi.

Tất cả mọi đồ đạc Hằng đã gửi xe mang về Vồm từ mấy ngày hôm trước, hôm nay Hằng chỉ còn mỗi việc từ biệt gia đình và Dụng nữa mà thôi. Chia tay với bố mẹ Dụng xong là cả hai đứa đưa nhau về phía cuối làng để rồi từ đó Hằng sẽ đi tắt về Vồm. Cứ mỗi lần chào nhau xong lại thấy không thể rời nhau ra được. Nào là những hẹn hò xuống thăm vào ngày nọ, ngày kia lại đến bàn bạc về một kế hoạch nào đấy cho việc cưới xin vào năm tới. Chán các chuyện nghiêm chỉnh lại đến những trò hờn dỗi, nào là anh về vài bữa chắc lại quên mất, hoặc là mấy cô cơ quan lúc nào chả đẹp lại sạch sẽ, còn bọn con gái thôn quê làm sao theo kịp vân vân và vân vân…

Không hiểu thế nào mà mãi đến khi trăng lên rồi cặp trai gái vẫn còn ở gốc đa trên cánh đồng Đại Khối. Sau bao nhiêu là chuyện, cả hai người lại im lặng ngắm nhìn nhau, trên má Dụng ánh trăng soi rõ hai hàng nước mắt tràn trề làm cho Hằng cảm thấy hai bên cánh mũi cũng cay cay như muốn khóc. Nhìn Dụng lúc ấy sao mà thương yêu đến thế, không thể cầm lòng được nữa, Hằng ôm chặt lấy Dụng đặt lên lòng rồi hôn lên tất cả mọi chỗ trên khuôn mặt đẫm ướt.

Cũng như Hằng, Dụng ôm ghì chặt lấy người yêu như muốn áp toàn bộ thân thể của mình vào người yêu để cảm nhận tất cả những gì mà chỉ trong vài giờ nữa sẽ phải xa cách, không biết bao lâu mới gặp lại được. Trong một khoảnh khắc mềm yếu đến tột cùng làm cả hai người hầu như không còn nghĩ đến điều gì khác, họ hoàn toàn để mặc bản thân hoà vào sự kêu gọi của bản năng tự nhiên mà không hề muốn cưỡng lại.

Trong ánh sáng huyền ảo của trăng hạ tuần, cơ thể Dụng mềm mại và đẹp đến mức không bút nào tả hết được. Toàn thân của cô, cùng với tay chân cứ như những mảnh lụa biết cử động. Những đường viền rõ nét bao lấy mảng màu trắng mờ tuyệt vời nhất của thế gian. Nơi đẹp nhất, nơi cuốn hút nhất luôn réo gọi, luôn chờ đợi. Dụng đã muốn dâng hiến tất cả cho người yêu mà không có ý đòi hỏi một điều gì khác. Bàn tay của tình yêu đã đặt lên mọi chỗ trên bức tranh của tạo hoá với cảm xúc về sắc thái, về âm hưởng đến vô cùng, vô tận của tình yêu.

Tất cả chợt tan đi trong một giây phút rất đặc biệt, cùng với những lời lẽ thật dịu dàng sau một cái hôn dài ngang với cái hôn lần đầu của họ.

- Chúng mình sẽ là vợ chồng! Chúng mình sẽ có tất cả trong những ngày không xa nữa!

Nước mắt lại tràn ra trên khuôn mặt cô gái cùng với câu nói đứt đoạn:

- Em sẽ yêu anh mãi mãi!

Trong tất cả những tháng ngày đầy kỷ niệm, hình như đây là lần đầu tiên một trong hai người đã nói đến chữ yêu, đó là lời yêu duy nhất trong một lần yêu muôn đời không quên được…

Cuối năm đó chàng trai trở về nhà để chuẩn bị cho việc làm nhà, đồng thời chuẩn bị cho bước tiếp theo Bài ca tình yêu của mình. Cũng đã cố gắng hết sức nhà Hằng mới mua được một ngôi nhà tranh ba gian ở tận làng Thiên Hội. Cái nhà cũng chẳng tốt gì, mọi cái để nguyên thì còn, nếu dỡ ra thì chắc sẽ có nhiều cái hỏng. Rất nhiều cái kèo, cái cột đã ải mục dỡ ra là phải bỏ, vì vậy mà khi dựng lại ngôi nhà chỉ còn đủ được một gian với hai cái chái. Với cơ ngơi như vậy thật khó có thể nói đây là một gia đình có cuộc sống tốt đẹp. Điều này cũng chính là sự trở ngại về hoàn cảnh, khiến người con trai mong muốn có thêm một thời gian nữa để thu xếp ổn định đời sống trước khi xây dựng gia đình. Nhưng cậu có thể nói gì được trong lúc này và thế là lịch trình mà một nửa kia chờ đợi đã không được thoả mãn. Cũng chính từ đó phía đối tác đã hình thành những mối ngờ vực ngày một lớn hơn, không ai có thể thanh minh cho được và rồi Bài ca tình yêu hay tuyệt đã bất ngờ dừng lại sau một thời gian phô diễn tất cả những cái tuyệt mỹ trong phần mở đầu của nó.

Vào một ngày đầu tháng hai năm ấy người con gái đã đến gặp người con trai để mời tham dự chương trình Bài ca tình yêu mới của cô và rồi từ đó mọi dư âm của bài ca ngày cũ đã không bao giờ còn vang lên nữa. Lời yêu tắt lịm và chắc còn lâu mới có thể quay trở lại được.

 

                                                              4

 

Những ngày tháng buồn bã kéo dài hết ngày này sang ngày khác. Cho dù công việc đã cuốn đi hết cả thời gian nhưng chỉ cần ngơi ra lúc nào là những hình ảnh cũ chợt quay trở lại. Sự hể hả của bà mẹ, sự vui tươi của ông bố ở thời điểm đầu tiên tăng lên bao nhiêu thì cũng xẹp đi bấy nhiêu khi kết thúc buổi gặp mặt với chàng rể tương lai sau khi về quê ăn tết trở vào. Tất cả những câu hỏi từ xa đến gần về công việc cưới xin mà các cụ gợi ra đã không có được lấy một lời bày tỏ của chàng trai trẻ…

Cô ấy đã đi lấy chồng và cũng lại phải lấy chồng ở nơi thật xa bởi nếu không thì rồi có không biết bao nhiêu câu chuyện được thêu dệt ra và điều đó thật là bất lợi cho cô ấy. Chẳng có người phụ nữ nào dám đứng ra giữa một cộng đồng để nói rằng tôi vẫn còn trong trắng sau một tình yêu rực lửa mà tất cả mọi người đều đã nghe, đã biết.

Ai còn lạ gì cái sự yêu nhau của các cô, các cậu! Cái sự quyến luyến dễ làm cho người ta quên đi tất cả và rồi cái sự động chạm về thể xác chắc hẳn cũng phải xảy ra, ai mà chả thế! Thế rồi sự ngờ vực sẽ ngày một tăng lên, sự ngờ vực đâu chỉ có ở mấy người già, mấy cậu con trai trong làng, sự ngờ vực còn có thể ở chính ngay trong lòng của những người bạn gái thân nhất của cô. Tất nhiên là cô sợ, cô xấu hổ với mọi người, với bè bạn, cô không còn con đường nào khác.

Cho đến mãi về sau này chàng trai vẫn cứ tự trách  mình về sự ấu trĩ và sự sĩ diện hão của bản thân. Tại sao lại không thể nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về hoàn cảnh của mình? Tại sao lại không nói cho cô ấy cùng gia đình của cô ấy biết về cái sự cần thiết phải chờ đợi để cho cậu có thời gian củng cố đời sống gia đình? Tại sao cậu lại im lặng? Im lặng để rồi mọi cái đều tan nát cả?

Đã từ lâu cậu luôn tự hào về cái nghèo khó nhưng rất thanh cao của gia đình mình qua những việc làm của người cha trong thời cải cách. Vậy mà sao đến lúc này cậu lại không thể nói về điều đó cho họ nghe một cách vô tư được. Có lẽ là cậu đã nhận ra sự chờ đợi của cả cô gái và gia đình của cô về mối lương duyên này với hy vọng về một cuộc sống mới ở nơi thủ đô với những gì mà một số người thân của họ có được khi họ nhìn thấy những người đó trong những ngày về phép. Cậu nghĩ rằng cậu không có quyền làm tắt đi những hy vọng của họ và cậu cũng không thể đang tâm để mà làm tắt đi sự hy vọng đó khi cậu nói cho họ hiểu rằng gia đình của cậu còn khó khăn hơn họ đến mấy lần. Có thể nói một cách chính xác rằng ở vào thời điểm ấy cậu vẫn chưa đủ bản lĩnh để hiểu thấu đáo về những điều mà người cha của cậu đã làm. Sự thiếu tự tin trước một quan niệm đã bắt cậu phải trả giá cho việc mất đi mối tình đầu để rồi nhiều năm sau trong lòng vẫn day dứt khôn nguôi...

Đơn vị lại bước vào một đợt sửa chữa mới được nhà máy giao cho, đó là việc khôi phục phân xưởng Trung tâm. Lần công tác này đơn vị không đóng ở làng Đại Khối nữa mà chuyển về làng Định Hoà. Làng Đại Khối bây giờ có thêm hai lực lượng công nhân của Đoạn đường sắt phía Nam đến đóng quân tại đó. Khối công nhân đường sắt đóng ở đó gồm có Đại đội 315 biên chế toàn các thanh niên để làm các công việc nặng và Đại đội 324 lại biên chế toàn là nữ để làm các công việc nhẹ hơn.

Hàng ngày các tốp công nhân này vẫn đi từ Đại Khối qua ven làng Định Hoà để xuống khu ga Thanh Hoá phục hồi và sửa chữa các đoạn đường sắt bị hư hỏng. Thường thì họ làm suốt cả ngày đến tối mới trở về nhà. Mỗi lần đi qua làng Định Hoà họ vẫn cứ hay cất lên vài câu hò để trêu mấy chàng thanh niên của nhà máy điện.

Số công nhân nhà máy điện đóng ở Định Hoà cũng khá đông, đa số đều là các chàng trai chưa vợ và cũng khá lịch duyệt. Rất nhiều người có tài lẻ về thơ ca, hò  hát như Thanh ở phố Lò Đúc Hà Nội, Vĩ ở Vũ Thư, Thái Bình vv… đều là những cây đơn ca của nhà máy trong các kỳ hội diễn Quân khu Ba, hội diễn tỉnh và cả của nhà máy nữa. Các chàng trai này đa số đều đã có người yêu nhưng thấy các cô hò ghẹo nhiều lần thì các chàng trai này cũng cứ hò đối cho vui mà thôi. Thường thì mở đầu các câu hò khá hay nhưng càng về cuối thì những câu hò thường hay đi vào sự trêu cợt chọc tức lẫn nhau, thậm chí còn có cả những câu hò khá cợt nhả cùng những câu hò chửi bới khá thô tục, tuy vậy nhưng chỉ sau buổi hôm ấy rồi các chàng trai lại lãng quên ngay. Vậy nhưng các cô gái thì không quên đâu, có đến mấy ngày sau họ còn dò tìm xem cái thằng cha nào hôm trước hò ngoa ngoắt thế không biết.

Từ khi chia tay với Dụng, Hằng đã tự đặt ra cho mình là phải phấn đấu làm sao để cùng với mẹ lo củng cố gia đình để nâng cao kinh tế lên rồi mới lo đến chuyện vợ con. Chính vì thế mà cũng có khối cô gái ở các đơn vị trong nhà máy và cả ở các địa phương Hằng đến trọ đã để ý đến, Hằng vẫn làm ngơ như không biết. Thực ra Hằng cũng đã rút ra được bài học từ lần yêu trước, nên không đến mức sợ yêu. Cái chính là tất cả những cô gái có ý tứ lại không hợp với con mắt của Hằng, mặc dù với mọi người thì các cô gái được đánh giá là “sạch nước cản”.

Có lẽ Hằng cũng là một người mang tính cực đoan bởi rất nhiều người cho rằng một cô gái nào đó là rất đẹp thì Hằng lại không tán thành. Không phải là Hằng hoàn toàn phủ nhận, nhận định của mọi người nhưng những cô gái đẹp sắc xảo một chút Hằng đều không ưa lắm. Trong con mắt của Hằng thì ít nhất là cô gái ấy phải có sự hiền lành, nhu mì, ít nói, tất nhiên là phải không xấu lắm. Nói một cách khác là cô gái ấy phải có duyên, dễ gần, dễ mến. Hằng thường nghĩ những cô gái như thế sẽ đối xử tốt với chồng và cả với bà mẹ một đời gian nan vất vả của Hằng. Như thế có lẽ cũng là có sự kén chọn chứ không đến mức thế nào cũng được. Tuy nghĩ ra thì nhiều nhưng làm thì không hẳn đã theo được mấy và đấy cũng là nguyên cớ để có cuộc tình tiếp theo với rất nhiều kỷ niệm.

Mặt trời đã lặn sau những vòm cây của những làng xóm mờ xa ở phía tây. Màu hồng vẫn còn hắt lên bầu trời một quầng sáng khá rộng. Vừa thập thững đi dọc con đường ra cánh đồng của làng Định Hoà vừa chúi mắt vào cuốn tiểu thuyết Ruồi Trâu trên tay thì cậu giật nảy mình vì những câu chào rõ to của một toán con gái bịt mặt bằng những chiếc khăn bông lớn. Chẳng khó gì mà không nhận ra các cô ấy là những công nhân đường sắt. Có lẽ các cô ấy vẫn bực mình vì trận hò thua mấy cậu công nhân trọ bên nhà bà Sinh chiều qua. Cậy đông và lại được các tấm khăn che kín mặt nên các cô đồng thanh chào rõ to có ý làm giật mình cho bõ tức. Nhưng rồi các cô ấy cũng nhận ra là cái anh chàng này không phải là người vẫn hò trêu cợt cùng các cô nên cô nào cô nấy đều tỏ ra khép nép và có ý hối hận về việc làm của mình.

Hằng miễn cưỡng chào lại rồi lại tiếp tục cúi mặt vào những trang sách. Chưa kịp tìm ra dấu dòng vừa đọc lại thấy các cô gái hỏi tiếp:

- Có phải anh ở ngôi nhà đầu làng kia không ạ?

- Vâng! Tôi ở ngôi nhà đầu tiên ấy.

- Có mấy anh ở đấy hò hay thế không biết?

- À! Thế có lẽ các cô là những người vẫn hò mấy buổi tối hôm trước đấy hả? Thế tối nay có hò nữa không?

- Anh hò với chúng em nhé?

- Được thôi, nhưng mà tôi hò kém lắm với lại không đối đáp được các cô như mấy cậu ấy đâu!

- Chúng em cũng kém như anh thôi!

- Không! Tôi cũng đã nghe các cô hò buổi tối hôm kia rồi! Dữ quá!

Một cô gái mở đầu bằng một câu hò nói về tình yêu bằng chất giọng miền trong thật cao và ấm. Hằng cũng hò đáp lại bằng một câu hò nói về tình yêu vận ra từ một bài hát dân ca. Tất cả các cô đều ồ lên khen hay và ấm. Hò đi, hò lại đối nhau đến bốn năm câu thì trời tối hẳn, các cô xin phép ra về để còn tắm giặt. Cả bọn líu ríu hỏi tên và hò hẹn đến chơi.

Một buổi tối đầu tháng không có trăng sao, Dậu là quân của đại đội 315 quê ở thành phố Nam Định mà Hằng và Ngữ quen từ hồi trong năm đã dẫn đường sang thăm mấy cô gái vừa làm quen hôm trước. Nói là quen biết nhưng khi đến nơi thì chỉ có các cô ấy biết mình chứ còn mình thì lại chẳng biết ai cả vì mình chỉ gặp hình dáng còn khuôn mặt thì chưa lần nào nhìn được bởi những chiếc khăn che kín mít. Cũng phải nói chuyện một lúc thì rồi mới nhận được người quen. Người quen của Ngữ là cô Tuyến cán bộ đoàn thanh niên của đơn vị, còn cô gái có giọng nói miền trong mà Hằng hò đối hôm trước là cô tiểu đội trưởng Hằng Trường.

 

                                                         5

 

Trường cứng tuổi hơn các cô khác, khuôn mặt không xinh lắm nhưng có duyên. Vầng trán rộng làm cho cô có cái nét mặt của sự thông minh hơn là sự duyên dáng. Trường hình như cũng đã yêu một người nào đó trong đơn vị, đó là Hằng suy đoán vậy thôi. Không biết mấy cô gái trong nhóm có biết hay không mà vẫn cứ gán ghép Trường với Hằng bằng cái tên ghép của Trường, còn Trường thì chỉ cười như không có chuyện gì xảy ra.

Trong khoảng thời gian buổi tối đầu tiên chủ yếu là những câu chuyện hội đồng giữa tất cả mọi người. Chỉ thỉnh thoảng mới có một cặp nói chuyện riêng với nhau tranh thủ khi những câu chuyện tập thể bị lắng xuống. Dù sao thì mỗi chàng trai đến với những cô gái không ai là không quan sát để tìm cho mình một khuôn mặt mà mình ưng ý, Hằng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ.

Những cuộc thăm nhau qua lại trong cả tháng trời cùng với những cuộc đưa tiễn sau mỗi lần đến thăm kéo dài đến cả tiếng đồng hồ trong đêm tối làm cho mỗi người thấy thân mật hơn lên. Mặc dù sự quen biết ở đây là sự quen biết của cả một nhóm nhưng rồi không hiểu thế nào chỉ trong một thời gian rất ngắn đã  hình thành ra từng cặp một. Cặp đôi Hằng và Trường cũng có vẻ gắn bó nhưng nếu quan sát kỹ người ta vẫn nhận ra giữa hai người có cái gì đó vẫn còn chút miễn cưỡng.

Từ trong sâu thẳm tâm hồn của chàng trai, mối tình cũ cùng với những kỷ niệm cứ luôn trở lại réo gọi. Còn với cô gái thì luôn bâng khuâng về hai hình ảnh đang cùng lúc lướt qua trong trí não đòi hỏi phải mau có một quyết định nhận cái nào và bỏ cái nào, còn bản thân cô thì lại cứ phân vân không tự quyết nổi. Cũng giống như một người đi đường nhìn thấy hai con cá lớn đang rạch về hai phía, muốn bắt nhưng chưa biết nên bắt con nào trong khi chỉ còn một vài cái quẫy đuôi nữa là cả hai con cá sẽ trườn xuống lòng mương mất.

Trong một lần Hằng đến chơi thì Trường lại bận đi họp, người đón tiếp Hằng là một cô bé người thấp nhỏ nhưng da trắng và đặc biệt là có đôi mắt ươn ướt tựa như biết nói, hình như cô nói bằng mắt hơn là nói bằng lời. Trong một khoảng thời gian ngắn nhưng Hằng cũng đã khai thác được một số nét về gia đình và về bản thân cô ấy.

Quê nhà cô ở một làng chài ven biển của huyện Hậu Lộc. Nhà cô ở cách bờ biển không quá một trăm mét nhưng lại không sống bằng nghề đi biển đánh cá. Ông bố cô có nghề cắt thuốc chữa bệnh bằng các vị thuốc Nam, mẹ cô và em gái thì làm ở hợp tác xã nông nghiệp. Vừa mới qua tuổi thiếu niên là cô đã xin đi thanh niên xung phong và được bố trí vào đại đội 324 tổng đội đường sắt phíaNam.

Câu chuyện của hai người hầu hết là những câu hỏi và những câu trả lời của cả hai người kéo dài đến cả tiếng đồng hồ nhưng rồi cũng đã đến lúc dần cạn. Ngồi chờ đợi Trường lâu quá làm Hằng cảm thấy ngại, thế là Hằng đứng lên chào mọi người để ra về. Sau khi giữ khách lại không được cô gái đành phải đi theo để tiễn khách thay. Quãng đường đi tiễn đã dài mà hình như cô gái ấy vẫn chưa tỏ vẻ muốn chia tay với ông khách của bạn. Cũng đã mấy lần ông khách dừng lại bởi đoạn đường đã dài quá rồi nhưng người đi tiễn hình như không để ý đến điều đó. Cũng chỉ còn vài bước chân nữa là đã đến gốc gạo ở giữa cánh đồng của hai làng, có nghĩa là đã đến điểm chia đôi khoảng đường từ nhà chủ đến nhà khách. Sau khi cả hai người đã ngồi lại bên gốc gạo đến gần nửa giờ thì khách đành nhắc chủ chia tay. Thế là khách lại phải tiễn chủ quay trở lại.

Cô gái thay Trường tiếp khách cũng là một người trong nhóm quen biết ngay từ buổi ban đầu, cô có tên là Nghi, một cái tên rất hiếm gặp ở ngoài đời, ở cô hầu như không thấy có gì là sự khách sáo. Những câu chuyện của cô có cái gì đó rất tự nhiên và thân mật, tiếp xúc với cô, Hằng thấy giống như tiếp xúc với một người cùng làng. Sau lần thay bạn tiếp khách ấy cô còn phải thay bạn tiếp khách đến vài ba lần nữa vì Trường hay phải đi công tác xa đơn vị, còn ở nhà thì rất hay bận họp. Cuối cùng vỡ lẽ ra là Trường luôn bị khống chế để phải bận khi có khách đến chơi thông qua một cán bộ cấp trên đã để ý đến Trường.

Thực ra thì cả hai người cũng chưa có sự gắn bó nào mà chỉ mới cảm thấy mến nhau mà thôi, nên việc rời xa nhau cũng không đến nỗi khó khăn lắm, người này thì không muốn làm cho người kia phải khó khăn trong công tác, còn người kia thì lại cũng không muốn gặp trở ngại trong việc giao tiếp với người bên trên để còn có điều kiện phát triển bản thân. Có một điều đáng nói ở chàng trai là anh ta chỉ muốn có một người khả dĩ thay thế người con gái vừa tuột khỏi tay mình để rồi mau chóng quên đi mối tình cũ, nên khi thấy mối quan hệ mới có vẻ phức tạp như thế thì cũng thấy nản. Hơn nữa bên cạnh lại đã có một người mới thay thế nên cái sự rời bỏ cũng không khó khăn gì.

Hình như trong lĩnh vực tình yêu người con gái không bao giờ chủ động ngỏ lời trước nhưng một khi đã quen nhau rồi thì họ lại rất khéo dẫn dắt đối tác đi theo quỹ đạo của họ. Còn các chàng trai thì cứ tưởng đấy là chương trình do mình đặt ra, thế rồi lao theo một cách hết sức nhiệt tình. Nhiều khi còn tự hào cho rằng mình là người chiến thắng oanh liệt, kỳ thực thì họ là người luôn bị dắt mũi và chịu những thất bại ê chề. Mặc dù cố giữ trạng thái quan hệ bạn bè trong một thời gian khá dài nhưng rồi việc gì đến sẽ vẫn phải đến. Quan hệ của hai người đã có bước phát triển khác so với ý định ban đầu. Các cô bạn trong đơn vị đã không còn gán ghép Hằng với cô Trường nữa, họ đã nhận ra sự thay đổi đối tượng của cặp bạn này.

Cũng trong thời gian này quân Mỹ đã ngừng đánh phá miền Bắc. Khối công nhân sửa chữa thiết bị lò máy của nhà máy điện đã được chuyển về khu Lán ổi để đi lại cho nó gần. Những đội viên của 324 cũng được phân công đi sâu vào phía Nam. Từng bộ phận nhỏ được chuyển về các ga kéo dài từ ga Thanh Hoá vào đến ga Vinh và xa hơn nữa như ga Đồng Hới của tỉnh Quảng Bình. Công việc của họ là khôi phục nhanh các ga để thông tuyến đường sắt vận chuyển của cải, phương tiện từ ngoài Bắc vào giúp cho công việc xây dựng lại các địa phương đã bị tàn phá trong chiến tranh. Chuyên chở các phương tiện quân sự và các đơn vị quân đội bổ sung cho chiến trường miền Nam tiếp tục công cuộc giải phóng đất nước, thống nhất tổ quốc.

Bộ phận của Nghi cũng được chuyển đến ga Minh Khôi vừa để sửa chữa nhà ga và sửa chữa các cung đường kế tiếp các bộ phận khác. Sau mỗi tuần làm việc Nghi lại theo tầu về thăm người yêu vào các buổi chiều thứ bẩy và rồi lại theo tàu vào Minh Khôi vào các chiều chủ nhật. Những bữa cơm tập đoàn độn ngô cùng với một chút thức ăn mua thêm để cải thiện cùng với mấy người bạn nhưng vẫn rôm rả không kém những đợt đi ăn cơm tiệm ở Hà Nội. Những buổi tối dạo chơi trên những bờ đê đẫm sương hoà trộn với hương lúa đồng thơm ngát cùng với bao nhiêu những dự định về cuộc sống ngày mai sau mỗi tuần làm việc càng làm cho tình yêu của họ ngày càng đằm thắm. Một ngày nào đó người chồng sẽ vẫn cứ làm công nhân của nhà máy điện, còn người vợ sẽ làm việc ở một nhà ga nào đó, để rồi cuối tuần lại trở về gặp nhau với những bữa cơm gia đình giống như các anh, chị trong đơn vị mà hai người vẫn đến thăm hàng ngày. Sau khoảng thời gian quan hệ cùng nhau hai người đã bàn nhau tiếp cận hơn nữa về phía gia đình và một ngày hạ tuần tháng ba họ đã quyết định cùng về thăm nhà cô gái.

Làng chài Minh Đức xã Minh Lộc cũng như bao nhiêu làng quê ven biển trên khắp nước Việt Nam, cũng có bãi biển toàn cát trắng cùng với những hàng phi lao chắn sóng trồng thành những hàng đều nhau chaỵ dọc theo bờ biển. Những mái nhà ngói chen lẫn những mái nhà lợp lá kè ngày đêm toả khói giữ nhịp sống cho bao gia đình người dân đất Việt. Những ông già, bà già nước da nâu bóng đi lại mạnh mẽ trên bãi cát từ sớm đến chiều say sưa làm việc. Người thì giăng phơi các vàng lưới cắm cúi vá những chỗ lưới bị thủng, người thì đan sửa lại các thúng sọt để đón cá về vào các buổi chiều.

Người nhà cô gái đón bạn trai của cô hết sức vui vẻ và nhiệt tình, ông bố thì nheo mắt ngắm nghía chàng thanh niên khá kỹ suốt từ đầu đến chân rồi vào nhà pha nước, còn bà mẹ và cô em gái thì ríu rít mời chàng trai vào nhà, cả bà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên cũng vội vã sang chơi. Sau khi cô gái dẫn bạn ra giếng rửa chân tay mặt mũi xong vừa vào đến nhà là hàng loạt các câu hỏi thăm nom với đủ các lĩnh vực. Từ công việc làm ăn đến hoàn cảnh gia đình rồi thì đến có bao nhiêu anh em cô bác, chàng trai chưa kịp trả lời xong người này đã lại phải trả lời sang người khác. Cuối cùng thì cũng đến lượt cậu hỏi lại những người trong gia đình, từ công việc làm ăn hàng ngày đến bà con họ hàng xóm láng. Đến khi hỏi đến công việc của ông bố thì cậu đành phải ngồi im để nghe ông kể về việc chữa bệnh của ông. Ông cụ kể ra rất nhiều những con bệnh mà ông đã chữa khỏi. Hết kể về con bệnh ông lại kể về cách sử dụng các cây thuốc, trong câu chuyện của ông có cái say nghề của một người luôn coi công việc mà mình đang làm như là một lý tưởng của cả cuộc đời.

Câu chuyện hàn huyên đang còn rất sôi nổi thì người nhà đã dọn cơm chiều. Cơm nước xong thì Nghi dẫn bạn trai sang nhà chị gái lấy chồng ở nhà kế bên chơi. Chị gái của Nghi tên là Thuận lấy chồng là bộ đội hiện đang tại ngũ, anh chị đã có hai con nhỏ. Tuy chị chỉ có một mình nhưng chị làm ăn khá giỏi so với nhiều người khác. Hàng đêm chị đi đánh moi ngoài biển đến khuya mới về nhà. Chị nói chuyện chả khác Nghi là mấy, thẳng thắn và không cần khách sáo. Trong lúc Nghi đang chơi với các cháu ở ngoài sân, chị nói chị sẽ có quà cho hai người khi hai người tổ chức cưới. Vừa nghe đến đây Hằng chợt giật mình không biết nói thế nào, trong bụng thầm trách Nghi đã nói chuyện này với gia đình quá sớm.

Vừa về đến nhà hai người cũng gặp ông bố vừa đi làm thuốc về, ông lại tiếp tục kể về công việc chữa bệnh của ông cho cả hai người cùng nghe. Từ cách chữa bệnh cho phụ nữ, trẻ em đến chữa các bệnh đậu mùa, bệnh bỏng nước, bỏng lửa. Ngừng một lúc ông cất cao giọng:

- Chả biết gì chứ lấy con gái tao thì chắc là vớ được cả mớ những sẹo bỏng ở mông đít.

Nghe xong câu nói này của ông cụ chàng trai thấy nóng bừng cả người và không còn biết nói sao nữa, cũng may mà trời đã bắt đầu nhá nhem tối nên chắc ông cụ cũng không thấy khuôn mặt ngượng ngập của cậu. Trời tối hẳn, trong nhà đã bắt đầu lên đèn, hai người xin phép ông bố để đi ra chơi ngoài bãi biển. Hai người đi ra đến cổng mới nghe ông bố dặn với ra:

- Nhớ về sớm đấy nhé!

- Vâng!

Cô gái cất giọng khá to trả lời ông cụ khi đã bước ra khỏi cổng nhà.

Cũng chả phải đi đâu xa xôi bởi sau hàng phi lao cạnh nhà đã là bãi cát vừa phẳng, vừa rộng. Từ hàng phi lao ra tới mép nước biển cách xa đến gần nửa cây số, thoải mái cho hai người đi dạo. Ra đến sát mép nước thì trời đã tối, hai người cầm tay nhau đi dọc theo mép nước biển trong màn đêm mờ sáng ánh sao. Đi chán rồi lại ngồi cạnh nhau trên bãi cát cùng nhìn ra mặt nước nghe từng đợt sóng biển ộp oạp vỗ vào bờ cát. Giữa khoảng không gian đầy thơ mộng được bóng đêm che phủ không có cặp tình nhân nào không tranh thủ để mà thổ lộ tình cảm, để mà âu yếm lẫn nhau. Tay trong tay, mặt kề mặt, hai thân thể nóng bỏng khao khát áp chặt vào nhau, những cái hôn dài tưởng như không dứt. Những nét thân thuộc trên cơ thể của nhau lại có dịp được tìm lại sau những ngày xa cách. Bầu trời, mặt biển, bờ cát cùng những vì sao thêm một lần chứng kiến tình yêu cháy bỏng của đôi trai gái.

Họ đã ngồi với nhau như thế rất lâu, rất lâu. Thời gian như ngừng trôi, vũ trụ như ngừng quay và tất cả mọi người trên trái đất hình như đã ngủ say hết để cho đôi người của họ thổ lộ cùng nhau lời yêu tha thiết nhất.  Phía đông đã hơi ánh lên chút ánh sáng tựa hồ như từ nơi ấy sắp có một điều gì đó kỳ lạ sắp xảy ra. Cũng đúng lúc ấy từ ngoài khơi xa có một rền vang giống như tiếng rền của sấm. Nghi giật mình vội đứng dậy kéo tay người yêu chạy vội vào bờ phi lao. Chàng trai thật sự bất ngờ không hiểu gì cả nhưng khi thấy người yêu kéo chạy thì chàng trai cũng chạy theo như một phản ứng dây chuyền vậy. Vừa chạy chàng trai vừa ngoái lại đằng sau thì thấy nước biển đã dâng lên đuổi sát theo chân của hai người. Vừa lúc hai người ngã nhào vào bờ phi lao thì nước biển cũng đã ngập bàn chân. Thì ra tiếng sấm rền vừa rồi là tín hiệu mở đầu cho những đợt thuỷ triều ở những vùng biển mà chàng trai “đường nhựa” không biết.

                 

                                        QUÂN NGŨ

 

                                                   1

 

          Tất cả những dự định tiếp theo của cặp trai gái chắc chắn đã có thể thực hiện được nếu như không có một sự kiện đặc biệt đã xảy ra, có lẽ đó là số phận đã xui lên như vậy. Chỉ mới qua cuộc thăm nhau nhân ngày chủ nhật chưa đầy nửa tháng thì Hằng nhận được quyết định gọi nhập ngũ của ban quân sự tỉnh. Đợt tuyển quân lần này gấp rút đến mức các quân nhân không có điều kiện được về nhà chia tay với gia đình mà phải tập trung ngay về các đơn vị huấn luyện. Trừ những quân nhân quê ở Thanh Hoá thì còn có thể kịp nhắn cho gia đình và bè bạn đến để đi tiễn. Còn Hằng và một số anh em quê ở ngoại tỉnh thì chỉ có chính mình tiễn mình lên đường vào quân ngũ.

          Những ngày tháng quân ngũ khép kín với những buổi tập tành, học họp cứ kế tiếp qua đi. Thời gian quân ngũ đã dài gần bốn tháng mà Hằng cũng chẳng viết thư cho ai trừ một lá thư gửi về cho mẹ. Trong những năm sống trên đất lửa Hàm Rồng, Hằng đã nhận ra sự khốc liệt của chiến tranh. Những năm tháng sắp tới mình cũng sẽ vào cuộc như rất nhiều những chiến sỹ phòng không đã từng sát cánh cùng mình trong những trận chiến đấu đầy hy sinh gian khổ. Những năm tháng chiến tranh sẽ còn rất dài, tất cả những người chiến sĩ sẽ chỉ có thể ra về khi chiến tranh kết thúc hoặc bản thân họ bị thương tích đến mức không còn tiếp tục chiến đấu được nữa như những thương binh trong các trại mà Hằng đã có lần được gặp. Những người liên quan đến mình rồi đây sẽ ra sao khi mình là một người tàn phế, hoặc mình là người sẽ hy sinh không bao giờ còn có thể trở về được nữa. Những chị Hả, chị Thục ở quê mình, những chị Thuận của nhà Nghi sẽ cô đơn cho đến hết cuộc đời, mỗi lần nhìn thấy họ mà lòng lại nao nao khôn tả. Chả lẽ mình rồi sẽ lại là một trong những người đàn ông như những người đàn ông của chị Hả, chị Thục và chị Thuận mãi mãi không bao giờ trở về nữa. Mình có nên để cho những người thân yêu của mình phải chịu sự bất hạnh mà mình đã quá biết, quá hiểu này không?

          Tuy vậy đôi khi nghĩ đến mẹ, Hằng lại thấy hình như mình có lỗi khi quyết định sự việc theo cách nghĩ này. Chắc chẳng có người mẹ nào lại không mong muốn mình có con, có cháu để cho chúng kế tục cái sự nghiệp mà bản thân họ cả một đời nhịn ăn, nhịn mặc, đổ mồ hôi công sức để gây dựng lên. Huống chi trên đời này cũng đã có hàng vạn người phụ nữ có hoàn cảnh như vậy mà họ có ta thán gì đâu. Có lẽ mình cũng nên có một đứa con cho dù bằng cách nào cũng được miễn là người ấy có thể chấp nhận. Cho đến cuối cùng thì cái lý lẽ không nên làm cho người khác bị đau khổ đã thắng thế. Hằng đã quyết không báo tin cho Nghi nữa. Sự đời đâu có theo ý của riêng mình, cái mình muốn nhiều khi tự nhiên vẫn bị thay đổi bởi nhiều nguyên nhân ngẫu nhiên, ngẫu nhiên đến không thể tượng tượng nổi.

Cũng không biết tiểu đoàn làm thế nào mà lại được phân phối một con trâu khá to làm thực phẩm. Sáng ấy Hằng được cử lên tiểu đoàn để phối hợp với các đơn vị khác làm thịt xong rồi nhận thịt tiêu chuẩn mang về đơn vị. Ăn thịt trâu thì có lẽ đa số mọi người đã từng, nhưng làm thịt trâu thì số anh em tập trung ở đây chả có ai đã từng trải qua. Làm sao để cho con trâu ngã ra, chết ngất đi thì mới dễ dàng cắt cổ lấy tiết và rồi mới có thể mổ bụng, bỏ lòng ruột ra rồi cắt thịt chia cho mọi người được. Mỗi người đề xuất một kiểu cho đến cuối cùng thì đi đến kết luận là cần phải lấy cái gì đó thật nặng để đập vào đầu cho nó ngã ra. Nói thì thế nhưng rồi hết anh này thay anh khác bổ vào đầu trâu đến vài chục nhát búa chim mà nó vẫn không chịu chết. Không những thế nó còn tự dứt đứt mũi của mình ra rồi cứ nghênh cặp sừng theo hướng các “chuyên gia” thịt trâu để mà húc làm cho các “chuyên gia” này không dám tiếp cận nó nữa. Cũng may khi trước đã buộc vào chân nó một sợi dây chão chứ không thì nó đã phóng đi mất và rồi cả tiểu đoàn sẽ phải nhịn món thịt trâu đã ở trong tầm miệng. Cuối cùng thì anh cán bộ quân giới của tiểu đoàn đề xuất là nên dùng súng để bắn cho nó chết, chỉ cần có người nào dám bắn là được. Nhìn lướt qua một lượt thì thấy đa số các cậu đều là học sinh mới vào quân ngũ và cũng chưa được một lần bắn súng, cuối cùng thì ông anh Hằng là người nhiều tuổi nhất lại đã tham gia bắn máy bay rồi phải làm nhiệm vụ bắn trâu. Sau bốn năm lần kê súng vào đầu trâu rồi mà vẫn không bắn được. Khi thì hướng đạn vào nhà dân, khi thì đầu trâu cứ ngoảy đi, ngoảy lại không làm sao bắn được. Cuối cùng thì cũng tìm ra được quy luật ngoảy đầu của nó để rồi dùng phương pháp bắn đón mới xong. Sau tiếng nổ đanh khô khốc con trâu hung hãn thế mà rồi cũng từ từ khuỵu xuống.

          Chia xong thịt thì cũng đã gần một giờ chiều đang định gánh thịt về thì Hằng nghe thấy có người tìm mình. Đang còn nghến cổ về hướng đại đội thì đã nghe có tiếng của Lệ gọi ở phía sau.

          - Thế nào xong chưa? Về ngay có khách!

          - Vớ vẩn! Tớ thì làm sao có thể có khách được! Vì tớ có cho ai biết đâu mà có người đến thăm!

          - Thôi cứ về rồi khắc biết.

          Cũng may là Lệ đi sang bằng xe đạp thế là cậu ta  chở hộ thịt trâu để cho Hằng đi bộ lững thững đằng sau. Bộ quân phục bằng vải chéo Triều Tiên xổ lông của Hằng dính đầy các loại mỡ màng Hằng cũng mặc kệ chả cần chấn chỉnh làm gì, bởi Hằng nghĩ là Lệ trêu mình vậy thôi. Mãi đến khi về gần đến nhà trọ thì Hằng nhận ra cô gái đang đứng chờ bên hàng rào ô rô đúng là Nghi. Làm sao cô ấy biết mình ở đây mà đến được thế nhỉ? Hay là Lệ quen cô ấy từ trước và Lệ cho cô ấy biết? Sau một hồi đoán già đoán non mà chả đi đến đâu đã làm Hằng nhận ra rằng cái việc cô ấy nhờ đâu mà biết địa chỉ bây giờ đã không cần để ý đến nữa, điều cần nghĩ là bây giờ mình sẽ phải đối xử thế nào với cô ấy trong khi mình đã đặt ra kế hoạch bí mật từ giã để cho cô ấy quên mình đi, để rồi cô ấy sẽ tự tìm lấy cho mình một người đàn ông khác. Cuối cùng thì việc Nghi biết được địa chỉ đóng quân để có thể đến thăm là do cô bạn của Lệ mà Nghi đã gặp được trong khi trở lại khu công nhân của nhà máy điện để tìm gặp người yêu. Nghi đã đến người anh kết nghĩa mượn xe để chở cô bạn của Lệ cùng đi.

          Chỉ bằng quá trình trở đi, trở lại không biết bao nhiêu lượt từ nơi công tác đến đơn vị của người yêu rồi lại lần dò để có được địa chỉ rồi đến được nơi người yêu ở đã làm cho chàng trai xúc động và thương biết chừng nào. Chỉ tiếc rằng khi ấy lại ở thời điểm ban ngày, rất nhiều bà con trong xóm và đồng đội đang chia vui nên chàng trai không thể ôm lấy cô gái của mình để rồi không rời ra nữa. Tất cả những suy nghĩ từ bấy lâu nay đã bị xoá hết để trở lại tình yêu và tình thương tha thiết như những ngày nào.

          Có lẽ trong thời gian chờ đợi người yêu Nghi đã kể chuyện của hai người cho các anh trong ban chỉ huy nghe nên đơn vị đã cho Hằng được miễn công tác và các phiên gác từ chiều hôm đó đến hết ngày hôm sau. Từ lúc gặp nhau cho đến buổi tối hôm đó hai người đã ở bên nhau, câu chuyện của họ vẫn như ngày chàng trai còn ở ngoài dân sự. Chàng trai vẫn chờ cô gái trách móc về sự ra đi mà không cho mình biết để đến nỗi mình phải đi tìm vất vả nhường ấy, nhưng trong suốt thời gian gặp nhau cô ấy hình như không có một lời trách móc nào. Đến lúc ấy chàng trai mới hiểu người bạn gái của mình thật là một người có nghị lực và có lòng vị tha to lớn. Với một trái tim như thế, tấm lòng như thế thật khó có thể tìm được người thứ hai. Tại sao mình lại không để lại cho cô ấy một chút kỷ niệm như mình đã nghĩ tới. Chỉ cần một lá thư giới thiệu chắc mẹ mình sẽ chấp nhận cô ấy. Mình hiểu mẹ qua rất nhiều việc mẹ đã làm, từ việc cụ nhận nuôi người chị gái mà cụ nhặt được trên đường tản cư trong lúc bản thân cụ cũng phải lo kiếm ăn từng bữa, đến việc nuôi nấng bao nhiêu đứa cháu cho người em họ của chồng, rồi còn biết bao những cái tốt trong cư xử  đối với mọi người trong họ nhà chồng cho thấy cụ có thừa tấm lòng rộng mở nhất là mình lại có thư giới thiệu rằng đây là dâu, là cháu của cụ.

          Buổi tối gặp nhau sau gần bốn tháng càng làm cho cặp tình nhân khao khát hơn cả trong những ngày tháng trước đó. Họ ở bên nhau và quện chặt vào nhau, sao mà vui đến thế, sao mà đẹp đến thế nhưng cũng thật đáng thương bởi chỉ sớm mai đây họ lại phải chia tay nhau không biết đến bao giờ gặp lại, hoặc cũng có khi họ không bao giờ còn gặp được nhau nữa.

          Chỉ còn một nửa của đêm nay nữa thôi, từ phía cô gái dường như tất cả cũng đã rất sẵn sàng và những quyết định mới nhất của chàng trai sẽ được thực hiện trong những giờ phút sắp tới. Đêm lặng lẽ trôi để dần mất đi khoảng thời gian quý báu nhất mà hai người có được, sự quyết định sao mà vẫn khó khăn đến thế… Điều gì đã ngăn trở họ có nhau, điều gì đã ngăn trở họ làm cho nhau thoả mãn cả về những đòi hỏi bản năng lẫn những đòi hỏi về trách nhiệm của một con người trong việc duy trì nòi giống, duy trì dòng họ và duy trì phiên bản của chính họ trên cõi đời này? Xin tất cả mọi người đừng bao giờ trả lời cho những câu hỏi vừa rồi. Bởi tất cả mọi câu trả lời đều sẽ là rất khập khiễng và rất giáo điều.

          Họ chia tay vào buổi sáng hôm sau với bao lưu luyến không nói được thành lời. Người con gái thật là buồn thảm, còn người con trai thì cũng chẳng hơn gì, mặc dù chàng trai đã cố gắng để không đến nỗi quá buồn trên nét mặt, nhưng bên trong thì tựa như tất cả đang rớm lệ. Nhưng dù sao thì chàng trai cũng đã chiến thắng được chính mình, nung nấu thêm cái quyết tâm quên mình cho những người mình thương yêu nhất.  

                                                             2

 

          Vào những ngày cuối tháng chín năm 1970 đơn vị bắt đầu làm công tác chuyển quân từ khung huấn luyện sang cho các đơn vị mới. Toàn đơn vị lúc này đang tập kết tại khu vực Đồng Nẻ địa điểm cũ của cơ quan nông trường bộ, nông trường Yên Mỹ. Những buổi học tập chính trị kéo dài đến cả tuần, nào là nghe nói chuyện về tình hình, nhiệm vụ mới, tình hình chống Mỹ ngày một lan rộng trên thế giới, tình hình chiến sự miền Nam cùng với những con số rất cụ thể. Rồi thì  những thành tích trong xây dựng hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc, phong trào tất cả vì miền Nam ruột thịt,  tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược và còn rất nhiều chương trình khác nữa. Không khí sinh hoạt trong đơn vị hết sức sôi nổi và hừng hực khí thế. Các chiến sỹ háo hức ra mặt trận ngay để trả thù cho đồng bào và chiến sỹ miền Nam đang bị kẻ thù đàn áp, ra mặt trận ngay để kịp đóng góp một phần xương máu của mình cho chiến thắng của dân tộc. Người ta cứ nghĩ rằng nếu không nhanh thì không còn cơ hội tham gia vào công việc chiến đấu của dân tộc. Tiếp theo đó là các đoàn viên đăng ký làm đơn tình nguyện xung phong ra mặt trận.

Cuối cùng thì ngày lên đường chiến đấu cũng đã đến sau mấy ngày tập dượt báo động chuyển quân. Các chiến sĩ được lệnh bao gói ba lô vào các túi mưa để làm phao vượt vùng nước dài gần năm cây số ngay từ sáng sớm. Những cơn mưa kéo dài gần cả tuần lễ đã làm cho toàn bộ khu vực từ thung lũng dưới chân đồi Đồng Nẻ đến ngã ba Chuồng đều ngập dưới hai đến ba mét nước. Đợt chuyển quân ngẫu nhiên lại hoá thành một đợt thực hành chuyển quân trên đồng nước mà không phải lúc nào cũng có được. Mặc dù chưa có kinh nghiệm lại thiếu thốn về phương tiện nhưng đơn vị cũng đã hoàn thành công việc chuyển quân.

Gần hai tiểu đoàn bộ đội đã tập kết về các khu vực quanh ga Thị Long nên hầu như nhà nào trong vùng cũng đều có các anh bộ đội đến ở nhờ. Từ trước đó trên địa bàn đã có một đơn vị công nhân đường sắt nên lại càng chật chội. Đôi chỗ cả công nhân lẫn với bộ đội đều cùng trọ chung trong một nhà. Tiểu đội của Hằng có hơn chục người cũng bị chia nhỏ ra để gửi vào các nhà dân. Nhóm của Hằng chỉ có hai người gồm có Hằng và Liên tiểu đội trưởng đóng ở nhà của anh xã đội phó. Ngay buổi chiều hôm đó vợ chồng anh xã đội phó đã tiếp hai anh em bằng những câu chuyện hết sức vui vẻ. Anh kể rất nhiều chuyện về những vụ đánh án bắt bọn trộm cướp ở ngay tại địa phương. Câu chuyện của anh ly kỳ như những trận đánh án của công an trung ương vẫn được kể trên đài.

Sau khi ổn định chỗ ở hai anh em cùng đi ăn cơm ở bếp đại đội. Mải chuyện với cánh cùng tiểu đội đến khi về nhà trọ thì trời đã tối. Buổi tối hôm nay Hằng có cuộc họp đoàn triển khai nghị quyết, hưởng ứng lời kêu gọi thi đua đánh giặc của quân uỷ nên Hằng chào tạm biệt anh xã đội phó để đến một nhà ở đầu xóm hội ý với  cán bộ các phân đoàn.

Trời tối quá nên Hằng dò dẫm men theo con đường làng nhỏ hẹp lép nhép đất ướt đến một lúc lâu mới đến chỗ tập kết cuộc họp. Vào đến sân Hằng chưa vào nhà vội mà đi tìm chỗ có lợi gạch gõ cho bùn đất rụng ra để vào nhà cho đỡ bẩn. Ngay giữa sân có đến bốn, năm người phụ nữ ngồi bóc lạc trong một cái thúng đều cất tiếng chào, lúc ấy Hằng mới nhận ra đấy đều là những cô gái trẻ. Hằng đoán có lẽ họ đều là các công nhân đường sắt ở nhờ. Hằng chào lại một cách chiếu lệ rồi đi vào nhà, ngồi vào bàn triển khai chương trình họp. Thực ra thì chương trình và nội dung họp đồng chí chính trị viên phó đã triển khai hôm trước rồi, việc các đơn vị nhỏ lại phải tiếp tục họp chủ yếu là tập trung con số tránh để các chiến sỹ tự do đi lại làm lộn xộn khu vực đóng quân, đồng thời cũng là cách ngăn chặn những anh chàng thích tự do trốn về nhà để khi tập trung lên tàu vẫn giữ được đầy đủ con số. Cuộc họp diễn ra không quá một giờ thì giải tán, các chiến sỹ lại ai về nhà ấy để triển khai công việc gác sách.

Sáng hôm sau các tiểu đội đi nhận quân trang, vũ khí mãi đến quá trưa mới xong. Vừa về đến nhà đã thấy anh xã đội phó gọi ra cho biết có người đến hỏi thăm, chờ đợi khá lâu không gặp nên đã vừa về rồi. Đang còn phân vân không biết là ai thì đã thấy anh xã đội nói to từ ngoài ngõ:

- Cậu ấy vừa về xong, cô vào ngay đi!

Vừa quay nhìn ra cửa Hằng đã nhận ra không phải ai khác mà đó chính là Nghi, mặc dù cô che mặt rất kín bằng chiếc khăn voan màu trắng. Cô nhẹ nhàng bước vào nhà và ngồi vào cái ghế băng để kề bên cái bàn gỗ tạp kê ở giữa nhà. Hằng để cho Liên ngồi tiếp hộ rồi xuống bếp rót nước vào cái ca men mang lên mời cô gái uống.

- Làm sao em biết anh ở đây mà tìm đến?

Nghi mỉm cười rồi nói:

- Anh thấy em có tài không?

- Anh chịu!

Sau vài câu chuyện mở đầu Hằng bắt đầu giới thiệu cho anh xã đội phó và Liên biết quan hệ của hai người. Sau mấy câu hỏi xã giao, anh chủ nhà và Liên đều cáo từ rời khỏi nhà có ý để cho hai người tự nhiên nói chuyện.

- Các anh còn ở đây lâu không?

- Có lẽ đơn vị sẽ ở lại đây gần một tuần gì đó.

- Sáng nay em mới biết anh về đây qua cái Ngọc kể lại, thế là em đã xin nghỉ mấy ngày để tiễn chân anh.

- Làm sao Ngọc biết được anh đến đây mà anh lại không thấy cô ấy nhỉ?

- Tối qua nó nhìn thấy anh tổ chức họp ở ngay nhà nó trọ thế là nó bảo cho em biết.

- Thế mà nó chẳng thèm chào anh một tiếng, hay là nó giận gì anh không biết?

- Nó không dám nhận anh vì nó sợ bọn trong tiểu đội trêu anh là người yêu của nó, hơn nữa nó cũng sợ mọi người biết quan hệ của anh với em rồi suốt ngày trêu cợt không làm sao mà chịu được.

Ngừng lại một lúc Nghi lại nói tiếp:

- Chiều mai em định tổ chức liên hoan chia tay anh, có cả các anh trong ban lãnh đạo tiểu đoàn của anh cũng tham dự anh nhớ đến nhé!

- Mấy ngày tới có lẽ anh bận giải quyết một số thủ tục về giấy chuyển sinh hoạt đoàn cho một số anh em còn thiếu để kịp lên đường nên chưa chắc anh đã đến được đâu.

- Thế thì em tổ chức vào buổi trưa vậy, có được không anh?

- Để anh xem thế nào đã, buổi trưa đơn vị tập trung điểm nghiệm quân tư trang, có lẽ anh cũng không sắp xếp được...Thôi để khi nào có điều kiện anh sẽ bảo cho em biết sau vậy!

- Mặc anh! Nhất định anh phải đến đấy! Em sẽ báo cáo lãnh đạo hộ cho anh.

Chia tay với Nghi rồi mà Hằng vẫn cảm thấy không yên, những dự định và sự quyết tâm khi hai người gặp nhau lần trước đang có cơ bị thất bại. Lại một lần gặp nhau ngẫu nhiên khác! Hằng không sao giải thích nổi, có lẽ số phận đã không cho họ rời nhau ra được. Suốt cả buổi chiều hôm đó rồi cả buổi tối khi hai người ở bên nhau Hằng vẫn cố gắng xây dựng quyết tâm thêm một lần nữa. Những lúc gần nhau Hằng đều tránh để không chạm vào người của Nghi, cho dù cô luôn áp sát vào anh như mọi khi. Cứ mỗi lần vô tình chạm vào nhau Hằng lại lựa khéo để hai người cách xa ra thêm một chút.

Để có thể giữ vững quyết tâm của mình trong việc rời xa cô ấy để cô ấy giận dỗi từ bỏ mình để tìm một tình yêu mới. Để cô không phải chịu hoàn cảnh cô đơn và héo hắt trong chờ đợi như những người chị của cô, Hằng đã quyết định sẽ không gặp cô nữa. Ngay lúc đó trong đầu Hằng đã hình thành một kế hoạch tránh gặp mặt Nghi. Suốt ngày Hằng đi hết chỗ này đến chỗ khác để nhắc nhở các phân đoàn tổ chức họp triển khai nghị quyết của chi đoàn. Hằng nhờ Liên chuẩn bị quân tư trang và mọi thứ hộ còn mình thì luôn vắng nhà để cô ấy không tìm được. Cuối cùng thì Hằng cũng đã thực hiện được kế hoạch của mình một cách hoàn chỉnh. Hằng đã lên tàu rồi mà cô ấy vẫn không tìm gặp  được. Cẩn thận hơn, Hằng cũng không về chỗ tập trung của tiểu đội mà ở lại chỗ của trung đội trưởng Nhận là người cùng quê Đông Anh với Hằng.

Cuộc chia tay ban chiều không biết có được tổ chức hay không, nhưng Hằng đã không đến. Cô ấy chắc sẽ vô cùng nóng ruột trong suốt thời gian chờ đợi và sẽ đau khổ biết bao khi thời gian đã quá muộn mà chàng trai của cô vẫn chưa chịu đến hay nói cho thật đúng là chàng trai của cô đã không đến. Có một điều mà cô ấy sẽ không bao giờ hiểu được đó là trong mỗi giây phút mà cô ấy đau khổ thì chàng trai của cô ấy cũng đang chịu bao sự dằn vặt, đớn đau.

Mặt trời đã khuất sau những ngọn núi phía xa, hoàng hôn màu tím lan toả trên khắp sân ga. Từ bên hàng cọc gỗ làm rào ngăn cách nhà ga với làng xóm, có một người con gái đứng lặng lẽ nhìn lên những toa tàu đầy chặt những chàng trai màu xanh áo lính mà không làm sao tìm thấy được chàng trai của riêng mình. Cũng trong thời gian ấy từ trên một ô cửa sổ của con tàu có một người lính cũng cố gắng thu vào tầm mắt như muốn ghi sâu vào trong tim mình hình ảnh nhỏ bé, cô đơn của người con gái mình yêu trong những giây phút cuối cùng trước lúc đi ra mặt trận.

Những bánh thép từ từ lăn về hướng Nam xa tắp chở theo trong đó hàng ngàn những chàng trai đang cất cao từng đoạn những ca khúc rực lửa chiến đấu. Trong đó chắc không thiếu những người lính đang nhẩm đọc những vần thơ bi tráng, thấm đẫm tình yêu vĩnh cửu của riêng mình... 

                                       

                                                      3

 

Công việc bàn giao quân thật nhanh chóng vì rất nhiều đơn vị sau chiến dịch xuân 1968 đã mất nhiều quân số, cho nên số tân binh đã được huấn luyện chu đáo cả về kỹ năng sử dụng các loại vũ khí và thông thạo về kỹ chiến thuật lại được rèn luyện mang nặng, đi dài là rất quý cho các đơn vị nhận quân. Số quân của Thanh Hoá lần này được giao cho sư đoàn 320, một trong bốn sư đoàn cơ động của bộ quốc phòng. Nói là chỉ có bốn sư đoàn cơ động nhưng thực ra thì không biết lúc đó có mấy sư đoàn cơ động, bởi vì mỗi sư đoàn chỉ mang một số hiệu nhưng nó còn có thêm những chữ A, B, C, D, E, gì đó. Chính vì vậy mà quân địch rất khó biết ta có thực lực quân số là bao nhiêu.

Trừ các cán bộ khung huấn luyện ở lại, quân số của tiểu đoàn được chia nhỏ ra để bổ sung vào các trung đoàn và các đơn vị trực thuộc ngay tại khu ga Thị Long. Toàn bộ đại đội huấn luyện của Hằng được bổ sung vào tiểu đoàn 25 trực thuộc phòng hậu cần sư đoàn. Tiểu đoàn 25 là một đơn vị vận tải bộ, nhiệm vụ chính của cả tiểu đoàn là vận chuyển vũ khí đạn dược từ các kho của quân khu về, rồi lại chuyển đến các mặt trận tiếp tế cho các đơn vị chiến đấu. Ngoài vận chuyển vũ khí đơn vị còn làm công tác chuyển thương từ mặt trận về các đại đội quân y của các trung đoàn hoặc chuyển về tiểu đoàn quân y của sư đoàn. Ngoài các công việc trên, đơn vị còn thực hiện các công việc khác nữa mà phòng hoặc sư đoàn yêu cầu đột xuất.

Những ngày đầu tiên về đơn vị mới lại là các việc học chính trị và rèn luyện. Cán bộ cấp trên luôn lấy việc chấp hành quân phong, quân kỷ là mục tiêu giáo dục các chiến sĩ. Cùng với những nội dung trên là hàng loạt các hoạt động như việc làm báo tường, xin vật liệu về làm các giá đỡ súng, thậm chí là vào rừng chặt cây về làm nhà, làm bếp. Tất nhiên là các đồng chí lính mới rất hăng say làm suốt ngày, suốt đêm mong sao để được đẹp hơn các tiểu đội, đẹp hơn các trung đội khác. Họ cũng không ngờ rằng tất cả những công việc ấy chưa kịp hoàn thành thì đã lại phải báo động chuyển quân đi nơi khác. Đương nhiên là lãnh đạo cấp trên họ đã biết rất rõ là như thế những họ vẫn phải triển khai. Cũng có nhiều cán bộ cấp trên nói rằng cứ phải bắt làm cho thật nhiều để tránh cái việc “nhàn cư vi bất thiện”. Tất nhiên là như các cụ ta xưa đã nói một câu cưả miệng là “nước sông công lính” nhưng nghĩ cho cùng thì từ cách nghĩ, việc làm như trên cũng là một cách giữ gìn bí mật. Biết đâu trên địa bàn chả có các nhóm gián điệp hàng ngày chỉ thăm dò hiện tượng chuyển quân để mà dự đoán ra kế hoạch tác chiến để bố phòng lực lượng đối phó làm thất bại kế hoạch của ta.

Ngay khi rời ga Thị Long đơn vị của Hằng đi một mạch vào tận xã Quảng Hưng, Quảng Trạch, Quảng Bình. Ngay những ngày đầu tiên đơn vị đã triển khai công tác huấn luyện. Thao trường luyện tập là một cánh đồng cát trắng bao la bát ngát của xã Quảng Hưng. Bài học chủ yếu là cách cứu chữa, băng bó cho các chiến sỹ với hầu hết các dạng vết thương trên mọi chỗ của cơ thể. Tiếp theo là cách buộc võng cáng thương binh kết hợp vận động trong các tình huống. Gian nan nhất là việc khênh thương binh chạy trên các địa hình với quãng đường đủ dài để rèn luyện sự dẻo dai của chiến sỹ. Việc khênh nặng chạy trên cát quả thật là một việc không phải dễ dàng. Cứ mỗi bước chân lên được hai mươi phân thì khi bàn chân tiếp cát lại lún xuống mất mười phân. Nhưng mệt nhất là việc mỗi bước chân lại phải kéo theo lượng cát nằm trên mu bàn chân. Nhiều lần kéo cát như thế bàn chân cứ như muốn rời ra khỏi ống chân.

Từ mấy tháng nay chính quyền nguỵ nhiều lần  hô hào trên các phương tiện phát thanh và báo chí về  kế hoạch Bắc tiến. Chúng đưa hai chiếc tàu khu trục ra vùng biển ven vịnh Bắc Bộ làm như sẽ chuẩn bị tiến công ra miền Bắc. Mặc dù chúng đã nhiều lần gào thét như vậy nên chả ai thèm quan tâm đến những điều chúng nói. Người ta thừa hiểu rằng ngay trên mảnh đất chúng còn đang chiếm giữ, chúng đã chẳng thể nào giữ nổi huống gì chúng lại mưu toan làm những việc tầy đình này. Mặc dù vậy nhưng hình như lần này cấp trên có vẻ rất chú trọng và có phần nào khẩn trương trong tổ chức phòng thủ dọc bờ biến suốt từ Quảng Bình ra mãi vùng Quảng Ninh, Uông Bí.

Tiểu đoàn 25 vận tải cũng được huy động vào công tác phòng thủ cùng với các đơn vị khác trong sư đoàn. Sau đợt chuyển các hòm gỗ dùng để đựng đạn pháo và đạn cối ra vùng biển Cảnh Dương xong thì cả đơn vị lại lên xe hành quân ra Thanh Hoá. Khi hành quân vào các đoàn xe đều buông bạtT, còn khi ra thì chẳng thấy nói gì về việc giữ bí mật mà có vẻ như cấp trên còn muốn khoa trương thanh thế cho mọi người cùng biết rằng ta đang phòng thủ đây. Đồng thời cũng ngầm răn đe kẻ địch về sự chuẩn bị này để chúng hiểu rằng tiến ra Bắc là sẽ chỉ có con đường chết.

Những ngày cuối năm đang đến gần, hôm nay đã là ngày tết ông Táo hai mươi ba tháng chạp rồi, không khí tết đã rộn rã trên khắp các vùng quê. Từ các ngả đường thôn xóm người đi lại có vẻ gấp gáp và khẩn trương hơn. Các chợ trong vùng đông đúc, tấp nập khác hẳn những ngày thường. Nhiều mặt hàng ngày thường không có hôm nay cũng bày bán khắp cả chợ.  công việc chặt cây rừng về làm nhà cũng đã gần hoàn chỉnh. Một số trung đội đã cắt đủ tranh để lợp nhà. Cứ tưởng chuyến này sẽ được ăn tết ở vùng rừng núi Như Xuân, vậy mà sớm nay đại đội lại phải lên đường để vào lại Quảng Bình. Lần này thì đơn vị tập kết ở vùng Tuyên Hoá, miền tây của Quảng Bình.

Công việc chính của đại đội 2 là nhận hàng từ  kho của sư đoàn về trang bị cho trung đoàn 64 đi B dài trong thời gian tới. Kể ra cũng lạC, bởi quân tư trang của 64 lần này không giống với đồ dùng của các đơn vị đi B dài khác. Những bộ quần áo mới thì chẳng nói làm gì bởi nó vẫn như quần áo mọi khi. Nhưng tăng võng và các trang bị khác như thuốc men và các thứ hàng hoá cấp kèm theo thì rất sơ sài. Nhiều người nghĩ rằng có lẽ nhà nước mình có khó khăn do kháng chiến kéo dài nên cũng thiếu thốn hơn chăng.

          Chỉ đến khi cuộc chiến đã mở ra và toàn thắng ở vùng đường 9 Nam Lào người ta mới hiểu rằng mọi công việc mà cánh lính tráng hậu cần chúng tôi làm trong mấy tháng qua chỉ là động tác nghi binh trong chiến thuật mà thôi. Người ta càng không thể ngờ rằng sư đoàn trưởng Kim Tuấn đã vào khảo sát vùng chiến trường từ trước đó khá lâu. Người ta càng không thể ngờ rằng trung đoàn 64 của sư đoàn 320 chẳng đi B dài mà là vào đón lõng tại một vùng hiểm yếu để tiêu diệt toàn bộ quân địch định bất ngờ đánh vào hậu phương của ta mà chúng đặt tên là chiến dịch Lam Sơn 719. Có một điều càng không thể ngờ được đó là kẻ địch tưởng ta đã bị chúng nghi binh thu hút lực lượng vào cuộc phòng thủ miền Bắc. Chúng có biết đâu rằng ta đã chờ chúng hàng mấy tháng trời tại cái nơi mà chúng tổn hao không biết bao sức lực vào đó để rồi hàng ngàn quân, hàng ngàn ô tô, xe tăng, trọng pháo và cả những máy bay lên thẳng đã không kịp chạy thoát thân. Bản tin chiến sự đã mô tả cuộc rút chạy hỗn loạn ấy không khác nào một đàn vịt bị săn đuổi. Hàng ngàn những ô tô, xe tăng vẫn đang nổ máy còn bọn lính lái xe đã tháo chạy không biết tự bao giờ. Cả đống những phương tiện chiến tranh bị bỏ lại trên đoạn đường dài mấy cây số. Trong cái mớ hỗn độn ấy người ta còn thấy cả những chiếc máy bay lên thẳng hạ xuống rồi không kịp bay lên trốn chạy. Trung đoàn 64 là một trong những đơn vị lập công lớn trong chiến dịch. Có một điều đặc biệt hơn là trung đoàn còn bắt sống được đại tá Thọ lữ đoàn trưởng lữ đoàn dù, một trong những người đứng đầu chiến dịch Lam Sơn 719 của quân địch. Nghe đâu Thọ còn là một nhân vật của CIA, cục tình báo trung ương Mỹ.

          Sau khi hoàn thành cuộc nghi binh chiến thuật, khối hậu cần trong đó có tiểu đoàn 25 vận tải và một số các đơn vị chiến đấu của trung đoàn 48 được điều vào tiếp ứng để chặn đánh một số bộ phận quân địch chạy tán loạn khắp vùng lân cận. Đại đội 2 của Hằng được đưa lên xe chở vào vùng Cự Nẫm của địa phận của tỉnh Quảng Bình rồi sau đó hành quân bộ đi sâu vào miền rừng khọc của Tỉnh XaVaNakhệt trên đất của nước bạn Lào. Cuộc hành quân của đại đội 2 dừng lại ở vùng Na Thông, Na En để phối hợp với các đơn vị chiến đấu tiến đánh các cứ điểm ở khu vực Pha Lan, Đồng Hến. Cho đến tháng 6 năm 1971 thì tất cả mọi lực lượng tham gia cuộc tập kích của quân địch ra đường 9 năm 71 mà chúng lấy con số năm 71 cùng với địa danh đường 9 ghép lại đã hoàn toàn bị tiêu diệt.

 

                                                               4

 

          Những ngày đầu tháng sáu âm lịch vừa mới bắt đầu thì cũng là những ngày mở màn cho những trận mưa đầu mùa trên đất bạn. Cả đại đội hàng trăm người vừa mới mạnh khoẻ là thế mà giờ đây đang lên cơn sốt rét run lên cầm cập. Ban chỉ huy đại đội 2 cả từ chính trị viên, đại đội trưởng đến các thành viên khác cũng bệnh tơi bời. Hai cậu liên lạc trẻ Tâm và Luận khoẻ thế mà cũng nằm rên hừ hừ mỗi thằng một xó. Cũng không biết thế nào mà Hằng lại nằm ở con số bốn người trong đại đội không bị sốt. Ba trong số bốn người không bị sốt thì đều đã từng sốt ở Thượng Lào năm trước còn có thể nói là có sự miễn dịch chứ Hằng thì đâu đã sốt bao giờ. Sau nhiều năm nghiên cứu về bệnh nhiệt đới nhiều học giả người nước ngoài đã cho biết Nam Lào là vùng tập trung của các loại bệnh sốt rét do muỗi gây ra vào diện đứng đầu thế giới, thế mà Hằng lại không bị sốt thì quả thật là lạ.Tất nhiên là không sốt thì phải cáng đáng toàn bộ mọi việc cho những người ốm. Đâu là việc chăm lo cơm nước, giặt dũ áo quần, thậm chí cả việc gác sách đêm hôm cũng phải cáng đáng nhiều hơn. Cũng may là cụm công tác của Hằng chỉ có mỗi một anh Nhu đại đội phó cùng với mấy người, chứ nếu ở đại đội bộ phía trong bãi đá Na En thì chắc là cậu chạy tướt bơ cả ngày sang đêm không hết việc.

          Còn đang dọn dẹp một vài thứ vũ khí của anh em để bên miệng hầm kèo thì đã nghe có người gọi từ bên hầm của đại đội phó, Hằng đứng lên thắt lại dây lưng quần rồi chạy sang nhận lệnh. Vừa thấy mặt, tham mưu trưởng sư đoàn Phát đã giao cho cậu một thư lệnh bảo phải gấp rút đưa vào cho tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quý ở mãi tận Na En. Nhận thư xong Hằng nhét thư vào ngực áo rồi chạy về hầm của mình để chuẩn bị lên đường. Đường đi vào Na En chỉ độ hai chục cây số và hầu như cũng rất an toàn, nên Hằng cũng không cần chuẩn bị gì nhiều. Vừa khoác khẩu AK báng gấp lên người định đi thì đại đội phó gọi lại bắt mang thêm khẩu K54 với đủ ba băng đạn nữa rồi mới cho đi.

          Cũng thật may cho Hằng là hôm nay trời tương đối khô ráo nên đường xá quang đãng có thể nhìn thấy tất cả mọi thứ ở khá xa nên không lo bị địch phục kích. Mặc dù vừa đi vừa chạy gằn nhưng Hằng không khỏi lo lắng sợ rằng mình đến không kịp thời gian quy định. Trong suốt thời gian tập luyện các cán bộ khung đã nhấn mạnh đến trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đặc biệt là nhiệm vụ giao thông liên lạc, chuyển mang tài liệu trong chiến đấu. Các tài liệu phải được bảo đảm hoàn toàn bí mật, không để lọt vào tay kẻ địch, phải mang đến nơi nhận đúng địa điểm, đúng thời gian. Đây cũng là lần đầu Hằng làm nhiệm vụ này nên trách gì không khỏi lo lắng dọc đường.

          Đang vừa đi vừa suy nghĩ, chợt Hằng thoáng nghe trong gió hình như có tiếng người từ phía trước mặt vọng lại. Nhanh như một vận động viên chạy việt dã Hằng vượt qua khoảng trống để lẩn nhanh vào khu vực cây cối um tùm của một ốc đảo. Dựa mình vào một cái rễ cây khá lớn đủ che khuất người rồi tập trung quan sát ra bốn phía xung quanh. Ngón tay cái khẽ khàng  ấn khoá hãm của khẩu AK báng gấp rồi đặt ngón trỏ vào vòng cò súng. Có lẽ là số lượng của nhóm người này khá đông nên tiếng ồn ào nghe khá rõ. Cũng không phải đợi lâu thì người đi đầu đã xuất hiện. Một người đàn ông mặc áo rằn ri, tiếp theo là một người đàn ông mặc một cái áo cộc ba lỗ, bên dưới quấn xà rông, kế đến là hai người phụ nữ mặc váy hoa. Phía sau hình như còn có mấy đứa trẻ con lũn cũn sau đám cỏ tranh. Đã gần lắm rồi, có lẽ chỉ còn cách hai trăm mét là cùng! Một trăm rưởi mét! Một trăm mét! Gần quá rồi, có lẽ phải bắt đầu thôi. Nhưng sao thế nhỉ? Tất cả họ đều không mang súng hoặc một thứ vũ khí gì mà chỉ có các loại dao, gùi, ống nước! Có lẽ đây là một gia đình người Lào đi thăm người hoặc ra nương thì phải. Chỉ còn độ năm mươi mét nữa là chạm nhau rồi. Chợt ba đứa trẻ con vùng chạy đuổi nhau lao nhanh về hướng Hằng phục kích. Chúng chạy nhanh quá và chợt đứng sững lại vì chúng đã nhận ra có người lạ ở bên gốc cây trước mặt mình. Cả ba đứa cùng la eo éo và chỉ tay về phía Hằng báo cho những người lớn biết. Nói thì lâu chứ thực tế thì từ khoảng thời gian Hằng phát hiện ra nhóm người đó cho đến lúc lũ trẻ vọt chạy đuổi nhau kéo dài chỉ độ năm sáu  phút. Ngay cả những ý nghĩ chợt đến, sự liên hệ tình hình ở trong đầu đến khi đánh giá xong sự việc để đi đến hành động cũng chỉ nhanh chóng lướt qua trong vài mươi giây là cùng.

Những người lớn trong nhóm sau khi nghe lũ trẻ la lối cũng dừng lại cả và thận trọng nhìn về phía Hằng. Họ đứng nguyên với tư thế khi họ bất chợt dừng lại mà không dám thay đổi tư thế khác vì sợ bị đối phương hiểu lầm về hành động của họ. Họ có vẻ lo lắng hoảng sợ khi thấy Hằng hướng mũi súng về phía họ. Sau giây phút bị bất ngờ vì lũ trẻ phát hiện ra mình thì Hằng cũng đã trấn tĩnh lại và quan sát kỹ cả nhóm người đứng trước mặt, trong khi tay vẫn chạm sát vòng cò súng. Trong lúc cả mấy người vẫn đứng nguyên tại chỗ Hằng đã nhìn lại người mặc áo rằn ri, người này vào khoảng bốn mươi, còn người già thì không thể đoán ra tuổi được bởi mặt mũi thì nhăn nhúm, lưng lại còng gập xuống. Cái áo rằn họ mặc cũng đã quá cũ, nhiều chỗ trên vạt đã rách sơ ra chỉ còn cái vệt xanh đen khoang khuở thì vẫn còn nhìn khá rõ. Cũng giống như Hằng, sau cú chạm mặt bất ngờ làm cho nhóm người ấy sợ sệt đôi chút nhưng họ thấy người cầm súng không có ý làm hại đến họ thì họ có vẻ an tâm hơn. Sau một lúc cả hai bên im lặng nhìn nhau thì chợt nghe thấy cả mấy người trong nhóm léo xéo với nhau mấy câu gì đó rồi thì tất cả bằng ấy người nối theo nhau rẽ xiên về phía bên trái để vòng xa người cầm súng một chút. Hai người đàn bà có vẻ rón rén hơn, vừa đi vừa túm tay lũ nhỏ lôi theo làm cho chúng không còn chạy nhảy được như lúc trước. Hằng thở phào nhẹ nhõm khoá súng lại rồi đi tiếp khi nhóm người của gia đình người Lào ấy đã đi khuất hẳn phía sau.

Gần một giờ đồng hồ vừa đi vừa chạy Hằng mới đến được bờ một con suối lớn. Nghe số các đồng chí đã đi qua nói lại thì con suối này là điểm chia đôi khoảng đường từ trạm trung chuyển nơi Hằng ở đến bãi đá Na en là nơi tập kết của cả đơn vị. Con suối mà anh em kể nghe thật nhỏ bé, còn con suối Hằng gặp sao lại lớn quá thế này. Thậm chí nó có thể là sông chứ không còn là suối, bởi chiều ngang mặt nước rộng đến hơn bốn mươi mét. Còn dòng nước của nó thì cuồn cuộn chảy trông thật hung hãn và đầy thách thức đối với những người muốn vượt qua nó. Cùng với những xoáy nước đục ngầu là những đợt sóng chồm lên vật xuống lao đi với hàng ngàn tiếng ồn ào đinh tai nhức óc. Tuy nhiên điều đó còn không đáng sợ bằng những những cây gỗ, cây tre và hàng ngàn các vật nhọn có, kềnh càng có đang thi nhau vun vút lao đi trên khắp mặt nước với tốc độ ghê người.

Sau một thoáng phân vân lo là mình bị lạc đường thì Hằng cũng nhận ra dấu của anh em đi công tác hàng ngày để lại như lời dặn lúc ra đi. Thế là bây giờ chỉ còn mỗi một việc là làm thế nào để vượt sang bên kia nữa mà thôi. Việc phải bơi qua là điều tất nhiên rồi nhưng mà có thể qua được bên kia không hay là bị gỗ thúc vào người và vĩnh viễn nằm lại ở đáy sông mới là điều cần phải nghĩ đến. Thời gian! Thời gian không cho mình nghĩ lâu hơn nữa và việc phải bơi qua sông đã được dự kiến trong đầu. Kiểm tra lại công văn một lần nữa rồi thắt lại bao súng ngắn. Khẩu AK báng gấp cũng được quàng qua người rồi lại buộc vào ngang lưng bằng một đoạn dây dù.

Một gốc cây lớn với những khúc rễ, cành cồng kềnh vừa trôi tới. Không còn nghĩ gì nữa Hằng lao người thật nhanh ra mặt sông men theo những cành cây rườm rà trước mặt. Thật không thể ngờ được là Hằng không thể bám kịp  được vào đám cành rễ đó bởi vừa khi chuẩn bị bám vào đám cành lá thì một súc gỗ ở đâu đó bất ngờ nổi lên theo xoáy nước lao thẳng vào Hằng. Ngay lúc đó Hằng buộc phải láng về bên phải để tránh khúc gỗ ma quái kia. Một xoáy nước rút Hằng xuống khỏi mặt nước, Hằng vẫn còn cảm thấy hình như  bề mặt vỏ xù xì của khúc gỗ trượt qua mạng sườn bên trái. Cũng may cho Hằng là cái xoáy nước sau khi lôi Hằng xuống khá sâu thì nó lại thả Hằng ra để cho Hằng trồi được lên mặt nước. Đến lúc này thì  đành phải mặc kệ mọi điều nguy hiểm ở cả hai bên người, Hằng chỉ còn biết bơi và bơi cho nhanh bất chấp điều gì có thể xảy ra.

Có lẽ khi đã là một vật như bao vật khác cùng trôi trên sông thì tốc độ của mọi vật cũng ngang nhau mà Hằng có khác gì một vật đang trôi nên ngay phía trước, phía sau, bên trái, bên phải Hằng ngồn ngộn là những vật lớn có, nhỏ có mà vẫn không thấy chạm vào người. Hằng nhận ra rằng mình không nên cố vượt các vật cản mà nên lựa theo chúng rồi tranh thủ né mình hướng về bờ sông bên trái, đồng thời cố gắng tránh xa các đợt sóng cùng những xoáy nước thỉnh thoảng xuất hiện ngay bên cạnh là sẽ thành công. Cũng không biết thời gian kéo dài bao lâu, chỉ đến khi áp sát vào bờ sông bên kia Hằng mới tin là mình còn sống. Sau khi cởi tất cả quần áo ra để vắt bớt nước, ngồi nghỉ một lúc cho lại sức, Hằng mặc lại bộ đồ ướt rồi tiếp tục lên đường. Hằng đi ngược lại theo chiều nước chảy có lẽ phải đến gần nửa cây số mới gặp lại con đường mòn đơn vị vẫn đi công tác hàng ngày. Như vậy thì quãng đường mà nước cuốn Hằng đi cũng khá là xa đấy chứ!

                 

                                              5

 

Sau khi trao công văn cho lãnh đạo, lại kể cho bọn Tâm và Luận nghe câu chuyện vượt sông xong mới thấy mệt và đói. Vừa mỉm cười nghe ông anh “đường nhựa” nói về cái việc vượt sông chả lấy gì làm ghê gớm âý, Luận vừa vào bếp mang ra một cái xoong đựng cơm và nưng bát thịt kho lõng bõng. Đặt xoong cơm và bát thịt trước mặt Hằng, Luận bảo:

- Anh may nhé! Hôm nay bắt được một con nhím nên nấu hơi nhiều cơm! Biểu dương thành tích bằng bát thịt nhím này đấy nhé!

Vừa cơm nước xong thì đã thấy bên trung đội ba của anh Giao hò la ầm ĩ. Hằng chột dạ hỏi Tâm và Luận:

- Này! Không sợ lộ bí mật nơi đóng quân à!

- Bọn nguỵ chạy sạch cả rồi! Làm gì còn thằng nào mà phải bí mật.

- Này, tớ vừa gặp một gia đình Lào lúc đi vào đây, tý nữa thì tớ xả súng diệt gọn. May mà trong đám ấy có ba đứa trẻ con chứ không thì …!

- Dân ở đây lỳ lắm, họ còn vào cứ điểm vừa đánh xong để vét chiến lợi phẩm đấy anh ạ!

Đang còn nói chuyện với nhau thì đại đội trưởng đã về đến. Vừa vào đến lán anh đã hô bọn Tâm, Luận thu dọn quân tư trang. Cả bọn còn đang ngơ ngác chưa biết gì thì đã nghe đại đội trưởng bảo:

- Thế nào? Có ra không thì bảo!

Luận nhanh mồm hỏi lại:

- Ra hẳn hay tạm thời hả thủ trưởng?

- Đã ra lại còn có cả ra tạm thời nữa à? Riêng cậu ra tạm thời còn chúng tớ thì ra hẳn.

Cũng chỉ đợi có thế là Luận vỗ tay hét lên ầm ĩ. Thì ra không biết nghĩ thế nào mà trưa nay Luận bảo không nên giặt quần áo để tránh phải bỏ quần áo ướt vào ba lô. Còn Tâm thì không nghe, đã đem cả hai bộ nhúng nước giặt phơi ngoài bờ suối bây giờ vẫn còn ướt rườn rượt.

Đến lúc này thì Hằng mới biết công văn mà mình mang vào lúc nãy là lệnh rút quân mà trên đưa xuống. Hằng vội gặp đại đội trưởng trình bày về tình hình sông nước vừa gặp lúc đi vào. Nghe xong đại đội trưởng bảo:

- Không sao đâu! Có khi mình ra đến nơi thì suối đã cạn khênh rồi ấy chứ. Vùng này thỉnh thoảng nước lũ vẫn tràn về như vậy nhưng chỉ ba bốn tiếng là lại cạn ngay.

Dừng một lúc đại đội trưởng lại hỏi Hằng:

- Thế vừa rồi cậu đi vào bằng cách nào?

- Đành phải nhảy xuống mà bơi thôi chứ còn biết làm thế nào hả thủ trưởng!

Nghe đến đây thì đại đội trưởng ngạc nhiên thực sự, anh vừa quét mắt nhìn khắp một lượt trên người của Hằng vừa bảo:

- Thế mà cậu chả dìm luôn cả người lẫn công văn xuống suối để chúng tớ lại bị một phen đi tìm bở hơi tai thì mới vừa.

- Làm thế nào được! Ông Phát bảo phải kịp thời, không thì ông ấy cho ra bã!

- Mà cũng phải…! Thôi cậu dẫn đường đi, cậu giúp thằng Tâm mang mấy bao gạo ra luôn ngoài ấy.

Không lâu sau toàn bộ lực lượng của sư đoàn đã rút quân ra tận Kỳ Tây, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tiếp tục những ngày học tập và huấn luyện, chuẩn bị cho những nhiệm vụ tiếp theo ở một mặt trận nào đó mà không ai có thể dự đoán được. 

Về Kỳ Tây mới chỉ được mấy hôm đơn vị đã lại bắt đầu đi vào học tập và rèn luyện. Những bài tập bắn bia được ôn lại từ đầu như khi mới vào bộ đội. Từ bia số 4, số 6 đến bia số 7, bia thằng còm di động, chả thiếu loại bia nào. Các buổi tối không sinh hoạt thì tập bắn đèn ở sân kho của hợp tác xã. Cũng chẳng biết thế nào mà ngay hôm tập bắn đèn đầu tiên cậu Long ở trung đội 2 lại cho nổ một viên đạn. Cũng may là viên đạn không gây sát thương cho ai mà chỉ làm vỡ cây cột cái bằng luồng của một nhà dân ở bên trái sân kho. Làm mất công trung đội phải đi thương lượng xin lỗi gia đình bị nạn. Sau vụ này đơn vị họp lên họp xuống để tìm nguyên nhân mà vẫn không tìm ra nguyên nhân của sự việc. Trung đội trưởng trung đội 2 nói anh đã cho khám súng rất cẩn thận trước khi vào huấn luyện lại có cả chính trị viên phó cùng tham gia buổi tập xác nhận. Mãi về sau này, khi sự việc đã dần lãng quên rồi người ta mới đoán rằng có lẽ có cậu nào đang ở phiên gác đã đi qua bãi tập rẽ vào rồi để lẫn súng gác với súng tập. Những người gác hôm ấy thì cũng có đến mấy người, nhưng người làm lẫn súng thì mọi người cũng đã biết. Có điều sự việc đã nhạt rồi nên ban chỉ huy chỉ gọi cậu ta lên để phê bình rút kinh nghiệm một lúc rồi cũng thôi không kỷ luật nữa.

Công tác đoàn cùng với các chương trình văn nghệ đã làm cho Hằng bận suốt ngày không hết việc, nay lại càng bận thêm với cái chức phó chủ tịch hội đồng quân nhân của đại đội mà Hằng vừa được bầu vào trong đợt củng cố đơn vị lần này. Nào là tổ chức dạy những bài hát truyền thống, nào là viết kịch bản và dàn dựng các vai kịch cho tổ văn nghệ, rồi thì tập huấn diễn viên. Lại còn khổ hơn khi chả có ai muốn đóng vai cố vấn Mỹ vừa nham hiểm, độc ác, vừa đểu giả với các cô gái trong cốt kịch do Hằng viết ra. Thế là Hằng đành phải vào vai kịch này vậy.

Cuối cùng thì đơn vị cũng tổ chức thành công buổi biểu diễn văn nghệ với hàng chục các tiết mục từ tấu nói đến ca hát tập thể, ca hát cá nhân và cuối cùng đêm diễn là vở kịch viết về các chiến sĩ biệt động miền Nam tổ chức đánh Mỹ ngay tại nội đô Sài Gòn, Chợ Lớn. Ngoài các khán giả là cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị ra còn có rất đông thanh niên và nhân dân của địa phương cũng đến xem. Mỗi tiết mục kết thúc là tiếng vỗ tay lại vang lên không ngớt, làm cho không khí của một vùng quê như bừng dậy sau rất nhiều thời gian im lìm vắng lặng của những năm chiến tranh bom đạn.

Suốt trong mấy ngày nay trên đài nói nhiều về mức nước sông Hằng, sông Đuống ngày một lên to. Những người quê ở gần các vùng sông này luôn lo lắng về một cuộc vỡ đê có thể sảy ra. Trong những năm Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng cũng đã nhiều lần đánh vào đê đập và các công trình thuỷ lợi. Nhiều chỗ mới chỉ kịp hàn vá mà chưa củng cố được nên rất xung yếu không biết vỡ lúc nào. Thế rồi cái việc luôn lo lắng ấy cũng đã sảy ra ở đê sông Đuống. Đê làng Tình Quang thuộc huyện Gia Lâm chính là điểm vỡ lớn nhất. Cả một khu vực rộng lớn bao gồm cả mấy huyện của Hà Bắc, Hải Hưng và Hà Nội đều bị ngập lụt có chỗ sâu tới ba, bốn mét nước. Đơn vị cũng có rất nhiều chiến sĩ quê ở trong vùng bị lụt nên cũng đã báo cáo lên cấp trên cho về phép đặc biệt. Các đề nghị cũng đã được sư đoàn chấp nhận và giao cho các đơn vị bố trí.

Sau cuộc họp điểm danh buổi tối xong anh Huynh chính trị viên phó nháy Hằng ra cổng doanh trại không biết để làm gì mà nghe có vẻ rất bí mật. Đoán chắc lại bàn về công tác thanh niên nên Hằng lừng chừng mãi không chịu ra. Vừa lúc ấy hai cậu liên lạc cùng với y tá Cứ lại rủ đánh bài bôi nhọ nồi thế là Hằng quên luôn không ra cổng nữa. Chờ mãi không thấy Hằng, anh Huynh lại quay trở vào nhà kho. Vừa thấy Hằng đang quỳ trên chiếu anh liền dùng hai đốt ngón tay dọi cho một cái vào đầu rồi bảo:

- Lúc họp nói thế nào mà lại không ra thế hở?

Lúc ấy Hằng mới nhớ ra, bèn xếp bài lại tiện tay đưa cho anh nuôi trưởng Toán rồi theo anh Huynh ra ngoài cổng. Thì ra anh Huynh gọi Hằng ra để báo cho biết là cậu được về phép đặc biệt vào sáng ngày mai. Hằng vừa nghe được đã định hét toáng lên thì anh Huynh giơ ta bịt mồm lại:

- Này cả đơn vị chỉ có mỗi một mình cậu được đi thôi đấy! Đừng làm ồn lên ảnh hưởng đến đơn vị.

Ngừng một lúc anh lại nói tiếp:

- Xuống ngay chỗ cậu Binh quản lý thanh toán tiền đi đường cho kịp mai đi sớm. Chốc nữa tớ gửi mấy bức thư mang về ngoài đó bỏ cho nhanh.

- Thủ trưởng yên tâm em sẽ bỏ ở nơi bưu điện lớn nhất tỉnh để thư đến cho nhanh.

- Thôi không phải về tỉnh mà chỉ cần bỏ ở Hà Nội là được, Hà Tây nhà tớ ở ngay cạnh Hà Nội còn gì!

Công việc thanh toán cũng chả lâu la gì vì hình như Anh Binh quản lý đã được biết trước nên đã chuẩn bị sẵn rồi.

Đêm sao mà dài thế đến thế! Hình như Hằng chưa thấy có một đêm nào dài đến thế bao giờ. Vừa thao thức nhớ về nhà vừa bị mấy cậu liên lạc lạo xạo viết thư trong góc nhà không sao yên tĩnh được nên Hằng đành giương mắt thao láo ra để chờ sáng.

Thực ra thì có rất nhiều người quê ở vùng lụt nhưng chỉ mỗi một mình Hằng được về thì đó quả là một điều đặc biết. Có lẽ Hằng là người ở trong đại đội bộ nên các thủ trưởng cũng tin tưởng hơn số anh em khác. Bởi vì khi cho một chiến sĩ về nhà cách xa đơn vị đến hơn bốn trăm cây, rồi chiến sĩ ấy có trả phép đúng hẹn hay không hoặc giả có thể cậu ta đảo ngũ không trở lại thì sao? Có lẽ ngoài lý do trên các thủ trưởng cũng như có ý thưởng công cho Hằng vì những cố gắng trong mấy tháng qua về công tác đoàn, công tác báo chí và công tác hoạt động văn nghệ. Thôi thì vì cái gì cũng được miễn là mình là người được về thăm nhà thế là quý lắm rồi.

Trời còn chưa sáng rõ mặt người, Hằng đã ba lô khăn gói từ biệt các thủ trưởng và các bạn trong đại đội bộ lên đường. Chặng đường từ Kỳ Tây lên thị trấn Kỳ Hoa cũng khá dài và lại chẳng có loại xe chở khách nào nên Hằng đành phải đi bộ. Chưa đi được năm sáu cây số Hằng đã gặp đến năm, sáu cái ngầm. Ngầm nào cũng ngập nước thế là Hằng cũng chẳng buồn thay quần nữa mà cứ mặc ướt để đi. Đang mừng vì sắp đến Kỳ Hoa thì lại gặp ngay một cái ngầm nữa. Ngầm dài đến hơn ba chục mét mà nước thì lại có vẻ rất sâu. Những khối nước không biết từ đâu dồn về lao đi cuồn cuộn va vào bờ đá tung bọt trắng xoá, cùng với những khối nước sẵn có từ trước xoáy cuộn ào ào chảy từ bên này đường rồi đổ xuống bên kia đường với độ cao đến năm sáu mét. Chẳng dễ gì trụ lại trên những xoáy nước mặt đường mà không bị khối nước kia hắt xuống bên kia đường rồi trôi tuột đi đâu không biết. Thế là lại phải đợi mất mấy tiếng đồng hồ chờ nước cạn. Chắc chắn lại nhỡ chuyến xe đêm nay rồi, thật là ngán ngẩm hết chỗ nói.

Dòng nước vẫn chảy dường như không có dấu hiệu của sự thuyên giảm. Đường đồi vắng ngắt không một bóng người. Từ trên một sườn núi cách đó không xa vẫn còn đó hai sợi dây cáp của cây cầu treo thời đi bộ hành quân vàoNam. Thực ra cái thời vừa nói đến cũng chẳng xa gì bởi con đường 559 cũng mới được bắt đầu khai thác trong vòng sáu năm đây thôi. Bởi con đường từ KỳTây đi lên Kỳ Hoa cũng vẫn còn nguyên màu tươi mới của đất đồi đỏ dọi. Đâu đây hình bóng những cô gái mặc áo phòng không vẫn còn đâu đó ở trên đường cùng với những cuốc xẻng, quang gánh bên một đoạn đường đầy hố bom sâu hoắm. Những người con gái chỉ mới vừa mười sáu tuổi đã  bước chân vào cuộc chiến với sự quả cảm ít người sánh nổi. Trên đoạn đường ngầm này thôi, không biết đã có bao nhiêu người đã ngã xuống, không bao giờ còn trở lại quê hương được nữa.

Đang mải nhìn lên những sợi dây cáp trên đỉnh núi cao và suy nghĩ linh tinh nên Hằng không để ý từ phía bên kia ngầm đã xuất hiện hai người đàn ông, một già, một trẻ, đang đứng ngó nghiêng quãng đường ngập nước. Sau khi nghe hai người ở phía bên kia vừa trao đổi với nhau mấy câu bằng cái giọng của địa phương miền trong vừa sắn quần, sắn áo thì Hằng đoán rằng họ đang định vượt sông. Đến lúc này thì Hằng chăm chú theo dõi xem họ sẽ vượt sông như thế nào để rồi mình cũng sẽ bắt chước. Dù sao thì những người sống ở những vùng quê như thế này chắc họ sẽ biết được độ sâu nông, mạnh yếu của dòng nước hoặc ít ra thì họ cũng có kinh nghiệm vượt ngầm hơn mình.

Chưa đi được mấy bước thì cả hai người đã ngã nhào xuống mé đường, cũng may là đầu đường bên ấy khe nước không sâu lắm chứ không thì họ đã gặp nguy hiểm. Lóp ngóp lên bờ trong bộ quần áo ướt, trông họ thật đáng ngại. Cũng còn may là hôm nay trời không mưa rét chứ không thì họ cũng gặp nguy hiểm không kém. Mình thật là hy vọng hão huyền!

Còn đương dõi mắt nhìn về đầu ngầm bên kia thì đã có mấy người từ phía đằng sau tiến lại. Cũng không hiểu họ rẽ ra từ con đường nào mà trong đó lại có một cô bé mang theo một chiếc xe đạp. Có lẽ họ ở một khu nào đó ở giữa khoảng đường từ cái ngầm trước cái ngầm lớn này. Vừa nhìn thấy Hằng thì một người có độ tuổi trung niên cất giọng ồm ồm hỏi:

- Anh bộ đội đã đến đây lâu chưa hè?

Có lẽ người ấy muồn hỏi thế để dự đoán thời gian nước sẽ cạn xem có nên chờ hay là quay trở lại. Hằng chưa kịp trả lời thì người ấy lại hỏi tiếp:

- Rứa anh bộ đội đã có cách chi đi qua chưa?

Khi nghe hết hai câu hỏi vừa rồi Hằng chỉ mủm mỉm cười đáp lại và chỉ sang phía bên kia ngầm vừa kể cho cả mấy người nghe về vụ vượt ngầm không thành của hai người ở bên kia ngầm.

- Bác thấy đấy! Cháu cũng chưa nghĩ ra cách nào để vượt qua được đâu.

Nghe thấy Hằng nói vậy khuôn mặt người ấy cũng như buồn hẳn đi. Tuy vậy ông vẫn cất tiếng như là nói với mình:

- Chả lẽ phải quay trở lại…Thế thì nhỡ hết cả việc!

Chính trong lúc Hằng cùng người nhiều tuổi nói chuyện thì cả nhóm người vừa đến cũng rì rầm trao đổi với nhau. Cho đến khi câu chuyện của Hằng cùng ông già vừa kết thúc thì tất cả cũng đồng loạt im lặng, làm cho không khí càng nặng nề hơn. Cũng phải mất mấy phút không ai nói với ai lời nào mà chỉ còn mỗi tiếng nước chảy của con ngầm như sôi lên trong lòng mọi người.

Có lẽ mọi người đã chẳng còn hy vọng gì vào việc vượt ngầm nữa nên họ lại quay ra để hỏi thăm nhau. Người này thì hỏi người kia là người ở đâu đến người nọ thì hỏi người này là sẽ về đâu. Chỉ có mỗi Hằng cùng ông già là đứng im lặng nhìn dọc cái ngầm đang sôi lên từng đợt sóng. Vừa lúc đó ông già lại cất giọng ồm ồm lên cắt ngang dòng suy nghĩ của Hằng:

- Làm sao mà kỳ ni nước lâu rút vậy hè!

Trong khoảng thời gian tư duy ngắn ấy Hằng chợt nảy ra một ý nghĩ khá táo bạo, thế là Hằng trao đổi với cả sáu người mới đến về cách vượt ngầm của mình. Thực ra cũng chẳng có gì phức tạp lắm về cách vượt ngầm mà Hằng đề xuất. Cái chính là Hằng muốn lợi dụng việc người nọ lấy người kia làm cọc chống để chống lại sức nước mà thôi.

Nghe xong phương án vượt ngầm của Hằng, ông già lúc nãy liền đồng ý ngay. Tức khắc ông lại cất cái  giọng ồm ồm lên để đôn đốc mọi người:

- Choa biết các anh bộ đội là giỏi lắm he! Bây chừ tui sắp thế ni! Tui với anh bộ đội đứng ở mạn nước xuôi, cậu thanh niên tê thì đỡ cái xe đứng vô giữa, còn lại thì người ni nối người tê rồi cùng xuống một lượt nghe!

Ngay khi vừa mới xuống mọi người nghe có vẻ rất chới với, nhất là cô gái có cái xe đạp thì hình như run bắn cả lên. Thế nhưng đi được độ mươi bước thì cái vòng người có vẻ ổn định trở lại. Trong vòng tròn thì chỉ có tiếng của ông già, còn từ đầu bên kia là tiếng của hai người đàn ông hô hoán ầm ĩ át cả tiếng nước chảy.

Cuối cùng thì tất cả mọi người cũng sang được phía bên kia, mặc dù tất cả đều ướt như chuột lột. Nghỉ được một lúc, mọi người định đi thì lại phát hiện ra hai người ở bên này còn chưa đi được, thế là cả nhóm, trừ cô con gái, còn tất cả lại phải đưa hai người quay sang bờ bên kia rồi mới quay trở lại. Cả sáu người bắt tay chào nhau xong là hối hả lên đường. Nhìn những khuôn mặt hể hả vui tươi chào mình Hằng chợt nhớ lại lời ông già nói trước lúc chia tay:

- Choa biết, cứ khi nào có khó khăn mà gặp các anh bộ đội là choa không lo chi hết mô! Cách chi các anh ấy cũng vượt qua được!

Dù sao thì cũng phải có mọi người cùng chung sức, chứ nếu chỉ có một mình thì anh bộ đội của ông cũng cứ là phải chờ thôi đấy ạ! Một loạt những ý nghĩ trong đầu về dân vận và về nhiều điều khác nữa trong những năm tháng quân ngũ cứ lướt qua như những trang sách. Tất cả hầu như đều là những điều tốt đẹp và thật cao thượng.

Hằng đến Kỳ Hoa vừa kịp mua vé xe ra Bắc và chỉ sau một đêm quãng đường đã được rút ngắn lại, cho dù tầu hoả cũng vẫn chậm rề rề như mọi khi. Lọc cọc suốt hai ngày đêm rồi Hằng cũng đã về đến Hà Nội. Xuống tầu thì trời đã chiều nên Hằng không vào chỗ thím Đối mà về ngay nhà. Từ ga về nhà có lẽ cũng phải hơn chục cây số. Quãng đường như vậy đối với một đồng chí bộ đội đã từng rèn luyện đi Nam lại đã trải qua chiến đấu trên mặt trận Nam Lào thì mười cây số có đáng kể gì.


                                                             MẶT TRẬN

 

                                                1

 

Cũng thật là may cho đồng chí bộ đội vì vừa bước chân lên cầu Long Biên thì gặp ngay một ông cán bộ dân sự quần áo trắng tuốt đang cưỡi trên chiếc xe máy JaVa dừng lại ngay trước mặt mời lên xe cùng đi. Cho dù chiếc ba lô cứ giật bình bịch sau lưng mỗi khi xe đi vào các ổ gà nhưng Hằng cũng chả để ý. Trong đầu cậu chỉ còn nghĩ làm sao để có thể về nhà gặp mẹ và mọi người trong nhà nhanh hơn mà thôi. Vừa đi người cán bộ vừa hỏi anh bộ đội về tình hình chiến trường trong thời gian vừa qua. Suy nghĩ một thoáng rồi Hằng cũng kể một vài chi tiết về chiến thắng của quân ta cho người cán bộ vừa lòng. Có lẽ Hằng cũng chỉ có thể nói ở mức như đài đã nói mà thôi, vì nếu nói nhiều hơn nữa có khi lại vi phạm kỷ luật giữ bí mật của quân đội thì thật là không đáng. Đã có không ít những câu chuyện về giữ gìn bí mật trong tiết mục kể chuyện cảnh giác ở trên đài mà mọi người vẫn được nghe. Có điều để đối xử với một người tốt với mình như thế này thật không thể không làm cho họ có một chút hài lòng về những điều mà họ đang mong mỏi muốn biết. Chả lẽ mình lại có thể máy móc đến mức quá đáng thế chăng. Dù sao thì mình cũng là một quân nhân, kỷ luật buộc mình phải nghĩ và làm như vậy, cũng mong đồng chí thông cảm cho.

Vừa bắt đầu vào Ô Cách đã thấy quang cảnh lụt lội hiện ra ngay trên đường quốc lộ. Hàng ngàn những bao tải đất, cùng với những hòn đất nặn tròn như những cái bánh tàu hoả nằm rải rác trên khắp cánh đồng trước mặt và cả hai bên đường quốc lộ. Đây đó ngay bên vệ đường cũng xếp từng đống lớn những thứ mà nước đã cuốn chúng từ chỗ đê bị vỡ về đây. Có lẽ các địa phương có sông đi qua đã được lệnh chuẩn bị những thứ như vậy để phòng lụt và bây giờ đã được mang ra sử dụng. Có điều đáng lẽ tất cả những thứ này phải nằm ở chỗ đê bị vỡ thì mới chặn được nước, thế mà lại bị đẩy đi xa đến hàng chục cây số thế này thì chắc là chỗ vỡ to lắm. Bất chợt Hằng nghĩ không biết ở nhà có ai làm sao không? Căn nhà tranh nhà mình ọp ẹp quá không biết có bị trôi đi hay không? Gần cả đời mẹ mới có một căn nhà cho mình và các con, nếu lại bị đổ nát hoặc bị nước cuốn trôi đi mất thì chắc là bà buồn lắm.

Cuối cùng thì Hằng cũng về đến nhà, sau một hồi lặn lội từ đường quốc lộ vào làng. Có lẽ cũng phải đến gần một cây số Hằng phải đội ba lô lên đầu rồi dò dẫm trong nước mãi mới về được đến cổng làng. Ngôi nhà tranh nhà Hằng chưa bị đổ nhưng nước ngập ngang cột hiên. Cả khu xóm mới này vắng ngắt không một bóng người, không biết hỏi ai được về tình hình mẹ và em gái ra sao. Nghĩ lại trận lụt năm 1957 Hằng tin rằng có thể mẹ và em vào ở nhà anh Chìu chị Mão vì nơi này cao nhất làng từ trước đến giờ. Hằng đang bươn bả đi vào nhà anh rể thì gặp chị cả đi từ trong nhà anh rể đi ra. Hai chị em mừng rỡ túm lấy nhau hô hoán ầm ĩ cả lên. Thì ra chị nghe tin trên nhà lụt to nên cũng vội vàng thu xếp việc nhà rồi vội vã theo tàu lên từ mấy hôm trước.

Hai chị em vào nhà thì thấy mọi người tập trung khá đông đủ ở đây, mọi người hỏi thăm lẫn nhau ồn ã đến một lúc lâu mới tạm lắng đi. Lên thăm lụt kỳ này còn có ông bố và người anh chú Thành, chồng cô Hà cũng từ Thái Bình mới lên sớm nay. Cũng may cho kỳ phép đặc biệt lần này mà Hằng gặp được người nhà chú Thành, bởi khi hai người tổ chức cưới nhau Hằng ở chiến trường nên chẳng được biết tý gì.

Ngay hôm sau số khách các nơi ai nấy đều đã về cả bởi đã biết việc lụt lội cũng đã khá ổn định lại rồi huống gì việc ăn ở cũng rất chật chội. Hằng ở lại nhà mấy ngày với mẹ và em rồi lại cùng anh cả về Nam Định. Việc về Nam Định lần này là do anh cả đề xuất nhằm mục đích tìm cho Hằng một cô vợ để sau này Hằng sẽ ở lại quê để gây dựng cuộc sống cùng với anh cả gánh vác việc họ, việc nhà. Cũng thật không may là anh cả lại dính vào dịch đau mắt đỏ thế là chả đi được đến đâu, mọi dự định đành phải bỏ dở lại cả. Hai chú cháu Hằng rong chơi quanh làng, ngoài chợ vài ngày cho đến hết mấy ngày phép rồi Hằng lại lên đường về đơn vị. 

 

                              2

         

Gần một tuần lĩnh nhận quân tư trang và các loại nhu yếu phẩm, thuốc men, súng đạn kết hợp với học tập chính trị, toàn đơn vị đã bắt đầu lên đường làm nhiệm vụ. Vẫn là tiến vào vùng Cự Nẫm để rồi lên xe đi vào tuyến lửa. Những năm chiến tranh kéo dài không riêng gì các miền đất phải đương đầu với bom đạn là gặp khó khăn gian khổ. Những vùng quê miền trung quanh năm hạn hán kéo dài cũng khó khăn không kém những miền quê khác. Mỗi ngày các ông già bà cả, kể cả bọn con nít cũng chỉ có khoai và sắn. Vậy mà cả khoai và sắn cũng phải ăn dè, hạt tiện mới có thể tùng tiệm qua ngày. Cứ sau mỗi đợt chuyển quân Hằng lại đến một gia đình và Hằng lại thấy những người giống y như thế. Khó khăn là thế nhưng mỗi khi các gia đình có một vài anh bộ đội đến ở thì cả nhà náo nhiệt vui không thể nào nói hết. Có lẽ vì thế mà mỗi ngày xa gia đình những người lính phần nào vơi đi những nỗi buồn để phấn chấn hơn chuẩn bị cho những ngày ra đi sắp tới.

Nhớ lại ngày đầu tiên khi Hằng đến ngôi nhà lá của cụ Thêm ở Kỳ Thượng lại thấy buồn vui lẫn lộn. Khi Hằng và anh Như người Thái Bình vác ba lô đến thì chỉ thấy cụ chủ nhà đi thoáng qua rồi không trở lại. Thế là hai anh em phải chờ gần ba tiếng đồng hồ vẫn chưa có chỗ nghỉ ngơi, trong khi cả đại đội đều đã ổn định xong chỗ ở. Mỏi quá Hằng để cả ba lô trên hè rồi ngồi dựa vào bờ vách bằng gỗ ngủ thiếp đi. Khi thức dậy không thấy anh Như đâu cả đang định đi tìm thì thấy ba lô của anh vẫn để ngay bên cạnh. Đang chưa biết làm thế nào thì anh Như lò dò về đến sân, cùng đi với anh còn có trung đội trưởng Giao vừa đi vừa cười rổn rổn. Không biết có chuyện gì mà vui đến thế không biết, trong khi các tướng đã ăn ngon ngủ yên còn hai anh em người ta vẫn loay hoay ở một đầu hè.

- Tất cả là tại cậu đấy!

Thấy anh Giao vừa nói vừa nhìn vào mình, Hằng đâm nghi hoặc hỏi lại.

- Cái gì mà tại em hả anh Giao?

- Tại cậu là dân Hà Nội.

- Hà Nội thì làm sao?

- Chả là mấy năm trước có mấy toán thanh niên xung phong đến làm đường, họ chơi bời phóng túng quá mà bọn này toàn là dân Hà Nội thành ra cụ ấy có ác cảm với dân Hà Nội của các cậu.

- Nhưng mà em đã gặp …ông cụ ấy bao giờ đâu!

- Thì thế mới nên chuyện! Chả là khi phân phối nhà ở ông Nhu nhà mình lại còn giới thiệu thêm những cái tốt của cánh lính tráng chúng ta. Đâu là có văn hoá, có trình độ, sinh ra lớn lên ở những nơi có truyền thống để cho bà con dễ chấp nhận, nào ngờ nói đến cậu sinh ra lớn lên ở thủ đô thì ai cũng ngài ngại. Ông cụ chủ nhà các cậu lại đang ở đó thế là ông cụ kiên quyết tẩy chay, thế mới chết chứ!

Ngừng lại một lúc để lấy hơi vì sợ người khác chê nói dài, mà quả là cũng dài thật còn gì, anh Giao lại tiếp tục giảng giải

- Chỉ tý nữa là cụ chủ về thôi, chúng tớ đã giải toả tâm lý cho cụ ấy rồi, cứ yên tâm chờ đợi! Thế thôi tớ về nhé!

- Thế còn cơm nước thế nào?

- Thì tý nữa sang nhà trung đội ăn cơm! Lâu nay cậu có háu ăn, háu uống như thế bao giờ đâu? Nay mai vào trong ấy có khi còn nhỡ bữa đôi ba ngày là chuyện thường ấy chứ!

Lại tràng giang đại hải, hỏi mỗi nửa câu mà trả lời đến mấy câu liền, khiếp thật. Ông ấy mà là chính trị viên thì chỉ những họp rồi lê thê mà mệt chứ chẳng chơi. Nghĩ vậy nhưng thật ra trong lòng Hằng, anh Giao là người mà cậu rất tin yêu và  quý mến. Từ ngày về trung đội của anh, Hằng chưa bao giờ thấy anh nóng giận ai bao giờ. Cho dù là mấy cậu lính đồng hương Hải Phòng của anh luôn trốn trại đi chơi làm anh mất mặt, đến cánh lãnh đạo cấp trên ít tuổi hơn anh hay làm phách phê phán này nọ anh cũng chỉ cười ồ ồ rồi bỏ đi nơi khác. Anh có biệt tài hoà giải mọi người trong khi bất đồng quan điểm, kể cả khi bàn công việc lẫn khi đỏ mặt tía tai trên những bàn cờ đang vào nước bí. Cũng không biết thế nào mà khi các đối thủ đang căng nhau anh lại đưa tay vào bàn cờ của họ để rồi gỡ hộ bên này một nước, hoặc mách cho bên kia một vài nước mà họ lại đều để mặc cho anh thao túng. Cứ như thế cho đến khi các đối thủ say sưa trở lại cuộc chơi một cách êm thắm. Chuyện ngày thường là thế nhưng khi vào nhiệm vụ thì anh lại thay đổi khác hẳn. Từ việc phân công, giao nhiệm vụ đến việc kiểm tra kết quả công tác anh không bỏ sót một chi tiết nào. Đôn đốc nhắc nhở chi tiết, kỹ lưỡng đến chân tơ kẽ tóc, phê bình khiển trách cụ thể, sát sàn sạt đến tận mặt không vị nể một ai. Vậy nhưng hầu như chưa ai bất bình về những việc mà anh đã quyết định có liên quan tới họ, kể cả đó là những lời phê phán khá là nặng nề. Mọi người thấy anh luôn tròn trặn và không bận tâm nhiều về anh vì anh thật giản dị. Sự có mặt của anh trong đơn vị giống như là khí trời vốn dĩ lúc nào cũng sẵn có trong tự nhiên vậy. Một người lãnh đạo như thế tựa như của hiếm trong ngàn vạn con người. Ai sẽ là người nhận ra những viên ngọc sáng đẹp ấy để mà xếp vào đúng cái vị trí của nó. Những người tuyển ngọc vốn dĩ không là ngọc, thế thì họ biết thế nào về màu sắc, hình dáng của ngọc!

Cơm nước xong được một lúc thì đại đội tập trung điểm danh như thường lệ. Kể ra nếu như ở vùng gần nơi phường phố thì cái sự tranh thủ te tắt để ngó nghiêng quang cảnh một tý là cái việc thường xảy ra nên không hiếm những buổi đơn vị phải tổ chức đi tìm người. Còn ở nơi xa lắc này, chỉ toàn rừng rú thì việc kiểm tra con số cũng chỉ là làm theo nguyên tắc mà thôi. Thế nên cũng chỉ độ ba mươi phút là đơn vị đã giải tán, ai về nhà ấy. Đang định theo anh Như về nhà trọ thì cậu Luận xô đến bên:

- Thế nào rồi anh?

- Thế nào thì anh biết cậu hỏi cái gì?

Chưa kịp nghe Luận giải thích về câu hỏi vừa rồi đã nghe từ phía sau có giọng nói cất lên:

- Thì cái việc nhà trọ ấy?

Té ra là Kiệm thư sinh, không biết cũng đã đến bên cạnh từ lúc nào.

- Xong rồi! Xong rồi!

Cũng đã lâu lắm mấy anh em không có dịp trò chuyện cùng nhau, nhất là vừa rồi Hằng lại vừa về phép qua nhà vào. Sau một hồi trả lời hàng loạt câu hỏi của hai chàng trai trẻ Hằng cũng kể thêm sự gặp mặt với mấy cô gái Hà thành làm cho các chàng trai trẻ thích thú không khác gì nghe đọc tiểu thuyết tình yêu. Sau những câu chuyện của Hằng, những câu chuyện riêng của từng cậu cũng được bộc lộ với vẻ lo lắng bần thần.

- Không biết cô ấy có còn nhớ em không biết!

- Mới xa nhau chưa được một năm, làm gì mà đã nhanh quên đến thế!

- Anh không biết đâu! Bên cạnh cô ấy có đến ba bốn đứa nhằm vào, em lại ở xa! Cự ly như thế chắc là bất lợi rồi anh ạ.

- Đừng bi quan và cũng đừng coi thường chị em phụ nữ. Một khi người ta đã yêu thì họ phải say mình một điều gì chứ không phải họ yêu theo cảm tính đâu, thế nên các cậu chỉ cần chăm viết thư về là được.

- Thế mà vừa rồi em lại cứ phân vân mới chết chứ. Em sợ nói chuyện tình cảm nhiều rồi đến khi họ lấy người khác họ đem ra đọc cho nhau nghe rồi họ cười với nhau thì chán chết.

- Không bao giờ đâu! Cậu chỉ lo bò trắng răng mà thôi. Một khi đã đi với người khác họ lại lo cái người mới biết chuyện cũ còn hơn là lo gặp hổ đón hơi ấy chứ.

- Thế thì em phải viết thư ngay hôm nay mới được anh ạ.

- Thế còn thằng này thế nào?

Kiệm chậm rãi trả lời:

- Em thì chỉ mới thích cô ấy, chứ còn cô ấy thế nào thì em không biết.

- Thế thì đâu đã có gì được. Này nhưng lúc cậu lên đường đi bộ đội cô ấy đối với cậu thế nào?

- Từ khi em trúng tuyển nghĩa vụ, chiều nào cô ấy cũng sang chơi. Còn thằng Lượng ở ngay bên cạnh cũng đi với em một đợt mà chả thấy cô ấy đến thăm hỏi lần nào.

- Thế là yêu rồi! Sao mà dốt thế không biết! Người ta đợi cậu nói ra đến đỏ con mắt mà lại không nói gì có chết không cơ chứ.

- Không biết thế nào mà lúc chia tay em chỉ nói với cô ấy là thỉnh thoảng bạn đến chơi cho mế tớ đỡ buồn, cô ấy nói đồng ý thế rồi cô ấy cũng buồn lây theo em mà rơm rớm nước mắt anh ạ!

- Đồ con khỉ! Cô ấy làm gì phải buồn lây vì cậu mà cô ấy buồn vì phải xa cậu! Hiểu chửa đồ con khỉ?

- Thật thế hả anh?

- Chứ còn sao nữa!

Rõ là anh loà lại dẫn anh mù! Một anh chàng chưa yêu nổi một mối tình nào cho trọn vẹn lại đi hướng dẫn về tình yêu cho những người khác nghe thật tức cười. Nhưng dù sao thì giữa xứ mù có một anh chột cũng đã là có sự hơn hẳn rồi, nhất là anh ta lại có cái mốc tuổi đời nhiều hơn họ đến ba bốn năm chứ chẳng chơi.

Câu chuyện của những chàng trai trẻ chưa vợ thì có rất nhiều, nhưng vốn dĩ vẫn là những câu chuyện mang đề tài tình yêu là chính. Xin cũng đừng trách cứ họ thiếu bản lĩnh, thiếu ý chí trong lúc đất nước đang từng ngày hướng đến một mục đích lớn lao hơn, trong lúc xã hội đòi hỏi ở họ những điều to lớn hơn về trách nhiệm của những người lính mà họ lại nghĩ nhiều đến cái sự tư riêng như vậy. Tuổi trẻ thường là thế, cho dù bất kỳ ở thời nào họ vẫn luôn yêu hết mình, nhưng không phải vì thế mà họ không dám quên mình cho sự nghiệp chung của đất nước. Cho dù ngay sau những giây phút say đắm với những kỷ niệm thân thiết họ vẫn vững vàng lao vào cuộc chiến cho dù họ biết họ có phải hy sinh.

Ngay từ những ngày tập trung huấn luyện ở tỉnh đội bộ ba một già, hai trẻ này vẫn luôn gắn bó với nhau. Cũng không thể nói họ gắn bó với nhau vì một lý do nào cả vì họ đến với nhau rất tự nhiên không hò hẹn thề thốt kết nghì, kết ngãi. Tất cả sự gắn bó tựu trung lại chỉ là sự đồng cảm nào đó mà mọi người và cả chính họ cũng không thể nhận ra. Nhưng có một mối quan hệ mà ai cũng phải thừa nhận giữa họ đó là  những người đồng đội.

      

                          3

 

          Mới sáng ngày ra mà đã thấy cụ Thêm đi từ trên nương về. Chả biết có cái gì quan trọng mà thấy cụ đặt cái rổ xuống bên sân một cách khá thận trọng, trước khi vít cái cần tre cho cái gầu hạ xuống múc nước để rửa tay chân. Mặc dù cụ sống ở vùng thôn bản khá xa chợ búa và các vùng phường phố nhưng cụ cũng biết khá nhiều kiểu sống của các tầng lớp dưới xuôi. Qua câu chuyện cụ kể lại người ta tưởng cụ chỉ là người vùng xuôi lên chơi với con cháu ở trên này mà thôi. Sự kiện buổi đầu cụ gây ra cho anh Như và Hằng hầu như mọi người đã quên hẳn rồi. Mấy ngày gần đây cụ đối xử với hai anh em khá gần gũi và thân thiện. Tuy vậy cụ lại vắng nhà luôn nên cả hai anh em vẫn chưa có dịp ngồi với cụ, loại trừ vài lần cụ mang nước chè xanh ra mời hai anh em uống. Nước chè xanh thì Hằng không ham lắm nhưng anh Như thì có vẻ thích, nhất là vào buổi sớm và sau khi ăn cơm ở nhà bếp về. Cụ bà mất cũng đã khá lâu, các con gái thì đã về nhà chồng cả cho nên cụ chỉ có một mình. Sáng thì đi nương, trưa lại về nhà lo cơm, lo nước. Cái vòng tròn ấy hình như đã theo cụ từ lâu, bây giờ đã thành nề, thành nếp mất rồi. Những quan niệm về cách sống, cách cư xử của cụ giản dị như mọi người vùng cao khác trên đất nước mình. Quan niệm ấy đã truyền từ đời này sang đời khác cho dù nhiều năm gần đây phong trào Hợp tác xã đã mở ra nhiều mối giao tiếp giữa những người trong cùng thôn bản và rồi cũng có nhiều đơn vị, cơ quan sơ tán về cùng sống đưa đến khá nhiều kiểu văn minh và cũng mang đến khối chuyện phiền toái và không hợp với đạo lý của vùng quê này.

          Cũng không biết thế nào mà cách đây mấy năm có một đơn vị Thanh niên xung phong nói là ở Thủ đô vào ở nhờ một thời gian để chữa đườngC, đến khi rút đi rồi lòng dân có vẻ bất mãn quá, đến mức chỉ nghe nói là người Hà Nội là đã mất hết thiện cảm như cụ Thêm chủ nhà mà Hằng và anh Như trọ trong những ngày đầu khi hai anh em mới đến.

          Sau một hồi loay hoay cạnh cái giếng cụ Thêm cũng đã vào nhà với cái rổ trong tay. Cụ đi thẳng tới trước mặt hai anh em và chìa cái miệng rổ ra nói với anh Như:

- Bên vườn có quả mít chín, ta mang về mấy ông con cùng ăn.

Anh Như vội xua tay nói:

- Cụ để cho các cháu bên các chị ấy dùng, anh em chúng con cũng đã ăn bên cụ Phúc hôm qua rồi.

Cụ Phúc là chủ nhà anh Giao trọ, cụ có đến vài chục cây cối các loại trong vườn, riêng mít cũng có đến sáu bẩy cây. cụ Thêm biết vậy nhưng cụ vẫn cố ép hai anh em cùng ăn:

- Bên nhà chúng cũng có, với lại hôm rồi ta cũng cho chúng một quả to rồi, cái này là cho ông con mình nếm xem quả vụ này có khá hơn không.

Nói chưa dứt lời cụ đã đi xuống bếp để lấy dao lên bổ mít.

Từ khi đến đóng quân ở vùng này Hằng cũng đã nhận thấy đây là vùng quê có khá nhiều khó khăn về kinh tế. Thóc gạo xem ra không có mấy, thức ăn thường ngày của cả vùng là những bữa cơm độn một gạo có đến hai, ba ngô hoặc sắn khô. Thức ăn thì hầu như không mấy khi mua ở chợ . Phần vì chợ xa, vả lại người dân ở đây cũng rất hiếm tiền, chính vì vậy nên ra rừng kiếm được cái gì thì ăn cái đó. Khi thì là con cầy, con rúi săn được, nhưng mà rất hiếm, còn lại chủ yếu là các con vật nuôi trong nhà cùng với đôi ba vạt rau còi cọc vì thiếu nước trồng ở trong vườn. Thoảng hoặc có thu hoạch được vài loại hoa trái thì lại đem xuống chợ bán lấy tiền mua lấy ít muối, đường cùng các vật dụng cần thiết khác. Món mít xanh cũng là một nguồn thức ăn dự trữ của mọi nhà ở các dạng muối, xào, kho để có chút mặn mồm nuốt trôi đôi ba bát cơm độn thường ngày.

Mỗi lần qua bếp anh nuôi ăn cơm xong Hằng cũng hay lọ mọ xuống chỗ anh Toán anh nuôi trưởng ngồi chơi. Thực ra thì Hằng xuống xem có cái gì ăn được là Hằng xin về cho cụ Thêm. Anh Toán cũng biết vậy nên hôm thì ít muối, ít mỡ xào rán còn lại, cũng có khi là một phần của hộp thịt đã chia cho các mâm còn lại anh cũng đưa cho Hằng. Những khi có chút gì Hằng mang về cho cụ Thêm đều cất đặt khá kín đáo rồi cái thì đem cho mấy đứa cháu, cái gì ít ỏi một chút thì cụ để lại cho mình. Cũng không phải ngay từ đầu cụ Thêm đã nhận những thứ Hằng mang về ngay đâu. Cụ ngờ vực Hằng bớt xén để mang về rồi đơn vị sẽ phê bình, về sau nghe Hằng giải thích mãi cụ mới thôi không cật vấn nữa.

Cũng phải đến gần một tháng ở trong nhà cụ Thêm, giờ đây hai anh em mới lại tìm thấy nét tươi vui hài hước của cụ. Những câu chuyện về gia đình và bản thân cụ lần lượt được cụ kể lại cho hai anh em nghe. Đâu là chuyện đi săn thú trên rừng, chuyện vui tết của ngày xưa, cả chuyện cụ phải lòng cụ bà như thế nào cũng được kể ra. Thế rồi cụ lại nói đến đám người ngày xưa đã trọ trong nhà cụ, từ việc họ ôm ấp nhau ra sao đến chuyện họ gần gũi quá đáng cùng nhau làm cho cụ thấy nó khó nhìn và đáng xấu hổ. Mỗi lần nghe đến đó Hằng lại phì cười rồi bao biện cho đám người nọ:

- Đó là bố chưa quen gặp cảnh này bao giờ mà thôi! Người nước ngoài họ cho đó là chuyện bình thường bố ạ.

- Đấy biết ngay mà! Đã là dân Hà Nội anh nào chả thế! Chẳng qua là cánh Hà Nội kỳ này chỉ có mỗi mình cậu nên cậu bất lực mà thôi. Cho dù thế nào thì bố cũng không tán thành cách sống như vậy. Vừa lúc đó anh Như xen vào:

- Bố có biết cái Xoan cháu ngoại của bố đang nhắm vào đứa nào không? Nó đấy bố ạ! Cậu ấy còn phải trốn không dám gặp để tránh sự phê bình của ông Giao đấy! 

Vừa nói đến đây thì cụ Thêm bật quát lên:

- Này anh đừng tưởng anh là người văn minh mà anh coi thường cháu tôi đấy nhé! Cả bản chỉ có mình nó là xinh nhất thôi đấy, anh còn đòi gì hơn nữa nào.

- Thế nhớ! Nếu mà mai đây nó lại mang văn minh đến cho cháu của bố thì làm thế nào?

- Cháu của ta chắc hẳn là nó không như thế chứ…!

Cụ Thêm hơi lưỡng lự vừa như trả lời anh Như, vừa như tự nói với mình về sự ngờ vực không biết cháu mình nó có tránh được cái sự ấy không? Cái Huyền nhà bà Tám chả bảo chín chắn đó sao thế mà rồi cũng trốn nhà đi biệt có thấy về đâu.

- Này thế mày đã thế nào với cái Xoan hả?

- Bố cứ yên tâm đi cô ấy còn ít tuổi, mà con cũng có người yêu rồi.

- Chả lẽ cháu của ta không bằng người yêu gì đó của cậu à?

- Không phải thế, chỉ là cháu làm sao lại có thể bội bạc với ngườì yêu của cháu được!

- Cậu ấy và cô bạn gái đã chia tay từ nửa năm trước rồi, nó chẳng còn cô nào nữa đâu bố ạ.

- Thế sao cậu lại dám dối bố thế nhỉ?

- Chả là tại bố cứ lo cháu của bố hư hỏng nên…

Cụ Thêm vội cướp lời:

- Này cái việc ấy thì bố cũng đã xem trên chiếu bóng rồi. Liên Xô họ cũng thế thì chắc cũng không có gì là xấu. Nhưng dù sao thì cũng ở chỗ kín chứ cứ đứng giữa đường mà cũng thế thì người ta phải phê phán thôi.

- Có nghĩa là bố đồng ý cho nó được ấy... chứ gì?

- Ấy là thế nào? Chỉ được hôn nhau thôi nhưng mà không được cho ai nhìn thấy, nhỡ sau này các cậu không về đây nữa, bỏ rơi nó thì làm thế nào?

Cụ Thêm nói một thôi một hồi mà vẫn sợ hai người này không hiểu ý mình. Chẳng qua là cụ cũng kết một cậu cháu rể như kiểu này rồi nhưng lại sợ cháu mình cũng quá yêu rồi để quá ra thì mang tiếng nên cụ không biết nói như thế nào cho thoả đáng. Thấy cụ có vẻ lúng túng anh Như cũng thôi không trêu cụ nữa, anh bảo với ông cụ:

- Bố yên tâm đi, đơn vị chúng con là đơn vị chủ lực của bộ nên cán bộ, chiến sĩ không ai được vi phạm kỷ luật đâu.

          Mặc dù cái việc đơn vị chủ lực là gì, nó có quan hệ thế nào đến mối tình của bọn con trai, con gái hay không thì đến người nói ra cũng chẳng hiểu nữa là cụ Thêm, nhưng dù sao thì câu nói đó cũng làm cho cụ yên lòng hơn.

          - Chuyện rông dài mãi, ta phải đi mượn cái thang để lấy cái gầu lên kẻo không có cái gì múc nước nấu cơm bây giờ đây.

          - Sao bố không làm cái dây bằng sắt cho chắc mà lại làm bằng dây rừng cho hay đứt.

          - Dây sắt cũng không chịu được đâu, ta cũng đã làm rồi mà không được vì nó cứ oải cái móc ra, thế là lại tuột.

          - Không sao đâu, con đã làm cho nhiều người rồi, múc cả thùng to vẫn không đứt, không tuột được. Con đã thấy bố có đám dây thép tráng kẽm kia rồi, bây giờ chỉ cần một cái chạm chặt và một cái búa là xong thôi.

          - Các thứ thì có nhưng không biết cái dây có chịu được không?

          - Bố cứ yên tâm đi, con làm nhiều lần rồi mà.

          Thế là ông cụ bê cả đám đồ nghề bụi bặm trong gậm giường ra cho cậu, tuy rằng trong bụng vẫn không tin là cậu có thể làm được. Có lẽ cụ cũng định cứ để cho cậu thất bại, rồi quyết đoán là cậu nói ngoa để rồi lấy cớ răn đe cô cháu gái nên cụ chấp nhận tốn ít dây thép mà cụ nhặt nhạnh từ hồi còn chiến tranh để lại.

          Hằng tìm trong đống đồ cũ đưa ra hai đoạn sắt phi sáu dài đến mười phân rồi đóng xuống tấm gỗ dầy mà cụ Thêm vẫn làm đòn kê. Từ một cái cọc sắt Hằng quấn một vòng tròn vào đó xong rồi kéo sang cái cọc  sắt thứ hai quấn tiếp hai vòng tròn khác. Cứ như vậy mà quấn sau một hồi cậu đã có đến hàng chục đoạn dây thép với hai vòng tròn ở hai đầu dính liền vào nhau. Sau khi đã quấn được nhiều các đoạn dây giống nhau Hằng liền tháo các đoạn dây rồi chặt từng cái rời ra. Cứ để nguyên như thế Hằng bẻ gập chỗ giữa của đoạn dây để hai vòng tròn hai đầu chập vào nhau. Cứ hai vòng đầu của đoạn này móc vào đoạn uốn giữa của đoạn kia rồi dùng búa gõ cho kín các vòng tròn đầu lại thế là các đoạn nối liên tiếp với nhau kéo dài mãi ra. Hằng làm chỉ trong một buổi nghỉ mà được hơn mười mét vừa đủ độ dài của giếng.

          Cũng không ngờ cuộc thử dây lại náo nhiệt đến thế. Hàng xóm có, bộ đội có, con cháu của cụ Thêm nghe tin cũng đến, lẽ dĩ nhiên là có cả cô Xoan cháu gái của cụ Thêm với đôi mắt lúc nào cũng ánh lên tia sáng như muốn thiêu cháy cái anh bộ đội ở nhà của ông mình. Sau khi đã gắn vào dây cả cái thùng gánh nước, một chàng thanh niên thả thùng xuống giếng rồi thì lắc, giật một lúc lâu mà cái thùng cũng chẳng chịu rời ra và thùng nước đã được kéo lên đầy ắp. Cũng không thiếu những người còn chưa tin về sự chắc chắn của dây, họ vẫn kéo giăng ra để tìm xem có chỗ nào khả dĩ có bị oải ra không. Cũng không bao lâu sau người ta đã thừa nhận là cái dây có thể chịu đựng được sức vóc của thùng nước và rồi họ cùng cười chia vui với cụ Thêm. Lẽ dĩ nhiên là cụ Thêm đã quên từ lâu cái sự nghi ngờ đối với chàng trai nọ. Cụ không còn ngại về cái việc cháu gái của cụ mê say anh chàng bộ đội quê ngoài Hà Nội đang ở nhà mình nữa. Còn một điều mà cụ để ý kỹ hơn xem cái con cháu gái của cụ có mê trai thật hay không. Tất nhiên là cụ phải thừa nhận thôi vì cụ đã thấy cháu của cụ chả để ý gì đến thử dây mà suốt cả buổi con bé chỉ hút mắt vào cái bóng xanh biêng biếc nọ. Cụ thở dài: Thế có chết không cơ chứ!

          Không quá ba tháng sau đơn vị lại rời quê hương của cụ Thêm để lên đường đi chiến đấu. Anh Như thì đã chuyển đơn vị về tuyến sau, chỉ còn mỗi một mình Hằng chia tay với ông cháu của cụ Thêm. Câu chuyện say đắm của cô Xoan cháu cụ Thêm cũng chưa kịp phát triển bởi Hằng luôn cố gắng xa lánh cho dù cô Xoan đã cố tìm cách thể hiện mối cảm tình của mình mà chàng trai nọ vẫn cứ lơ lửng vậy. Điều này thì Hằng biết nhưng mà Hằng có sự quyết tâm từ nhiều lần trước đã thành kinh nghiệm rồi nên mọi sự rồi cũng qua nhanh chóng. Cô Xoan cũng chỉ nước mắt lưng tròng một chút vậy thôi.

          Chỉ còn ba mươi phút nữa là đơn vị sẽ xuất phát. Trong mấy ngày qua Hằng đã thu thập được một số quần áo dư thừa của mình và cả của mấy cậu bạn mà không phải thu cũ đổi mới gói vào một bọc khá to. Hằng lại xin được một cái mũ cối còn khá mới gói vào một tờ báo cũ để lại trên tấm phản mà Hằng và anh Như vẫn nằm ngủ. Bắt đầu nghe còi của anh Giao cất lên ở đầu xóm Hằng mới gọi cụ Thêm lại để đưa cho cụ số đồ dùng nọ. Cụ cứ ngần ngại từ chối, Hằng phải động viên mãi cụ vẫn chưa chịu nhận:

          - Tất cả những thứ này cho dù có thu về rồi cũng huỷ bỏ mà thôi, con muốn để lại cho bố và mọi người dùng cho khỏi phí, huống chi ở mình còn nhiều người rách rưới quá, ngay bố cũng vá víu nhiều như thế cơ mà.

          - Bố ngại rồi trong thôn bản họ sẽ không nghĩ như thế, họ cho là bố lợi dụng!

          - Biết vậy nên con đã viết giấy nói rõ việc này rồi lại còn có cả ý kiến của anh Giao trong ấy nữa đấy bố ạ. Ai hỏi bố cứ đưa giấy ra cho họ là được.

          Vừa lúc đó anh Giao cũng vào đến cửa:

          - Thế nào! Hai bố con chia tay xong chưa, ra tập trung thôi chứ!

          Cả hai cùng chào ông cụ Thêm rồi bước ra, cũng vừa lúc ấy ông trưởng thôn vào đến trước cửa, ông  cất giọng nói với cụ Thêm:

          - Việc này chúng cháu đã biết rồi, cụ cứ nhận để mà dùng cụ ạ! 

          Từ trên khuôn mặt già nua của cụ Thêm phảng phất một nỗi buồn mà cụ ít khi thể hiện ra ngoài mặt, cụ giơ tay lên như vẫy chào tạm biệt hai người chiến sĩ, mồm mấp máy không nói thành lời, mắt thì nhìn về một nơi xa đến vô cùng, vô tận. Có lẽ cụ nghĩ về cái nơi mà những người chiến sĩ sắp đến, cụ hiểu rồi những con người tốt ấy sẽ gặp chuyện gì và rồi cụ cầu khấn mong cho họ tránh được mọi sự nguy hiểm, luôn gặp được những điều may mắn. Đoàn quân đã ra đi và chàng trai Hà Nội ấy cũng không có điều kiện để trở lại vùng quê ấy nữa. Trong lòng của chàng trai ấy vẫn luôn nhớ về một vùng đất nghèo về vật chất mà giầu tình người. Câu chuyện về tình dân như thế đâu có gì đặc biệt và đâu chỉ có ở riêng một vùng nào. 

 

                            4

 

          Gần đến sáu giờ chiều đơn vị mới bắt đầu tập kết về bãi xe để chuẩn bị lên đường. Suốt cả buổi chiều mọi người làm các công việc chuẩn bị mà có vẻ như vẫn chưa xong. Đâu là vài cuốn sổ, cây bút máy, đâu là mấy bộ quần áo lót, rồi thì tăng võng, hộp thuốc cá nhân. Vài anh nghiện thuốc lào thì còn nhiều thứ nữa, đâu là cái bật lửa, bình xăng để tra bật lửa. Những gói thuốc dự trữ được vò đi ép lại sao cho nhỏ nhất để ba lô còn đựng thêm trăm thứ bà rằn khác nữa. Những thứ bắt buộc ai cũng có như súng đạn, bao gạo thì không thể làm thay đổi khối lượng được nên mọi người chẳng để tâm đến việc sắp đặt làm gì, chỉ cần khoác lên thế là xong. Hằng kiểm lại chiếc ba lô của mình lần cuối để tránh bị bỏ lại những thứ cần thiết cho sau này. Hai bộ quân phục, hai bộ đồ lót, cả cái áo sợi có hàng khuy trước ngực màu cỏ úa mà anh em quen gọi là áo bà Định. Bà Định không là ai khác mà là bà Nguyễn Thị Định Phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam lúc bấy giờ. Cũng không biết cơn cớ gì mà anh em chiến sĩ lại gọi đó là áo mang tên của bà. Những chiếc áo sợi kiểu này khá giống những chiếc áo len hoặc sợi vẫn bán ở miền Bắc cho các bà các cô dùng. Một mặt nó lại chỉ được cấp khi họ sắp làm quân giải phóng của bà nên có lẽ vì thế mà họ gọi đó là áo bà Định. Ngoài những thứ của riêng, Hằng còn phải mang cho đại đội một số quân cụ và còn có cả một bọc khá lớn mềm trơn. Có lẽ đây là các loại cờ quạt, giấy má mà đại đội cần dùng cho các cuộc học họp. Công việc chuẩn bị chỉ kết thúc khi tất cả đã lên xe để đi vào mặt trận.

          Đoàn xe đã bắt đầu chuyển bánh từ từ lượn trên những đoạn đường cuối của miền đất phương Bắc. Những bãi khách đã không còn ai ở đang trơ ra những hàng cọc buộc võng mà mọi người để lại từ những đêm trước. Không riêng gì đơn vị của Hằng ra trận, bởi có nhiều bãi khách vắng như thế này.

          Tất cả những người lính hầu như đều im lặng ngồi trong xe và nhìn ra hai bên đường như cố thu vào tầm mắt những hình ảnh thân thương của miền Bắc trước khi bóng tối che đi tất cả mọi thứ. Những gì đã sảy ra trong những ngày gần nhất và cả những gì đã sảy ra trong quá khứ hầu như đều hiện lên tất cả trong đầu. Thế rồi đến hình ảnh của những người thân, những bạn bè và cả những người phụ nữ đã quen biết trong những ngày qua cũng hiện lên cùng với những hình thân mật trìu mến nhất của họ mà Hằng đã cảm nhận và có ấn tượng ở họ. Có rất nhiều cuộc ra đi đã từng sảy ra trong mỗi đời người ví như rời nhà đi chơi đâu đó ở nơi họ hàng dăm ba ngày rồi lại về. Có những lần ra đi xa nhà lâu hơn như đi học nghề, đi làm việc nhưng rồi cũng lại trở về cho dù có lâu hơn một chút cũng đã làm cho ta xao xuyến, nhớ nhung.Tuy nhiên những khoảnh khắc ấy nhanh chóng tan đi, nhường cho các trạng thái bình thường trở lại để con người vui vẻ và cởi mở như trạng thái vốn có. Nhưng lần ra đi này đã không như thế bởi ngoài cái xao xuyến, nhớ nhung còn một điều ta phải nghĩ đến đó là lần ra đi này đã đành là rất lâu mới trở lại và rồi còn có thể trở lại được nữa không mới là điều đáng phải nghĩ đến. Ta hiểu sự hy vọng vượt qua được sự nguy hiểm và cái chết trong chiến tranh là điều không tưởng, sự hy vọng ở đây chỉ còn là sự cầu may mà thôi. Tuy nhiên như vậy nhưng con người ta không chỉ nghĩ về một điều đó, sự lôi cuốn của cả xã hội, sự hứng khởi vì một sự quang vinh, sự thù hận vì một hành vi tàn ác đối với đồng loại, sự ganh đua cho cái hơn hẳn của cá nhân, của đồng bọn, đồng phe với mình cũng là những xúc tác để con người dẹp bỏ đi tất cả mọi điều để dành cho điều đó. Những lúc ấy cái nguy hiểm và cả cái chết cũng bị coi là nhỏ, nhờ thế mà có bao sự tích anh hùng làm cho chính ta và cho cả kẻ thù của ta cũng phải nể phục. Tất nhiên là họ ngạc nhiên và nể phục bởi vì họ đâu có ở trong cái không khí đầy chặt ý niệm như vậy, họ đâu có đau thương, đâu có mất mát gì để mà phải cố giành giật lại. Cái của họ là chiếm lấy bằng sức mạnh, chiếm lấy để thoả mãn sự tham lam vô lối mà thôi. Tuy vậy họ cũng không phải không cố sống, cố chết để giữ bằng được những thứ mà họ sắp sửa chiếm được, vì họ cũng đã mất nhiều công sức cho cái mưu đồ nhơ nhuốc ấy, họ cũng đã mất không ít của nả, công sức và cả sự sống nhiều người của chính họ. Một điều đáng kể nữa là họ đã bị nhục nhã khi cái sức vóc hổ, báo của họ lại bị thua bởi con giun, cái kiến và rồi còn bao con giun, cái kiến khác đã ở trong tay họ, đang ở trong tầm ngắm của họ cũng sẽ tuột khỏi, cũng sẽ coi khinh họ, như thế thì làm sao mà họ không cố sống, cố chết trong cuộc chiến này… Cũng chỉ là tự mình nghĩ ra mọi chuyện như thế, rồi lại tự đưa mình đến với cao trào của sự yêu thương, sự bất bình, sự căm thù và rồi chỉ còn lại một điều duy nhất đó là sự quyết định rằng ta không thể tiếc xương máu trong cái sự nghiệp lớn lao này của dân tộc. Ta sẽ chiến đấu thật dũng cảm và không ngại ngần hy sinh một cách anh dũng như những người đồng đội đã đi trước vì mọi người, vì gia đình và Tổ quốc. 

          Những chiếc xe Vọt Tiến của Trung Quốc viện trợ dùng để chuyển quân cứ nối tiếp nhau lao đi trên những quãng đường rừng, đường đèo tối om om dài như vô tận. Những quầng sáng đèn gầm chỉ nhỏ bằng cái sàng làm sao có thể soi nổi con đường phía trước, thế mà những người chiến sĩ lái xe vẫn chẳng cần giảm tốc độ. Có lẽ họ đi theo sự quen thuộc trong đầu chứ không phải dựa vào bóng sáng nhỏ nhoi kia. Những cú xóc tung lên, hạ xuống cứ liên tiếp xảy ra làm cho người ngồi trên xe cũng nảy lên, nảy xuống như xóc ốc. Những cú ngoặt tựa hồ như muốn hắt người từ góc này sang góc khác nếu như họ không bám chặt vào thành xe và không ngồi sát vào nhau. Ánh sao mờ tỏ trên những khoảng rừng thưa như hé mở cho ta nhìn thấy sự nguy hiểm hầu như lúc nào cũng có thể xảy ra, bởi khi đầu xe đã nhô ra sát mép bờ vực mà vẫn chưa thấy đoạn đầu cua ở đâu. Quả thật nếu không quen thuộc chắc là cả xe và người đã xuống thám hiểm đáy vực từ lâu rồi. Những gì có thể nói về người chiến sỹ lái xe hết đêm này sang đêm khác vẫn đi, về trong hiểm nguy, trong bom đạn. Đâu có phải cứ ôm súng lao vào cửa mở mới là những anh hùng!

          Sau rất nhiều lần bò lên những cái dốc dài vô tận đoàn xe cũng đã lên đến một đỉnh cao. Từ đây đã nghe thấy tiếng máy bay L19 của địch lượn lờ, cùng những chùm đèn dù vàng ệch ma quái trên đầu. Những đám cháy lân tinh xanh lét ngún khói trên những thân cây đen xì chồng đống lên nhau. Cả một bầu không khí chứa đầy mùi thuốc bom khét lẹt.

          Chỉ đi thêm một đoạn nữa thì cả đoàn xe phải dừng lại vì phía trước con đường đầy bùn nước không sao tiến lên được. Một khẩu lệnh nhỏ truyền từ người này sang người khác: Tất cả mang quân trang, súng đạn xuống xe! Tất cả mang quân trang, súng đạn xuống xe!... Thế có nghĩa là đã đến chiến trường rồi đấy! Có nghĩa nơi ta đang đứng đây cũng chính là gianh giới của hoà bình và chiến tranh! Gianh giới của hoà bình và chiến tranh chỉ là một quãng đường ô tô không quá ba tiếng đồng hồ vậy thôi sao? Thực ra gianh giới của vùng này sang vùng khác cũng chỉ là ước lệ vậy thôi. Với từng gia đình thì bên này hàng rào là sân vườn nhà mình, còn bên kia hàng rào là sân vườn nhà khác. Thế nhưng gianh giới của hai làng, hai tỉnh, hai nước nhiều khi chả có cái rào nào để mà ngăn chia. Gianh giới của hoà bình và chiến tranh cũng vậy thôi. Mọi cái luôn ở cạnh nhau, mọi cái luôn ở trong nhau, luôn hoà trộn vào nhau. Mái đồi bên này khô khan chết cây, cháy lá, mái đồi bên kia mưa chảy nước trôi. Mái đồi bên này là hoà bình yên vui, còn mái đồi bên kia là chiến tranh, bom đạn.

          Có lẽ mùa mưa phía sau dãy Trường Sơn đã bắt đầu khá lâu rồi nên ngay trên đỉnh đồi mà bùn vữa ngập ngụa đến là khủng khiếp. Vừa mới đi được một đoạn ngắn mà anh nào anh ấy cũng đã thấm mệt. Mà không mệt sao được khi mỗi bước chân đều ngập trong bùn sâu gần đến háng. Đang mải miết bước lên cho kịp hàng quân phía trước thì nghe tiếng cậu Luận gọi réo lên ở phía sau:

          - Anh Hằng ơi lại kéo em một tý, chân em mút chặt xuống bùn rồi!

          - Đợi một tý, anh cũng đang dính chặt dưới bùn rồi đây.

          Không biết làm sao vừa mới bước đi ngon thế mà mới chỉ dừng lại nghe cậu Luận gọi thì chân lại dính chặt xuống bùn thế này không biết.

          - Cậu phải tự tìm cách thoát lấy thôi, ông anh của chú cũng như có nhựa gắn xuống bùn rồi đây này.

          - Thế chả lẽ cứ đứng mãi ở đây hả anh!

          Hằng đang cố sức xoay bàn chân cho đám bùn vữa rộng ra nên cũng chẳng kịp trả lời Luận nữa. Hết ngả người ra phía trước, rồi lại ngả người về phía sau mà đám bùn cũng chỉ rộng ra một chút. Dù sao thì cũng cứ thử rút chân lên xem sao. Sau một hồi cố hết sức bình sinh thì chân cũng đã rút lên được một tý nhưng mà chỉ là chân thôi còn giầy thì nằm lại không chịu theo chân lên nữa.

- Này Luận ơi! Cậu làm thế nào cho giầy nó tụt ra là rút chân lên được đấy.

- Thế thì làm gì có giầy mà đi hả anh?

- Đành vậy thôi, đơn vị đi xa quá rồi.

- Nhưng mà em buộc chặt quá không sao rút ra khỏi giầy được.

- Thì cố xoay cho bùn vào trong khe chân là nó tuột ra thôi.

Cũng phải mất một lúc thì hai anh em mới thoát ra khỏi vũng bùn, đành chịu để đôi giày ở lại. Cái lỗi này là do mình gây ra mà thôi, trách ai bây giờ. Thực ra thì khi sức nặng cơ thể dồn vào chân làm cho nó lún sâu xuống bùn thì đồng thời cũng tạo ra một cái lỗ, nếu ngay sau đó rút ngay lên thì không sao, nhưng nếu để một lúc thì bùn xung quanh dồn đầy vào, một mặt chặn lên trên, đồng thời vùng đế giày lại bị rút hết khí thành chân không, thế là lại bị ép mạnh hơn. Cách tốt nhất là cựa chân sao cho có khe hở cho khí tràn vào là rút lên được. Có điều là ngoáy mãi chân thì bùn vào cả khe chân và giày làm trơn tuột chân lên còn giày thì nằm lại. Một cách lấy cắp giày của ông thần bùn thật là hữu dụng, không chê vào đâu được.

Sau mấy giờ đi bộ trong bùn vữa dưới ánh sáng lờ mờ của các vì sao thì trời cũng dần dần sáng. Hết len lỏi qua các rặng cây lại leo thang qua các vách đá, hết bám dây song co mình lên dốc đứng, lại sờ xẩm, dò dẫm lội dọc suối, rồi thì buộc phao bơi vượt qua sông, mãi đến khi đi cắt ngang đường Chín thì trời đã sáng rõ. Nếu không có tiếng máy bay ì ầm trên đầu thì với quang cảnh ấy cũng chỉ như đi dã ngoại trong tập luyện ở ngoài Bắc mà thôi. Điều đáng để nói là từ đây mới thật sự bắt đầu vào đường dây ra trận. Từ đây đã bắt đầu là chiến trường, mà chiến trường thì không thể nói chơi được. Chiến trường là chiến đấu, là gian khổ, là xương máu hy sinh, đâu có giản đơn như diễn tập. 

Khi cả đơn vị về đến bãi khách tiếp theo thì trời đã tối, mọi người vội vàng buộc tăng võng lên những thân cây đã nhẵn thín vì các đoàn quân đi trước đã cọ quệt, đã chà xát sau mỗi đợt quân vào. Sau bữa cơm dã chiến cả trung đội tập trung để nghe quán triệt nhiệm vụ cho những ngày sau. Thật may là vị trí bãi khách của đơn vị tập kết lại không gặp mưa nên các chàng trai đều đã lên võng nghỉ ngơi. Bộ quần áo ngâm bùn đêm trước đã được gột sạch trong lúc lội suối giờ cũng đã khô và cứng còng. Hằng nằm yên trên võng thả lỏng người để lắng nghe những âm thanh xung quanh, mặc kệ các lớp vải cứng cứ cọ vào da thịt. Đôi chân đã rời rã sau một ngày bươn trải với một cường độ cao nhất từ trước đến giờ cũng không thèm động đậy. Tuy vậy nhưng Hằng cũng không thể ngủ ngay được bởi phiên gác đầu tiên nơi bãi khách lại là phiên gác của Hằng và Lượng sẽ phải bắt đầu sau mươi phút nữa.

Những ồn ào của hàng trăm người đã át đi mọi âm thanh khác của rừng đã có sẵn từ cái thời nguyên thuỷ xa xôi nào đó, giờ đây chợt vang lên như một bản hoà tấu với trăm ngàn cung bậc khác nhau. Rất nhiều âm thanh không biết của loài nào lại cứ ri ri rỉ rỉ. Cũng có âm thanh cứ buông ra đều đặn tiếng một tựa như tiếng gõ nhịp trong các bài hát dân ca. Cũng có nhiều âm thanh rất quen thuộc giống như những âm thanh vẫn phát ra sau vườn nhà những khi còn nhỏ đã từng nghe thấy trong khi chơi trò trốn tìm vào những đêm trăng sáng. Đôi chỗ vẫn còn vài cậu chưa chịu ngủ, thoảng hoặc lại lào thào với nhau không biết chuyện gì đó bên cánh võng ở cuối của bãi khách…

Đã hết phiên gác lâu rồi mà Hằng vẫn chưa sao ngủ được. Những hình ảnh thân thuộc về quê hương§, nơi người cha của cậu đã sinh ra và lớn lên ở đó. Cái làng Tây Lạc cùng những cái ao đầy bèo tấm và khoai nước liên tiếp nối nhau vừa lướt qua, lại đến những hình ảnh gần gũi về con đường đất với hàng xà cừ cao lớn, cùng với khu đầm sen rõ rộng, luôn toả hương thơm trong những mùa hè đầy nắng và gió ở cái làng Đồng Dầu, một vùng đất thuần nông của ngoại thành Hà Nội, nơi Hằng đã sống cùng với cha mẹ và những người thân suốt cả một thời tuổi nhỏ.

Mảng trời sao lộ ra từ tán rừng thưa cũng chả khác gì bầu trời sao của làng Tây Lạc trên quê hương Nam Định, lại càng không khác với bầu trời sao của làng Đồng Dầu trên đất ngoại thành Hà Nội. Từ trên những bầu trời sao ấy người lính thấy như lại được trở về gần gũi với những người thân của mình vậy. Bầu trời sao ấy đã theo những người lính ra mặt trận hôm nay và còn theo người lính trong những ngày sau nữa để mà an ủi, để mà vỗ về trong khi họ xa vắng những người thân. Có thể cùng trong lúc ấy người lính cùng những người thân của họ cũng đang nhìn lên những ngôi sao để nhớ nhau, để nghĩ về nhau và nói cùng nhau những lời tha thiết nhất. Chính vì thế nên không chỉ riêng ai, bầu trời sao đã trở nên thân thiết với tất cả những người lính trong những năm tháng chinh chiến ở xa.

Giấc ngủ của Hằng đến rất từ từ sau rất nhiều những hình ảnh thân yêu của mẹ hiện ra. Bà lặng lẽ đi tìm những đoạn dây để nối dài ra, buộc vào bốn góc của cái màn xô căng trên chiếc chiếu giải dưới sân nơi cậu con trai của bà đã ngủ quên không chịu mắc màn…   

                                  5

 

Sau gần một tháng, ngày đi đêm nghỉ đơn vị cũng đã vào đến nơi tập kết. Kể từ khi cả đoàn quân vượt sông Xê Bang Hiêng thì tất cả những người lính chỉ còn biết rằng mình đang đi vào hướng Nam mà thôi. Những cánh rừng nghỉ tạm sau một đêm không tên không tuổi cũng tuột ra khỏi bộ não mà chẳng để lại chút gì gọi là vương vấn. Nhiều chỗ đoàn quân đi qua rồi mới nghe một đôi người kháo rằng đấy là vùng ngã ba biên giới hoặc một địa danh nào đó do những người đã vào ra một đôi lần nói lại thế thôi. Thực ra mấy người này cũng đoán già, đoán non khi thấy những khoảng rừng có vẻ giông giống vậy thôi chứ cũng không dám khảng định một cách thật đúng. Chỉ có cái tên bằng số là không có thể sai được bởi hàng ngày lãnh đạo cấp trên phát lệnh hành quân đều nói đến trong lúc xuất phát.

Bãi khách T73 đêm mới rồi bị máy báy địch đánh phá nên cả đoàn lại phải đi thêm một quãng khá xa để vào bãi khách dự phòng. Đây cũng là trạm cuối của đường dây Xã hội chủ nghĩa mà đơn vị đi qua, ngày mai đoàn quân sẽ đến binh trạm 1 của đường dây Giải phóng. Theo như dự đoán của mấy cậu thạo tin thì đơn vị còn phải hành quân qua 15 binh trạm nữa thì mới đến hậu cứ của đơn vị. Thế thì đôi chân chưa thể được nghỉ ngơi mà còn phải đi dài dài hơn nữa. Dù sao thì ở đâu cũng đều là đất mình cả vậy thôi, chẳng có gì cần phải phân vân điều này, điều nọ cho mệt. Nói như mấy cậu người Mường Cẩm Thuỷ thì (khắc đi, khắc đến). Đã lâu không thấy ai hỏi đến ngày, tháng nên cũng chẳng biết khi đơn vị vào đến cứ là ngày bao nhiêu. Có điều chắc chắn là vào khoảng cuối tháng mười một sang đầu tháng mười hai âm lịch, vì suốt mấy buổi tối chẳng thấy bóng dáng ông trăng đâu cả.

Cũng không ai ngờ được trong suốt thời gian ở Đường 9 Nam Lào Hằng không bị sốt rét, ngay cả khi ra ngoài Bắc củng cố mấy tháng liền Hằng cũng không biết sốt rét là gì, thế mà vừa đặt chân vào hậu cứ Tây Nguyên lần này thì Hằng lăn ra sốt. Việc đào hầm hố Hằng chả tham gia được tý nào, từ việc đào đắp đất đến chặt gỗ làm nóc hầm kèo đều dồn cả vào hai ông y sỹ là Cứ và Bình. Chẳng những thế hai ồng này còn phải để mắt đến Hằng, sợ Hằng biến chứng sang sốt rét ác tính. Mấy ngày sau đó Hằng cũng không cất mình lên được, việc ăn uống đều nhờ vào anh Toán là anh nuôi trưởng của đại đội. Gần nửa tháng chiến dịch Hằng không được tham gia một buổi nào cả bởi cơn sốt cứ kéo dài liên miên không dứt. Sau mỗi ngày đi chiến dịch về Luận, Tâm và Kiệm lại sang hầm nói chuyện với Hằng về đánh đấm của các tiểu đoàn mà đại đội 2 của Hằng phối thuộc. Công việc của đại đội vẫn chỉ là tiếp đạn, chuyển thương là chính, thoảng hoặc có gặp địch thì lại phải lựa để tránh không phải đọ súng, có thế mới bảo vệ được thương binh. Sau hàng loạt những chuyện vui về chiến thắng, bao giờ về cuối các cậu ấy cũng tỏ vẻ bực dọc vì khi ao ước làm bộ đội là để có dịp đánh giặc thế mà đến khi giặc ở ngay trước mắt lại phải tránh đi thì cớ gì mà họ chả bực mình.

Hôm nay đã là ngày thứ ba Hằng cắt cơn sốt. Đề nghị mãi đại đội phó Nhu mới cho đi chiến dịch. Anh Nhu cho Hằng đi cũng chỉ là mang theo một khẩu súng đỡ cho vài người khi phải khênh cáng quá nhiều và dự phòng khi có người bị thương thêm thôi chứ không giao nhiệm vụ gì quan trọng cả.

Cao điểm 1049 cũng như  muôn vàn những cao điểm khác với tầng tầng, lớp lớp những cây cổ thụ, xen lẫn những vạt rừng le cuốn thành những vòm mái che phủ kín cả mặt đất. Rồi thì các loại nứa tép, vầu, tre gai cao vút trên khắp cả một dải rừng chuyển tiếp làm cho ta chẳng thể nhận ra đâu là đỉnh của cao điểm. Thực ra cao điểm 1049 chính là đỉnh Ngọc Rinh Rua cao nhất của cao nguyên miền Trung mà ngày còn học phổ thông có lần thầy Vũ Tú Nguyên đã gọi lên chỉ nó trên bản đồ địa lý. Cao nguyên miền Trung còn có một cao điểm nữa là cao điểm 1015, sách địa lý gọi nó là đỉnh Ngọc Tô Ba. Đây cũng là một địa danh mà quân ta đã tiêu diệt mấy tiểu đoàn quân trong năm1968.

Kể từ ngày vào chiến trường đến nay mọi người hầu như lúc nào cũng nhớ nhà, nhớ người thân. Những người đồng đội nói chuyện với nhau cho dù là đề tài gì thì sau một hồi thế nào cũng lại quay lại đề tài gia đình, bè bạn. Những câu chuyện cho dù ở ngoài Bắc có kín đến đâu thì đến bây giờ cũng bị lôi ra để mà góp vào không khí chung của mọi người. Có những người được tiếng là kín nhất như chính trị viên Sinh và chính trị viên phó Huynh cũng đã tham gia vào tiết mục kể chuyện này. Chuyện về người thân mà người chiến sĩ đề cập đến nhiều nhất là chuyện về người yêu của họ. Cũng chẳng ai biết những người con gái ấy có thật xinh đẹp hay không nhưng qua lời kể của các chàng trai đang yêu thì họ đều như tiên cả. Tuy vậy cũng có những chàng trai đã bị lộ “bem” bởi người yêu cũng đã từng đến thăm và lẽ dĩ nhiên là nhiều người đã gặp. Lại còn cái đám cùng quê thì họ chả còn lạ gì những cô gái của nhau, thế nhưng họ vẫn muốn nói cho nhau nghe về những cô bạn ấy với những tình tiết hết sức đặc biệt mà theo họ thì những tình tiết của các cô ấy chỉ có thể dành riêng cho người con trai của các cô ấy mà thôi. Những câu chuyện như thế thì thật là chỉ còn biết nghe kể và cười vui phụ hoạ.

Cũng không biết làm thế nào mà câu chuyện Hằng tránh gặp bạn gái trước khi đi chiến đấu dạo nào cũng đã bị mấy chàng thạo tin kháo ra từ ngay những buổi đầu tiên có tiết mục này. Trong rất nhiều những nhận xét mà Hằng nghe được thì hình như có rất nhiều ý luôn đối nghịch lẫn nhau. Người thì cho đây là một mối tình cao thượng hiếm có không mấy ai làm được. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong việc này thì chàng trai là người đã quá tự đề cao mình mà phủ nhận những điều tốt đẹp của người khác. Những ý kiến ấy nêu ra kèm theo hàng loạt những đánh giá thật cao đẹp về người phụ nữ. Đâu là sự dũng cảm không thua nam giới, đâu là sự hy sinh chịu đựng hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác. Nhiều đêm Hằng nghĩ về điều này và tự vấn lòng mình về sự vô tư trong suy nghĩ. Đúng là Hằng chỉ muốn làm sao cho người thân yêu của mình không phải côi cút như bao người phụ nữ và bao đứa trẻ khi gặp cảnh éo le để rồi khốn khổ trong cảnh vợ nọ con kia. Hằng đâu có tự đề cao mình lên như nhiều đồng đội đã đánh giá như vậy. Có điều dù có nói thế nào đi nữa thì việc làm của Hằng cũng cứ lồ lộ ra dưới sự xét đoán theo hướng như vậy. Sự thật thì Hằng cũng đã thấy, đã biết có đến hàng vạn người phụ nữ của thời chín năm kháng chiến, hàng vạn người phụ nữ của cả hai miền Nam Bắc đã mất chồng, mất con sống trong cảnh goá bụa mà đã có bao giờ họ sợ điều đó đâu. Họ vẫn yêu, vẫn chờ đợi, vẫn hy vọng cho dù hy vọng thật nhỏ nhoi. Họ đâu có cần những ai phải lo cho họ! Họ đâu có cần ai thương hại họ! Cho dù những ý kiến này chưa ai nói thẳng với Hằng, nhưng Hằng nghĩ nếu có lần thứ hai như thế thì nhất định Hằng sẽ phải cân nhắc sâu sắc hơn nữa. Nhưng thôi, mọi sự đã xảy ra rồi làm sao có thể thay đổi được nữa.

Đơn vị chuyển địa điểm đến một vùng khác sau mấy ngày đường hành quân bộ, để rồi lại tiếp tục với việc phục vụ chiến đấu. Lần này đơn vị phải chuyên chở đạn, gạo qua sông PôCô cho các đơn vị đánh vào phía Nam CôngTum nên gặp khá nhiều khó khăn vất vả. Sau những trận đánh giằng dai giữa ta và địch thì sự ác liệt lại tăng lên khi cả hai bên đều muốn đi đến những thắng lợi nhất định, bởi khi mùa mưa đến việc di chuyển và tiếp tế lương thực, súng đạn sẽ bị cản trở. Lẽ dĩ nhiên là khi chiến dịch càng ác liệt thì đơn vị của Hằng cũng chung chịu với các đơn vị chiến đấu. Những trận B52 rải thảm, những trận pháo bầy liên hồi kỳ trận của địch luôn chặn vào đầu và quét vào đuôi đội hình của các trung đội, tuy vậy đơn vị cũng chưa có thương vong nào.

Đêm nay đơn vị lại tiếp tục lên đường cùng với trung đoàn 48 để tiến đánh vào Công Tum. Đạn cối 120 nặng đến 17 cân một quả, mỗi người phải mang 3 quả, đạn cối 82 mỗi người phải mang đến 6 quả. Rồi thì đạn K56 dùng cho súng AK, đạn Nổ, đạn xuyên lõm cho DKZ 75, DKZ 82. Cao cấp hơn còn có đạn pháo D74, DKB, hoả tiễn H12, Hoả tiễn B72, mỗi loại đều khá nặng và cồng kềnh khó mang vác. Vũ khí bộ binh thì có lựu đạn tấn công, thủ pháo, thuốc nổ TNT, CH4, đạn B40, B41 vv…Cũng không thiếu  mìn phóng MF 1A, mìn Định hướng DH 35 để phá hàng rào và diệt bộ binh địch.

Mỗi lần vận chuyển cho dù cả đơn vị cố sức cũng chả được bao nhiêu, thế mà chỉ cạch, oành một cái đã đi đứt một quả đạn cối. Thật là nhanh và tốn kém quá đi mất. Thôi thì cũng đành vậy chứ còn biết làm sao cho được khi kẻ địch còn xài gấp cả chục lần chúng ta xài. Chúng ta đâu có muốn làm như vậy trên chính mảnh đất của chúng ta. Cuộc chiến như chúng ta biết thật là buồn, thật là tàn bạo và thật là không đáng có. Chúng ta đã cố gắng hoà hoãn trong nhiều lần ký kết các hiệp ước và gần nhất là ký kết hiệp định Giơ ne vơ của hơn mười năm trước. Tất cả đã không thể dừng lại được và vận mệnh dân tộc lại phải trải qua những ngày tháng đạn bom cực kỳ man rợ.

Những người chiến sĩ phải hoàn thành nhiệm vụ của mình, đó là trách nhiệm lớn nhất. Còn việc dũng cảm, xông tới và chiến thắng đối phương đó là công việc của người lính, vì nếu không thế thì cần gì phải có họ. Tuy nhiên cũng nhờ thế mà họ bảo vệ được đồng bào, bảo vệ được tổ quốc và tự bảo vệ được chính mình. Họ có quyền tự hào vì sự hy sinh của họ cho dân tộc, cho đất nước vì điều đó là nhân văn lớn nhất của thời điểm lúc bấy giờ. Còn trước đó và cả về sau này, mỗi thời điểm lại có một mục đích ý nghĩa riêng của nó. Đừng bao giờ bắc đồng cân để mà đong đo thời này, thời khác bởi như thế thì thật là khập khiễng, thật là không phải.

Chiến dịch ngày càng khốc liệt hơn trong những ngày đầu năm 1972. Đại đội 2 cũng đã di chuyển chỗ đóng quân mấy lần liên tiếp. Hình như mặt trận ngày càng rộng ra nên đơn vị cũng bị chia sẻ thành nhiều bộ phận để phối thuộc. Riêng đại đội bộ thì vẫn tập trung ở một chỗ, khi có trận đánh lớn thì mới cử cán bộ trực tiếp chỉ huy. Cơ bản vẫn là đại đội trưởng Điền và chính trị viên trưởng Sinh, còn chính trị viên phó Huynh và đại đội phó Nhu thì đã đi chỉ đạo trực tiếp ở các trung đội 1 và 2. Chỉ có anh Giao ở trung đội 3 luôn chỉ có một mình trong mọi việc.

Chiến dịch dường như đã có những chuyển hướng khác với nhiệm vụ ban đầu. Nhiều đơn vị được phân tán để căng địch ra làm cho chúng không thể tập trung được. Trong khi đó các đơn vị luôn xuất hiện với đủ mọi cái tên vốn đã quen thuộc nhưng lại ở quá nhiều địa điểm khác nhau, thành ra đi đến chỗ nào kẻ địch cũng thấy là quân của sư 320, quân của sư 2, sư 10 và nhiều sư đoàn khác nữa. Kẻ địch chắc phải hoang mang thật sự vì mới sớm nay chúng chạm mặt 320 ở Tây Nguyên thì ngay chiều hôm đó chúng lại chạm mặt với 320 ở Quảng Trị. Chúng biết 320 có A, có B nhưng chúng lại không biết họ có C, có D hay không. Điều này là một bí mật chiến lược làm sao mà chúng biết được.

 

                       RA BẮC

 

                               1

 

Sáng mai Hằng được phân công đi cùng trung đội 2 tách khỏi đại đội đến phối thuộc với trung đoàn 52 về vùng dưới. Cũng may là ở trung đội 2 còn có Yên là người cùng sở Điện Thanh Hoá với Hằng nên cũng đỡ buồn. Hai người vừa đi vừa nói chuyện về gia đình của nhau trên suốt dọc đường. Yên không gầy nhưng khuôn mặt của Yên cứ phô ra cái sự gầy bởi cái cằm của Yên cứ đua ra nhòn nhọn, hai má thì hóp vào, hố mắt thì sâu thành ra ai cũng bảo Yên còm cõi. Không biết Yên có thêm gì của riêng mà ba lô của cậu ấy cứ to kềnh, to càng ra làm cho bước đi của Yên cứ  nghiêng hết cả về phía trước.Vậy nhưng Yên vẫn chuyện rất rôm rả, thoảng hoặc lại pha trò cười hin hít nghe thật là ngộ.

Suốt từ hai hôm trước Hằng lại lên cơn sốt, y sĩ Bình đã tiêm cho Hằng mấy ống thuốc trợ sức và cả mấy ống Qui nin trị sốt rét vậy mà hình như cơn sốt vẫn không chịu giảm cơn. Cũng không biết thế nào mà mỗi khi sốt rét thân nhiệt lên rất là cao, có người lên đến 41 độ vậy mà xem ra cũng vẫn chẳng hề hấn gì. Còn chuyện 40 độ trở xuống thì mọi người cứ coi như là không sốt, vẫn gùi gạo, gánh đạn và khênh thương binh đi thoăn thoắt.

Chặng đường đi có lẽ cũng đã được gần hai giờ đồng hồ mà Hằng vẫn không thấy đỡ. Trước mặt lại là một cái dốc dựng đứng đầy bùn đất và lá khô vụn mủn, chỉ mới vòng qua một đoạn cua ngắn đường bằng mà Hằng theo mãi vẫn chưa thấy đội hình, có lẽ mình phải chạy mới theo kịp nhóm đằng trước. Chỉ mới kịp nghĩ lướt qua trong đầu Hằng đã thực hiện ngay thế mà phải gần hai mươi phút sau Hằng mới bắt kịp đội hình. Có lẽ thấy Hằng tụt lại lâu quá nên lãnh đạo đại đội đã cử y sĩ Bình lùi lại để chờ Hằng chứ đơn vị thì đã đi xa rồi.

Vừa gặp Hằng ì ạch chạy đến Bình đã sờ tay lên trán của Hằng để xem có nóng quá không. Mới sờ vào trán Hằng đã thấy cậu ta rụt tay lại để lấy thuốc ra tiêm cho Hằng. Sau phát tiêm vào cánh tay cậu ta lại bắt Hằng ngồi nguyên đó kéo quần xuống chọc ngay Seranh thuốc vào mông. Có lẽ cũng đành tiêm ngồi như thế bởi đất dưới chân chả khác gì bùn nhão thì nằm ra sao được. Không tiêm thì Hằng còn chịu được, tiêm rồi thì mắt hoa đầu váng mỗi lúc một tăng làm Hằng không còn gượng dậy được, thế rồi Hằng thấy tối sầm lại, không còn biết gì nữa. Cũng không biết sau bao nhiêu thời gian Hằng mới tỉnh trở lại, chỉ đến khi mở mắt ra thì Hằng đã thấy cả một đám đông vây kín lấy Hằng. Anh Điền đại đội trưởng cũng đang dòm nom ngay sát bên cạnh. Cũng chỉ kịp thoáng nhìn thấy trong một vài phút rồi Hằng lại lịm đi.

Cũng không biết Hằng đã sốt như thế nào mà mấy ngày sau khi tỉnh lại chỉ thấy mỗi một mình nằm trên một cái sạp nứa trải trong một căn nhà hầm ẩm thấp. Cuộc điều trị có lẽ phải mất hơn một tháng mới đỡ, tuy là đã đỡ nhưng Hằng còn rất yếu nên cũng chỉ chống gậy đi bộ xung quanh trước lán mà thôi. Mỗi ngày Hằng lò dò theo mọi người đi qua lán nhà bếp để ăn cơm. Tiêu chuẩn của người ốm nặng khá hơn các bệnh nhân khác ở chỗ có thêm mấy miếng thịt hộp của miền Bắc đưa vào còn lại thì cũng chỉ có măng le, cá khô và ruốc bông. Hàng ngày Hằng ăn cũng không được nhiều nên khi ốm Hằng ăn càng ít. Cơm canh còn lại đã có mấy cậu lính bị thương giải quyết hết nên cậu cũng chả cần lo rửa, bát rửa đũa mà chỉ chào các bạn là lại lò dò về lán.

Vừa qua bên lán 6 chợt nghe thấy tiếng hò hét ồn ào náo nhiệt không biết là có chuyện gì. Chờ mãi mới thấy mấy cậu bên khoa ngoại về qua cho biết bên ấy có một cậu sốt rét ác tính nhiều lần biến chứng tâm thần. Nghe vậy Hằng càng lo không biết rồi đây mình có thể lại như cậu ấy hay không. Cứ nghĩ đến mấy cô gái điên Hằng vẫn gặp ở quê ngày nào Hằng lại thấy gai gai sợ. Tóc tai các cô ấy rũ rượi, mặt vêu vao đầy ghét bám. Bàn tay khẳng kheo gầy giơ ra mò mẫm ở rãnh thoát nước, gặp gì cho vào mồm ăn nấy. Những miếng vải xơ xưới lua tua không còn biết gọi là màu gì choàng từ cái cần cổ cứ đuỗn đuồn ra lao về phía trước. Cặp mông lép kẹp sần sùi những vẩy thoảng hoặc lại phơi ra khi cô ấy bước đi hoặc khi gió đánh tạt về một phía. Cái thảm hại hơn có lẽ lại là việc mấy đứa trẻ con lúc nào cũng theo đằng sau trêu chọc. Đứa lành hơn thì cũng lấy cái que đánh bò khều vào bộ giẻ trên người cô ấy. Đứa dữ dằn hơn chúng chả nể nang gì mà không quất một vài roi vào cái thân hình quắt queo đen đúa người không ra người, ma không ra ma ấy. Chả lẽ rồi có một ngày ta cũng điên như thế bởi những cơn sốt rét ác tính mà người bạn bên lán 6 vẫn đang gào thét ngoài kia.

Đang suy nghĩ luẩn quẩn một mình chợt tiếng chân chạy huỳnh huỵch từ mé sau nhà vọng đến làm cắt đứt luồng suy nghĩ của Hằng. Vừa chống cái gậy tre đi về phía sau nhà đã thấy cậu bạn tâm thần đang vắt vẻo trên một cây bứa khá cao ngay đầu hồi phòng làm thuốc. Vừa khoa chân, khoa tay cậu ta vừa hô xung phong ầm ĩ tưởng như sẽ nhảy ngay xuống đất làm cho các y tá, bác sĩ đứng dưới luống cuống mà không biết làm gì. Có một anh y sĩ đang đứng bên cửa nhà thuốc tay lăm lăm một cái võng mồm thì gọi mấy anh từ trong nhà thuốc ra giúp sức. Cũng đã mấy lần anh bạn tâm thần doạ sẽ nhảy từ trên cây xuống làm cho mọi người cứ cuống cả lên. Những cành bứa xoè tán hết tầng này đến tầng khác đâm ngang ra xung quanh có làm cản trở anh ta rơi xuống, nhưng thân gỗ của nó kiêng gì đầu, mình, chân, tay mà không làm cho cái sự va chạm để rồi dẫn đến gẫy, vỡ, toác, để rồi có thêm những chấn thương về thể xác hợp với sang chấn về tinh thần đưa anh ta đến chỗ chết hoặc tàn phế hơn nữa. Những tiếng thét xung phong, những âm thanh giả làm tiếng nổ của anh như cứa vào lòng mọi người. Một cái gì đó vừa bi thương, vừa oanh liệt cứ như khía vào quả tim của những người đang đứng cùng anh ngay phía bên dưới gốc cây bứa với những cành ngang vô cảm.

Sau mấy tuần điều trị với đủ các loại thuốc, đâu là DDS, NIVAQUIN, B1, B12, KINACRIN rồi thì tiêm QUY NIN đến ù cả tai mà sức khoẻ Hằng cũng chẳng thấy khá hơn. Đã hơn một tuần nay uống viên phòng số 2 là loại khá mạnh trong thuốc điều trị mà cũng chẳng khả quan hơn tý nào. Mãi đến hôm kia anh Điều y sĩ mới  quyết định điều trị cho Hằng phác đồ mới là viên phòng số 3 màu đỏ. Xem ra loại thuốc này hợp với Hằng hơn. Những ngày tập đi với chiếc gậy tre rồi cũng đã qua, Hằng đã có thể đi lại bình thường. Cái gậy tre mà anh Điều đưa cho bữa trước đã bị bỏ xó không còn cần đến nữa. Nói là đã đi lại bình thường nhưng tốc độ di chuyển của cậu hình như vẫn còn rất chậm. Mỗi lần đi lại cũng chỉ vài trăm mét cậu đã thấy mỏi chân giống như ngày nào hành quân từ Bắc vào Nam.

Vừa cắt cơn sốt là Hằng đã lang thang đây đó mà chẳng chịu ngồi yên một chỗ. Khi thì Hằng sang chỗ đồng chí Điều bên khu quân y sĩ, khi thì Hằng sang khu thương binh hỏi xem có ai là người Hà Nội hay không. Sớm nay đồng chí Điều xuống điều trị có nói cho Hằng biết về kế hoạch giám định sức khoẻ cho thương bệnh binh trong kỳ tới. Bên hành chính của viện đã lập danh sách báo về các bộ phận rất nhiều các đồng chi thương binh bị mất hoặc hỏng các chức năng nhìn, nghe, đi lại, cầm nắm và cả các trường hợp tâm thần. Phía các bệnh binh sốt rét quá yếu cũng phải giám định một vài trường hợp. Hằng nghe nói vậy thì biết vậy, cậu cũng chẳng hiểu cái việc giám định như vậy để làm gì. Có chăng là việc cậu mong sớm giám định để kịp về với đơn vị không thì khi về đơn vị đã di chuyển là cậu lại phải đi đơn vị khác thì thật là phiền. Nghĩ thế nào làm thế ấy, cậu liền hỏi thăm dò:

- Không biết em đã được giám định chưa anh Điều nhỉ?

- Tớ thấy có một Hằng trong danh sách nhưng không biết là Hằng nào vì ngay trong diện điều trị của tớ cũng còn một cậu Hằng bên lán 4, lại còn có đến 2 Hằng khác ở nhóm điều trị nội khoa khác.

- Em chỉ lo khi về đơn vị đi vào sâu quá không còn tìm được, lại phải về một đơn vị nào đó của miền thì chán ngắt. Dẫu sao thì làm quân chủ lực trong sư cơ động vẫn hay hơn anh ạ.

- À không! Tớ nói giám định đây là giám để đưa về hậu phương vì mất sức chiến đấu chứ không phải giám để cho xuất viện.

- Lại hậu phương, em đã chán với cái cảnh hậu phương, hậu cứ rồi. Đành rằng đâu cũng là nhiệm vụ thế mà một đằng bom pháo hy sinh ở phía sau với lại một đằng trực tiếp ngoài chiến hào đánh cho thật đã rồi hy sinh thì chỗ nào hơn?

Nghe Hằng nói anh Điều chỉ mỉm cười lặng lẽ, khá lâu sau anh mới nhẹ nhàng nói:

- Thế cậu bảo tất cả chúng tớ chả lẽ không nghĩ vậy hay sao...

- Nhưng các anh lại có chuyên môn khác chúng em nên phải theo đúng chuyên môn chứ.

- Chả nhẽ chúng tớ không trải qua bắn súng, ném lựu đạn và thả cối chắc? Chúng tớ cũng muốn trực tiếp lập chiến công chứ đâu có muốn kể ra rằng chưa bao giờ cầm súng xông lên đánh giặc trong khi mình là một người chiến sĩ ra đi chiến đấu để giải phóng đất nước.

Có lẽ những lời hùng hồn mà anh nói ra không phải chỉ để nói với Hằng mà hình như anh nói với cả anh nữa. không khí im lặng đến không ngờ sau những tuyên ngôn của anh Điều chợt bị phá vỡ:

- Mà cậu cũng là một dạng chuyên môn đấy chứ?

- Không em chỉ là bị bắt cóc lên làm trong thời gian nào đó mà thôi.

- Này, tý nữa thì quên! Chỗ hành chính của viện họ nhờ hỏi xem cậu có cách nào hàn được cái nồi cất bằng nhôm hay không?

- Hàn nhôm phải có máy và môi chất, ở trong này chả có cách nào hàn được đâu anh ạ.

- Thế thì gay go quá, không biết lấy gì để vô trùng dụng cụ mổ xẻ và hấp bông băng được. Hay là cậu cứ xuống xem xem thế nào.

- Thế lỗ thủng có to không anh?

- Chỉ là lỗ của mấy viên bi xuyên qua, lỗ to thì lọt ngón tay còn lỗ bé thì vừa lọt chính viên bi mà thôi.

- Thôi được để em xuống xem thế nào.

Hai người đi vòng vèo qua ba bốn cái lán cho đến khi gặp con suối nhỏ thì dừng lại trước một căn nhà hầm nửa chìm, nửa nổi, bên trong khá rộng nhưng chỉ thấy dụng cụ, còn người thì đi đâu không rõ. Loanh quanh một lúc lâu vẫn chẳng có ai về, anh Điều bực dọc lẩm bẩm:

- Nói mãi mà vẫn không rút kinh nghiệm. Đi đâu thì cũng phải có một mống ở nhà để mà gác sách chứ, đừng tưởng đây xa địch mà chủ quan, đến khi thám báo nó đến tận nơi thì mới trắng mắt ra!

Chờ mãi chẳng được anh Điều đành vào trong nhà lôi ra vài thứ dụng cụ đun nấu. Trong số đó có một cái nồi nhôm khá lớn, nắp đậy bằng nhôm đúc dày, có bốn cái đinh khuy kẹp chặt với miệng nồi. Chỗ gần miệng có mấy lỗ nhỏ bằng đầu ngón út miệng loe ra như hoa rău muống. Vừa lúc đang ngắm nghía cái nồi nhôm ấy thì anh Điều quay trở lại.

- Cái này thì làm được anh ạ! Em chỉ cần nói qua là họ làm được thôi. Trước hết anh bảo họ lấy cái kẹp đạn mài sắc sau đó khoét hai bên miệng lỗ loe thêm ra, còn ở giữa để nguyên sau rồi lấy đuôi cánh bom cắt lấy một đoạn nhỏ đập cho tròn rồi cho vào lỗ tán hai bên cho chặt thế là xong anh ạ.

- Tớ sợ khi áp lực cao chỗ ấy không chịu nổi.

- Không sao đâu anh ạ.

- Ừ thôi thế cũng được, lát nữa tớ bảo các cậu ấy làm thử xem sao.

Hai anh em lại lọc cọc quay về lán điều trị, cả hai đều không nói gì nữa. Mỗi người đều có những suy nghĩ của riêng mình .

                                       2

 

Gần một tuần vừa làm thuốc vừa ăn uống với tiêu chuẩn cao, sức khoẻ của Hằng đã khá hơn mọi khi, nhưng nhìn chung thì cậu vẫn xanh và gầy. Kể ra thì cậu cũng mới chỉ cắt sốt mấy hôm, trong thời gian ngắn thế làm sao mà béo tốt ngay được.

Chả biết có chuyện gì mà sớm nay anh Điều bắt số bệnh binh tập trung về hội trường ngay từ sớm. Hằng vì mệt mỏi hơn ngày thường nên đến khá muộn, khi đến nơi thì hội trường chỉ còn độ ba chục bệnh binh với bốn ông bác sĩ còn ngồi ở đó. Hằng nghe loáng thoáng hình như có ai đó gọi tên mình mà không biết có phải hay không. Cũng chẳng biết thế nào mà sau khi uống mấy viên phòng số ba rồi thì tai ù đặc hết cả.

Thế rồi cả đám bệnh binh đều đã khám hết chỉ còn trơ lại mỗi mình mới thấy một ông bác sĩ hỏi đến Hằng. Ông ta hỏi tên tuổi và cả quê quán của Hằng sau khi đã khám đi, khám lại con người của Hằng sau đó thì ra hiệu cho Hằng về lán.

Vừa đi vừa nghỉ rồi Hằng cũng đã về đến lán của mình. Vừa về đến lán đã thấy bốn năm anh em chờ mình ở bên trong xô ra hỏi han loạn xạ chả hiểu ra thế nào. Người thì hỏi kết luận của anh ở loại nào, người thì hỏi rằng anh có được ra không, cũng chẳng biết cậu ấy bảo ra đâu. Cũng phải rất lâu Hằng mới hiểu ra những câu hỏi của mấy anh em cùng cảnh sốt rét ác tính như mình. Nói là hiểu thế thôi chứ thực ra Hằng cũng không biết mình ở loại ba hay bốn, chỉ thấy đồng chí viện trưởng xem đi xem lại bệnh án rồi hỏi về tình hình ăn uống sinh hoạt của Hằng. Cuối cùng thì đồng chí ấy ghi gì vào bệnh án mà thấy đầy những chữ là chữ. Một lúc lâu sau đồng chí viện trưởng cũng ngẩng đầu lên rồi động viên vài câu đại loại là “cố gắng ăn uống cho nó tăng hồng cầu lên một tý, không thì rồi đi cũng không nổi đâu đấy...”

Hằng cũng không ngờ lần đi viện này lại là lần xa đơn vị mãi mãi, bởi chỉ gần một tuần sau đó Hằng đã phải chống gậy theo đoàn quân ra Bắc. Trên đường đi ra Hằng còn phải vài lần cấp cứu nữa, mà lần nào cũng cứ mê man nóng rét rồi co giật làm cho mọi ngưòi phát hoảng.

Cũng không hiểu thế nào mà đến Binh trạm T. 14 ngoài bữa ăn khá thịnh soạn với rất nhiều đồ hộp, mỗi người được phát một ít kẹo bánh và đường sữa, rồi thì còn có cả thuốc lá bao miền Bắc hẳn hoi. Hỏi ra mới biết hôm nay chính là ngày mồng một tết âm lịch năm 1975.

Thế là đã gần năm năm trôi qua, năm cái tết chiến trường, năm cái tết giữa bom rơi đạn nổ. Những gì là vui Hằng đã nếm qua, những gì là buồn Hằng cũng đã nếm qua. Cho dù là thế nào thì những năm tháng này cũng là những thời khắc đặc biệt mang dấu ấn trong cuộc đời. Những gì đã đi qua sẽ không bao giờ trở lại, cho dù điều đó là khốc liệt, là tàn lụi, là chết chóc. Bởi chính từ nơi đó ta hiểu được cái “bản ngã” của chính ta, nó là dũng cảm ngoan cường hay là sự run sợ yếu hèn mà bất kỳ người nào cũng phải có trước cái sự thực chết chóc, hy sinh trong cuộc đấu tranh một mất một còn của những người chiến sĩ. Qua những năm tháng ấy cho ta nhận ra chính ta. Rồi đây sau bao năm tháng đã đi qua, có một khi nào đó ta ngồi ta nghĩ về mình, ta sẽ nói gì với con cái. Ta có thể cao giọng dạy bảo chúng rằng hãy sống cho ra sống như bố mẹ chúng đã từng sống.

Cũng nhờ có cái đài của mấy anh cán bộ ở các đơn vị mặt trận cùng ra nên anh em trong đoàn biết được nhiều tin tức về tết và đặc biệt là nhiều tin về chiến sự trên khắp miền Nam. Không khí mấy ngày này có cái gì đó rất lạ, giống như cái không khí hừng hực của bẩy năm về trước, không khí của những cuộc tổng tiến công nhằm vào kẻ địch. Trên đường không chỗ nào không nói về điều đó cùng với  những dự đoán khác nhau. Tuy nhiên tất cả các dự đoán đều có ý như đây là cuộc chiến sau cùng để thống nhất đất nước giành độc lập dân tộc, điều mà mỗi người con dân đất Việt đã mong đợi hàng ngàn năm nay.

Bắt đầu ra đến đất Bắc thì không còn phải hành quân bộ nữa mà đi bằng ô tô. Vẫn những cái xe Gát mang nhãn hiệu Trung Hoa như ngày nào đã chở người vào, nay lại chở người ra. Đường xá mấy năm giặc đánh phá vẫn chưa sửa được nên những cái xe chả khác nào cái rổ cứ xóc những người ngồi trên nó như là xóc ốc. Qua trạm 10 Quảng Bình mấy ngày thì mọi người được nhận quân trang mới. Những cái màn vải xô nhuộm xanh, những bộ quân phục cũng màu xanh, rồi thì mũ dày, ba lô cũng vẫn xanh một màu như thế cả. Cũng từ đây người ta đã phân chia quân nhân tỉnh nào về tỉnh ấy và rồi từng người lại đi tiếp về các đoàn an dưỡng của các tỉnh. Hằng không kê khai nơi mình nhập ngũ mà khai nơi sinh và thế là Hằng được đưa về Đoàn 869 của Hà Nội. Vừa về đến đoàn an dưỡng Hằng đã phải đi điều trị ở Viện 12. Cũng vẫn bệnh sốt rét là chính, ngoài ra còn thêm cả bệnh sưng phổi đã phát triển trên dọc đường hành quân trước đó.

 

                                                    3

 

Cũng do ốm yếu quá nên dù rất gần nhà nhưng suốt từ ngày về đoàn an dưỡng Hằng vẫn chưa dám về nhà gặp mẹ. Sớm nay chủ nhật, đại đội tập trung chiến sĩ phổ biến một số nhiệm vụ sau đó công bố cho một phần ba số chiến sĩ ở gần được đi tranh thủ về qua nhà.

Sau mấy tháng vừa điều trị vừa an dưỡng, Hằng cũng đã cắt cơn sốt rét, nhìn người cũng đã thấy có da có thịt. Hôm cân trọng lượng kiểm tra sức khoẻ cậu cũng đã đạt được trọng lượng cân của ngày nhập ngũ. Cũng nhờ có nước da khá sáng sủa nên dù đã gần ba mươi tuổi nhưng chợt nhìn người ta ngỡ cậu mới độ hai ba, hai bốn là cùng.

Ba lô quần áo, chăn màn và cả số bánh kẹo, đường sữa tiêu chuẩn đơn vị phát cho Hằng vẫn để dành để làm quà khi về nhà cũng đã được gói buộc xong, vậy mà cậu vẫn chưa chịu rời đơn vị ra về. Có bao nhiêu điều cậu tưởng tượng ra khi gặp mẹ và em gái. Đâu là chuyện mẹ sẽ chạy vội ra để ôm lấy cậu, sờ nắn trên người cậu xem có bị thương tích gì không. Còn cậu sẽ cũng chạy thật nhanh đến bên mẹ lau giúp mẹ những giọt nước mắt sung sướng cứ chảy ràn rụa mãi không ngừng. Họ sẽ nói với nhau những gì là thương nhớ thật tha thiết và cảm động...

Thế nhưng ngay sau đó cậu lại phủ nhận tất cả những điều cậu vừa nghĩ ra trước đó. Bởi cuộc đời mẹ đã có bao nhiêu lần gặp gỡ, bao nhiêu lần từ biệt người thân. Thậm chí là bao nhiêu lần vĩnh biệt những người mà bà thương yêu nhất. Cùng với những khổ cực về tinh thần và vật chất mà bà từng chịu đựng hết năm này qua năm khác, làm cho bà thêm chai sạn, thêm cứng rắn và rồi mọi điều vui buồn trong lòng bà được nhìn nhận ở mức độ trầm tĩnh đến không ngờ. Dù sao thì việc nghĩ vẫn cứ phải nghĩ, bởi đó là thói thường của tất cả mọi người trước khi họ làm một việc gì.

Cuộc gặp gỡ xảy ra hoàn toàn khác với cả hai quang cảnh mà Hằng đã tưởng tượng ra, bởi ngay khi mở tấm liếp tre làm cánh cổng rồi vào đến sân Hằng chẳng gặp một ai. Chỉ đến khi bước vào căn nhà tranh tối tranh sáng, gỡ được hai quai ba lô đặt xuống mặt giường Hằng mới kịp nhận ra có một người đang ngồi trên tấm phản kê ở gian nhà phía hồi bên trái. Cũng phải mất một lúc Hằng mới nhận ra đó là một người đàn ông lạ mặt có mái tóc bạc có lẽ cũng sấp sỉ ở tuổi bẩy mươi. Hằng vội cất tiếng hỏi:

- Cụ ơi, cụ có biết bà cụ chủ nhà này đi đâu không nhỉ?

Ông già tóc trắng cũng bất ngờ không kém khi thấy có một chàng bộ đội tự nhiên cứ như vào nhà mình vậy, đã thế lại còn hỏi chủ nhà đi đâu nữa chứ. Mãi đến khi bình tĩnh trở lại cụ già mới thủng thỉnh trả lời:

- Cụ tôi vừa ra chùa làm lễ anh ạ!

Nghe xong câu trả lời Hằng cũng chào qua quýt cụ già nọ rồi cứ thế đi vội ra ngoài mà cũng chả nói cho ông cụ biết mình là ai và đến để làm gì. Cuối cùng thì  người Hằng gặp đầu tiên lại không phải là mẹ, chả biết đó có phải là điều không may hay không.

Sau khi quét quanh làng một vòng, gặp một loạt cả già lẫn trẻ cùng với hàng chục câu hỏi và câu trả lời thì rồi Hằng cũng về gặp mẹ. Có lẽ khi về nhà nghe ông lão tóc bạc kể lại chắc mẹ đã đoán được chàng trai bộ đội ấy là ai nên khi hai mẹ con gặp nhau thì chỉ thấy mẹ đứng im để nhìn cậu mà chẳng vồ vập hoặc tỏ ra bất ngờ một tý nào. Sau khi đã ngắm khá kỹ cậu con trai của mình rồi thì cụ cũng cất tiếng nhưng là để nói với ông lão tóc bạc mà không phải là nói với Hằng:

- Đây là thằng anh con Hà đấy!

Sau khi nghe mẹ nói như vậy thì ông lão tóc bạc vội đứng lên như có vẻ muốn bắt tay Hằng. Ông cất giọng chậm rãi nói:

- Thế thì con phải gọi ông ấy bằng ông mới đúng.

Mẹ Hằng hình như cũng cho là đúng mà không cải chính thêm điều gì. Đến lúc này Hằng mới biết và mới gặp được một người cháu của mẹ mình.

Không giống như nhiều nhà khác, cuộc trở về của Hằng thật giản dị, thật bình thường. Đó có phải cách sống đúng, sống tốt hay không thì không biết, tuy nhiên với hoàn cảnh ít họ hàng thân thích, lại khó về kinh tế thì có lẽ gặp mặt như thế là thích hợp.

          Gần một tuần ở nhà thật là vừa vui, vừa buồn, vui vì được gặp mẹ, gặp các anh chị em và các cháu, rồi thì còn cả số bạn bè cùng trang lứa, cùng học một lớp ngày nào. Còn buồn vì số đông bè bạn đều bận bịu gia đình  mà không qua lại thăm hỏi chuyện trò lâu được. Bọn họ còn phải lo làm, lo nuôi con cái và cả lo cha già, mẹ yếu.

          Cũng may trong suốt những ngày nghỉ có cậu Hợp thương binh cứng khớp hay đến chơi bời trò chuyện. Hợp còn ít tuổi bởi cậu là em thứ ba của Thu, mà Thu thì cũng còn kém Hằng đến hai tuổi chứ có ít đâu. Dù sao thì Hợp giống Hằng ở chỗ đang còn là trai tân chưa vợ đang ở vào diện cần phải đi đây đi đó để tìm mối cho mình.

          Trong đời bộ đội lúc nào cũng đều là quân phong, quân kỷ, đêm thì hội họp gác xách, ngày thì ra thao trường, chí ít cũng là tập đội ngũ, còn không thì lăn lê bò toài ngắm bắn bia, tập chiến thuật vân vân và vân vân với mọi vấn đề. Chỉ có ở đoàn an dưỡng mới được thoải mái đôi chút, nhờ đó Hằng hầu như chả ở đơn vị mấy mà chỉ ở nhà. Sau mấy tuần chơi bời, Hằng bắt đầu tham gia làm hợp tác giúp mẹ kiếm thêm ít công điểm. Mùa vụ thì cũng đã qua nên cũng chỉ còn mỗi việc gánh gạch vào lò, gánh gạch ra lò. Thôi thì có tý việc làm vừa đỡ buồn lại có thêm công điểm cho mẹ.

          Ngay từ nhiều năm còn ở độ tuổi trẻ con Hằng chẳng mấy khi tiếp xúc với nhiều người lớn, hơn nữa lại xa làng xóm ngay từ khi mới lớn, nên cậu ít hiểu về họ. Gần đây đi làm cùng với mọi người trong làng Hằng mới có dịp ngồi lâu với họ và phần nào cậu đã hiểu về họ hơn. Những câu chuyện chiến đấu mà Hằng kể cho họ nghe, làm cho họ thấy thật cảm phục, còn những câu chuyện đời thường hài hước mà những người này kể về những người kia không có mặt tại đấy nghe thật buồn cười thật là vui làm cho công việc có phần nhẹ nhõm hơn nhiều.

          Cùng đi làm hợp tác cũng còn có vài cô bé người làng vừa mới lớn lên mà Hằng chẳng biết là con nhà ai. Ngay từ khi bước chân ra khỏi nhà họ đã bịt kín mặt bằng những tấm khăn bông trắng nên Hằng chỉ còn biết trả lời những câu chào của họ khi gặp mặt mà không thể chủ động hỏi han gì họ được. Họ chỉ hơi hé mở ra lau mồ hôi những khi giải lao rồi lại trùm kín lại nên đã mấy ngày rồi mà Hằng chẳng biết họ là ai. Tuy nhiên qua đôi mắt của họ Hằng cũng đã nhận ra vài cô có cái nhìn hết sức ý nghĩa. Những khi giải lao họ ngồi gần Hằng hơn và không ít lần chăm chắm nhìn sang hoặc vội vàng nhìn ra phía khác khi bất chợt gặp ánh mắt dò hỏi của Hằng nhìn vào khuôn mặt họ.

 

                                             4

 

          Không phải chỉ riêng Hằng thấy được ý tứ ấy ở các cô gái mới lớn kia mà cả mấy ông bà già cũng đã nhận ra được những ánh mắt đưa tình ấy. Cũng chả ngại ngần gì mà họ không cất lời trêu chọc các cô:

          - Chiến sĩ đấy! Đứa nào có cảm tình thì ra mặt đi chứ không lại lỡ mất thời cơ.

          Vừa nghe đến đấy các cô liền ngúng nguẩy ra vẻ thẹn thùng kéo nhau bỏ chạy ra xa rồi cấu chí nhau la oai oái, họ giống như một bầy trẻ nhỏ vô tư lự mà ta vẫn gặp trên đường. Trong số đó có một cô bé không cao lắm có vẻ dạn dĩ hơn, các bạn vẫn gọi tên là Mận thường phải đổi vai với Hằng. Cũng chính nhờ thế mà hai người có điều kiện nói chuyện với nhau nhiều hơn so với những cô khác. Chả biết cô ấy có cảm tình như các bạn vẫn trêu hay không nhưng Hằng cũng cứ hẹn cô ấy ra chơi và cô ấy đã đồng ý.

          Ngay tối hôm đó và liền mấy tối hôm sau Mận đã ra nơi hẹn để gặp Hằng, họ đã đi chơi nói chuyện hàng mấy tiếng đồng hồ mỗi ngày trên dọc con đường từ nhà Hằng xuống đình làng. Tất cả những câu chuyện  hai người nói với nhau trong những lần đầu tiên đi chơi ấy thật chả ăn nhập vào đâu. Tuy nhiên đó lại là những cuộc gặp gỡ mở đầu cho mối quan hệ sau này của hai người.

          Mất mấy hôm Hằng phải về đơn vị để duy trì con số theo quy định. Chiều nay anh Đạt đại đội phó lại cho cậu tranh thủ về nhà. Cơm nước xong có lẽ cũng đã gần tám giờ tối, Hằng đang định đi vào phía trong làng thì thấy Mận bước vào cổng thế là Hằng đành phải quay trở lại. Ánh đèn dầu vang khè không đủ để soi rõ khuôn mặt của cô gái nhất là cô ấy lại hơi có ý đi vào góc khuất làm cho việc nhìn rõ khuôn mặt của cô càng khó khăn hơn. Tuy vậy bà mẹ của Hằng đang ngồi giần gạo ở giữa nền nhà vẫn nhận ra cô bé và cất tiếng chào trước:

- Cái Mận ra chơi đấy hả cháu?

- Vâng ạ!

- Cứ ngồi chơi nói chuyện với anh nhé, bác phải giần nốt mẻ gạo để mai có cái thổi cơm cháu ạ.

Sau khi chào hỏi mẹ của Hằng cô gái ghé mình ngồi xuống chiếc giường gỗ kê ở gian nhà phía bên trái. Hằng đi rót nước từ cái ấm tích ra để mời cô gái thì mẹ Hằng cũng mang cái đèn dầu nhỏ ở gần chỗ cụ đang giần sảy đến để vào cái ghế đẩu đặt trước mặt hai người. Thấy chỗ làm của mẹ bị tối và cũng muốn để cho cô gái tự nhiên hơn Hằng lại mang cái đèn trở lại cho mẹ nhưng bà bảo bà không cần đèn vẫn làm được, thế là Hằng lại mang cái đèn ấy về chỗ cũ. Câu chuyện giữa hai người dường như có sự dè dặt, đôi lúc họ hoàn toàn im lặng không biết nói với nhau điều gì. Những lúc như thế bà mẹ Hằng lại chen vào một câu hỏi để cho không khí cởi mở hơn. Điều làm Hằng khó nói chuyện nhất là cô gái không cùng lứa tuổi với Hằng, chính vì vậy mà khi Hằng hỏi một vài thông tin về các bạn của mình cho có chuyện thì cô ấy chả biết tý gì. Cũng phải thôi, vì khi cô ấy lớn lên Hằng đã không còn ở quê nữa. Hằng đã rời quê khi cô ấy mới độ sáu bẩy tuổi đến nay đã mười năm có lẻ, lẽ nào cô ấy chả lạ lẫm. Hằng cảm thấy buồn vì sự dè dặt và không hiểu biết của cả hai người. Nhìn kỹ cô gái dưới ánh đèn Hằng càng thấy ngần ngại khi mình đã trót mời cô ấy ra chơi. Sau một loạt những khoảng trống kế tiếp nhau thì Mận cũng thấy ái ngại, cô đứng lên chào mẹ Hằng rồi xin phép ra về. Hằng xin phép mẹ rồi ra đưa tiễn Mận về nhà, hai người vừa đi vừa tiếp tục câu chuyện đang dở, cách nhà khoảng độ gần ba trăm mét, cậu đang định chào lần nữa rồi về nhưng cậu thấy hình như Mận chưa muốn ra về thì phải. Chính cái lúc Hằng định nói lời cuối thì cô ấy lại hỏi rất nhiều chuyện, đâu là chuyện chiến đấu ở miền Nam rồi chuyện học hành ngày bé của của Hằng. Quãng đường hai người đi dần dần càng gần vào đoạn cổng chính của làng, dự đoán nơi ấy chắc khá đông thanh niên nam nữ nên hầu như cả hai đều có ý đi chậm lại, nếu không nói là đã dừng hẳn lại để nói chuyện mà không đi nữa. Ngay lúc đó có mấy người đi ngược ra bắt gặp hai người, tuy họ không biết hai người này là ai bởi trời quá tối, nhưng họ cũng có ý đi gần hơn xem bọn này là con cái nhà ai mà lại chuyện trò đêm hôm như thế. Có lẽ Mận cũng không thích cảnh này nên cô khẽ nói:

          - Mình ra xa làng một chút anh ạ!

          Đến đây thì Hằng nhận ra rằng Mận chưa muốn ra về, việc chào mẹ Hằng để về chẳng qua là muốn hai người nói chuyện được tự do hơn mà thôi. Thế là hai người lại quay lại con đường cũ và lần này thì họ vượt qua nhà Hằng để tiến ra xa làng thật sự. Đêm nay trời trở gió làm cho không khí khá lạnh, có lẽ đây là đợt rét cuối cùng của mùa đông mà ta quen gọi là rét Nàng Bân. Hằng luôn đi về phía bên phải của Mận có ý như muốn che đỡ cho cô những cơn gió lạnh thỉnh thoảng quét qua hai người. Chả biết đi đi lại lại thế nào hai người lại dừng ngay trước cái lò gạch mà ban chiều hai người đã cùng làm ở đó. Hằng vẫn đứng che gió cho Mận như khi nãy, mặc dù anh chẳng thể nào che hết được những cơn gió ngày càng mạnh hơn thổi từ đầm nước trước mặt. Đi qua, đi lại một lúc thì họ cũng tìm ra được một chỗ khuất gió đó là cái ô cửa đốt lò phía nam dài, rộng mỗi chiều chừng hai mét. Họ ngồi sát nhau trên một khúc gỗ đốt lò tìm được ở gần đó và tiếp tục câu chuyện. Câu chuyện ở nhà miễn cưỡng bao nhiêu thì bây giờ lại say sưa bấy nhiêu. Những câu hỏi và những câu trả lời với nhiều đề tài khác nhau nhưng có vẻ đã rất gắn bó mà không còn rời rạc như trước. Chả biết lúc ấy do lạnh hay do ít ngồi gần bọn con trai mà mỗi lần người Hằng chạm vào thấy Mận cứ run rẩy đến lạ, Hằng vội hỏi khẽ bên tai của Mận:

          - Em có lạnh không?

          - Không anh ạ!

          Bàn tay Hằng đặt nhẹ lên vai Mận khi thấy cô phả hơi thở nóng hổi thì thào trả lời câu hỏi bên tai của anh. Có lẽ cô ấy xúc động về bàn tay của Hằng đang đặt trên vai cô và hình như bàn tay ấy đang từ từ nắm chặt hơn. Sự gần gũi của hai người làm cho họ như trôi đi trong cảm giác thật đặc biệt, mở đầu cho một điều gì đó mới mẻ dường như không cưỡng lại được và nó sắp phải xảy ra. Bắt đầu là bàn tay, rồi đến cả cánh tay của Hằng đã vòng qua vai của Mận, vẫn không thấy cô có một sự phản đối nào. Chả bao lâu sau cả vòng tay của Hằng đã ôm cả thân hình nóng ấm của Mận vào lòng, còn Mận thì thả lỏng toàn thân dựa hẳn vào Hằng. Một cái hôn thật dài như chưa bao giờ dài thế khởi đầu cho một cuộc yêu đương đã phải xảy ra.

          Sau giây phút ấy Hằng cứ tự trách về sự quá dễ dãi của mình, cùng với ý nghĩ đó là sự phân vân về sự quá nhanh, quá gấp gáp khi cô ấy chấp nhận những gì vừa xảy ra giữa hai người. Cô ấy còn quá trẻ, cô ấy có thể yêu nhưng chắc gì đã đủ chín chắn để trở thành một người vợ, một người bạn đối với một người đàn ông hơn cô quá nhiều tuổi. Cô ấy sẽ hành động ra sao khi những điều tình tứ, hoa lá, tươi trẻ trong yêu của những tâm hồn trẻ như cô ấy còn chưa được phát tiết hết? Sự nuối tiếc về những gì mà con người ta chưa được một lần hưởng thụ có thôi thúc cô ấy quay trở lại khi cô ấy đã làm vợ, làm mẹ hay không?  Cái gia đình nhỏ bé ấy rồi sẽ ra sao? Có lẽ cũng cần phải xem lại cho thật cẩn thận! Họ ra về cùng với những lời hẹn gặp lại đêm sau khi đã cảm thấy quá khuya và trời thì ngày một lạnh thêm gấp bội.

          Hằng khẽ kéo cánh cửa bằng liếp ra rồi nhẹ nhàng lách người vào nhà. Anh cố hết sức tránh gây ra tiếng động để mẹ khỏi thức giấc vì người già thường ít ngủ, nếu mẹ bị thức dậy là mẹ sẽ không ngủ lại được nữa. Một điều thật bất ngờ là vừa mới chui vào nhà còn chưa kịp nhìn rõ những gì trong nhà, anh đã nghe tiếng của mẹ cất lên:

- Nhà ấy nó không chịu cho con nó về nhà mình đâu!

Hằng thật không thể ngờ anh đi đâu mẹ anh cũng biết, chưa chừng bà cụ thức từ tối đến giờ đợi anh về cũng nên.

- Mẹ vẫn thức từ tối đến giờ cơ à?

- Tao cũng đã ngủ được một giấc rồi, nằm mãi nhạt mồm tao dậy ăn miếng trầu cho ấm.

- Sao mẹ lại nghĩ là nhà họ sẽ không đồng ý?

          - Tao ở làng này mấy chục năm nay rồi, ai thế nào mà tao chẳng biết.

          - Nhưng nếu cô ấy quyết không nghe thì sao?

          - Con bé ấy đần đần là, bố mẹ nó quát một tiếng là im như thóc, chả dám hé răng đâu!

Dừng một lúc bà lại nói tiếp:

- Nhà nó chỉ ưa giầu sang phú quý, chứ nghèo như nhà ta thì ...

Nói đến đây thì bà dừng lại, liền sau đó là một tiếng thở dài thay cho phần câu nói còn dang dở.

- Đi ngủ đi, mai là thứ hai lên đơn vị cho sớm không người ta lại phê bình cho đấy.

Hằng làm theo lời mẹ như một cái máy mà không nói lại điều gì. Nằm xuống giường đã lâu nhưng anh cũng vẫn chưa có vẻ buồn ngủ. Những câu nói của mẹ vừa rồi làm cho anh rất phân vân và không biết tin vào lời mẹ hay tin vào tình cảm của Mận với những gì mà cô ấy đã hưởng ứng với Hằng trong buổi tối hôm nay.

Ông Chắn bố của Mận là một người còn trẻ, ông thích văn nghệ và đã từng đứng ra làm trưởng đoàn cải lương của làng. Ông là người thích làm các công việc có tính tươi vui trong cuộc sống và lúc nào cũng tỏ ra vồn vã cởi mở đối với mọi người. Ngày xưa mỗi lần Hằng đến nhà ông xem tập cải lương ông vẫn tươi cười đón tiếp và còn rất muốn Hằng tham gia vào đội của ông. Một người vui vẻ hoà nhã như vậy chả nhẽ lại thủ cựu đến mức có thể bắt con gái mình từ bỏ tình yêu chỉ vì người nó yêu không giầu có hay sao?

Cứ nhắm mắt lại Hằng lại tưởng tượng ra trước mắt hình ảnh ông Chắn luôn tươi cười khi anh cùng một người bạn cùng tuổi gọi ông Chắn là cậu ruột đến chơi nhà. Rồi còn những lần xem tập cải lương ở nhà ông, xem ông đi đánh lưới săn những con chim giẽ kiếm ăn trên đồng làng. Có cả những đêm các cậu còn theo ông ra tận đồng Thốp để rình săn lũ chim lạc sau khi được thả bay trong hội không tìm được đường về đã hạ xuống đó để kiếm ăn và uống nước.

Từ mấy hôm trước Hằng chỉ ngại ngần về việc Mận còn quá trẻ, hơn nữa từ trước đến giờ anh vẫn gọi bố mẹ Mận là anh chị, nếu bây giờ phải đổi cách xưng hô thì cũng đáng ngại thật. Ngờ đâu điều đáng ngại không phải là điều đó mà lại là chuyện mối tình có thể bị ngăn trở của gia đình cô ấy. Càng nghĩ anh càng cảm thấy buồn chán và bế tắc, lúc lâu sau anh chậc lưỡi thầm nói với mình: Thôi chẳng nghĩ nữa, mặc kệ sự đời muốn ra sao thì ra! Cố chợp mắt để mai còn lên đơn vị.

Sau buổi tối hẹn gặp Mận không thành Hằng có linh cảm câu chuyện mà mẹ nói có thể đã xảy ra, tuy vậy anh vẫn hy vọng Mận sẽ xuất hiện đột ngột trước mặt anh như những câu chuyện tình lãng mạn mà anh vẫn đọc hàng ngày. Nhưng rồi cái điều tưởng tượng ấy chẳng bao giờ xảy ra vì Mận không biết đã đi đâu vắng biệt tăm hơi. Có lẽ cô ấy đã bị giam lỏng ở đâu đó hoặc đã bị đưa đến nhà ai đó ở quê ngoại để cách ly cô ấy với Hằng. Có một điều mà Hằng không tưởng tượng nổi là có lần Hằng kiếm cớ cùng cháu của ông Chắn vào nhà chơi có ý xem Mận có nhà hay không thì vẫn thấy ông niềm nở và chuyện trò rất thân tình như không có việc gì xảy ra. Đến lúc này thì Hằng thấy mẹ đã đánh giá đúng con người ông Chắn, thế mới biết ông quả là một người kín đáo và sâu sắc. Hằng không đến nỗi buồn bực quá lâu vì dù sao câu chuyện tình của anh với cô Mận cũng chưa đến nỗi nào, hơn nữa với tính cách của ông bố Mận đã làm cho anh thấy không còn muốn gần gũi với họ nữa.

Trong những ngày tháng giêng, tháng hai âm lịch hàng năm của các vùng quê Kinh Bắc cũ vẫn thường có lệ mở những hội hè đình đám. Trước hết là tế lễ Thành hoàng hoặc suy tôn công đức của tiền nhân có công với làng với nước, sau đó là các trò vui, mừng một năm làm ăn thịnh vượng. Bên cạnh đó nhiều làng còn có các lễ hội mang màu sắc riêng khác ví như hội pháo mồng bốn tháng giêng của làng Đồng Kỵ, hội hát Quan họ của bốn mươi chín làng Quan họ, mà hội lớn nhất là hội ngày mười ba tháng giêng vùng chùa Lim. Ngoài ra trong hội còn có rất nhiều các trò chơi dân gian náo nhiệt mà làng nào cũng có. Đáng kể nhất vẫn là nghi thức tế lễ của các cụ trong trang phục tế với những chiếc mũ hình hộp, những bộ áo thụng đỏ, đen, vàng, xanh tuỳ theo tục lệ của mỗi làng trông thật kính cẩn và trang trọng. Sau mỗi câu xướng lên các vị chủ tế, bồi tế cứ lần lượt tiến lên dâng hương, dâng các vật phẩm lên bàn tế.

Còn về phần hội thì càng phong phú hơn với các trò vui gồm đủ loại, đâu là các sới vật với đủ các giải lèo, giải chính. Cho dù giải chỉ là cái mâm đồng, cái chậu thau chả lấy gì làm to lắm nhưng vẫn thu hút rất nhiều các đô vật ở khắp các vùng về tham dự. Đâu là các đô Đình Sấm, các đô Gia Lược, đô Đồng Kỵ, đô Trung Mầu và nhiều vùng tận Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây cũng về tham dự. Những trò vui này vừa mang tính giải trí trong dân gian nhưng trong đó còn có ý muốn duy trì tinh thần thượng võ của cha ông truyền lại.

Ngoài ra các hội làng còn tổ chức chọi gà, đánh cờ, đốt pháo và cả tổ chức các vở tuồng đồ, tuồng pho kéo dài hết cả ba ngày, ba đêm hội với những vở tuồng kinh điển như Lã Bố hý Điêu Thuyền, Sơn Hậu đệ nhất, Sơn Hậu đệ nhị, Rồi thì Bao công xử án Quách Hoè, Bao công xử án Bàng Quý phi vv... Ngoài tuồng cổ còn có cả các loại chèo cổ, chèo cải biên và không hiếm các vở cải lương với nhiều tình tiết ly kỳ anh hùng cái thế hoặc đầy nỗi niềm thương cảm cùng với sự chiến thắng của những người hiền, những chính nhân quân tử cho dù trước đó họ có gặp bao nhiêu gian nan, trở ngại. Hầu hết những vở hát dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều phê phán cái ác, cái sai trái, ca ngợi cái đúng, cái hiền, định hướng cho con người ta về cách sống, cách suy xét sao cho phải ở đời. Mỗi vở diễn là một bài học nhân văn lớn cho tất cả mọi người, mong sao cứ giữ mãi được nền nếp sinh hoạt như vậy làm đẹp và làm vui cho đời trên những làng quê thanh bình yên ấm. Những ngày hội, những đêm văn nghệ đã làm dịu đi nỗi buồn trong lòng của Hằng. Anh quyết định sẽ dừng lại tất cả các việc yêu đương để tập trung vào việc lo công việc làm sau khi nhận công tác mới hoặc nhận quyết định ra quân.

 

                                                             5

 

Rời sân khấu tuồng của làng Nghĩa Vũ, Hằng lững thững theo đoàn người đi ra phía đầu làng để ra đường cái chính. Làng Nghĩa Vũ cùng một xã với làng của Hằng nhưng ở cách xa làng của Hằng gần một cây số rưỡi. Kể ra thì từ làng Hằng sang đó quả cũng quá xa đối với những người nhiều tuổi, nhưng với lớp trẻ và lại trai tơ như Hằng thì quãng đường ấy chả đáng là bao. Vừa đi vừa nghĩ về vở tuồng mới xem nên Hằng chẳng để ý đến ai, mãi đến khi ra khỏi làng Nghĩa Vũ, Hằng mới thấy những người đi xem xa như Hằng không phải là ít. Trời thì tối, với lại nếu có gặp ban ngày thì chưa chắc Hằng đã biết ai là người làng nên Hằng cứ đi một mình như vậy. Hằng rời nhà đi công tác lâu quá rồi, mà số các chàng trai, cô gái son rỗi hôm nay thì lại vừa mới lớn lên, những thay đổi về vóc dáng làm cho người ta lạ hẳn đi so với thời con trẻ. Nếu có người nào đó giống bố, giống mẹ thì khả dĩ Hằng mới nhận ra, còn thì Hằng đâu có biết ai. Hằng thả lỏng mọi tâm sự, tạo cho mình sự thoải mái rồi cứ thế lững thững đi trong bóng tối nghe các câu chuyện của các cô, các cậu trêu chọc nhau trên dọc đường. Nhiều câu chuyện làm Hằng rất muốn cười nhưng lại sợ các cô, các cậu chạm nọc nên đành cứ nín lặng cố nhịn để đi. Phía trước Hằng là hai cô gái vừa đi vừa tâm sự, tuy chỉ nghe tiếng được, tiếng không nhưng xem ra câu chuyện của họ có vẻ khá rôm rả.

Câu chuyện của họ chỉ tập trung vào mỗi một đề tài là nói về các chàng trai mà họ cùng quen. Hầu như họ chỉ nói với nhau những nhận định của họ về hình thức và tính cách của các chàng mà không nói gì đến điều khác. Những nhận xét của họ xem ra hết sức thật tình, tuy nhiên những người trong câu chuyện đều ở một cái tên bí mật mà họ tự hiểu với nhau, còn tên thực thì ngoài họ chắc không ai biết. Sau rất nhiều nhân vật mà họ nói ra Hằng chẳng mấy chú ý lắm vì Hằng đâu có biết họ là ai. Nhưng đến một nhân vật bộ đội được nhắc đi nhắc lại thì Hằng giật mình, linh cảm cho thấy hình như mấy cô này nói đến ai đó giống mình. Tất nhiên là anh chẳng nghe rõ hết được mọi chi tiết câu chuyện của họ, còn những mẩu đối thoại nghe ra rất suôn sẻ được viết ra sau này chẳng qua chỉ là sự góp nhặt những điều nghe được rồi ghép lại sao cho hợp lý mà thôi. 

- Chị xem cái tay bộ đội mới về ấy trông cũng được đấy chứ?

- Hình như hắn cặp với cái “mờ” ở xóm nhà mày hay sao ấy.

- Tắt rồi bà chị ạ.

- Có chắc không đấy?

- Gớm làm gì mà tìm hiểu kỹ thế? Hay là đã kết người ta rồi đấy?

- Vớ vẩn, biết người ta thế nào mà kết với chẳng quả, tao thì thụi cho mấy quả bây giờ.

Cùng lúc đó hai cô gái díu vào nhau để cấu, véo trêu nhau rồi kêu la oai oái.

- Này im đi, có người đằng sau đấy, khéo người ta nghe thấy người ta cười cho.

- Không phải người làng đâu mà sợ.

- Sao biết?

- Người ấy đi phía sau đã lâu lắm rồi, nếu người làng thì đã lên tiếng.

- ừ nhỉ! Có lẽ là người ở xóm Lẻ mày ạ...Sao họ đi xem xa thế nhỉ?

Hình như cô bạn kia chả nghe hay sao mà thay cho việc trả lời lại là một câu hỏi:

- Này hình như ngày trước anh ấy học cùng với anh cả của chị thì phải?

- Có lẽ thế.

- Mấy đứa bạn em nói ngày xưa anh ấy học giỏi lắm, mấy lần thi học sinh giỏi thành phố cơ đấy, chắc vì nhà nghèo quá nên phải bỏ học để đi chuyên nghiệp chứ nếu không thì ...

- Không biết anh ấy có bị thương không nhỉ?

- Chắc là có, hình như anh ấy đang ở trạm an dưỡng trên huyện thì phải.

- Anh ấy trông cũng được đấy chứ, chỉ tội chả có họ với ai trong làng cả. Hình như nhà anh ấy ngày xưa nghèo lắm, toàn phải đi xin ăn thì phải.

- Em nghe mẹ em bảo ngày ấy vùng mình có hàng trăm, hàng ngàn người ăn mày, ăn xin ấy chứ. Lúc đó làm sao có thể sống được là quý, cần gì phải tính toán này nọ. Này thế chị có kết không để em bảo mấy đứa ở gần đó nó giới thiệu cho.

- Sao mày không tự giới thiệu cho mày ấy.

- Em chỉ sợ em xấu xí quá anh ấy không để ý đến thôi chứ, nếu mà anh ấy đồng ý thử xem.

- Thôi chả nói nữa nhỡ đến tai người ta thì xấu hổ chết mất... Không biết ông nào đi mãi đằng sau mà không lên tiếng thế nhỉ?

- Chị thử quay lại hỏi xem... em đố chị dám đấy.

- Sợ gì, mày mất gì tao hỏi cho mà xem, tao cứ hỏi người ta về đâu là được chứ gì?

- Em chịu một cái véo tai.

- Mười cái?

- Hai cái thôi.

- Được, để tao hỏi.

Sau câu chuyện thách đố giữa hai cô gái là một khoảng thời gian im lặng không ai nói gì. Phía trước hai cô có ý như đi chậm dần lại để chờ người đi sau tiến kịp. Tựa như vô tình người đi sau vẫn giữ nguyên tốc độ nên chỉ độ mấy phút cả ba người đã đi gần như ngang nhau. Cô có hình dáng cao hơn bất chợt quay hẳn lại gần như chạm mặt vào người phía sau vừa tiến đến:

- Anh về...?

Cô gái định hỏi anh về đâu để cho họ đi cùng nhưng chưa kịp hỏi phần sau của câu hỏi đã giật mình sững người lại khi đã nhận ra người cô hỏi chả phải ai xa lạ mà chính là cái anh chàng bộ đội mà họ đã bàn tán suốt từ nãy đến giờ. Tuy nhiên cô cũng nhanh ý hỏi tiếp:

- Anh cũng đi xem ạ?

- Vâng! Tôi cũng đi sang đây lúc tối.

- Anh đi có một mình ạ?

- Tôi đi với mấy người nhưng sau đó không gặp lại, hình như họ đi trước mất rồi.

- Thế thì họ bỏ rơi anh rồi, thôi anh về cùng với chúng em cho vui.

Vừa nói về cùng với chúng em, cô nhìn lên phía trước có ý tìm cô bạn cùng đi với mình, nào ngờ phía trước bây giờ chả còn ai nữa. Chắc rằng khi thấy tình huống vừa rồi cô bạn của cô sợ lộ chuyện nên đã chạy trốn mất, để mặc bạn mình với cái người đáng ngại nọ. Để chữa thẹn cô bạn đành nói với theo vào khoảng không một câu đe doạ  :

- Ngày mai dứt khoát phải đòi nợ mười cái véo tai

- Làm sao mà cô có vẻ tức tối với cô ấy thế?

- Nó dám bỏ em lại một mình.

- Vẫn có tôi cùng đi như vừa rồi đấy chứ?

Cô gái không nói gì nhưng hai vai như đang rung lên và hình như cô đang cố ghìm lại tiếng cười cứ muốn bật ra.

- Này nhưng mà cô tên là gì ấy nhỉ?

- Em là Phương.

- Có phải cô là em của Cầu không nhỉ?

- Dạ phải ạ.

Sau mấy câu hỏi vừa rồi hai người có vẻ bớt bỡ ngỡ hơn, vì dẫu sao thì ít nhất thì họ cũng biết về nhau, với người này thì là bạn cùng học với ông anh của mình. Còn với người kia thì đây là em gái của anh bạn cùng học với mình. Mỗi người đều có một tự nhận như thế và cảm thấy như giữa họ có sự gần gũi lên rất nhiều và câu chuyện hầu như cứ tràn chảy không ngừng. Hết người này hỏi về tình hình của người kia lại đến người kia hỏi lại với bao nhiêu chuyện từ chuyện nhà đến làng xóm rồi đến chuyện đi học, đi làm của cô gái, chuyện về đời lính của chàng trai.

Câu chuyện có lẽ sẽ còn dài nữa nếu như phía trước chưa phải là cái cổng làng sừng sững chắn ngay trước mặt. Hai người dùng dằng một lúc rồi cũng đành phải từ biệt với lời hẹn đến thăm nhau trong những ngày sắp tới.

Một buổi trưa không hẹn trước, Phương và một người bạn gái nữa đột ngột vào chơi nhà Hằng. Ánh sáng ban ngày giúp Hằng nhìn rõ Phương hơn. Cô ấy không đẹp lắm nhưng rất có duyên, đôi mắt hơi sâu có viền đen làm cho người ta rất dễ có cảm tình. Hình như cô ấy cũng đã một vài lần yêu nhưng không biết thế nào vẫn chưa chịu lấy ai. Mấy ngày nay cô ấy đang học thêu ở dưới đình làng, nơi ấy lại khá gần nhà Hằng nên tranh thủ về sớm kéo theo cô bạn vào chơi. Tính ra có lẽ cũng đến mười năm Hằng không gặp cô ấy, nếu nói cho đúng thì có thể còn hơn mười năm vì hồi Hằng đến nhà Cầu thì cô ấy mới mười hai, mười ba tuổi là cùng. Cánh thanh niên thời ấy hầu như hơi ngố trong quan hệ với giới nữ và chắc chắn chả bao giờ để ý đến các cô nhóc ấy làm gì. Trong bụng họ chỉ thấy khó chịu vì các cô em ấy chỉ hay nhõng nhẽo và nhất là hay mách lẻo để bố mẹ mắng mỏ làm khó cho mình. Cuộc viếng thăm dù rất ngắn ngủi với lý do về lo cơm nước để kịp đến lớp buổi chiều nhưng vẫn đầy đủ thủ tục, ngoài ra lại còn hẹn gặp nhau buổi tối hôm ấy mới là điều đáng nói. Linh cảm cho thấy cái số đào hoa của Hằng vẫn chưa cho dừng lại được, đành phải chấp nhận vậy thôi.

Cuộc tình mới với Phương đến cũng nhanh chóng và hầu như không có trở ngại gì đáng kể sau mấy lần đi chơi tối cùng nhau. Mỗi ngày hai người vẫn gặp nhau mỗi khi Phương đến lớp và cả khi Phương rời lớp học về nhà. Họ gặp nhau cả ở trên lớp thêu vì ngoài thời gian lên lớp là thời gian thực hành học viên tự quản. Những người cùng học với Phương đều là người làng cả, họ đều muốn vun vào khi thấy hai người nhiệt tình với nhau như thế. Còn với những buổi tối thì hầu như họ không thiếu nhau bao giờ. Những buổi tối say mê thường làm cho họ quên cả việc về đi ngủ, nhiều hôm đi chơi về muộn Phương toàn về ngủ với cô em họ nhà cậu mợ của Phương ở ngõ Ngách. Được cái cô em họ lại đồng tình với bà chị họ nói thác với bác là chị Phương vẫn về ngủ với cháu nên bố mẹ Phương cũng quen dần với việc Phương luôn không ngủ ở nhà.

Một buổi chiều khi Hằng từ đơn vị về nhà thì thấy mấy cậu bạn bảo cái Phương nó tìm cậu gắt quá không biết để làm gì. Đến ba giờ chiều hôm ấy thì hai người gặp được nhau. Phương ôm chặt ngay lấy Hằng rồi hồi hộp nói với người yêu:

- Bố mẹ em bảo anh đến nhà để nhà xem ý kiến anh thế nào.

- Thế em đã nói chuyện của chúng ta cho bố mẹ em rồi à?

- Em nói bữa trước...mà không nói thì chuyện cũng đã đến tai các cụ ấy rồi làm sao em giấu được.

- Nhưng ý các cụ ấy thế nào?

- Tối nay anh cứ đến thì biết, em chả nói nữa.

Vừa nói Phương vừa ngúng nguẩy bỏ đi giả như dằn dỗi. Mới được một đoạn đã thấy ngoái cổ lại:

- Anh nhớ đến sớm sớm đấy nhé, đừng để các cụ ấy phải chờ.

Nghe Phương báo tin này Hằng thấy thật bất ngờ tự nhủ: Chả lẽ câu chuyện về số đào hoa đáng ngán của mình đến đây là kết thúc được rồi chăng (?)

                      6

 

          Ánh đèn dầu trong nhà có vẻ không được sáng lắm nhưng từ ngoài cổng Hằng đã nhìn rõ trong nhà, anh tự hỏi:

- Sao lại chả có ai ngoài bố mẹ của Phương thế nhỉ (?)

Nghĩ quanh quẩn một lúc không ra cái gì cả, Hằng chỉ còn biết tin vào lời Phương và mạnh dạn bước vào cất tiếng chào:

- Cháu chào hai bác!

Hai bố mẹ Phương có lẽ cũng bất ngờ ngước nhìn lên chào lạiH:

- Anh đến chơi!

Vừa đáp lại lời chào của Hằng, ông bố Phương xê dịch cái ghế để cho Hằng ngồi xuống, vừa lúc ấy mới thấy Phương xách ấm nước từ nhà dưới đi lên. Đổ xong ấm nước nóng vào cái phích sơn đỏ cô liền di chuyển sang đứng cạnh Hằng. Có lẽ cô nghĩ nếu có cô ở bên cạnh thì người yêu có thể mạnh dạn hơn, hoặc giả cô định làm như thế để khảng định về ý kiến ban chiều là hoàn toàn đúng đắn.

Vừa rót nước ra chén ông bố của Phương vừa nhẹ nhàng nói với Hằng:

- Mấy hôm trước tôi thấy cái Phương nó về nói với gia đình về việc anh và nó có sự tìm hiểu với nhau. Chúng tôi cũng tán thành việc ấy, tuy vậy chúng tôi cũng phải báo qua trong nội tộc rồi mới có ý kiến chính thức. Tôi định trong vài ngày tới tôi hỏi ý kiến trong họ cho phải phép là được. Việc này chỉ là làm cho có lệ mà thôi còn việc chính là chúng tôi đã quyết được rồi.

Ông bố Phương đã dừng nói đã khá lâu mà Hằng vẫn chưa đáp lại được một lời nào. Sốt ruột quá Phương đá vào chân Hằng mấy cái liền để nhắc nhở, đến lúc ấy Hằng mới chợt tỉnh, anh dè dặt nói:

- Chúng cháu còn ít tuổi lại chả biết thủ tục thế nào nên có gì thì hai bác chỉ dẫn.

- Thôi được rồi, cứ đến thứ tư tới này rồi mọi việc sẽ đâu vào đấy cả thôi.

Câu chuyện còn được tiếp tục thêm một lúc nữa về công ăn việc làm của Hằng cùng với một vài câu hỏi về quê quán, anh em của Hằng nữa thì buổi gặp mặt kết thúc. Trong lúc Hằng chào bố mẹ Phương thì Phương đã ghé vào tai Hằng nói nhỏ:

- Nhớ chờ em ở đầu ngõ đấy.

Có lẽ chưa bao giờ Hằng ở trong hoàn cảnh căng thẳng đến như thế, kể cả khi đến chơi và tiếp xúc với bố mẹ của Dụng và bố mẹ của Nghi năm, bẩy năm về trước. Nên sau khi chào bố mẹ Phương thêm một lần nữa thì Hằng đi nhanh ra ngoài cổng, vừa đi vừa mong sao cho chóng thoát khỏi không khí căng thẳng vừa rồi. Theo lời dặn của Phương, Hằng đứng chờ có lẽ phải đến gần nửa tiếng mà vẫn chẳng thấy Phương ra,  anh đoán là bố mẹ còn giữ Phương lại để hỏi thêm nhiều chuyện khác nên chưa chắc Phương đã ra được, thế là Hằng cứ một mạch đi thẳng về nhà không đợi nữa.

Về đến nhà Hằng mới thấy vắng vẻ, anh cũng chẳng thắp đèn lên nữa mà ngồi yên lặng trên mép giường như thế để nghĩ về những sự việc đã qua.  Chiều nay mẹ vào chơi nhà chị hai rồi ở lại trong ấy không về nên những điều vừa rồi Hằng chẳng biết nói  với ai. Còn đang suy nghĩ miên man thì nghe có tiếng bước chân từ phía ngoài sân, anh vội đứng lên xem đó là ai mà lại dám vào nhà mình khi đang tối mò như thế, lại còn chẳng chịu đánh tiếng mới lạ chứ. Vừa thò đầu ra ngoài còn chưa kịp hỏi thì anh đã nhận ra người đó là Phương cùng với câu trách móc tuy rất nhỏ nhưng khá là gay gắt:

- Đã bảo chờ em thế mà lại cứ đi tuột về nhà... sao mà nhà tối thế?

- Cứ đứng chờ đấy để anh thắp đèn.

- Này, thế bu anh đã ngủ rồi cơ à?

- Không, bà cụ đi vào trong chị hai đến chiều mai mới về cơ.

- Thế thì đừng thắp đèn nữa, cứ ngồi tối nói chuyện cũng được anh ạ.

Nghe theo lời của Phương anh cũng không thắp đèn nữa, thế là hai người ngồi ngay xuống mép giường của gian nhà bên trái để nói chuyện.

- Sao lâu thế? Anh tưởng bố mẹ không cho em ra nữa.

- Em phải nói khối lý do ra bố mẹ mới cho đi đấy.

- Coi chừng cũng phải về sớm kẻo các cụ ấy lại tế cho một trận đấy.

- Không sao đâu, em đã nói với bố mẹ là em sẽ về nhà cậu mợ để ngủ, các cụ ấy im lặng không nói gì chắc là tán thành rồi.

- Này thế các cụ ấy không nghi ngờ gì thật à?

- Có gì mà nghi ngờ chứ, hơn nữa đã có cái Hoan nó xác nhận hộ nên chẳng có gì đáng ngại anh ạ.

Buổi tối hôm nay mặc dù không có trăng nhưng do bầu trời có khá nhiều sao nên ngoài trời cũng không tối lắm. Tuy không nhìn thật rõ mặt nhau nhưng họ vẫn nhìn thấy hình dáng lờ mờ của nhau. Trong một khoảng thời gian ngắn thôi nhưng họ đã nói với nhau rất nhiều chuyện. Những chuyện về yêu đươngB, những kế hoạch về cưới xin và nhiều nhiều dự định khác. Họ nói với nhau giống như một đôi vợ chồng vẫn bàn bạc với nhau về công việc sau một ngày làm việc trở về. Có lẽ do mải mê nói chuyện nên đến khi Phương chợt đứng lên đòi về Hằng mới nhận ra là trời đã quá khuya, anh phân vân nói với Phương:

- Chắc em Hoan không còn thức để chờ em nữa đâu, em cứ ngủ ở đây mai về sớm một tý là được.

- Em sợ có ai nhìn thấy thì chết mất anh ạ.

- Cũng chỉ còn thời gian ngắn nữa là mọi việc đâu vào đó, lúc ấy chắc chả còn ai nói gì nữa, với lại từ tối đến giờ chả ai thấy chúng mình ngồi với nhau thì còn sợ gì.

Những câu nói vừa rồi chắc đã thuyết phục được Phương nên không thấy cô nói gì thêm nữa. Cùng lúc ấy Hằng thấy hình như Phương không những đã ngồi sát mà còn dựa hẳn vào người anh để ngủ. Hằng nhẹ nhàng đỡ cho Phương nằm xuống giường và buông chiếc màn màu xanh phòng không xuống. Kế đó Hằng ra ngoài hiên kéo tấm liếp đóng kín cửa rồi vào nằm xuống bên cạnh Phương.

Hằng cũng đã nhiều lần nằm cạnh những cô gái mà Hằng đã yêu nhưng chưa bao giờ Hằng thấy cảm giác lạ như lần này. Chả biết có phải anh cảm thấy yên lòng khi anh đã coi Phương như là người vợ của mình thông qua cái quyết định của bố mẹ Phương lúc tối hay là Hằng thấy mình nằm cạnh một cô gái ở ngay trong nhà mình với một ý nghĩ hoàn toàn yên tâm rằng không có ai làm cản trở đến việc này.

Ngay sau khi nằm xuống cạnh Phương với ý định ngủ lấy một lúc thế nhưng khi nằm cạnh cô ấy hai mắt anh cứ dựng lên mà không sao có thể ngủ được. Anh nghiêng người về bên trái vòng tay ôm lấy Phương và kéo cô ấy nằm sát vào với mình. Những cảm giác đặc biệt cứ trào dâng lên làm anh thấy thật khó chịu, vòng tay anh cứ xiết chặt dần thêm.

Mặc dù không thấy Phương có một cử động nào có ý cưỡng lại nhưng cùng lúc ấy anh nghe thấy tiếng Phương nhỏ nhẹ nhưng tỉnh bơ ngay bên má, chẳng có một tý dấu hiệu ngái ngủ nào:

- Sao anh ôm chặt thế?

- Em vẫn chưa ngủ à?

- Ở bên cạnh anh em chẳng thể nào ngủ được, chỉ khi về nhà thì ngủ lăn, ngủ lóc quên cả trời đất.

Sau câu nói vừa rồi hơi thở của Phương hình như gấp gáp hơn, cả Hằng hình như cũng hồi hộp chả kém Phương là mấy. Trong một khoảnh khắc rất ngắn cả hai người họ chợt ôm ghì lấy nhau và hai cặp môi của họ dính chặt vào nhau... Không biết từ lúc nào mọi thứ vải vóc trên người của họ đã không còn nữa, chỉ còn da thịt ấm nóng chạm vào da thịt ấm nóng. Hai bàn tay của họ thay cho ánh mắt thăm dò đến mọi chỗ của nhau cùng với những cảm xúc thật là bay bổng. Những gì cần phải đến đã đến với họ trong sự hưng phấn đến tột độ không cần phải miễn cưỡng bởi bất kỳ một điều gì.

Họ giật mình tỉnh dậy và thật sự lo lắng sợ rằng ngoài trời đã sáng, nhưng thật may mắn khi Phương nhòm qua khe liếp thấy trời vẫn còn mờ tối. Họ thu dọn lại những gì bừa bộn mà họ đã gây ra trong đêm qua rồi cứ ngồi như thế ôm nhau để mà chờ sáng. Ngoài trời vừa mới mờ sáng Phương đã rời nhà để về nhà cậu, cô ấy sợ lúc về mà cậu mợ gặp thì không biết nói ra sao. Còn Hằng cũng đóng cửa, đóng cổng lại rồi đi lên đơn vị. Sớm nay đơn vị sẽ thông báo về việc tuyển dụng lao động của một số đơn vị sản xuất ở quanh huyện và một số trường chuyên nghiệp đóng ngay trên đất Hà Nội.

 

                        RA QUÂN

 

                                1

 

          Từ sáng thứ hai đến hôm nay đã gần ba ngày, có đến mấy đơn vị vào gặp đoàn mà Hằng vẫn chưa tìm cho mình được một công việc vừa ý. Cũng có chỗ có công việc ngay như xí nghiệp ốc vít Tây Mỗ thì công việc sản xuất ở đó nhàm chán, không phù hợp với tính cách của mình. Việc chuyển sang học nghề sửa chữa xe máy thì họ đòi phải học lại từ đầu. Hằng đã học nghề, đã làm bao nhiêu năm ở ngành điện rồi lại về làm quân giới mấy năm liền ở sư đoàn, bây giờ lại đi học từ đầu thì sao có thể chấp nhận được.

Còn một chỗ tuyển làm ngay là về làm nhân viên thuế vụ thì Hằng càng không thích. Đành rằng đây cũng là công việc nhà nước, nhưng Hằng vẫn ngại công việc này từ xưa đến giờ, bởi công việc này va chạm với rất nhiều người. Hơn nữa công việc này dễ làm cho người ta thay đổi tính tình từ chỗ hiền lành trở thành ác độc, từ ngay thẳng trở thành tham lam khi tiếp xúc với của cải vật chất. Chưa nói đến việc có bao nhiêu kẻ dùng tiền của hối lộ nhờ cậy mình bỏ qua cho họ những việc làm ăn phi pháp. Đến khi không thể mua nổi mình chúng có thể dùng các thủ đoạn ác độc để ép mình đi vào con đường ấy. Bản thân mình đâu phải là người đã được miễn dịch đối với các loại khuẩn độc đầy rẫy khắp nơi. Cho dù cái truyền thống không tham của người, từ ông bố có di truyền lại và cả một quá trình tu dưỡng của bản thân đã chắc gì vượt qua được cái bả vật chất mỗi ngày cứ gậm nhấm vào mình trong khi mình đang vướng bởi cái nghèo, cái khó và vì nó mình đã phải bỏ dở bao nhiêu điều tốt đẹp cả trong tiến thân và trong tình yêu hạnh phúc. Mình đâu có phải là người có bản lĩnh siêu việt, để không phải bị quyến rũ vào cái vòng đó. Điều tốt nhất là nên tránh xa những chỗ như thế thì hơn.

Đang lúc buồn chán vì chưa tìm ra được công việc gì phù hợp cho mình thì Hợp đến. Mấy ngày vừa rồi Hợp không phải ở lại đơn vị vì Hợp là thương binh bị thương cứng khớp gối. Tất nhiên là những công việc kia Hợp không thể tham dự được, có chăng là phải có một ngành nào đó có công việc ít phải di chuyển mà lại không cần đến chân mấy thì Hợp mới làm được, vì vậy nên cậu ấy vẫn cứ phải chờ đợi.

          Hợp đến lần này có vẻ không vui lắm, hình như có chuyện gì đó phiền muộn mà Hợp không muốn nói ra. Hằng đoán chắc là có việc gì nghiêm trọng nên cố gạn hỏi:

          - Có gì không vừa ý mà bần thần ra thế?

          - Cũng khá nghiêm trọng đấy anh ạ.

          - Thì cứ nói xem nào.

          - Em không biết anh với Phương quan hệ thế nào nhưng xem ra có chuyện rồi. Buổi tối hôm thứ ba em qua đấy thấy nhà Phương không biết có chuyện gì mà  ầm ĩ cả lên anh ạ.

          Nghe Hợp nói vậy Hằng cũng chẳng biết đầu cua tai nheo ra sao mà trả lời. Chuyện của hai người thì bố Phương đã nói rõ rồi làm gì lại có thể thay đổi nhanh thế được, còn chuyện qua lại của hai người thì không ai biết, với lại dẫu sao họ cũng sẽ lấy nhau, thế thì có gì đáng phải làm cho lớn chuyện.

          - Này thế cậu có nghe được cái gì không thì nói cho tớ biết để tớ tìm cách xử lý chứ.

          - Nói chung là rất tệ, những lời họ nói chắc anh sẽ rất khó chịu.

          - Thì cậu cứ nói cho tớ nghe xem nào.

          - Họ nói thì nhiều nhưng có mấy ý này là căng nhất. Thứ nhất là họ bảo nhà anh không có gốc ở đây, chẳng biết ở đâu cả. Ngày xưa đã phải đi ăn xin, ăn mày, còn bây giờ hoàn cảnh vẫn quá khó khăn. Nếu để con cái nhà mình vào đó thì chắc là sẽ khổ. Nhưng cái chính mà họ không muốn nói ra ấy là hai nhà không môn đăng hộ đối.

          Nghe Hợp nói từ đầu đến lúc ấy Hằng chỉ lặng lẽ nghe mà không nói một lời nào, sau cùng anh thở dài và nói như trong mộng:

          - Cũng chả khác gì nhau cả...

          Hợp thấy Hằng lẩm bẩm vội hỏi lại:

          - Anh bảo cái gì cơ? 

- Chả có gì đâu, chú cứ về đi.

Vừa nói Hằng vừa đứng lên đi về phía cổng của đơn vị, cũng chẳng để ý đến Hợp đang gọi ở phía sau lưng. Mãi đến khi ra đến cổng mấy anh bạn đứng gác gọi lại rồi chỉ về phía sau Hằng mới nhận ra. Anh đi vội trở lại phía Hợp, có lẽ anh không muốn để Hợp phải cà nhắc đi đến với anh là chính, đến khi đối diện với nhau Hợp mới nói:

- Phương nhờ em dặn anh là sáng mai cô ấy sẽ trốn nhà lên gặp anh, anh nhớ đón cô ấy ở cổng chợ Sa đấy nhé.

Hằng nghe Hợp nói xong chỉ gật đầu nhẹ rồi lại quay ra phía cổng doanh trại. Vừa bước chân qua cổng mấy cậu gác lại hỏi giật giọng:

- Về nhà đấy hở?

Vừa nghe hai cậu gác đánh tiếng Hằng liền quay lại bốt gác, tay thì móc bao thuốc đã bóc dở ném cho hai cậu này, miệng thì thủng thẳng nói:

- ừ, tớ về qua nhà tý, anh Đạt C phó đồng ý rồi.

Thực ra Hằng không về nhà mà đi lang thang dọc con đường từ doanh trại vòng ra đường chính lên ngã ba Trạm biến thế 110 KV. Trong đầu anh có hàng chục giả thiết về nguyên nhân sự việc và cùng với nó là hàng chục những phương án để nhằm cứu vãn mối tình của hai người. Nhưng cứ nghĩ đến những người như ông Chắn và những người trong họ nhà Phương anh lại bực giận về những lời nói của họ. Họ đâu có hiểu được bố mẹ Hằng và cả Hằng nữa đã sống trong sáng đến thế nào. Họ đâu có hiểu gia đình nhà Hằng thà sống khổ cực mà không cần nhận một tý vật chất nào của làng xã cấp cho trong thời gian cải cách. Đành rằng có lúc những người thân của Hằng đã phải chìa tay đi xin những phần vật chất rất nhỏ để độ thân, để tồn tại trong cái thời cả dân tộc đói.

Trên đất nước Việt Nam này có được bao nhiêu người từng phải sống như con vật trong suốt những năm phong kiến, thực dân. Có bao nhiêu người từ kiếp tôi đòi giờ đây được Cách mạng đưa lại cho quyền làm người. Họ đâu hiểu được đã có bao nhiêu người từng một thời làm vua, làm chúa và rồi đã có lúc phải xuống làm nô tỳ, làm nàng hầu, làm con sen, thằng ở sống nơi bếp gio, thùng trấu. Trên đời này còn có bao người phải chết đói bởi không làm nổi một kiếp ăn mày.

Anh sẽ phải từ bỏ con gái họ để họ hiểu rằng anh đâu có muốn đến làm thân với họA, đâu phải vì cái đông đàn, đông lũ, vì cái danh giá tông tộc của họ. Nhưng còn Phương? Phương sẽ thế nào khi trong lòng cô ấy đã hoàn toàn tin vào mối tình giữa cô ấy và Hằng. Sự đổ vỡ khác nào xé nát cõi lòng cô ấy. Chả lẽ mình cũng trở thành một người thù hận bình thường như những con người kia chăng, dù sao cũng phải gặp Phương vào ngày mai đã. Những ý nghĩ tích cực trên đã giúp Hằng cảm thấy nhẹ nhõm đi một phần nào. Anh quyết định gặp Phương vào sớm ngày mai như đã hẹn.

Chợ Sa vào đúng phiên nên khá đông, tuy vậy Hằng vẫn nhận ra Phương đang đứng với cô em họ bên  gốc cây đa đầu chợ. Khi hai chị em Phương gặp Hằng rồi thì cô em họ chia tay vào chợ mua hàng. Hằng cầm tay Phương đi qua chợ để lên khu đồi trồng cây nằm phía bắc chợ Sa. Thực ra khu đồi này chính là dấu tích Loa Thành của vua An Dương Vương mấy ngàn năm về trước, giờ đây người ta trồng những cây trám, cây mít, cây ổi và một vài loại cây ăn quả khác. Bên dưới gốc các cây to ngưòi ta trồng một vài trăm hom sắn, mỗi năm thu hoạch một ít củ để ăn. Ngoài ra đồi còn mọc tự nhiên lên một số loại cây hoang dại làm thành những bụi rậm cao gần ngập đầu người vì thế nên Hằng và Phương đi vào đó cũng ít có người nhìn thấy được. Hai người chọn một chỗ khá xa làng xóm để tránh gặp người lui tới.

Cả hai người cứ lặng lẽ đi mà chẳng ai chịu cất tiếng làm tăng thêm sự căng thẳng. Chỉ đến khi dừng lại nhìn vào mắt Phương mới thấy hình như cô khóc quá nhiều. Cứ mỗi lần nhìn vào hai mắt của Phương là trong lòng Hằng lại cảm thấy như có muối xát. Chưa bao giờ anh lại cảm thấy lòng mình xót xa đến như vậy. Anh dùng cả hai tay kéo Phương gần lại với mình, chỉ chờ như vậy là Phương ôm chặt lấy người yêu rồi im lặng để cho nước mắt chảy dài trên má. Hằng cũng ôm chặt lấy Phương để mặc cô khóc trong im lặng, anh nghĩ có như vậy cô ấy mới có thể trấn tĩnh lại được. Quả nhiên anh đã đoán đúng điều đó, vì chỉ sau mươi phút thả lỏng mình trong lòng người yêu cô đã không còn khóc nữa. Hai tay cô lỏng dần, ngước lên nhìn vào mặt Hằng và nói chậm từng tiếng một:

- Em biết là anh rất giận những người trong họ nhà em, mong anh thông cảm cho họ, để rồi em sẽ nói cho họ hiểu ra.

- Anh cũng mong là thế.

- Em cũng không ngờ được anh ạ! Mọi việc tưởng như đã ổn thoả cả, vậy mà sau lúc em xuống dưới bếp tự nhiên thấy ầm ĩ cả lên, thậm chí bố mẹ em cũng không còn bình tĩnh được nữa.

- Sao anh nghe nói cả bố và mẹ em cũng đã tuyên bố không chấp nhận quan hệ của chúng ta.

- Em cũng không biết người ta đã nói những gì trong lúc em không có ở đó. Có lẽ có một người nào đó đã khơi ra cái quy ước cũ của họ nhà em.

             - Theo em thì nên làm như thế nào bây giờ?

- Em sẽ thuyết phục bố mẹ em dần thôi anh ạ.

- Anh sợ em không làm được, vì cái chuyện môn đăng hộ đối, rồi thì giầu nghèo từ lâu đã ăn sâu vào họ.

- Chỉ cần anh chờ đợi, mấy lại đừng nổi giận với họ là được.

Dù nói với nhau như thế nhưng trong lòng họ cũng không tin lắm vào những dự kiến của mình. Tuy nhiên trong lúc này thì họ cũng chỉ còn biết chờ đợi chứ còn biết làm gì. Họ chia tay nhau sau rất nhiều cử chỉ âu yếm để tự động viên, an ủi nhau vượt qua trở ngại.

Tuy rằng bố mẹ Phương cấm cô gặp Hằng nhưng bằng cách này cách khác cô vẫn đến gặp được anh. Khi thì tranh thủ đến lớp sớm hoặc về trước giờ để vào gặp người yêu. Mỗi lần như thế họ lại hỏi về xem tình hình đã tiến triển đến đâu rồi và lại thở dài chờ đợi.

Đã gần một tháng trôi qua trong tình trạng gặp gỡ tranh thủ như vậy mà Phương vẫn chưa thuyết phục được bố mẹ và những người trong họ. Mỗi lần gặp nhau họ cũng chỉ còn dành cho nhau chút tình yêu như ban đầu vậy thôi.

Tuần này cũng đã là bốn tuần Hằng lấy giấy giới thiệu đi liên hệ công tác. Anh đã đi đến hàng chục nhà máy xí nghiệp mà vẫn chưa xin được ở đâu. Chỗ nào họ cũng đòi hỏi hộ khẩu gốc ở Hà nội, mà hộ khẩu của Hằng thì lại ở Thanh Hoá.

Chiều nay anh dự định sẽ vào Xí nghiệp sửa chữa thiết bị điện Đông Anh để xin việc, đây là một đơn vị trong ngành điện, đơn vị cuối cùng có công việc hợp với ngành học cũ của anh. Gần ba mươi phút chờ đợi mới thấy ông trưởng phòng tổ chức đi họp về. Sau mấy câu chào hỏi thủ tục ông cầm đơn của Hằng lên xem rồi ông hồ hởi nói luôn:

- Thế này nhé! Tớ sẽ nhận cậu về làm việc được chưa nào. Hộ khẩu à, không cần đâu chỉ cần quyết định ra quân và hồ sơ của cậu là được.

Hằng mừng quá đến nỗi không biết nói gì với ông trưởng phòng có giọng nói miền Nam này, anh cứ ú ớ trong miệng mà mãi không thoát ra được.

- Thôi cứ về chuẩn bị đi, thứ tư này mang đến cho tớ xong là đi làm ngay đấy nhé, thôi về đi bây giờ tớ cũng phải sang Hà Nội để họp  đây.

Nói xong ông nhanh nhẹn bước ra khỏi phòng trước cả Hằng. Đến lúc Hằng quay ra thì chỉ còn một người vẫn ngồi ở chiếc bàn kề ngay cửa ra vào. Anh cất tiếng chào chiếu lệ rồi bước nhanh ra khỏi phòng lòng mừng khấp khởi.

Ra khỏi cửa anh lại giật mình chợt nghĩ R: Lại thứ tư! Vừa mới thứ tư “khủng hoảng” xong bây giờ lại thứ tư dễ lại xôi hỏng bỏng không lắm!

Thứ tư cùng với sự mong đợi cháy ruột, cháy gan rồi cũng đã đến, Hằng đến cửa phòng tổ chức sớm hơn đến gần ba mươi phút và phấp phỏng chờ đợi ở một cái ghế ngoài hiên. Thời gian mỗi lúc một dài, từ lúc có đôi ba người đến các phòng ban bên cạnh làm việc đến lúc các phòng ban này đã đầy người vẫn chưa thấy ông trưởng phòng tổ chức ấy đâu. Nhìn đi, nhìn lại vẫn chỉ thấy có mỗi một ông nhân viên ngồi gần phía cửa hôm trước đi vào mà chẳng thấy có ai vào thêm nữa. Đến lúc này thì Hằng không còn cách nào hơn là vào hỏi ông nhân viên nọ xem sao. Bước chân vào cửa phòng anh chợt nhận ra rằng ông nhân viên hôm nọ không ngồi ở chỗ cũ mà ngồi ngay vào chỗ của ông Hược trưởng phòng vẫn ngồi. Hằng khẽ dặng hắng đánh động để cho ông nhân viên ngẩng đầu lên, thế là Hằng tranh thủ ngay lúc đó để cất lời:

- Anh cho hỏi bác Hược hôm nay có đi làm không ạ?

Ông nhân viên vừa ngắm Hằng như muốn cố nhớ xem người này là ai rồi từ tốn hỏi lại:

- Anh gặp bác Hược có việc gì thế?

- Tôi được bác ấy hẹn gặp để làm thủ tục xin vào xí nghiệp ạ.

- À thế thì tôi biết rồi, hôm thứ bảy tuần trước anh đến làm việc với bác ấy có phải không?

- Vâng đúng thế ạ!

- Rất tiếc cho anh là bác ấy phải đi Nam để nhận nhiệm vụ mới từ chiều hôm trước mất rồi.

- Thế còn công việc của tôi, bác ấy có trao đổi lại với ai không ạ?

- Hôm ấy tôi cũng đã biết ý kiến của bác Hược nói với anh, nhưng do mới tiếp cận công tác này nên tôi cũng chưa biết cách xử lý ra sao với trường hợp không có hộ khẩu gốc ở Hà Nội. Tuy nhiên tôi có thể hứa với anh rằng tôi sẽ ghi nhớ việc này để đưa vào kế hoạch xin điều động của công ty trong năm tới. Lúc ấy chỉ cần có quyết định là có thể nhập khẩu được.

- Vấn đề là từ nay đến sang năm tôi sẽ phải làm thế nào để có quá trình công tác liên tục được.

- Có lẽ anh cứ về đơn vị cũ sau đó để địa chỉ lại, tôi hứa sẽ giúp anh thật sự.

- Cũng đành phải chấp nhận vậy thôi, địa chỉ đơn vị cũ tôi cũng đã ghi đầy đủ trong đơn và hồ sơ rồi, xin gửi lại nhờ anh giúp hộ vậy.

Sau một vài câu trao đổi và hứa hẹn, Hằng bắt tay ông trưởng phòng mới của Xí nghiệp thiết bị điện Đông Anh rồi ra về. Trên dọc đường từ xí nghiệp ra đến đường chính Hằng chợt lại nhớ đến sự linh cảm hôm nọ, anh cũng không hiểu thế nào mà sự việc lại linh nghiệm đến thế. Thôi thì cứ trở lại Thanh Hoá để làm việc trong một thời gian đã, vừa là để chờ đợi, vừa để cho có thời gian dài hơn một chút cho Phương vận động gia đình. Rời khỏi Xí nghiệp sửa chữa thiết bị điện, Hằng liền về đoàn an dưỡng đăng ký xin phục viên về đơn vị cũ. Ban chính sách cũng chẳng có khó khăn gì khi ghi lại ý kiến của anh vào phần ghi nguyện vọng của quân nhân.

Anh về đến nhà thì trời đã nhá nhem tối. Đặt mình lên chiếc giường xong liền ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đến khi mẹ đi chơi trong chị ba về thì trời  tối đã lâu rồi. Anh chỉ giật mình choàng dậy khi thấy mẹ đang bỏ màn xuống cho anh, anh vội lên tiếng:

- Con chưa ngủ đâu, mẹ cứ để đấy cho con.

Nghe nói thế bà cụ lại vén màn trở lại rồi ngồi xuống bên cạnh con trai:

- Thôi con ạ! Để rồi tìm chỗ khác. Khối người thiên hạ về làm dâu làng này chẳng những tháo vát lại khéo cả đường ăn ở ví như mấy chị ở xóm Giữa, xóm Đình ấy.

Hằng không nói gì về những lời khuyên của mẹ, anh buồn rầu nói:

- Sắp tới con phải trở lại Thanh Hoá. Con chỉ mong có người đỡ đần mẹ trong lúc con đi vắng là được.

- Chả lẽ lại không xin ở gần được à?

- Con cũng cố gắng lắm nhưng không được.

- Chắc anh lại bực mình mà xin đi xa chứ gì!

- Không phải đâu mẹ ạ!

- Thôi đấy là tuỳ anh, bây giờ các anh đã có lông, có cánh bay đâu mà chả được, vợ con không lo để trơ lại cái thân già này chết khô chết héo chứ gì?

Nghe mẹ nói thế Hằng cũng cảm thấy cay cay ở sống mũi, anh cố trấn tĩnh vừa cười vừa trêu bà cụ để cho không khí trong nhà đỡ nặng nề hơn:

- Cụ ơi! Chỉ sợ rồi cụ lại réo lên rằng tôi mệt quá rồi, sao mà các anh, các chị đẻ nhiều đến thế không biết được.

- Được thế thì phúc nhà tôi đã to bằng cái đình.

Cứ nghe giọng nói của cụ, Hằng đoán cụ không còn giận mình nữa, cụ chỉ nói dỗi vậy thôi. Biết vậy là đã ổn, Hằng đứng lên chào mẹ rồi đi vào trong làng.

- Nhớ về mà coi nhà đấy, tao đi ngủ sớm, mai còn phải vào trong anh Thiện để giúp cho vợ chồng nó vài buổi cỏ.

Hằng mới đi khỏi nhà chưa quá trăm thước đã gặp Phương chờ ở đó:

- Đã hẹn thế sao mãi mới ra, tý nữa thì em về mất.

- Anh nằm chờ tối hẳn rồi chợp mắt ngủ quên mất, bà già không động vào màn thì có lẽ vẫn đang còn ngủ.

Thực ra Hằng là người rất ít ngủ, mỗi ngày anh ngủ không quá sáu giờ đồng hồ nhưng vẫn thấy bình thường. Có thời gian thức liền hai ba ngày sửa chữa nhưng anh cũng không phải ngủ bù. Chắc do thời gian vừa qua gặp nhiều chuyện phải suy nghĩ căng thẳng nên thần kinh có vẻ mệt mỏi mà thôi. Phương đâu có biết Hằng gặp bao nhiêu là chuyện trong thời gian qua.

- Tình hình ở nhà em bây giờ thế nào rồi?

- Vẫn thế thôi, em muốn cho tình hình lắng dịu đi một chút anh ạ.

Hằng thấy sốt ruột, tuy vậy anh lại không muốn làm Phương buồn nên anh chẳng nói gì thêm.

- Hôm nay anh bị bà cụ mắng cho một mẻ tý nữa thì to chuyện, về sau anh phải tìm cách làm dịu đi rồi mới ra đây được đấy.

- Mẹ anh mắng vì lý do gì  thế?

- Chung quy vẫn chỉ là chuyện không chịu lấy vợ, với lại hình như hồi này cụ yếu hơn dạo trước nhiều.

- Thế anh nói với cụ thế nào?

Dù vẫn nghe Phương hỏi nhưng anh lại không trả lời mà nói sang đề tài khác:

- Thực ra việc ấy chưa hẳn làm cụ buồn phiền bằng việc anh phải quay lại cơ quan cũ ở Thanh Hoá.

Vừa nghe Hằng nói phải đi Thanh Hoá, Phương giật mình vội hỏi lại ngay:

- Anh lại đi Thanh Hoá? Thế còn chuyện của mình anh tính thế nào?

- Anh cũng đã đi xin việc khắp nơi mà không được, nên đành phải chấp nhận vậy thôi. Phần vì anh muốn mình xa nhà một thời gian để em có cơ hội vận động bố mẹ và họ nhà em khách quan hơn.

- Em sợ xa nhau rồi mọi cái sẽ ...

Không để Phương nói hết câu Hằng lại tiếp luôn cái kế hoạch mà anh chợt nghĩ ra:

- Anh định vào đấy một thời gian, nếu công việc dễ xin thì xin cho em vào đó. Khi đã ở trong cơ quan rồi mình tổ chức, chắc là  không ai ngăn cản.

- Em sợ, có khi mình cũng phải...nhanh kẻo lỡ ra sẽ không kịp anh ạ.

- Chả lẽ em đã...

- Kỳ vừa rồi em không...với lại em thấy có vẻ khang khác thế nào ấy!

Câu chuyện đến đây đã làm cả hai người lo lắng thực sự, tuy vậy Hằng vẫn động viên Phương:

- Nếu vậy em cứ theo anh vào Thanh Hoá là mọi sự sẽ giải quyết được hết.

- Chắc nhà chẳng chịu cho em làm thế đâu anh ạ.

- Em cố tìm xem có cách nào không.

- Độ bao giờ thì anh đi?

- Chắc là vào đầu tháng mười tới, em sẽ đi tiễn anh chứ?

- Hồi này các cụ ấy giám sát chặt lắm, không biết em có đi tiễn anh được hay không. Em sợ các cụ ấy làm dữ rồi ảnh hưởng đến anh.

- Thôi thế để sau viết thư cũng được.

Hai người chia tay sau một loạt những đoạn kể lể và trêu chọc lẫn nhau không đầu không cuối. Trời về khuya không khí đã hơi lạnh thổi vào cơ thể hai người, họ dùng dằng một lúc rồi mới chịu rời nhau ra, mỗi người đi về một ngả. 

                                                     2

 

Sau khi chen chúc đến ngột thở Hằng cũng mua được chiếc vé tầu đi Thanh Hoá. Tiếp theo là một cuộc vạ vật trên những bao ngô của một toa tầu có hai ghế chạy dọc thành toa. Loại toa chuyên dùng cho những con buôn hàng cồng kềnh vào Nam ra Bắc. Hằng xuống ga khi trời vừa sáng được một lúc, anh đi dọc con đường nhựa đã bong gần hết để vào trụ sở của nhà máy điện. Ngày anh đi bộ đội nhà máy còn đóng nhờ nhà dân nơi sơ tán, đến bây giờ thì nhà máy đã có cơ sở mới thật khang trang. Các phòng ban làm việc ở trong những gian nhà ngói khá rộng và sạch sẽ, so với thời chiến tranh thì bây giờ đã tốt lắm rồi.

Người tiếp anh là ông trưởng phòng tổ chức mới mà anh không biết tên. Ông cán bộ này khá niềm nở và nhiệt tình, ông nói:

- Anh chờ một chút phòng sẽ viết quyết định tiếp nhận. Về công việc thì nhà máy có thể giải quyết theo hai hướng, một là có thể về chính đơn vị cũ hai là bố trí về đơn vị mới theo nguyện vọng.

Ông dừng lại như có ý chờ xem anh có ý kiến gì không, thấy anh không tỏ vẻ khó chịu và xem ra còn có phần ưa chấp hành hơn là đòi hỏi, ông liền cất tiếng tiếp tục:

- Nếu anh thấy sức khoẻ không tốt thì có thể về làm nhân viên ngay ở phòng tổ chức, phòng hiện vẫn đang cần bổ sung thêm vài người nữa.

- Báo cáo đồng chí trưởng phòng, tôi vốn quen với công việc trực tiếp, có lẽ cứ cho tôi về đơn vị cũ.

- Thôi thế cũng được, anh cứ cầm giấy giới thiệu này về gặp ông Đính quản đốc phân xưởng cơ điện ở khu Lán ổi cũ rồi chúng tôi sẽ gửi quyết định sau.

Hằng lại về tổ sửa chữa máy của phân xưởng cơ điện, nơi ngày xưa Hằng đã làm việc tại đó, và cũng từ nơi đó Hằng đã ra đi suốt sáu năm qua. Những người của tổ máy cả cũ, cả mới, rồi thì cả phân xưởng đều đến thăm hỏi và chúc mừng Hằng. Những câu chuyện chiến trường của Hằng thu hút mọi người suốt từ tối đến đêm khuya. Những bác thợ già tóc bạc, những người bạn cùng trang lứa với Hằng, cả những bà chị trong khu công nhân còn đem cả lũ trẻ đến chơi. Những thay đổi từ ngày Hằng đi vắng được dịp nói ra để cho Hằng và tất cả mọi người cùng nghe. Cuối cùng thì cũng có người đặt ra một câu hỏi về chuyện vợ con của Hằng. Câu hỏi tuy rất thông thường nhưng lại hoá ra quan trọng, quan trọng đến nỗi có người suýt xoa rằng:

- Đấy, bao nhiêu là chuyện mà vẫn quên cái đoạn này đấy nhớ!

- Thì cũng phải dần dần chứ, một lúc nói sao cho hết được. 

Hằng còn chưa kịp trả lời câu hỏi đã có người đã tiếp ngay:

- Chắc là có rồi chứ? Ba mươi rồi còn gì!

- Dạ... cũng do cứ ở chiến trường suốt nên vẫn chưa có gì cả ạ.

- Thế thì phải nhanh lên chứ không lại cha già con cọc như tớ thì chán chết.

- Số cùng lứa với cậu có đứa đã hai con rồi đấy.

Những đợt thăm hỏi và những câu chuyện rồi cũng thưa dần. Hằng đã trở về với hình ảnh cũ, còn mọi người rồi cũng bận với công việc chung, công việc riêng nên không còn quan tâm mãi đến Hằng được. Xung quanh Hằng bây giờ chỉ còn những người bạn cùng khoá và những người cùng làm trong một tổ sản xuất. Có chăng thêm vài người cũng quan tâm đến Hằng là mấy cô, mấy chị ở tổ sửa chữa điện; những người hàng ngày vẫn làm cùng một chỗ với tổ của Hằng.

Điều làm cho họ gần gũi với Hằng vì một lý do rất dễ hiểu đó là tình thương luôn đầy đặn của người phụ nữ nói chung với những người có hoàn cảnh éo le và không may mắn cũng như những người luôn bị thiệt thòi, kém cạnh do đồng loại gây ra. Đối với những người bị thiệt thòi, kém cạnh do phải hy sinh quyền lợi của mình cho dân cho nước thì lại càng làm họ yêu quý và cảm thông dẫn đến thương yêu nhiều hơn nữa. Cũng chính vì điều đó nên ở đâu và bất cứ chỗ nào họ cũng cố tìm ra trong bè bạn, trong đồng đội xem có ai đó có con gái, em gái để mà giới thiệu cho Hằng. Họ mong sự giúp đỡ của họ phần nào đó để Hằng cũng có hạnh phúc như họ. Thế còn những người đồng giới với Hằng họ có ý nghĩ đó không? Cũng có đấy, thậm chí những điều họ muốn tạo ra cho Hằng những gì là hạnh phúc còn cao hơn, nhiều hơn những người phụ nữ.

Người ta gắn bó với nhau, thân quý nhau và nhớ mãi về nhau cũng bởi cái tình đồng cảm và cao hơn là sự lo lắng cho nhau, quan tâm đến nhau mà chẳng ai phải yều cầu, chẳng ai phải ra lệnh. Đó chính là cái người nhất của con người vậy! Hằng cảm thấy mình thật hạnh phúc, thật biết ơn mỗi khi nghĩ về điều ấy. Có lẽ đấy là chất xúc tác nuôi lớn thêm lòng yêu người, lòng vị tha của Hằng trong những năm sau này.

Cũng từ những quan tâm của mọi người mà lắm phen Hằng rối hết cả lên và rồi chẳng còn biết thế nào mà hưởng ứng nữa. Hôm thì phải tiếp cô Mão cháu bà Nhung làm ở Đường sắt, lúc lại phải tiếp cô Lạn trưởng cửa hàng thực phẩm. Lắm người còn rỉ tai bảo Hằng đến tán tỉnh mấy cô bé con của mấy anh chị cùng trong phân xưởng mới độ mười bẩy, mười tám tuổi vẫn gọi Hằng bằng chú mới chết chứ. Họ dẫn ra khối cặp vợ chồng lệch nhau đến hai mươi tuổi để bảo rằng việc đó là không sai. Những lúc như thế Hằng chỉ còn biết cười tủm, gật đầu lấy lệ rồi chào mà đi chứ còn biết làm sao được.

Công việc sửa chữa ngày một nhiều thêm làm cho cả tổ bận tối tăm cả mặt mũi. Công việc cuốn Hằng đi như những ngày nào làm cho Hằng tạm quên đi nhiều điều còn đang mắc mớ trong lòng. Tuy vậy Hằng cũng đã tranh thủ về qua Minh Đức để xem Nghi bây giờ thế nào. Mọi cái hình như đã khác trước nhiều, mà cũng phải thôi, đã hơn sáu năm rồi còn gì. Bãi cát, và hàng phi lao chắn sóng vẫn còn đó nhưng nhà thì không thấy đâu. Thực ra Hằng cũng không muốn sẽ gặp Nghi trực tiếp bởi Hằng sợ làm gia đình Nghi khó nghĩ khi Hằng ở mặt trận về, còn Nghi thì đã không chờ nữa hoặc giả người chồng của Nghi sẽ nghĩ thế nào về vợ mình khi tự nhiên lại gặp một người đã từng gần gũi với vợ của mình và rồi mọi tưởng tượng, mọi ngờ vực sẽ làm rạn nứt hạnh phúc của họ. Hằng đi loanh quanh một lượt, chợt gặp một quán nước ven đường, Hằng quyết định vào đó uống nước để rồi tìm cách hỏi thăm về Nghi.

Sau khi đã uống được một nửa cốc nước chè xanh, Hằng đặt cốc xuống giả như vô tình hỏi bà chủ quán:

- Ngày xưa, hình như cháu thấy nhiều gia đình sống ở gần bể lắm thế mà nay sao lại không thấy bác nhỉ?

- Họ ngại gió bão với lại hợp tác đã cho họ chuyển đi chỗ khác rồi anh ạ.

- Họ ở có xa đây không bác?

- Cũng không xa lắm đâu, anh quen nhà ai tôi chỉ cho.

- Cũng không quen lắm bác ạ, chỉ có lần đi tham quan cháu nghỉ nhờ nhà một ông cụ chuyên chữa thuốc Nam mà có cô con gái tên là Nghi ấy ạ.

- Thế thì nhà ấy đã chuyển lên kia kìa.

Hằng đứng lên ngó theo tay bà cụ gật đầu ra vẻ đã nhận ra rồi hỏi tiếp:

- Chả biết cô con gái ông cụ có còn công tác hay đã về rồi bác nhỉ?

        - Nó lấy chồng ở đâu xa lắm cách đây đã mấy năm rồi còn gì.

- Có chắc không bác?

- Sao không? Chỉ có điều là nhà chồng nó thì tôi không biết.

- Thế còn cô em cô ấy bác có biết không?

- Tôi lạ gì nó, cũng có gia đình rồi.

Hằng còn hỏi bà cụ thêm một vài câu hỏi về địa danh các vùng lân cận để cho câu chuyện tự nhiên hơn rồi đứng dậy trả tiền nước.

Về đến nhà thì trời đã muộn, anh lấy cơm tập đoàn về nhà rồi ngồi ăn ngay trước cửa. Mấy anh chị ở khu gia đình đi qua vừa cười, vừa trêu làm cho Hằng quên đi bao buồn bã trong lòng. Trở lại Minh Đức lần này thực ra chỉ để xác nhận lại những điều anh Yên là người ở Ngư Lộc đã cho biết từ mấy hôm trước mà thôi. Dù sao thì mọi việc đã đúng như dự định của Hằng khi anh chia tay Nghi đi chiến trường ở ga Thị Long năm ấy.

Hằng đi xem phim ở bãi Hàm Rồng về đã hơn mười giờ mà Đoài vẫn chưa về nhà. Hằng vừa dọn giường vừa lẩm bẩm: Không biết cậu này họp hành gì mà muộn thế không biết? Cũng chưa kịp buông màn đi ngủ thì nghe gõ cửa, Hằng đoán là Đoài về liền cất tiếng:

- Cửa khép hờ đấy, cứ đẩy mà vào.

- Đã ngủ rồi cơ à, sao sớm thế? Dậy mà nhận thư đây này.

Hằng bật dậy đón lá thư từ tay Đoài ném cho, chỉ mới nhìn dáng chữ ngoài bì Hằng đã nhận ra đó là thư của Phương, anh vội xé bì thư mở ra đọc.

- Thư của cô nào mà chữ đẹp thế không biết?

- A... à thư của cô em đấy mà.

Hằng mong bức thư này lắm, vì có thể trong đó sẽ có tin về sự thay đổi của gia đình và họ hàng nhà Phương, hoặc không thì cũng có ý kiến của Phương về việc có đi vào Thanh Hoá hay không.

Những hàng chữ xiên xiên màu xanh đều đặn lướt nhanh dưới mắt của Hằng, anh sốt ruột đón nhận các tin tức nên chẳng để ý đến những mở đầu tình tứ mà lướt qua một lượt từ đầu đến cuối, sau đó anh mới đọc lại từ đầu. Anh cũng không biết vui hay buồn khi Phương thông báo về “sự cố” hôm trước đã không có gì xảy ra. Tất cả những điều Phương muốn nói với Hằng là xin hãy chờ đợi cô ấy... Điều anh mong đợi là nếu không có sự cải thiện về không khí căng thẳng của gia đình Phương thì “sự cố” đó là sự đã rồi để mọi người sẽ phải chấp nhận và cô ấy sẽ vì nó mà mạnh dạn hơn, có thế mọi việc mới có thể tiến triển được. Nhưng việc đó đã không xảy ra.

Anh không lạ gì tính cách của tất cả mọi người ở cái làng quê ấy, đó là sự an phận làm ăn tại nơi chôn nhau, cắt rốn mà chẳng muốn đi đâu. Cho dù tại cái nơi quê ấy thật sự vẫn còn rất nghèo túng và khá lạc hậu về văn hoá. Mỗi người, mỗi nhà chỉ mong sao nhà mình có cót thóc đầy hơn nhà khác mà chẳng bao giờ nghĩ rằng mình còn thua xa những người ở các làng trong một xã. Những người con gái như Phương dễ gì dám bỏ làng để đi, bởi có bao cô gái làng lấy chồng ở nơi khác nào đã thấy ai khá giả được đâu. Khi ra đi đã vậy còn lúc cha mẹ, anh chị em có công kia việc nọ, lúc phải quay về.

Cái sợ bóng, sợ gió qua những lời đàm tiếu, chê bai của người làng trong bao câu chuyện hàng ngày. Huống chi thân gái dặm trường, biết đâu số phận thế nào... Những điều Hằng nghĩ và dự đoán thường ít khi sai lắm và chính vì thế mà anh thật là buồn. Hằng lặng lẽ buông màn rồi tắt đèn đi ngủ, ở giường trong chắc Đoài cũng đã ngủ, tiếng ngáy nhè nhẹ của Đoài đã đều đặn cất lên.

Đêm đã trôi qua gần hết mà Hằng vẫn không sao ngủ được bởi bao điều vương vấn trong lòng. Anh thầm nghĩ và tự phàn nàn về những trở ngại mà anh đã trải qua. Có bao điều khi mở đầu thật là sáng lạn ấy vậy mà về sau thì lại cứ chuội ra khỏi cái quỹ đạo đẹp đẽ ấy, tất cả giống như những thước phim lần lượt hiện về.

                                                         ***                                                                                                                   

Sáng nay chủ nhật, Hằng lấy xe đạp của Đoài xuống thư viện thị xã mượn vài cuốn sách để về nhà đọc. Cô gái coi thư viện khá quen với Hằng ghé mắt nhìn anh lật giở các tấm thẻ ghi tên sách rồi khẽ khàng nói:

- Loại sách mà anh hay mượn hầu như chả còn bộ nào nguyên vẹn đâu.

Hằng cũng chẳng thèm ngước lên mà trả lời như một cái máy:

- Cô giới thiệu cho một vài cuốn có nội dung khác xem nào.

- Anh thử xem một số truyện ngắn của ta xem sao, số tác phẩm mới này có nhiều chủ đề phong phú lắm anh ạ.

- Tôi lại ưa đọc các tiểu thuyết dài hơi hơn...! Cô có biết “Sông Tha Mi trong xanh” này có nội dung gì không?

- Hình như đó là truyện viết về các lãnh tụ của Mông Cổ thì phải anh ạ.

- Thế thì cô cho tôi mượn cuốn này vậy.

Hằng mang thẻ và giấy kê tài liệu cho cô thủ thư rồi cầm lấy cuốn sách dầy cộp lên ngắm nghía. Anh chào cô thủ thư rồi bước ra khỏi thư viện sau khi đã ký nhận vào thẻ mượn.

Đang lang thang dọc đường khu phát hành sách để về nhà Hằng chợt thấy hai cô gái không quen vừa vẫy, vừa gọi rối rít về hướng đi của mình. Anh quay đi quay lại thấy chẳng có ai ngoài mình ra, thế là anh dừng xe tiến về phía hai cô gái.

- Anh ơi...nhờ anh xem giúp cho em cái khoá xe một chút ạ.

- Thế nó bị làm sao?

- Dạ... em mở mãi không được ạ.

- Thế có nhầm chìa khoá không?

- Chúng em chỉ có mỗi một cái này thôi ạ.

Hằng cúi xuống cầm chiếc chìa khóa vặn đi vặn lại mãi mà cái khoá vẫn cứ im như thóc. Hết lôi ra lại cắm vào đến toát mồ hôi mà cũng chẳng ăn thua gì. Chán nản, anh đã định khuyên các cô khênh xe đến chỗ ông thợ khoá nhưng rồi lại cúi xuống cố thêm một lần nữa. Lần này anh hơi ấn cái chìa xuống một chút rồi mới vặn. Vừa mới hơi xoắn một chút đã nghe thấy cách một cái thế là cái càng khoá đã được mở ra. Đến lúc này Hằng mới nhận ra rằng loại khoá này dùng lâu và dùng nhiều lượt nên đã bị mòn các răng cưa, chỉ ấn xuống một chút là mở được. Anh thử đi thử lại sau đó hướng dẫn hai cô gái tập mở một vài lượt rồi mới dừng tay.

Vừa loay hoay tìm cách lau mấy ngón tay bẩn anh vừa hỏi:

- Các cô công tác ở đơn vị nào thế?

- Chúng em ở Công ty xây lắp điện anh ạ.

- Công ty đóng ở đâu mà sao tôi chẳng thấy có tiếng tăm gì nhỉ?

- Công ty đóng ở Hàm Rồng anh ạ.

- Chả lẽ nó ở mấy cái nhà trên đồi hướng ra sông Mã ấy à?

- Dạ đúng đấy ạ.

- Thế các cô về thăm nhà lên à?

- Chúng em đi họp ở ngoài đó về đấy chứ.

- Thế sao các cô lại đi ngược lại?

- Chả là khu công nhân của chúng em lại đóng ở Mật Sơn anh ạ... Lúc nào rỗi mời anh vào chơi.

- Nhưng biết các cô có tiếp không.

- Có chứ! Thế nào anh cũng đến nhé.

- Nhưng mà biết hỏi ai mới được chứ.

Nghe đến đây thì bỗng nhiên hai cô gái chợt hơi lặng đi một chút rồi thì thầm nói với nhau điều gì không rõ. Đến lúc Hằng đã lên xe mới thấy hai cô vừa cười vừa nói:

- Anh cứ hỏi thăm tên là Thái ở tổ lắp điện là đến anh ạ.

- Được rồi, nếu có dịp thuận tiện tôi sẽ vào chơi.

Hằng vừa đạp xe vừa nghĩ luẩn quẩn về hai cô gái hỏng xe vừa thấy buồn cười vì chỉ một tý nữa thôi là mình bắt các cô ấy khênh xe đến hiệu khoá. Mà hình như Công ty này là nơi vợ cậu Đạc công tác thì phải, thật toàn những chuyện gặp gỡ ngẫu nhiên không thể tưởng tượng được. Hai cô gái này cũng khá đấy chứ, để rồi hỏi thăm cậu Đạc xem thế nào...

Mấy hôm trước Hằng đã nói chuyện cho Đạc nghe cuộc gặp gỡ với hai cô gái và nhờ cậu ta thăm dò xem cô Thái này thế nào. Cũng chẳng biết vợ chồng cậu Đạc thế nào, không những chẳng tìm hiểu được gì mà còn nói hết tất cả cho cô ấy biết, thế là cô ấy hẹn gặp cho bằng được. Duy chỉ có một điều hơi lạ là Đạc đã kể khá tỷ mỉ về tình tiết gặp mặt hôm ấy nhưng Thái vẫn chẳng nhớ Hằng là ai. Cũng không còn cách nào hơn là phải ra mặt để tỏ rõ mọi việc vậy thôi. Thật không may cho Hằng là suốt mấy ngày nay lại phải làm cả ngày lẫn đêm để xử lý sự cố của nhà máy nên  đành phải viết thư cho Thái hẹn gặp vào dịp khác.

Gần một tháng trôi qua trong bận rộn, hôm nay mọi việc nhà máy mới xong. Chiều qua Hằng đã dặn Đạc hẹn với Thái là sẽ đến thăm vợ chồng Đạc, sau đó sẽ sang thăm Thái. Cũng không hiểu thế nào mà hôm vừa rồi nhận được thư thấy cô ấy nói vẫn chưa nhớ được cuộc gặp gỡ ấy ở đâu. Hằng cứ phân vân không hiểu tại sao, chả lẽ sự việc xảy ra chưa đến một tháng rưỡi mà cô ấy đã quên ngay được hay sao. Dù sao thì cũng cứ gặp cái đã rồi tính sau.

Sáng nay chủ nhật, Hằng đi cùng với hai người bạn vào thăm nhà Đạc ngay từ sáng sớm. Hai vợ chồng Đạc ra tận cổng khu tập thể để đón ba người vào nhà. Chỉ mới vừa vào đến cửa nhà Đạc, Hằng đã thấy hình như có rất nhiều cặp mắt ở các chỗ kín đang nhìn ngắm mấy ông khách trẻ. Biết vậy nhưng Hằng vẫn cứ tự nhiên bước vào nhà Đạc giả như không có chuyện gì xảy ra.

Cũng chỉ sau mươi phút hàn huyên với vợ chồng Đạc đã thấy mấy cô khách cùng trong khu tập thể bước vào. Hằng lướt qua một lượt nhưng chẳng thấy cô nào quen cả, có lẽ Thái bận gì đó nên chưa đến. Hằng còn đang suy nghĩ lung tung thì thấy vợ Đạc hỏi:

- Thế nào, Thái đã nhận ra người quen chưa?

Vừa nghe đến đây Hằng chợt giật mình nghĩ ngay đến việc hai cô bé hôm nọ chắc đã lừa trêu mình. Anh vừa buồn cười vừa giận hai cô bé vì đã chẳng cảm ơn người ta sửa xe cho lại còn gây chuyện rắc rối cho người ta nữa, bây giờ biết tính sao đây. Vừa lúc ấy một cô gái có khuôn mặt trái soan trắng trẻo và rất ưa nhìn chợt lên tiếng:

- Mình nhận ra rồi.

- Ai nào?

- Anh ấy mặc áo kẻ.

Sao thế nhỉ? Chả lẽ mình lại quên hay sao! Cô Thái mình quen sao có thể là cô này được. Dù sao thì cô ấy cũng có tên là Thái và cô ấy cũng đã giúp mình qua sự rắc rối nếu như cô ấy nói không biết mình là ai.

Cũng trong lúc nghe hai người hỏi và trả lời nhau Hằng đã nhìn kỹ Thái hơn. Hằng dễ nhận ra một đặc điểm khác của Thái là cô ấy có sự tăng hoóc môn nam tính nên trên ria mép có dấu đen mờ của lớp lông tơ dày hơn người bình thường, và đôi lông mày thì thật là đen đậm ôm kín đôi con mắt lá răm tình tứ. Tất cả những nét trên khắc hoạ lên một khuôn mặt xinh đẹp ít gặp trong cuộc sống. Nhưng cũng từ đó đã giúp Hằng khảng định cô gái ấy không phải là Thái mà Hằng đã gặp. Tuy sự việc đột ngột là thế nhưng Hằng cũng khá nhạy cảm khắc phục hoàn cảnh rắc rối này bằng cách đứng lên đi về phía Thái, tựa như anh cũng  đã xác nhận sự quen biết giữa hai người. Chỉ cần mấy bước chân Hằng đã đứng trước mặt Thái, anh chìa tay ra để nắm lấy tay của Thái kéo cô đứng lên. Lúc đầu Thái luống cuống định rụt tay ra, nhưng anh nắm khá chặt nên cô không tài nào rụt tay ra được. Hằng dùng sức kéo mạnh để đưa Thái ra phía ngoài sân, cũng lúc đó hình như Thái đã nhận ra ý tứ của Hằng nên cô không còn cưỡng lại nữa và đó chính là nguyên nhân làm cho Thái bị nhào theo ôm lấy người của Hằng. Mọi người được thể cười rộ cả lên làm cho cả hai người cùng ngượng nghịu đỏ mặt đứng trơ ra giữa cửa nhà Đạc. Cũng ngay lúc ấy ai đó chợt lên tiếng:

- Bạn bè cả, không việc gì mà ngại, ngày xưa chúng tớ cũng thế cả thôi.

Vừa lúc đó vợ Đạc cũng chen vào:

- Thôi hôm nay hai người là nhân vật chính nên cho được đi chơi, miễn phải vào bếp.

Được lời như cởi tấm lòng thế là Hằng và Thái tay trong tay đưa nhau ra ngoài ngõ để tâm sự. Vừa đi khuất mọi người Hằng đã vội buông tay Thái để tránh sự hiểu nhầm là Hằng cố ý lợi dụng, còn với Thái thì buông hay không cũng chả cần nữa vì cô đã thả lỏng tất cả ngay từ lúc còn ở trong nhà. Để tránh cho sự ngượng ngập vừa qua Hằng buộc lòng phải lên tiếng trước:

- Tôi xin lỗi Thái...có lẽ cô Thái mà tôi biết là người khác trong công ty.

- Cả công ty này chỉ có mình em là Thái...làm gì có ai khác nữa?

- Chả lẽ còn một công ty xây lắp điện nào nữa...?

- Anh hãy tả cô Thái của anh cho em xem nào.

Hằng lại kể cho Thái nghe toàn bộ câu chuyện cách đây gần một tháng rưỡi, rồi mô tả thật kỹ hình dạng hai cô gái Hằng gặp hôm đó cho Thái nghe. Anh vừa dứt lời thì cũng nghe Thái bật ra câu nói hết sức tự tin:

- Thế thì em biết rồi anh ạ! Nó không phải là Thái mà nó là...

Nói đến đây thì Thái đột nhiên dừng lại, sau một lúc cân nhắc Thái nói tiếp:

- Hẳn nào mấy hôm ấy mỗi khi nhìn thấy em từ xa chúng nó gọi rối rít rồi cứ tủm tỉm cười, làm em rõ tức... em phải đấm cho bọn này một trận mới được.

- Chớ đấm họ đấy nhé, dẫu sao các cô ấy cũng giúp cho mình quen biết với nhau.

- Đó là em nói thế thôi chứ có khi còn phải bảo chúng im mồm đi chứ không thì các anh, các chị ấy cười chết mất.

- Tôi cũng không ngờ sự việc lại xảy ra như thế, Thái thông cảm cho tôi và chấp nhận sự làm quen này của tôi nhé.

Thái không nói gì mà chỉ hơi gật đầu tỏ vẻ đồng ý và cúi xuống ngượng ngập thật sự. Vừa lúc đó vợ Đạc đã ra gọi hai người về ăn cơm. Hằng nắm tay Thái, nhẹ tay kéo cô theo sau để quay vào nhà. Bữa cơm thật giản dị nhưng cũng thật vui vẻ, tất nhiên là Hằng và Thái là mục tiêu cho tất cả mọi người trêu đùa và yêu quý. Dù chỉ mới quen thôi nhưng khi chia tay cả hai cũng bịn rịn khó nói thành lời. Những câu nói vun vào của mọi người tựa như lời cầu thân của chàng trai và cũng như lời tán thành của cô gái vì cả hai người chỉ có cười trừ mà chẳng hề có một lời phản đối nào. Lẽ dĩ nhiên là những người bạn họ đều đã tự ngắm hai người và họ nhận ra được cái ý tứ ấy. Nhiều người cũng đã nói đến cái sự thăm nhà, hỏi cưới và bao thứ khác nữa bởi họ yêu quý cả hai người, họ muốn hai người cũng có hạnh phúc, họ coi đó như là sự mong muốn chia xẻ của những người đã có ít nhiều hạnh phúc cho người chưa có một tý gì. Từ những việc làm như thế cho ta thấy xung quanh ta mọi con người đều thật tốt đẹp, thật nhân hậu. Nếu giữ mãi được như vậy thì cuộc đời này hạnh phúc biết bao và tươi đẹp biết bao!

Sau lần gặp ấy họ còn hẹn gặp riêng nhau mấy lần nữa, rồi thì thư đi, thư lại, dẫu chỉ là nhờ đưa qua tay giữa vợ chồng Đạc. Họ yêu nhau nhanh chóng quá và nói với nhau những từ yêu thương thật là đẹp trong khi gặp gỡ và cả trong thư. Không biết có phải cái gì đến quá nhanh thì đi cũng quá nhanh hay chăng mà cuộc tình của họ đã tan trong chỉ có mấy tháng trời. Cái sự tan vỡ bất ngờ mà mau mắn đến nỗi Hằng chẳng biết nguyên cớ từ đâu. Nếu như gần một năm sau Hằng không gặp một chàng Chí “Sở Khanh” do vui câu chuyện làm lộ ra.

Trong một lần gặp gỡ Thái vào một đêm trời tối ở bên bờ đê cầu Hạc, Thái đã nói với Hằng toàn bộ hoàn cảnh của mình từ gia đình, bè bạn và cả những người Thái đã yêu trước đó. Có một chi tiết mà Thái thật sự mạnh dạn nói ra đó là việc Thái đã có lần rơi vào cặm bẫy của một tên lừa đảo nào đó nên cô đã không còn sự trong trắng của người con gái nữa. Ngay sau khi nghe cô ấy nói Hằng lặng người đi và cảm thấy thật là buồn. Anh phân vân thật sự khi nghĩ rằng người mình yêu đã là một thứ thừa ế của người khác, như thế thì làm sao có thể chấp nhận được. Một sự chán nản đến cực độ đã trào ra làm cho anh không còn tỉnh táo được nữa. Bên cạnh anh, Thái cũng im lặng, không biết cô ấy đang nghĩ gì. Có lẽ cô ấy tự giận mình vì sự thật thà đến ngây ngô của cô ấy, hay là cô ấy đang tự trấn an mình về những gì tốt đẹp mà cô đã xác định mình phải chấp nhận kể từ sau sự mất mát quá lớn của đời con gái trong cô. Có lẽ sự im lặng đã giúp họ tự ổn định lại tình cảm và lý trí của mình. Chính trong khoảng rất lâu đó Hằng đã tìm ra cái lý do rất hợp lý để tự bào chữa cho việc mình có thể chấp nhận được người con gái đã không còn nguyên vẹn này nữa. Một điều mà Hằng nhận thấy đó là khuôn mặt đẹp, hình dáng đẹp của cô đã làm anh say mê. Rồi thì sự khéo léo của cô trong bếp núc, trong thêu thùa, may vá và trong giao tiếp hàng ngày. Còn cái sự thẳng thắn của cô ấy có phải cũng là một cái đẹp đó chăng? Trên đời này dễ có mấy ai dám nói ra cái sự thực bất hạnh như vậy, thế mà cô dám. Cứ như cụ Nguyễn Du đã viết trong Kiều: “nước vỏ lựu, máu mào gà -  mượn màu chiêu tập vẫn là còn nguyên” đấy sao. Mấy ai biết được và như thế cô ấy có quyền giấu giếm những ai đó để rồi vẫn còn nguyên chứ sao! Cuối cùng thì Hằng lại nghĩ thế còn những người đã với Hằng thì sao, những người đến sau Hằng họ sẽ nghĩ gì. Đành rằng cái sự của Hằng làm ra hoàn toàn mang động cơ trong sáng và không hề có ý chối từ cái người Hằng đã cùng với họ, thế nhưng sự đời đã chẳng chiều người và cái người đã cùng Hằng có khác gì Thái hôm nay vậy. Với ý nghĩ này đã thực sự bào chữa cho mình để có thể chấp nhận Thái kể cả khi có người biết cái sự này của hai người. Nghĩ thế nào Hằng nói cho Thái nghe như thế ấy. Thái vừa nghe vừa lặng lẽ khóc, cô gục đầu vào ngực của Hằng. Có lẽ cô buồn lắm trong suốt thời gian chờ đợi câu nói của Hằng. Thế nhưng mọi việc đâu có suôn sẻ như những gì ta đã nghĩ, đã tự đấu tranh để có được khi có một người nào đó cứ khoét sâu vào những điều còn chưa được đứng vững trong lòng người, còn đang chao đảo.

                        3

 

          Cái công ty xây lắp điện nào có ở xa gì khu tập thể của Hằng, chính vì vậy mà ngoài những người sống ở khu tập thể Mật Sơn công ty vẫn còn có một số đi theo công trình và còn có cả một số sống ở ngay ở trụ sở công ty để tiện công tác, trong đó có Như. Như là một cô gái khoảng hai mươi bẩy tuổi, cô vừa là một công nhân trực tiếp nhưng lại là một cán sự đoàn của công ty xây lắp điện. Cô vẫn thường đến  chơi với một vài người quen ở trong khu tập thể của Hằng. Là một cán sự đoàn nên cô ta có điều kiện được biết rất nhiều việc của những người tuổi trẻ trong công ty. Phần thì do phải trực tiếp xử lý mọi việc của tổ chức này nên cô  được quyền tìm hiểu, phần vì được các cấp lãnh đạo phía trên trao đổi tin tức để có kế hoạch uốn nắn các đoàn viên của mình. Chính vì vậy các việc của Thái thì nhiều người không biết nhưng Như thì lại biết khá rõ.

Cũng không biết do đâu mà Như biết được mối quan hệ giữa Hằng và Thái. Có lẽ do cô nghe được từ những câu chuyện trong số chị em ở công ty bàn tán hàng ngày. Một phần vì Như cũng là một cô gái khá nhiều tuổi trong công ty đang rất cần có một mối lương duyên để xoá đi cái cảnh cô đơn buồn bã nên cô cũng hay để ý tìm hiểu đối với những nhân vật giống như Hằng, nên cô đã biết được câu chuyện quan hệ của hai người. Cô có tốt hay không thì không biết, nhưng có vài lần cô đến chơi với mấy người quen sống bên cạnh, Hằng thấy cô cũng không đến nỗi nào. Nhiều lần gặp nhưng Hằng chả muốn làm quen với Như thế mà rồi Hằng cũng vẫn phải tiếp chuyện với Như.

Không biết thế nào mà mỗi lần Như đến thăm người quen thì luôn gặp lúc người quen của Như đi vắng và chẳng ai có thể ngăn cô đi thẳng vào nhà Hằng để hỏi thăm về những người quen của cô . Lẽ dĩ nhiên là cô có thể ngồi nhờ nhà Hằng để chờ những người quen của mình trở về. Khi đã có những câu hỏi thì sẽ phải có những câu trả lờiK, đó là phép lịch sự tối thiểu trong xã giao và rồi cả những câu hỏi thăm đối với người đối diện cũng được tiếp tục đặt ra. Nhiều lần gặp tất nhiên là phải quen, đã quen thì việc đến ngồi nhờ đã không còn là lý do khó hiểu nữa.

Những câu chuyện trong khi Như ngồi nhờ chờ đợi người quen cứ tiếp tục được kể ra. Đâu là phải quan tâm đến sự phấn đấu của mọi người. Đâu là nếu muốn phấn đấu thì phải tránh xa những người xấu. Trong các ví dụ về người xấu mà Như kể ra có rất nhiều trong đó có cả những người có hoàn cảnh như Thái. Hình như cô ấy muốn nói rằng đây là cái xấu nhất của các cô gái chưa chồng. Sự nhấn mạnh dường như cứ dần dần lộ ra cái chủ ý của cô qua những đoạn đối thoại giữa hai người:

- Em nghe nói anh quen rất thân với Thái ở công ty em phải không?

- Làm gì có chuyện ấy?

- Không những thế em còn biết hai người còn quan hệ ở mức cao hơn nữa kia.

- Không có đâu, bạn nghe nhầm đấy thôi.

- Em hỏi thật anh nhé?

- Cô cứ nói đi.

- Em không biết khi quen với Thái anh có tìm hiểu kỹ không nhưng em cũng tín hiệu cho anh biết Thái có nhiều “phốt” lắm đấy anh ạ.

- Tôi nghĩ ở trên đời ai mà chẳng có khuyết điểm, tuy nhiên từ chỗ quen biết và hiểu sự việc đến giúp đỡ để họ trở thành người tốt thì càng quý chứ sao.

- Không, em nói là có những cái không còn có thể giúp đỡ sửa chữa được nữa kia.

Hằng chợt giật mình khi nghe Như nói như vậy, anh nghĩ chả lẽ cô ấy lại muốn nói cho mình biết cái chuyện tình xưa cũ của Thái chăng? Vì sao Như lại muốn cho mình biết điều ấy nhỉ? Phải chăng hai người có ác cảm với nhau nên cố ý muốn phơi bày những cái xấu của nhau ra nhằm gây hại cho nhau? Hôm nọ Hằng có hỏi Thái về Như, anh thấy Thái nói về Như toàn là những điều tốt cả. Cô ấy nói về công tác đoàn thể của Như và lại còn khen Như nữa. Trong khi đó, nói như Chí “Sở Khanh” thì Như đã quá nhiều lần với cậu ta, mặc dù Chí “Sở Khanh” đã có vợ, có mấy con sờ sờ ra đấy. Biết vậy nên Hằng càng tỏ ra như không hiểu biết gì về sự gợi ý của Như và cuối cùng thì Như đã nói cái chuyện không đáng nói của Thái ra cho cái người đang muốn tìm hiểu Thái biết. Hằng lờ mờ nhận ra cái ý của Như và anh cố ý tỏ ra đã biết để làm cho Như cụt hứng, chừa cái thói thóc mách hại bạn bè:

- Cứ tưởng là có chuyện gì khác, chứ việc ấy… Thái đã nói cho tôi biết rồi.

- Anh nói thật đấy chứ?

- Đúng thế mà.

- Chả lẽ anh cũng chấp nhận?

Hằng suy nghĩ một lúc rồi anh quyết định nói với Như những điều mà Hằng đã nói với Thái. Thực ra Hằng cũng muốn ngoài việc tỏ rõ quan điểm của mình về sự việc ấy và còn muốn nói với cô ấy rằng nếu cô ấy chịu tu sửa mình thì rồi cũng sẽ gặp được những người có thể thông cảm cho mình. Có lẽ cô ấy đã không nhận thức được, hoặc giả có nhận thức được thì cô ấy cũng không có ý muốn tự sửa mình.

Thế rồi không biết bằng cách nào đó Như đã làm cho Thái hiểu nhầm về quan điểm của Hằng và sự tan vỡ bắt đầu như thế. Kết cục chẳng tốt đẹp ấy có phải là tại Như hay không? Có lẽ phần lớn là do cô ấy, nhưng cái chính là Thái không đủ tự tin và cả do Hằng chưa có kinh nghiệm để làm cho người khác tin vào mình với một chủ đề khá nhậy cảm và hóc búa vào bậc nhất trong tình yêu đôi lứa.

Những bức thư với tiêu đề khô khan thay cho những từ “thương yêu” đã nhiều lần xuất hiện trên những trang giấy Pơluya màu hồng trước đó. Cuộc tình ngắn ngủi dễ gặp, dễ tan dù sao cũng làm Hằng phiền muộn, bởi chưa một lần nào Hằng có ý đùa cợt trong tình yêu với những cô gái mà anh đã gặp. Người đời có thể nghi ngờ và không tin rằng lại có một người có sức yêu đầy đặn cho đến cả chục lần như thế, đấy là quyền của họ, nhưng xin đừng lớn tiếng bài bác vì đó là sự thật. Có bao kẻ chỉ biết vì mình và cũng không thiếu những người suốt đời chỉ nghĩ đến người khác cho dù họ luôn gặp tráo trở và phản bội.

 

                               VÙNG ĐẤT CŨ

 

                                           1

 

          Mùa đông năm 1976 đang dần đến, từng cơn gió bấc đã tràn về báo hiệu mùa đông năm nay chắc sẽ lạnh. Hằng vừa xuống thị xã để lấy chiếc áo rét anh mới đặt may hồi đầu tháng. Mấy năm gần đây người ta thường may các loại áo rét theo kiểu Blujông của Đức, kiểu áo này khá gọn và phù hợp với thanh niên. Chiếc áo được may bằng loại vải nhung kẻ màu xanh da trời vừa lịch sự vừa hợp với khổ người của Hằng nên khối cậu con trai cứ tra hỏi xem may ở đâu để cũng may một cái. Một điều quan trọng là loại vải này lại không thu tem phiếu nên số phiếu vải được cung cấp vẫn có cơ hội mua thêm một bộ mới. Số anh em còn đang bàn tán về kiểu cách quần áo ở các thời kỳ khác nhau thì anh Khâu bước vào.

          - Này, có gì mà ầm ĩ thế? Chuẩn bị để thứ hai đi Thọ Xuân đấy nhé.

          - Sao bảo sang tháng mới đi cơ mà anh?

          - Lần này phải làm cải tiến nên đi sớm.

          Mấy cậu tổ van, tổ lò thấy ông Khâu nói về công việc liền từ từ kéo nhau về hết thành ra vừa mới đông đúc là thế mà thoắt cái đã trơ lại có hai anh em. Đến lúc này anh Khâu mới ngồi xuống để phàn nàn về cái quyết định cải tiến gối trục của nhà máy:

          - Tao chẳng hiểu thế nào mà mấy thằng cha ấy lại tán thành cái việc thay lớp lót cao su bằng gỗ.

Thì ra cái bố này vẫn bức xúc về cái chuyện lấy gỗ lim làm lớp lót thay lớp lót cao su của các gối trục trục tua bin thuỷ điện Bàn Thạch. Cứ như anh ấy nói thì lớp gỗ này chỉ cần chưa xoay nổi một vòng đã vỡ toang ra, làm sao mà chịu cho được. Đã biết tính anh Khâu từ hồi sáu sáu, sáu bẩy nên Hằng mặc kệ cho anh ấy nói để cho nguội bớt cơn đi mà không chịu tiếp lời. Nhưng chính vì thế anh ấy lại càng bức xúc mà nói to hơn nữa, nào là dốt nát, phi kỹ thuật, rồi thì thế nọ thế kia, nghĩa là anh không muốn làm để rồi đến khi không thành mang tiếng là ngu dốt cả mẻ vân vân và vân vân...

Đến lúc này thì Hằng phải lên tiếng, tuy nhiên Hằng biết anh Khâu cũng đã có tý men nên Hằng khá dè dặt:

- Dẫu sao mấy ông “cốp” cũng đã quyết rồi nên có nói vẫn cứ phải làm thôi anh ạ.

- Có thế thì mới tức.

- Nhưng em nghĩ người ta cũng đã xem xét qua kinh nghiệm ở nơi nào đó rồi người ta mới quyết chứ anh...

- Tao thì tao mặc kệ, lần này mày cứ căn chỉnh cho tốt để cho bọn nó không dám bảo hỏng là do chất lượng căn chỉnh kém là được.

- Anh yên tâm đi, lần này phải có biên bản kiểm nghiệm từng phần một rồi ký kết để không ai bắt bẻ ta được.

- Mẹ nó, sao rét thế không biết được.

Hằng tủm tỉm cười:

- Cho lắm nước vào bụng làm sao chẳng rét.

- Có mỗi hai chén con tý tẹo, làm gì có nhiều đâu mà uống.

- Theo em thì dùng gỗ có khi được đấy anh ạ.

- Lại mày nữa.

- Em thấy mấy cái ổ trục xe trâu chở đến hàng tấn thế mà chạy mãi cũng có mòn đâu.

Vừa nghe Hằng nói dứt câu anh Khâu đã vùng vằng:

- Đã thế tao cho mày ở ban cải tiến luôn.

Thấy anh Khâu cắu quá Hằng chỉ cười trừ mà không nói thêm gì nữa. Giữ nguyên bộ mặt khó chịu như thế anh Khâu quay ra mà chẳng thèm chào hỏi gì nữa, cho dù Hằng có hỏi với theo:

- Anh về đấy à?...

Đúng như tuyên bố hôm nọ anh Khâu đã đưa danh sách Hằng vào ban cải tiến, mặc dù anh vẫn bắt Hằng phải hoàn thiện phần việc của tổ giao cho như những ngày xưa. Thế là Hằng cứ phải cắm cúi vào mà làm hết mọi việc chẳng còn thời giờ đâu mà đi hỏi thăm mấy cô bạn học ngày xưa nữa. Thực ra thì Hằng cũng không muốn đến thăm bọn con gái ấy vì sợ họ đã có chồng con rồi bây giờ mà đến thì vừa làm mất thì giờ của họ, hơn nữa nhỡ gặp phải anh chồng hay ghen thì rồi gia đình của họ sẽ cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt, như thế thì thăm nom mà làm gì.

 

                                                          2

 

Cũng đã gần một tháng vừa đại tu vừa chuẩn bị cho cải tiến, hôm nay Hằng mới có điều kiện được nghỉ một buổi tối. Cũng chẳng phải mình Hằng bận tối mắt, tối mũi như thế mà tất cả mọi người trong tổ và cả anh Khâu cũng cắm cúi mà làm cho hoàn thành với tiến độ, để kịp cho việc xả nước về làm vụ đông xuân.

Tắm rửa xong Hằng định đi chơi quanh mấy nhà ngày xưa Hằng ở nhờ, vừa có tính chất thăm hỏi để tỏ ra rằng mình vẫn nhớ, vẫn giữ nguyên vẹn tình cảm ngày xưa đồng thời cũng thông báo là mình vẫn còn sống trở về. Chỉ mới mặc xong cái quần thì lại nghe ngoài cửa có khá nhiều tiếng con gái. Hằng vừa thò đầu ra xem có việc gì thì đã thấy sáu bẩy cô gái đứng chắn trước mặt. Thôi thì nạ dòng có, con gái có cứ như ong vỡ tổ tràn vào gian nhà lá mà Hằng được phân xưởng Bàn Thạch bố trí ở trong những ngày sửa chữa. Cô thì chào anh, cô thì chào chú làm cho không gian chợt ồn ã cả lên. Hằng còn chưa nhận ra ai với ai đã thấy ai đó sụt sịt khóc, làm cho Hằng thật sự bối rối. Anh vừa chào hỏi mọi người vừa để tâm xem ai đang sụt sịt ở phía cuối cái giường một của Hằng, Cũng phải một lúc Hằng mới nhận ra đấy là Hương, con gái nhà chủ mà Hằng đã trọ cách đây hơn sáu năm trời. Anh vừa tìm mấy cái chén, vừa lấy cái ấm đựng nước gạo rang lấy từ nhà bếp về để mời mọi người uống nước. Sau khi đã đưa chén nước cho một vài người rồi Hằng mới đi đến bên Hương, anh đặt tay vào hai vai của Hương đang rung lên theo nhịp khóc rấm rứt vừa cười vừa nói:

- Thế là được rồi hà hà...! Cô bé Hương dũng cảm, hay trêu mọi người ngày xưa sao hồi này lại mau nước mắt thế không biết được?

Vừa nói trêu Hương, Hằng vừa định xoay hai vai Hương để cô đối diện với anh, nhưng anh chợt nhận ra cô Hương bây giờ đã không còn là thiếu nhi nữa, thế là anh vội buông tay ra khỏi vai cô gái. Cũng vừa lúc đó Hằng nhận ra Văn, người mà có lần Hương đã làm mối cho anh. Văn vừa ngồi ở chỗ xa nhất lại quàng một chiếc khăn len mỏng chùm kín một nửa mặt nên anh không nhận ra ngay từ đầu.

- Văn phải không?

Văn nhỏ nhẹ:

- Vâng ạ! Anh có khoẻ không?

- Anh mắc mấy trận sốt rét nên cũng không được khoẻ lắm.

Dừng lại một chút Hằng lại nói tiếp:

- Công việc bận quá mãi hôm nay mới được nghỉ, đang định vào trong đó xem sao thì các em ra đây.

Mới vừa nói đến đó thì nghe có ai vừa cất lời với vẻ trách móc:

- Anh là anh tệ lắm đấy nhé!

Thì ra người nói câu ấy là Hương, cô đã thôi không khóc nữa ngay sau khi anh nói chuyện với Văn.

- Tệ làm sao nào?

- Thì lúc anh đi bộ đội anh có nói cho ai biết đâu.

- À...À... hồi đó gấp rút quá...cả đến gia đình anh cũng chẳng kịp báo nữa là.

- Thì viết thư về không được à.

- Kể ra thì thế, nhưng mà các anh có ở chỗ nào yên đâu.

- Chúng em nghe tin anh ở vùng Như Xuân, thế là hai chị em vừa đi vừa hỏi thăm suốt mấy ngày mà không gặp.

Nghe đến đây thì Hằng thấy chột dạ thực sự, anh nghĩ: “Thế mà các cô ấy lại tìm được chỗ mình ở và rồi lại gặp Nghi ở đó thì nguy to”. Thực ra thì câu chuyện của Hằng nói với Hương hồi đó và cả việc đến chơi nhà Văn cũng chỉ là làm sao để sự quan tâm của cô bé ấy không bị dội nước lã vào mà thôi, chứ thực tình anh đâu có biết chỉ dăm ba lần qua chơi mà các cô ấy tưởng anh đã có tình ý thực với họ. Dù sao thì đến lúc này anh cũng chẳng muốn thanh minh làm gì, vì như thế tình anh với họ chả hoá ra bạc bẽo quá sao. Nghĩ vậy anh đành cười trừ cho xong rồi động viên mọi người bằng việc kể các câu chuyện trong thời gian bộ đội cho mọi người cùng nghe. Anh cũng hỏi han tình hình của các cô gái cùng đi với Văn và Hương theo xã giao. Tuy nhiên qua câu chuyện anh biết cả Văn và cô Hương bé tý ngày nào giờ cũng đã có gia đình cả rồi. Văn thì lấy cậu Vinh râu ở bên đường dây chuyển tải, người mà có lần Hằng đã gặp khi vào chơi nhà Văn từ mấy năm trước. Thực ra thì Văn chưa bao giờ yêu Vinh râu vì Vinh râu trông chả có tý hình thức nào, trong khi Hằng thì lại có đủ mọi điều. Tuy nhiên cái chính vẫn là sự kiên trì của cậu ta cùng với sự vắng bặt tăm hơi thậm chí có thể tắt hẳn tăm hơi của người tình trong mộng đã khiến cô gái xiêu lòng. Bây giờ thì Văn cũng đã có một cô bé con khá lớn, có nghĩa là Văn đã lấy Vinh ngay sau khi cùng với Hương đi tìm Hằng mà không gặp. Còn với Hương thì câu chuyện lại còn dài dòng và rắc rối hơn nhiều, đó là câu chuyện tâm sự của Hương khi cô còn một mình ở lại.

Từ lúc năm, sáu các cô gái cùng chui vào căn nhà Hằng đã thấy không hiểu vì sao mà Hương và Văn lại đưa các cô gái mà Hằng không quen đến nhiều làm vậy, mãi khi chia tay Hằng mới nghe Văn nói:

- Mấy đứa vừa rồi đều là các em và các cháu của em cả đấy anh ạ. Em biết là em đã không chờ anh được nên em định sẽ không đến gặp anh, nhưng sau khi em nói chuyện với mấy đứa, thì chúng nó bảo:

- Ngày xưa chị mê anh ấy như thế thì chắc anh ấy phải đẹp trai và ga lăng lắm. Nếu mà thế chưa chừng rồi chúng em cũng mê ấy chứ. Cứ để chúng em đến chơi, nhỡ ra phải duyên, phải số thì cũng là sự đền bù của chị với anh ấy chứ sao.

Nghe Văn nói đến đây thì Hằng buồn cười thực sự, anh vừa nhịn cười vừa bắt chước câu nói khá quen thuộc của người Thanh Hoá vào những năm về trước:

- Tức là bắn súng không nên thì đền đạn chứ gì?

Nói xong cả hai người cùng cười vui vẻ rồi chào nhau chia tay ngay trước hiên nhà.

 

                                                             3

 

Chờ cho mấy chị em, cô cháu của Văn đi khuất Hằng mới bước chân vào nhà, đang định sắp xếp lại bộ ấm chén bày bừa ra lúc nãy thì thấy Hương vẫn còn ở đó. Cô úp hết số chén cuối cùng xuống cái khay men xong thì vừa lúc Hằng quay trở lại. Cô cứ đứng trân trân như thế để nhìn anh không chớp mắt, bất chợt cô lao đến ôm chặt lấy anh và lại rấm rứt khóc, cô nói trong nước mắt:

- Thư thì không viết...về thì lại muộn...!

Hằng chỉ kịp nghe loáng thoáng câu nói đứt đoạn  của Hương rồi vội vàng gỡ tay Hương ra, còn Hương thì quyết không chịu buông.

- Em buông anh ra, kẻo có ai nhìn thấy thì rồi sẽ rắc rối cho em đấy.

Vẫn cái giọng hờn trách và bất cần như xưa:

- Mặc kệ em! Hắn lỳ lợm, dai như đỉa làm hỏng mọi việc của em. Nếu anh về trước đó vài tháng thì hắn chả là gì cả.

Thì ra Hương không được thoả mãn về mối lương duyên với chồng của cô, vì thế khi nghe tin Hằng còn sống quay về cô càng thất vọng, cô lấy cớ về thăm nhà để gặp lại anh. Trong lương tâm anh đã có ý định sẽ khuyên giải để Hương thu xếp ổn thoả với hoàn cảnh của mình. Dẫu sao thì cái sự lạnh nhạt cũng chỉ do một mình Hương gây ra mà thôi. Điều Hằng không hiểu là vì sao Hương luôn trách anh, cho anh là một trong những nguyên nhân khiến cô có hoàn cảnh hiện nay. Phải chăng cô có gì đó bất ổn về tinh thần nên đã biến thành bệnh, nghĩ vậy nên Hằng buột miệng:

- Nhưng dẫu sao thì em cũng lấy người ta rồi.

- Kệ! Em phải trả thù hắn...hắn lừa đảo em, hắn bảo thằng anh con ông bác hắn biết anh và bảo cho nó biết là anh đã hy sinh, nên em mới đồng ý cưới.

Hằng không ngờ câu chuyện lại xoay hướng ra như thế này, anh vừa nói vừa lựa một lúc lâu mới gỡ được tay Hương ra. Anh đặt hai tay lên vai Hương nhẹ ấn cô ngồi xuống, sau khi cô đã ngồi yên trên mép giường, anh tiếp tục thuyết phục Hương một lần nữa:

- Bây giờ mọi việc đã thế, với lại anh nghĩ hoàn cảnh của anh chưa chắc đã cho em có được cuộc sống hạnh phúc. Em nên về nhà, không cậu ấy đi tìm mà gặp thì rồi mọi việc sẽ phức tạp ra thêm.

- Em đang tức với hắn, em bảo về mấy hôm nên hắn đâu biết em ở đây, sớm mai em về sớm, hắn chẳng mừng quýnh lên ấy chứ.

Hằng cố gắng ngó sang các phòng khác xem có ai không để tìm cớ đưa Hương về nhà, những chẳng có ai cả vì số anh em ở khu này đều gần nhà nên họ tranh thủ về nhà hết sau mấy tuần tối tăm bận rộn. Anh nghĩ thế là gay go to rồi, tuy vậy anh vẫn cố gắng tìm cách thuyết phục. Thời gian trôi đi thật là nhanh, cái đài công cộng đã tắt từ lâu lắm mà Hương vẫn chưa có ý định ra về. Từng đoạn hồi ức đang trở lại trong cô như dòng suối cứ tuôn chảy, tuôn chảy mãi không ngừng:

- Anh có biết em yêu anh từ bao giờ không?

- Em không nói làm sao anh biết được.

- Em yêu ngay từ ngày đầu tiên anh đến nhà em.

- Lúc ấy em còn bé tý thế này mà.

Hằng vừa nói vừa có ý pha trò, anh xoè lòng bàn tay ra rồi lật úp xuống, hết nâng lên lại hạ xuống xuống gần sát mặt giường.

- Làm gì có chuyện ấy, lúc đó em cao gần bằng anh rồi.

- Nhưng mà em vẫn là thiếu niên...

- Nhưng có ai cấm thiếu niên yêu đâu.

- Thế sao em lại giới thiệu anh với chị Văn.

- Đó chính là điều em giận em nhất! Bực nhất là khi chị ấy đi lấy cái lão Vinh, làm em giận không sao mà nói ra được. Giận quá em bảo chị ấy: “Sao chị không nói trước với em...! Chị có biết em đã phải đau lòng thế nào khi phải giới thiệu người mình yêu cho người khác hay không! Thế rồi chị ấy cũng ngạc nhiên: Mày yêu anh ấy...? Chứ sao nữa, chỉ tiếc là em còn ít tuổi quá anh ấy không để ý đến nên đành chịu mà thôi”.

Đến lúc này Hằng mới biết thì ra cái cô bé Hương ngày ấy luôn im lặng khi nhìn anh nhưng lại hay nổi đoá với lũ em thật ra là vì cô ấy yêu người mà không được người yêu trở lại. Nghĩ đến đây trong lòng Hằng chợt bâng khuâng tiếc nuối, anh thấy hình như mình vừa đánh mất vật gì đó thiêng liêng và quý báu.

Cô bé Hương vẫn ngồi đó, đôi mắt và cả cơ thể thanh xuân của cô như đang rực lên thiêu đốt Hằng cháy thành than. Thêm một lần nữa Hằng lại phải dàn xếp với chính mình để bảo vệ hạnh phúc cho người khác. Anh có thể dàn xếp được không khi anh đang cảm thấy khoảng cách giữa anh và Hương đang gần lại. Cái giường một, nơi họ đang ngồi dường như cũng co rúm lại bởi bão giông có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Trong những phút giây ấy Hằng mong có ai đó trở thành cứu cánh giúp họ bình tĩnh trở lại. Thế mới biết rằng những điều cao đẹp bao người đã làm được ví như sự quên mình cho nhân loại có lẽ cũng phải có điều gì đó hoặc ai đó luôn đứng ra nhắc nhở khuyên can và cả bức bách nữa thì rồi những con người ấy mới đi đến cái quang vinh mà nhân loại đã và đang còn ca ngợi cho đến khi nào trái đất tan vào vũ trụ mới thôi.

Một phút chốc ngắn ngủi lan man trong những suy nghĩ không đầu, không cuối đó đã làm cho Hằng quên đi Hương đang ở ngay bên cạnh, chỉ đến lúc cả tấm thân mềm mại bất chợt choàng lên người, Hằng mới giật mình trở lại thực tại. Anh phân vân không biết có nên dùng sức của mình gỡ Hương ra một cách thô bạo hay không. Cô ấy đâu có phải kẻ thù, cô ấy đẹp và đầy sức sống, cô ấy chỉ si  mê và yêu mình, chứ đâu có phải giết mình, hãy nhẹ nhàng với cô ấy để rồi lựa dần vậy thôi.

Không biết đã bao nhiêu thời gian trôi qua, khuôn ngực nở nang luôn có tiếng gõ nhẹ của trái tim trong đó. Vành môi nóng ấm trượt qua, trượt lại trên mặt và trên môi của Hằng. Vòng tay ôm ngang lưng và truyền hơi nóng vào chính cái phần da thịt mà nó chặn lên. Những cơ quan nhạy cảm nhất đã có xu hướng bắt đầu khởi động ở mức cao nhất. Có lẽ những gào thét của xác thịt sẽ rất nhanh buộc họ phải chung đụng với nhau. Cuộc vật lộn bằng tư tưởng đã hoàn toàn thất bại, hai người đã thay đổi tư thế cho nhau để bắt đầu trong những tiếng đếm cuối cùng cho cuộc chạy việt dã và thật bất ngờ, ngay đâu đó rất gần có tiếng gà gáy gọi sáng rất to vừa được cất lên.

Tiếng gà cất lên thật vừa lúc, tiếng gà đã thức tỉnh hai con người đang say mê đến cùng cực quay trở lại với bản ngã của mình. Chàng trai giúp cô gái gài lại những gì vừa mới bung ra, còn cô gái thì sau vài phút bần thần cô nói trong nước mắt:

- Dù thế nào em cũng không thể mất anh được!

Câu nói mỗi lúc một nhỏ dần theo bởi khoảng cách của cô ngày một xa gian nhà lá, bên trong đó có một chàng trai đang đứng nhìn theo cô trong lờ mờ sương sớm.

 

                                                      4

 

Sớm nay tất cả các bộ phận đã thu xếp đồ đạc để nếu chạy thử thành công là sẽ chuyển về Hàm Rồng để tiếp tục sửa chữa máy ở dưới đó. Việc chạy máy nghiệm thu ở Bàn Thạch thường rất nhanh chóng vì khi máy đã ổn định thì hoà đồng bộ chỉ trong vài phút là xong. Việc nâng điện thế, nâng tần số chỉ đơn giản là vặn khoá điều khiển như vặn quả đấm khoá cửa để mở thêm nước vào là xong. Nhưng lần này thì khác vì bộ gối trục tua bin đã được thay lớp lót bằng gỗ lim mà nhóm thợ cơ khí làm suốt mấy tuần qua. Chính vì vậy nên mọi người đều rất hồi hộp, lo lắng không biết việc cải tiến có thành công hay không. Có một người chẳng cần để ý đến việc này vì anh tin rằng chẳng bao giờ có thể lấy gỗ thay cho cao su được.

Cuộc chạy máy nghiệm thu đã được bắt đầu theo quyết định của quản đốc nhà máy Bàn Thạch và cán bộ phòng kỹ thuật của nhà máy. Mọi người ai vào việc nấy chỉ có bọn sửa chữa như Hằng là lởn vởn ở vòng ngoài chờ đợi khắc phục những chỗ khiếm khuyết. Sau một vài câu trao đổi ngắn nhân viên vận hành đã tiến hành lần lượt các thao tác theo đúng với quy trình. Thế nhưng khi mở nước vào máy thì máy cứ ì ra không chịu nhúc nhích một tý nào. Anh Khâu được thể cứ lắc đầu quầy quậy:

- Tao đã bảo mà, có mà bò cũng không nổi chứ chạy với chả chạy cái con khỉ. Chỉ khổ mấy thằng sửa chữa lại phải bò lê, bò càng ra ôm lấy cái cổ trục chết dẫm này thôi.

Cuộc thử nghiệm đã bị thất bại hoàn toàn và người phải tổ chức tháo gỡ cái trò cải tiến này không ai khác lại là nhóm công tác của Hằng.

Lắp vào đã khó nhưng đến khi tháo ra lại càng khó bởi vì cả cái gối trục đã ôm cứng lấy trục, muốn tháo tách gối trục ra thành hai nửa thì phải kéo cả gối lên cao gần ba chục phân, mới có chỗ đưa dụng cụ vào để tháo các bu lông bắt hai bên thành của gối trục, thật là một cuộc vật lộn thật sự chứ chẳng phải dễ dàng gì.

Nhóm công tác của Hằng hết bắt quai sắt và đòn gánh vào rồi vặn các bu lông kích cũng chẳng ăn thua. Cũng đã thay đến mấy lần bu lông kích mà ren vẫn cháy hết. Ngay từ đầu nhiều người cũng muốn đứng lại chờ tháo ra để tìm hiểu xem nó vướng cái gì mà không chạy được nhưng rồi thấy lâu quá nên cũng chuồn dần hết về khu tập thể. Sau khi kích kéo mãi không được Hằng cũng thấy nản nhưng rồi anh vẫn cố tìm các cách khác xem sao. Đâu là vam đòn vào vỏ gối để quay xem có nhúc nhích hay không, nhưng hình như cái lớp gỗ lim đã dính liền với trục thì phải. Hằng đành cho cả nhóm lên tầng nghỉ giải lao một chút để lấy sức làm tiếp các “đỏ” sau. Còn lại một mình ngồi trên cái phễu côn đó với điếu thuốc trên tay Hằng nghĩ có lẽ cái giống gỗ này khi có nước là nó nở ra nên có khi phải làm khô đi thì mới tháo ra được. Hút xong điếu thuốc Hằng lại tiếp tục công việc, nhưng lần này anh không tìm cách mở bu lông gối trục mà tìm cách tháo số nước chứa sẵn trong hộp gối trục. Cũng may bên dưới đáy hộp chỉ là lớp chèn bằng cao su nên anh dùng cái lá căn dày vừa phải uốn cong ấn vào khe hở nhỏ tý teo đó là số nước ở đó cạn dần, việc còn lại là làm thế nào cho gối trục chóng khô là được. Vừa lúc ấy số anh em trong nhóm cũng đã đi xuống để tiếp tục làm việc. Mấy cậu thợ mới gọi xuống hỏi:

- Đã tiến triển tý nào chưa anh ơi?

- Cậu nào lên mượn anh Hậu hộ tớ cái đèn khò, với lại lấy cho tớ một tấm gioăng Amiăng nhé.

Một lúc sau các thứ đã được mang xuống, tuy nhiên các cậu này cũng có vẻ không tin tưởng lắm nên  uể oải ra mặt. Biết thế nên Hằng cũng chẳng bảo các cậu ấy làm gì mà tự mình làm lấy các công việc còn lại. Buộc xong tấm gioăng Hằng lấy môt miếng vải thấm nước bọc thêm vào cổ trục để cho trục khỏi bị nóng trong quá trình hơ nóng gối trục. Anh bật lửa đốt đèn khò rồi hơ quanh gối trục từng lớp một. Ngọn lửa đèn khò phun ra xanh lét kêu phè phè làm cho mấy ông già ở tầng trên cũng xuống xem, anh Dưa người Miền Nam trêu:

- Chui cha, thằng này đốt máy chúng mày ơi.

Hằng ngẩng đầu lên cười với anh Dưa:

- Đốt cho nó đỏ lấy vận may anh ạ.

Có lẽ Hằng cũng đã hơ đến hơn nửa giờ đồng hồ rồi còn gì. Anh vặn nhỏ đèn xuống rồi sờ thử vào gối trục:

- Nóng thế này có khi là được đây.

Vừa lẩm bẩm một mình, Hằng vừa nắm tay vào cái đòn quay vẫn gắn vào gối trục quay thật mạnh.

- Ái chà! Thật không ngờ nó lại trơn đến thế làm mình tý nữa thì nhào theo nó.

          Vừa nghe thế, mấy cậu thợ phụ đang định đi ra phía phòng điều khiển lại vội quay lại. Xem ra các cậu có vẻ phấn khởi phục lăn ông anh nhóm trưởng và cũng chẳng cần ai bảo các cậu ấy lao ngay xuống phễu côn để thay cho Hằng lên nghỉ. Hằng mang các thứ vừa tháo ra lên sàn máy rồi mang đèn khò lên giả anh Hậu. Việc tháo gỡ và thay mới cũng chỉ tròn hai tiếng là xong, nhưng các bộ phận chạy máy đã giải tán, số anh em trong nhóm của Hằng đành phải ở lại chờ chạy máy rồi về vào hôm sau vậy.

Tuy gặp trở ngại trong lần đầu tiên nhưng xem ra cấp trên vẫn quyết tâm để thử nghiệm và thế là Hằng và Độ phải ở lại với anh Uyển ở phòng kỹ thuật để tiếp tục chương trình. Sau mấy lần bàn bạc Hằng đã đưa ra ý kiến là phải khử độ nở khi gặp nước của lớp lót bằng gỗ. Anh cho rằng cần phải tiện sơ bộ rồi ngâm khúc gỗ vào trong nước để gỗ nở hết cỡ, ngay cả khi gia công trong ngày chưa xong cũng phải tháo chúng đem ngâm vào nước. Thậm chí còn phải ngâm liên tục trong nước sau khi đã tiện hoàn chỉnh.

          Có một điều quan trọng là mỗi khi tháo ra cặp vào có định tâm đúng như cũ được hay không. Phải nói rằng nhóm thử nghiệm mới, tập trung hầu hết là những người khá sáng tạo. Vấn đề chế tạo một bộ gá để sử dụng trong suốt quá trình đã được anh Đà vừa là tổ trưởng sửa chữa ca của Bàn Thạch, vừa là thợ tiện đề xuất giải quyết, tuy nhiên lại cần một chiếc mâm cặp bốn vấu mới đủ độ lớn để kẹp và điều chỉnh bộ gá và thế là Độ lại phải trở về tổ cơ khí mượn mâm cặp bốn vấu.

          Trong lúc Độ về Hàm Rồng lấy mâm cặp, anh Đà phải tiện sơ bộ các khúc gỗ để đem ngâm, còn Hằng thì phải vào nhờ xí nghiệp Công nông rèn mấy cái đục vũm để làm rãnh nước bôi trơn. Sau hơn một tuần ngâm nước các khúc gỗ hầu như đã ngấm no nước vì mấy lần Hằng mang lên đo thấy không biến đổi kích thước nữa. Thế là nhóm thử nghiệm quyết định hoàn thiện phôi đầu tiên sau một ngày chủ nhật chơi bời thoải mái.

          Tất cả các loại gối trục đều có lớp lót gắn vào vỏ gối, kể cả loại lớp lót bằng hợp kim ba bít, bằng đồng,   bằng gang cho các thiết bị ở trong điều kiện khô ráo có chế độ bôi trơn bằng dầu. còn các loại gối trục có vòng quay thấp và ở môi trường nước lã thì thường được làm bằng cao su dán chắc vào vỏ sắt, sau đó cả tấm lót này lại được lắp vào gối trục bằng gang pha thép. Như vậy thì lớp gỗ cũng phải được dán chặt với vỏ thép mới được, tuy nhiên nếu nước nhà có thể mua được loại keo dán này thì đem cao su mà dán cần gì phải dùng gỗ, vì vậy nên gỗ phải gắn vào vỏ bằng cả một hệ thống vít chìm dầy chi chít phân đều trên bề mặt cung tròn của tấm lót.

          Bề mặt lắp ghép với lớp vỏ đã được tiện đúng với kích thước, việc còn lại là Độ và Hằng phải khoan cả vỏ sắt và lớp lót gỗ hàng loạt các lỗ Phi 5 mm, sau đó lại mở rộng phần miệng lỗ trên lớp lót để vừa với các đầu vít nhưng phải để độ dầy theo đúng quy định để sau này khi tiện bề mặt lớp lót tiếp xúc với cổ trục mà đầu vít không lòi ra va chạm vào cổ trục, nhưng cũng không thể để lớp gỗ còn lại quá mỏng làm cho tấm lót bị nứt vỡ vì gỗ thường rất dễ nứt theo chiều dọc thân. Các lỗ trên vỏ phải được tarô các lỗ ren M6 để vặn vít vào kẹp chặt lớp lót bằng gỗ vào với vỏ sắt.

          Cuối cùng thì chiếc gối trục đầu tiên đã hoàn thành, tuy nhiên việc bóc lớp gỗ bên trong đã phải làm rất nhiều lần sau đó lại ngâm nước xem có biến dạng hay không. Việc ngâm nước dưới sâu thì quá dễ dàng, tuy nhiên vị trí làm việc của gối trục lại chỉ có chút ít nước nên lại phải thực nghiệm bằng cách ngâm trong môi trường tương tự. Một điều khả quan là độ giãn nở của gối hầu như đã ổn định. Vấn đề còn lại chỉ là thử nghiệm nữa mà thôi, còn vấn đề quy trình chế tạo gia công đã được hoàn thiện triệt để.

          Gần hai tuần qua trong lo lắng tính toán từng đường đi, nước bước đã kết thúc. Gối trục bằng gỗ lim đã được lắp vào đúng vị trí, các khe hở giữa lớp lót với cổ trục vẫn được theo dõi chặt chẽ hàng ngày, thậm chí mỗi ngày còn dùng Pa lăng kéo trục lên quay thử, trục vẫn trơn cho dù mấy ngày ngâm trong ổ trục.

          Các bộ phận chạy máy lại triển khai đầy đủ như mọi khi. Anh Uyển tuy không thể làm trực tiếp nhưng anh thường xuyên ghi chép, nhắc nhở về quy trình gia công. Chắc anh ấy cũng lo lắng lắm nên mặt thì rộc rạc đi, răng thì nhô ra trông thật đáng ngại. Dù sao thì anh cũng là người chịu trách nhiệm chính của công trình nên lo lắng gầy người đi là phải.

          Tám giờ ba mươi phút sáng công việc giao ca mới xong, mọi vị trí đã thống nhất các mệnh lệnh để tiến hành thử nghiệm. Tay vặn mở máy đã được xoay đến chỉ số định mức, bánh vít quay chầm chậm làm cho cần dẫn động thụt sâu vào ống dẫn hướng. Cánh tay đòn chuyển động để xoay các cánh tĩnh mở nước chảy vào buồng máy. Trục máy quay nhẹ êm như không có gì khác với những kỳ chạy máy trước đây. Tất cả mọi người trong ca và tổ thử nghiệm hoàn toàn im lặng trong suốt quá trình chạy thử giờ đây mới hết lo lắng, ai cũng muốn được nói một vài câu làm cho không khí như vỡ oà ra trong gian máy chật hẹp.

Ba ngày sau máy dừng để kiểm tra lớp lót và cổ trục. Tất cả hầu như vẫn chưa có gì thay đổi trừ một vài vết bóng trên lớp lót biểu hiện việc đã có một vật tựa vào nó mà quay thế thôi. Gối trục được lắp trở lại và máy tiếp tục vận hành lâu dài chờ kỳ kiểm tra sau ba tháng.

Sau ba tháng, sáu tháng, và hơn một năm sau tấm lót gỗ vẫn đảm bảo vận hành ổn định. Tuy nhiên việc kiểm tra và định kỳ thay thế sẽ phải dầy lượt hơn vì ai biết khi nào thì lớp gỗ bị mủn ra và khi nào thì có một cái ốc giữ vỏ bị mòn vết tán trên vỏ để rồi lỏng dần ra cọ vào cổ trục. Dù sao thì ta cũng đã giải quyết được những khó khăn tưởng như không thể nào khắc phục được.

Còn đến bây giờ đây loại keo dán cao su ta đã có rồi, công nghệ làm gối trục cao su đã đơn giản vô cùng. Nghĩ lại cái thời đó, ta không khỏi không trạnh lòng khi Phan Trọng Hiệp báo cáo về chế tạo cao su chịu dầu và chế phẩm cách điện tại hội nghị sáng kiến toàn Công ty điện lực ở sở hai Hải Phòng giống như là một phát mình vĩ đại vậy. 

 

                                                           5

Sáng nay Hằng lắp tiếp đoạn ống xả hơi chèn kín trục cho phần cao áp của tua bin, đây là phần việc cuối cùng trong đợt đại tu thiết bị của phân xưởng Trung tâm. Công việc này cũng không phức tạp lắm nên Hằng làm thoáng cái là xong. Vừa hoàn thành Hằng liền sang bên gian lò để hỏi thời gian chạy máy và tán dóc với mấy cậu bạn ở tổ lò. Chẳng biết mấy cậu này đang bàn nhau cái gì mà khi thấy Hằng đến thì liền im cả, có vẻ như muốn giấu Hằng. Biết vậy, Hằng cũng giả tảng như mình không biết gì và không nghe thấy gì cất giọng hỏi một cách vô tư:

- Mấy bố này có vụ việc gì mà có vẻ bí mật thế?

Người thì trả lời thế này, người thì trả lời thế nọ, xem ra các câu trả lời chẳng ăn nhập với nhau. Vừa lúc đó thì bác tổ trưởng từ đuôi lò vòng lại: 

- Làm gì có gì mà bí với chả mật! chẳng qua là mấy cậu ấy đang tính cái chuyện vợ con cho cậu nhưng chưa xong nên chưa muốn cho cậu biết đấy thôi. Với lại cậu cũng nên chủ động kẻo lại cha già con cọc như chúng tớ thì vất lắm.

- Lại cái chuyện vợ con ấy à? Xem ra cháu vẫn chưa đứng đầu đứng số thì phải. Cứ động đến vụ nào là vụ đó lại cứ chuội ra, thế mới tức chứ.

Một cậu bạn cùng lớp cũng phụ hoạ:

- Chẳng qua là cậu hơi kén chọn quá mà thôi, cứ vớ vẩn mãi rồi đến lúc cả            mấy con mẹ nạ dòng nó cũng ngán ngẩm chẳng chịu tiếp cậu đâu.

- Chả lẽ mình lại vô duyên đến thế?

- Thì đấy có mấy con bé nó mới về thực tập đấy cậu thử tán để chúng tớ xem nào.

- Tán để lấy chứ tán để cho các cậu xem thì có mà...xin kiếu.

- Được, lần này chúng tớ phải cột chặt cậu vào một con bé nào đó mới được.

Đối thoại với mấy ông bạn một lúc thì rồi cũng chả đi đến đâu, thế là Hằng lại bỏ mấy ông bạn nhọ than này để lên khu nhà gianh của tổ điện ở trên đồi. Kể ra mà nói thì Hằng cũng đã biết việc phân xưởng tiếp nhận một đoàn học sinh trường điện của tỉnh về thực tập, nhưng cậu chưa gặp vì mấy cô cậu này thường hay ra muộn và lại về sớm nên khi Hằng rời chỗ làm ra về thì tất cả đã vắng ngắt. Đón cậu chỉ còn mấy chị lớn tuổi là người của phân xưởng mà thôi. Thành thực mà nói từ khi rời nhà đi học nghề rồi lại qua mấy năm quân ngũ nhưng hầu như ở đâu Hằng cũng được mọi người rất quý. Từ những người thợ già khó tính nhất đến cả lũ trẻ con còn chưa biết gọi mẹ cũng đều thân thiện với anh. Còn với mấy chị thợ điện này thì còn phải nói vì có nhiều hôm chủ nhật Hằng không đi đâu, mấy chị lại mang con đến nhờ Hằng trông giúp để giặt giũ chăn màn quần áo. Lũ trẻ vì gặp mặt luôn nên cũng chẳng sợ hãi gì chú Hằng. Với lại chỉ sau mươi phút nghe chú Hằng ca cẩm vài câu là chúng đều ngủ khá say sưa. Lẽ dĩ nhiên với các chị có con mọn thì chú Hằng là nhất, làm gì mà các chị ấy chả mong giúp cho cậu em đã từng bị mất mát, thiệt thòi so với mọi người.

Còn cách tổ điện một khoảng xa Hằng đã nghe các chị tổ điện tranh nhau phát thoại. Người lạ mới đến tưởng là các chị đang cãi vã lẫn nhau. Cho dù Hằng đã vào đến cửa mà cuộc cãi vã vẫn cứ tiếp tục. Cuộc tranh luận dường như quyết liệt hơn chỉ vì một chị cho cô Chân nào đó xinh hơn, còn người kia lại cho cô Thanh nào đó xinh hơn. Thế rồi cô này có vẻ hiền lành, cô kia có vẻ chanh chua, cô nọ ở gần, cô kia lại ở quá xa...Thôi thì nâng lên, đặt xuống bắc đồng cân, đồng lạng tựa như đang mua, đang bán vậy. Nghe một lúc thì Hằng cũng nhận ra cuộc cãi vã này nhằm vào việc giới thiệu bạn gái cho Hằng. Đến lúc này thì Hằng nhận thấy hình như mọi người trong đơn vị đều thật sự yêu mến Hằng. Họ muốn Hằng cũng có cuộc sống hạnh phúc, có gia đình như họ bởi anh là người cuối cùng trong đơn vị đã ba mươi tuổi mà vẫn còn cô độc.

Buổi chiều nay tưởng sẽ chạy máy nhưng rồi lại bị hoãn vì số đông các đồng chí lãnh đạo về kỹ thuật đều bận họp. Hằng cùng với mấy bác già đi soát xét lại từng chỗ một lần nữa để tránh xảy ra những thiếu sót. Cùng lúc ấy có bốn năm cô con gái trẻ theo bác tổ trưởng tổ điện lên xem thiết bị. Bác tổ trưởng có tiếng là nhẹ lời đã lần lượt nói về thiết bị điện mỗi khi đi qua từng chỗ một. Hằng đoán đây là mấy cô bé về thực tập nên cậu cũng cố nhìn xem có cô nào giống như mấy chị sửa chữa điện mô tả hay không. Kể ra thì các cô cũng khá gọn ghẽ và rất trẻ trung, cái sự trẻ trung làm bộc lộ cái duyên dáng ưa nhìn. Vừa lúc đó có mấy cô mạnh dạn tiến lại gần Hằng, các cô chào hỏi xong thì tỏ vẻ muốn nhờ anh chỉ dẫn một vài thiết bị trông khá hoành tráng mà cụ tổ trưởng tổ điện đã quên không giới thiệu vì nó không phải là phần thiết bị của nghề sửa chữa điện. Thấy các cô gái có vẻ dạn dĩ nên Hằng cũng không ngại cùng trò chuyện với mọi người. Thực ra thì sự mạnh dạn của mấy cô gái về thực tập làm cho Hằng hơi bất ngờ vì đến ngay cả anh nếu cần tiếp xúc làm quen với một người lạ anh cũng thấy ngại, nhất lại là một cô gái thì càng ngại hơn. Trong tâm thức của mỗi người ta đều có cái sự ngần ngại cố hữu là sợ người khác đánh giá mình là người quá xuồng sã, quá dễ dãi và cả trơ tráo nữa, nghĩa là cần phải từ tốn và kín đáo và đừng có tỏ ra săn đón quá. Mới hôm qua đây thôi anh chàng Quơi mới về tổ hồi tháng trước, trong lúc tâm sự với Hằng đã trút sang cho Hằng một loạt những quan điểm về cách tìm bạn gái, cậu ta cứ xơi xơi những là: “Cậu bây giờ khá tuổi rồi phải áp dụng lối nhất bạo nhì dai, chứ cái thứ tam tài, tứ đức thì lâu quá không dùng được”. Ngày bấy giờ mấy anh bạn của Hằng vẫn hay truyền tụng câu nói cửa miệng giống như là lời tổng kết về cách tìm hiểu bạn gái của các đấng nam nhi mà hôm qua Quơi đã bật ra. Câu nói nghe ra có vẻ rất vần nhưng khi đọc lên cứ thấy có cái gì đó gờn gợn trong lòng vậy.

Thực ra thì Hằng cũng đã để ý đến một vài cô trong cái đám con gái hàng ngày vẫn cứ léo nhéo ở trên mấy gian nhà của tổ điện. Cũng chẳng có cô nào “sắc nước hương trời” đến mức đáng để phải theo đuổi. Cô thì mặt gẫy lại có bộ ngực đồ sộ đến mức chưa nhìn thấy người đã nhìn thấy ngực, cô thì lùn tịt như một chị vịt bầu, có cô cao thì lại cao quá. Thực ra thì đó chỉ là những nét điển hình vậy thôi, điều này cũng dễ xuê xoa bởi vì đa số các cô mới chỉ độ mười tám đôi mươi, cái duyên của sự trẻ trung, tươi tắn vẫn tạo ra những nét ưa nhìn. Sau một loạt những lần yêu không có kết quả Hằng cũng đâm nản, anh cũng muốn làm sao đó nhanh kết thúc những ngày này để sớm có một gia đình. Có một điều anh lo hơn cả đó là chuyện mẹ anh vừa trải qua một cơn ốm nặng thập tử nhất sinh, tưởng không qua được. Sau đợt ốm cụ già đi đến hơn mười tuổi, trông cụ xuy xụp quá, anh sợ nếu anh không cưới vợ nhanh thì chưa chắc cụ có còn được biết mặt cô con dâu của cụ hay không.

Sáng nay công việc cũng chưa có gì mới, cả tổ chỉ làm vệ sinh thiết bị dự phòng. Anh Khâu kêu Hằng lên kho lấy thêm ít dụng cụ bổ sung để sắp tới lại đi Hoằng Xuân đại tu Điedel tại đó. Không biết ông Thuỵ thủ kho đi đâu mà Hằng tìm mãi không thấy. Còn đang ngơ ngáo nhìn ngược, nhìn xuôi thì chị Dung gọi vào hỏi:

- Này thế chuyện hôm nọ chị bảo thế nào rồi?

- Chỉ bảo chuyện gì cơ ạ?

- Thì cái chuyện con Thơ ấy.

- ...

- Tao trông nó cũng được đấy! Nó lại là con nhà nghèo nên chịu thương chịu khó, nhưng cái chính là nó không kênh kiệu khi gặp cảnh nhà chồng nghèo.

- Em cảm thấy không hợp với cô ấy. Người gì mà tiếng cứ lanh lảnh, nghe đến khiếp chị ạ.

- Hay là cái Chân? nó thì ngay bên cầu đây thôi?

- Cô ấy trẻ quá chị nhỉ?

- Thế nhưng nó lại rất thích chú đấy.

- Sao chị biết?

- Hôm trước cái Hoa nói chuyện về cậu, chị thấy cô ta nghe rất chăm chú, không những thế khi nói đến việc tìm cho chú một đứa thì nó cứ hỏi lên, hỏi xuống xem chú ưng đứa nào. Sau đó mấy đứa tổ chị cứ thu vén cho cái Thanh thế là cô ta xị mặt ỉu xìu ra ngồi một xó.

- Thật thế hả chị?

- Thật quá đi chứ lại.

- ... Hôm kia cô ấy mời em sang nhà chơi chị ạ.

- Thì đấy, tao đã bảo mà.

Câu chuyện có lẽ còn dài nữa nếu như anh Thuỵ không từ đường cái đi vào.

Câu chuyện tìm người yêu của Hằng xem ra đã loang rộng ra khắp phân xưởng. Khối người muốn giới thiệu làm cho Hằng không còn biết đâu mà nhận lời. Thôi thì ế ẩm, tồn kho, nhỡ lứa, thậm chí có cả mấy cô vợ liệt sĩ chưa con cũng được lôi ra. Đâu là em, là cháu, là bạn thời chăn trâu cắt cỏ, chỗ nào cũng chỉ thấy cái hay trong ý nghĩ của những ông, bà mối một mùa. Mấy tháng trước nhóm bạn cùng quê miền ngoài sau một thời gian áp đặt thấy không kết quả đã nới lỏng cho Hằng tự tìm hiểu, đến giờ này thấy tình hình có vẻ nan giải và phức tạp nên cậu Vy bàn với cả nhóm liền quyết định vào cuộc lần thứ hai. Đúng ra thì Hằng chẳng có ý định gấp rút trong chuyện này, anh vẫn muốn chờ Phương dàn xếp với gia đình, nhưng xem ra cô ấy có vẻ hơi nhút nhát nên hầu như cô ấy chả dám làm gì. Còn với Hằng thì anh cũng không còn có thể chần chừ hơn được nữa, mẹ anh có thể nằm xuống bất kể lúc nào. Còn cái nguồn mà anh hướng tới có lẽ không có chỗ nào hơn là đám học sinh thực tập kia. Tuy vậy sau mấy lần qua lại chỗ mấy cô gái Hằng thấy anh cũng có nhiều đối thủ chứ không phải đơn giản gì đâu. Số bạn cùng lớp của các cô cũng có khối cậu “cao to, béo mượt” ra dáng lắm, dễ gì các cậu ấy lại chẳng có ý tứ.

Cũng chẳng biết do vô tình hay hữu ý mà chiều hôm thứ năm tuần trước anh đang đi thì nhận ra có một cô gái phía trước nom có vẻ khá quen. Hình như cô ấy có ý như muốn đi chậm lại để chờ anh nên dù anh vẫn đi bình thường nhưng khoảng cách hai người hình như càng ngày càng gần lại. Đến khi chạm mặt thì anh nhận ra đấy chính là Thơ. Họ buộc phải dừng lại một lát để mà chào nhau theo kiểu xã giao. Quãng đường không dài nhưng họ cũng đã hỏi thăm được đôi chút về hoàn cảnh của nhau. Cuối cùng thì anh hiểu rằng Thơ cố ý về sau để đợi gặp anh nhờ viết mấy chữ vào cuốn sổ tay của cô. Tất nhiên là anh nhận lời vì tối ấy có đến ba cô gái cùng mời anh xuống nhà chơi.

Buổi tối hôm ấy qua đi thật là nhanh chóng, nhưng xem ra cũng từ hôm ấy họ có vẻ thân mật với nhau hơn. Thơ cũng đã cùng các bạn đến chơi tận phòng ở của Hằng một vài lượt và còn nhờ anh viết giúp một vài thứ vào các quyển sách học kỹ thuật của cô. Trong ánh mắt, lời nói đã có dấu hiệu của sự gần gũi đồng cảm.

Những ngày tháng buồn bã cứ tiếp tục qua đi cùng với sự chờ đợi đến nao lòng, vậy mà sao Phương cũng chẳng có tín hiệu nào khả quan hơn. Những đối tượng mới thì lại cứ tiến gần hơn cả về cự ly và cường độ. Chiều nay mấy cô gái lại hẹn Hằng đến khu trọ của họ chơi, anh phân vân một lúc rồi cũng nhận lời. Một khoảng thời gian không dài nhưng số các cô gái trẻ hầu như đã thất bại trong chiến lược tình cảm của mình. Sự phân hoá bởi chiến lược của mấy cô nhiều tuổi hầu như đã thắng trong việc chinh phục chàng trai chưa vợ gần như duy nhất ở cái đơn vị công nghiệp mà các cô đã về đó trong bước đầu tập làm thợ của mình. Các cô gái trẻ thất bại còn bởi mấy bà chị khôn khéo hơn đã tranh thủ mấy chị công nhân lớn tuổi trong cái tổ điện lắm điều nhiều lời kia. Nhưng có lẽ đây là số phận họ không có duyên với nhau nên mọi việc cứ tự nhiên mà rời rạc ra vậy thôi chứ nếu không thì làm sao cái anh chàng cô độc nọ lại cứ gần gũi hơn mấy cô gái già kia. Nói như thế cứ tưởng mỗi nhóm các cô chắc là đông lắm nhưng thực tế đã không phải như thế. Nhóm các cô gái trẻ thì có bốn, còn nhóm các cô gái già thì chỉ có ba cô mà thôi. Một cô có dáng đàn chị hơn thì có khuôn mặt gẫy đến khắc khổ, cái hấp dẫn của cô là nước da rất trắng và bộ ngực đồ sộ cứ ưỡn ra phía trước. Cô lại đã qua trường đời khá phong phú ở một đội Thanh niên xung phong nào đó. Nhìn cô người ta thấy toát ra sự từng trải và cả sự thông thuộc trong tình trường của cô và sự thực thì hình như cô cũng đang yêu, có chấp nhận sự quen biết người khác có lẽ là có ý muốn lựa chọn xem có thể có người khác khá hơn người mình đang gắn bó. Cô thứ hai thì có dáng người hơi cũ kỹ và quắt queo đến khó hiểu, cô còn lại chính là Thơ mà ta đã nói đến ở trên. Thơ là con cả trong một gia đình có đến sáu người con, bốn trai hai gái. Ông bố là cán bộ đang công tác ở một đơn vị an dưỡng của công an võ trang. Có lẽ cô cũng đã qua một vài lần yêu đương gì đó với vài cậu bạn cùng quê hoặc vài chàng bộ đội ngày còn chiến tranh vẫn hành quân qua làng của cô để rồi đi ra mặt trận. Cho đến lúc này, cô có còn người yêu nào nữa hay không thì có trời mới biết được. Cô có khuôn mặt bình thường nhưng dễ nhớ bởi hai bên lưỡng quyền nhô cao, tướng mặt này nếu nói như mấy ông thầy tướng thì khá là cao số. Cũng may cô cũng có nước da khá trắng và thân hình khá uyển chuyển cùng với duyên con gái nên chợt nhìn cũng dễ chấp nhận.

          Cũng không biết sao mà buổi tối hôm nay khi Hằng đến chơi như mọi lần nhưng cả nhóm con gái tiếp đón hơi khác mọi khi. Anh cứ phân vân trong bụng và tự mình nghĩ lại tất cả mọi việc xem mình có nói gì hay làm gì để họ phật ý hay không, nhưng anh chẳng thấy gì cả. Thế rồi mọi việc cũng qua đi nhanh chóng khi cả mấy cô nháo nhào đi tìm nước và mượn cốc chén của mấy anh chị công nhân ở trong khu tập thể. Độ mươi phút sau có ai đó bá vai Thơ lôi về phòng thì người tiếp Hằng đã chuyển giao sang tất cả cho Thơ. Ngay cả khi Hằng chào mọi người ra về thì sau cả loạt câu chào lại, người tiễn anh vẫn chỉ có một mình Thơ. Suốt chặng đường về Hằng cứ tự vấn về chuyện mấy hôm trước các cô vô tư là thế mà sao hôm nay cô nào cô ấy cũng dè dặt giữ ý sao đó không biết, có lẽ họ ngầm thu vén cho Hằng và Thơ thì phải.

Gần nửa tháng qua Hằng khật khừ mỏi mệt khác hẳn mọi khi, lúc đầu anh tưởng anh đi làm thêm giờ và thức đêm nhiều nên mỏi mệt. Cho đến hôm nay thì anh đã nhận ra sự việc không phải vậy mà chính là căn bệnh sốt rét tưởng đã dứt điểm ở khu an dưỡng nay lại tái phát. Những cơn rét run ập đến chẳng khác nào phong ba bão táp, mấy anh bạn cùng khóa đã mang đến ba cái chăn bông chồng lên mà Hằng vẫn cứ run lên bần bật. Những người chưa gặp sốt rét lần nào thì phát hoảng cả lên lo đưa đi cấp cứu, bộ phận y tế của phân xưởng thì cũng bế tắc vì trong cơ số thuốc thông thường của họ không có loại thuốc này. Cũng may cho Hằng là khi rời đoàn an dưỡng anh có xin thêm được mấy viên phòng số ba màu nâu vẫn để trong cái hộp nhựa đựng thuốc cất ở trong rương. Mặc dù Hằng đã mang thuốc ra uống rồi nhưng cũng phải có thời gian nhất định thuốc mới công hiệu. Nghe Hằng bị sốt quá cao lại run bần bật nên nhiều các anh chị trong phân xưởng đều ghé vào thăm làm cho cả căn phòng gần như đầy chặt cả người. Ông y tá già của phân xưởng hò hét mãi rằng phải để cho bệnh nhân thở họ mới chịu ra bớt. Cuối cùng thì căn phòng cũng vắng vẻ vì đã đến giờ ra nhà máy làm việc, trong nhà chỉ còn vài người có trách nhiệm trông coi Hằng ở lại.

Lại một cơn rét run nữa đang kéo tới, lần này có vẻ còn ghê gớm hơn mấy đợt trước đó. Hằng đang kêu mấy anh bạn trong tổ đắp thêm cho mấy cái chăn nữa thì Thơ vào. Cô đi có một mình từ nhà máy về rồi vào thẳng nhà Hằng trong bộ áo bảo hộ xanh chéo thường ngày. Nhìn cô dở muốn đến bên giường của Hằng, dở không dám đến vì sợ mấy anh bạn trong tổ của Hằng phát hiện ra tình ý của cô nên cô thật lóng ngóng. Một lúc lâu sau chắc là đã cố gắng trấn tĩnh được nên cô đến ngồi cạnh giường của Hằng vừa dém lại những cái chăn đang chồng lên đống lên người Hằng vừa lí nhí hỏi han Hằng về bệnh tật. Cuộc thăm hỏi của Thơ chỉ kết thúc khi chuẩn bị hết giờ làm việc. Có lẽ cô sợ mấy cô cậu cùng khoá phát hiện ra việc này rồi trêu cợt nên sau câu chào là cô vội vã rời phòng ở của Hằng...

Một cuộc hẹn gặp như bao nhiêu cuộc hẹn trong một buổi tối mùa thu êm ả đã xảy ra sau nhiều lần lỡ hẹn. Hằng đón Thơ ở cổng cơ quan rồi hai người đi dọc con đường xuôi về phía thị xã Thanh Hoá. Cái thị xã miền Trung này ngày xưa có tiếng là đẹp và rộng rãi chạy dọc theo con đường quốc lộ số một từ Bắc vào Nam. Cái thị xã một thời là địa danh oanh liệt nhất trên miền Bắc về chiến đấu và chiến thắng trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, giờ đây đang hối hả trong thời kỳ xây dựng lại. Về ban đêm chỉ có đôi chỗ ở trước các cơ quan công quyền trong thị xã có vài ba cột đèn đường thắp chiếu lệ tạo ra những vầng sáng mờ nhạt. Các địa hình còn lại thì tối om, tối óp chẳng nhìn thấy gì mỗi khi màn đêm buông xuống.

Bóng tối chẳng giúp gì cho ai ngoài việc làm cho người ta dễ ngủ để tái tạo lại sức khoẻ sau một ngày lao động cật lực. Cũng có thể còn nhiều cái lợi nữa nhưng mà cũng chẳng nên kể nhiều ra thế để làm gì ngoài việc kể ra một tác dụng khá hấp dẫn là nó giúp cho những người, những việc không muốn bộc lộ, không muốn công khai ví như giúp cho bọn du thủ, du thực, bọn trộm cắp dễ hoành hành và cho những anh chị muốn qua lại tình tự với nhau được tự nhiên hơn.

Đã có điều kiện tối trời rồi nhưng người ta còn muốn vắng vẻ nữa thì mới thật sự tiện lợi. Cũng chính vì thế nên cặp đôi Hằng và Thơ đã rẽ ngay đầu cầu Hạc đi vào con đê cụt bên trái con đường quốc lộ. Hình như họ chưa quen thuộc nhau lắm nên suốt dọc đường họ chỉ nói với nhau rất ít, còn thì cứ đi và đi bên cạnh nhau như vậy. Những câu hỏi thường là của người con trai, còn người con gái thì trả lời, đa số các câu hỏi tập trung về hoàn cảnh gia đình là chính. Cũng có lúc người ta chỉ nghe thấy tiếng cô gái mà không thấy tiếng của chàng trai, đấy là lúc cô kể chuyện về gia đình cô và kể về bản thân cô. Tất nhiên là chỉ với những nội dung giản đơn thôi chứ có những điều thuộc về bí mật của cô như đã yêu ai hoặc đã gần gũi với ai thì chắc là cô chẳng bao giờ nói.

Mỗi người sinh ra, lớn lên thường phải tiếp xúc với nhiều người, ngoài những người là ruột thịt họ còn phải tiếp xúc với những người ngoài, phần vì công việc xã hội có liên quan, phần vì cùng ở chung một chỗ, làm chung trong một công việc. Những quan hệ qua lại hoặc cùng đi đâu đó trong đồng giới thì chả nói làm gì, thế những với người khác giới thì tất phải có lý do nào đó. Nói thế để hiểu rằng Hằng và Thơ cũng đã có chút gì đó cần phải gặp gỡ, cần phải tìm để biết về nhau và điều giải thích sau cùng là họ đã muốn có nhau.

          Con đường đê này không dài lắm nên họ đi chả mấy chốc đã gặp đoạn cuối cùng và lẽ dĩ nhiên là họ phải quay trở lại. Câu chuyện của họ cần biết về nhau vẫn chưa nhiều nên họ vẫn chưa muốn ra về và thế là họ đành phải ngồi xuống bên vệ đường để tiếp tục câu chuyện. Sương đêm đã bắt đầu làm ẩm lớp áo ngoài và cái lạnh đêm thu đã khiến họ xích gần lại với nhau hơn. Tuy nhiên họ chưa thể có gì gần gũi hơn được vì từ phía cô gái cái việc quá chủ động là điều không nên xảy ra, còn phía chàng trai thì cũng luôn phân vân chán chường vì bao nhiêu lần yêu mà không thành tựu. Họ ngồi như vậy khá lâu rồi cùng đứng lên tiếp tục đi vì từ phía đầu con đê có hai bóng người cũng đang đi nhanh về phía họ. Cô gái chia tay với chàng trai cùng với lời hẹn mời chàng trai về thăm quê và gia đình trong một ngày chủ nhật của tuần sau đó. Cuộc hẹn không thành vì chàng trai bận đi công tác đột xuất đến gần một tháng. Khi trở lại cơ quan thì số học sinh thực tập đã kết thúc, số học sinh này hình như đã tốt nghiệp và được bổ sung về các đơn vị công nghiệp trong tỉnh. Thơ cũng ra đi như các bạn của cô kết thúc những gì đã xảy ra trong những ngày thực tập.

 

                              GIA ĐÌNH

 

                                       1

 

          Câu chuyện quan hệ của Hằng và Thơ đã lắng xuống và gần như bị quên hẳn nếu như sau đó mấy tháng một người bạn không mang về cho Hằng một bức thư dán kín trong một chiếc phong bì tự làm bằng giấy thếp. Bức thư ghi rõ tên họ người nhận nhưng địa chỉ thì chỉ ghi là gửi về nhà máy. Cũng may mà anh bạn Hằng nhìn thấy tên họ chứ không thì thư không biết sẽ đi về đâu vì trong nhà máy có đến hàng chục người cùng tên Hằng, biết của Hằng nào mà chuyển đến.

          Bức thư người bạn mang về cho Hằng nét chữ không quen lắm, nhưng có một điều chắc chắn đây là thư của con gái, nét chữ khá nắn nót cho thấy người viết thư rất cẩn thận đồng thời có ý muốn người đọc thư hiểu được tình cảm hết sức trang trọng của người viết. Khó có thể đoán được đây là thư của ai khi chưa mở thư ra, trong khi đó thì mấy cậu bạn cứ hỏi quáng lên và còn muốn giằng lấy để bóc ra ngay, làm cho Hằng cũng sốt ruột. Tuy vậy anh vẫn giấu kỹ được vào trong người rồi đi về phòng của mình.

          Cũng chẳng cần dao kéo làm gì cho phiền phức Hằng dùng móng tay lựa theo mép bì thư để xé ra cho đỡ rách các tờ bên trong. Đến khi hai tờ thư được lôi ra thì Hằng mới biết đây là thư của Thơ. Anh lặng lẽ đọc những dòng mực màu xanh trên nền giấy trắng. Sau khi đọc xong lá thư Hằng đọc tiếp sang tờ thứ hai, mới đầu anh chẳng hiểu cô ấy nói gì, mãi đến khi đọc được gần một nửa anh mới nhận ra đây là một bài thơ, đương nhiên có thể gọi là thơ vì nhiều câu có vần điệu tuy không phải là hay về mặt nghệ thuật nhưng có thể nói rằng bài thơ là chứng tích của sự xúc cảm, tựa như có một lúc nào đấy niềm vui tràn ngập ta tự thốt ra lời.

          Lá thư của Thơ dường như một tiếng nói nhẹ nhàng gợi lại một thời gian đã qua, nó như tiếng ngân của chiếc đồng hồ báo thức, đánh động cho Hằng nhớ về một người mà anh đã từng có sự tiếp xúc và từng quen biết, không phải là vô cớ. Lá thư cũng như là một tờ thông điệp báo tin về cô ấy cùng với những công việc và nơi cô ấy đang ở. Những tin tức đó đâu phải là ngẫu nhiên mà nó chính là cái ý muốn nói rằng tôi đang ở đó và anh có thể đến với tôi.

          Đọc thư xong Hằng còn đang hồi tưởng lại những lần gặp gỡ với Thơ trước đó thì nhóm bạn đã ăn cơm chiều xong đang ồn ào kéo tới. Tất nhiên là trong lúc ăn cơm đám bạn này đã đoán già đoán non nhiều về tác giả lá thư nhưng chưa ai cầm chắc cho nhận định của mình nên đến tận cửa phòng vẫn có cậu cố cãi chưa chịu nhau. Vi vẫn là người nhạy cảm nhất trong bọn đã phán xanh rờn rằng đấy nhất định là thư của mấy cô thực tập rồi, nhưng là ai thì cậu ấy còn lưỡng lự giữa hai cô gái mà cậu ấy đang lấy ý tứ của mình ra mà chọn. Tất nhiên đến lúc này thì Vi cũng chẳng cần dự đoán làm gì vì dứt khoát Hằng phải báo cáo tình hình rồi.

          Thế rồi cũng chẳng cần Hằng có đồng ý hay không lá thư đã được đọc cho cả hội đồng nghe. Cùng với giọng đọc khá hài hước là những nhận xét khá lý thú về cuộc dự đoán lúc trước của cả đám bạn. Lá thư vừa mới đọc đến chỗ Thơ nói về nơi làm việc của cô ấy thì Chinh đã reo lên:

          - Rồi, rồi...cứ về với tớ là đâu vào đấy tất.

          - Về với cậu là thế nào?

          - Chỗ ấy gần nhà tớ mà, chỉ một đoạn là tới.

          Đến giờ mọi người mới hiểu ra những điều Chinh vừa nói. Thì ra là Chinh bảo nếu có đến thăm Thơ thì đi với cậu ấy vì nơi Thơ đóng quân là hội trường huyện Hoằng Hoá ở thị trấn Bút Sơn ngay quê của Chinh.

          Thế là một cuộc bàn kế hoạch để cho Hằng đến thăm Thơ lại được nhóm bạn đặt ra. Tất nhiên là nhiều ý kiến nhưng cuối cùng thì các bạn cũng tán thành cho Hằng đi thăm Thơ vào chiều thứ bấy tuần tới. Xe thì lấy của Đại, rồi đi cùng với Chinh về Bút Sơn, chỉ tiếp xúc với đối tượng ở cơ quan còn tối thì về nhà Chinh ngủ, sáng thứ hai lại đi cùng với Chinh về đơn vị...

          Cuối cùng thì Hằng cũng phải chấp hành “nghị quyết” của bạn bè đi gặp Thơ để “triển khai” tiếp mối quan hệ đã gián đoạn từ mấy tháng trước. Quãng đường từ Hàm Rồng xuống Bút Sơn cũng không xa lắm nên chỉ độ ba mươi phút là Hằng đã tìm đến hội trường uỷ ban huyện Hoằng Hoá. Đêm ấy Hằng ở lại với những người công nhân trong đội xây lắp điện của Thơ. Cũng không ít người trong đội đã có chồng, có vợ nên họ cũng mừng cho Thơ và cố tạo điều kiện cho hai người có thời gian tâm sự. Hằng chia tay Thơ vào cuối ngày chủ nhật cùng với lời hẹn sẽ về thăm nhà Thơ thay cho lần lỡ hẹn mấy tháng trước đó.

                     2

 

Đường về nhà Thơ cũng không xa lắm và hầu hết đều là đường ô tô nên cũng thuận tiện. Qua cầu Quán Nam ở cuối thị xã chỉ một đoạn ngắn là đã đến đường rẽ về Nông Cống. Đoạn đường tiếp theo chính là con đường đá được mở rộng từ thời chiến tranh trước đó. Những chuyến xe tải trọng mươi mười lăm tấn vận tải lâm sản từ các vùng rừng núi về đã làm cho lớp đã bong lên và nằm lổn nhổn trên đường. Người đi bộ, đi xe đạp chỉ có thể dựa vào lối mòn hai bên để mà đi. Lúc một lại có những chuyến xe ô tô đi qua cuốn  theo cả một quầng bụi kéo dài đến hàng nửa cây số làm cho người đi đường phải nhắm mắt, nhắm mũi để tránh bụi. Nếu không có những trận mưa thỉnh thoảng xuất hiện thì có lẽ những mái nhà, cành cây hai bên đường phủ đầy đất đỏ. Chiếc xe đạp như con ngựa vía láng đi, láng lại để tránh những hòn đá mồ côi thỉnh thoảng mọc lên ở giữa lối mòn cũng không làm cho cặp trai gái nọ khó chịu. Công việc của họ cần chính là việc phải vượt qua con đường ấy mới có thể về được đến nhà. Mặc dù mệt nhoài cả người trên quãng đường đầy bụi, đầy đá Hằng vẫn không quên dự tính cho mình những tình huống khi gặp người nhà của Thơ. Anh nghĩ ra khá nhiều phương án để đối phó với những tình huống có thể xảy ra khi gặp người nhà của Thơ, ví dụ anh sẽ chào thế nào với bố mẹ, ông bà của Thơ. Biết đâu lúc đó có thể gặp một vài người khá tinh quái họ có thể sẽ hỏi về quan hệ cụ thể của anh và Thơ và cùng với nhiều câu hỏi khác hóc búa hơn nữa, mà anh không thể không trả lời vì người đó lạ là cô gì chú bác của Thơ. Tuy nhiên anh cũng tự tin vào mình vì anh cũng đã trải qua khá nhiều tình huống của giao tiếp hàng ngày cùng với sự giao tiếp của anh trong những lần gặp gỡ người nhà của những người bạn mà anh đã quan hệ trước đó.

Còn đang suy nghĩ lung tung mọi việc thì anh nghe Thơ bảo đã đến đường rẽ vào làng. Ngõ nhà Thơ là một đoạn đường đất không rộng lắm, có lẽ chỉ vừa cho hai người tránh nhau. Hai bên đường trồng toàn những cây ô rô, cây ruối làm hàng rào ngăn nhà với đường. Làng quê của Thơ cũng giống như bao làng quê khác mà anh đã từng gặp, từng qua trong những năm còn trong quân ngũ. Còn đang lúng túng với chiếc xe đạp bị kẹt phanh thì Hằng chợt nhìn thấy ngay đầu ngõ trước mặt có một người đàn ông khá trẻ mặc quần đùi áo cộc đang tập trung vào việc dọn dẹp rơm rác, cây que ngay trước cổng. Hằng đoán đây là những người có nhà ở cùng ngõ của nhà Thơ. Anh nghĩ đã là hàng xóm của gia đình nhà Thơ thì mình cũng nên có sự chào hỏi thân thiện để nhận được sự cảm mến ban đầu. Anh nghĩ ở độ tuổi này cũng không còn trẻ nhưng cũng chưa già, mình nên chào là anh cho thân mật. Vừa định cất tiếng chào thì đã nghe Thơ cất tiếng chào trước:

- Bố về hôm qua ạ!

Hằng thật sự giật mình tự nghĩ trong bụng “thật là may cho mình, là cô ấy đã chào trước.” khi nghe Thơ chào người đó là bố, Hằng cũng chuyển ngay sang câu chào khác:

- Cháu chào chú!

Ông bố của Thơ vừa bị đánh động bằng câu chào của con gái chợt ngẩng đầu lên và ông cũng ngạc nhiên không kém khi nhận ra đi cùng con gái mình còn có một chàng trai lạ mặt. Ông đứng im mất một lúc rồi mới mời chàng trai vào nhà.

Những câu chuyện thân mật giữa Hằng với mọi người trong gia đình của Thơ ngay sau đó cứ  kéo dài hết đề tài này sang đề tài khác. Hỏi han nhiều hơn cả về gia đình của Hằng vẫn là ông nội của Thơ. Hằng cũng đã thoáng thấy có nhiều những đôi mắt của những người làng từ một góc khuất nào đó nhìn vào anh. Có lẽ họ muốn xem cái chàng trai mà Thơ mang về có khá hơn bọn trai làng hay không, hoặc khả dĩ họ có thể tìm ra một vài đặc điểm nào đó để cân lên đặt xuống về sự lựa chọn bạn của Thơ khi cô rời nhà đi thoát ly ra ngoài làng, ngoài xóm. Cho đến lúc hai người xin phép rời gia đình để về đơn vị thì chiều đã muộn.

Hằng và Thơ ra đến Hàm Rồng thì trời đã tối đã khá lâu, cho dù có muốn đi ngay về Bút Sơn thì Thơ cũng không làm sao có thể đi được nữa, hai người đành về khu tập thể của Hằng tìm chỗ cho Thơ nghỉ lại. Số phòng ở tập thể hầu hết đều khóa kín cả vì số anh em quê Thanh Hoá đều về nhà chưa lên. Hai phòng còn lại thì chỉ có phòng của Hằng và Đại là có hai người, phòng đầu cùng thì lại là phòng đặc biệt giành cho y tế của phân xưởng vừa ở vừa cất giữ thuốc men. Cuối cùng thì Đại phải sơ tán sang phòng đầu nằm chung với y tế để Hằng và Thơ ngủ lại phòng của hai người.

Đi lại cả ngày như thế chắc hẳn ai cũng mỏi mệt dễ chừng họ sẽ ngủ ngay nhưng Hằng và Thơ hình như chẳng biết mỏi mệt là gì, họ đang bận nói chuyện về buổi thăm quê Thơ sáng nay. Có lẽ còn có những chuyện gì quan trọng nữa nên thoảng hoặc họ vẫn còn nghe thấy từng đoạn đối thoại ngắn của hai người. Có lẽ phải đến hơn hai giờ sau phòng của họ cũng đã tắt đèn. Đêm trôi đi nhè nhẹ như mọi khi cùng với tiếng côn trùng rỉ rả bốn xung quanh ngôi nhà tập thể. Không gian có lẽ sẽ hoàn toàn yên tĩnh nếu như từ đồi cây phía sau nhà không thỉnh thoảng cất lên những tiếng lục khục do các cành va vào nhau khi gặp gió.

 

                        3

 

Cũng chỉ còn hai tháng nữa là đến tết âm lịch, thế mà mẹ Hằng vẫn phải nằm viện. Cụ già đi và gày guộc trông thật đáng ngại. Những điều cụ thường xuyên nói với Hằng vẫn là giục cậu xây dựng gia đình để nếu cụ có mệnh hệ nào thì cũng đã biết mặt con dâu của cụ. Hằng không vội sao được khi thấy mẹ mình nói đã đến điều. Nghĩ đến việc này anh lại sốt ruột vì đã gần hai tuần qua vẫn không nhận được tin tức gì của Phương. Tín hiệu gần nhất mà anh nhận được qua một người bạn thì hầu như tình hình quan hệ của Hằng và Phương vẫn bế tắc và vô hy vọng.Việc anh sẽ phải làm gì trong hoàn cảnh hiện nay thật khó có thể rành rẽ được. Tình cảnh của Phương, sự nhiệt thành của Thơ? Đành rằng anh vẫn chưa một lần nói với Thơ về tình cảm của anh, nhưng anh nghĩ dẫu sao anh cũng đã gieo vào lòng cô gái này sự hy vọng nào đó. Anh vừa có ý lên án mình vì đã có sự quyết tâm nhưng lại không thật mãnh liệt lắm trong việc thuyết phục Phương theo anh vào Thanh Hoá, thậm chí anh còn có ý nghĩ tìm cô gái khác để thay Phương. Cái giận từ gia đình Mận, gia đình Phương đã làm anh không còn tỉnh táo được hơn. Bao lời đàm tiếu của những người trong xóm, ngoài làng khiến anh buồn và đã có lúc nghĩ đến việc trả thù đời. Điều này cũng không thể đổ hết cho anh được khi anh cũng chỉ là một cá nhân nhỏ bé trong cái xã hội loài người, anh đâu có là vĩ nhân, là thần thánh. Sau khi đã nghĩ đi, nghĩ lại không biết bao nhiêu lần về việc này, anh đã quyết định xuống Bút Sơn để gặp Thơ.

Hằng xuống Bút Sơn rồi hỏi thăm vào đến hội trường Uỷ ban huyện Hoằng Hoá vào khoảng gần chín giờ sáng. Hội trường vắng vẻ quá làm anh chột dạ, anh nghĩ nhóm thợ của xí nghiệp lắp điện có lẽ đã di chuyển, tuy vậy anh vẫn cứ vào xem thế nào. Thật may mắn là nhóm thợ vẫn còn ở đấy nhưng Thơ thì lại đi dự đám cưới vắng nhà. Sau khi nói chuyện với mấy người phụ nữ cùng làm với Thơ một lúc thì anh đứng dậy ra về. Giữ anh ở lại mãi không được, hai người phụ nữ đành bảo anh nên đi về theo con đường lớn hướng nam để may ra có thể gặp cô ấy trên đường về.

Hằng cũng chẳng tin lắm vào lời của hai cô phụ nữ ấy nhưng anh cũng đi về theo con đường mà họ đã dặn. Vừa đi anh vừa nghĩ có lẽ số phận vẫn chưa muốn cho anh có gia đình, thôi thì đành vậy. Có lẽ anh sẽ không yêu ai nữa trong vòng mấy năm tới để tập trung vào việc tiếp tục học văn hoá. Cũng đành mắc lỗi với người mẹ già nua hết một đời gian nan vất vả vì chồng, vì con, vì cháu, vì mình. Từ lâu anh đã hiểu về cuộc đời của mẹ gian nan thế nào, cực khổ thế nào từ  tấm bé cho đến lúc về già qua những câu chuyện bà kể cho mấy chị em nghe trong những đêm đông giá rét. Chỉ còn một đoạn ngắn nữa là đã đến con đường rẽ, anh sẽ quay về Hàm Rồng và quyết thực hiện những điều anh đã tâm niệm. Có lẽ anh cũng không có duyên với Thơ như lâu nay anh vẫn nghĩ.

Anh vòng tay lái theo đường rẽ và nhìn lần cuối về hướng con đường đi từ Sầm Sơn về Hoằng Hoá. Từ phía xa lắc xa lơ Hằng chợt như thấy có một người đang đi lại phía mình. Anh dừng lại như có ý chờ đợi nhưng cũng không hy vọng lắm về sự ngẫu nhiên của anh và Thơ. Gần mười phút trôi qua, bóng người ngày càng rõ ràng hơn, Hằng đã nhận ra người đi đó là một cô gái khá trẻ, mặc một cái áo vét ka ki màu đất tay xách một cái túi nhỏ. Hằng thất vọng đang chuẩn bị đạp xe đi thì cô gái ngước mắt nhìn lên. Hằng thật là bất ngờ vì khuôn mặt quá quen thuộc, người ấy lại chính là Thơ. Hai người chào hỏi nhau xong liền quay lại uỷ ban huyện. Mấy người bạn dường như cũng ngỡ ngàng và mừng cho hai người vì đã gặp được nhau.

Suốt dọc đoạn đường quay trở lại Hằng cứ luẩn quẩn trong đầu về sự gặp gỡ ngẫu nhiên vừa xảy ra. Anh tự hỏi không biết có phải đây là số phận hay không mà sao cái hy vọng mỏng manh như vậy vẫn đến. Cuối cùng thì anh cũng quyết định sẽ tiếp tục với cái kế hoạch mà anh đã trù tính mấy hôm nay. Cũng chẳng màu mè gì nhiều, anh bình tĩnh nói với Thơ về dự định của mình bằng những lời chẳng lấy gì làm văn hoa cho lắm. Cũng chẳng phải chờ đợi lâu la gì anh đã nhận được sự đồng ý của Thơ ngay trong lúc hai người trên đường quay lại hội trường uỷ ban huyện Hoằng Hoá...

Sáng nay Hằng và Thơ đưa nhau về Côn Sơn để hỏi ý kiến gia đình của Thơ về việc xin tổ chức cưới. Hằng cũng lo lắng rất nhiều chuyện nhưng rồi mọi sự cũng qua đi nhanh chóng. Cũng không hiểu sao hôm nay Hằng lại bình tĩnh đến thế. Những nội dung đề xuất của anh đã được nói ra thật rành rẽ. Từ việc gia đình neo đơn không có người lớn vào gặp đến hỏi ý kiến về các thủ tục cưới hỏi. Ông nội của Thơ vẫn là người tiếp chuyện anh, lần gặp này dễ dãi và thân tình hơn rất nhiều. Cụ băn khoăn lắm mới nói ra được yêu cầu của nhà gái:

- Công việc này cháu cứ yên tâm, ông đã đồng ý thì bố nó cũng tán thành, có điều các cháu vẫn phải xuống chỗ bố nó công tác để nói cho bố nó biết.

Hằng cũng sẵn sàng tiếp nhận yêu cầu một cách vui vẻ:

- Chúng cháu sẽ xuống ngay chiều nay ạ!

- Các cháu cứ xuống sớm cho bố nó mừng, còn việc tổ chức thì cũng phải chu đáo để cho làng họ khỏi chê. Lâu nay mình cũng đã ăn của người ta khá nhiều rồi, cái Thơ lại là con đầu cháu sớm nên không thể sơ sài được.

- Ông cứ cho cháu biết cụ thể để cháu chuẩn bị.

- Thế này cháu ạ! Mày cứ cho tao một tút thuốc lá, với một ngàn cau là được, còn trầu, chè thì tao bảo mẹ nó sang chợ mua mấy nón là xong.

Chưa nghe dứt chữ xong Hằng đã phát hoảng lên vì những yêu cầu của ông nội Thơ. Một tút thuốc lá thì chả có khó gì nhưng một ngàn cau thì anh sao có thể lo nổi. Mấy hôm trước anh nghe ai nói cau năm nay mất mùa, mỗi quả cau gần bằng bao thuốc lá chứ có rẻ đâu. Vừa thầm tính toán anh vừa nghĩ: có lẽ mình phải hoãn lại vì không thể lo nổi số lượng cau khủng khiếp kia. Nghĩ sao nói vậy, anh vừa định cất lời thì ông cụ lại nói tiếp:

- Ông thấy ngoài cửa hàng tổng hợp họ có cau của miền Nam đấy. Cũng chỉ độ một cân là đủ cháu ạ!

Lúc nãy Hằng phát hoảng bao nhiêu thì bây giờ anh mừng bấy nhiêu. Anh không ngờ, quê Thơ lại có tục chia quà cưới bằng cau khô. Thế là hai người ra cửa hàng mua hẳn hai cân cau khô và một tút thuốc lá Lạch Trường mang về cho ông cụ.

Hằng và Thơ xuống đến khu an dưỡng của bộ công an ở Sầm Sơn có lẽ cũng vào khoảng hơn một giờ chiều. Đây chính là nơi ông bố của Thơ làm việc, ông là một trong bốn vị lãnh đạo của đoàn an dưỡng. Hằng vừa đánh tiếng hỏi thăm một đồng chí chiến sĩ của đoàn thì anh ta đã chạy ngay đi để báo tin.

Hằng đang tính trong đầu xem mình nên mở đầu câu chuyện ra sao thì ông cụ đã đến ngay sau lưng. Vừa nghe Thơ cất tiếng chào bố anh liền giật mình quay lại thì đã nghe ông cụ hỏi:

- Các con chưa ăn cơm phải không? Để tao bảo mấy cậu cảnh vệ lấy cơm xuống ăn cho đỡ đói.

Vừa dứt lời xong thì ông cũng nhón chân quay đi chẳng cần nghe Hằng có chào hỏi hay không. Đang còn lúng túng không biết chào hỏi nói năng ra sao thì ông cụ lại đã đi ngay làm cho Hằng gần như mở cờ trong bụng vì có thêm thời gian để mà chuẩn bị. Có một điều thật sự may mắn là ông cụ đã nhanh chóng đánh tiếng trước, hơn nữa trong câu nói của ông không biết vô tình hay cố ý đưa vào cặp từ “các con” làm cho không khí dường như đã rất thân tình, tựa như là ông đã nói cho Hằng biết ông đã thừa nhận sự quan hệ của anh với con gái ông ngoài ra ông còn có ý muốn bảo rằng: “chàng trai ơi, cậu đừng ngại gì cả, hãy nói chuyện với tôi theo mối quan hệ như cậu đang nghĩ là được”. Đó là Hằng tự suy luận ra thế chứ thực tế có phải là thế hay không thì anh cũng chẳng biết được. Biết đâu ông cụ cũng có phần lúng túng khi mình chưa đến năm mươi đã có một người sắp xưng là con, gọi mình là bố khi anh ta cũng chỉ kém mình mười lăm, mười bảy tuổi là cùng. Thôi thì dù thế nào thì bằng sự mở đầu như vậy cũng đã tạo ra những thuận lợi cho cả hai người. Đang còn suy nghĩ lan man quanh chủ đề ấy thì mấy anh cảnh vệ đã mang cơm và thức ăn đến mời Hằng và Thơ vào ăn cơm. Hằng và Thơ cảm ơn mấy anh cảnh vệ rồi cầm đũa ăn cơm ngay tại phòng ăn của đoàn an dưỡng

Hình như các đồng chí trong đơn vị của ông cụ cũng không muốn làm hai người mất tự nhiên nên họ cũng ít qua lại thành ra Hằng và Thơ ăn uống tự nhiên hơn. Hằng và Thơ ăn xong đang xếp bát đũa lại thì một anh trong đơn vị đã đến giúp mang đi. Đến lúc này thì một số anh khác mới đến hỏi chuyện hai người. Vốn dĩ Hằng là người đã tiếp xúc với khá nhiều người trong xã hội, lại quen với công tác tập thể nên anh nhanh chóng bình tĩnh trở lại. Anh thẳng thắn nói chuyện với những người lính trong đơn vị một cách thật tự nhiên. Anh cũng không giấu giếm mục đích của mình khi xuống đây để gặp ông bố của Thơ. Có một chú khá nhiều tuổi hỏi thăm về công tác của Hằng, anh cũng không ngại gì khi nói mình vốn cũng đã là lính chiến ở chiến trường ra.

Câu chuyện nhanh chóng kết thúc khi ông bố của Thơ từ trên nhà khách đi xuống để gặp hai người. Ông tự mình kéo một chiếc ghế ở bàn bên để ngồi cạnh hai người rồi từ tốn nói chuyện:

- Hôm nay đơn vị liên hoan tổng kết năm nên cỗ bàn khá chu đáo, đơn vị cũng vừa mới ăn xong lúc các con đến. Bố bận chào khách mất một lúc nữa, nên bây giờ mới xuống được!

Đến lúc này thì Hằng đã thật sự bình tĩnh, anh nhẹ nhàng nói chuyện cùng ông cụ:

- Chúng con vừa vào trong quê xin ý kiến bố mẹ và ông bà cho phép chúng con được tổ chức đám cưới trong thời gian tới. Ông bảo chúng con xuống đơn vị gặp bố để bố hướng dẫn mọi việc.

- Ông bảo làm thế nào thì các con cứ làm như thế là được. Chỉ nên tổ chức theo đời sống mới, chứ cũng không nên bày vẽ làm gì để đoàn thể người ta phê bình...

Dừng một lúc dường như để suy nghĩ tiếp điều gì đó rồi ông lại nói tiếp:

- Các con nên tổ chức ở đơn vị. Bố sẽ nhờ một ông bác ra đại diện gia đình là xong. Nhà mình hoàn cảnh khó khăn, bố cũng không cho đơn vị biết để tránh chuyện mừng mọt, ăn uống tốn kém.

Hằng lặng lẽ nghe ông cụ nói rồi vâng nhẹ sau mỗi lần ông cụ dứt câu, cuối cùng thì anh chẳng nói được gì thêm sau câu mở đầu lúc nãy. Hằng không ngờ anh lại có ông bố vợ thật là dễ tính. Tác phong của ông thật giản dị và thân tình. Ông gặp gỡ nhanh, nói chuyện nhanh và kết thúc cũng thật nhanh bằng sự giục giã:

- Mọi việc cứ như thế là được, đã có ông bà và mẹ các con ở nhà lo lắng, bố bận ra Hà Nội họp chắc không về được đâu, thôi các con về nhanh kẻo tối...

Chiều hai mươi tháng giêng Hằng và Thơ đem giấy tờ về quê của Thơ để làm thủ tục kết hôn. Cán bộ uỷ ban xã lại có họ với gia đình của Thơ nên ông ấy đưa cả tờ khai và giấy đăng ký kết hôn cho hai người mà chẳng cần đợi một tuần như quy định lúc bấy giờ. Khi cầm tờ giấy kết hôn trên tay cả Hằng và Thơ đều cảm thấy rất ngỡ ngàng, họ ngỡ ngàng vì một điều hết sức mới mẻ đó là giờ đây họ đã là một gia đình, họ đã thành chồng thành vợ một cách nhanh chóng đến không ngờ được. 

Thứ Hai, 7 tháng 7, 2014

ĐỜI THƯỜNG 2

                      4

 

          Đám cưới của Hằng và Thơ được tổ chức theo đời sống mới đúng như lời dặn của ông bố. Phía nhà trai có anh cả vào đại diện, bên nhà gái thì có một ông bác họ và cậu em trai của Thơ ra dự lễ. Cứ tưởng tổ chức cưới theo đời sống mới như thế thì đơn giản, nhưng thực tế lại chẳng đơn giản chút nào. Đâu là lo tổ chức lễ cưới ở cơ quan của Hằng, báo hỷ ở cơ quan của Thơ, rồi còn phải về quê báo cáo với làng xóm họ hàng nữa chứ, thành ra đám cưới phải mất bốn lần tổ chức. Cứ mỗi lần nghĩ đến ngày cưới trong lòng lại vừa vui, vừa buồn không sao tả nổi.

Không biết có phải do tình yêu hay do cái gì khác nữa mà hai con người ấy cứ lặng lẽ cùng nhau lo toan, cùng nhau cố gắng làm mọi việc mà chẳng một lời phàn nàn, cho dù có bao nhiêu sự khó khăn, cản trở tưởng như không vượt qua được. Để chuẩn bị cho cái tổ ấm bé nhỏ của mình, cả hai ngưòi đều đã xoay như chong chóng với bao nhiêu công việc. Lúc thì nhờ cậy bạn bè cố mua lấy một cái ruột chăn bông tiết kiệm, lúc thì gom phiếu để sắm lấy cái vỏ chăn, cho dù chỉ là mấy mét vải xanh chéo xù lông ngoài cửa hàng tổng hợp. Khó khăn nhất là việc phải báo cáo công đoàn giúp cho vài chục gói chè hạng bét và vài chục bao thuốc lá cũng chẳng lấy gì làm ngon lắm, rồi thì xuống chợ mua từng quả trứng, để dành ít cân bột mỳ, tiết kiệm mấy tháng đường tiêu chuẩn thuê làm hơn chục cân bánh Bích quy để chia cho trẻ nhỏ trong cơ quan lúc tổ chức cưới, bởi chú rể còn là cán bộ đoàn kiêm phụ trách các cháu thiếu nhi trong đơn vị.

Nói về hoàn cảnh của đôi trai gái này thì còn nhiều chuyện khá là khác người hơn nữa. Đã sắp thành một gia đình rồi mà họ chưa có một chỗ nào để mà nương thân trong một vài ngày để mà xếp đặt, để mà sắm sửa. Của cải, tài sản thì mỗi anh chị một ba lô, một túi. Cái xe đạp để lo chạy việc cưới xin, Hằng cũng phải mượn của anh cả. Ngay cả quần áo cưới Hằng và Thơ cũng không có tiền, không có tem phiếu vải để mà may. Giường cưới là giường cá nhân của Hằng do tập thể cấp, buồng cưới thì chính là phòng ở của khu tập thể mà các bạn phải đi ngủ nhờ phòng khác để nhường cho. Bữa cơm tổ chức ở nhà gái cho dù chỉ có vài mâm người nhà, bữa cơm thân mật ở cơ quan cũng chỉ mời được mấy người trong tổ của Hằng và người nhà của hai bên vào dự cưới, nhưng cũng đâu có dễ dàng gì khi cả hai người đều chưa có một đồng xu tích luỹ nào trong túi. Có điều may mắn là Hằng và Thơ có được một bức ảnh đen trắng chụp chung làm kỷ niệm trước ngày cưới mấy hôm.

Nói đến viêc tổ chức buổi lễ cưới của họ lại càng có nhiều chuyện khá lộn xộn đáng để mà nhớ mãi. Trước tiên là sự nhiệt thành của mấy anh bạn cùng khoá trong việc chuẩn bị khu nhà ăn tập thể làm phòng cưới sớm quá làm cho sáu, bảy chục người cứ phải mang cơm ra ăn ở ngoài bãi cỏ. Đến việc trang trí thì đi mượn mãi mới được cái lọ đựng hoa tốt tốt một tý,  chả hiểu thế nào các cậu ấy lại để rơi vỡ mất. Cứ ngỡ rằng đám cưới của hai người sẽ có thêm tiết mục ca hát nhờ cái đài băng kèm theo cả bộ micro của một người bạn đi Nga về để cho các đại biểu nói cho to, cho lịch sự, nào ngờ nó cũng bị vướng vào khăn, màn gì đó rồi rơi xuống nền gạch không sử dụng được nữa. Tất nhiên là lúc tổ chức xong cả nửa tháng sau Hằng nghe lén mới biết rõ sự tình chứ lúc cưới thì cả Hằng và Thơ đều không ai biết.

Những người bạn thân thiết của Hằng không biết đã bàn bạc với nhau thế nào mà họ đã giấu quá kín tất cả mọi sự, họ muốn tự giải quyết mọi việc mà không muốn cho Hằng và Thơ buồn. Có điều những sự đổ vỡ ấy đã làm hỏng đi những đồ vật quá tốt, quá hiếm làm cho chủ nhân của những món đồ ấy quá thiệt thòi. Thực ra nếu các bạn có nói cho Hằng biết thì Hằng cũng chả biết kiếm đâu ra những đồ dùng quý hiếm cả ngàn người mới có một cái ấy để mà trả lại.

 

                                      5 

 

          Cuộc sống gia đình của đôi vợ chồng trẻ hầu như chưa khi nào ổn định vì Thơ luôn phải theo tổ sản xuất của mình đi hết nơi này đến nơi khác. Chỉ trong sáu tháng thôi mà Thơ đã phải đi đến ba cơ sở. Chưa kịp hoàn thành việc lắp điện cho trụ sở huyện Hoằng Hoá đã phải về lắp điện cho Xí nghiệp Động Lực, mới xong nửa công trình ở Xí nghiệp Động Lực đã lại lắp điện cho Nhà máy cơ khí của tỉnh. Công việc của những đơn vị xây lắp vốn dĩ vẫn là vậy. Phần nhiều công nhân của họ đều ở các công trường, thoảng hoặc lắm mới về trụ sở của xí nghiệp ở Nhồi họp hành độ nửa buổi rồi lại ra đi.

Cũng may là các công trường chỉ loanh quanh khu vực thị xã nên vợ chồng Thơ có thể ở cùng nhau, cho dù nơi ở của hai người chỉ là mấy mét vuông lợp tranh nứa và thưng bằng những tấm cót mỏng dính mà xí nghiệp làm tạm thời bằng kinh phí lán trại. Với điều kiện như thế nên tất cả các gia đình kể cả những người đã cưới nhau đến hơn mười năm cũng chẳng sắm sửa được thứ gì, ngoài mấy cái túi du lịch bằng vải bạt hoặc cái rương con bằng gỗ bán ngoài chợ mỏng tang sơn đỏ loe, đỏ loét để đựng mươi bộ quần áo và các đồ lặt vặt. Tuy đơn sơ vậy nhưng chẳng ai cảm thấy phiền lòng vì mọi người ai cũng như vậy cả.

          Từ đầu tuần Hằng được nghỉ bù mấy ngày sau gần một tháng đại tu lò máy. Hai hôm trước Hằng đi lang thang các nơi quanh thị xã tìm mua vài ba thứ phụ tùng còn thiếu lắp ráp cho xong cái xe đạp. Chiếc xe mượn của anh cả để lo chạy công việc cưới cũng đã đến lúc phải đem trả vì thời gian cũng đã quá lâu. Cho dù anh cả bảo cứ để dùng bao giờ trả cũng được, nhưng Hằng cũng chẳng yên tâm vì anh biết chị dâu và các cháu ở nhà cũng cần cho công việc sản xuất hàng ngày.

Sớm nay anh tranh thủ ra phân xưởng để nhờ gia công vài thứ phụ tùng không thấy bán ở ngoài chợ. Còn đang mải mê cưa cắt, gò uốn ở bàn cơ khí thì nghe tiếng Đại gọi ở ngoài cổng gọi vào. Mặc dù đã Nghe thấy tiếng Đại gọi hối hả nhưng Hằng cũng chỉ ngước nhìn lên rồi lại cúi xuống, cứ thế anh nói ngược trở ra :

- Có gì cứ nói đi, tớ đang dở tay một tý, với lại tay tớ bẩn lắm.

- Cứ bỏ đấy đã, việc này quan trọng lắm không phán bừa ra được.

Nghe vậy Hằng miễn cưỡng để mọi thứ xuống mặt bàn nguội rồi lững thững đi ra. Vừa đi Hằng vừa nhìn vào mặt Đại, anh ngạc nhiên khi thấy hình như hôm nay Đại khác hẳn mọi ngày.

- Có gì mà phải bí mật thế ?

- Thì cứ đến tận nơi đã.

- Lại sự cố ở đâu đó cần phải đi làm chứ gì ?

Đại không trả lời câu hỏi của Hằng mà ghé sát vào tai Hằng để nói :

- Tao vừa mới ở trên nhà máy về... Lần này nhà máy được cung cấp ba cái xe đạp, tao đã đề xuất phân cho mày một cái, về chuẩn bị tiền đi, mai lên trên ấy lấy giấy để đi mua.

- Thế sao không mang về ngay lại để ở trên ấy làm gì ?

- Mang cũng được nhưng ngại người ta lại bảo cảm tình bạn bè, không khách quan... Mà này, cũng đừng nói cho ai biết đấy nhé. Có đến hàng trăm người thừa tiêu chuẩn hơn cả mày, họ mà thắc mắc là dễ hỏng đấy. Tao phải viện cớ lúc mày đi bộ đội mày đã nhường tiêu chuẩn lại, giờ chỉ là cấp bù tiêu chuẩn thế là họ mới xuôi cho đấy.

Không được phân xe dĩ nhiên là rất khó khăn rồi, vì mua xe ngoài thì quá đắt và còn phiền hà hơn là việc  làm giấy, làm tờ để đăng ký. Nhưng mà được phân xe thì một lúc không biết lấy tiền đâu cho đủ để mà mua. Lương tháng của cả hai vợ chồng Hằng cũng không nhiều lắm, nhất là việc đi lại lưu động nên chả dư rãi gì. Thế rồi hai vợ chồng vay mỗi chỗ một ít cũng được ba trăm đồng bạc để đi lấy xe.

Cũng may cửa hàng kim khí hoá chất chuyên bán xe cung cấp ngày trước sơ tán lên vùng chợ Dủn thuộc huyện Đông Sơn nay đã về trung tâm thị xã nên chưa  đến nửa giờ Hằng đã mua được xe mang về. Nhìn cái xe đạp mới thật thích mắt, đâu là đôi vành mạ kền sáng bóng, màu sơn xanh biếc cùng với hàng chữ Thống Nhất viết hoa trên gióng khung sao mà nét đến thế. Có một điều rất đặc biệt mà lúc đó Hằng chưa biết  là chiếc xe Hằng được cung cấp cũng là đợt cung cấp cuối cùng của nhà nước cho công nhân, viên chức. Từ đó về sau chế độ bán xe đạp cung cấp đã hoàn toàn bị xoá bỏ để chuyển sang chế độ bán giá cao đồng loạt, tuy nhiên vấn đề đăng ký và gắn biển số thì vẫn được duy trì nhiều năm về sau nữa.

Phải mất hơn một tuần Hằng mới sửa chữa xong  chiếc xe mượn của anh cả. Anh cũng mong muốn trả xe sớm cho các cháu lấy xe đi lại. Số phụ tùng mua để lắp chiếc cho chiếc khung miền Nam mà Hằng mua lại của cậu Núi đều dồn vào chữa xe của anh cả nên phải hơn tháng sau anh mới lắp xong chiếc xe miền Nam để cho Thơ đi lại. Nói là lắp xe cho Thơ đi lại nhưng cô ấy lại cũng chả đi lại được nữa vì cũng chỉ độ non nửa tháng nữa là Thơ phải về nhà nghỉ đẻ.

 

                                                             CON GÁI

 

                                                                      1

 

          Thơ về nhà ông bà ngoại nghỉ đẻ đã hơn một tuần mà vẫn chưa có tin tức gì làm cho Hằng rất sốt ruột. Công việc sửa chữa của tổ lớp này lại cũng khá nhiều nên dẫu có đến hàng chục công thêm giờ mà Hằng cũng không thể về được. Thực ra thì Hằng có về hay không cũng chỉ là thăm nom cho có tình cảm để Thơ khỏi tủi thân thế thôi chứ Hằng cũng có giúp được gì. Những thứ cần cho sinh nở cô ấy cũng đã được bà mẹ và cả bà cố bảo ban sắm sửa từ trước. Quần áo sơ sinh và tã lót thì cô ấy cũng đã may được một ít. Nghĩ cho cùng thì tất cả trăm ngàn vạn mớ đều do người đàn bà tự lo lấy hết. Mấy ông chồng vô tích sự nào có giúp được gì, ấy thế mà đứa con sinh ra lại mang họ của những ông bố và rồi ngàn vạn năm sau người ta vẫn cứ cho thế là đúng. Thật đáng phẫn uất thay cho những người phụ nữ trên cái lục địa này.

          Gần hai giờ chiều ngày mười sáu tháng chín thì Hằng mới về đến nhà bố mẹ vợ. Cụ cố bà vừa thấy thoáng bóng ngoài ngõ đã ra đón Hằng vào nhà. Vừa đi cụ vừa kể lể về cái nết ăn, nết ngủ của đứa bé. Rồi thì chuyện cháu gái cụ đẻ dễ, đẻ lành. Cuối cùng thì cụ bảo mọi sự đều tốt đẹp cả.

          Hằng vào đến trong nhà thì đã thấy cả nhà cũng đang quây quần trong gian nhà bên trái. Hình như mọi người muốn cho hai mẹ con Thơ ngủ thêm nên rất ít nói. Anh chào mẹ vợ và các em rồi đến bên giường của hai mẹ con Thơ. Mặc dù trong nhà hơi tối nhưng anh vẫn thấy mặt Thơ có vẻ còn hồng hơn cả mọi khi. Nhất là đứa bé nằm bên cạnh thì cả mặt mũi tay chân lại còn đỏ hơn cả mẹ nó. Hai mẹ con đều cùng đang ngủ im lặng, chẳng hay biết gì. Hình như họ đang ngủ rất say khác hẳn mọi khi. Bà mẹ vợ và cụ cố cũng đã nhận ra sự phân vân trên khuôn mặt của Hằng. Cuối cùng thì bà cố cũng dè dặt nói cho Hằng biết :

          - Cháu cứ yên tâm đừng đánh thức mẹ con nó. Chúng nó ngủ hơi lâu vì bà cho con mẹ nó uống một tý thuốc phiện để cho nó mau sạch sẽ. Cái tang này bà cũng được các cụ ngày trước bảo cho biết, bà và mẹ cháu đã dùng nhiều lần, không có gì ngại đâu.

          - Vâng ạ ! Cháu cũng đã nghe nói, nhưng không biết mẹ con cô ấy có ngủ lâu nữa không ạ ?

          - Giờ đến chiều là tỉnh hết thôi cháu ạ.

          Hằng vén lại chăn cho vợ con rồi quay ra sân mang túi bánh kẹo vào nhà đưa cho mẹ vợ để chia cho các em rồi nói chuyện với hai bà phụ nữ. Câu chuyện cũng chỉ xoay quanh chuyện đẻ, chuyện nuôi con sau này mà các cụ muốn sang tai cho cái người lần đầu làm bố. Chuyện được một lúc thì thấy bà mẹ vợ nhắc đến việc đặt tên cho đứa bé, bà bảo Hằng :

          - Bố mày xem đặt cho con bé một cái tên để cho bệnh xá người ta làm chứng sinh.

Nghĩ ngợi một lúc Hằng lại đùn đẩy việc đặt tên con cho mẹ vợ :

          - Con nghĩ mãi cũng chẳng biết đặt là gì, hay là mẹ đặt tên cháu hộ.

          - Đứa đầu thì bố nó cứ đặt đi để tránh lẫn tên với các cụ ngoài ấy.

          Hằng nghĩ mãi mà chả biết nên đặt tên con là gì. Có lẽ đến gần nửa giờ đồng hồ anh vẫn im như thóc cân nhắc hết tên này lại sang tên khác mà vẫn chưa xong. Lúc thì anh định đặt tên là Loan, là Phượng  nhưng anh thấy có nhiều cô Loan, cô Phượng tính tình không mấy chín chắn. Lúc thì anh lại định đặt tên là Lan, là Huệ thì lại vướng tên mấy bà gì vợ. Thế rồi anh lại lướt qua hàng loạt tên của bạn bè nhưng rồi lại vẫn cứ phân vân. Bất chợt anh nhớ về những năm vẫn còn đi học với bao nhiêu con người nhiều thân thương và nhiều kỷ niệm. Anh nghĩ đến các thầy cô giáo đã dạy anh trong những ngày tháng đó. Đâu là thầy Chuyên, thầy Đàm, Thầy Kim, rồi cô Anh, cô Sâm, cô Bảo, cô Yên và còn rất nhiều các thầy, các cô khác nữa. Trong đó có lẽ cô Yên là người gần gũi nhiều với Hằng. Cô là chủ nhiệm lớp của anh suốt ba năm học cấp hai ngày ấy.

          Trong một thoáng suy nghĩ ngắn ngủi anh chợt loé lên quyết định lấy tên cô Yên để đặt tên cho con gái. Anh không biết nếu cô Yên biết anh lấy tên của cô để đặt tên cho con của mình thì cô có bằng lòng hay không? Nhưng anh biết cô rất hiền và yêu học trò, còn việc anh lấy tên cô đặt cho con gái thì việc ấy hoàn toàn xuất phát từ lòng yêu quý của anh đối với cô nên anh chẳng thấy có gì đáng ngại. Nghĩ vậy anh liền quay sang nói với bà mẹ vợ về cái tên anh đặt cho con và hình như bà mẹ vợ cũng có vẻ thích cái tên này thì phải và thế là anh quyết định đặt tên con gái là Yên. Từ đây cô bé sẽ mang cái tên ấy để mà sống, mà lớn lên, mà trưởng thành. Cô bé có theo công việc của người ấy hay không? Cô bé có làm được điều gì tốt đẹp hay không với cái tên bình dị và thân mật ấy để xứng với những điều mà người cha của cô bé hằng mong mỏi!

Cũng chỉ loáng một cái đã hết hai tháng nghỉ đẻ theo tiêu chuẩn và một tháng xin được nghỉ không lương. Hai vợ chồng Hằng đành phải rời gia đình bên ngoại để đưa con ra cơ quan cho Thơ đi làm. Cũng không biết người ta dựa trên cơ sở nào mà đặt ra chế độ nghỉ đẻ chỉ ngắn ngủi như vậy. Nếu chấp hành thật đúng thì người phụ nữ phải nghỉ trước khi đẻ một tháng và nghỉ sau khi đẻ một tháng. Đã có một vài ông chính sách của cơ quan đã máy móc tuyên bố rằng nếu các bà, các cô không nghỉ trước đúng như thế thì chỉ cho nghỉ sau khi đẻ một tháng còn số ngày trước đó phải bị cắt tiêu chuẩn. Những ông chính sách này muốn những người đàn bà kia phải thực hiện chính sác như thế mới đảm bảo sức khoẻ cho người nhà nước. Lập luận của họ nghe ra rất thấu tình đạt lý, rõ ràng đây là sự quan tâm rất rất bản chất và rất rất hợp lẽ. Họ đâu có ngờ rằng họ đã làm khó cho bao nhiêu đồng loại. Với một tháng nghỉ sau khi đẻ thì các cháu sơ sinh quả là còn rất yếu và người mẹ cũng chưa kịp hồi phục sau lần vượt cạn với bao sự nguy hiểm kề cận bên mình. Thôi thì mọi người công nhân nhà nước đều thế cả nên cũng chẳng có ai dám bắt bẻ các nhà làm luật. Nhưng dù sao thì cũng thật đáng thương cho những đứa trẻ phải xa mẹ, phải nhịn sữa trong mấy giờ đồng hồ liền. Cứ nhìn chúng khóc ngằn ngặt trong mấy ngày đầu đi trẻ mà chảy nước mắt.

Cũng may là cái bé con của vợ chồng Hằng hay ăn, chóng lớn và lại rất ngoan nên phần nào cũng thấy đỡ sót ruột. Tuy vậy cứ mỗi lần mẹ về cho bú giữa giờ thấy nó bập ngay vào vú mẹ cố mút lấy, mút để mà thương. Cũng vì con bé không hay quấy khóc nên nhiều khi các cô bảo mẫu cũng quên để ý đến nó. Có lần nó đi ngoài ra nôi mà các cô cũng không biết, đến khi mẹ về thấy phân vàng dính cả vào má, vào mặt. Đành rằng lúc ấy cũng giận các cô bảo mẫu nhưng rồi nghĩ đi, nghĩ lại thấy chỉ có vài cô mà trông đến mấy chục trẻ nên cũng đành bỏ qua cho họ.

Không biết kinh nghiệm của bà ngoại và cụ cố đến đâu mà thấy họ bắt Thơ phải kiêng khem đủ thứ. Nào là không được sờ tay vào nước trong suốt ba tháng ở nhà. Nếu có làm sạch cơ thể thì cũng chỉ được dùng khăn cho vào nước nóng có pha muối để lau là chính. Cái ăn, cái uống hàng ngày họ còn bắt Thơ phải kiêng cữ kỹ hơn. Họ chỉ cho Thơ ăn khô mà không được ăn canh. Các loại cá từ cá đồng đến cá biển thì đều phải nướng kỹ lên rồi mới đem kho mặn mà ăn. Việc kiêng cữ như vậy cũng làm cho Thơ quen dần, nên khi ra đến cơ quan cô vẫn giữ nguyên cách ăn uống, tắm rửa kiêng khem như vậy.

 

                             2 

 

          Từ sau khi từ chối làm việc ở phòng tổ chức nhà máy, Hằng lại trở về làm việc ở tổ sửa chữa máy của phân xưởng Cơ điện. Mặc dù anh không có chức trách gì trong công tác quản lý nhưng anh lại được tất cả mọi người từ  cũ đến mới, từ già đến trẻ luôn yêu mến và nể phục. Cái nể phục của mọi người còn lan sang các tổ khác trong phân xưởng vì anh rất nhiệt tình với công việc, hết ngày này sang ngày khác mà không hề so đo hơn thiệt, khôn dại với cả tập thể và với tất cả mọi người. Còn một điều mà họ quý anh ở chỗ anh làm đến cùng mọi công việc mà không chịu thua bất cứ một khó khăn nào.

Sự sáng tạo trong công việc của anh giúp cho công việc nhẹ nhàng đi và rút ngắn về thời gian nên nhiều người rất thích cùng anh làm chung trong một nhóm. Số sáng kiến được mọi người biết đến thực sự có hiệu quả về kinh tế và đặc biệt là khắc phục được tình trạng không có thiết bị, vật liệu thay thế trong lúc bấy giờ. Những năm ấy anh luôn phải lên diễn đàn hội nghị để trình bày những công việc của mình và của đơn vị. Từ Hội nghị sáng kiến của tỉnh Thanh Hoá, đến hội nghị sáng kiến của Công ty điện lực Miền Bắc tổ chức ở Hải Phòng, ở Hà Nội hầu như không vắng mặt anh. Mặc dù vậy hàng ngày Hằng sống thật vô tư và giản dị nên mọi người vẫn gần gũi và thân quý...

Vừa rời Bàn Thạch về đến Hàm Rồng lại phải tiếp tục với công việc đại tu lò máy mà không được nghỉ bù. Máy móc bây giờ hầu như đã rệu rão hết cả do nhiều năm chạy cố, chạy tận dụng. Mọi cái nếu như không động đến thì thôi nhưng nếu đã động đến thì đều nát vụn ra cả. Những năm đầu tiên của thời kỳ Tổ quốc thống nhất, vui thì thật là vui nhưng khổ thì cũng thật là khổ vì mọi cái đều thiếu thốn. Cơm gạo thiếu phải độn đến chín chục phần trăm là sắn khô, khoai khô, là hạt mạch, là ngô răng ngựa. Đồ dùng thì phân phối từ cái kim, cuộn chỉ đến cái nồi, cái bát. Đồ ăn thức uống thì cũng phân phối từ cân đường, miếng thịt đến gói chè, bao thuốc. Còn nói về máy móc thiết bị thì thiếu từ con bu lông đến miếng giấy nhám nói gì đến những thiết bị tinh vi phức tạp. Người ta rất quen với cụm từ Tự lực cánh sinh và vấn đề chủ động sáng tạo. Vì không như thế thì lấy gì mà chạy máy, lấy gì mà sản xuất ra điện. Đợt đại tu lần này tổ máy lại gặp phải một việc khá hóc búa, đó là những gối trục vừa mới mang đi thuê đúc lại ở một cơ sở chuyên ngành mang về lớp lót lại không ăn chân với vỏ gang của nó. Việc đúc lại lớp lót hợp kim ba bít B-83 ở nhà máy này là việc chưa ai thực hiện bao giờ. Cũng chả phải nghĩ ngợi gì nhiều vì chắc chắn rằng mấy cha “sáng này, sáng nọ” sẽ phải đứng ra mà đảm trách.

Sách vở về món đúc thì có đấy nhưng mà là đúc gang, đúc nhôm chứ còn đúc cái loại này thì tài liệu hiếm lắm, thôi thì cứ làm từng đoạn vậy. Hôm qua anh Khâu mang đến một quyển sách in ấn các nội dung sửa chữa trong ngành mà anh được phát trước đây rồi dở dở, lật lật tìm đến đoạn nói về đúc gối trục. Thế là mấy anh em châu đầu vào ngắm nghía rồi thì phán này, phán nọ đến hết cả buổi mà vẫn chẳng vỡ vạc ra được tý gì.

Sớm nay Hằng được giao cho làm công tác chuẩn bị vật tư, vật liệu. tuy vậy anh cũng vẫn xuống tổ rèn xem lại mấy cụ thợ điện tráng thiếc các đầu kim thu lôi cho đường dây. Anh cũng muốn tham khảo thêm về việc tráng thiếc những khi hỏi đến kinh nghiệm thì mấy cụ thợ điện bảo:

- Chúng tớ cũng chẳng có công nghệ nào đâu. Những thứ này cũng cứ theo các cụ đi trước làm cho xem rồi cứ thế mà làm vậy thôi.

- ...

- Chúng tớ chẳng phải giữ nhiệt này, nhiệt nọ mà làm gì, thiếc thì cứ cho chảy ra, sắt thì đánh sáng hơ nóng nhúng vào “át xít” rồi lau đi là được.

Thế là Hằng chẳng thu lượm được tý gì ngoài mấy câu chuyện vui với mấy cụ thợ già tổ điện.

Gần một tuần mày mò tìm kiếm đất, cát rồi thì làm khuôn, làm nồi nấu thiếc, Hằng cũng đã làm bóng mấy vỏ gối trục chuẩn bị cho việc đúc. Số hợp kim và muối Amonium cũng đã mang đến khu nhà lò rèn của phân xưởng.

Nào lau, nào rửa, nào sấy, nào chà, nào xát, mùi Axit clo, mùi muối Amonium vừa khai, vừa khét bốc lên làm cho mấy vị thợ rèn lắc đầu bịt mũi càu nhàu với nhóm đúc của Hằng. Cũng không ít người không ưa mấy anh chàng lúc nào cũng nháo nhào nhào lên làm họ cũng phải chạy theo trong khi họ chỉ muốn im lặng “tối ngày đầy công” về với vợ con bù khú. Lúc thì nửa kín, nửa hở, lúc thì ra mặt ra ý chẳng cần phải kiêng dè:

Chuông khánh còn chẳng ăn ai...nữa là...!

Và những điều dèm pha như thế được thể bung ra khi những lớp tráng thiếc của Hằng từ từ lóc ra khỏi lớp gang đen xỉn. Tiếng kẻng báo giờ nghỉ đã vang lên nhưng hình như Hằng không nghe thấy, anh vẫn cắm cúi mải cạo gọt và chà xát với mấy cục gang cóc cáy chả lấy gì làm thiện cảm. Hằng cắm cúi làm đến mức ông bí thư và ông quản đốc phân xưởng vào đứng mãi mà vẫn không hay. Anh chỉ giật mình khi ông quản đốc cất tiếng ngay ở bên cạnh :

- Thế nào, công việc không thuận lắm phải không? Hỏng thì làm lại, đừng có ngại ngần gì. Tớ tin là cậu sẽ thành công được!

- Kể ra thì cũng khó thật, không biết chúng cháu có làm được không nhưng chúng cháu sẽ cố gắng hết mức.

Đến lúc này thì cả ông bí thư cũng xen vào:

- Nếu dễ mà mọi người đều làm được thì cần gì phải giao cho các cậu. Chi bộ tin ở cánh thanh niên các cậu lắm đấy, nếu cần giúp đỡ gì thì chú cứ nói, chúng tớ sẽ hết lòng ủng hộ.

Hằng chẳng lạ gì những câu động viên của những người lãnh đạo trong đơn vị. Họ có thể giúp được gì cho các anh hay không, làm sao anh không biết. Dù sao thì như thế cũng là sự động viên của tập thể đối với Hằng nhất là khi anh đang thất bại, đang bế tắc chưa tìm thấy nguyên do của sự thất bại vừa rồi.

Đêm đã khuya lắm mà Hằng vẫn còn thức bên ngoài thềm của cái căn hộ bằng nửa gian nhà tập thể mà cơ quan của Thơ đã phân cho mẹ con Thơ. Hằng cũng chỉ như bao chàng trai thời bấy giờ sống nhờ cơ quan vợ. Không biết có một ông “trên” nào đó của nhà nước đã quy định chỉ cấp nhà, lương thực, cấp thực phẩm và các chế độ cho con cái theo người vợ. Dĩ nhiên là các đức ông chồng mãi mãi ở hộ tập thể tại cái nơi cơ quan của ông sẽ chẳng bao giờ là chủ hộ. Trừ khi ông cưới một người vợ cùng cơ quan, lúc đó họ sẽ cho tách hộ, nhưng ông và các con chỉ là các khẩu có quan hệ nào đó với bà vợ chủ hộ mà thôi. Chỉ khi các bà vợ không may có cuộc sống ngắn để trơ lại đức ông chồng với mấy đứa con thì ông mới được quyền thay. Nhưng nếu chỉ cần tái giá với bất kỳ người đàn bà nào khác thì chức chủ hộ của người đàn ông sẽ lại mất liền. Còn với bà vợ mới nếu mà ở cơ quan nào thì ông chồng lại mang con chạy về cơ quan đó. Nếu bà vợ mới này lại ở thôn quê thì tất yếu là anh chồng cũng đổi khẩu về quê ngay tắp lự, còn bản thân anh thì lại phải nhập vào cái hộ khẩu tập thể vốn sẵn có của bất kỳ một cơ quan nào của nhà nước trong lúc bấy giờ.

          Hằng thường ít ngủ, nên dù phải làm thêm đến mười một giờ khuya mới về đến nhà thì anh cũng thức thêm hai, ba tiếng nữa rồi mới đi ngủ. Nếu lại còn vướng bận những việc như hôm nay thì anh có thể trắng đêm luôn để nghĩ về công việc đó. Có đến chín mươi phần trăm những sự sáng láng trong công việc của ngày hôm sau được khai mở vào những lúc này, lúc mà nhà nước không một lần trả lương mặc dù chính lúc đó mới là lúc người ta làm việc cho nhà nước  hiệu quả nhất.

          Hằng lặng lẽ ngồi hút hết điếu thuốc lá rồi mới giở phần tài liệu kim loại màu ra để xem. Cuốn sách này anh mượn được của Đô bên tổ cơ khí chiều nay. Đô học cơ khí luyện kim nên các loại sách về vật liệu của cậu ấy khá nhiều. Điều quan trọng nhất mà anh cần tìm ngay trong đêm là nguyên nhân của việc bong lớp thiếc mà anh đã tráng gần hết buổi sáng mới xong. Sau một hồi nhấp nước bọt vào tay lần dở từng tờ giấy một anh cũng tìm ra phần tính chất lý hoá của hợp kim Ba bít B83. Anh phân vân khi biết rằng sự chảy lỏng của thiếc chỉ độ 220 độ là cùng, còn hợp kim thì lại cao đến trên 300 độ. Có lẽ vì thế mà khi sấy khuôn lớp tráng thiếc liền bong ra mất. Hằng đã nghĩ đến việc tráng lớp lót bằng chính hợp kim dùng để đúc nhưng không biết nó có tính hàn như các loại thiếc thông dụng hay không. Một nguyên nhân mà Hằng dự đoán là việc mấy cậu thợ phụ nung khuôn không đều, chỗ  quá nóng thiếc sẽ chảy ra và trôi mất. Cuối cùng thì anh cũng đã tìm ra nguyên nhân thất bại sáng nay.

 

                       3

  

          Một vỏ lò bằng đất với những khe nhỏ để luồn vào đó những dây điện trở vẫn dùng làm bếp đun đã được làm sẵn. Vỏ gang của gối trục được đánh sáng bóng, rửa đi, rửa lại bằng A xít và nước cất đã được đưa lên khung quay trên ngọn lửa lò rèn cho nóng đều. Số ba bít B83 cũ đã được cho vào nồi thép để nấu chảy ở lò bên cạnh. Cùng lúc ấy thì vỏ gang cũng đã nóng đều đến độ làm chảy được ba bít. Hằng rắc dung môi bằng bột Amonium vào bề mặt vỏ gang và chà mạnh các thanh ba bít lên đó. Lớp bạc đính đều trên toàn bộ bề mặt mà không sót một điểm nào.

Việc chuyển khuôn xuống để lắp phần khuôn chứa ba bít nóng chảy bên trong gối trục và đưa cả gối trục vào lò giữ nhiệt là việc thật khó khăn và phức tạp. Cái khó khăn, phức tạp chính là gối trục thì quá nóng, phần khuôn lại nhiều chi tiết che chắn, cách nhiệt, vỏ lò điện giữ nhiệt cũng nóng và quá chật hẹp rất dễ bị chạm vào dây điện trở. Tuy nhiên công việc lắp ráp đã kết thúc và ổn định nhiệt cho gối trục. Dòng ba bít chảy lỏng được Hằng rót đều vào khe máng trục êm như rót mật vào bát không một gợn bọt...

Những người biết việc đúc gối trục hầu như đều mong biết được kết quả. Họ sờ mó lật lên, lật xuống đưa cả bàn tay lên bề mặt ba bít để lau bụi xem màu trắng bạc của nó. Ông quản đốc hầu như chẳng để ý đến mọi người xung quanh, còn mọi người thấy ông thì đều phải giãn ra để cho ông vào, vì ông mới là người có quyền chấp nhận hay không chấp nhận cái sản phẩm này. Khi vào đến cạnh phôi đúc ông quản đốc liền móc trong túi rồi cầm ra một cái cờ lê mở ốc nhỏ. Khuôn mặt ông hình như có hơi căng thẳng và trang trọng chứ không cười nói rộn rã như mọi khi. Ông gõ nhè nhẹ lên khắp bề mặt lớp lót và chăm chú nghe. Thấy ông quản đốc làm như thế với vẻ rất trang trọng thành ra tất cả sự ồn ào lúc nãy chợt tắt hẳn và người ta nghe rõ từng tiếng gõ của ông. Cuối cùng thì ông cười một cách hể hả và nhận xét:

- Tiếng kêu thanh đều mọi chỗ, chứng tỏ là dính chắc. Ta đâu có kém hơn những người chuyên nghiệp, phải không các cậu ?

Chỉ chờ có thế là tất cả lại ồn ào trở lại và lần lượt tranh nhau sờ mó, ngắm nghía và soi xét. Mất hơn nửa giờ đồng hồ nữa Hằng mới mang được phôi đúc vào bàn nguội để gia công mép và lắp ghép bu lông. Mãi đến lúc này Hằng mới được vừa làm vừa xem xét lại một lần nữa xem có khuyết tật nào không. Anh còn lo lớp lót bị rỗ do có bọt khí bên trong sau khi tiện mới lộ ra.

Hằng không phải là người hiếu danh nhưng anh lại thích phải khắc phục được tất cả những gì là khó khăn mà mọi người chán nản và muốn từ bỏ. Anh muốn những việc anh đã nói và đã làm sẽ phải có kết quả chứ không thể để người khác cho anh là kẻ phét lác, viển vông vô tích sự. Đây cũng là cái nghiệp đã quàng vào anh từ những khi anh mới vào đời. Ai bảo anh cứ học giỏi hơn người khác? Ai bảo anh cứ làm tốt hơn người khác? Ai bảo mọi người cứ đưa anh lên để rồi anh không thể xuống được nữa? Anh đã bị  hại bởi điều đó và anh biết tất cả những điều đó mà không tìm ra được cách chống lại. Điều đó cho thấy anh cũng chẳng giỏi gì !

Sáng nay anh Khâu đi họp trên phân xưởng về không có vẻ vui, anh kéo Hằng ra phía ngoài sân than mà chẳng nói gì. Hằng biết tính anh từ lâu nên cũng cứ mặc kệ mà không hề phản ứng nhưng anh biết như thế là có sự rồi đây.

Anh Khâu móc vào túi áo bảo hộ lấy ra bao thuốc rồi đưa cho Hằng một điếu, anh lại chìa điếu thuốc của mình ra cho Hằng châm rồi thủng thẳng nói:

- Đoạn đầu hút tuần hoàn rụng mẹ nó xuống sông rồi, các ông ấy lại bắt mình tìm cách sửa.

- Sao em thấy bơm vẫn chạy cơ mà?

- Thì vẫn...nhưng mà khi nước lên, còn lúc nước xuống thì miệng ống gần mặt nước quá, tạo chân không, không được.

Đến đây thì Hằng đã thấy rõ cái sự lôi kéo của anh Khâu là nhằm vào mục đích gì rồi. Hằng chợt nghĩ đến việc trêu cho ông này một mẻ cho bõ tức:

- Việc này thì anh cứ giao cho bọn thằng Hiền, thằng Nhị là được chứ lo gì.

- Bọn này chú còn lạ gì...có để giải thưởng lớn cũng đành đứng chảy rãi mà nhìn.

Hằng bật cười nghĩ: ông này lại giở bài cũ ra đây mà. Trước tiên là làm ra vẻ bí mật rồi thì tỏ ý chỉ có thể bàn với một mình người này, người nọ để tỏ ra là mình đánh giá người ấy rất cao để họ cảm thấy mình thật sự là quan trọng, mình thật sự là hơn hẳn và đã là vậy thì mình đâu còn dám từ chối. Chả nhẽ mình lại tự nhận mình là kém, là không hiểu biết hay sao. Đương nhiên là phải hết lòng, hết sức thực hiện những gì ông ấy giao cho, ông ấy đặt niềm tin vào vừa là thể hiện mình trước bàn dân thiên hạ.

Thực ra thì chính anh Khâu cũng bị những người bên trên xỏ mũi bằng cách ấy và rồi anh ấy lại áp dụng cách ấy cho quân của chính mình. Anh ấy hoàn toàn có quyền từ chối những công việc không có đủ điều kiện do thiếu nguyên nhiên vật liệu, do không đủ điều kiện an toàn. Vậy nhưng anh ấy vẫn nhận vì anh ấy cũng muốn thể hiện mình hơn hẳn trước những người bạn cùng học với mình, thậm chí còn học sau mình thế nhưng họ đã làm việc này việc nọ ở các đoàn thể mà anh chỉ là thành viên trong đó, thậm chí còn là thành viên hạng dưới cùng tại đoàn thể ấy. Anh ấy tự đặt ra cái tiêu chí của người thợ là sự giỏi nghề chứ không phải là giỏi nói, giỏi gần gũi lãnh đạo để rồi nhờ họ quan tâm đưa lên chức này, chức nọ. Anh cố làm điều đó và từng bước lôi kéo bọn đàn em bên dưới theo anh nghĩ như thế và làm như thế. Cũng không phải chỉ có anh Khâu nghĩ và làm như thế. Cái ngang tàng của vô khối bậc sĩ phu thời xưa chả đã để lại nhiều tấm gương khảng khái đó sao. Họ nói họ không hợp tác với những người không dám ngang tàng chống lại những thế lực có quyền, có thế. Nhưng kẻ quyền thế thời ấy là một bọn người chỉ chuyên đục khoét dân tình, làm mục ruỗng rường cột đất nước. Còn giờ đây mọi sự đã khác hẳn vì chính quyền là của dân, do dân, vì dân, mặc dù không phải tất cả những ông lãnh đạo đều thực hiện đúng với “của, do và vì” như đã nói.

 

                                             CÔNG VIỆC

           

                                                        1           

 

Chiều sông Mã thật là mát mẻ bởi gió theo mặt sông thổi ràn rạt lên bờ. Nước triều đang lên chầm chậm, mặt sông dường như cứ rộng dần ra. Cây cầu  năm xưa cũng đã được sửa chữa và sơn lại tuy vậy người ta vẫn dễ dàng nhận ra những vết sứt sẹo do mảnh bom bắn vào trên những thang ngang, thanh chéo trong thời chiến tranh phá hoại của Mỹ. Nhớ lại ngày nào còn chiến tranh, bom đạn, Hằng và mấy anh em tổ máy đã chết hụt ba bốn bận ở đây mà thấy rợn cả người. Những quầng lửa đỏ khé và khét nẹt cùng với bụi đất, cát phả vào sau mỗi trận bom làm mọi người ngạt thở, thế mà đã qua gần chục năm rồi.

Đang bận bịu về những hồi tưởng nên Hằng không thấy Đại cũng đã ra đến trạm bơm. Mãi đến khi nghe vật gì đổ vật ngay sau lưng anh mới quay lại thì ra chiếc xe đạp của Đại để không vững trên bờ đê sườn bò chợt đổ ra. Đại cũng chẳng thèm dựng chiếc xe đạp dậy vì sườn đê chỗ nào chả nghiêng nghiêng, thoai thoải như thế cả. Đại cầm hòn đá ném ra ngoài sông như có ý bảo cho Hằng biết vị trí của giỏ ống hút  là ở chỗ ấy. Đại biết khá rõ vì nhiều năm sau khi Hằng đi bộ đội thì Đại vẫn ra sửa bơm ở ngoài này. Hơn nữa kế hoạch sửa đầu hút của bơm chắc là đã thông qua cấp uỷ trước khi giao nhiệm vụ cho các tổ. Đại vừa là thư ký công đoàn của cơ sở, lại là đảng uỷ viên nhà máy phụ trách khối Cơ điện nên mọi việc hầu như cậu ấy đều phải biết trước. Hằng đồ rằng ngay cả giao việc cho tổ máy Đại cũng biết trước cả anh Khâu tổ trưởng.

Hai anh em đứng ngó nghiêng cái đầu hút được một lúc thì cùng ngồi xuống vệ cỏ của con đê để nói chuyện. Họ quan tâm đến nhau nhiều hơn bình thường bởi cả hai đều cùng ở trường điện về đây. Phần nữa họ lại là đồng hương cùng tỉnh Nam Định và sống với nhau khá lâu dài. Cái sự gắn bó gần gũi giữa hai người vốn còn nhiều yếu tố khác nữa, những gắn bó đó còn phát triển về sau này nữa.

        Mải mê chuyện trò nên cả hai người đều giật mình khi thấy nước sông đã lên khá cao đến nỗi bọt sóng túa cả lên đầu, lên mặt hai người. Đại vội đến nhấc cái xe để dong lên mặt đê, còn Hằng thì vẫn đứng tại chỗ mặc kệ Đại gọi và mặc cho nước bắn lên dữ dội. Hằng đã phát hiện ra một điều đặc biệt và anh đang muốn đưa điều ấy vào công việc sửa chữa sắp tới mà lâu nay anh đang rất phân vân. Đó chính là việc dùng loại thiết bị gì để mang cái đầu hút nặng hơn ba tạ ra lắp vào đầu ống hút cách bờ đê  đến hơn hai chục mét. Anh đang ước tính xem độ cao mực nước triều là bao nhiêu và sức đẩy của cái bè chở ống rộng bao nhiều thì vừa. Rồi thì việc gá lắp đầu ống cao bao nhiêu thì vừa với mặt bích đầu ống. Khi Hằng lên đến chỗ Đại thì anh ấy đã về tự lúc nào.

Đêm đã khuya hơn mọi khi nhưng Hằng vẫn còn nằm bò trên góc thềm của gian nhà tập thể. Mấy ông bảo vệ của xí nghiệp xây lắp đi rẻo qua cũng rẽ vào xem cái chàng con rể của xí nghiệp làm gì mà thức khuya đến thế. Thực ra thì họ tiện đường mà ghé vào thôi chứ cũng không phải nghi ngờ điều gì. Họ gặp cảnh này luôn từ khi chàng ta về ở cùng vợ con ông tại cái khu công nhân của xí nghiệp. Đận trước thì chàng ấy học bổ túc rồi thì đến thi đại học. Thậm chí có lần cánh bảo vệ rẽ vào thì thấy chàng ta đang kỳ cạch lắp ráp vài cái quạt hoặc cái máy khâu rỉ ghét không biết lôi ở đâu về.

Thấy cánh bảo vệ xí nghiệp rẽ vào Hằng liền dừng tay để tiếp kiến:

- Các bác trực đêm đấy à, vào làm điếu thuốc cái  đã rồi hẵng đi.

Vừa cất lời mời Hằng vừa bỏ gói thuốc Sầm Sơn ra để mời. Chỉ có anh bảo vệ trẻ là đón lấy bao thuốc rút ra một điếu, còn hai người già hơn thì lại vớ lấy cái điếu cày Hằng dựng ngay ở cây cột hiên bằng gạch. Thấy vậy Hằng lại kéo cửa lấy ra cái hộp thuốc lào bằng nhôm rồi tiếp tục mời:

- Bác dùng loại này hở, em cũng có đây.

Thấy ông khách có ý thò tay vào túi của mình Hằng lại tiếp tục thông báo:

- Các bác thử loại này xem, chính gốc Quảng Thành, Quảng Xương đấy nhé.

Nghe Hằng nói vậy ông ta lại cất hộp thuốc của mình vào túi rồi đón lấy hộp bằng nhôm mà Hằng đưa cho, mở ra vê lấy một điếu cho vào điếu rồi rít một hơi làm cho cái điếu réo lên như tiếng còi trong đêm khuya vắng. Người già còn lại trong lúc chờ đến lượt thì cúi xuống ngó vào mấy tờ giấy Hằng vừa vẽ, viết còn nằm ngay trên chiếu.

- Chà, cái tang Quảng Xương chính hiệu có khác, làm tớ say đứ đừ ra.

- Thôi đưa đây cho tớ, lâu la quá đấy.

Đón lấy cái điếu từ tay bạn, ông cũng nhét vào nõ điếu một nhúm thuốc của mình rồi đón tiếp cái đóm mà Hằng đã chuẩn bị cho. Cũng không kém ông bạn lúc trước, ông ta còn kéo mạnh và dài hơn làm vang khắp dọc hiên khu nhà tập thể.

- Này, chả nhẽ đêm nào ông cũng thức làm việc khuya thế à?

- Cũng tuỳ lúc thôi bác ạ! Khi có việc quan trọng em mới phải tính toán tí ti cho nó chắc chắn, còn không thì cứ làm đến đâu nghĩ đến đó.

- Thế sao tôi thấy đêm nào cậu cũng thức rất khuya làm việc.

Còn chưa kịp trả lời ông này thì ông kia đã cướp lời xen vào:

- Không biết cậu vẽ gì mà nó cứ lòng vòng thế này, làm tớ ngó mãi vẫn chẳng hiểu được?

- Cái này nó là một cái phao tự chế, với lại nó chỉ ở dạng phác thảo nên các bác chưa nhận ra được, nhưng nếu mô tả bằng lời thì các bác nhận ra ngay thôi.

- Này tớ thấy hình như nó là những cái thùng phi thì phải?

- Đúng đấy bác ạ.

- Thế sao không dùng thuyền hoặc xà lan mà chở lại làm lắm thùng phi như thế làm gì cho phức tạp ra?

- Chả là cái vật em chở là đoạn ống khù khoăm dài gần bốn mét, lại phải để dựng đứng nên phải để lỗ ở giữa rồi xỏ nó vào, nên phải làm thế mới được.

- Cậu nói thì cánh tớ biết vậy thôi chứ cũng chẳng hiểu được cái việc của các cậu.

Hằng không nói chỉ cười trừ đưa ống điếu mời họ hút tiếp tỏ vẻ thông cảm với mấy ông bảo vệ của xí nghiệp. Họ đứng lên bắt tay chào Hằng rồi lại tiếp tục với công việc trông coi xí nghiệp. Mấy ông bảo vệ đi rồi nhưng Hằng vẫn chưa đi ngủ được vì anh còn đang phải nghĩ cách buộc thế nào để cho khi nước lên đến độ cao nhất định thì hai bích phải trùng vào nhau tương đối. Anh sợ đoạn cút cong sẽ dồn trọng lượng làm bích nghiêng đi không lắp gu giông vào được. Nhìn sang cái đồng hồ báo thức Trung Quốc đã thấy chỉ hai giờ sáng, Hằng đành thu hết giấy tờ rồi dọn dẹp vào nhà đi ngủ.

Hằng nằm trên giường đã lâu mà vẫn chưa nhắm mắt được, anh cố nằm im để vợ con khỏi bị thức giấc nên chân tay mỏi dừ dẫn. Nghe tiếng vợ thở đều ngay bên tai anh chợt lại thấy thương cho cô ấy. Từ khi lấy chồng rồi có con, cô ấy cũng vẫn phải lao động đủ tám tiếng một ngày, ngoài ra lại phải phục vụ chồng con với hàng trăm những việc vặt vãnh. Nào là giặt giũ, nấu ăn, chợ búa, rồi thì thuốc men đau ốm, thậm chí còn phải xúm vào với chồng lo thiếu tiền, thiếu gạo, lo vay mượn, lo trả nợ. Biết vậy nhưng anh không muốn nói ra, bởi nói ra rồi mà không giúp được gì hơn cho cô ấy thì có khác gì nói đãi bôi. Cái sự nịnh đầm bằng những lời nói ngon, nói ngọt vốn rất xa lạ trong đời sống vợ chồng. Điều những người phụ nữ muốn là họ mong chồng tiến bộ để rồi cậy vào cái tiếng của chồng mà tự an ủi mình trước bè bạn, trước mọi người. Còn có cả sự tự hào đến rơi nước mắt vì những điều đó nữa mà chẳng cần phải phàn nàn lấy một điều gì.

Nghĩ chán chuyện vợ con Hằng lại nghĩ đến cái phao đỡ ống anh đang thiết kế vẫn còn dang dở. Anh nghĩ có thể mang theo một ít đối trọng bằng các khối sắt khác buộc thêm vào mé phao không có ống để làm cân bằng lại. Nhưng anh lại nghĩ đến việc vận chuyển phao và ống đi xa gần cây số từ xưởng ra đã vất vả lại chuyển thêm khối đối trọng kia nữa thì thật gian nan, hơn nữa nếu buộc không cẩn thận để phao lộn thì thật nguy hiểm. Còn đang nghĩ ngợi lung tung thì nghe tiếng va chạm của sành sứ ngay ở góc nhà, có lẽ là có chuột chạy qua va phải. Anh cũng đoán thế nên cứ nằm im không cựa quậy, chợt anh nghe vợ gọi nhỏ nhẹ ngay bên cạnh:

- Anh nằm ngoài dậy xem hộ em cái bát mỡ để ở góc nhà xem chuột có đẩy vung ra thì chặn lại cho em.

Nghe đến đây anh mới biết Thơ đã dậy từ lúc nào mà anh không biết. Thì ra người phụ nữ thường rất tỉnh ngủ, họ có thể giật mình tỉnh ngay khi những đồ vật của mình bị đe doạ bởi sự hư hỏng phá phách. Hằng nghe vợ nói vậy anh cũng lựa thật khẽ để tránh làm con gái thức giấc. Cái cặp lồng mỡ không còn nhiều được đặt trên một chậu nước để chống kiến đã bị nghiêng đi do một chú chuột nào đó đã cố tình đẩy cái nắp ra ngoài mép. Mỡ trong cặp lồng bị dồn về một phía chính là nguyên nhân làm cho cặp lòng nghiêng hẳn về một bên. Chỉ trong giây lát nhìn vào cặp lồng mỡ Hằng đã mơ hồ tìm ra được giải pháp làm cân bằng phao chở ống. Anh thử lại việc dồn mỡ về bên kia của cặp lồng và góc nghiêng lại chuyển về hướng đó. Thế là đã rõ rồi, anh sẽ lấy nước sông đổ vào các phi ở phía đối diện ống hút để cho phao được cân bằng.

Sáng nay Hằng sẽ tổ chức lắp đoạn ống hút tuần hoàn ngay trên bờ sông Mã đúng theo như kế hoạch. Các phao ở phía đối diện với đoạn ống hút đã được đổ nước vào làm cân bằng. Phần ống bị đứt rơi mất còn một đoạn đã được tháo ra để lắp đoạn mới. Phao chứa ống hút vẫn cứ bập bềnh trên sóng chờ nước triều lên. Gần hai giờ chiều thì mặt bích gần tương ứng với nhau, Các đầu thép nhọn đã chuẩn bị sẵn liền được lồng vào các lỗ trên bích ống và các gu giông lần lượt được thay thế bắt chặt lại.

 

 

                                                     2

 

 

Lại một năm nữa sắp qua đi cùng với bao nhiêu công việc của tập thể và của cá nhân bề bộn. So với thời gian của cuộc đời thì một năm cũng chưa dài lắm. Nhưng nếu không để ý đến thì số năm ấy cứ tăng dần và đến một lúc nào đấy người ta mới nhận ra là thời gian đi quá nhanh. Cứ mỗi năm một lần người ta phải dừng lại để làm cái việc mà người ta quen gọi là tổng kết năm. Thôi thì thượng vàng hạ cám đều được nêu ra trong các bản báo cáo của tất cả những đoàn thể có trong một địa phương hoặc một đơn vị. Có điều những công việc này thật chả đáng bao nhiêu nhưng tất cả các đoàn thể đều nói đến trong báo cáo của mình. Chi bộ Đảng thì có công lãnh đạo, chính quyền thì tổ chức thực hiện, công đoàn thì lo quan tâm đến đời sống của mọi người, thanh niên, phụ nữ thì động viên xây dựng phong trào, thành ra tất cả đều chung tất tật. Sau báo cáo là những phương hướng công tác không biết dựa vào đâu.

Tiếp theo là các buổi họp kéo dài trong suốt cả tuần, nhỏ nhất là các tổ rồi sau đó là các phòng, ban, phân xưởng và cuối cùng là nhà máy. Ai cũng phải tự mình kể ra những cái tốt và cả cái xấu rồi sau đó là tự mình nhận lấy một cái danh hiệu trong ba thứ hạng khác nhau. Những công việc như vậy người ta gọi là bình bầu danh hiệu thi đua cuối năm. Phụ nữ thì có danh hiệu của phụ nữ, nào là “Đảm việc nhà, giỏi việc nước” hoặc là phụ nữ hai giỏi, Phụ nữ tiên tiến, Phụ nữ xuất sắc vân vân. Cách đấy vài năm người ta có những phong trào riêng cho các bà, các cô là Ba đảm đang hay là Ba đảm nhiệm; những danh hiệu dành cho phụ nữ trong thời chiến.Thanh niên thì Ba sẵn sàng, Ba xung kích, Ba tình nguyện, đó là nói chung vậy. Trong thanh niên có đến chín mươi chín phần trăm là những người đã được kết nạp vào Đoàn thanh niên Lao động và bây giờ là Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đi liền với tổ chức này bao giờ cũng có danh hiệu là Đoàn viên tiên tiến, Đoàn viên xuất sắc.

Trong cơ quan nhà nước còn có một tổ chức riêng của những người lao động đó là tổ chức Công đoàn. Những người lao động là đoàn viên công đoàn cũng phải phấn đấu thi đua sao cho đạt là Đoàn viên công đoàn tiến tiến, Đoàn viên công đoàn tích cực. Trong mỗi đơn vị còn có một tổ chức quan trọng bậc nhất đó là tổ chức chi bộ Đảng Cộng sản. Những người là Đảng viên Cộng sản càng phải cố gắng hơn trong hoạt động về công tác Đảng và cũng phải phấn đấu theo cái mức tiên tiến, xuất sắc giống các đoàn thể khác. Cuối cùng là tổ chức chính quyền, một tổ chức quản lý cơ bản của các tập thể những người lao động lúc bấy giờ. Những danh hiệu về chính quyền thì tất nhiên là rất quan trọng; trong đó danh hiệu đầu tiên là Lao động tiên tiến, trên mức đó là danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Từng thời gian một người ta đặt ra mấy loại Chiến sĩ thi đua đó là Chiến sĩ thi đua ngành, Chiến sĩ thi đua tỉnh và Chiến sĩ thi đua toàn quốc. Trong nhiều năm về trước và cả những năm sau này với khoảng thời gian nhất định người ta có thể còn được đề nghị tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Mỗi người công nhân thời ấy hầu như đều có đến ba tổ chức đòi hỏi họ phải thi đua, Nếu người đó là Đảng viên thì đương nhiên phải có đến bốn tổ chức.

Những cuộc họp tổng kết và bình bầu như trên cứ liên tiếp được mở ra làm cho tất cả mọi người luôn căng thẳng. Sau những báo cáo dài dằng dặc của người lãnh đạo là những bổ sung của các thành viên. Mỗi thành viên sẽ nói cái ý của mình để mà bổ sung cho báo cáo và cả bổ sung cho tất tần tật mọi cái mà anh ta chợt nghĩ ra. Tuy nhiên trong cái tập thể ấy không phải ai cũng muốn có ý kiến bổ sung mà chỉ tập trung vào mấy người đã quen thuộc từ những năm trước. Nghĩa là hình như đã có nếp từ trước rồi, những người năm trước phát biểu thì năm sau cũng lại phát biểu còn những người không phát biểu thì hình như chả bao giờ phát biểu, hết năm này qua năm khác. Sau tất cả những việc ấy tất cả mọi người đều phải có ý kiến tự kiểm điểm mình. Họ kể lể những gì mà họ đã làm được trong năm rồi tự nhận lấy một danh hiệu đã được phân ra thành ba loại khác nhau. Sau cái sự thành khẩn của người đó, chủ toạ lại đề nghị mọi người đóng góp ý kiến rồi giơ tay biểu quyết xem cái danh hiệu mà người ấy tự nhận có xứng đáng hay không. Xứng đáng hay không xứng đáng điều đó không ai tự quyết định được bởi mỗi người đều có kẻ yêu, người ghét. Kẻ yêu thì chưa xứng đáng họ cũng biểu quyết xứng đáng rồi, còn nếu ghét thì tốt mấy họ cũng chẳng tán thành dù có biết vậy những cũng chẳng ai làm gì được vì đó là quyền của họ. Có điều rất nhiều người tốt vẫn phải chờ cái sự tán thành của mấy người chưa tốt; chưa tốt hoặc cũng có thể nói là không tốt. Vậy thì người ta chờ đợi được gì ở họ? Thế cho nên cái sự được phong này, phong kia cũng phải chịu cái may rủi chứ không phải cứ đường đường chính chính mà dự phần vào đó.

Cũng chính vì thế mà cũng khối lần Hằng được bầu vào làm Chiến sĩ thi đua do có một chút công trạng và cả do cái sự yêu mến của nhiều người. Như trên đã nói, Hằng là người luôn không gặp may về con đường quan lộ, không gặp may trong cái sự được ban phát lợi lộc nên Hằng chẳng chờ đợi điều gì. Thực ra mà nói Hằng chỉ nổi trội về cái sự say mê với công việc và có nhiều thành tích vì công việc, còn nhiều thứ khác nữa cần thiết hội tụ đủ thì anh lại thiếu, thành ra mọi cái với anh chỉ chàng màng là vậy.

 

                       3

 

Mấy ngày nay Thơ có vẻ mệt mỏi khác thường, cô ăn uống kém, hay kêu bị ngứa tay chân. Nhân tiện đơn vị vãn việc Hằng xin nghỉ bù mấy ngày ở nhà trông coi con cái và nấu cơm nước giúp Thơ. Nhìn cô ấy suốt ngày gãi ngứa Hằng bảo:

- Có lẽ em bị dị ứng do thời tiết nên chỉ cần uống chút lá mát thì rồi sẽ khỏi.

- Theo anh thì uống lá gì được?

- Anh sợ hồi này đang có dịch sốt xuất huyết nên chỉ uống Kim ngân, quả Ké hoặc lá Nhọ nồi là được. Trước mắt cứ uống lá Nhọ nồi vì nó không hại gì nếu như mình bị xuất huyết.   

Thế là ngay chiều đó hai người hỳ hục kiếm lá nhọ nồi, rồi kỳ cạch giã lấy nước uống. Có lẽ phải đến mấy ngày liền mà bệnh cũng chẳng giảm đi. Chiều ấy Hằng ra nhà máy lấy tiền lương tháng, lại vui bạn vui bè mãi đến trưa mới về.

Vừa về đến nhà đã thấy Thơ nằm dài trên giường chẳng ăn uống gì cả. Hỏi mãi mới Thơ bảo sáng nay lên y tá xin thuốc thế rồi chẳng biết họ nói thế mào mà y tá cứ bảo có triệu chứng sốt xuất huyết thế là cho mấy mũi tiêm với lại ít thuốc viên. Cũng từ lúc ấy Thơ cứ mệt nặng thêm. Biết Thơ ngại đi viện nhưng bệnh cứ thế này thì chắc là không thể khỏi được. Thấy tình hình ngày càng xấu đi Hằng quyết định bắt Thơ đi viện cho bằng được. Cũng may có cô Huấn nhà trẻ sống ở tập thể rất quý Hằng và Thơ, với lại cũng thích cái bé con nhà Hằng nên giúp trông coi cái bé chứ không thì không biết gửi vào đâu.

Viện thì cũng chẳng hơn gì mấy vị y tá của cơ quan, có khi còn tệ hơn vì họ chẳng để tâm gì vào người bệnh. Cũng chẳng biết họ có khám xét gì không mà một nước đưa ngay Thơ xuống khoa lây. Chắc là họ cũng đoán là Thơ bị sốt xuất huyết.

Suốt mấy ngày liền điều trị mà bệnh của Thơ không những không giảm mà lại tăng lên. Lắm lúc hình như Thơ còn bị choáng gần như đã ngất đi. Cứ mỗi lần như thế Hằng lại lên phòng trực của bệnh viện nhưng rồi họ cũng chẳng làm gì khác được. Hằng buồn bực và giận đám thầy thuốc không sao nói lên được vì anh chả hiểu gì về bệnh tật và thuốc men. Hơn nữa anh lại ít khi ốm đau nên chả quan tâm đến việc này nhiều. Đang ngồi bần thần bên cạnh vợ anh chợt thấy Thơ mấp máy môi nhợt nhạt bảo cho cô ấy đi giải. Vừ đỡ vợ trên tay anh vừa nghĩ : nếu cứ nh thế này thì có lẽ cô ấy sẽ chết mất. Nghĩ đến đây anh thấy trong lòng mình có gì đó dâng lên đắng chát. Hai bên cánh mũi cay cay, lòng rưng rưng muốn khóc. Anh đỡ Thơ ngồi xuống để cô đi giả trong khi hai tay vẫn phải ôm ngang mình Thơ, vì nếu buông ra thì Thơ không tài nào trụ vững được nữa. Suốt ngày nay Thơ vẫn ra máu không lúc nào ngừng. Thuốc men của bệnh viện không còn làm gì được nữa sau mấy lần hội chẩn. Vừa lúc đó Hằng thấy hình như Thơ đã ngất đi sau khi có một cục máu đông bằng bao diêm rớt xuống sàn. Thế là Hằng hối hả đỡ vợ về phòng cấp cứu kêu gọi các y bác sĩ. Chính trong lúc ấy bệnh viện đã quyết định chuyển Thơ về bệnh viện tỉnh. Nhìn đồng hồ thấy đã 5 giờ Hằng lo lắng:

- Tại sao từ sáng các anh không cho chuyển? Bây giờ mới cho chuyển là thế nào?

- Anh thông cảm cho, hiện bây giờ viện không có máu để tiếp cho bệnh nhân.

- Thế sao các anh chuẩn bị lâu thế?

- Hiện nay không có người hộ tống trên đường anh ạ!

- Thế nếu không có người đi theo nhỡ người nhà tôi nguy hiểm thì làm thế nào? Tôi đề nghị các anh tập trung cứu chữa ngay tại đây.

Vừa lúc đó có một bác sỹ đứng tuổi vừa đến nói chen vào:

- Ban lãnh đạo đã hội chẩn ba lượt rồi nhưng vẫn bế tắc, có lẽ anh nên đồng ý với chúng tôi nên đưa chị ấy đi sớm may ra mới cứu được.

- Thế sao đã mấy ngày nay các anh chị không quan tâm đế cô ấy...Trong khi đó mỗi ngày tôi lên gặp gỡ đề nghị mấy lượt chứ có phải ít đâu.

- Thật tình chúng tôi cũng đã cố nhưng...việc ấy chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm sau, anh nên cho chị ấy đi sớm thì tốt hơn, vì chị ấy đang trong tình trạng ra máu không cầm được. Chúng tôi sẽ có một y tá đi hộ tống.

- Tôi đề nghị phải có bác sĩ, tôi mới cho đưa người đi.

Hình như những cán bộ y tế của viện đã nhận thấy những thiếu sót của họ nên họ luôn mềm mỏng chấp nhận yêu cầu của Hằng. Nhìn vợ ngày một lả đi Hằng giận những người cán bộ y tế nọ không biết chừng nào nên đành thoả hieepj với họ để đưa Thơ lên bệnh viện tỉnh. Anh bỏ mặc những ngưòi cán bộ y tế đứng đó chạy vào buồng cấp cứu lấy đồ đạc. Trong đầu anh đã nghĩ đến việc có lẽ con gái anh sẽ mất mẹ vì trận ốm và sự vô trách nhiệm của mấy người cán bộ y tế nọ. Thực ra thì trong mấy ngày vừa qua Thểua máu như các kỳ kinh mà thôi. Mãi đế lúc đưa Thơ đi giải lúc chiều thì tình trạng xuất huyết mới ồ ạt đến vậy. Cũng chính trong lúc vừa lo lắng ấy không hiểu sao Hằng lại nghĩ đến lần Thơ hay bị ngứa mẩn khi Thơ mang thai con bé lớn. Thế rồi Hằng lại nghi ngờ chuyện xuất huyết khối như vừa rồi là hiện tượng sảy thai thì đúng hơn. Nghĩ đến đây Hằng lại phủ định lại mình khi nhớ rằng Thơ bảo kỳ kinh trước đó vẫn có, cho dù từ ấy đến nay mới quá chưa đến một tuần. Có thể Thơ chậm kinh do ốm mà thôi. Tuy vậy anh cũng vẫn phân vân : nhỡ ra ngay sau kỳ kinh Thơ có mang thì sao? Nhưng sao mới chỉ có một tháng mà mầm thai đã lớn như khối máu vừa rồi được chăng? Cuối cùng thì anh cũng quyết định chạy sang sản khoa gặp bà chủ nhiệm khoa sản. Tất nhiên bà bác sĩ này không lạ gì cái việc viện đã ba lần hội chẩn, nhưng khi nghe phân tích khá kỹ về các nhận định của anh thì bà đã tán thành đưa Thơ về buồng sản để thăm khám. Vừa mới xem qua trong mấy phút bà đã kêu lên:

- Đúng là sẩy thai rồi, nhân viên buồng sản đâu chuẩn bị gấp dụng cụ về phòng số 5 ngay.

Hầu như tất cả những người cán bộ y tế ở gần khu vực phòng khám, phòng trực đều đi vội đi vàng sang phòng sản. Có lẽ cái số của Thơ có thể vượt qua hiểm cảnh nên chỉ sau hai mươi nhăm phút thì việc nạo nhau đã xong. Cùng với việc nạo xong thì Thơ cũng không còn ra máu nhiều nữa. Mọi người bệnh biết việc này đều mừng cho vợ chồng Thơ, còn những người cán bộ của viện thì cũng thở phào nhẹ nhõm. Họ không bình luận gì nhiều như mọi khi, tuy vậy nếu nhìn trên nét mặt thì nhận ra rằng họ muốn nói nhiều điều trong cái sự vui mừng vừa mới xảy ra trước mắt họ. Những người hộ lý đẩy xe đưa Thơ trở lại phòng trực cấp cứu và tổ chức tiêm thuốc cũng như xếp đặt lại những đồ đạc của Vợ chồng Thơ để lộn xộn khi Hằng quăng tạm đó để tìm bà trưởng khoa sản.

Một đêm thức trắng trong lo âu về những gì có thể xảy ra đối với Thơ cũng đã đi qua. Hằng vừa chăm chú theo dõi tình trạng bệnh của Thơ vừa suy xét lại đoạn đối thoại của anh với viện xem có gì tệ hại quá hay không. Anh biết là lúc ấy anh rất khó chịu, vì ở hoàn cảnh ấy ai mà không thế. Nhưng cũng may là anh chưa có gì xúc phạm quá mức với những người cán bộ y tế của viện. Có thể nói gì được khi mỗi ngày ở cái bệnh viện nhỏ này có bao nhiêu người cần đến họ, còn họ thì túi bụi, tất bật với mọi người trong khi ở nhiều cơ quan đàn ông chỉ chuyện phiếm, đàn bà thì đan len cho mình hết ngày này sang ngày khác.

Còn chưa đến giờ làm việc mà đã có nhiều bác sĩ đến thăm Thơ. Những người này chắc là có gia đình ở ngay cạnh viện. Hằng tươi vui trở lại kể về tình trạng bệnh của Thơ cho họ nghe, mặc dù họ chỉ cần hỏi hai nhân viên trực tại phòng cấp cứu thì đã biết quá rõ chứ cần gì đến một vị người nhà bệnh nhân. Tuy nhiên Hằng nhận ra rằng trong con mắt họ có gì đó hơi nể Hằng. Chắc có lẽ là họ muốn xoá đi cảnh đối đáp căng như dây đàn buổi chiều hôm trước.

Dù Thơ đã tỉnh táo trở lại nhưng viện vẫn cho nằm tại phòng trực cấp cứu, như có ý quan tâm bù đắp cho sự chưa phải của những ngày trước đó. Thậm chí cho đến khi xuống khoa nội, cả khi về cơ quan rồi mà Hằng đến xin cho Thơ nghỉ thêm, viện cũng vẫn cấp giấy cho. Còn có một điều may hơn nữa là trong những ngày chung sống với mọi người ở công trường vợ chồng Hằng luôn tốt với mọi người nên khi nhà Hằng gặp khó khăn thì ai nấy đều ra sức giúp đỡ. Chính vì vậy mà gần nửa tháng trời Thơ bị ốm, con bé con vẫn được cô Huấn giữ trẻ cùng với mọi người chăm nom chu đáo. 

 

                                                           4

 

 

            Suốt năm 1978 qua đi trong nhịp sống bình lặng với những công việc cơ quan và công việc gia đình.. Thơ thì đã khoẻ lại, đi làm cùng với mọi người. Hằng vẫn bận bịu với công việc tại cơ quan nhiều hơn là chăm lo cho gia đình. Cũng may là Thơ cũng là người yêu chồng, thương con nên cô chẳng bao giờ phàn nàn điều gì cả. Có lẽ cô cũng tự hào với bè bạn khi chồng mình luôn tiến bộ trong công tác và tốt nết trong cư xử với mọi người xung quanh hàng xóm, được mọi người yêu quý.

 

Chiều nay Hằng được đồng chí cán bộ công đoàn mời lên gặp không biết có chuyện gì. Công việc đại tu đang vào tiến độ cuối nên mãi chiều muộn anh mới lên gặp đồng chí cán bộ công đoàn. Cũng may là anh ấy còn đang họp nên chưa về. Thế là Hằng lại phải đợi đến gần cuối giờ mới gặp được. Vừa mới gặp anh đã nói để thanh minh:

- Tớ bận họp thành ra cậu lại phải chờ, thông cảm cho tớ nhé.

- Không sao anh ạ.

- Thôi anh em mình trao đổi một tý thôi. Tinh thần công việc như thế này. Ngày kia vào bẩy giờ cậu đến hội trường hai mươi lăm bê (25 B) để dự hội nghị sáng kiến do tỉnh mời.

- Thế có ai đi nữa không anh?

- Có có, có anh Kháng phó giám đốc đại diện đơn vị là khách mời. Còn cậu là đại biểu chính thức đấy nhé. Nhớ chuẩn bị nội dung, để nếu họ yêu cầu phát biểu thì lên nói được ngay.

Cũng phải đến bẩy rưỡi hội nghị sáng kiến của tỉnh Thanh Hoá mới bắt đầu khai mạc. Sau một số công việc khánh tiết thì những đơn vị có nhiều sáng kiến lên báo cáo thành tích. Hết nông trường Sao Vàng lại đến đơn vị trong ngành công nghiệp của tỉnh và các đơn vị của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh. Tiếp theo là các cá nhân lên phát biểu. Có lẽ thời gian còn lại quá ít nên nhiều báo cáo hội nghị buộc phải công bố dừng lại và hứa sẽ in trên báo Thanh Hoá để mọi người đọc. Hết phần báo cáo đến phần đọc quyết định khen thưởng các tập thể và các cá nhân. Hằng được tặng một bằng khen và được nhận một món quà là một chiếc quạt điện cơ ba mươi hai oát. Quạt này là loại hàng quý hiếm khó mua được vì nó nằm trong danh mục cung cấp nên bên ngoài không có bán.

Rất nhiều năm gia đình Hằng chưa bao giờ có cái quạt nào, những khi nhìn thấy nó ở một số gia đình ở trong khu tập thể Hằng chỉ ao ước làm sao có một cái để quạt cho con bé con gái của anh, nhưng có lẽ là không bao giờ đến lượt anh mua. Cách đó hơn một năm cả đơn vị được phân một cái, phân xưởng cân nhắc mãi mới phân cho anh Cầu thợ hàn, từ ấy đến nay chẳng có thêm lần nào nữa. Hằng thật phấn khởi khi lên ban tổ chức nhận chiếc quat về. Còn gì mừng hơn khi bỗng dưng ao ước Hằng đạt được.

Khi Hằng vừa mang chiếc quạt về nhà anh đã cắm điện cho quay thử. Một làn gió mát từ chiếc quạt thổi thẳng vào mặt anh làm cho mớ tóc bù xù đã rối lại càng thêm rối. Anh ngồi nghĩ đến con gái hôm nay sẽ không còn kêu nóng, Thơ không còn phải cầm cái quạt nan phì phạch nữa mà vui ngầm trong lòng. Chiều muộn Thơ mới đi làm về. Cô đón cả con bé con về từ nhà trẻ về nhà. Vừa vào đến nhà cô ngạc nhiên sững cả người vì không biết quạt của ai lại để trên giường nhà mình. Mãi lúc sau Hằng kể chuyện quạt đó là phần thưởng của anh thì cô mừng ra mặt. Hai mẹ con cứ ngồi hóng gió và ngắm cái quạt, quên cả việc phải lo bữa cơm chiều.

Hình như nhà nước chỉ đạo tất cả các địa phương, các cơ quan triển khai cái việc tổng kết sáng kiến thì phải. Chiều qua lại thấy tổ thông báo cho Hằng đi dự hội nghị sáng kiến tại Công ty điện lực miền Bắc ở Hà Nội. Hằng càng phấn khởi hơn vì về Hà Nội nhất định Hằng sẽ được về thăm mẹ. Sau một đêm đi tàu hoả Hằng đã đến địa điểm tổ chức Hội nghị sáng kiến của Công ty. Hằng được bố trí ở một phòng trên khách sạn Giảng Võ với một người nào đó mà anh không biết. Mãi sau khi ăn cơm chiều về Hằng mới gặp ông bạn ở cùng, anh ấy là một người Việt gốc Hoa. Anh là một cán bộ chủ chốt ở phòng kỹ thuật của nhà máy điện Lào Cai. Anh có cái tên là Phùng Tầu Cam, một cái tên rất là Trung Quốc. Buổi họp cũng khá dài và nhiều báo cáo khá độc đáo ai nghe thấy cũng phấn khởi. Vui nhất là các bữa ăn tập trung tại khách sạn đều thịnh soạn không phải đóng tiền và tem phiếu, lại gặp nhiều đồng chí cán bộ to của ngành. Hằng vừa ngồi xuống ghế thì có một đồng chí béo lùn đến ngồi cạnh. Hằng đon đả mời đồng chí cán bộ ngồi xuống. Sau nhiều câu hỏi thăm mọi người Hăng mới biết đồng chí ấy là Vũ Hiền, giám đốc công ty điện lực miền Bắc...

Đúng là năm nay Hằng gặp may hơi nhiều. Mới có cái quạt của tỉnh Thanh Hoá tặng bây giờ lại được một cái quạt nữa do Công đoàn Công ty điện lực miền Bắc tặng. Thế là anh sẽ có cái quạt nữa cho mình mà không phải nằm ké hai mẹ con Thơ. Những năm này tuy cả nước còn thiếu điện nhưng các cơ quan nhà nước vẫn chưa đặt vấn đề thu tiền điện mà chỉ trừ vào lương với một chỉ số rất nhỏ còn ai dùng nhiều ít thì cũng chẳng ai bảo sao. Tuy nhiên việc dùng điện chủ yếu là cho quạt mát và thắp sáng là chính. Còn việc đun nấu bằng bếp điện thì hầu như các các cơ quan đều cấm cả.

Từ cuối năm ngoái Thơ đã được điều về xí nghiệp để làm việc ở tổ cơ khí vì bận con nhỏ. Thế là Hằng lại phải khăn gói quả mướp theo vợ con về khu tập thể của Xí nghiệp xây lắp đóng ở làng Nhồi. Gọi là khu tập thể của xí nghiệp nhưng hầu như các nhà ở cũng chả hơn ở công trường là mấy. Khổ nhất là các căn hộ đều quá chật hẹp nên nhà nào nhà nấy cứ như là cái lò nung mỗi khi hè đến. Còn mùa đông thì chả khác gì cái cửa hàng bán đồ trẻ con vì nhà nào nhà nấy đều giăng đầy khăn, tã lót và quần áo trẻ con từ ngoài hiên vào đến trong nhà

                                       

 

                                                        ĐI PHẢ LẠI

 

                                                                1

 

          Những người ra Phả Lại được chở trên một chiếc xe tải có mui bằng tôn hoa. Số anh em ra đi hầu hết có một mình, chỉ có Hằng và anh Khâu là chuyển cả gia đình ra đơn vị mới. Về phía gia đình Hằng thì đã rõ vì lý do thu gọn gia đình về cùng một cơ quan, hơn nữa Hằng muốn về gần nơi bà mẹ đẻ ra anh đang cư trú để có cơ hội trông nom, trong khi cụ đã già yếu. Còn anh Khâu thì chẳng có lý do nào để anh phải  mang cả gia đình ra ngoài này trong khi vợ con anh đang sống ổn định cùng một cơ quan và hình như lại đang xin đất làm nhà riêng ở gần khu tập thể. Bố mẹ anh em thì vẫn sinh sống ở Thanh Hoá, nơi mà gia đình anh đã coi như quê thứ hai của mình. Cũng có một vài dư luận cho rằng anh bị thất sủng với mấy vị cấp trên nên họ cố ý điều anh đi với danh nghĩa là điều những thợ giỏi cho cơ sở mới. Số còn lại đều là các anh em tập thể, với lý do điều động ra xây dựng đơn vị mới trong ngành. Lẽ dĩ nhiên là họ không muốn rời quê hương để đi xa như thế nhưng do chính sách của trên nên phải chấp hành mà thôi. Lần đi này chỉ có Hằng là mang theo hai đứa con gái ra cùng, còn anh Khâu thì vợ con vẫn còn ở lại ra sau. Hằng luấn quấn xếp đi xếp lại cái rương, cái tủ và mấy cái cái thùng xong thì chiếc xe tải cũng bắt đầu chuyển bánh chở theo đám người mệt mỏi vì lo nghĩ và chờ đợi. Sau một hồi léo nhéo với nhau hai đứa con của Hằng đã bắt đầu ngủ gà, ngủ gật. Hằng kéo cái Uyên ngồi gần lại bên cạnh rồi giơ hai tay ra đón cái Viên từ tay anh khâu đưa cho. Anh kéo lại quần áo cho con khỏi xộc xệch rồi để con bé vào lòng. Nó đã gà gật ngay từ lúc ra xe, nhưng vì thấy đông mọi người với lại sung sướng vì được đi ô tô nên giờ đây nó mới ngủ say hơn khi cái xe rung đều đều như đưa võng.

          Hằng tựa lưng vào thành tủ quần áo, hai mi mắt khép lại nhưng không tài nào ngủ được. Anh chưa hình dung được trong những ngày tới ba bố con anh sẽ ăn ở ra sao. Lại còn Thơ và thằng cu Tiến còn đang ở Thanh Hoá chờ quyết định ra sau. Những người giao quân số thì đi bằng một chiếc xe Com măng ca mui bạt, loại xe bốn hoặc năm chỗ ngồi do Rumani sản xuất, dành cho các cán bộ đi công tác.

          Quãng đường thật là dài bởi chiếc xe đi khá chậm chạp và xóc do đường quá xấu và có nhiều xe lưu thông. Trên dọc đường đi người ta nhận ra sự xuống cấp quá độ từ những mảng vá víu chằng chịt, cùng những cây cầu cũ kỹ còn đầy dấu tích bom đạn chiến tranh. Qua Hàm Rồng một đoạn là đến cầu Tào, cầu Đò Lèn, cho dù mới được sửa chữa nhưng cũng không khá hơn được bao nhiều.

          Hằng cũng thiếp đi cùng với sự lắc lư của chiếc xe tải trong một thời gian khá dài. Anh chỉ tỉnh dậy khi con bé cái Viên cọ quạy sờ vào bụng bố đòi uống nước. Hằng với cái phích vỏ sắt màu ghi của ông bố vợ gửi cho hồi mới có cái Uyên. Cái phích đến được với gia đình nhà Hằng cũng chẳng dễ dàng gì trong cái thời buổi khan hiếm lúc đó. Cái phích ông bố vợ cho ban đầu chỉ có mỗi cái ruột người ta quen gọi là cái Téc mốt, nếu mua phân phối chỉ độ sáu đồng rưỡi mà thôi, nhưng đây là hàng chỉ có nhà nước mới có nên rất quý hiếm. Để có thể đựng nước được, Hằng phải mua một cái vỏ đan bằng nan tre để lắp vào. Có lẽ phải đến mấy tháng sau anh mới dùng tay nghề lâu nay phục vụ nhà nước để gia công cho mình được một cái vỏ bằng tôn hoa tiết kiệm được sau những lần gò khay, gò chậu cho đơn vị. Cái vỏ phích hình ống bằng tôn không được lăn ren nên chụp trên được gò mép cố định, còn dưới đáy thì được bắt ba cái vít giữ tấm sắt lót cao su đỡ cái ruột phích. Về hình thức cái vỏ Hằng gò khá giống với cái vỏ của nhà nước nên ai cũng thích. Khối người có ý muốn nhờ anh làm giúp một cái như vậy để thay những cái vỏ tre đan. Thế mà mới chỉ dùng được hơn hai tháng Hằng đã phải cho đi vì anh may mắn được ông bố vợ gửi cho cái vỏ của nhà nước chế tạo, cho dù bông hoa phong lan không được nổi lắm trên nền màu ghi tối của cái vỏ. Giờ đây thì cái chụp và cái đế nhôm đã nhom nhem màu nước chè vàng xỉn.

          Mãi gần hai giờ chiều Xe ô tô chuyển quân của Thanh Hoá mới dừng lại trước cổng của trụ sở Công ty điện lực miền Bắc ở hai mươi Trần Nguyên Hãn. Hai đứa con gái của Hằng được một phen thả xuống đường Hà Nội cứ chạy hết chỗ này đến chỗ nọ làm Hăng cứ phải để mắt vào chúng. Hằng mua cho các con hai cốc nước chè xanh pha đường trong khi chờ cán bộ nhà máy vào liên hệ với Công ty. Lũ con của Hằng không thích nước lắm mà chỉ thích cầm các cục đá lạnh để nhai ngau ngáu để mặc cho nước chảy cả ra ngực áo. Thấy lũ trẻ thích đá, anh Khâu cũng lựa các viên đá trong cốc của mình ra đưa cho hai đứa trẻ nhà Hằng.

          Sau khi trao đổi với Công ty xong thì số cán bộ trên chiếc xe con chia tay với mọi người để quay trở lại. Chỉ có một cán bộ nhân sự lên xe tải cùng đi với mọi người về Phả Lại. Con số trên xe tải cũng bớt đi một người với lý do dừng lại ở Công ty để gặp người quen trong lãnh đạo, xin trở lại đơn vị cũ.

          Có lẽ cũng phải gần bốn giờ chiều xe mới đến được bến phà Phả Lại. Từ đây đã thấy được không khí nhộn nhịp của công trường xây dựng với những ồn ào của tiếng nói của hàng trăm con người đang gọi nhau, ra lệnh làm một việc gì đó. Tiếng ồn ào của máy móc chuyển động quay tròn, nâng lên hạ xuống, của xe rú ga lên dốc, của tiếng mìn nổ phá đất đá ở chân núi xa xa. Chiếc xe tải vẫn cần mẫn bò qua các doi đất bị dồn bởi hai lằn bánh xe đi cạnh nhau là cho mọi thứ như muốn bị xô xuống mặt đường. Hằng nghĩ có lẽ mấy thứ dễ vỡ và có phần ọp ẹp của nhà mình chắc lần này sẽ không còn giữ được nữa. Người ta nói với nhau rằng:"Ba lần chuyển nhà bằng một lần nhà cháy"có lẽ cũng đúng chứ chẳng sai. Chẳng nói gì xa xôi đến như nhà Hằng vừa qua cũng phải bán đi chiếc giường lim mới mua được, vì sợ mang đi trên ô tô sẽ bị gẫy hỏng. Rồi thì còn bao nhiêu thứ gom nhặt mua sắm để dùng cũng phải cho đi vì không mang được. Cho dù những vật vặt vãnh ấy giá trị sử dụng không là bao nhưng nếu không có là không có cái để dùng.

          Khi chuyển hết được đồ đạc từ trên xe xuống thì trời cũng đã tối. Trong lúc các anh em tập thể xuống bếp tập thể ăn cơm thì Hằng bắc bếp dầu nấu cơm cho các con ăn. Cũng may là anh đã mua sắm thức ăn trước lúc lên xe nên bây giờ có cái để nấu ăn. Cũng có một số anh em ở các đơn vị khác đến trước đến giúp anh một số việc như mượn giường chiếu. Có mấy cô gái thì đón hai cái tý con ra rửa chân tay mặt mũi. Cũng may là mấy đứa trẻ nhà Hằng không lạ người ngoài nên không quấy quả trong lúc anh bận nấu cơm. Khi hai cái tý ăn xong mấy cô lại dẫn đi chơi nên Hằng mới có thời gian để dọn dẹp tiếp những đồ đạc cất trong tủ và trong các thùng tôn. Cũng may là anh chèn chặt nên mọi thứ còn nguyên vẹn.

          Một ngày bận bịu với con cái và các đồ vật cũng đã qua đi. Khi tất cả đã chìm vào bóng đêm khá lâu Hằng mới có điều kiện ngồi một mình để rồi nghĩ lại về tất cả các công việc trong đợt di chuyển vừa qua. Anh cũng không ngờ được cái vùng Phả Lại lại cách quá xa cái làng quê nhỏ bé mà gia đình Hằng đã coi như là quê thứ hai. Gọi như vậy bởi vì ta vẫn thường coi nơi quê cha là quê chính, tuy nhiên cái quê chính ấy nhiều khi cả ông bà cha mẹ ta cũng chả ở đó được bao nhiêu thời gian. Thành ra cái ước muốn về gần nhà để có điều kiện chăm sóc mẹ trong lúc tuổi già cũng khó thực hiện được nhất là gia đình Hằng hiện vẫn phải sống xa nhau. Cái cơ ngơi mà Gia đình Hằng ở tạm cũng vẫn chỉ là một gian nhà tập thể của một cơ quan sơ tán trong thời chiến tranh nhượng lại cho nhà máy sử dụng để đón tiếp công nhân về làm việc với nhà máy sau này. Hằng còn phiền muộn hơn khiThơ và cu Tiến vẫn chưa chuyển ra được do cán bộ tổ chức của nhà máy gây cản trở. Càng nghĩ đến những ngày anh gặp ông Hiên và ông Lọng ở Công ty mấy bữa trước anh lại thấy buồn.

          Khi còn ở Thanh Hoá anh thấy nhiều người nói vùng này khá gần Hà Nội, cũng chính vì thế nên anh đã nhờ Đại gửi danh sách của anh vào nhóm đề nghị được ra Phả Lại trong khi anh Sước quản đốc phân xưởng Cơ điện thì lại muốn để anh lại làm nòng cốt cho tổ sửa chữa máy sau này. Anh có ngờ đâu sau khi lên tầu ra Hà Nội rồi phải đạp xe mấy chục cây số theo đường Dâu, Keo lên ngã tư Đông Côi rồi mới đến bến Than. Thế mà từ bến Than sang Phả Lại còn phải qua  một tầm đò dọc dài gần hai tiếng đồng hồ. Quãng đường đi tắt mà cũng đã gần năm mươi cây số như vậy thì sau này về thăm nom mẹ cũng chẳng được thường xuyên. Cái việc xa xôi cách trở ấy dẫu sao cũng không quan trọng bởi tháng tháng anh vẫn có thể về với mẹ được, không như trước đây cả năm chưa chắc đã về nổi một lần. Điều phiền muộn mà anh nghĩ đến là sự bất đồng ý kiến của anh với ông trưởng phòng tổ chức trong lần tiếp xúc ban đầu. Nơi mà sau này sẽ nắm giữ vai trò trọng yếu mọi mặt đời sống và quyền lợi của anh.

          Hằng cũng không may mắn cho lắm ngay trong buổi đầu tiên bởi mấy lần lạc đường trở đi, trở lại nên khi đến bến Đại Than thì vừa lúc nhà đò nghỉ trưa ba tiếng đồng hồ, chờ sang chiều mới lại chở tiếp. Một mình nằm bên những cây đay vừa chở từ bãi ngập nước lên bờ mà lòng buồn không bút nào tả được. Đến khi đò vượt hai sông sang đến cống Phao Tân thì đã gần ba giờ rưỡi. Hỏi thăm được đến phòng tổ chức nhà máy đóng ở Đồi Cao thì đã thấy các cán bộ nhân viên rục rịch ra về thành ra việc gì cũng vội vàng không kịp nghĩ suy cân nhắc.

          Ông cán bộ tổ chức có tên là Hiên, một cái tên nghe đến hiền lành và thân thiện. Ông có khuôn mặt đầy đặn và sáng sủa hứa hẹn một sự phát đạt cao hơn hiện tại. Hình như những người làm cán bộ tổ chức đều có vẻ mặt khá giống nhau về nhiều phương diện. Nhìn họ ta không hiểu họ yêu hay họ ghét mình. Riêng ở ông Hiên thì khuôn mặt còn tỏ ra sự dễ dãi và thông cảm đến không ngờ. Thế nhưng chỉ sau vài câu tiếp xúc ta nhận ra cái sự cứng rắn đến ghê người của ông thông qua những câu hết sức ngắn gọn. Cái sự ngắn gọn đến mức làm cho ta hết hy vọng nài nỉ, cầu xin những điều cần thiết ở nơi ông. Cũng có thể vì Hằng là người lạ mà lại chỉ là một người công nhân cấp dưới nên ông tỏ ra thế chăng. Còn khi ông gặp những người thân cận hoặc cấp trên khuôn mặt có sự biến đổi khác chăng nên mãi cho đến sau này nhiều người vẫn khen ông là người hiền lành và nhã nhặn thậm chí còn bảo ông rất tốt với mọi người. Hằng chắc cũng sẽ nhận định chung như mọi người nếu như Hằng và gia đình Hằng không là nạn nhân của ông trong mấy chục năm sau đó.

          Biết là đã muộn giờ nên sau những câu chào xã giao thông thường Hằng liền đề cập đến mục đích mà anh đến gặp ông:

          - Báo cáo anh, tôi là Hằng hiện công tác ở sở điện Thanh Hoá xin gặp anh một lát ạ.

          - Anh gặp về việc gì?

          - Hôm trước cán bộ nhà máy ta về Thanh Hoá đã đồng ý tiếp nhận nhà tôi, nhưng vì lúc ấy nhà tôi chưa chuyển về nhà máy điện Thanh Hoá nên các anh ấy bảo cứ cắt chuyển về Phả Lại rồi trực tiếp ra lấy giấy tiếp nhận là có thể chuyển cả gia đình trong cùng một lúc.

          - Thế thì việc điều chuyển này hiện nay vẫn chưa có chủ trương anh ạ.

          Nghe ông Hiên nói thế Hằng giật mình đứng ngây ra một lúc không biết ăn nói ra sao với vị cán bộ nọ. Anh lục trí nhớ trở lại mấy ngày trước và anh nhớ rằng ông cán bộ của công ty đã nói rõ về chủ trương tiếp nhận vợ, chồng công nhân ngoài ngành nhưng học và làm nghề điện đấy thôi. Chẳng những thế ông cán bộ tổ chức sở điện Thanh Hoá cũng đã nói rất rõ về điều này, thế mà sao giờ đây lại...vừa nghĩ đến đây Hằng đã nói ngay:

          - Thế sao hôm trước cán bộ nhà máy đi nhận người nói tôi có thể đến nhà máy trực tiếp lấy giấy tiếp nhận, thành ra tôi đã cắt chuyển cả rồi .

          - Thế nhưng nhà máy ta đang thiếu nơi ăn ở nên việc này tạm thời chưa nhận. Anh đợi thêm mấy tháng nữa rồi chúng tôi sẽ giải quyết.

          - Nếu thế thì đề nghị các anh cứ cho chuyển, chỗ ăn ở chúng tôi sẽ tự thuê tạm vậy.

          - Không làm thế được anh ạ.

          - Anh bảo khó khăn nơi ở thì tôi sẽ tự lo được mà.

          - Biết vậy nhưng việc này hiện vẫn phải chờ chủ trương chung rồi mới giải quyết được anh ạ.

          - Hôm gặp cán bộ nhà máy về xin người, ông ấy nói sẽ tạo điều kiện tiếp nhận ngay vợ con công nhân về ngành để cùng chuyển về nhà máy ta...thành ra nhà máy trong đó chỉ tiếp nhận rồi chuyển tiếp mà không bố trí công việc.

          - Chúng tôi cũng biết vậy nhưng các anh cũng thông cảm với nhà máy chờ thêm một thời gian nữa nhé.

          - Báo cáo anh, hiện nhà tôi đã nghỉ chờ đợi! Tôi sợ thời gian công tác của cô ấy không liên tục, với lại việc nhập và cắt hộ khẩu cùng với lương thực, thực phẩm cũng cần có quyết định tiếp nhận mà nhà máy trong đó không thể thực hiện được do giới thiệu di chuyển lại viết về nhà máy ta rồi anh ạ.

          Sau nhiều lần Hằng nói đi, nói lại về hoàn cảnh khó khăn của gia đình mình nhưng ông Hiên vẫn không thay đổi ý kiến, ông lạnh lùng đáp lại lời Hằng:

          - Tôi chỉ có thể trao đổi với anh như vậy, việc anh đề nghị hiện nay chưa giải quyết được. Anh hãy chờ đợi điều động sau mấy tháng rồi sẽ đến.

          - Thế trong mấy tháng ấy gia đình tôi sẽ lấy lương thực, thực phẩm ở đâu để sống?

          - Cái đó thì tôi không thể giải quyết được. Tôi chỉ có thể tiếp nhận chị ấy sau ba tháng nữa, đấy là thời gian ngắn nhất có thể. Nếu anh không chấp nhận thì lên gặp công ty trên Hà Nội để bàn với chúng tôi  và công ty vào sáng thứ hai tới.

          Cũng chẳng cần Hằng có đồng ý hay không ông Hiên đã kẹp cặp tài liệu vào tay quay ra cửa để lên xe ô tô về khu tập thể. Hằng buộc lòng quay ra bến phà đạp xe để về Hà Nội kẻo trời cũng đã sắp tối.

 

                                                                   2

 

          Mặc dù chân tay vẫn còn rời rã do mới đạp xe hàng trăm cây số trong ngày hôm thứ bẩy nhưng Hằng vẫn dậy sớm để ra Hà Nội. Cũng may nhà anh chỉ cách Hà Nội có non chục cây số nên anh ra đến Tổng Công ty Điện lực cũng khá sớm. Hằng gửi xe xong liền lên trụ sở của Phòng Bẩy để gặp ông Lẫm trưởng phòng. Hằng đã đến Phòng Bẩy mấy lần, ngay từ khi ông Thực người Thanh Hoá còn làm trưởng phòng nên chẳng lạ gì nơi ấy.

          - Báo cáo anh, em là Hằng ở Sở điện Thanh Hoá thuộc diện điều động về Phả Lại, xin gặp anh một lát ạ.

          Ông Lẫm còn đang ngắm nghía chàng trai đứng trước mặt để xem anh ta là ai hoặc đã gặp ở đâu chưa thì Hằng đã lại tiếp tục nói thêm.

          - Hôm trước em đã lên Phả Lại gặp anh Hiên và anh Lọng xin giấy tiếp nhận để chuyển cho nhà em và các cháu cùng ra, nhưng các anh ấy chưa nhận lời. Các anh ấy có hẹn hôm nay gặp tại Công ty để giải quyết ạ.

          - Việc này Công ty đã phân cấp cho các đơn vị giải quyết rồi em ạ. Em cứ bám sát các anh ấy để lấy giấy rồi chuyển cô ấy ra thôi mà. Ngoài này đang thiếu nhiều công nhân lắm em ạ.

          - Trường hợp của nhà em là chuyển từ một đơn vị ngoài ngành về nhà máy của em rồi mới đi Phả Lại anh ạ.

          - Thì chính vậy anh mới bảo chú gặp nhà máy Phả Lại để lấy giấy chứ trong ngành thì thì Công ty điều là xong.

          - Nhưng các anh ấy bảo sau ba tháng nữa mới tiếp nhận được anh ạ.

          - Lý do?

          - Họ bảo chưa có nhà ở.

          - Có khi họ cũng khó khăn đấy, chú cố gắng đợi một chút có được không?

          - Cái khó là cả nhà em sẽ đong gạo ở đâu để sống trong mấy tháng ấy?

          - Thôi được anh đang dở một tý việc, chú cứ ra ngoài ấy chờ họ đến rồi anh em cùng bàn xem sao. Hôm nay họ có lịch làm việc ở đây đấy em ạ.

          - Họ có hẹn gặp em ở Tổng Công ty vào hôm nay để giải quyết mà.

          Mặc dù Tổng Công ty đóng ở ngay đầu đường Trần Nguyên Hãn, cách bờ hồ Gươm có một con đường nhưng anh cũng không thể ra mà ngắm cảnh hồ được vì sợ mấy ông cán bộ Phả Lại xuống sẽ không gặp. Hết đứng rồi lại ngồi ở cổng Tổng Công ty gần hai tiếng mà Hằng vẫn chưa thấy xe của Phả Lại đến. Anh đang định vào nhà gửi xe để lấy xe ra về thì chiếc ô tô con của Phả Lại đỗ ngay trước cổng. Từ trên xe bước xuống chính là ông Hiên và một người nữa mà anh cũng đã gặp hôm lên Phả Lại đó là ông Lọng trợ lý giám đốc. Một người có khuôn mặt khá đanh thép và ẩn chứa nhiều toan tính. Con mắt nhìn vừa có tý tinh nghịch nhưng đó là sự tinh nghịch ác hiểm. Cái trán cao và hẹp trên lớp da mặt đen xạm càng làm cho khuôn mặt ông bí hiểm hơn.

          Không để mất dấu, Hằng xuất hiện ngay trước mặt hai ông và bám sát hai ông cùng vào công ty. Lẽ dĩ nhiên là hai ông này đã nhận ra Hằng, họ gượng gạo bắt tay anh và bảo anh cùng đi lên tầng hai vào Phòng Bẩy ở ngay cửa cầu thang gác.

          Sợ hai ông này bận công tác khác nữa nên vừa ngồi xuống ghế Hăng chủ động đề nghị công việc của anh ngay với ông Lẫm :

          - Em báo cáo với các anh về trường hợp của em...

          Hằng còn chưa kịp nói hết câu ông Lẫm đã giơ tay ngăn lại:

          - Việc của chú tôi nắm được rồi, tôi đã trao đổi với anh Sủng bên nhân sự, tý nữa sẽ thảo luận với các anh ở Phả Lại, cứ uống nước đi đã.

          Thế là sau một lúc hàn huyên giữa chủ và khách tất cả lại đứng lên phân tán về các nơi trong khu vực của tổng công ty. Hằng ngồi ở ghế mà trong lòng nóng như lửa đốt vì chờ đợi. Ông Sủng thì cũng đang chúi mũi vào các trang sổ sách nên Hằng cũng ngại hỏi, sợ làm ông bị phân tán. Dẫu sao thì ông ấy sẽ phải nói với Hằng về việc Hằng đã đề nghị như ông Lẫm vừa đã nói lúc nãy. Có lẽ phải đến gần hai mươi phút ông Sủng mới ngẩng đầu lên :

          - Có tý việc gấp rút phải báo cáo, cậu thông cảm cho mình nhé!

          - Không sao anh ạ!

          Nói vậy nhưng trong bụng Hằng như có muối xát. Sau khi xếp lại đống sách vở ông Sủng lại giở tiếp những quyển vừa mới lấy từ cái ngăn tủ ra. Ông chăm chú lật giở dường như muốn tìm loại văn bản nào đó mà ông đã xếp chồng đống trong đống giấy tờ nọ, cuối cùng thì ông cũng reo lên:

          - Đây rồi, danh sách của Thanh Hoá đây rồi!

          Nói là vậy nhưng ông vẫn cứ lật giở từng tờ một để tiếp tục tìm kiếm.

          - Cậu nói vợ cậu tên là gì ấy nhỉ?

          - Lê Thị Thơ anh ạ!

          - Không thấy có là thế nào nhỉ?

          - Trường hợp của nhà em được chuyển theo một văn bản riêng vì cô ấy chuyển từ đơn vị ngoài ngành điện về rồi mới làm văn bản điều động anh ạ.

          - Thì ra thế! Có lẽ các anh Phả Lại ngại nhận người không có chuyên môn chứ gì?

          - Nhà em là công nhân điện học chính quy và lại đã làm trực tiếp hơn ba năm rồi đấy chứ.

          - Thế thì tốt quá còn gì? Thế sao không bảo đồng chí cán bộ tuyển người làm thủ tục ngay cho?

          - Lúc ấy nhà em chưa có giấy di chuyển nên chưa nhập về sở điện Thanh Hoá. Đến khi lấy được giấy thì các anh ấy đã đi rồi.

          - Thế bây giờ cậu đề nghị thế nào?

          - Thì chỉ cần Phả Lại cho giấy tiếp nhận là em chuyển nhà em từ sở điện Thanh Hoá ra ngay thôi anh ạ.

          Hai anh em mới trao đổi đến đó thì ông Lẫm cùng hai ông cán bộ Phả Lại trở về. Sau khi ổn định chỗ ngồi được một lúc thì ông Sủng lên tiếng:

          - Vừa rồi tôi đã xem giới thiệu của ban tuyển dụng về trường hợp của vợ cậu Hằng rồi. Cô ấy là công nhân điện bậc ba đã trực tiếp hơn ba năm như vậy là phù hợp với chủ trương đề nghị các anh Phả Lại xem xét giải quyết cho cậu ấy.

          - Không phải chúng tôi không giải quyết nhưng nhà máy hiện không có chỗ ở nên phải chờ đợi mấy tháng.

          Nghe ông Hiên nói vậy, Hằng nhận ra sự thực là ông Hiên không muốn chấp nhận vợ anh chứ chẳng phải vì trở ngại gì mà cần phải về tổng công ty bàn bạc mới thông suốt được. Giờ đây Tổng công ty cũng đã gợi ý chấp nhận thế mà ông ấy vẫn cố tình từ chối thì cái ý của ông đã rõ rồi. Anh định nhắc lại việc anh nói với ông ấy hôm ở trên Phả Lại là sẽ tự lo nhà ở trong lúc nhà máy chưa có nhà nhưng lại thôi. Anh thở dài nói dỗi:

          - Nếu đã khó khăn đến thế thì cần gì phải ép bao nhiêu công nhân ở trong đó phải gấp rút rời bỏ vợ con để ra ngoài này...nếu đã khó khăn đến thế thì sao không nói để người ta ở lại. Đến khi đã cắt hết cả hộ khẩu, lương thực rồi mới thế này thế nọ!

          - Việc này chúng tôi chưa có ý kiến gì cả.

          - Người của các anh nói... những là vì ngành điện, vì nước vì dân, rời quê hương, gia đình...còn tôi may  là về gần nhà hơn một chút thì khó khăn đến vậy!

          Thấy Hằng có vẻ nóng nảy ông Lẫm vội lên tiếng:

          - Em cứ bình tĩnh, để rồi mọi người cùng suy nghĩ, thế nào cũng sẽ có hướng khắc phục.

          - Em đề nghị anh huỷ bỏ quyết định điều động của em để em về trong đó vậy.

          Thấy tình hình ngày một căng thẳng lại Nghe Hằng nói vậy ông Sủng cũng lên tiếng:

          - Cậu này thật là... Làm gì có chuyện đã báo cáo con số viết quyết định rồi lại huỷ đi được. Cậu phải bình tĩnh để giải quyết chứ. Mà cậu cũng biết, giám đốc tổng công ty có quyền điều động cậu mà không điều động vợ cậu! Chả lẽ cậu không sợ kỷ luật à?

          - Kỷ luật à? Bốn năm trời sống với bom đạn ở Hàm Rồng vì ngành điện. Đâu là lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua. Lại hơn sáu năm liền thay mặt công nhân ngành điện vào chiến trường chiến đấu. Vừa ra quân về đến nhà máy cũ lại phong trào sáng kiến, hết của tổng công ty, của bộ, lại đến của tỉnh, rồi lại lao động tiên tiến, lại chiến sĩ thi đua; đang là người như vậy bây giờ tự nhiên chống lại mệnh lệnh cấp trên, tự nhiên tiêu cực, tự nhiên trở thành người xấu. Chắc cũng có người hỏi nguyên nhân vì sao chứ, phải không anh? Với lại em nghĩ vừa rồi chỉ là anh hỏi thử vậy thôi chứ, những người như các anh đã là cán bộ tổ chức ở cấp cao... đạo lý của các anh, tâm tư của các anh làm sao có thể để một người như thế gặp cái sự bất công được?

          Trừ có ông Hiên và ông Lọng là ngồi im còn cả ông Lẫm lẫn ông Sủng đều phá lên cười. Hai ông này  buồn cười đến vậy chắc là vì động tác của Hằng giống như một chú bé đang hờn dỗi, làm mình làm mẩy hơn là đấu khẩu với các ông ấy. Sau khi hết cười ông Lẫm ghé sát vào tai Hằng nói:

          - Cậu hơi thẳng thắn quá đấy!

          - Tính em từ trước đến giờ vẫn như vậy anh ạ.

          - Tất nhiên thẳng thắn là tốt nhưng thẳng thắn đến mức như vậy làm cho người ta cảm thấy e ngại, khó gần. Thôi cứ về đi từ nay đến giữa tháng tớ sẽ điều cô ấy ra.

          Tuy là hai người trao đổi riêng với nhau rất nhỏ nhưng nếu chú ý thì cũng vẫn nghe được. Hằng đứng dậy chào mọi người ra về. Vừa nghe chào anh Sủng đã vội bảo:

          - Vào ăn trưa với các anh luôn thể, anh dặn lấy cả tiêu chuẩn cho chú đấy.

          Đến lúc này Hằng mới nhìn đến đồng hồ, thì ra đã hơn một giờ chiều rồi. Anh vừa quay ra cửa một cách vội vã vừa nói:

          - Thôi em về luôn để kịp lên tầu về Thanh Hoá.

          - Mãi đêm mới có tầu cơ mà.

          - Em phải về qua nhà ở bên kia cầu Đuống rồi mới ra tầu anh ạ!

 

                                                                   3

 

          Cuộc gặp của Hằng với mấy ông tổ chức cả cấp bé lẫn cấp lớn của ngành điện đã qua đi gần một tháng rồi mà vẫn chẳng thấy quyết định điều động của Thơ gửi về. Mấy lần anh định lên hỏi ông Hiên nhưng anh lại nghĩ chắc nếu có thì họ sẽ báo cho mình chứ họ giữ làm gì. Hay là ông Lẫm lại quên mất rồi không biết. Chờ mãi càng sốt ruột sáng nay thứ tư, anh quyết định báo nghỉ buổi sáng để lên hỏi phòng tổ chức xem sự thể ra sao. Vừa lên đến Đồi Cao anh gặp ngay ông Hiên đang đi xuống dốc, anh cất tiếng chào làm ông Hiên giật mình đứng lại. Anh sợ ông ấy bận đi nên cất giọng hỏi luôn:

          - Không biết nhà em đã có quyệt định chưa bác nhỉ?

          - Vẫn chưa thấy gì đâu chú ạ!

          - Sao thế nhỉ?... Bác ấy bảo sau mấy hôm bác ấy sẽ điều mà. Hay là bác xem lại xem có lẫn vào đâu không.

          - Vẫn chưa có mà! Nếu có thì tôi đã biết.

          - Vâng! Thế thôi chào bác.

          Vừa đi vừa nghĩ ngợi lung tung nên Hằng chẳng để ý đến xung quanh, chợt có ai đó chạm vào lưng anh.

          - Thế nào đã có giấy của cô ấy chưa?

          Vừa nghe nói anh đã nhận ra tiếng ông quản đốc của mình, anh liền quay lại:

          - Vẫn chưa có anh ạ...Có lẽ xin anh cho nghỉ cả ngày, lên tổng công ty xem thế nào.

          - Được, cứ đi đi...có xe chưa hay là lấy xe của tôi mà đi.

          - Em có xe để dưới kia rồi.

          Cũng chỉ kịp nói với anh quản đốc mấy câu như thế là Hằng cắm cúi xuống chân đồi để sang phà về Hà Nội. Gần bốn tiếng đồng hồ Hằng mới đạp xe về đến Hà Nội. Mặc dù mỏi nhừ mỏi nhẫn cả người anh vẫn cố nhảy mấy bậc lên thang gác để vào phòng bẩy. Cũng may vừa vào đến cửa thì chạm mặt ông Lẫm đang đi ra. Vừa nhìn thấy Hằng ông đã hỏi:

          - Thế nào? Vợ con đã ổn định rồi chứ?

          - Đã có giấy tờ gì đâu mà ổn được.

          - Vớ vẩn! Quyết định tớ đã có nửa tháng nay rồi cơ mà. Hay là cậu không hỏi chỗ ông Hiên?

          - Em vừa mới hỏi ông ấy trước khi về đây anh ạ.

          - Hay là họ để lẫn vào đâu?

          - Ông ấy đã khảng định là chưa có, nếu có ông ấy đã biết.

          - Cậu không tin tớ chứ gì? Tớ lấy quyết định lưu cho cậu xem.

          Đọc tờ quyết định Hằng thấy rõ ràng là quyết định đã viết cách đây nửa tháng thật.

          - Hay là các anh quên chưa gửi?

          - Quên thế nào được! Tớ viết hôm phái đoàn tớ làm việc ở dưới ấy chứ có phải viết ở đây gửi xuống đâu.

          - Thế nhưng ông ấy cứ khăng khăng bảo không có thì làm thế nào? Thôi cho em mượn mang về dưới đó rồi hôm sau em lại mang về giả.

          - Ô cái thằng...quyết định lưu có một bản làm sao lại cho cậu mượn được.

          Cũng chẳng thèm nghe ông Lẫm nói gì nữa, Hằng gấp tờ quyết định lao vội xuống cầu thang mặc ông Lẫm đứng một mình trên đó. Cũng không cần cơm nước Hằng tiếp tục đạp hơn sáu mươi cây số trở về Phả Lại. Khi dắt chiếc xe đạp thống nhất lên đến chân Đồi Cao thì Hằng mới thấy thấm mệt. Gần một trăm hai mươi cây số đạp xe trong một ngày làm gì mà chẳng mệt. Anh giận ông Hiên và chỉ mong chóng gặp để nói vào mặt ông ấy những lời thật cay độc vì những gì ông ấy đã gây ra cho anh.

          Còn chưa kịp nghĩ mình sẽ nói câu gì với ông ấy thì đã thấy ông ấy từ trên đồi đi xuống, mặt tươi hơn hớn:

          - Chú Hằng đấy hả? Lúc nãy mấy cậu ấy đã thấy quyết định của cô ấy rồi. Chú lên trên phòng lấy về để làm thủ tục chuyển cho cô ấy.

          - Tôi tưởng anh không thấy, tôi đã mang quyết định từ công ty về đây này.

          - Chú lên Hà Nội về à? Làm sao các ông ấy lại cho chú lấy bản lưu ấy được?

          Hằng không còn đủ bình tĩnh nữa anh định nói tất cả những gì tồi tệ nhất nhưng không hiểu sao anh không thể cất lời lên được. Cuối cùng thì anh cũng nói được một câu vừa như trả lời, vừa như muốn nói rằng dù thế nào thì ông cũng không cản tôi được:

          - Anh không tin à?

           Vừa hỏi Hằng vừa lôi từ trong túi ra tờ quyết định mà anh đã lấy ở tổng công ty về giơ cho ông Hiên xem. Lẽ dĩ nhiên là ông Hiên đã nhận dạng được ngay vì những tờ quyết định này chính từ chỗ ông đã phát hành ra. Họ chào nhau thật là miễn cưỡng và mệt mỏi chả thể nào diễn tả ra được.

 

                                                                  4

 

          Chiều nay Hằng đã cắt xong tất cả giấy tờ và chế độ thì đột nhiên anh thấy người gây gấy sốt. Đã lâu lắm anh không sốt rét tái lại thế mà sao hôm nay lại sốt mới chết chứ. Mà cũng lạ cho cái kiểu sốt lần này. Sốt thì cũng chỉ có ba chín độ mà sao Hằng cảm thấy thật ghê sợ. Đầu đau như có ai cầm búa bổ vào, người thì rã rượi mê man tựa như muốn lả đi. Cũng đã gần một tuần trong tình trạng  dở mê dở tỉnh hôm nay anh mới thấy hình như bệnh có giảm đi chút ít. Cứ nghĩ lại mấy ngày vừa rồi anh càng cảm thấy thật là bi quan, nhất là sau khi đã uống hết liều thuốc sốt rét mà không cắt cơn được. Nghe tin anh về đơn vị đón vợ con để chuyển ra Phả Lại mọi người trong đơn vị cũ đến thăm khá đông. Nhiều anh chị ở xa khu tập thể hàng vài chục cây số cũng cố tranh thủ lại thăm. Ai cũng muốn biết về tình hình xây dựng nhà máy ngoài Phả Lại, động viên Hằng mau khỏi bệnh.

          Chiều nay thứ bẩy cuối tuần làm việc mọi người tập trung khá đông về sân của khu tập thể để xem hai đội bóng của khối cơ quan gián tiếp và khối phân xưởng trực tiếp sản xuất đá bóng giao hữu. Hằng cũng ra trước cửa ngồi xem với mọi người. Mấy anh em vừa mới ở nhà máy về cũng lại gần với anh vừa ngồi xem vừa hỏi han tình hình bệnh tật của Hằng. Đang nói chuyện Hằng cảm thấy ngứa ở dưới bụng chân anh kéo ống quần lên để gãi. Cùng lúc ấy Quang tổ rèn chỉ trỏ vào chân Hằng ra hiệu chớ buông quần vội. Quang chỉ vào các vết chẫm đỏ dày đặc dưới chân Hằng nói:

          - Bệnh kia chứ đâu! Xuất huyết dưới da nhiều thế cơ mà.

          Nghe Quang nói vậy ngay cả Hằng cũng bất ngờ cúi xuống nhìn những chấm đỏ dày di dày dít dưới hai bắp chân. Thì ra Hằng bị sốt xuất huyết mà chính anh cũng không biết. Trong lúc sốt nhiều, lại thay nhau nóng rét nên anh chỉ nghĩ là mình bị sốt rét tái phát mà không nghĩ là mình bị sốt xuất huyết. Có lẽ vì thế mà nhiệt độ sốt không cao lắm nhưng Hằng đã thấy ghê sợ khác hẳn các kỳ sốt rét trước đây.

          Dứt cơn sốt Hằng nghỉ thêm vài ngày cho lại sức rồi mới thu vén đồ đoàn để ra Phả Lại. Buổi tối anh đi chia tay với mọi người trong khu tập thể và khu gia đình mới thực sự bồi hồi vì cái sự xa cách sắp xảy ra giữa anh cùng với mọi người trong đơn vị. Có cái gì đó như nuối tiếc, như xót xa và buồn bã. Những năm sống chết bên nhau trong thời chiến tranh; những ngày gian nan thiếu thốn nhưng vẫn vui vẻ thân thiết đầy kỷ niệm đã sắp xa rồi. Hằng là người sống thiên về tình cảm nên anh rất dễ xúc động, nhưng anh cũng là người không thích bộc lộ nên những chuyện đau buồn anh đều muốn cố giấu mọi người. Cái sự giấu kín ấy nhiều lần tích tụ lại khiến trong lòng anh càng u uất, càng lặng lẽ. Đôi khi anh cố tỏ ra ồn ào, cười nói nhưng thực ra chỉ là để che giấu những tâm sự của mình. Anh không muốn người khác luôn chú ý và lo lắng đến mình

          Sau một ngày đêm ăn chờ, nằm đợi ở các bến xe ga tầu, vợ chồng Hằng mới về đến nhà. Cũng thật ít khi gia đình nhà Hằng được đoàn tụ với đủ mọi người, nhưng rồi cũng phải chia tay vì Hằng đi Thanh Hoá cũng đã khá lâu. Mặc dù Hằng đã nói trước với đồng chí quản đốc về thời gian có thể dài hơn dự kiến do trở ngại về việc thanh toán giấy tờ nhưng anh vẫn cảm thấy nể, vì thời gian anh ở lại do sốt xuất huyết đã dài gấp đôi dự kiến mà không có cách nào báo lại được.

          Hai vợ chồng Hằng cũng phải dùng dằng mãi mới chia tay với bà mẹ được, bởi bà cháu cứ quấn lấy nhau không chịu rời ra. Sau mấy ngày các cháu ở với bà nay lại chia tay chắc mẹ anh buồn lắm, anh nhận ra điều đó khi thấy mẹ anh ôm cả hai con bé lớn cùng với cu tý vào lòng và áp bên má già nua vào hai bên má bầu bĩnh của lũ trẻ, không muốn rời ra.

 

                                                                   5

 

          Gia đình nhà Hằng được phân hai gian nhà ngói tường xây gạch xỉ ngay sau hai gian đầu hồi của một người thuộc Viện Mỏ. Đây là những căn nhà cấp bốn, xây dựng bên bờ phía đông của một hồ chứa nước dùng để tưới cho nông nghiệp của xã Văn An, nơi mà cơ quan Viện Mỏ đã sơ tán về từ năm năm trước. Những căn nhà của Viện Mỏ cũng  giống nhiều căn nhà của các cơ quan khác của nhà nước. Phần vì xây dựng cẩu thả, tạm bợ, phần vì thời gian xây dựng cũng đã lâu nên chúng xuống cấp nghiêm trọng. Cũng đã có những căn nhà như thế ở bên tây hồ đổ tường đầu hồi sau vài cơn mưa mùa hạ. Cũng may mà mọi người đi vắng cả nên không ai bị thương tích. Tuy vậy sự việc này cũng đã làm khối người xanh mắt, lo lắng không yên. Họ mong sao chóng rời khỏi cái nơi heo hút và không an toàn nọ.

          Hai gian nhà Hằng cũng không to tát mấy nhưng nhà Hằng chả có của cải gì nên cũng không chật chội lắm. Ngoài cái tủ gỗ cũ Hằng mua lại của nhà anh Khâu để dựng quần áo. Cái thùng tôn đựng gạo và đôi thùng gánh nước Hằng gò lấy từ ngày còn ở Thanh Hoá mang ra thì hai cái xe đạp của vợ chồng Hằng là đáng giá nhất. Đương nhiên còn phải kể đến hai cái quạt cóc và cái đồng hồ  Trung Quốc Hằng mới mua ở cửa hàng bách hoá Văn An dùng làm nhân vật đánh thức hàng ngày để đi làm đúng giờ, nữa chứ.

          Cũng may khi mới ra Hằng đã lên phòng hành chính mượn được hai cái giường một bằng gỗ tạp nên mới có cái để mà nằm. Đôi giường này cũng được chia ra để ở mỗi gian một cái. Cái để trong buồng được ghép thêm một miếng ván cốp pha làm chỗ ngủ cho cả nhà Hằng. Cái còn lại để ở gian ngoài phòng khi có ai đến thì nằm nghỉ trên đó. Trước nhà Hằng còn có một gian nhà tre nhỏ nữa dùng làm nơi nấu ăn hàng ngày.

          Mỗi ngày Hằng phải theo xe ô tô của nhà máy lên công trường để tìm hiểu thiết bị, còn Thơ thì dẫn ba đứa nhỏ sang nhà trẻ của nhà máy bên tây hồ rồi mới đi làm. Công việc của Thơ là phụ với mấy cô gái khác nấu ăn cho nhà ăn tập thể ngay tại Văn An. Kể ra mà nói trong thời gian này được làm việc ngay gần nhà để có điều kiện lo việc gia đình thì cũng tốt. Hằng nghĩ có lẽ tay Hiên này chắc đang mưu tính điều gì chứ chắc anh ta chả tốt đến mức tạo điều kiện để Thơ làm gần nhà tiện chăm sóc gia đình đâu. Hằng cũng đã định lên gặp anh ta xem sao nhưng nghĩ đi nghĩ lại lời anh Lẫm nói hôm trước về cái sự quá thẳng thắn của mình anh lại thôi và có ý chờ thêm một thời gian nữa xem sao. Dẫu sao thì anh cũng không muốn duy trì mãi cái sự căng thẳng vốn đã xảy ra hơn tháng qua. 

          Công việc của Hằng trong thời gian này cũng không vất vả lắm nhưng hầu như không thể cứ nghỉ tràn đi được. Gần ba chục công nhân vừa mới ra trường được phân công về do anh quản lý đều mới chỉ học lý thuyết sơ cấp về vận hành một cách vội vã để kịp có người cho Phả Lại, nay đưa sang sửa chữa, hầu như chưa hiểu biết gì nhiều. Ngoài thời gian đi tìm hiểu thiết bị Hằng còn phải lên lớp thêm cho số anh em này một số bài về căn chỉnh thiết bị và thực hành các công việc bằng tay như gò, rèn, làm nguội cho quen. Ngoài công việc chuyên môn Hằng còn phải lo thêm bao nhiêu thứ khác như việc tổ chức lớp học quy trình cho cả khối công nhân vận hành để chuẩn bị cho việc khởi động nhà máy; bởi phân xưởng của Hằng là phân xưởng cấp nước cho cả nhà máy, mà nước trong nhà máy điện thì đó là thứ nguyên liệu đầu tiên cần đến nó.

          Việc Hằng về phân xưởng thuỷ lực cũng là việc hết sức miễn cưỡng, vì nghề chính của anh là sửa chữa tua bin hơi chứ đâu có sửa mấy cái bơm nước. Cũng nhờ mấy anh cán bộ lãnh đạo khuyên nhủ nên anh mới nhận lời ở lại. Dấu sao thì các anh ấy cũng rất chân tình khi nói về môi trường sạch sẽ của thiết bị nước, ngoài ra các anh ấy còn bảo Hằng cũng chẳng nên tìm đến chỗ gian nan vất vả làm gì. Nhưng điều quan trọng là khi lên đề nghị việc gì thì cũng chạm mặt ông Hiên, mà con người này thì nhiều lý lẽ lắm và chắc là chẳng dễ dàng gì.

                                                         THAM QUAN

 

                                                                     1

 

          Không biết từ đâu mà mấy hôm nay trong nhà máy chỗ nào cũng ồn ào bàn về việc đi thực tập Liên Xô. Chỗ thì nói thành phần này được đi, chỗ thì lại nói thành phần kia được đi, chả biết đâu mà tin được. Thực tình mà nói cái việc đi sang Liên Xô nói là để thực tập nhưng thực tập thì chả quan trọng gì lắm mà việc sang đó sẽ có cơ hội mang các thứ rất rẻ của ta sang bán cho bạn, rồi lại mua những thứ hiếm hoi từ bên đó mang về. Nhiều người đồn đại việc đi Liên Xô sẽ mang về được nhiều quạt điện, bàn là, tủ lạnh rồi thì sẽ giầu lên rất nhiều, chính vì thế nên ai cũng muốn được đi, thậm chí còn bày kế để giành quyền đi cho mình bằng bất kỳ thủ đoạn nào. Đã có nhiều anh tố cáo các khuyết điểm của bạn để lôi nhau ở lại bằng cách dựng lên những phi vụ không hề có.

          Hằng cũng không thể nằm ngoài cái không khí nói trên, nhưng anh không bộc lộ ra ngoài mặt như mấy cậu cán bộ đoàn thể trong phân xưởng. Ai mà chả thấy phấn khởi khi được đi máy bay trên chín tầng trời và rồi lại được đến, được biết, được tiếp xúc với con người và cảnh vật ở cái nơi mà cả đời cũng chỉ nhìn thấy qua phim ảnh thì sao chẳng thích. Chẳng những thế lại còn có được số của cải mang về cho bản thân, gia đình một cách hợp lý thế thì người ta khao khát, người ta muốn giành lấy là phải.

          Cũng có khối người gặp Hằng và có ý bàn về cái sự này, phần vì họ muốn biết quan điểm của anh trong việc xét duyệt thành phần nào sẽ đi trong đợt này. Trong suy nghĩ của họ thành phần đáng được đi phải là lực lượng vận hành vì vận hành thuỷ lực sẽ triển khai trước nhất trong nhà máy. Cũng không thiếu người khách quan hơn khi họ đánh giá sự việc khác xa  những anh em vừa nói ở trên. Họ nói trắng ra rằng cái sự hay ho kia trước hết họ sẽ ưu tiên mấy ông cán bộ với nhau chứ cái thứ công nhân thì còn xa lắm. Họ còn chỉ ra khá nhiều vụ những người là quản lý nhà ăn, rồi cán bộ công đoàn, hành chính thì có cần gì thực tập thế mà họ cũng đã đi chán ra rồi đấy. Vận hành và sửa chữa chắc chả có thể sơ mú vào được.

          Thế mà không biết từ đâu người ta đã quyết định sẽ đưa mấy vị đốc công sửa chữa vào diện mới lạ chứ. Có lẽ họ muốn những người này phải thực tập thật để biết cách làm mai này. Hằng cũng là đốc công sửa chữa nhưng anh nghĩ lực lượng của anh không phải lực lượng chủ chốt của nhà máy nên chưa chắc đã được đi. Hôm qua Hằng qua chỗ cơ khí để mượn một vài cái kìm rèn mang về cho số anh em công nhân mới tập rèn mấy buổi. Vừa vào đến tổ cơ khí, còn chưa kịp hỏi mượn kìm đã thấy anh Khâu ở đâu chạy đến vẫy ra chỗ vắng rỉ tai:

          - Này đã biết tin gì chưa?

          - Tin gì đấy hả anh?

          - Tao mới nghe tin sắp tới tao và chú sẽ bay đấy.

          - Có chắc không hả anh?

          - Sao không! Tao đã đọc được danh sách ở chỗ mấy ông lãnh đạo bên tao lúc đi giao ban buổi sáng.

          Trên đường rời phân xưởng cơ khí để về trạm tuần hoàn, Hằng vẫn cứ băn khoăn dở vui, dở buồn. Vui vì được đi còn buồn vì chả biết lấy tiền đâu để mà mua hàng hoá để mang sang đó. Về đến tuần hoàn thì Hằng được anh Tham quản đốc báo tin chính thức. Hai anh em vừa qua xem mấy cậu công nhân lắp đoạn đường ống nước dẫn vào trong trạm vừa trao đổi với nhau về kinh nghiệm đi Tây. Anh Tham đã đi hồi năm ngoái nên đúng là có kinh nghiệm.

          Cũng không biết thế nào mà Hằng cứ thấy không yên tâm lắm về cái chuyện đi Tây của anh, nên trong suốt chặng xe từ nhà máy về anh chỉ ngồi im một chỗ. Nhiều người mong manh biết tin có hỏi nhưng anh chỉ ậm ừ:

          - Tớ là thành phần không được "hảo" với lãnh đạo nên làm gì có may mắn đấy.

          - Chắc chắn đấy anh ạ, bên em họ đã thông báo cụ thể rồi mà. Bên thuỷ lực chỉ có mỗi anh là Hằng chứ còn ai nừa đâu mà bảo nhầm lẫn.

          - Nói chung là tớ chưa thật hy vọng lắm.

          Khi về đến nhà anh cũng chưa định nói với Thơ về tin này, vì anh sợ cô ấy mừng hụt. Thôi thì cứ để đến lúc nào cụ thể sẽ hay.

          Thế rồi việc gì đến sẽ phải đến không sao tránh được, khi bất ngờ sáng nay anh San vẫy Hằng ra ngoài hồi nhà:

          - Chú biết đấy anh ra đây chỉ là tạm thời thôi, chỉ đến khi máy vận hành là anh sẽ về trong đó. Hôm qua anh đã gặp kỹ sư chính và anh ấy cũng đã đồng ý để anh đi đoàn 1 còn chú sẽ chậm lại một chút đi với đoàn 2.

          Nghe đến đây Hằng thấy điếng cả người, anh  chẳng biết nói gì với anh San nữa, nhất là khi anh ấy đã thẳng thắn đến vậy. Anh San là người luôn có cảm tình với Hằng ngay từ khi hai anh em còn ở Thanh Hoá. Sau khi bị thương trong lúc phục vụ chiến đấu anh đi học đại học rồi về ban nhiệt của cục điện lực. Có lẽ anh cũng cạy cục lắm mới rời ban nhiệt để về Thanh Hoá. Anh muốn vợ bỏ nghề giáo viên về ngành điện để có điều kiện giúp đỡ nhau mà xin xỏ mãi không được. Cũng nhờ cái việc anh được ông kỹ sư chính là trưởng ban cũ xin điều động trực tiếp nên anh có cớ đề nghị xin vợ về sở điện. Tuy nhiên anh đâu có muốn ở Phả Lại lâu dài trong khi anh lấy lý do thương binh rồi cậy có thủ trưởng cũ giúp sức nên kế hoạch thứ nhất anh đã hoàn thành. Cái việc đi Tây này chỉ là sự việc thứ hai anh tính đến mà thôi. Cũng chính vì thế mà Hằng chẳng chuẩn bị tiền nong làm gì nữa.

          Mọi việc chắc chẳng còn gì thay đổi nữa nếu như đợt đi không bị hoãn lại một thời gian do chưa liên hệ được với các cơ sở bên nước bạn. Sau cuộc tráo đổi danh sách giữa anh San và Hằng, anh cũng buồn mất vài ngày rồi lại vui vẻ hoạt động trở lại. Anh mừng vì linh cảm đã cho anh biết cái sự trục trặc này nên anh đã không quá vui, quá ồn ào để rồi bị tẽn trước bàn dân thiên hạ. Câu chuyện sẽ chả đi đến đâu nếu như sau đó vài tuần có một ông giám đốc mới về nhậm chức. Theo nhiều nguồn tin thì ông giám đốc này là người Thanh Hoá, ông khá là thẳng thắn và rất quan tâm đến tầng lớp lao động bên dưới. Điều đầu tiên ông làm là ông đã đòi lại bốn xuất thực tập mà công ty cố ý để lại cho mấy vị ăn theo trong ngành. gọi là ăn theo vì họ đâu có quyền lợi gì thế mà cũng đòi đi cho bằng được. Lẽ dĩ nhiên là ông đã đòi được cả bốn xuất thực tập về cho nhà máy.

          Cũng chính nhờ có ông giám đốc mới mà Hằng lại có tên trong danh sách. Kể ra thì đây cũng là dịp may cho anh vì dẫu sao thì anh cũng được sang một nước ở rất xa với nước mình. Anh sẽ có dịp nhìn thấy những hình ảnh thật về một đất nước mà lâu nay đã được coi như cái nôi văn minh đứng hàng đầu thế giới. Điều quan trọng là anh sẽ thấy được số đông những người Nga anh dũng của cuộc chiến vì hoà bình vì Chủ nghĩa xã hội của gần bốn mươi năm trước. Tuy vậy anh cũng có cái buồn là anh không có tiền, chắc chắn là anh sẽ chả có gì quà cáp cho ai được giống như nhiều người đã đi sang trước anh.

          Từ mấy tháng trước, một lần nói chuyện với ông Đát bên Tây hồ thấy ông muốn mua một cái xe đạp tốt một chút để đi lại, nhường xe của ông cho vợ, Hằng cũng nói đùa:

          - Thế có dùng cái đồ cung cấp cũ này không ?

          - Anh bán thật chứ ?

          - Đói quá, cũng muốn bán để lấy cái ăn đây!

          Hằng nghĩ câu nói trên chỉ là nói trêu cho vui thôi, không ngờ ông Đát tưởng thật ông cúi xuống xem xét ngay. Ông lắc cái vành xe, quay cái tay láiãyem màu sơn, vết mà kền ở mọi chỗ. Anh chắc là ông thích vì cái xe của Hằng luôn được anh chăm chút chu đáo kể cả về hình thức lẫn độ chắc chắn nhằm giúp cho việc đi lại hàng ngày.

          - Thế anh định bán bao nhiêu?

          - Không biết có được độ bốn nghìn không ?

          - Cao quá! Đến cái xe của Đức còn chưa được thế nữa là.

          - Xe Đức thì chỉ đẹp dùng đi chơi thôi, chứ vật vã như cái này thì mấy mà tàng hả anh.

          - Thì có thế tôi mới kết nó chứ.

          Đến đây thì Hằng không dám đùa nữa, anh sợ anh Đát tin là thật rồi sau anh ấy sẽ giận. Người khu bốn là họ thật thà như đếm chứ không đùa cợt như người vùng ngoài đâu.

          - Nói vậy thôi chứ anh bảo ba đứa trẻ còn bé tý, nay ốm, mai đau, với lại rồi hai vợ chồng tôi cũng phải ra ngoài nhà máy, biết đi bằng gì.

          - Thế mà tớ cứ tưởng đằng ấy có cái khác nên muốn bán cái này đi.

          Câu chuyện sẽ chả có gì đáng nói nhưng đến bây giờ thì lại là chỗ anh hy vọng có thêm được ít tiền để gộp vào số tiền Thơ vay nóng được của mấy người bạn làm lộ phí cho anh đi công du ngoại quốc. Cũng thật may vì ông Đát vẫn kết cái xe đạp của Hằng, tuy nhiên nó chỉ đáng có hai ngàn rưởi mà thôi.

          Thực ra anh không muốn bán chiếc xe vì nó là vật có giá trị lớn nhất trong nhà, nó còn là vật kỷ niệm của gia đình anh. Vả lại nó cũng rất cần cho đi lại của vợ chồng anh trong những tháng ngày sắp tới khi Thơ phải đi làm ở ngoài nhà máy, nhưng trong lúc này cũng đành phải bán vậy.

          Những ngày chờ đợi ở Hà Nội giúp cho mọi người có điều kiện đi mua sắm các loại hàng hoá để mang theo sang nước bạn. Sau đợt mua hàng hoá Hằng mới vỡ lẽ ra đôi chút về trình độ cao siêu trong tính toán làm ăn của nhiều người bên cạnh mình. Họ biết rất kỹ cách mua hàng gì rẻ mà lại bán được nhiều tiền, còn Hằng thì vừa ít tiền lại hiểu gì nên cứ đi theo mang đồ hộ là chính.

          Đang bế tắc về vấn đề hàng hoá thì anh Khâu ở đâu đó sang chơi.

          - Hàng hoá thế nào rồi?

          - Em chẳng biết mua bán cái gì cả.

          - Thôi đi xuống con em dâu tao nó giúp cho. Mấy năm nay nó vẫn mua bán các loại này cho bọn đi ngoại quốc nên nó rành lắm.

          Nghe vậy Hằng mừng lắm nhưng anh lại nghĩ anh ấy là người nhà, còn mình là người ngoài nhờ cậy thế thì người ta còn kinh doanh gì nữa. Thấy Hằng còn lưỡng lự không quyết anh sốt ruột:

          - Chúng nó là em ruột tao, không ngại gì đâu. Nếu mà nó có ý kinh doanh với chú thì anh không để yên đâu mà sợ, thôi đi đi.

          Thế rồi Hằng cũng nhờ mua được ba cái quần bò Lesvit cỡ 33, đây là cỡ quần khá lớn hợp với số đo của người Nga. Cũng không biết thế nào mà đến lúc Hằng mua lại có loại quần cỡ to chứ mấy chục anh em mua hôm trước chỉ có quần cỡ nhỏ hơn một chút. Đến khi Hằng nói chuyện về đổi chọn cỡ quần mọi người mới suýt soa:

- Chán thế không biết, tớ chỉ mua được loại nhỏ thôi, chắc chắn là sang đó bán khó hơn.

          Cũng chả biết thế nào ngay cả anh Khâu cũng chỉ mua được loại quần nhỏ, anh bảo với Hằng:

          - Thế thì tớ phải bảo bọn nó đổi lại, mà không biết có đổi được không!

          - Em thấy chị ấy bảo chị ấy lấy của người quen nên chắc là đổi được thôi.

          Chiều nay Hằng một mình qua chợ Hàng Đào để mua mành tre, đây là những cái mành nhỏ kết bằng sợi cước vẽ hình trên đó. Hình có khi là một con hổ màu trắng, màu vàng, cũng có khi là một đàn hạc đang kiếm ăn trên một dầm lầy. Cũng có loại vẽ phong cảnh mùa đông, mùa hè trên đó nhưng rất ít người mua. Kể cả về mành thì Hằng cũng chẳng biết người Nga họ thích thế nào nên anh cứ mua mỗi thứ vài bộ. Anh mua khá nhiều các loại mành phong cảnh mùa đông với các bức tranh chỉ có hai màu đen trắng. những con công, con cò và con hạc thì anh không mua được mấy vì nhiều người đã mua hết trước đó. Ngoài quần bò và mành tre vẽ hình, Hằng cũng đi mua được mươi cái kính đổi màu mắt to tướng giống như của mọi người. Sau khi xếp hàng vào hộp giấy Hằng xem lại túi thì tiền cũng đã cạn thế là Hằng kết thúc nội dung hàng hoá với ba loại vậy mà thôi.

 

                                                             2

 

           Hằng theo đoàn người lên thang để vào máy bay mà lòng còn bao nỗi ưu tư buồn bã chưa thể dứt ra được. Những làn hơi nước trắng đục, mát dịu có mùi rất lạ toả ra che phủ khắp máy bay, làm cho Hằng thấy hơi khó chịu. Hằng ngả mình trên ghế nhìn qua cửa sổ xuống dưới đường băng, nhớ về mấy đứa trẻ ở nhà. Các con anh chắc đang còn ở bên nhà trẻ, mẹ nó sẽ phải túi bụi vì chúng vào mỗi buổi sáng đi làm. Anh nghĩ nhiều đến việc làm thế nào để con anh sẽ được sung sướng hơn bố mẹ chúng. Ngày mai đây khi chúng lớn lên, xã hội có còn được như bây giờ không hay lại chiến tranh, lại thất nghiệp. Thất nghiệp, chỉ vì thất nghiệp thôi mọi giá trị nhân cách con người sẽ tiêu tan mất, giống như những ngày nào mà cha mẹ anh đã từng phải chịu đựng. Người ta cần phải sống và sự sống buộc người ta làm con mèo, con chó hay làm bất kỳ cái gì đó để có thể không phải chết đói, chết rét. Thậm chí cái chết đối với con người cũng không đáng sợ, nhất là khi người ta chỉ có một mình. Điều đáng nói là bên cạnh họ còn những người thân, những đứa trẻ mới đang chập chững vào đời, lúc nào cũng coi họ là chỗ dựa. Cái đau đớn nhất là nhìn chúng chết đi trước sự bất lực của chính mình. Có phải vì thế mà bao người đã dám chết trong cuộc đối đầu với cái ác trong suốt năm chục năm qua. Đã có lúc Hằng lấy cái ý cho rằng mình có thể chết đi nhưng những người thân của mình sẽ hạnh phúc để trấn tĩnh bản thân trước những khốc liệt của hàng trăm trận bom pháo, hàng trăm lần trong tầm đạn của kẻ thù.

          Hằng chợt bị ngắt khỏi dòng suy nghĩ khi thấy mọi thứ dưới chân đang cựa quậy đang chuyển động và từ từ cất lên cùng với tiếng ù mơ hồ trong hai lỗ tai. Chỉ đến khi hai tai anh trở lại bình thường thì anh đã ở bên trên những thành phố, cánh đồng xanh bát ngát không biết ở đâu nữa. Lần đầu cất mình lên khỏi mặt đất với một độ cao như vậy ai mà không xúc động, ai mà không thấy ngỡ ngàng.

          Không biết người ta đi tàu thuỷ ra biển thế nào chứ đi máy bay có vẻ cũng xóc chứ chẳng êm lắm đâu. Cái xóc của máy bay mà Hằng nhận thấy là những cú hẫng hụt nôn nao trong người giống như đang bị rơi trong không khí vậy. Suốt từ lúc lên máy bay Hằng hay để ý đến bên cánh luôn chắn trước mặt. Những cử động của nó làm anh luôn cảm thấy hình như nó gắn không được chặt với thân của máy bay. Mỗi lần gặp một đám mây thì cả cái máy bay dọ dẹo cứ như cái lờ đơm cá vậy. Bên cạnh anh là Kiền ở phân xưởng điện, từ lúc ngồi vào ghế đã cuộn tròn lại vì say. Bao nhiêu cơm rau, cá, thịt ăn lúc trước đã cất cả vào túi giấy rồi mà hình như vẫn còn muốn nôn thêm nữa. Hằng và anh San thì xem ra không bị cái vụ này nên chỉ ra công lau chùi, thu dọn cho Kiền.

          Sau khi ăn bữa chính xong thì ngoài trời đã tối, bên dưới máy bay là những vùng sáng rực rỡ của các thành phố nối tiếp với nhau hiện ra. Hằng thấy choáng ngợp cả người trước những cảnh hùng vĩ mà anh chưa thấy bao giờ. Trong đầu anh một vài tứ thơ bất chợt hình thành nhưng không hiểu sao anh không thể nào nghĩ ra được câu mở đầu, thế là đành để mặc cho cảm xúc trôi qua mất. Đang mơ mơ màng màng Hằng chợt thấy đầu anh lại có gì đó phát ra tiếng ù ù nhẹ. Không lâu sau là một loạt những tiếng chấn động bên dưới máy bay, rồi máy bay dừng hẳn. Có một tràng tiếng nước ngoài phát ra từ một cái loa nào đó mà anh không nhìn thấy. Có một vài người đã đi một vài lần nói đấy là thông báo về việc chờ đợi máy bay lấy thêm xăng, bổ sung các loại đồ dùng và thực phẩm. Có điều là ở ga này nhà nước ta đã thoả thuận với nước sở tại về việc không cho khách xuống đất. Lý do chính là người ta không muốn để xảy ra lần nữa trường hợp bỏ trốn của một vị cán bộ cấp cao người Việt, chính tại nhà ga này cách đây mấy tháng.

          Hết ăn, lại ngủ rồi cũng kết thúc khi máy bay hạ cánh xuống sân bay ở Mạc tư khoa. Cho dù lúc mới xuống nhiều người có vẻ lâng châng một chút nhưng rồi quãng đường đi bộ loanh quanh chờ cán bộ tiếp đón cũng làm cho mọi người nhanh nhẹn trở lại. Cũng không biết thế nào mà suốt từ lúc máy bay gần xuống thì tự nhiên Hằng thấy có gì đó như rất háo trong người. Anh muốn nhanh chóng có một cốc nước mát để hoá giải tình trạng trên mà không biết tìm bằng cách nào. Mấy anh cán bộ và phiên dịch đều bận đi đây, đi đó để tìm người đến tiếp nhận, thành ra anh chẳng biết nhờ ai.

          Đang ngó nghiêng tìm kiếm thì Hằng thấy có một người đang đẩy một cái xe thùng đi tới. Trên thùng xe vẽ một cậu bé khá to và bụ bẫm đang áp miệng vào một cái hộp nhỏ và cũng chẳng khó khăn gì không nhận ra vật đó với hàng chữ Crem tô màu sặc sỡ. Hằng đến bên người đẩy xe thùng và đưa cho họ mấy đồng tiền lẻ của Liên Xô và chỉ vào cái thùng xe nọ. Tất nhiên là người chủ nọ hiểu ý của anh ngay, mặc dù anh chẳng thể nói với bà ấy câu gì. Sau khi ngắm nghía mấy đồng tiền nọ người có cái xe thùng thu lấy một số các tờ tiền giấy và trả lại anh những đồng xu màu đồng, tiếp theo bà ta đưa cho anh một chiếc hộp giấy tựa như bánh xà phòng thơm của ta. Hằng đón lấy và cố gắng nói câu cảm ơn bằng tiếng Nga sai bét rồi mở hộp giấy, bên trong hộp là một khối kem mềm và ngọt.

          Mọi người còn đang lo lắng không biết bao giờ có người đón thì từ phía cửa ga có một người Nga cao lớn, mặt đỏ tía đang cười nói với đoàn trưởng. Không lâu sau mọi người đã biết hành trình tiếp theo là đi ăn cơm chiều rồi lên tàu hoả về vùng nào đó của Xibêri xa xôi đến cả ngàn cây số. Cho dù thế nào thì mọi người cũng đã đến Liên Xô thật sự chứ không phải là xem trên phim ảnh và vô tuyến. Sau gần ba ngày, ba đêm liên tục trên xe lửa thì Hằng và mọi người cũng đã đến khách sạn của một thị trấn nhỏ. Nơi có nhà máy điện ở vùng Belopscai thuộc tỉnh Kemerôvơ xa lơ   xa lắc.

          Hằng được ghép đôi với một cậu kỹ sư hiệu chỉnh người Hải Phòng có tên là Nhiếp vào ở cùng một phòng trên tầng ba. Chàng thanh niên này thật là trẻ và trắng trẻo, chỉ tội hơi gầy nên cậu đi đứng cứ lòng khà lòng khòng tựa như e thẹn, ngượng ngập. Tuy cùng nhà máy nhưng lại ở các bộ phận khác nên Hằng cũng không biết gì nhiều về Nhiếp. Để có thể thông cảm với nhau suốt ba tháng thực tập, trong lúc Hằng vừa dọn giường chiếu, sắp xếp đồ đạc, Hằng  cũng hỏi thăm một vài điều về gia đình của Nhiếp.

          Nói là dọn dẹp đồ đoàn chứ thực ra thì chỉ là cất đặt mấy thứ áo quần và hàng hoá cho gọn mà thôi. Tiện tay Hằng cũng giở hộp giấy đựng mành trúc ra xem có bị hư hỏng hay không. Anh lấy một cặp mành phong cảnh mùa đông treo lên cửa sổ và ngồi ngắm nghía. Cũng chính lúc này anh mới thấy bức tranh trên mành thật là đẹp. Một dòng sông nhỏ gợn sóng, bãi bồi với những nhánh cỏ dày nổi lên trên nước. Vài mái nhà tranh ẩn hiện bên cây rừng, xa xa núi non trùng điệp tạo thành đường chân trời. Những đám mây vần vũ bên trên đỉnh núi trông thật gợi cảm.

          Còn đang mải ngắm tranh Hằng không biết có người đã vào phòng. Mãi đến khi anh nghe thấy tiếng thở mạnh sát bên anh mới giật mình quay lại. Một người phụ nữ nga chừng năm mươi tuổi trông rất điềm đạm đang mỉm cười nhìn anh từ phía đằng sau. Ngay khi anh quay lại thì người phụ nữ ấy cũng lên tiếng. Có lẽ bà ấy muốn nói với Hằng một điều gì đó mà anh không hiểu, thế là cả hai đành cùng cười một cách thân thiện với nhau vậy. Hình như những điều người phụ nữ nọ nói với Hằng là những câu hỏi vì phần cuối của câu nói luôn có những âm tiết cất cao hơn.

          Đang chả biết làm thế nào để hiểu được ý tứ của người phụ nữ nọ thì Nhiếp trở về phòng. Có lẽ Nhiếp đã nghe được người phụ nữ nói những câu cuối nên vừa vào đến nơi cậu ta đã bảo:

          - Bà ấy khen tranh của anh rất đẹp và bà ấy muốn mua, anh có bán cho bà ấy không.

          - Có nên bán không nhỉ? Hằng bật hỏi lại Nhiếp

          - Thì mình mang sang để bán thì cứ bán chứ để lại làm gì hở anh.

          - Tớ sợ mình vừa mới đến...

          - Chả sao đâu anh ạ.

          - Thế thì Nhiếp bảo bà ấy giúp hộ.

          - Bà ấy hỏi anh lấy bao nhiêu tiền.

          - Tớ chẳng hiểu gì về giá cả mới chết chứ.

          - Bà ấy bảo trả năm rúp một cái anh ạ.

          - Thế có được không?

          - Tốt quá rồi anh ạ! Em nghe các anh ấy nói đợt trước họ chỉ bán được ba rúp một cái là cùng.

          - Hay là Nhiếp cứ bán trước đi, của anh có ít để bán sau cũng được.

          - Em có hỏi nhưng bà ấy không thích công, cò, hạc mà lại chỉ thích loại tranh của anh mà thôi.

          - Thế thì nhờ Nhiếp bán hộ.

          Vừa nghe Nhiếp nói đồng ý bán là bà khách đến cuộn ngay hai bức mành lại, rồi quay sang Nhiếp hỏi thêm mấy câu nữa. Nhiếp quay lại dịch cho Hằng nghe:

          - Bà ấy muốn mua nhiều để tặng bạn bè, nếu còn thì anh bán thêm cho bà ấy.

          Hằng cũng không ngờ cái thứ mà số đông các anh em cùng đi chê ủng, chê eo bảo không hợp với sở thích người Nga thì đột nhiên lại đắt hàng đến thế. Thế là có bao nhiêu mành phong cảnh Hằng mang ra bán hết. Những bức còn lại chỉ là mấy con hổ và mấy con hạc mà Hằng may mắn mua vét lại được hôm ở Hà Nội. Sau khi trả tiền xong người phụ nữ nọ hình như còn muốn hỏi điều gì đó mà Hằng không hiểu. Nhìn qua cách ra hiệu bằn tay Hằng đoán bà ấy muốn nói đến quần áo thì phải. Cuối cùng thì Nhiếp lại vẫn phải quay lại dịch cho Hằng nghe:

          - Bà ấy hỏi anh có quần bò bán không.

          - Chắc bà ấy buôn bán hay sao mà mua nhiều thế?

          - Bà ấy là nhân viên của khách sạn anh ạ, người ngoài sao có thể vào đây được.

          - Tôi bán nhiều quá rồi, còn quần bò thì nhất định nhường chú bán trước.

          - Bà ấy không mua của em vì số nhỏ, con bà ấy mặc không vừa.

          - Chả lẽ lại không có cái nào cỡ lớn hay sao?

          - Của em toàn 29, 30 thôi anh ạ.

          - Của tớ có ba cái lại toàn cỡ 33 chú ạ.

          - Thế thì tốt quá rồi còn gì, để em bảo bà ấy.

          - Bà ấy hỏi giá anh ạ.

          - Em cứ bảo hơn hai trăm một cái.

          - Sao nhiều thế anh?

          - Cái này thì anh biết, loại 31 trở xuống cao nhất chỉ độ trăm tám là cùng. Nhưng loại hàng anh mua là hàng chính hiệu nên bán như vậy mới đủ giá.

          - Bà ấy nói hơi cao nhưng nếu con gái bà ấy mặc vừa thì bà ấy sẽ mua. Bà ấy nói định mua cho con gái lâu rồi mà vẫn chưa có cái nào vừa.

          Hằng nghe vậy thì lấy trong cặp ra một cái quần ống hơi loe cho bà khách xem. Vừa nhìn thấy bà khách đã có vẻ ưng ý. Vừa xem xét bà khách vừa trao đổi với Nhiếp.

          - Bà ấy bảo anh chờ bà ấy một chút và giữ cho bà ấy để bà ấy gọi con gái lên anh ạ.

          - Thôi chờ một tý cũng được, mình cũng chẳng đi đâu mà lo.

          Bà khách đi rồi Nhiếp mới nói với Hằng:

          - Lúc em nói giá bà ta ngần ngại lắm, bà ấy bảo bữa trước bà ấy chỉ mua có độ trăm hai đến trăm rưỡi là cùng. Mãi đến khi bà ấy nhìn thấy quần anh mang ra thì có lẽ bà ấy đã nhận ra loại này khác hẳn loại bà ấy mua hộ mấy đứa cháu bữa trước nên vội hối hả đi ngay.

          Vừa nói chuyện với Hằng vừa cầm quần lên xem Nhiếp chợt nói với Hằng:

          - Anh mua cái này bao nhiêu vậy?

          - Hai ngàn ba chú ạ.

          - Em mà gặp loại này, cỡ nhỏ hơn một chút thì em cũng mua một cái để mặc... đúng là loại xịn anh ạ

          - Tớ phải nhai nát đoạn chỉ may để xem thử có phai không thì tớ mới lấy.

          - Sao lại phải thế hở anh?

          - Nói thật với chú, cái loại rởm thì chỉ may bở bục mà phai đỏ tay ra ngay. Thiếu gì các loại áo lông đức, quần bò Thái được mua vải về máy tại Việt Nam.

          Vừa nói đến đây thì hai mẹ con bà khách lúc nãy quay trở lại. cũng chẳng cần chào hỏi gì, cô con gái tốc váy lên rồi nhặt quần mặc thử ngay. Vừa cài khuy cô vừa nhún nhảy nghiêng bên này ngả bên kia rồi chạy sang nhà vệ sinh soi mình vào gương ngắm lên ngắm xuống. Cũng như khi vào, cô cứ để cả váy, cả quần bỏ đi ngay không thèm ngoái đầu trở lại. Chắc là cô ấy ưng ý vì chỉ cần nhìn cô ấy mặc vào đã thấy đẹp rồi. Vừa lúc ấy bà khách quay lại trả tiền cho Hằng đúng hai trăm rúp. Thế là chỉ mới chưa đầy tiếng rưỡi đồng hồ Hằng đã bán được khá nhiều hàng hoá. Anh đang nài Nhiếp xuống căng tin của khách sạn để ăn uống một chút gì đó gọi là mừng cho thành công của Hằng nhưng Nhiếp không đi. Còn đang nói đi nói lại với nhau thì bà khách lúc nãy quay trở lại cùng với hai người phụ nữ nữa. Lần này thì hai bà khách mới đòi lấy nốt hai chiếc quần còn lại. Hằng cũng bảo cho họ biết có một cái là ống côn chứ không loe, nhưng họ vẫn giật ngay lấy mà không cần nghe anh nói gì. Thế là chỉ trong buổi chiều mà Hằng đã hết sạch mọi thứ hàng hoá...

          Chiều tối đoàn họp để thông qua chương trình thực tập và bàn bạc về các hoạt động giao lưu giữa đoàn và nhà máy của bạn. Những thứ đoàn mua gửi mọi người hôm trước như rượu lúa mới, bánh đa nem, hạt tiêu, gừng, tỏi  được lục từ các túi cá nhân xếp thành đống trong phòng của đoàn trưởng. Đoàn cũng gửi mỗi người hai đôi mành để bán lấy tiền tổ chức tiệc mừng nhân Quốc khánh ngày 2 tháng 9.

          Mọi người đều phải tập trung thành từng đoàn để theo các cán bộ chuyên môn của bạn vào các vị trí thực tập, chỉ riêng có một mình Hằng là đi với một kỹ sư thuỷ công trong nhà máy. Ngay buổi đầu tiên ông kỹ sư thuỷ công đã dẫn Hằng xuống ba trạm bơm tuần hoàn của nhà máy. Cũng do có ít phiên dịch nên ở chỗ Hằng hầu như phải tự tìm hiểu lấy là chính, vì thực tế Hằng chỉ đọc được tài liệu một cách lõm bõm còn giao tiếp bằng lời thì anh tịt mít. Tuy vậy giữa ông kỹ sư thuỷ công và Hằng hình như có hiểu ý nhau ngay trong buổi  tham quan đầu tiên của đoàn.

           Đầu tiên ông kỹ sư đến thư viện lấy về một số tài liệu có nhiều các bản vẽ để cho Hằng xem. Vừa mới nhìn qua các bản vẽ anh đã nhận ra các thiết bị quen thuộc trong dây chuyền của nhà máy nhiệt điện. Anh lần lượt vẽ ra giấy những mô hình đâú nối của nó trong dây chuyền hoạt động và hầu như lần nào ông kỹ sư cũng chìa ngón tay cái ra có ý bảo tốt lắm. Đến khi nói về bơm tuần hoàn thì Hằng viết tên của loại bơm đang lắp tại Phả Lại. Sau khi đọc xong ký hiệu ông kỹ sư liền lấy bút vạch xoá lên dòng tên của những cái bơm của nhà máy của bạn rồi ông vẽ đôi kính vào cái bơm to chiếu thẳng vào cái bơm bé rồi ra hiệu với ý nói rằng việc nghiên cứu bơm này đã không cần thiết nữa. Ông kỹ sư thuỷ công viết mấy dòng chữ vào một mảnh giấy được xé ra từ quyển vở học trò rồi đưa cho Hằng. Anh nhìn vào thấy ngay những chữ ghi ngày giờ của buổi sáng ngày mai, anh đã đoán ra đây là giấy hẹn gặp ngày mai giữa hai người. Có điều anh không biết địa điểm ở đâu nên anh kéo tay ông kỹ sư để ông nhìn vào tờ giấy của anh với dấu hỏi to tướng trên nền bản đồ hình ảnh của nước Liên Xô. Ông kỹ sư bất chợt cười rất to và lấy tay chỉ vào trán của Hằng rồi kéo tay anh giơ lên vòng một vòng quanh hồ chứa nước, rồi chỉ tay vào trạm bơm mà hai người vừa vào lúc trước. Đến đây thì anh đã hiểu ông kỹ sư bảo sẽ đi xem các hồ chứa, kênh đập và bắt đầu từ trạm bơm vừa mới đến. Hằng gật đầu tỏ ý đã hiểu và chia tay với ông kỹ sư để về khách sạn.

          Chiều muộn Hằng mới lên chỗ anh San để đưa cho anh mảnh giấy của ông kỹ sư, anh San còn biết nhiều tiếng Nga hơn Hằng nhưng cũng chẳng hiểu ông ấy viết gì, anh lại phải nhờ phiên dịch mới biết được ông kỹ sư hẹn mai sẽ đưa Hằng đi thăm cống, kênh, đập và các công trình thuỷ công bằng chiếc thuyền máy của phân xưởng. Biết vậy anh San liền bảo mai anh ấy sẽ cùng đi với Hằng một thể để sau này có về thuỷ điện Sông Mực sẽ có kinh nghiệm hơn.

          Đúng là anh San và Hằng gặp may, được đi khắp các công trình thuỷ công của nhà máy. Nào là hồ chứa nước tái tuần hoàn để nâng nhiệt độ nước tuần hoàn vào mùa đông. Những cái cánh cống uốn cong rộng đến bẩy tám mét còng lưng ngăn không cho nước từ hồ chảy ra sông. Một vùng nước bao phủ trên khoảng đất rất rộng không có bóng dáng một thôn xóm nhỏ bé nào.

          Chiếc thuyền máy vẫn tiếp tục lao đi dọc theo kênh dẫn nước tiến dần ra một hồ lớn khác nữa. Từ xa đã nhìn thấy những cái cột dựng đứng cạnh nhau trên bờ hồ. Phía dưới mặt nước là những đoạn cầu phao bằng gỗ nối vào một trục chính chạy dài hàng năm bẩy trăm mét. Nhìn xa như cái xương sống của một con cá với rất nhiều những xương con gắn vào nó. Chiếc thuyền máy gần như giảm tốc độ đến mức tối đa để tấp vào một đầu cầu phao cho cả bọn lên cầu. Hai người cán bộ của bạn đi trước dẫn Hằng và anh San tiếp tục đi bộ trên sàn gỗ tiến sâu vào đoạn giữa của cái xương sống. Loáng thoáng trong tiếng nói chuyện ồn ào của hai đồng chí bạn Hằng nghe như ở đâu đó có rất nhiều tiếng vùng ở dưới nước. Anh đoán trong những ô vuông dọc theo cái xương sống chắc có cá ở bên trong. Vừa khi vào sâu trong cầu thì Hằng nhận ra là mình đã đoán không sai. Những cái ô vuông kia thực chất là những cái lồng bằng lưới dùng để nuôi cá. Trong mỗi cái lồng có đến hàng trăm con cá chép đang lượn lờ đợi bữa ăn trưa. Anh cũng nhận ra những cái ống cao chót vót mà anh nhìn thấy hôm qua chính là khu vực chế biến thức ăn cho cá. Những mẩu thức ăn được đúc thành thỏi như những viên phấn gãy ra từng mẩu bằng đốt ngón tay được đổ vào những cái thùng sắt treo lơ lửng trên mặt nước. Mỗi thùng lại có những cái đáy thả tự do trong đó để khi cá nhao lên chạm vào những cái chuôi gắn ở đáy làm cái đáy bị kênh lên thế là lại có những mẩu thức ăn rơi xuống. Lẽ đương nhiên là hàng trăm con cá lại quẫy đuôi thùng thùng chồng chận lên nhau để tranh ăn. Có lẽ lũ cá đã quen với việc động chạm vào cái đáy thùng để cho thức ăn rơi ra, nên cứ hết thức ăn lại có vài chú cá chạm vào tấm đáy. Cách nuôi cá bằng thức ăn làm sẵn ở đây thật là hiện đại, Hằng chưa thấy ở đâu trên đất Việt Nam có cách nuôi cá như vậy cả.

          Về đến nhà rồi Hằng vẫn thấy vui như đang đi trên thuyền máy đến trại cá, anh rất muốn mọi người trong đoàn đều được xem cách tổ chức nuôi cá ở nước bạn để rồi sau này nếu ai đó có điều kiện thì học cách này mà làm ở nước mình. Chiều hôm ấy anh gặp cậu phiên dịch chính của đoàn và nhờ câu ấy đến gặp ông đốc công thuỷ lực để đề xuất việc này. Rất may là ông ấy đã nhận lời đưa cả đoàn đến thăm hồ cá. Chỉ có điều là mọi người phải đi bằng xe ô tô, vì thuyền máy bé quá. Hằng nghĩ dù sao thì cũng có được chuyến đi vãng cảnh nên anh cũng tán thành rồi về trao đổi với đoàn trưởng.

          Thế là sớm hôm sau hơn hai chục người trong đoàn đều lên ô tô để đi thăm hồ cá. Tất nhiên là mọi người đều rất thích thú về chuyến đi chơi ngoại khoá không phải đoàn nào cũng may mắn có được. Một số người đi vắng nghe kể lại chuyến đi thăm hồ cá cứ xuýt xoa tiếc mãi. Những người bạn Liên Xô cũng vui lắm, họ thấm thía về tình cảm của những người bạn Việt Nam xa xôi. Những người bạn không những luôn  yêu mến con người của bạn mà còn thích thú và trân trọng đến cả những công việc thường ngày của bạn. Từ phía bạn, một sự cởi mở hết sức mới đã được mở ra cùng với sự giúp đỡ thật là thiết thực cho những người bạn Việt Nam. Nhiều thứ hàng hoá to lớn như tủ lạnh đều được bạn giúp mang về kho vật tư của nhà máy để bảo quản hộ. Sau này trong lần cân hàng để gửi qua đường biển, nhiều người lo quá trọng lượng sẽ phải để lại, người phụ nữ làm việc này đã nói:

          - Các bạn Việt Nam đang khó khăn, họ chỉ có một cái thùng hàng nhỏ. Cho dù mua quá một số đồ dùng cũng không làm cho Liên Xô nghèo đi. Vài chục cân quá tải trọng cũng không chìm tầu được, cứ để thế mà chuyển không cần cân nữa. Thế mới biết khi đã yêu mến nhau, người ta dễ bỏ qua cả nguyên tắc để vì nhau là vậy.

          Hàng hoá đã hết nên Hằng chẳng bận gì, suốt ngày anh đi theo các nhóm sửa chữa trong nhà máy để xem cách làm một số công việc mà anh chưa có dịp làm tại Việt Nam. Anh đã leo lên tận đỉnh nhà máy để chui vào các buồng phân ly than, chui sâu vào buồng lò đang đại tu để ngắm các giàn ống đỏ như tôm luộc. Xuống gian máy anh cũng vào đẩy cần mở các đai ốc của bơm nước cấp, giữ khoan ngang để khoan chốt cánh tua bin. Còn một cái may mắn nữa là anh đã cùng với bạn tiến hành cân bằng tĩnh và cân bằng động tua bin mới sửa chữa. Anh tự tay đi lấy độ rung ngang, độ rung dọc và ghi vào bảng thông số. Những  chuyên gia cân bằng từ Trung tâm sửa chữa của ngành điện Liên Xô đã chỉ bảo cho anh rất nhiều trong công việc.

 

                                                                3

 

          Chiều nay tất cả đoàn đều được nghỉ thực tập để đi nhận quần áo rét từ một cửa hàng bách hoá ở ngay trong thị trấn. Hằng đến cửa hàng thì số đông anh em đều đã nhận xong mọi thứ. May mà chỉ còn một vài người do số quá to đang tìm đổi lại nên công việc mới chưa kết thúc.

          Việc Hằng đến muộn không phải do lỗi ở anh mà vì đoàn báo giữa buổi trưa, trong khi ấy thì Hằng lại đi thăm một bà mẹ người Nga mà Hằng đã gặp hôm thứ tư tuần trước. Hôm ấy anh đi ra khu vực ngoại ô thị trấn để xem quang cảnh làng xóm và đồng ruộng của bạn thì gặp một bà mẹ người Nga đang xách hai cái túi lưới khá to với nhiểu hoa quả ở trong đó. Hình như bà cụ thu hái hơi nhiều nên quá sức mang vác của mình. Thấy tình cảnh ấy Hằng đã đến bên và xách đỡ bà cụ một túi. Mặc dù chỉ có thể nói chuyện ra hiệu bằng tay với bà cụ nhưng cụ cũng biết anh là người ở khách sạn điện lực trong thị trấn. Hình như bà cụ bảo chỗ ở của cụ gần đó nhưng anh chẳng hiểu gì. Chỉ đến khi bà cụ bắt anh cởi áo ngoài ra, dốc vào đó hàng tá dưa chuột và táo rồi lại đưa cho anh miếng giấy mà cụ ấy mới viết thì anh hiểu là cụ ấy cảm ơn và hẹn thứ tư tuần sau gặp lại. Chính vì thế mà khi Hằng về đến nhà thì mọi người đã đi hết cả. Cũng bằng ra hiệu với mấy bà nhân viên khách sạn mà anh biết được đoàn của anh đến cửa hàng để lấy áo rét.

          Vừa gặp số anh em mang áo rét và dầy dép đi ra Hằng đã thấy buồn cười không sao dừng lại được. Cũng vì sợ ảnh hưởng đến mọi người nên anh cứ phải bịt mồm lại và khùng khục ở trong đó. Hằng không cười sao được khi hầu hết anh em Việt Nam người thì nhỏ bé lại mang những cái áo to xụ dài đến quá đầu gối. Hằng hình dung họ như những chú chim cánh cụt của miền bắc cực đang đi lại giữa các quầy hàng hoá. Cũng có một vài người đổi được một vài cái áo ngắn hơn nhưng lại quá mỏng mảnh và hình như là của nữ giới vì cúc cài đều đơm ở bên vạt trái. Đến lúc Hằng vào thì số quần áo to dài kia cũng không còn nữa, anh nhờ phiên dịch hỏi hộ xem nên giải quyết như thế nào. Thế là cửa hàng bảo anh cứ lấy một cái đắt nhất để sau này cất về nhà hai hôm nữa sẽ mang sang đổi lại. Hằng nghĩ lúc đi anh đã mượn được cả một cái áo len dày , với lại trời cũng chưa rét lắm nên anh đồng ý làm như vậy. Anh đi dọc mấy hàng quần áo nhìn mãi mới thấy có một cái áo to lớn nhưng dáng áo và các túi thiết kế khá cách điệu với đường may khá đẹp, giá đến một trăm lẻ bốn rúp, thế là anh quyết định lấy chiếc áo này. Giầy thì anh chọn một đôi giá sáu mươi bảy rúp khá đẹp, tất nhiên là anh đi không được vì quá rộng. Thế mà số tiền quần áo được phép lấy là hai trăm rúp vẫn chưa hết được. Anh buộc lòng phải lấy thêm một cái mũ lông độ mười lăm rúp nữa  rồi trở về nhà.

          Ba hôm sau anh mang gói quần áo sang cửa hàng để hỏi xem đã có hàng mới về chưa để đổi thì vẫn chưa có. Phiền lòng quá anh liền cứ xách cả đống quần áo ấy để lên xe buýt đi huyện lỵ Belovo. Thực ra thì anh cũng chỉ muốn lên trên ấy xem có loại quần áo nào phù hợp với mình không chứ cũng chẳng định mua gì. Huyện lỵ nhiều cửa hàng chắc là có đủ các loại chứ chắc không thiếu như dưới thị trấn.

          Hằng cũng đã lang thang vào mấy cửa hàng nhỏ nhưng những thứ anh cần hầu như cũng không có. Lần này anh quyết định vào một cửa hàng thật lớn xem sao. Bước chân vào cửa hàng lớn chưa được mươi bước đã thấy một người mặc đồng phục màu xanh, đội mũ lưỡi trai đi đến chạm tay vào người anh chỉ trỏ và nói như máy. Mãi đến khi anh ta biết là anh không biết tiếng Nga thì anh ta phì cười giơ hai tay lên và dang ra ngang ngực tỏ vẻ không biết giải thích thế nào. Thấy người đàn ông không thể diễn đạt được cho ông khách này hiểu thì đến một người phụ nữ tiến ra. Chị phụ nữ không nói mà chỉ khẽ cười rồi giơ tay chỉ vào một cái biển rồi cầm tay Hằng kéo nhẹ dẫn anh đến trước hàng loạt các tủ sắt có chìa khoá rồi chị ra hiệu đưa cái gói giấy của anh vào đó khoá lại và bỏ chìa khoá vào túi. Đến đây thì Hằng biết là người phụ nữ nọ bảo anh cất đồ vào đó rồi hãy vào cửa hàng. Hiểu thì đã hiểu nhưng Hằng không làm theo vì anh thấy phiền phức quá, hơn nữa anh cũng chẳng mua gì thế thì ra thôi chứ vào để làm gì. Nghĩ thế nên anh giơ tay chào mọi người rồi quay ra cửa. Vừa ra đến cửa thì anh thấy từ phía sau lại có ai đó kéo anh trở lại. Anh quay lại đang định tìm cách phân bua với họ thì anh thấy hầu như gần hai chục nhân viên đều im lặng quay về phía anh như chờ đợi phản ứng của anh. Vẫn cô gái lúc nãy khẽ cười và chỉ vào cái gói giấy của anh rồi vẽ một dấu hỏi vào không gian trước mặt anh. Cũng không hiểu cô ấy nói gì nhưng anh đoán họ nghi ngờ về cái gói của anh nên anh đành phải giải thích cho họ hiểu vậy.

          Anh nghĩ đầu tiên có lẽ mình phải cho họ biết mình là ai rồi mới giải thích được. Thế là anh vẽ hình ảnh lá cờ sao vàng của Việt Nam rồi chỉ vào mình. Điều này thì họ hiểu ngay và quay lại nói với nhau rất nhiều. Anh chờ cho họ thôi bàn bạc rồi đọc tên cái khách sạn mà anh đang ở. Lẽ dĩ nhiên là họ gật đầu tỏ vẻ rất biết. Tranh thủ lúc còn yên lặng anh lấy tay vẽ hình một cái áo rồi làm ra vẻ khoác lên mình nhưng rồi cúi xuống ra hiệu rằng nó quá dài rộng rồi làm bộ cởi ra và lắc đầu tỏ vẻ không thể sử dụng được. Nói đến đây thì anh hết cách giải thích vì làm thế nào để nói cho họ biết việc mang tạm đồ không dùng được để đổi lại sau. Đang còn lúng túng không biết diễn đạt thế nào anh liền đến mở gói giấy ra lấy cái áo khoác lên người rồi chỉ cho họ thấy cái trở ngại của nó là vậy. Cô gái lúc nãy đến cầm lấy chiếc áo Hằng mới cởi ra và xem xét khắp lướt. Cô gọi thêm hai người bạn nữa đến xem rồi cầm áo treo vào mắc của cửa hàng. Hằng còn đang ngơ ngác chưa hiểu ra sao đã thấy cô ấy kéo tay dẫn anh đến các quầy để xem hàng tại đó. Đến lúc này thì anh hiểu là họ đã bàn nhau đồng ý đổi cho anh một cái áo khác trong quầy của họ. Thế nhưng tìm đến trợn cả mắt Hằng cũng không thấy cái nào vừa cho anh cả, anh đành rời các quầy trở lại gặp lại họ. Khi thấy anh không tìm được cái áo nào vừa với mình thì họ cùng cười rồi chỉ cho anh thấy bức hình một chú bé trong quầy dụng cụ thể thao cạnh đó rồi chỉ sang cửa hàng ở cuối đường phố này. Đến đây thì anh cũng đứng ngây ra rồi cười cùng với họ. Ngay sau đó cô gái lúc nãy lại cầm tay anh đưa đến chỗ cô gái đang ngồi cạnh cái máy tính. Cô gái nhấn tay vào các nút trên máy rồi quay cái tay quay làm cho cái máy kêu xoành xoạch, lát sau nó nhả ra một tờ giấy nhỏ, cô gái trao cho anh và dẫn anh đến góc quầy nhận tiền. Số tiền anh nhận được là một trăm lẻ bốn rúp, đúng bằng giá tiền cái áo của anh. Anh cảm ơn họ rồi đi ra khỏi cửa hàng, họ cũng đáp lại lời anh nhưng vì họ đông quá nên anh cứ nghĩ họ đang hô khẩu hiệu để chào anh. Trên đường về anh thầm nghĩ có lẽ mình sẽ là câu chuyện vui của họ sau nhiều ngày nữa. Tuy nhiên anh nhận thấy những người Nga anh đã gặp sao mà thân thiện và nhiệt tình đến vậy. Đâu là sự vui vẻ của bà già hái trái cây, nay lại có thêm các cô gái bán hàng bách hoá suốt cả tiếng đồng hồ giúp anh tìm áo.

          Theo sự chỉ dẫn bằng hình của những người bán hàng Hằng tìm đến cửa hàng quần áo trẻ em và cũng không khó mấy khi chọn được một bộ comlê màu xám và một chiếc áo man tô dày và nặng. Trước lúc ra về anh còn vào một cửa hàng giầy để đổi đôi giầy quá khổ mà anh lĩnh hôm trước. Đôi giầy mới anh chọn không những vừa chân của anh mà lại còn có lớp lông bên trong rất dày. Người bán hàng cũng cầm đôi giầy của anh xem kỹ rồi đặt vào giá xếp giầy của cửa hàng. Hằng biết đôi giầy anh lấy khá tốt nhưng không hiểu tại sao giá lại rất rẻ. Anh nghĩ có lẽ chính phủ Liên Xô có trợ giá cho các thiếu nhi nên mới có giá ấy. Dẫu sao thì anh cũng đã có giầy mới thay cho đôi giầy mang từ Việt Nam sang bây giờ đã cứng quèo vì lạnh.

          Vừa bước chân ra khỏi cửa hàng thì chị hàng giầy túm áo lôi lại. Hằng giật cả mình nghĩ không biết mình có sai sót gì không, hay là đôi giầy của mình đã có vết cọ sát nào đó trong quá trình đi thử mấy vòng ở khách sạn. Cuối cùng thì anh nhận ra những lo nghĩ của anh cũng bằng thừa vì chị bán giầy kéo anh vào là để lấy lại số tiền chênh lệch của hai đôi giầy. Thế là anh lại có thêm một khoản tiền nữa để mua sắm thêm một vài thứ cho nhà.

          Về đến khách sạn thì anh thấy Nhiếp đang lấy chìa khoá phòng. Khi đã nằm dài trên giường xả bớt cơn mệt mỏi Hằng mới kể cho Nhiếp nghe câu chuyện đổi áo, đổi giầy. Đầu tiên Nhiếp còn cười vì các chi tiết ngô nghê của Hằng khi chạm trán mấy cô bán hàng, Nhưng đến khi câu chuyện kết thúc thì Nhiếp tròn cả mắt vì ngạc nhiên:

          - Em không ngờ anh chả biết một tý nào tiếng của họ mà lại thành công đến thế.

          Ngừng một lúc Nhiếp lại nói tiếp:

          - Trong khi đó suốt buổi sáng nay, em đi tìm cách đổi hoà mà cũng không ai đổi cho.

          - Có lẽ anh là loại khù khờ nên được thánh nhân đãi chăng.

          - Cái đó thì chưa hẳn! Nhưng có điều trông anh hiền lành mà lại chậm rãi nên chắc là họ có cảm tình?

          - Anh cũng chịu... Nếu thế mai anh dẫn chú đến đó xem sao.

          - Có lẽ em không đổi áo nữa vì chiếc áo này tuy rộng nhưng em cao nên trông cũng khá vừa.

          - Thế thì đổi giầy vậy?

          - Nhưng mà... Anh chỉ cần ghi địa chỉ cho em là được.

          - Anh đâu có để ý đến tên cửa hàng, chỉ biết nó là cửa hàng to nhất thị trấn là được. Nhưng tốt nhất là anh dẫn chú đi.

          - Em sợ nếu anh đi cùng với em, có thể họ cho là buôn bán thì chưa chắc họ sẽ đổi cho đâu.

          - Thế thì chú đi một mình và nhớ đừng nói gì cả mà chỉ có ra hiệu thôi đấy nhé.

          Nghe tin Hằng đổi được quần áo và giầy tốt mà lại có thêm tiền chênh lệch, nhiều anh tiếc vì đã đổi chác ở đâu đó mà không biết làm theo cách của anh.

          Mùa đông đã bắt đầu đến làng Iscoi, nơi có nhà máy điện Hằng đang thực tập. Đầu tiên là những mảng nước đã đọng lại trên đường mỗi buổi sáng, cùng với những cơn gió lạnh và khô. Những ngày sau đó lớp nước đá trên đường cứ dày thêm và một tuần sau đó thì trên cây và trên các bức tường dọc đường vào nhà máy đã có nhiều bông tuyết trắng mềm đậu lại. Hằng cũng không thấy rét lắm có lẽ vì anh được ăn nhiều chất và đã có đủ quần áo ấm. Mỗi ngày anh vẫn đến nhà máy đều đặn mà chẳng phải đi bán hàng như nhiều anh em khác. Có chăng là anh cũng ra chợ bán giúp cho đoàn một số mành mà thôi. Cũng không hiểu sao anh bán rất chạy trong khi các anh em khác cũng bán cùng một thứ.

          Sau khi thống nhất với anh San và phiên dịch Ích, ngày mai mấy anh em sẽ đến thăm nhà ông kỹ sư thuỷ công đang hướng dẫn Hằng thực tập. Chương trình chính là thăm hỏi và tổ chức làm một bữa cơm Việt Nam mời ông bà kỹ sư, luôn thể cảm ơn ông bà đã nhiều lần tổ chức tiếp mấy anh em trong suốt mấy tháng qua. Cũng may là Hằng khá thành thạo trong chế biến các món ăn chứ nếu cứ như anh San thì chắc là cũng chịu.

          Chiều qua Hằng đã đi mua thịt bò và một số gia vị ở chợ. Nói là mua gia vị chứ cũng chỉ là mấy củ tỏi, củ hành mà thôi. Còn gừng, húng lìu, bánh đa nem, miến và mộc nhĩ thì Hằng đã mang từ Việt Nam sang từ lúc rời quê Việt. Tất nhiên là Hằng đã chế biến theo đúng quy trình của Việt Nam với món xào thịt bò với hành tây. Món nem Sài Gòn với nhân là thịt băm cùng miến trứng và mọc nhĩ. Hằng còn bóp gừng và húng lìu với thịt bò rồi nướng trên than hoa thơm đến nhức mũi. Anh cũng chế thêm món bắp cải trộn dấm và muối giả làm dưa chua để chống ngán thức ăn có nhiều dầu mỡ. Đương nhiên là hai vợ chồng ông kỹ sư lúc nào cũng chỉ còn biết giơ ngón tay cái ra để mà xác nhận cái lạ, cái ngon của món ăn thuần Việt. Ông cũng mang ra nhiều thức ăn khác của nhà nhưng hầu như ít ai đụng đến. Thực ra thì Hằng khá thích thú với món đậu Hà Lan đóng hộp vì ăn nó rất bùi và món dưa chuột muối đóng lọ do bà kỹ sư chế biến. Vừa vui vẻ tâm sự trong khi ăn nhưng bà kỹ sư cũng luôn để ý xem các món bà chuẩn bị các bạn Việt Nam có thấy thích hay không. Khi thấy Hằng ăn nhiều hai món đó thì bà mừng lắm. Bà cười luôn miệng và không ngăn ông kỹ sư chúc rượu với mọi người. Cũng đã có đến vài lần bà kỹ sư cố ý nhìn ông hơi lâu như ngầm ra hiệu điều gì đó nhưng ông cứ mặc kệ. Ông khề khà nói với anh phiên dịch về ý tứ của bà ấy và ông mạnh dạn tuyên bố rằng hôm nay ông không chấp hành nghị quyết của bà nữa vì cái món rượu cô nhắc ba trăm năm rất quý. Tất nhiên là bà kỹ sư cũng cười vui rồi quay sang thì thầm chuyện gì đó mà Hằng không thể biết được. Bữa cơm khách kéo dài hơn ba tiếng mới xong. Ai cũng vui, cũng thân tình và cởi mở. Bà kỹ sư cứ bắt Hằng ôm về sáu bẩy lọ mứt quả mà bà tự tay chế biến.

          Chiều nay Hằng mới có thời gian rỗi rãi một chút để chuẩn bị chuyển sang thực hành sửa chữa bơm cấp nước. Thực ra thì Hằng đã làm chán các bơm cấp khi còn ở Thanh Hoá, nhưng biết đâu các nhà máy lớn bơm sẽ khác đi chăng. Nhưng mà thôi chả nghĩ làm gì nữa vì dù sao thì ngày mai anh sẽ được thấy hết, bây giờ cần thiết là phải tăm xem ở đâu có quạt điện để mà mua chứ không thì lại về nước tay không thì chán chết. Hằng cũng biết đi tìm mua quạt trong mùa rét cũng là chuyện ngược đời, nhưng nếu không thế thì biết mua gì.

          Từ lúc xuống xe buýt Hằng đã đi đến ba cửa hàng công nghệ phầm nhưng cũng chỉ thấy có mấy cái quạt nhựa Orbita hỏng mà cửa hàng chưa cất đi. Biết vậy nhưng Hằng vẫn cứ đòi cửa hàng cho xem bằng được bất chấp mấy cô cửa hàng hết nói lại giơ tay làm hiệu. Thấy anh quyết tâm quá thế là cô gái cứng tuổi nhất cũng đành lôi ra một cái đưa cho anh xem. Vừa cầm lấy cái quạt Hằng đã nhận ra cái quạt chẳng hỏng gì cả mà chỉ bị lỏng hai cặp ốc gông mà thôi. Tiện tay anh mượn cái tuốc nơ vít bắt lại rồi mang ra gần cửa cắm vào ổ điện chạy thử. Mấy cô nhân viên tròn cả mắt khi thấy cái anh chàng nhỏ bé da vàng này chỉ mới loáng một cái đã làm cho cái quạt chạy được. Cũng có một cô tiến đến ra hiệu hỏi Hằng vì sao mà lại cần mua quạt đến thế. Hằng chỉ cần nhìn nét mặt cô gái đã hiểu ý, anh lấy một mảnh giấy rồi vẽ vào đó một ông mặt trời rồi ghi vào đó con số 38 có ý muốn nói ở nơi chúng tôi rất nóng. Tuy vậy cô vẫn ra hiệu to ý hỏi vì sao có nhiều người mua và lại mua nhiều đến thế. Hằng cũng chỉ cười rồi vẽ lên giấy hai hình người to và sáu bẩy người bé từ cao đến thấp ra ý bảo nhà tôi đông người lắm. Khi anh ngước lên nhìn cô gai thì thấy cô vừa cười vừa le lưỡi tỏ vẻ ngạc nhiên lắm. Hằng cũng cười theo rồi tiện bút khoanh nhóm người kia lại rồi viết thêm con số hàng chục vào đó có ý bảo chúng tôi còn có nhiều anh em và bè bạn khác nữa. Có lẽ cô gái cũng hiểu, cô gật đầu mỉm cười và giơ tay nắm lấy tay Hằng mà chẳng có gì ngại ngần rồi cứ thế cô kéo anh ra bàn làm việc của cô. Sau khi đã buông tay Hằng ra cô lại lấy bút giấy và viết vào đó mấy hàng chữ rồi gấp nhỏ lại bỏ vào túi anh. Hằng đoán cô muốn bảo anh mang giấy về cho người khác đọc hộ cho anh. Anh cũng lại đọc một câu cảm ơn bằng tiếng Nga duy nhất mà anh thuộc rồi rời cửa hàng lên xe buýt về khách sạn. Vừa về đến cửa khách sạn thì Hằng gặp anh San cũng từ nhà máy về đến đó, Hằng liền móc túi lấy tờ giấy lúc nãy đưa cho anh San. Có lẽ cũng phải đến gần mười phút vừa đọc vừa luận anh San mới biết nội dung tờ giấy, anh nói:

          - Thế ai đưa cho cậu tờ giấy này thế?

          - Một cô nhân viên ở cửa hàng công nghệ phẩm anh ạ... thế họ bảo gì đấy?

          - Tớ cũng chỉ hiểu họ bảo chú đến một chỗ cửa hàng to nào đấy vào ngày thứ tư tuần tới cùng với họ.

          - Thế thì em hiểu rồi.

          Anh San nghe Hằng nói có khi còn ngạc nhiên hơn cả khi anh đọc được mấy chữ trong tờ giấy Hằng đưa cho, anh nói:

          - Tớ vẫn chả hiểu gì cả thế mà cậu lại bảo đã hiểu rồi, thế là làm sao?

          Hằng cười thành tiếng rồi ghé tai anh San nói nhỏ:

          - Họ hẹn đến cửa hàng chính để mua quạt vào thứ tư tới đấy anh ạ.

          - Thật thế hả?

          - Em đoán như vậy.

          - Thế thì may quá, tớ vẫn chửa mua được cái nào.

          Mặc dù suốt ba ngày nghĩ ngợi lung tung và không tin lắm vào tờ giấy hẹn, bởi chưa chắc cô gái ấy đã nhớ và giữ đúng lời hứa vì có bao nhiêu việc sẽ đến với cô trong mấy ngày qua. Thế rồi mọi lo nghĩ của anh cũng bằng thừa, vì thứ tư ấy Hằng và anh San đã có xe đưa đến tổng công ty để lấy quạt điện.

          Không những thế Hằng còn phát hiện ra tại nơi này còn có rất nhiều tủ lạnh Saratop, thứ mà đoàn đã tìm mãi vẫn chưa có chỗ nào đủ ba mươi cái để mua đồng loạt cho cả đoàn. Chỉ hai ngày sau đó nhờ Hằng giới thiệu đoàn thực tập đã mua được đủ ba mươi cái tủ lạnh trong sự hoan hỷ của tất cả mọi người.

          Những ngày thực tập đã kết thúc nhanh chóng mặc cho những người bạn Việt có hiểu được gì không khi chữ thì không biết và tiếng thì cũng chẳng thể nghe. Điều quan trọng là mỗi người đều đã nhìn thấy những cái máy mà cả đời người mới gặp được tại đây và rồi mai ngày không đến nỗi phải bỡ ngỡ khi nhìn thấy  những đồ vật mới này. Việc trông coi vận hành thì cứ theo sách để mà thuộc lòng, việc sửa chữa thì đã có chuyên gia kèm ngay bên để mà chỉ dẫn. Thế thì việc đi học vốn dĩ đã không còn là chủ yếu mà nó đã phải xuống hàng thứ yếu. Cái chủ yếu lại là việc mua được bao nhiêu thứ để mang về nước sử dụng và bán đi một ít lấy tiền dùng vào việc cải thiện đời sống sau này.

          Sau mấy tháng thực tập ở tận miền Xibêri giá lạnh và heo hút, đoàn đư­ợc nghỉ tại Mạc tư­ khoa ba ngày để tham quan và chờ máy bay về n­ước. Do có kế hoạch báo tr­ước nên mỗi ngư­ời đều giữ cho mình chút ít tiền để mua sắm, chính vì thế mà vừa về đến khách sạn Vostok họ đã kéo nhau ra xe để lên Gum, Sum ngắm cảnh và mua hàng hoá.

          Hằng cũng còn khá nhiều tiền nên anh mua thêm đ­ược một vài thứ. Nh­ưng cái chính là anh mua thêm một ít quà bánh về cho con, vì các thứ ở bên này rất ngon mà về nhà thì không sao có đư­ợc. Anh cũng mua thêm mấy cây thuốc lá ngon để về làm quà cho bạn bè. Cũng không thiếu ng­ười chỉ đi ngắm không vì chẳng còn tiền nữa. Họ đã cố mua thêm một ít hàng hoá để gửi tầu biển mang về bán lấy tiền.

          Khó có thể nói các gia đình có ng­ười đi thực tập vui nh­ư thế nào khi sau mấy ngày tết họ lại đư­ợc đón ng­ười thân trở về. Một điều quý hơn nữa là về cùng với những ng­ười thân là số hàng hoá họ mang theo về n­ước. Các con của Hằng sư­ớng nhất là là bố mang về cái đài đĩa xinh xắn và nhiều bánh kẹo. Những cái kẹo thật ngọt và thơm mà chúng chỉ đ­ược ăn vài lần khi bố chúng mang từ nhà máy về trong các dịp lễ tết mà các chuyên gia làm quà cho số cán bộ lãnh đạo trong đơn vị. Hôm nay thì khác vì chúng đ­ược ăn thoải mái hơn trong lúc nghe đài ca hát. Hằng cũng cố mang về cho vợ con mấy quả táo của Liên Xô, thứ mà nhiều ng­ười Việt Nam ch­ưa bao giờ nhìn thấy. Những ng­ười bạn xung quanh cũng vui lây cùng với họ khi nhận đư­ợc những phần quà thật là bé nhỏ. Cho dù chỉ là m­ươi cái kẹo cho trẻ con và một vài sợi dây điện trở làm bếp đun nấu hàng ngày.

 

                                                               4

 

          Hằng trở lại công việc của mình với chức danh đốc công sửa chữa như­ đã có từ lúc hình thành đơn vị. Đây là chức danh mới có ở một vài nhà máy trong ngành điện. Một chức danh thật chả đáng có vì ngư­ời ta chẳng có ch­ương trình cụ thể nào cho chức danh này. Nói cho đúng ra thì chức danh này chỉ là tổ trư­ởng của một tổ sản xuất lớn mà thôi. Tuy nhiên trong thời điểm hiện tại nếu không có những ngư­ời đã có kinh nghiệm trong thực tiễn thì cũng khó có ai dám đảm bảo rằng số học sinh mới ra trư­ờng với một mớ lý thuyết sẽ làm đ­ược mọi việc khi họ còn ch­ưa biết cái máy nó hoạt động cụ thể ra sao.

          Bên d­ưới chức danh này là các tổ sản xuất mới hình thành do những công việc cụ thể của đơn vị mà đồng chí quản đốc đã giao cho Hằng lựa chọn. Đành rằng Hằng chư­a hiểu gì nhiều lắm về chủng loại máy móc hiện nay của Phả Lại nh­ưng anh đã kinh qua rất nhiều các loại máy khác ở nhà máy cũ nên cũng đã hiểu đư­ợc những phần cơ bản của thiết bị. Bản thân anh cũng đã nhiều lần tổ chức các đợt sửa chữa, đại tu nên anh biết cần gì cho công việc và cách quản lý mọi ng­ười d­ưới quyền mình. Ngoài ra kinh nghiệm tổ chức các hoạt động đoàn thể, các hoạt động xã hội từ khi còn là một cậu niên đội tr­ưởng, một cán bộ đoàn cũng đã giúp Hằng một phần trong công tác quản lý mới mẻ này.

          Việc tuyển chọn số công nhân cho các kíp vận hành thì Hằng đã cùng với anh San phó quản đốc và anh Tham duyệt từ khi mới tập kết quân từ các nơi về đơn vị. Thực ra thì lúc ấy Hằng cũng mới chỉ đư­ợc phân x­ưởng đề bạt lên làm đốc công và có khác một chút là anh cũng là một trong bốn đảng viên trong đơn vị nên mới đ­ược bàn bạc công việc này.

          Sau nhiều lần di chuyển qua các đơn vị khác nhau, kẻ cả những đơn vị có sẵn phiên hiệu và quân số đến những đơn vị mới b­ước đầu thành lập thư­ờng thì rất đơn giản vì ch­ưa có ông cán bộ nào muốn ra mặt độc đoán để quyết bao giờ trừ vài trường hợp anh ta có những ng­ười thân cận cần đ­ược xếp đặt để tạo sự liên minh sau này. Cũng chính vì thế mà số công nhân từ các đơn vị chuyển về đ­ược coi là những ng­ười đã có kinh nghiệm và phải đư­ợc chọn trư­ớc. Số còn lại chắc chắn rằng phải chọn theo kết quả học tập hoặc chọn theo một tiêu chí nào đó cao hơn mà mấy ông cán bộ ban đầu này cùng thống nhất. Cũng chính vì suy nghĩ nh­ư thế nên Hằng đề xuất đến đâu là mọi ng­ười đều tán thành cả.

          Lần này việc chọn các tổ trư­ởng, tổ phó cho bốn tổ sửa chữa quả có làm Hằng bận tâm hơn hồi tr­ước. Cũng may là có ít công nhân cũ và một số học sinh đư­ợc đào tạo từ Liên Xô về nên anh dễ lựa chọn hơn. Không quá hai ngày sau Hằng đã có thể hoàn chỉnh danh sách cơ cấu của bộ phận sửa chữa và cũng chẳng cần gì mà anh Tham không duyệt ngay danh sách đó. Có điều là cả Hằng và bộ phận lãnh đạo đều không biết rằng bên trong cái sự chấp hành kia cũng còn có nhiều những phản ứng âm ỉ đã bắt đầu hình thành do quan niệm họ cũng chỉ là cá mè một lứa mà thôi.

          Cũng không biết các đơn vị khác lớn hơn họ làm những công việc gì trong suốt thời gian chờ đợi khởi động tổ máy đầu tiên ngoài việc đi thâm nhập thực tế ngoài công tr­ường lắp ráp thiết bị. Còn phân x­ưởng của Hằng thì rối hết cả lên vì nơi ăn chốn ở và cả kế hoạch vận hành thiết bị cấp n­ước cho thi công và sinh hoạt. Cũng phải thôi vì phân xư­ởng của Hằng là khâu đầu tiên trong dây chuyền vận hành thiết bị.

          Đã có vận hành là phải có hư­ hỏng và những điều chỉnh, sửa chữa cần thiết cho các thiết bị ấy. Những đợt sửa chữa nhỏ trong đơn vị bất đầu thì Hằng nhận ra rằng số công nhân của mình hầu nh­ư chư­a quen lắm với các việc về cơ khí, một trong những kỹ năng tối thiểu để hoàn thành công việc. Những ng­ười công nhân mới chỉ đ­ược vài lần đứng bên bàn nguội để thay nhau sử dụng mấy cái dũa cũ thì làm sao đã quen công việc được. Thảm hại hơn là cả việc cầm cái búa để đóng vào một vật có bề mặt khá lớn mà cũng trư­ợt ra ngoài. Còn việc cầm búa cái thì không thể nói gì hơn vì nếu không cẩn thận là họ choảng vào đầu thợ cả chứ chẳng chơi. Chư­a nói đến chuyện họ quai búa xuống đe cứ nh­ư là đập đất vậy, nhát nặng, nhát nhẹ hụt hẫng chả ra kiểu cách gì. Mỗi khi nhìn thấy cái sự ấy là Hằng lại nhớ đến những ông thầy của mình ngày x­ưa để rồi buồn bực không gì tả nổi.

          Hai tuần sau Hằng bắt đầu cho nổi lửa học rèn bằng những cái lò, cái quạt và cả những cái kìm, cái búa do anh tự chế lấy. Anh cũng dần vui trở lại khi đã có vài cậu học trò thay anh cầm kìm cho bạn nghề đánh búa rèn ra vài cái đục để dùng. Anh cũng dạy họ rèn những con dao để dùng trong công việc của đơn vị như­ anh đã rèn ngày nào trong quân đội, cùng với kinh nghiệm mà anh đã đổ mồ hôi sôi máu mắt bao năm qua mới có đ­ược để bảo cho họ cách tôi, ram dụng cụ mà hầu như­ họ ch­ưa có một chút khái niệm thực tiễn nào.

          Công việc từng lúc đã dần dần ổn định về mọi mặt dù đơn vị bây giờ chỉ có anh Tham quản đốc và Hằng là đốc công vừa lập kế hoạch vừa triển khai thực hiện.  Số cán bộ kỹ thuật cho dù có tham gia chỉ đạo thì cũng chỉ với danh nghĩa kỹ thuật đơn thuần trong vận hành thiết bị. Anh Tham thì lo đi họp suốt cả sáng, trưa, chiều, tối chẳng còn thì giờ đâu mà dòm ngó đến công việc, cũng chính vì thế mà trăm công ngàn việc đều do Hằng cáng đáng. Hàng ngàn phiếu công tác trong mỗi năm, chưa kể những việc chỉ trao đổi bằng miệng hàng ngày đều qua tay Hằng cùng bộ phận sửa chữa thực hiện.

 

                                                                     5

 

 

          Để chuẩn bị tốt thiết bị cho tuần tới và tránh phải huy động sửa chữa trong ngày chủ nhật, Hằng đã cho củng cố tất cả các thiết bị dự phòng. Sớm nay thứ bẩy dưới vận hành chỉ yêu cầu sửa chữa phần chèn của bơm cứu hoả số hai, thì Hằng đã giao cho tổ 1 thực hiện chắc giờ này họ đang khoá phiếu công tác rồi cũng nên. Đang thu dọn những quyển sách trên bàn lại để xuống kiểm tra lần cuối trước khi về nghỉ thì Tuần vội vã bước vào. Nhìn vẻ mặt hơi tái cùng với chân tay dính đầy cáu bẩn Hằng đoán chắc có trở ngại gì đó trong công việc. Anh lặng lẽ tiến ra cửa như có ý đón  đợi cậu ta vào phòng. Vừa đi ra anh cũng vừa chăm chú nhìn vào mặt Tuần như có ý dò hỏi xem đó là việc gì. Vừa đi gần đến, anh đã nghe Tuần nói như đứt hơi:

          - Anh..anh ạ... Cái đĩa chặn tét bị gẫy mất rồi...

          Hằng vừa nghe đến đấy đã sững người lại và lo hoảng còn hơn cả Tuần nữa. Anh cũng không ngờ sự việc lại xảy ra lớn đến thế.

          - Cái đĩa chặn to và dầy thế mà sao các cậu lại bẻ ra được thế hả?

          - Em cũng không biết nữa...Tuần nói như người hết hơi, cậu ta phải dừng lại một lúc mới lại nói tiếp được ... Em thấy vẫn rò, xiết thêm có một một cái thế mà đã gẫy rồi...

          - Dặn mãi rồi...nó làm bằng gang nên dễ gãy...bây giờ biết làm sao được (?)

          Tuần biết là Hằng giận lắm nên cậu ta im bặt không dám trả lời cứ đứng lòng khòng giữa nhà trông thật thảm hại.

          Thực ra thì Hằng cũng chỉ nói để mà nói vậy thôi chứ trong đầu anh đang cố lục tìm xem có cách nào để khắc phục hay không. Anh chẳng lạ gì cái việc hàn gang chẳng qua chỉ để liền lại thôi chứ mối hàn đâu có chịu nổi sức ép của hai cái gu jông M16 vẫn dùng để ép nó vào các dây chèn cổ trục giữ cho áp lực nước trên 10 ký không chảy ra ngoài. Chưa nói đến việc hàn gang không phải ai hàn cũng được và cứ hàn là được nếu không sấy ủ vật hàn đúng cách thì mối hàn vừa nguội đã lại gẫy rời ra. Rồi thì mối hàn ấy có thể còn bị vướng không lắp vào ổ trục đượcđể mà dùng.

 

          Nhìn hai miếng gang mỏng mảnh với các vòng tiện tròn của ống nén bị gẫy làm đôi, Hằng càng chán nản. Anh giận Tuần và mấy cậu sửa bơm hôm đó không biết để vào đâu. Anh không lạ gì mấy ông cán bộ cấp trên luôn thích nâng cao quan điểm và cũng thích phê phán và phạt phiệc đối với những người có lỗi. Trong thời điểm nhạy cảm lúc đó việc làm hỏng thiết bị là một tội khá nặng. Loại trừ việc cố ý phá hoại sản xuất thì cũng là tội vô trách nhiệm rất nghiêm trọng. Với Hằng thì có chăng chỉ bị nhắc nhở là thiếu kiểm tra mà thôi, nhưng với Tuần thì khác hẳn. Tuần có thể bị phê bình, cảnh cáo, hạ bậc lương; nhưng những điều tệ hại còn ở phía sau kia mà không ai biết sự việc sẽ làm khổ cậu ấy đến bao lâu nữa. Mỗi khi xét thi đua, xét lương hình như người ta vẫn hay nhớ đến những thiếu sót để mà cảnh tỉnh và cả để gieo vào công chúng cái sự phải cân nhắc với trường hợp này cho dù cái việc ấy đã xảy ra ba, bốn năm về trước. Càng nghĩ Hằng càng thương Tuần, nếu như anh không nghĩ ra được cách khắc phục nào khả dĩ giải quyết được và sẽ phải báo cáo lên anh Tham quản đốc và cả trên nhà máy để đặt hàng hoặc gia công chế tạo mới. Cũng phải đến hơn nửa tiếng xăm soi với hai mảnh gang gẫy Hằng mới tìm ra giải pháp khắc phục. Anh cũng chẳng lạ gì khả năng tay nghề của Tuần nên đành sắn tay áo để mà làm hộ cho cậu ta vậy. Có lẽ cậu ấy cũng rất lo sợ nên khi Hằng bảo đi kiếm vật liệu và lấy dụng cụ thì hối hả đi ngay.

 

          Gần hai giờ cặm cụ chặt tôn, dũa lỗ Hằng đã lồng được một vòng thép vào ống nén khá căng chặt. Đây cũng là điều khó nhất trong việc cố định hai miếng gang thành một. Việc tiếp theo là chặt tấm ốp ngoài và khoan các lỗ kẹp cái đĩa này vào giữa. Mãi đến khi bắt chặt cái đia chèn Hằng mới ngước lên tìm Tuần. Anh vừa bắt êcu hãm vừa giảng giải thêm cho Tuần về cách bắt sao cho đều cả hai bên. Tất nhiên là cậu ta chỉ còn biết đứng im mà nghe vậy.

          Về đến nhà thì trời đã tối, Hằng lặng lẽ ngồi ăn bát cơm đã nguội và nghe lũ trẻ con trêu ghẹo nhau. Kể từ khi đưa vợ con ra Phả Lại, cuộc sống gia đình Hằng đã khá hơn chút ít bởi kinh tế đã có sự tập trung. Tuy vậy hàng ngày anh vẫn chẳng giúp đỡ được gì cho Thơ vì công việc ở đơn vị cứ nối nhau không dứt. Thường thì mọi người chỉ cần lo xong công việc trong ngày là có thể phó mặc cho mọi sự, thế nhưng với Hằng thì hình như anh luôn có cách làm việc khác hẳn mọi người. Cho dù chả phải chịu trách nhiệm gì nhưng anh vẫn cứ lo lắng công việc của đơn vị như là của mình vậy. Chính vì thế mà anh luôn tính sao cho mọi việc đều hoàn thiện, thậm chí trên cả hoàn thiện anh mới yên tâm. Phải chăng vì thế mà dây chuyền vận hành  cho dù rất phức tạp nhưng vẫn chu đáo hơn nhiều đơn vị khác. Ngược lại với điều đó thì Hằng lại rất kém trong công việc của chính nhà mình. Trong khi nhiều người chỉ cần thoát ra khỏi công việc là họ đã mưu tính cho gia đình họ. Họ nhặt nhạnh những gì có thể dùng được cho dù rất nhỏ bé như là vài tấm gỗ thùng, mấy đoạn giây thép, thậm chỉ vài cái đanh hay một tý dầu nhờn thải ra đã đen xì đen xịt. Số người cần cù hơn thì suốt ngày lo rau bèo cám bã để nuôi lợn, nuôi gà. Nhưng người có mánh, có mối thì rang lạc cho vào túi hoặc cuốn thuốc lá bán giao cho các quán quanh vùng. Những người có đầu óc hơn thì mua đi, bán lại một vài thứ đồ dùng để kiếm lời.

 

 

                                                               MẤT MẸ

 

                                                                       1

 

          Tết năm 1985 đã qua đi không lấy gì làm vui lắm vì Hằng bị chó cắn vào chân . Ngay ngày mồng 2 tết anh cũng phải sang Hải Dương để tiêm phòng. Cũng may là nhà máy cho anh Miễn lấy xe ô tô chở đi chứ nếu đạp xe thì chả biết có tiêm được hay không vì tết nhất, thế nào những người trực chả hay đi muộn về sớm, thậm chí chỉ đến cho có mặt rồi biến đi chơi khắp đường cùng, ngõ hẻm, chẳng ai tìm được.

          Công việc trong tết cũng có chùng xuống một chút để mọi người cùng vui, đến bây giờ thì không khí làm việc bình thường đã bắt đầu trở lại. Hàng ngày các cán bộ, công nhân lại leo lên những chiếc xe tải để ra nhà máy làm việc. Những cánh đồng lúa hai bên đường đang bắt đầu bén chân xanh lên từng đợt. Đây đó còn vài dược mạ làm đất cấy muộn cũng đã kín cả rồi. Xa hơn về phía đông là khu phố mới Sao Đỏ cũng đang vào kỳ xây dựng tấp nập xe cộ qua lại trên đường. Những vườn cây đang ra tiếp những đợt lá mới xanh xanh, vàng vàng bên những mái nhà tranh. Xa hơn nữa là con sông Thái Bình đầy những xà lan đưa than về nhà máy. Những đống than bên trong nó phản ánh trời tạo lên trước mắt những tia chói loá. Lúc một từ bên kia đường Mười tám những chiếc đầu tầu đang kéo cả một dãy toa thấp chở than từ Quảng Ninh lên. Thoảng hoặc một hồi còi báo ré lên những tiếng u... u...

          Ra giêng được gần tháng thì mẹ lên chơi với với vợ chồng Hằng. Xem ra kỳ này có thể cụ ở lại khá lâu hay sao mà mang theo khá nhiều đồ dùng và quần áo. Cứ nhìn một đùm lớn những gói cau và sợi vỏ khô thì biết cụ đã chuẩn bị khá chu đáo cho những ngày ở lại sắp tới. Cũng đã mấy lần vợ chồng anh bảo cụ trả ruộng hợp tác rồi lên ở với con cháu nhưng chưa lần nào cụ chịu nhận lời. Cứ mỗi lần cụ lên là Hằng lại giở cái điệp khúc ấy ra để nói với cụ:

          - Chúng con ra đây cốt là để trông nom mẹ, chứ không thì chúng con ra làm gì.

          Và rỗi cụ lại thẽ thọt nói với con trai:

          - Thì tao còn làm được, cũng cố một tý để đỡ cho vợ chồng mày. Chứ lên đây rồi miệng ăn núi lở, hết phần con phần cháu, để chúng nó nheo nhóc tao không chịu được.

          - Thì cụ ăn uống hết bao nhiêu mà cứ phải lo?

          - Ăn đã vậy, còn mặc, còn giầu vỏ. Anh tưởng ít lắm đấy à.

          - Thì cứ có đủ giầu vỏ cho cụ là được chứ gì?

          - Dưng mà còn giỗ chạp, nhà cửa dưới đấy ai lo hộ cho tôi.

          - Thì đã có anh chị Mão ở ngay đó trông coi là được chứ gì.

          - ...

          Cứ mỗi lần như thế mẹ anh đều không nói thêm gì nữa. Hai con mắt lờ mờ của cụ như nhìn vào đâu xa lắm. Khuôn mặt như già nua hơn cả ngay trước đó vài giây. Cũng không biết vì sao trong lòng Hằng chất đầy tình thương yêu mẹ nhưng anh lại không thể tỏ ra mềm mỏng âu yếm như nhiều người con khác. Đau buồn đấy, tê tái đấy nhưng anh cứ đè nén bên trong mà không muốn nói ra. Có lẽ anh thừa hưởng ở bố anh cái tính cao ngạo, trọng nghĩa khinh tài và cả cái sự chịu đựng đến tím tái trong lòng bởi những mất còn, sống chết mà đời cụ đã trải qua...

          Riêng lần lên chơi cuối năm ngoái thì khác hẳn mọi lần. Chỉ vừa mới nghe Hằng nhắc lại cái câu muôn thuở kia thì cụ đã vừa cười vừa nói:

          - Tôi chỉ sợ anh chị nuôi tôi được mươi bữa đã kêu trời kêu đất lên chứ lại...

          - Thì cụ đã lên đâu mà biết.

          Cụ cười hể hả với vẻ như vừa có ý xí xoá câu nói vừa rồi vừa như muốn trêu lại anh cho vui:

          - Được thôi, để rồi tôi thử xem sao.

          Cũng may hồi cuối năm ngoái có gia đình nhà Lang, Biện chuyển từ Lạng Sơn về đổi cho một cái giường đôi bằng gỗ muồng để lấy hai cái quạt nhựa Liên Xô nên nhà Hằng mang cái giường một ghép ra gian nhà ngoài làm chỗ cho mấy bà cháu cái Uyên nằm ở đấy. Cứ tối đến là mấy bà cháu lại rì rầm to nhỏ kể chuyện, còn cụ kể những gì thì anh cũng không sao biết được.

          Đã nhiều năm qua rồi nhưng Hằng vẫn còn nhớ như mới hôm qua vậy. Hồi ấy có một lần anh thấy chị Mão và cô em gái rí ráy cười với nhau khi nhìn thấy Hằng mắt nhắm, mắt mở vừa từ trong buồng bước ra lấy khăn đi rửa mặt. Gặng đi gặng lại cô em mới thì thào vào lỗ tai:

          - Chị ấy bảo anh ứ được nghe bu kể chuyện Thạch Sanh vì ngủ sớm quá.

          - Thế bu kể lúc nào?

          - Thì lúc tối ấy.

          - Thế sao mày không gọi anh?

          - Em gọi mãi mà anh cũng chỉ lăn qua, lăn lại rồi lại nằm im như thóc ấy lại còn.

          - Thế hôm nay bu có kể nữa không?

          - Hết rồi.

          - Sao ngắn thế?

          - Thì em cũng chẳng biết nữa.

          Đã hơn ba mươi năm rồi nhưng những câu chuyện mẹ anh kể vẫn cứ văng vẳng bên tai như những ngày nào. Cho dù nhiều năm sau này anh đã đọc nguyên vẹn tất cả những câu chuyện mà mẹ đã kể nhưng sao những gì nhớ được lại chỉ là những đoạn vắn tắt của mẹ kể cho mấy chị em nghe từ những đêm đông năm ấy mà thôi. Lắm lúc anh cũng tự hỏi không biết mẹ mình nghe những chuyện này từ đâu mà sao bà cụ kể lại hầu như không thiếu đoạn nào, không những thế bà cụ còn kể rất hay là đằng khác. Cứ như cụ nói thì may lắm cụ cũng chỉ nguệch ngoạc viết ra được cái tên của cụ để được vào chợ trong thời diệt dốt hồi đầu cách mạng chứ cụ đâu có được học, đâu có biết được chữ gì. Mải suy nghĩ về những chuyện ngày xưa đến khi anh định quay vào nhà hỏi lại cái thắc mắc vừa rồi thì đã thấy cả mấy bà cháu đã ngủ tự bao giờ...

 

                                                                  2

 

          Năm nay không hiểu vì sao mà thời tiết nóng sớm hơn mọi năm khá nhiều. Mới hôm nào mấy mẹ con bà cháu kéo nhau đi hội Côn Sơn rằm tháng giêng, thế mà đã sắp sang tháng ba nóng nực kinh người. Nhà máy đã hoạt động gần ba năm rồi thế mà vẫn chưa có một khu công nhân nào cho nó tử tế. Những gia đình sống ở bên hồ thuỷ lợi Văn An cũng đã dần quen hầu như chẳng chờ đợi để rời đi đâu nữa. Đang lúc ấy thì nhà máy lại phát ra cái tin sẽ cho một số cán bộ các phân xưởng ra ở khu nhà ngói mới xây bên dưới khu Đềpô cứu hoả. Tất nhiên là Hằng chẳng chờ đợi gì trong cái tin mới ấy vì gia đình anh nằm ngoài diện.

          Thế mà không biết thế nào chiều qua anh Tham lại mang về cho anh một tờ quyết định phân phối nhà ở khu vực Đề pô, nơi đã định phân cho các chánh phó phòng, chánh phó quản đốc như tin đồn từ mấy hôm trước. Thắc mắc mãi thì rồi anh cũng tìm được câu trả lời. Số là các cán bộ phân xưởng lại chỉ thích gần ban giám đốc chứ không thích gần nơi làm việc như ý định tạo điều kiện của lãnh đạo cấp trên. Chính vì thế mà khu nhà mới này lọt xuống đến các vị đốc công và cũng với mục đích là gần nơi làm việc cho dễ điều hành sử lý sự cố.

          Sáng nay, ngày mười tháng ba âm lịch, nhà Hằng chính thức được chuyển đến một gian rưỡi nhà ngói mới tinh chưa ai đến ở. Chỉ có điều là nhà thì có nhưng mà không có bếp thành ra hai vợ chồng Hằng đành phải mang số tre luồng kiếm được cùng với những đoạn sắt phế liệu dựng tạm lên để mà đun nấu. Vì nhà Hằng không có mấy đồ đạc nên chỉ một chuyến xe đã chở hết mọi thứ. Không những thế còn mang theo được mấy khung phên ghép vào làm chuồng nhốt con lợn bột.

          Gần một tuần dọn dẹp mọi việc mới tạm ổn về nơi ăn chốn ở. Chỉ có điều là có đàn gà đến kỳ thịt được thì cứ lăn ra chết. Tức mình Hằng bàn với vợ đem thịt trước đi bỏ vào tủ lạnh mà ăn cho khỏi phí, vì khi nó đã ốm thì nhà đã chẳng ai muốn đụng đến rồi. Trái lại mẹ Hằng thì lại không cho thịt, cụ bảo cứ để đấy cụ cho nó ăn cơm nóng vài bữa là chúng sẽ ổn thôi. Thực ra thì lứa gà này đều do bà cụ mang lên kỳ trước chứ gà nhà Hằng nuôi thì đã bị lũ trộm bắt sạch nhẵn từ hồi trong năm rồi.

 

 

                                                          2

 

          Từ hôm nhà Hằng chuyển ra khu nhà mới vừa bận với việc dọn dẹp lại thêm công việc nhà máy cũng nhiều nên khi rời nhà máy về nhà là anh mệt mỏi chả muốn làm gì. Hơn nữa mấy ngày gần đây thời tiết thật là khó chịu cho mọi người. Chả riêng gì người già ngay cả những người trung tuổi như Hằng và cả mấy cậu thanh niên ngoài đơn vị của Hằng cũng kêu mệt mỏi, hễ cứ ngơi ra là tìm chỗ dựa mình.

           Còi tầm nhà máy vừa vang lên Hằng mới dọn sách vở lại rồi vội vàng ra về. Cũng không biết làm sao mà suốt mấy hôm nay anh cứ thấy bức bối trong lòng, hình như có sự gì đấy sắp sửa xảy ra. Bước chân về đến cửa thì mẹ anh từ cửa chuồng lợn đi lên, vừa đi cụ vừa hỏi:

          - Không biết cái cuốc của nhà mày để đâu ấy nhỉ?

          - Đang nắng thế, cụ định làm gì mà hỏi đến cuốc?

          - Tao định cuốc chỗ đất cạnh chuồng lợn lên để mấy bữa nữa gơ ít giây củ lấy cái cho lợn nó ăn.

          Cuốc thì vẫn ngoắc trên mái chuồng lợn nhưng có lẽ do để ép sát vào thành chuồng nên cụ không thấy. Đã thế cứ bảo không biết cho cụ ấy khỏi ra rãi nắng:

          - Chắc ai mượn đâu đấy, nhưng mà cụ vào nghỉ đi đừng ra nắng rồi ốm ra đấy.

          Vừa nói với mẹ xong Hằng cũng bước chân vào trong nhà dựa lưng vào thành ghế đón gió từ cái quạt nhựa thổi ra. Có lẽ đến mươi phút sau Hằng không thấy mẹ hỏi gì thêm nên anh chắc cụ đã đi đâu đó chứ không ra cuốc đất nữa. Cũng vừa nghĩ đến đó anh chợt giật mình khi nghe tiếng của mẹ gọi anh trong sự thảng thốt đến lạc cả giọng đi:

          - Thằng Hằng đâu rồi... không ra mà đỡ mẹ mày đây này...

          Hằng vội bật dậy bước ra khỏi cửa thì đã thấy mẹ anh quăng cái cuốc không biết mượn của ai để nhào vào trong thềm nhà. Hằng hoảng hốt đỡ và dìu mẹ vào trong nhà. Từ lúc nhìn thấy bà cụ quăng cái cuốc xuống anh đã nghĩ là cụ bị say nắng, anh đặt cụ nằm hẳn vào trong buồng rồi vội lấy cái quạt bật lên thổi vào tường để lấy tý gió bạt từ tường ra cho cụ đỡ choáng. Ngay lúc đó Thơ cũng hối hả vào nhà tìm dầu cao để đánh cảm cho cụ. Sau khi đã xoa dầu lên thái dương và dưới mũi cho cụ anh lại dùng tay day ấn huyệt nhân trung, huyệt thái dương và cả trên huyệt ấn đường cho cụ. Một lúc sau Hằng thấy mẹ bình tĩnh lại hơn, khi anh hỏi thấy cụ bảo có đỡ hơn làm Hằng đã thấy mừng. Nhưng chỉ ngay sau đó anh thấy cụ bảo rất đau đầu và muốn anh đỡ cho cụ đi ngoài. Sợ ra ngoài gió độc anh liền gọi Thơ mang cái chậu tôn vào để cụ đi ngoài vào đó. Mãi đến lúc này anh mới để ý thấy hình như lúc anh chưa về, cụ đã tắm rửa thay quần áo và cả gội đầu sạch sẽ. Hằng đỡ cho mẹ đi ngoài rồi  lau chùi cẩn thận cho cụ. Trong lúc đỡ cụ nằm xuống anh chợt thấy không hiểu sao mà cụ ra nhiều mồ hôi đến thế. Anh dùng cái áo ngoài của cụ lau mãi mà không hết, trong lúc đó thì cụ kêu đau đầu ngày một dữ hơn. Vừa lúc ấy mấy anh chị hàng xóm đã đón chú y sĩ của đơn vị bộ đội ở cạnh khu công nhân lên xem bệnh giúp. Thăm khám một lúc thì anh y sĩ bộ đội tiêm cho cụ mấy ống thuốc. Nhưng rồi không lâu sau cụ lại kêu đau đầu hơn nữa. Đến lúc này thì Hằng cuống lên thật sự, anh bảo vợ nhờ mấy người hàng xóm ra nhà máy xin xe để đưa mẹ đi viện.

          Chờ mãi vẫn chưa thấy có xe, mẹ anh thì ngày một nguy kịch hơn, Hằng càng thấy sốt ruột mà không biết tính sao cho được. Khi chiếc xe ca màu vàng đỗ ở phía đầu hồi nhà thì mẹ anh đã yếu lắm rồi, cụ thở dốc và lẩm bẩm những điều không rõ nữa. Tất cả những câu anh hỏi nhằm cố đánh thức sự cố gắng chịu đựng của cụ để mong đến kịp bệnh viện ngõ hầu gặp được người thầy thuốc nào đó có thể giúp cụ thoát qua cơn nguy biến này. Khi anh cúi sát người xuống để đỡ cụ lên để mang cụ ra xe thì anh chợt nghe cụ lên tiếng thật nhỏ như nói vào nơi xa vắng. Anh lắng tai và nghe cụ gọi bốn tiếng tuy bé nhưng khá rành rọt:

          - Anh ơi... đương ơi...

          Đây cũng là câu nói cuối cùng trước khi cụ đi vào trạng thái hôn mê và thở dốc. Hằng thấy mẹ mình ngày càng khó thở hơn nên anh đành ngồi trên ghế đỡ cho mẹ nằm trên hai đùi rồi đỡ cụ giống như một người đang bế trẻ em vậy. Có điều mẹ anh có dáng người đậm và hồi ấy cụ lại khá đẫy ra nên anh cảm thấy khá nặng.

          Khi Hằng và Định, một người công nhân trong khối sửa chữa của anh đưa cụ vào đến một phòng bệnh của bệnh viện thì trời tối cũng đã khá lâu rồi. Những người bệnh trong phòng tuy rất muốn hỏi han anh về tình trạng bệnh của cụ nhưng họ thấy anh đang bận rộn thu xếp mọi thứ thì họ đành ngồi im lặng để nhìn vậy thôi. Khi anh đặt cụ ngay ngắn trên giường thì cán bộ y tế của bệnh viện cũng vào tới. Anh cán bộ y tế xem mạch và nghe tim phổi một lúc thì quay ra nói với Hằng:

          - Anh là người nhà của cụ?

          - Vâng tôi là con trai của cụ!

          - Bệnh của cụ quá nặng, chắc cụ không qua được anh ạ!

          - Dạ...! Chúng tôi chỉ còn trông cậy vào bệnh viện, mong bác sĩ cố gắng tìm cách cứu chữa giúp... được phần nào hay phần ấy...

          - Chúng tôi rất muốn giúp đỡ anh... Nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi thì anh nên chuẩn bị mọi việc ngay đi mới kịp. Không quá mười phút nữa là cụ sẽ đi đấy anh ạ!

          - Mong bác sĩ cố gắng...

          Nhìn nét chân thành và bình tĩnh trên mặt người cán bộ y tế Hằng hiểu anh là người có kinh nghiệm và thật lòng cùng anh, Hằng vẫy tay gọi Định đi về phía mình.

          - Định cố gắng ra ngoài xem có ai về Phả Lại thì nhờ về báo hộ cho vợ tớ và anh Tham quản đốc về tình hình của cụ giúp mình một chút.

          Định vừa quay ra đến cửa thì tiếng thở của Mẹ anh ngày một nhẹ đi. Anh hốt hoảng đặt hai tay lên người mẹ sờ nắn và lay đi lay lại như cố giữ cho cái tín hiệu sống được kéo dài thêm. Bàn tay anh ngày càng run lên và nước mắt trào ra chảy dài trên má. Hai bàn tay anh dường như cố tác động thêm trong khi cơ thể của mẹ anh hoàn toàn im lặng. Người cán bộ y tế gạt anh ra và áp dụng biện pháp hô hấp nhân tạo thêm một lúc nữa. Anh dừng lại vừa thở vừa ngước mắt tìm Hằng, cùng lúc đó bàn tay anh nhẹ nhàng vuốt mắt cho cụ. Anh nói với Hằng câu nói thật là buồn thảm:

          - Cụ đi rồi anh ạ!

          Hằng cũng chỉ biết nấc lên mấy tiếng rồi quỳ bên giường gục đầu vào mẹ. Một người nào đó trong phòng bệnh lên tiếng như để thông báo cho Hằng và mọi người cùng biết:

          - Cụ đi lúc chín giờ mười phút! (nói thật đúng là hai mốt giờ mười phút). Cùng lúc ấy anh cán bộ y tế cúi xuống nâng vai Hằng lên và nhỏ nhẹ:

          - Anh đừng khóc trong buồng bệnh, như thế làm ảnh hưởng đến mọi người. Tôi sẽ làm các thủ tục để đưa cụ xuống nhà xác. Anh tranh thủ ra mua ít hương và nến để về thắp cho cụ.

          - Dạ...! Xin nhờ các bác trông giúp mẹ tôi một lát.

          Cũng chỉ nói với anh cán bộ y tế và những bệnh nhân trong phòng như thế rồi anh chạy ngay ra ngoài phố. Không biết sao mới chín giờ tối giữa mùa hè mà các hàng quán đã tắt đèn hết cả. Hằng đứng nhìn mãi mới thấy phía xa trên phố còn hơi sáng ánh đèn, anh liền lao đến xem sao thì vừa lúc bà chủ quán đang dọn hàng. Chỉ thấy anh hối hả hỏi mua hương thì bà chủ đã hỏi:

          - Bác chắc có người nhà mới mất?

          - Vâng đấy là mẹ cháu!

          - Thôi được tôi bán rẻ cho anh năm thẻ hương một đồng. Còn nến thì nhà lại mới hết lúc chiều, bác hỏi các hàng khác xem sao.

          - Các hàng họ đều nghỉ hết cả rồi cụ ạ.

          Hằng trả tiền cho bà chủ quán xong lại vội vã chạy về viện, về đến phòng thì các bệnh nhân bảo bệnh viện mới đưa cụ đi rồi, thế là anh lại hộc tốc chạy xuống khu nhà xác. Tìm vào đến nơi thì nhân viên của bệnh viện đã đưa mẹ anh vào bệ đặt thi hài và đậy lồng úp bằng lưới sắt lên trên. Hằng đang loay hoay bật lửa thắp hương thì anh cán bộ y tế hỏi:

          - Sao không đèn nến lên cho sáng?

          - Hàng họ nghỉ cả anh ạ, nhà hàng bán hương thì lại hết nến.

          Người cán bộ y tế không nói gì thêm, quay mình, lặng lẽ đi về phía bệnh viện. Lát sau anh mang xuống cho Hằng một cái đèn dầu hoả. Vừa đưa cái đèn cho Hằng anh vừa dặn:

          - Khi nào không dùng nữa thì gửi về phòng trực cho tôi là được.

          Còn lại có một mình trên mảnh sân hoang vắng của khu nhà xác Hằng càng đau đớn. Không bàng hoàng đau đớn sao được bởi chỉ mới vài tiếng đồng hồ mà mẹ anh đã ra đi như thế. Mới chỉ sớm nay thôi bà cụ vẫn cười nói vỗ về với mấy đứa con của anh. Mới chỉ mấy ngày hôm nay thôi bà cụ phấn khởi cùng con cháu gom nhặt đồ đạc tíu tít lên xe chuyển ra khu nhà mới, thế mà nửa giờ vừa đây thôi mẹ anh đã thành người thiên cổ mất rồi. Càng suy nghĩ anh càng đau đớn, nước mắt anh từng đợt, từng đợt nối nhau. Anh khóc, khóc trong im lặng một mình, khóc không cần phải nín nhịn, không cần phải e ngại vì người trên kẻ dưới. Anh bàng hoàng trước mọi sự đến quá nhanh, quá đột ngột, không sao hiểu nổi. Trong đầu anh giờ đây chỉ ong ong một điều: “Thế là từ nay mình sẽ không còn mẹ nữa”.

          Đêm càng vắng khi trời về khuya. Hằng không biết trong ngôi nhà tối om kia có còn ai nữa không ngoài mẹ anh đang nằm đó trong chiếc lồng sắt sơn đen. Nền bê tông giá lạnh bởi âm khí, bởi sự hoang vắng càng thê lương và buồn bã. Ngọn đèn dầu bé tý chỉ tạo ra được một quầng sáng nhỏ chưa đầy một mét vuông quanh nó. Chẳng có ai ngoài Hằng và những nén hương đỏ cháy nối nhau là biểu hiện của sự sống nơi khu nhà xác. Những hình ảnh cũ về mẹ nhân đó cứ hiện ra trong đầu Hằng. Một câu nói, một cử chỉ của mẹ từ những ngày bé nhất cho đến những giờ phút mới đây thôi cũng làm anh xúc động, làm anh rơi nước mắt. Đã lâu lắm rồi anh không khóc. Không khóc không phải vì anh đã quên khóc hoặc giả không có nước mắt để mà khóc. Tuy nhiên đó là nói cái bề ngoài không khóc có thể lừa được người đời, chứ còn bên trong thì không biết đã bao lần anh khóc. Cái sự khóc không thành tiếng, cái sự khóc không ra nước mắt ấy càng làm anh đau đớn hơn nhiều.

          Đang còn đau đớn vì những hình ảnh về mẹ trong tưởng tượng thì anh buộc lòng phải trấn tĩnh lại, bởi hơi xa phía ngoài đã có đôi ba tiếng nói, tiếng hỏi khá quen thuộc của anh Tham và số anh em bạn trong tổ văn phòng đang đến. Sau những câu chào hỏi chia buồn ngắn gọn là cuộc bàn bạc cho công việc tang lễ ngày mai. Có lẽ tất cả đều còn rất trẻ nên anh Tham và mọi người đều rất lúng túng không biết nên làm thế nào. Cuối cùng thì Hằng đành phải lập kế hoạch tang lễ rồi ghi ra giấy cho anh Tham mang về tổ chức đơn vị lo giúp hộ.

          Đúng 12 giờ trưa ngày 8 tháng 5 năm 1985 cụ Phạm Thị Sâm được nhập quan tại nhà tang lễ của bệnh viện Chí Linh rồi được chở bằng xe ô tô về khu tập thể Đềpô làm lễ viếng. Ba giờ sau đó linh cữu được chuyển bằng xe ô tô ra nghĩa trang Cầu Gỗ để an táng trong nỗi đau buồn của gia đình và những người cán bộ, công nhân trong nhà máy. Chỉ có năm vành khăn trắng của vợ chồng Hằng và ba đứa trẻ con anh trên chuyến xe đưa tang hôm đó. May sao khi xe ra đến nghĩa trang thì anh cả và các chị gái mới đến kịp. Mọi người nhặt những nắm đất nhỏ thả xuống quan tài màu đỏ trong nước mắt lưng tròng trước khi anh em trong đơn vị hắt những xẻng đất to lấp đầy lỗ huyệt.

        

          Gần một tuần sau công việc tang chế mới tạm ổn định. Nhưng trong nhà Hằng mọi người vẫn thảng thốt vì nỗi đau mất mát quá lớn không ngờ tới. Cứ mỗi lần nhìn thấy bát cơm quả trứng hoặc thức ăn thường bữa dâng lên ban thờ cúng mẹ Hằng lại như đứt từng khúc ruột. Những hình ảnh mấy chục năm trước lại hiện về như những thước phim chạy trong đầu anh.

 

                                                                  

                                                       SỰ CỐ

 

                                                              1

 

          Công việc sửa chữa mấy tuần nay hình như có tăng lên bởi nhiều thiết bị đã quá kỳ bảo dưỡng mà vẫn chưa được tu sửa định kỳ. Những người về nhà máy hầu như chưa ai có trong đầu mình về một kế hoạch quản lý thiết bị mà chủ yếu vẫn nặng về chỉ đâu đánh đó của chuyên gia. Nếu không thế thì cũng lại dựa vào nhu cầu do mấy ngài ở cấp nhà nước ban ra để mà ỉ lại. Trong thời này vẫn đề hoàn thành kế hoạch của trên là sinh mệnh chính trị từ mỗi cá nhân đến các tập thể cho dù là to hay bé. Bất kỳ ở đâu người ta cũng đặt câu hoàn thành nhiệm vụ chính trị lên đầu, còn hoàn thành nhiệm vụ chính trị là những gì thì chẳng khi nao chỉ ra cho hết được. Chính vì vậy mà cho dù là một việc nhỏ như ăn trộm vài miếng gỗ thùng hàng cũng bị coi là một tội nặng, cho dù nếu không ai lấy đi thì cứ để ở trên bãi kho đến mục nát ra. Chả nói đâu xa lạ, mà chính là đơn vị của Hằng cũng đã phải va chạm đến mức suýt nữa đánh nhau tập thể với mấy người bảo vệ đóng ở bến phà khi có một công nhân trong đơn vị cầm theo vài miếng ván hòm đi qua đó. Họ hạch sách rằng lấy ở đâu rồi thì đòi bắt bớ lung tung cả, anh Tham đang cùng mấy anh em bộ đội phục viên liên hoan ngày 22 tháng 12 ở trong trụ sở nghe được thấy ngứa máu xông ra giải quyết không xong thế là lời qua tiếng lại, nóng mặt xông lên quyết một phen đòi “chân lý”. Lúc ấy Hằng đã về tận Văn An rồi nên chẳng biết gì cả, sáng hôm sau nghe kể lại thấy thật buồn cười.

          Cuộc họp buổi chiều còn chưa được bất đầu thì từ trạm tuần hoàn có tin dữ báo lên. Số là mấy ngày nay bơm tuần hoàn 2 đang có hiện tượng dở chứng mà cả Tây và ta chưa ai hiểu nổi tại cái gì. Đâu là đầu máy, đâu là chân máy chỗ nào cũng như muốn xê đi dịch lại cho đến cái chỗ nó thích đứng mà chả có cách nào ngăn chặn được. Huống chi nó lại không đến mức chết thẳng cẳng ngay trong khi vấn đề chạy nó trong dây chuyền vẫn là việc chấp hành mệnh lệnh không chỉ thuần tuý về kỹ thuật, kinh tế mà còn phải chấp hành mệnh lệnh về chính trị. Việc chạy hay dừng có khi còn  phải có lệnh của chính phủ chứ chẳng chơi đâu. Hằng vừa truyền đạt mệnh lệnh của phân xưởng cho trưởng kíp cố gắng duy trì đến mức tối đa thì chuyên gia cơ nhiệt và trưởng phòng kỹ thuật cũng đã từ cầu thang tuột xuống.

          Hằng đang chăm chú nhìn vành chặn ống hút đang lắc đi lặc lại trên nền xi măng tầng âm vừa phán đoán: giờ này chắc bộ gối trục cao su đã bay mất rồi nên chẳng có cái gì có thể giữ nổi cái trục dài hơn sáu mét kia nữa. Nếu cứ chạy thì rồi có thể cả cái thân bơm kia cũng bật tung ra mất và sau vài phút cả tầng âm này đầy oặp nước. Hình như tất cả mọi người có trách nhiệm trong ca vận hành có mặt tại đây đều đã nghĩ như vậy. Tiếng quẹt ồn ã của sự va chạm giữa các mảng kim khí và những cuộc điện thoại ngắn giữa trưởng phòng kỹ thuật với trưởng ca càng làm cho không khí nơi đây căng thẳng tột độ. Khi trực ban ấn nút sự cố dừng bơm tất cả mọi người mới cảm thấy như cởi bỏ được cái gánh nặng đè nén bấy lâu nay. Những bước chân mệt mỏi nối nhau đặt lên từng tấm thép sần hoa thị của cầu thang lên xuống thưa dần, có lẽ mọi người đã về hết khu hành chính. Mọi việc bây giờ đã được chuyển qua cấp cao hơn, Hằng cũng như mọi người chỉ còn biết chờ đợi và chờ đợi.

          Gần hai ngày qua từ trên khu nhà hành chính đã  bắt đầu bàn đến việc sửa chữa cái bơm nước hỏng nhưng vẫn chưa có một giải pháp nào khả dĩ được chấp nhận, cuối cùng thì cũng chỉ còn cách đóng phai bơm cạn nước xem nó hỏng ra sao. Việc này thì chắc là thầy trò Hằng phải thực hiện rồi chứ chẳng có ai thay cho được. Họ ăn lương để làm việc đó thì tất yếu phải làm việc đó thôi. Ai đó chỉ đơn giản nói rằng đóng phai bơm cạn nước nhưng họ có hiểu đóng cho kín được nào có dễ gì. Những khối bùn cao ba bốn mét dốc từ mương hút vào, những thỏi kim loại rơi rớt từ khi lắp ráp xong không được thu dọn do tắc trách, do vội vã về tiến độ đang nằm ngổn ngang dưới đó ngăn không cho tấm phai chạm đáy nền cửa hút, nên bơm hoài mà nước đâu có rút. Nào là dùng sào, dùng móc cào đi quét lại mà vẫn chẳng có tác dụng gì. Cũng đã có mấy chàng trai quê vùng sông nước muốn thử sức lặn xuống để tìm hiểu xem sao nhưng Hằng chưa dám quyết. Anh thực sự băn khoăn vì mức bùn choán ngay cửa phai quá dày, nếu rơi vào đó thì có khác gì bị tụt chân xuống đầm lầy. Chỉ riêng cái độ sâu gần tám mét nước ép vào màng tai cũng đã chảy máu ra không chừng, nói gì đến chuyện vét bùn nhặt các vật cản.

          Cuộc họp mở rộng của nhà máy với các đơn vị sửa chữa gần như im lặng hoàn toàn do bế tắc của việc khắc phục sự cố từ mấy ngày nay. Những cán bộ phân xưởng sửa chữa cơ nhiệt luôn kêu rằng mình không quen với loại thiết bị này, còn khối sửa chữa của Hằng thì lại chỉ sửa chữa nhỏ không có chức năng với công việc hiện tại. Cuộc họp chắc sẽ còn im lặng nếu như ông Thăng giám đốc công ty không sốt ruột nhắc mọi người tiếp tục ý kiến. Nhắc thì nhắc thế nhưng hình như mọi người đều muốn tránh né, không muốn đưa đầu ra chịu báng.

          Cuối cùng thì ông giám đốc công ty đành phải quay lại với đơn vị chủ quản:

          - Về phía chủ quản...thế nào?...Đồng chí quản đốc Thuỷ lực có ý kiến một tý chứ nhỉ?

          - Báo cáo thủ trưởng, chủ quản chủ yếu là vận hành còn sửa chữa chỉ vừa để phục vụ trong ca thôi ạ!

          - Nhưng về chuyên môn thì chắc là phải có kinh nghiệm phải không nào!

          - Cái này... có lẽ để đồng chí đốc công...!

          Ông Thăng quay người sang bên trái nhìn thẳng vào Hằng, ông nheo mắt thăm dò một lúc rồi mới  động viên:

          - Việc này có lẽ đồng chí đốc công của Thuỷ lực giải quyết là hợp lý hơn cả. Quen thiết bị, biết nguyên nhân, chắc hẳn là hơn người ngoài rồi.

          Hình như ông chẳng định cho Hằng có ý kiến nên ông dừng lại giây lát lại tiếp tục nói:

          - Về người và cơ sở vật chất thì nhà máy phải lo đầy đủ; thiếu đâu bổ sung đó tiến hành càng nhanh càng tốt. Trước lúc tôi xuống đây Thủ tướng cũng đã có ý nhắc nhở phải sớm khắc phục đảm bảo cung cấp điện đầy đủ cho sản xuất...

          Sau một hồi hối hả với những lời huấn thị trang trọng như đang phát biểu trên bục hội nghị ông Thăng tiếp tục nhìn thẳng vào Hằng như đã từng quen biết lâu lắm, rồi ông chợt hạ giọng xuống một cách nhẹ nhàng và nói tiếp:

          - Thế nào...? Em cố gắng khắc phục sự cố giúp nhà máy trong lúc khó khăn này nhé?...

          Thực ra thì Hằng cũng rất phân vân vì suốt trong thời gian lắp rắp thiết bị anh luôn bận tổ chức lớp học sau đó lại đi Liên Xô nên anh cũng chẳng biết gì hơn mọi người. Chỉ có điều là anh đã trải qua nhiều lần sửa chữa tốt các loại thiết bị mới chỉ gặp lần đầu nên có đôi chút tự tin. Có điều anh bất ngờ cảm động vì cái sự ân cần của một ông cán bộ cấp cao đối với công việc và cả đối với cá nhân anh làm cho anh phân vân không biết có nên từ chối hay không.

          Về lý thì trách nhiệm khắc phục sự cố lớn như thế này không thuộc về anh, nên anh hoàn toàn có quyền từ chối. Có điều là anh chưa thấy một ông cán bộ cấp cao nào lại giao nhiệm vụ cho người bên dưới với cách nói của một người anh nói với một thằng em trong nhà  vậy. Thế mà giờ đây anh lại thẳng thừng từ chối thì không biết không khí cuộc họp sẽ bẽ bàng ra sao. Hằng còn đang chần chừ chưa kịp nói gì thì ông Thăng đã nhắc lại:

          - Thế nào nhỉ? Nếu có khó khăn hay đề xuất điều gì em cứ nói để mọi người cùng giải quyết!

          Trong lúc ông Thăng nói Hằng đánh mắt sang phía anh Tham quản đốc thăm dò ý kiến xem sao nhưng Hằng thấy anh Tham cũng không có ý can ngăn nên anh quyết định nhận nhiệm vụ.

          - Báo cáo với giám đốc...công việc này quả là quá sức với đơn vị chủ quản ạ!

          - Không sao, chỉ cần các cậu đứng ra chủ trì chính là được, thiếu đâu bổ sung đó. Mọi cái giám đốc nhà máy sẽ lo cùng các cậu, thế là được chứ gì?

          Hằng vừa khẽ cười vừa nói như dỗi:

          - Dạ! Thủ trưởng đã ra lệnh thì “chiến sỹ” đành phải chấp hành vậy thôi ạ.

          - Này, các cậu phải hết mình chứ không được miễn cưỡng đâu đấy nhé!

 

                                                                  2

 

          Cuộc họp kết thúc được một lúc thì ông Thăng cũng về Hà Nội, những băn khoăn, lo lắng của cả nhà máy lại đổ dồn về cái trạm bơm tuần hoàn nhỏ bé ở phía bờ sông Thái Bình. Những cán bộ kỹ thuật trên nhà máy xuống, vài chuyên gia Liên Xô cũng cắt lượt nhau qua lại quan sát và ghi chép vào những cuốn sổ nhỏ tý tẹo móc từ túi áo ra. Hằng không còn để mắt được đến xung quanh nữa, phần thì nhà máy yêu cầu thống kê số nhân lực và các loại vật tư dụng cụ cần thiết để cấp bổ sung, phần thì các tổ sửa chữa đều đang chờ anh giao nhiệm vụ cho họ. Sau khi cân nhắc trong đầu về các số liệu kỹ thuật của tổ bơm số bốn, anh thấy có thể lắp trả lại tổ bơm số bốn mà khối sửa chữa của anh vừa mới tách ra bảo dưỡng định kỳ để tập trung cho việc khắc phục sự cố bơm số hai trước vậy. Vừa lúc đó  anh Tham quản đốc cũng mới từ trên nhà máy về đến, Hằng liền trao đổi với anh về kế hoạch anh mới nghĩ ra. Anh Tham chỉ thạo về máy hơi nước là chính nên anh càng lo lắng:

          -  Cái này tôi cũng không nắm được các thông số cụ thể, không biết để thế lắp lại có sao không?

          - Thực ra tôi cũng chỉ tham gia sửa chữa thuỷ điện ít lâu nên cũng chả hơn gì anh đâu. Tuy nhiên với thuỷ điện thì kỹ thuật lắp ráp hết sức kỹ lưỡng, giữa hai kỳ đại tu chỉ mở ra kiểm tra thông số, nếu còn ở trong định mức thì chỉ thay gối trục cao su là xong.

          - Thế thì, có lẽ anh cho tôi thông số bơm bốn để báo cáo nhà máy xem sao.

          - Nhà máy chắc cũng chỉ dựa vào chúng ta mà thôi anh ạ. Chỉ cần anh quyết thì chắc là nhà máy cũng tán thành thôi.

          - Nhưng... các thông số của nó có còn đảm bảo không hả anh?

          - Vẫn trong tiêu chuẩn anh ạ!

          Cuối cùng thì cả chuyên gia và nhà máy đều tán thành cho tạm dừng việc tiểu tu bơm bốn, phục hồi chế độ dự phòng để tập trung cho khắc phục sự cố bơm hai.

          Cũng may mắn cho mọi người là trung tâm của tổ bơm khi dừng cũng không thay đổi nhiều lắm. Người ta không thể ngờ rằng cả sáu cánh quạt của bơm tuần hoàn hai đều đã mòn vẹt nhiều đến như vậy. Chỗ mòn ít nhất trên bề mặt cung tròn đầu cánh cũng đến gần hai phân, chỗ mòn nhiều lên đến gần bẩy phân chứ chẳng ít đâu. Có điều độ mòn của các cánh nếu triển khai ra thì thấy phần kim loại mất đi có hình tam giác, chính từ việc nhận ra điều đó Hằng đã đề xuất phương hướng gia công các miếng kim loại theo hình tam giác đo được sau đó đem nung nóng trong lò rèn để uốn cong theo bề mặt cung tròn. Cũng đã có nhiều người tán thành phương pháp do Hằng đề xuất, tuy nhiên các chuyên gia Liên Xô lại cho rằng chỉ cần cắt những miếng kim loại mỏng hàn vào đầu cánh là được. Tất nhiên là Hằng cũng đã lưu ý với những người bạn nước ngoài về sự mất cân bằng của cánh, nhưng các bạn cho rằng máy vẫn chạy được trong một thời gian, đủ để củng cố các bơm còn lại rồi sẽ thay cánh quạt mới.

           Đúng như dự đoán của Hằng, bơm vừa mới khởi động đã rung động khá mạnh, thôi thì cũng đành phải chấp nhận như vậy mà thôi. Bởi điều quan trọng lúc này là có thiết bị sản xuất đáp ứng nhu cầu về điện của cả nước. Có lẽ cũng phải gần một tháng sau các bơm ba và bốn mới tiểu tu xong. Hằng gầy rộc đi vì luôn mất ngủ do phải thông ca chỉ huy các tổ sản xuất. Quan trọng như việc căn chỉnh anh phải vào cuộc đã đành, đến việc cắt một cái gioăng đệm Hằng cũng phải làm để hướng dẫn. Ngay cả việc sử dụng cầu trục để nâng hạ, di chuyển thiết bị anh cũng phải nhúng tay vào. Số anh em mới hình như họ chỉ học trông coi máy mà không biết gì nhiều về sửa chữa, nên cứ giao việc gì thì đều phải có hướng dẫn. Đơn vị cũng đã chia ra ba nhóm làm việc thay ca nhau nhưng người chỉ đạo thì chỉ có một Hằng nên anh nào có được nghỉ. Chỉ khi nào việc tháo rời thiết bị, nghĩa là chỉ cần lấy sức để mở các bu lông ra và bắn bẩy di chuyển cùng với vệ sinh là anh không phải nhúng tay vào. Những lúc ấy anh mới tranh thủ leo lên tầng trên để nguyên cả quần áo bẩn và chân tay không rửa để ngả mình trên nền bê tông xám ngắt, thiếp đi trong tiếng máy chạy ù ù ở ngay bên cạnh. Cũng may trong thời gian này anh ít ốm đau, chứ không thì không biết thế nào mà nói.

          Suốt từ nãy giờ mấy đồng chí lãnh đạo vẫn dục giã mà anh cũng vẫn chưa chịu rời công việc, anh muốn căn dặn cách làm kỹ lưỡng hơn một chút cho mấy cậu đang tháo bánh xe công tác. Đã bước chân lên cầu thang rồi anh còn ngoái lại căn dặn về an toàn  khi đưa bánh xe công tác ra ngoài. Mãi đến khi nhóm tháo gỡ buồng bánh xe công tác đã bắt đầu loay hoay mở bu lông mặt máy anh mới tranh thủ ghé vào bên cạnh máy bơm số ba để ngủ lấy lại sức. Không biết trong tháng qua Hằng đã thông ca mấy bận mà người anh gầy rộc hẳn đi. Đấy là do mấy cô phụ nữ trên văn phòng bảo chứ còn anh thì biết thế nào được. Mỗi lần có người than phiền vậy anh cũng chỉ ậm ừ cho qua chuyện rồi lại vội vàng đi xuống dưới trạm để lo công việc.

          Tiếng máy đều đều và hơi ấm của nó toả ra từ mấy cái lỗ thông gió trên thành động cơ làm anh ngủ say mê mệt đến gần 2 tiếng đồng hồ mới dậy. Anh cứ ngỡ bánh công tác đã được tháo ra rồi, nào ngờ xuống đến nơi bánh xe vẫn nguyên vị trong khi mấy cậu trai trẻ thì đã đầm đìa mồ hôi trên áo. Hình như có cả anh Tham cũng đang bì bõm bên cạnh mấy thanh ray đường sắt kê trên miệng cửa hút, chắc là để đỡ bánh xe công tác khi hạ xuống đây.

          Vừa thấy Hằng đến gần anh Tham đã cởi mở:

          - Cái món này gay quá ông ạ! Vừa rồi trượt ray tý nữa thì tụt xuống tầng âm mất, làm tớ hoảng quá.

          - Không tụt xuống được đâu anh ạ! Vì nó to hơn lỗ cửa hút một tý. Cái đáng lo nhất là nó xoay nghiêng rồi nằm mắc ngẵng ở đó anh ạ!

          Vừa nghe có tiếng của Hằng thì cả nhóm công tác cũng bỏ cả xà beng đòn kê tại đó ra đứng bên cạnh anh. Hằng định quát mấy cậu sao không ra làm tiếp nhưng rồi lại thôi. Cái chính là anh hơi khó chịu vì chiều nay đã hẹn xe và cẩu để chuyển bánh xe cũ về kho và đổi lấy cái mới, thế mà suốt 2 giờ vừa rồi vẫn chửa đâu vào với đâu, làm sao không bực.

          Biết anh không vừa ý vì công việc không chạy, cậu Tòng nhóm trưởng đành phân bua:

          - Chúng em đánh vật với nó suốt từ lúc anh đi vắng đến giờ đây! Mấy lần định gọi anh nhưng thấy anh nằm im quá lại thôi.

          - Thế tớ bảo các cậu thế nào?

          - Dạ! Bu lông dài có cả rồi đấy ạ!

          - Thế còn sàn kê?

          - Thì anh Tham bảo nó nặng hơn 2 tấn nên phải kê bằng ray tầu hoả rồi mới kê tôn lên.

          - Thế sao không tháo ra đi.

          Nhìn thấy sự ngao ngán của cánh thợ, anh chắc các cậu này cũng đã cố gắng vật lộn với nó đây, ngặt vì không xong nên giờ đây có ý như chờ đợi xem ông anh cả này có cách gì hơn không. Biết làm thế nào được khi mà họ chưa động đến những công việc như thế bao giờ. Phần thì sợ hỏng thiết bị, phần thì lo tai nạn nên càng bế tắc.

          Hình như Hằng vẫn chưa thông cảm được với cánh thợ tháo bánh công tác nên cậu vẫn lên giọng cáu bẳn:

          - Đã không tháo được thì dọn hết đi chứ để lại làm gì cả đống sắt thép ở đó cho vướng.

          Những thanh ray cỡ lớn lần lượt được tháo gỡ và dời đi nơi khác, sàn trạm quang quẻ hơn, Hằng mới tạm thời lắng dịu trở lại.

          - Cậu nào lên lấy máy hàn xuống đây.

          - Mang cả máy xuống chứ ạ?

          - Cái cậu này...! Mang gì miễn hàn cắt được thì thôi, có thế mà cũng phải hỏi.

          Hằng đón giây hàn và mặt nạ từ tay Tùng kéo lệt xệt trên sàn bê tông đến bên tấm tôn thép 10 ly dựa trên tường trạm. Những tia lửa sáng loé lên và rất nhiều các cục lửa rơi xuống sàn nhà. Chả mấy chốc tấm tôn đã được cắt làm hai nửa, anh kêu nhóm công tác chuyển xuống luồn theo mặt sàn trạm bơm đậy kín miệng cửa hút lại. Những thao tác cuối cùng là việc nới dần hai ê cu M42 trên cặp gujông cuối cùng treo bánh xe công tác để hạ chúng xuống tấm sắt đã nằm chờ sẵn. Chiếc palăng 1 tấn móc vào sàn bê tông đối diện liên tục kêu lách cách co ngắn sợi xích sắt để lôi cả tấm sắt và bánh xe công tác ra ngoài.

          Khi bánh xe công tác đã được kéo ra ngoài thì tất cả mọi người đều thở phào nhẹ nhõm. Một vài anh em khác cũng đang bàn tán xì xầm tán thưởng cách làm của Hằng vừa thực hiện. Chợt có một cậu nào đó có lẽ là nhân viên trong kíp vận hành từ tầng trên nói vọng xuống:

          - Nếu ngay từ lúc đầu làm như anh ấy nói có lẽ chỉ cần một người thực hiện cũng chẳng vất vả gì.

          Hằng ngước nhìn lên xem ai nói, anh chợt bắt gặp ánh mắt lúng túng của những người thợ trẻ, anh hiểu rằng họ đang tự trách mình vì đã không làm theo lời anh dặn.

 

 

                                                                 3

 

          Cũng mất gần hai ngày nữa thì mới đưa được trục và bánh xe công tác mới vào vị trí. Nhưng tiếng hò dô mệt mỏi cứ lâu lâu lại được cất lên trong mỗi lần quay trục để đo đạc lấy thông số chẳng làm ai vui được cả bởi đã hơn hai tuần rồi tất cả mọi người đều chưa được nghỉ. Có lẽ đến chín mươi phần trăm các công nhân trong đơn vị đều có một gia đình ở đâu đó trên các xóm quê với ruộng đồng cầy cấy. Hầu hết những chàng trai đang làm việc tại đây cũng chính là ông chủ của rất nhiều các gia đình. Họ vẫn tranh thủ nghỉ chủ nhật, nghỉ bù, nghỉ phép để về đỡ vợ con trong những ngày mùa vụ. Ngoài ra còn bao nhiêu công việc khác có tên và không tên nữa không ai có thể thay được cho họ, khi họ về với gia đình làng xóm. Hằng chưa hiểu được nhiều về họ nhưng anh biết các chàng trai trẻ dưới quyền anh nhiều lần lúng túng khi không hoàn thành công việc được giao kia lại là những vị trưởng họ uy quyền khi về với gia đình giòng họ. Đâu là giỗ chạp, ma chay, cưới xin và cả những phân giải các thắc mắc của các thành viên trong họ đều do họ giải quyết, mỗi lời của họ có khối người từ già đến trẻ phải theo.

          Hằng mong sao điều chỉnh nhanh chóng hơn để cho họ sớm được nghỉ ngơi mà về lo việc nhà một chút, nhưng hình như ông trời không muốn thế bởi các thông số cứ gần đạt lại chuội xa hơn trong lần điều chỉnh tiếp theo. Vừa nghĩ ngợi lan man Hằng vừa ghi lại những con số mà nhóm điều chỉnh mang đến cho anh. Anh đứng dậy xem xét thêm lần cuối các vị trí xem có chỗ nào còn vưỡng víu hay không, những anh chẳng phát hiện ra sự cố nào cả. Vừa thò đầu ra khỏi chân giá động cơ anh đã thấy Hải đứng chờ ở đó vừa cười vừa hỏi:

          - Thông số vừa rồi có tốt không anh?

          - Tôi cũng chưa xem kỹ, nhưng có vẻ đồng đều hơn mấy lần trước anh ạ.

          Suốt thời gian vừa qua Hải đã theo với đội công tác của Hằng bền bỉ như một nhân viên của anh vậy. Mặc dù anh là phó phòng kỹ thuật được giao nhiệm vụ giám sát công việc nhưng hầu như anh chẳng ra mặt lên giọng lãnh đạo bao giờ. Đã hơn ba mươi năm cách mạng rồi nhưng hệ thống đào tạo của nhà nước vẫn chưa thật hoàn hảo. Chế độ dạy chay, học chay dẫn đến nhiều kỹ thuật, kỹ sư ra trường rồi vẫn phải đi học một chút kinh nghiệm từ mấy cụ thợ già. Cho dù có thông minh, có hiểu biết đấy nhưng trong ngành này đâu chỉ thuần tuý có một chuyên ngành mà họ được học. Cứ như đơn vị của Hàng đã có không biết bao nhiêu là ngành nghề rồi nói gì đến cả nhà máy điện hiện đại vào bậc nhất vùng Đông Nam Á này nữa. Chính vì vậy mà có được một người thợ từng trải, kinh qua nhiều công việc, kinh nghiệm đầy mình như thế sao không đáng nể, vì cái mà ta cần làm chỉ có họ mới giúp ta làm xong được. Chẳng ai xem trọng một ông kỹ sư bằng cấp chói sáng trong khi giao cho ông ta việc gì cũng không hoàn thành được. Hiểu biết và thông cảm là việc của Hằng, nhưng ai hiểu Hằng là người có hiểu biết và có thông cảm hay không. Vừa nghĩ đến đây Hằng chợt nhớ lại lần đầu gặp Hải xuống phối hợp sửa chữa phần điện khi anh còn là phó quản đốc phân xưởng điện. Anh vừa từ phòng đốc công xuống đến sân trạm thì thấy hình như có ai đó đang từ phía sau tiến lại, anh giật mình vì tiếng chào khá to:

          - Chào thủ trưởng!

          - Hải đấy à! Chú cứ làm anh giật mình, các cậu chả thủ thì thôi chứ tớ thì thủ với đầu cái gì.

          - Với em thì anh cứ là thủ trưởng mãi mãi.

          Hằng biết Hải nói cho vui thôi chứ cũng không có ác ý gì nên anh cũng chỉ cười xoà.

          - Thế bao giờ thủ trưởng xong phần máy để em làm phần điện.

          - Có lẽ là mai các chú xuống thì mới làm được.

          - Nhất trí với anh thế nhé.

          - Rồi...Rồi...

          Ngay hôm ông Thăng giao nhiệm vụ sửa chữa cho Hàng thì Hải cũng được lệnh xuống giám sát. Cũng vẫn thân thiện như mọi khi anh nói:

          -  Em được giao nhiệm vụ xuống giám sát công việc để báo cáo tiến độ hàng ngày về phòng. Nhưng em cũng nói thật, cái thứ máy móc của anh là em chưa biết gì nhiều nên anh phải giúp em hoàn thành nhiệm vụ đấy nhé.

          - Cụ thể là gì nào?

          - Cứ khi nào căn chỉnh thì cho em biết để em đến cùng làm và lấy số liệu để về báo cáo là được anh ạ.

          - Hơi lâu đấy!

          - Không sao, em theo được.

          Vừa nhớ lại những hình ảnh cũ vừa nhìn vào mặt Hải anh nhận ra mấy hôm nay thôi nhưng hình như cậu ấy gầy đi khá nhanh. Gầy cũng là phải thôi vì ăn uống thất thường, rồi thì cũng nằm sàn đất ngủ như cánh lao động trực tiếp thì sao không sút cân cho được.

          - Chú gầy đi nhiều đấy, cứ chiều đến xuống với cánh tớ là được, còn nếu nửa ngày mà xong thì thế nào tớ cũng báo cho chú trước.

          - Em theo được mà!

          - Tớ định cho các cậu ấy nghỉ luân phiên một vài buổi vì xem ra nếu kéo thêm thì họ ốm hết.

          - Em không dám can thiệp vào công việc của các anh, nhưng xem ra họ cũng mệt mỏi thật rồi anh ạ.

          Hằng cũng không nói gì thêm nữa, anh cúi xuống với tờ giấy trên tay, xa hơn một chút ở giữa sân trạm tốp công nhân quần áo đầy bùn đất dở nằm, dở ngồi đang hướng về phía anh chờ đợi. Có lẽ đây cũng là con số tốt nhất từ hôm bước vào điều chỉnh nhưng vẫn chưa đạt yêu cầu. Gấp tờ giấy lại bỏ vào túi rồi tiến đến chỗ anh em công nhân ngồi đợi. Hầu như tất cả đều im lặng chờ nghe anh đọc kết quả.

          - Biết là các cậu mệt quá rồi nhưng nếu cố một lần nữa thì rất có thể được, thế nào anh em mình cố một chút nữa nhé.

          Không biết do anh nói nhẹ nhàng thân thiện hay trên mặt anh có biểu lộ lạc quan hay sao mà tất cả đều nhanh chóng đứng dậy xuống trạm bám vào tay quay chờ đợi. Hằng lấy lại chiếc búa cái tám cân từ tay của Sinh chui vào sàn công tác. Anh kẹp chặt cờ lê 42 vào mũ ốc rồi quai búa gõ mạnh vào cán cờ lê. Những tiếng gõ đơn độc chói tai phát ra không làm cho ai vui được bởi từ mấy ngày nay cũng đã gõ mãi mà có xong đâu. Con số hầu như không chuyển được mà có phần lại lớn hơn lên làm cho mọi người đều ngao ngán. Hằng buộc lòng phải để cho anh em nghỉ để làm đợt khác vậy.

          - Ngày mai.... cho mấy cậu Yên Dũng nghỉ một ngày, số anh em vợ con ở cơ quan cố gắng thêm giờ buổi nữa nhé.

          - Sao chỉ Yên Dũng được nghỉ? Chúng em cũng đã liên tục mấy tuần rồi ...

          - Nghỉ gì đâu, chẳng qua là cho các cậu ấy về đi cày cho vợ một buổi mà thôi. Chưa chừng, mai các cậu lại lập công ấy chứ.

          - Thế mai ít người thế làm sao quay được ạ.

          - Mai tớ nhờ mấy cậu ngày H giúp thêm. Thôi thông cảm cho mấy chú ấy một chút, vợ con nông thôn lam lũ vất vả lắm. Cánh mình lúc nào cũng ở gần cố một tý nhé...

          Đêm như chưa bao giờ dài đến thế! Quay đo, lặp lại quay đo! Những tiếng dô ta khản đặc, những tiếng búa gõ vào thép chát chúa chợt lúc vang lên trong tiếng à à... của tổ bơm số 3 cạnh đó. Những con mắt đỏ lên vì thiếu ngủ nhiều khi không tự chủ được cứ muốn sụp xuống một vài giây...

          Có lẽ đã hơn tuần rồi chứ có ít gì đâu!

 

 

                                                               4

 

 

          Đã hơn tám giờ mà số anh em làm thêm giờ ca ngày vẫn chưa đến, Hằng một mình vác búa xuống sàn công tác, cắm đèn soi hết xung quanh  rồi lau chùi dầu mỡ trên cán gỗ. Anh giở tờ giấy hôm qua ra và ngồi ngẫm nghĩ. Có một thông số không theo quy luật lắm không biết có phải là điểm đo có khuyết tật hay không. Anh đưa tay sờ đi sờ lại ba bốn lượt vẫn thấy trơn láng bình thường. Anh lắp cờ lê 42 lần lượt vào hai ốc cùng hướng với chiếc ốc hôm qua đánh chặt thêm một chút rồi đánh lại tất cả các ốc còn lại. Vừa dừng tay búa anh đã nghe thấy tiếng ồn của mấy cậu đến làm thêm giờ ca ngày.

          - Sao lại có mình bác vào việc thế?

          - Tớ thấy hơi sốt ruột nên xem lại một vài chỗ làm đêm qua để cho chắc chắn. Các cậu chuẩn bị để quay nhé.

          Tiếng dô ta lại tiếp tục vang lên từng nhịp ngắn, có lẽ sau một đêm lại sức lại có sự hỗ trợ của mấy cậu vận hành nên trục quay êm lắm. Máy vừa dừng lại Hằng đã đến các vị trí để lấy thông số. Anh không tin vào mắt mình nữa khi các thông số sai lệch hầu như rất nhỏ. Kinh nghiệm cho thấy thì với những thông số như thế này thì kết quả nhất định sẽ đạt yêu cầu. Hằng đang định nhắc mấy cậu kiểm tra lại các chi tiết ghép nối thì Biền từ văn phòng chạy xuống hỏi số người đi làm để báo bồi dưỡng:

          - Hôm nay các bác làm thêm mấy người ấy nhỉ?

          - Thì chú đếm hộ một tý chứ tớ chẳng nhớ đâu.

          - Em cứ tưởng bác điều động nhân lực chứ lại.

          - Thì vẫn... nhưng hôm nay có thêm cánh vận hành nữa.

          Còn đang nháo nhào về con số làm thêm giờ lại thấy cậu Khải  ở đâu đó đi vào:

          - Kết quả thế nào hả anh?

          Hằng ngước lên định nói kết quả tính toán nhưng anh thấy Khải có vẻ sốt ruột thế là anh làm bộ xịu mặt xuống rồi lắc đầu tỏ vẻ chán chường. Nhìn thấy thái độ của anh Khải càng buồn bã hơn:

          - Thế mà em cứ tưởng !...

          - Có khi phải mấy đỏ nữa mới ổn chú ạ.

          - Thế thì chết em rồi.

          - Sao thế?

          - Nói thật với bác chứ em ốm suốt từ mấy bữa nay rồi nhưng thấy anh vất vả quá nên cũng phải cố mà không dám kêu.

          - Này thế cậu có biết cậu Sinh đi đâu không nhỉ?

          - Chết rồi...

          - Bậy nào.

          - Nó lăn kềnh ở sàn động cơ rồi anh ạ! Ngáy cứ như sấm ấy.

          - Này cậu thống lĩnh số ca ngày để lắp ráp thiết bị giúp tớ tý nhé, nhớ là phải kiểm tra thật kỹ đấy.

          Hằng trao đổi thêm về quân số làm thêm giờ với Biền rồi đi thẳng xuống tầng động cơ. Chẳng phải một cậu Sinh mà cả mấy cậu trong nhóm làm thêm giờ đêm qua đều đã ngủ lăn, ngủ lóc trên sàn động cơ. Hằng bỏ mặc số anh em nằm ngủ lặng lẽ đi lên tầng trên với sự mệt mỏi và buồn ngủ không kém gì họ.

          - Sao anh không gọi chúng nó làm sớm đi để chiều tắm giặt sớm một tý?

          - Thôi để cho chúng nó ngủ thêm một tý nữa mày ạ. Có lẽ cả nhóm của mày cũng kiếm chỗ nào đó kềnh một tý cho đỡ mệt chờ nhóm ca đêm dậy thì bắt đầu lắp ráp.

          - Thế còn số vận hành, mới quay có mấy đỏ?...

          - Cho họ vệ sinh trạm một chốc rồi về.

          - Thế còn bồi dưỡng ngoài giờ của họ?

          - Để tý nữa tớ bảo Biền cắt tiêu chuẩn chuyển cho họ.

          Khải đi rồi, còn mỗi một mình Hằng lang thang dọc trên sân trạm, anh như ngọn đèn đêm còn thức, báo rằng ở chỗ này vẫn đang có sự hoạt động...

          Hai giờ sau tất cả quân số đều đã được đánh thức để tiếp tục làm việc. Giấc ngủ ngắn ngủi đã giúp họ khoẻ trở lại, chạy lên chạy xuống bắt tay vào công việc đang còn dở dang trước đó. Cho dù chỉ với một khoảng thời gian rất ngắn, nhưng có lẽ tuổi trẻ đã giúp nhanh chóng phục hồi phần sức lực tiềm tàng trong mỗi con người của họ. Hằng chợt nhớ về những năm kháng chiến, khi anh bằng tuổi họ bây giờ, lòng thầm ao ước được quay trở lại những năm tháng thanh xuân ngày ấy.

 

 

                       LÀM THẦY GIÁO                  

 

                                                                 1

 

          Hằng lật hết mấy chồng sách để tìm cuốn thiết bị thuỷ lực mà vẫn chưa thấy đành ngồi bệt xuống nền nhà để cố nhớ lại xem mình có cho ai mượn hay không. Những người có thể mượn sách của Hằng không nhiều vì đa số anh em bậc thấp thì có đọc cũng không hiểu. Số cán bộ kỹ thuật thì lại chỉ quan tâm đến việc thống kê thiết bị vận hành, sửa chữa trong kỳ với những tóm tắt về thời gian làm việc, thời gian dừng sửa chữa để báo cáo là chính. Tất cả những diễn biến khác hầu như họ chẳng phải chịu trách nhiệm trực tiếp bao giờ. Nếu như có kíp nào gây sự cố thì trưởng kíp và nhân viên vận hành đã có dư số chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên rồi nên mấy tay kỹ thuật đâu có phải bận tâm gì mà nghiên với chả cứu. Một lý do khác khiến cho họ càng không cần nghiên cứu đó là họ chẳng bao giờ phải thi khi nâng bậc. Mà đã không ai hỏi gì về sự hiểu biết của mình thì họ cần gì phải tự làm mệt họ. Những sự như thế này Hằng đều hiểu cả tuy nhiên anh cũng chẳng thể làm gì khi cấp trên cũng đã không cần soát xét đến điều đó. Cũng chính vì thế mà có đến hơn chín chục phần trăm những người làm chức trách về kỹ thuật và cả các chức trách tối cao về chuyên môn vẫn cứ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, là Lao động tiên tiến, là Chiến sĩ thi đua trong khi họ chẳng biết gì về những thứ họ đang lãnh đạo. Chắc có nhiều người cho rằng Hằng võ đoán, những anh chẳng sợ vì một khi có ai đó chống đối về điều này anh sẵn sàng ứng khẩu mà kể ra hàng chục công việc, hàng chục công nghệ mà những vị ấy chưa bao giờ được đào tạo, chưa bao giờ được nhìn thấy, chưa bao giờ được sờ thấy. Cứ nói như ở phân xưởng Thuỷ lực này mà nói thì mấy ai biết được Điedel nó làm việc ra sao, rồi nữa cái tầu cuốc nó cuốc thế nào. Đơn giản nhất không ai không hiểu rằng mấy ông thợ điện thì hiểu gì về cơ khí cùng với những chuẩn những dung sai cùng với những sự lắp ráp của nó, chưa nói đến khi gia công thay thế biết dùng thứ gì thay thế. Chẳng thế mà khi người ta thiết kế ống đựng nhiệt kế bằng đồng để lợi dụng sự dẫn truyền nhiệt lại bị mấy ông cán bộ phòng kỹ thuật đổi thành thép trắng cho không rỉ, cho đẹp và còn cho gì gì nữa không biết được, đến khi có người nói cái lý do giản dị kia ra thì họ đành ngậm miệng lẩn nhanh hơn trạch. Còn có bao việc về cơ khí như gò, rèn, hàn cắt với bao quy trình công nghệ nữa mà những ông kỹ sư điện không sao am hiểu nổi. Thế còn mấy ông kỹ sư cơ khí thì cũng chả khá hơn những ông kỹ sư điện kia khi mấy ông ấy đứng trước những bộ phận dây dợ chằng chịt, đâu là rơle, đâu là công tắc tơ, đâu là mạch lực, đâu là mạch bảo vệ. Với máy móc về điện họ cũng mù tịt khi cần phải quấn lại mấy cái động cơ, khi cần phải thay dầu, sấy máy biến thế, khi phải  tháo băng đa máy phát...

          Hằng ngồi như thế đã gần mươi lăm phút mà vẫn chưa nghĩ ra anh để vào đâu, bực mình quá anh liền vứt cả đống sách trên sàn đi xuống sân trạm. Đang ngó vào cửa trạm xem quân của mình đã ra chưa thì thấy Việt vừa giở sổ nhật ký vận hành vừa dặn trực ca ghi chép nội dung vận hành vào sổ mới mà Hằng mới thiết kế đặt hàng từ phòng vật tư mang về. Bất chợt Hằng nhớ hình như có lần Việt mượn cuốn Thiệt bị thuỷ lực... và hình như cậu ấy mang xuống nhà giả thì phải... thế có nghĩa là cuốn sách đang ở nhà mình. Nghĩ đến đây anh thấy cũng vẫn còn mơ hồ nhưng anh vẫn thầm chấp nhận giả thiết này và tự nhủ hãy xếp lại về nhà tìm hẵng hay.

          Bài giảng đầu tiên Hằng truyền đạt khá lưu loát và có sức gợi mở. Nhiều ý kiến hỏi lại anh đều phân tích thêm nên hầu như mọi người đều đã thoả mãn và vui vẻ. Trên đường về có cậu đến bên anh tâm sự:

- Em học nhiều thầy nhưng số thầy giảng dễ hiểu như anh thì chả có ai. Bài hôm nay em có thể nói lại ngay bây giờ mà cũng không sai bao nhiêu.

- Thực ra hôm nay tớ vẫn chưa chuẩn bị tốt vì tài liệu đang thất lạc đâu đó vẫn chưa thấy. Tớ cũng lo không giảng dậy tốt, phụ lòng các anh ấy trên phòng tổ chức đã tin tưởng.

Khi chỉ còn một mình cuốc bộ trên đường về trạm Hằng chợt nhớ lại những ngày đầu khi anh mới về Phả Lại hơn mười năm về trước. Cũng không biết mấy ông cán bộ phân xưởng có ý thử thách hay không mà mới đến chưa được hai tuần đã đề nghị đồng chí đốc công có chương trình bồi huấn cho lực lượng công nhân mới. Thực ra thì công việc giảng dạy Hằng chẳng ngại gì vì ngay từ khi còn niên thiếu anh đã phải giảng bài cho các bạn cùng lớp. Nhiều năm sau anh đã kinh qua các kỳ họp, kỳ đại hội với chức trách là ban tổ chức, là người truyền đạt nội dung các văn bản khá dài hơi về chính trị có, về chuyên môn có, cả khi ở công nhân lẫn khi đã là bộ đội. Tuy nhiên các văn bản hầu như có sẵn các gạch đầu dòng, ngoài ra cũng được phép mở rộng, miễn sao đúng nội dung, đúng đường lối. Điều cần thiết là bài nói chuyện có sức thuyết phục để sau buổi nói chuyện khí thế đơn vị hào hứng, thực hiện tốt mục đích yêu cầu nhiệm vụ. Vấn đề kỹ thuật cũng chẳng hắc búa lắm nhưng vốn nó khô cứng, vả lại không thể tuỳ tiện được với các thông số kỹ thuật, các công thức. Còn trình độ công nhân thì thật là không đồng đều chút nào, khối người đã tốt nghiệp cấp ba và cũng khối người mới học hết cấp hai. Riêng ở khối sửa chữa của Hằng theo điều tra thì cũng đã có gần mười phần trăm chỉ mới lớp năm, lớp sáu. Những người như thế ngay khi còn học ở trường đã lơ tơ mơ rồi, chắc gì có thể hiểu được những cos, sin, với lại tang này tang nọ. Giảng thế nào ấy là do những người thầy và hiểu thế nào là do mỗi người trong họ. Biết vậy nên Hằng càng băn khoăn hơn mỗi khi cần đề cập đến những công thức tính toán trong bài học.

Chiều nay Hằng giảng đến bài cân bằng tĩnh thiết bị quay. Đây cũng là một bài học khó vì có nhiều công thức và đặc biệt là có đến vài cách thực hiện khác nhau. Một trong những cách cân bằng tĩnh được các chuyên gia ngành điện tiếp thu từ các công nghệ cân bằng khá phức tạp và dài dòng với nhiều mệnh đề toán học vẫn thường lưu hành trong nghề sửa chữa kể từ khi Hằng mới vào nghề. Cũng thật may mắn cho Hằng là anh thường vào các hiệu sách để xem mỗi khi có dịp đi qua nên trong một lần anh đã mua được một cuốn sách dùng cho sửa chữa điện. Đây là một tài liều khá phong phú về nội dung cả về mạch, về thiết bị điện và  đặc biệt là có phần dùng cho sửa chữa thiết bị điện cơ, bao gồm cả căn chỉnh các gối trục và cân bằng thiết bị. Riêng về cân bằng tĩnh thì phương pháp do cuốn sách đề cập khá đơn giản tuy cũng có dùng đến các công thức toán học. Điều cần thiết Hằng muốn là sao cho các công nhân mới chỉ lớp thấp vẫn hiểu và làm được nên anh đọc khá kỹ mục này.

Gần mười phút dành cho việc giới thiệu phần mở đầu không đến nỗi rời rạc lắm vì đây chỉ là những mục đích, yêu cầu là chính. Phần chủ yếu tiếp theo là việc xác định trong khối mất cân bằng, một trong những nội dung quan trọng nhất vì nội dung này là tiền đề cho việc xác định trọng khối gắn vào thiết bị khắc phụ mất cân bằng. Tài liệu này cũng có nội dung tìm trọng khối mất cân bằng với các trọng khối thử gắn trên đường kính bánh xe công tác ở phương ngang để tạo ra sự quay của bánh xe đi một góc nào đó. Tích số của trọng khối gắn thử với tang của góc quay do vật thử tạo ra chính là trọng khối mất cân bằng.

Tất nhiên là có khá nhiều người cụt hứng vì cái công thức tang an pha nọ. Hằng biết vậy nhưng anh cứ coi như không biết, thậm chí còn nói rằng đấy là công thức bắt buộc mọi người phải biết để mà cân bằng. Cũng đã có một vài người lo lắng và hỏi nhiều ý kiến, nào là cân kéo ra sao, rồi tính toán tang ấy ở đâu cho được. Tất nhiên một số đã qua cấp ba thì họ không ngại lắm những cũng ý kiến rằng chẳng thể nhớ cho hết tang của các góc được, trong khi tay chân dầu mỡ thế thì phiền toái quá vv... Hằng chỉ cười mỉm rồi cất giọng như một ông giáo thực thụ:

- Trong lớp ta có khá nhiều đồng chí đã qua cấp ba chắc là quá rõ về góc lượng giác còn gì. Tất nhiên là đến lúc đó các vị phải hỗ trợ cho nhau chứ chả lẽ lại chịu à? Hằng nói xong chờ mãi vẫn chưa có ai bảo sao, anh liền chỉ định vào một công nhân:

- Bạn có biết về góc lượng giác phải không?

- Dạ! Có... nhưng mà quên nhiều lắm rồi ạ!

- Bạn có biết khi nào tang an pha bằng một không?

- Hình như góc an pha bằng chín mươi độ thì phải!

- Vậy bạn có điều chỉnh cho vật thử làm bánh xe quay đi một góc chín mươi độ không?

- Em phải thêm bớt nhiều lần có khi là được!

- Dứt khoát phải được chứ sao lại có khi phải không nào?

- Dạ!... phải được ạ!

- Tốt rồi, thế có nghĩa là ta chỉ cần gắn trọng khối thử bằng đất sét vào một đầu đường kính trên mặt ngang để đến khi chỗ gắn đất này làm bánh quay đến chỗ thấp nhất là đã tạo ra góc chín mươi độ rồi phải không nào? dừng một lúc Hằng lại nói tiếp:

- Đương nhiên là ta chỉ cần cân gia trọng và gắn vào điểm đối diện với trọng khối mất cân bằng, hay là cụ thể hơn là gắn cục đất sét này vào chỗ cao nhất của bánh xe khi chưa gắn gia trọng thử rồi quay bánh đến chỗ nào là nó nằm im như thóc vậy thôi. Lúc này thì ta thay bằng miếng kim loại gắn vào hay gọt bớt khối lượng thừa đi đều được cả.

Hằng nói dứt một lúc rồi mà số đông học viên vẫn cứ ngỡ ngàng ngồi im phăng phắc. Mãi mới có một cậu học viên trẻ cất giọng:

- Có nghĩa là khi cân bằng tĩnh chúng em chẳng cần tang tung gì sất phải không ạ!

- Thì tất nhiên là thế, nhưng mà nếu học thêm để biết sin, biết cos, biết tang thì cũng chẳng thừa phải không nào?

- Quả nếu thày không nghĩ ra cái chiêu này thì chúng em tắc tị hết thày ạ!

- Ừ thì cái khó, ló cái khôn ra chứ lại!

- Thế sao sách họ không viết luôn như thế thầy nhỉ?

- Điều đó thì tôi cũng chịu, không trả lời các bạn được.

Buổi học đã tan từ lâu mà mọi người vẫn chưa chịu về đơn vị, có lẽ họ còn bận đàm luận với nhau về bài giảng của Hằng hôm nay. Hằng cũng vui lắm khi mình đã thổi vào lòng những người công nhân vốn chỉ muốn làm việc mà không thích mấy đến cái thứ lý thuyết vốn đã làm phiền họ bao kỳ thi khi còn đi học và cả bao kỳ thi nâng cấp và rồi thi để lên lương...

Kể từ năm chuyển chức danh đốc công sang làm đội trưởng, Hằng không có quân số trong tay nữa vì đơn vị không triển khai kế hoạch thành lập đội sửa chữa mà co lại để chờ đợi tách khối đại tu ra khỏi dây chuyền sản xuất. Lẽ dĩ nhiên là phân xưởng đành trưng dụng anh làm kỹ thuật tại tổ văn phòng. Công việc làm mới đáng lẽ phải giảm lương đi khá nhiều theo quy định ngạch bậc của nhà nước, nhưng có lẽ anh Hiếu giám đốc và anh Trung quản đốc thấy như thế thì thiệt hại cho Hằng nên họ thống nhất với nhau cứ để anh hưởng lương cũ. Đương nhiên là khối vị làm kỹ thuật ở trên phòng có thắc mắc, vì họ làm kỹ thuật ở cấp cao hơn mà lại không được ưu tiên. Qua dư luận Hằng biết anh Hiếu giám đốc đã có ý kiến dàn xếp nhưng nếu cứ để như thế về lâu dài cũng không lợi, thế là Hằng được mời lên làm chuyên đề chuyển ngạch. Cũng không biết do ai đề xuất mà sau khi Hằng bảo vệ chuyên đề xong là nhà máy có công văn cho ban đào tạo công bố cho các chức danh công nhân bậc sáu trở lên và các chức danh kỹ thuật hưởng lương theo ngạch công nhân đều phải đăng ký và bảo vệ chuyên đề mới được lên bậc.

Trong số quân cũ của Hằng cũng có một số người đang chuẩn bị chuyên đề. Năm nay số công nhân sửa chữa lên bậc sáu chỉ có một mình cậu Tuần. Dù bận giảng bài cho khối đại tu sửa chữa nhưng Hằng vẫn không quên hoàn thiện sơ đồ bơm cao áp để Tuần lên báo cáo chuyên đề. Về phía Tuần, Hằng cũng không lo lắm vì cậu này khi học lý thuyết ở trường khá tốt. Tuy vậy anh cũng đã căn dặn nhiều điều trong khi báo cáo chuyên đề, thế mà hình như cậu ấy lại bị bí về một câu hỏi nào đó mà Hằng không biết.

Đến khi về đơn vị Hằng mới biết đây chỉ là câu hỏi bình thường về dung sai lắp ghép, số là khi vẽ các piston bơm cao áp Hằng có cho trị số dung sai cụ thể, còn số giám khảo thì cãi rằng dung sai này không đo được vì lỗ quá nhỏ mà đo bằng thước cặp thì không có cấp dung sai như thế. Kể ra thì họ nói như thế cũng đúng vì thiết bị đo của nhà máy cao nhất là các panme mà lỗ mười ly thì đồng hồ không đo được. Khi nghe câu hỏi này Tuần sững người và thầm trách: có lẽ sếp của mình cũng hú hoạ mà thôi, thế là cậu ta đành đấu dịu và hứa rằng sẽ xem lại tài liệu. Mãi đến khi về kho vật tư gặp mấy ông kỹ sư động lực cũng xác nhận rằng chúng tớ cũng chưa khi nào đo được lỗ bơm cao áp của điedel, làm sao mà cái ông Hằng này đo nổi. Lẽ dĩ nhiên là không ít người cho Hằng chỉ nói hú hoạ mà thôi. Có lẽ vì thế nên khi vừa bước chân vào cửa văn phòng Tuần đã bê nguyên cả những ý kiến của giám khảo và các chuyên viên ra để thử độ thầy. Hằng biết chắc là cả Tuần cũng tự phủ nhận dung sai mà Hằng đã ghi vào bản vẽ bởi có quá nhiều người đều cho là như thế. Biết vậy nên Hằng chỉ cười mỉm rồi thong thả uống nước ra vẻ như cũng khó trả lời cho cậu công nhân thông minh có tiếng này. Không thiếu những người dưới quyền của Hằng lâu nay tin vào tất cả mọi điều Hằng nói thì đều buồn vì cái lỗi này của anh. Họ không dám nhìn thẳng vào anh và im lặng đến khó hiểu. Nếu cứ để tình trạng này kéo dài chắc họ sẽ buồn bã và tiêu cực nên Hằng chủ động tháo gỡ:

- Thế các cậu cũng tin là tớ bịa ra thông số hay sao?

- Nhưng mà tất cả họ đều có lý... anh ạ!

- Cái lý của sự thiếu hiểu biết thì có! Hằng dứt câu nói vừa rồi với cách nói có hơi ngạo mạn, nhưng hình như chẳng ai quan tâm đến điều đó mà họ đều cùng sôi nổi cười nói trở lại. Có lẽ họ vui vì họ có quyền tự hào về một người mà lâu nay họ tin là không sai, không tuỳ tiện với tất cả những gì mà họ thường thấy, họ tự hào vì cái môi trường tốt đẹp mà họ đang sống do chính họ cùng với con người ấy tạo ra. Những ai đó từng nói đến câu cách ngôn: “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng” thì chính là họ đang cho mình trong vai của sự “gần đèn”. Họ đang gần với một người luôn trung thực, luôn đúng và họ thường trông đợi điều đó. Biết vậy nên Hằng quyết định đã đến lúc phải nói cách đo thông số ấy để củng cố lòng tin cho họ. Tuy nhiên anh vẫn muốn tạo ra một không khí từ từ, chầm chậm để mọi người có thêm một lần chờ đợi trong sự tìm hiểu từng bước một:

- Lúc nào cậu gặp mấy tay giám khảo và mấy ông bạn có lý thì bảo với họ rằng người ta đo các lỗ ấy bằng calíp đấy!

Đúng như dự đoán của Hằng, không phải ai cũng hiểu đo bằng calip là như thế nào.

- Em vẫn chưa hiểu thế nào là đo bằng calip anh ạ!

- Calip theo tiếng ta là những cái cữ, là những thỏi có nhiều kích thước khác nhau. Mỗi khi đo ta thả các thỏi này vào các lỗ của vật, kích thước của thỏi cuối cùng chui được qua lỗ chính là kích thước của lỗ. Còn thỏi này thì gia công theo các kích thước tính toán rất dễ và đo được bằng các loại dụng cụ đo bên ngoài cũng dễ phải không các cậu. Dừng một lúc Hằng lại tiếp:

- Thực ra giờ đây người ta có thể đo bất kỳ mọi vật chính xác đến những phần tử vô cùng nhỏ bằng công nghệ quét tia lade lên vật cần đo.

- Anh đã đo bao giờ chưa ạ?

- Đo bằng lade thì tớ chỉ mới nghe nói, còn đo lỗ tròn bằng calip thì tớ thường kiểm tra độ phình nòng súng trong những năm tớ làm công tác quân giới trong quân đội. Về nguyên tắc là giống nhau, chỉ khác là calip của lỗ bơm nào thì có chuỗi kích thước cho lỗ bơm ấy, còn calip cho súng thì cũng có chuỗi kích thước cho từng loại súng. Ví như súng bộ binh AK, CKC vv... đều bắn đạn K56 thì lỗ của nòng súng chỉ có 7ly 9 và cộng thêm những cái đuôi lẻ phía sau dăm ba số nữa.

- Đơn giản thế mà sao khi anh nói chúng em mới biết nhỉ?

- Có khi học rồi mà các cậu quên cũng nên!

- Có khi thế anh ạ!

- Vì thế các cậu phải cố gắng nhớ hơn nữa để mà áp dụng sau này. Với lại ngay trong các dụng cụ đo trong đơn vị ta cũng có nhiều ứng dụng lắm đấy, các cậu cố gắng nghiên cứu để mà ứng dụng, kẻo sau này các cậu bị học trò lục vấn là gay đấy!

Mọi người cùng cười ồ để xí xoá câu chuyện với màu sắc thiếu niềm tin không đáng có...

 

                                                    2

 

Những cơn ồn ào buổi sáng giao ban trong khối cũng đã bớt dần, số anh em trong các nhóm công tác đã theo nhau mang dụng cụ đi vào các trạm. Hằng bước xuống sân trạm lặng lẽ nhìn xa xôi về phía ngọn khói đang bay trên đỉnh cột cao hơn hai trăm mét với những vòng trắng đỏ trên thân đang ngả màu bởi mưa nắng. Có lẽ cũng đã đến hai năm có dư rồi mà câu chuyện điều chỉnh áp lực ống tuần hoàn vẫn như còn in trong đầu Hằng như mới hôm qua vậy. Thực ra Hằng chỉ buồn phiền khi nghe đồng chí quản đốc nói về cái sự tự cao tự đại của Biên khi anh ta luôn rêu rao rằng cái sự hiểu biết của một kỹ sư hơn hẳn mọi người xung quanh. Rồi thì còn, tất cả mọi việc anh ta đều có thể làm được chỉ là anh ta có muốn tìm hiểu hay không mà thôi.

Cái buồn của Hằng thực ra cũng chẳng đáng có, chỉ là anh buồn vì đã giới thiệu về đơn vị một người còn rất non tay về công việc lại già giơ về cái sự kiêu căng phách lối. Hằng buồn vì anh không nhận ra con người này trong khi anh luôn tự tin rằng mình đánh giá mọi người khá sát. Anh buồn vì mai đây người ta cũng sẽ dựa vào bằng cấp để đưa lên một người lãnh đạo với nhiều tư chất chẳng xứng đáng với tập thể và rồi cậu ta sẽ lại làm hòn đá tảng cản lối đi như một số nhân vật bệnh hoạn từ nhỏ tý đến cao tít vẫn chềnh ềnh ở khắp mọi cơ quan đoàn thể quanh ta.

Đành rằng những người được học hành thì phải biết nhiều hơn những người không được học, tuy nhiên dù có được học thì có phải học hết kiến thức của mọi ngành nghề được đâu, huống chi trong cái nhà máy điện dâu chỉ có một thứ máy, một thứ nghề mà người kỹ sư được học. Có một điều cũng cần phải hiểu rằng công việc nào cần trình độ ấy. Cái hiệu quả của mọi công việc là sự sắp xếp phù hợp giữa công việc và người làm. Để cuốc đất hay khuân vác thì nên chọn những người to lớn khoẻ mạnh. Cũng như vây người trông coi vận hành và sửa chữa các loại máy thì cần đến những công nhân lành nghề là chính.

Cũng có một sự làm Hằng buồn phiền là sắp tới chi bộ đang muốn giúp đỡ để đưa cậu ta vào Đảng thế mà cậu ta lại xa rời quần chúng đến thế thì không biết rồi mọi người có giúp nổi cậu ta không nữa...

 

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2015

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI IN

Năm 2015 Lê Trọng Hồng đã gửi đến Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc in tác phẩm Hoa Ngô với 62 bài thơ theo Giấy phép ĐKXB số 83-2015/CXB/9-470/VHDT và Quyết định XB số 21-15/QĐ. Nhân đầu xuân Ất Mùi Le Hoa gửi ảnh chụp các tác phẩm và nội dung lên Blog để mọi người chiêm ngưỡng. (Phần nội dung có thể có một số bài đã tải lên từ trước).

 

 

Tập thơ Hoa Ngô với 62 bài thơ in năm 2015

CÁC BÀI THƠ IN TRONG TẬP HOA NGÔ

 

GỬI ĐỜI CHO THƠ

Trải qua bao tháng năm trôi

Những dòng mực tím bồi hồi hiện ra

Trang nào của tháng năm qua

Còn trang nào để mai ta gửi vào.

 

GỬI CHÈ

(Đến Thái Nguyên nhớ về Bầu Cạn)


Nắng soi vàng khắp vườn chè

Bao lâu mới lại trở về nơi đây

Ngày xưa ai đã thơ ngây

Đến vườn chè để giãi bầy lời yêu

Thế rồi nắng sớm mưa chiều

Để vườn chè với bao điều vấn vương

Mai rồi tóc trắng như sương

Lặng im đi nốt đoạn đường đã đi

Vườn chè chẳng nhớ điều chi

Mùa hè cũng chẳng nhớ gì nữa đâu

Mai sau dù có bao lâu

Bâng khuâng lại viết đôi câu gửi chè.

 

THẢ TAY BUÔNG NẮM TƠ HỒNG


Ai làm say đắm hồn ta

Để bâng khuâng những chiều xa đợi chờ

Lời xưa hò hẹn chưa mờ

Lẽ đâu lòng lại hững hờ xa xôi

Cho dù trăng đã khuyết rồi

Hẹn mùa trăng khác đền bồi cho nhau.

Chẳng thà đắt lúa rẻ cau

Chẳng thà ngập nước để đau cả mùa…

Hôm nay khép áo lên chùa

Nhớ về xưa cũ câu đùa bâng quơ

Mấy mươi ngàn kiếp đã chờ

Kiếp này đành nhẽ cập bờ bến không.

Nhìn ra bốn phía mênh mông

Thả tay buông nắm tơ hồng ngày xưa.

 

TRỞ LẠI TRƯỜNG SƠN


Bất ngờ trở lại Trường Sơn

Nghe câu hát cũ trong cơn mưa chiều

Người về thêm những lời yêu

Để hồn thơ với bao điều nhớ nhung

Núi non muôn lớp chập chùng

Gái trai thuở ấy thề cùng nước non

Tháng năm dằng dặc mỏi mòn

Vết thương ngày cũ vẫn còn đớn đau

Khấn thầm đồng đội ở đâu

Chiều nay xin hãy cùng nhau trở về

 

HOA CAU


Bảo rằng “sông rộng một gang”

Chỉ qua “dải yếm” là sang tới rồi

Thế mà mấy chục năm trời

Vẫn không đến được với người tri âm.

Khi yêu người chỉ nói thầm

Lấy đâu báu vật để cầm làm tin

Nhỏ nhoi, trời rộng cánh chim

Biết đâu lối cũ mà tìm được nhau.

Đành chờ đợi để lần sau

Bâng khuâng ngồi ngắm hoa cau nở vàng.

 

HOA NGÔ


Năm nay người mới quay về

Hoa ngô xào xạc bên đê sông Cầu.

Áo ai phơi tím ruộng mầu

Tóc ai chảy bạc cả đầu bến sông

Chói chang khắp hết cánh đồng

Con đò… đã chẳng còn trông thấy gì.

Gậy tre chống dọc đường đi

Nghiêng tai mãi chẳng nghe chi những lời

Thôi đành mượn ánh mắt cười

Gật đầu đáp lại cho người ta yêu.

Bờ đê vàng nắng trong chiều

Chuyện ngày xưa, chẳng nhớ nhiều nữa đâu!

Hoa ngô xào xạc bên nhau

Rưng rưng hỏi lại… năm sau có về?

 

RAU KHÚC

Chẳng ai trồng khúc bao giờ

Vẫn xanh, vẫn trắng cả bờ bãi sông

Nếp hương ai xát trắng bong

Đậu xanh ai nấu vàng ong bên hè

Em cười sẽ rụt tay về

Có là chi một chút nghề giản đơn…

Nửa chiều bãi đất trống trơn

Bao cây rau khúc cô đơn mọc hoài

Bồn chồn ngày ngắn đêm dài

Tiếng rao lanh lảnh vang ngoài tường vôi

Phố thay làng đã lâu rồi

Chỉ còn rau khúc…bồi hồi tiếng rao.

 

GẶP LẠI


Xa nhau ba sáu năm trời

Tưởng chừng rồi sẽ cả đời cách xa

Bỗng dưng đến một chiều qua

Gặp nhau để quãng ngày xa khẽ buồn

 

ĐÊM CÓ NGỦ HAY KHÔNG

(Viết trong đêm trắng)


Ta cứ thức, như nhiều đêm đã thức

Để thời gian, dài nữa những thời gian

Để thêm biết, bao điều mới mẻ

Một đời người lưu lạc ở trần gian.

Ta đã từng qua bao cuộc hợp tan

Chiếc lá nhỏ cuốn theo bao cơn lốc

Một hạt nắng, hạt mưa thoáng chốc

Chép câu gì cho ta gửi vào ta.

Đếm làm gì những canh một, canh ba

Bởi đêm trắng đã nối vào đêm trắng

Trong giấc ngủ vẫn thấy còn ngọt đắng

Thức hay không nào có cần chi.

Hãy ngủ đi và hãy cứ ngủ đi

Gồng mình mãi để đau thêm nữa

Khi bóng nắng đã vượt qua điểm giữa

Cứ dài thêm cho ngọn đổ về đông

Hoàng hôn rồi, đêm có ngủ hay không.

 

VỀ CÙNG SÔNG LÃNG

(Phiên bản lục ngôn)

 

Lâu lắm không về sông Lãng

Nước triều mới cạn đêm qua

Bùn loãng chan đầy mặt cỏ

Thu vàng muôn lớp đùn xa 

 

Sông vẫn chảy theo vườn cũ

Dây trầu ngoi nước mà lên

Vòi tre bò ngang mùa lũ

Vô tình khi nhớ khi quên

 

Dòng sông cứ trôi triền miên

Bậc đá nằm yên trên đất

Mùa lụt, mùa khô chồng chất

Nhớ ngày gặp em đầu tiên…

 

Chỉ mong gặp thêm lần nữa

Cùng nhau giây phút cận kề

Bờ khuya từng con sóng vỡ

Còn em mãi mãi không về

 

TÂM SỰ TÌNH YÊU


Khi ta yêu, tim óc chợt bừng lên

Nguồn sinh lực từ lâu tiềm ẩn

Và tâm thức bao trùm nhân bản

Cứ như là dốc cạn để trào ra.

Khi ta yêu, ta đã quên ta

Chỉ mong mỏi trần gian hạnh phúc

Và như thế mọi nơi, mọi lúc

Dẫu hy sinh ta sẽ nhận về mình.

Khi ta yêu, mọi thứ thật trong lành

Khao khát bên nhau nào ai không muốn

Một ánh mắt chợt nhìn cũng uống

Ôi ngọt ngào vô hạn của trần gian.

Khi ta yêu, kể cả núi cũng tan

Biển cũng cạn và trời kia cũng thấp

Và ta, dẫu củ khoai, cái bắp

Vẫn là ta hòa với xung quanh.

Khi ta yêu, hồn chợt thêm xanh

Lòng thêm rộng và đời thêm đẹp

Mọi toan tính nhỏ nhoi, chật hẹp

Cứ tan dần thành mây khói trong ta.

 

KHI TA LÀM THƠ


Khi làm thơ, ta chỉ nghĩ về thơ

Quên hết thảy, những gì là tăm tối

Quên hết thảy, những gì là gian dối

Những thiệt hơn, toan tính ở đời.

Khi ta làm thơ là khi chất con người

Ràn rụa, dâng cao như lũ tràn, thác cuốn

Và tất cả những gì ta muốn

Ấy là yêu, yêu hết thảy bao người.

Khi ta làm thơ, thường vẫn khóc cười

Không muốn thế mà lòng luôn rớm lệ

Những thu nạp lẽ đời muôn thế hệ

Mở toang rồi trên bàn viết con tim.

Khi ta làm thơ, ta càng vững niềm tin

Cái của mai sau, lớn hơn ngày trước

Từ nhỏ bé cỏ cây, đến cao xa đất nước

Cứ lớn lên tươi đẹp tuyệt vời.

Khi ta làm thơ là hướng đến bao người

Yêu thêm nữa và thương thêm nữa

Một góc rừng xa có còn mất bữa

Một vùng quê xa có còn tiếng súng bom.

Khi ta làm thơ, ta thấy quý mình hơn

Vì thơ sáng cho lòng ta cũng sáng

Và tất cả những gì xứng đáng

Ta gửi vào thơ để trở lại cùng ta.

 

THƠ GỬI THÁNG MƯỜI


Viết câu thơ gửi tháng mười

Trước khi chia rẽ mỗi người mỗi nơi

Một mai cách trở xa xôi

Để không quên hết tình tôi, tình nàng

Thơ ơi sao khéo phũ phàng

Nỗi đau đứt ruột gửi sang cho người

Buông tay giữa đất giữa trời

Đau thơ đau cả tim người làm thơ

 

LẠI TÌM XUÂN VỚI HOA ĐÀO


Lại tìm xuân với hoa đào

Giữa chiều tết lạnh xôn xao tiếng lòng

Cành nào chan chứa sắc hồng

Cành nào thắm đỏ bềnh bồng trong mơ

Cành nào phai lạt bâng quơ

Cành nào tha thiết đợi chờ thi nhân

Cành nào tươi thắm tình xuân

Thời gian ghi dấu bao lần trong thơ

Dịu dàng đàn nối dây tơ

Lại tìm xuân, lại tìm mơ hoa đào.

 

TẬP VIẾT CÙNG CON


Cha ngồi tập viết cùng con

Nét vuông nối với nét tròn cạnh nhau

Nét nào trước, nét nào sau

Khi cao, khi thấp, khi mau, khi dầy

Khi to, khi béo, khi gầy

Từng trang tiếp nối tháng ngày trong mơ.

Dù cho nét tỏ nét mờ

Đừng làm hoen ố bao tờ trắng trong.

Nhớ nghe con giữ thẳng dòng

Đừng quên kẻ vạch mà cong, mà chùng

Thiết tha, thẳng thắn, hào hùng

Tay con khéo lựa hòa cùng tay cha

Mai sau con lớn lên già

Chữ nhân, chữ nghĩa nhớ mà thẳng ngay

Âm thầm nét chữ, bàn tay

Cha ngồi cần mẫn mỗi ngày bên con   

 

BIẾT YÊU ĐỜI


Viết câu lục bát cho con

Thả trên khắp các lối mòn xung quanh

Đời cha giăng sợi tơ mành

Đời con cái nhẽ phải xanh cây đời

Biết yêu hoa biết yêu người

Biết yêu đời để cho đời yêu đáng yêu.

 

TIẾNG CHIM LẠC BẦY

(Kính dâng bà Huyện Thanh Quan)


Bài thơ người tặng cho đời

Tưởng đâu khép lại một thời đã xa

Ai người hiểu được lòng bà

Bên nhà bên nước bao la chữ tình

Đau đời, đau cảnh, đau tình

Ngậm buồn vẽ ảnh vẽ hình cho thơ

Một mình đứng giữa chơ vơ

Cần chi danh phận mà mơ, mà tìm

Ai trong nhung lụa đắm chìm

Còn bà đơn lẻ cánh chim lạc bầy

Cung đình hoa lệ chất đầy

Tan nhà, tan nước vui vầy mà chi

Thương mình trong bước lưu ly

Viết câu thơ lúc phân kỳ đôi nơi

Nỗi niềm như rụng, như rơi

Như tan, như  nát, như vơi, như đầy…

Đã qua bao tháng năm chầy

Tiếng chim khắc khoải lạc bầy kêu thương.

 

ĐI GIỮA HOÀNG THÀNH

(Thăm Hoàng Thành Thăng Long)

 

Có bao nhiêu lớp chồng lên

Sứ sành, gạch đá còn nguyên giữa đời

Hình như còn có bao người

Thoáng nghe văng vẳng nói cười bên ta

Chiếu dời đô Lý đã xa

Khí thanh long chợt bay qua lưng trời

Ai đang thủ thỉ nói cười

Trả gươm thần để giãn dời việc quân

Hay là công chúa Ngọc Hân

Ai tư vãn đến tình quân một thời

Thơ Hồ đau cảnh đau đời

Lẻ loi cam phận giữa nơi đô thành

Nước non đâu đã an lành

Một câu hoài cổ sao đành cắt ngang

Ngàn mây xa tắp mênh mang

Gói bên trong cả ngàn trang cuộc đời

 

TÂM SỰ CÙNG XOÀI


Cây xoài đã lại ra hoa

Thêm mùa xuân nữa thế là mười năm

Mẹ già giờ đã xa xăm

Cây xoài chẳng có ai chăm mỗi ngày

Rào tre đâu thể chất đây

Trái chua mời gọi cả bầy trẻ thơ

Cây xoài đứng đó chơ vơ

Tuổi mười lăm lúc bấy giờ…thế thôi!

Mười năm giờ đã xa xôi

Ớt cay, muối mặn thế rồi... dần xa

Lại nghe trong gió thoáng qua

Hình như tiếng của mẹ ta năm nào.

 

LẠI VỀ TRONG TÍM HOA CÀ


Lại về trong tím hoa cà

Tháng tư theo chị đi ra ngoài đồng

Trái tròn nặng trĩu cành không

Tím như tà áo mùa đông năm nào…

Chị thêm một chút muối vào

Miếng cơm đậm nhạt đã bao nhiêu mùa.

Khẽ khàng đứng nép cổng chùa

Trao nhau một cánh hoa mua tím hồng.

Nhà nghèo thiếu ruộng gieo trồng

Đổi mươi gáo nước một bông lúa gầy

Chị ôm cái nắng chầy chầy

Bát mồ hôi giữa những ngày tản cư...

Lại về trong nắng tháng tư

Vườn cà trĩu quả giống như năm nào

Cổng chùa ai đã khép vào

Người xưa giờ đã nơi nào xa xôi

 

CÂU RU TRÊN ĐẢO CÒ


Phải vì đất tốt đất lành

Cò về làm tổ trên cành cây cao

Chiều quê bất chợt xôn xao

Tiếng cò như thể khắc vào tâm can

An Dương xanh đến ngút ngàn

Chẳng ai đếm nổi muôn vàn cò bay

Thuyền trôi trên lớp mây dày

Bao nhiêu cò cũng hiện đầy đáy sâu

Nước non muôn sắc muôn màu

Bức tranh phong cảnh đẹp giầu ấm no

Lại nghe sâu thẳm đảo cò

Câu ru của mẹ đắn đo…ngày nào

Dẫu rằng người muốn xáo xào

Cũng xin được gửi mình vào nước trong

Đảo cò ai nhớ ai mong

Một đời ta đã gửi trong đời cò 

 

VẪN LÀ TUỔI ẤY TRĂNG TRÒN

(Phả Lại ngày 27/7/2013)


Vẫn là tuổi ấy trăng tròn

Đã bao năm chẳng hao mòn sắc xuân

Ngày nào đứng dưới hàng quân

Mũ nan chân đất với quần áo nâu

Từ nơi hoang vắng rừng sâu

Điện Biên rực rỡ sắc mầu cờ sao

Trường Sơn tiếp nối đường vào

Tây Nguyên Quảng Trị ào ào tiến quân

Ầm ầm, sáu tám… Mậu Thân

Sài Gòn rực lửa mùa xuân khải hoàn…

Chiều nay rung gió đại ngàn

Lại nghe chân bước muôn vàn quân đi

Trang nghiêm dưới bóng quân kỳ

Những hàng bia có nói gì nữa đâu

Bao người lặng lẽ cúi đầu

Khói hương xanh quện với màu cờ son

Vẫn là tuổi ấy trăng tròn

Ngàn năm sau mãi vẫn còn thanh xuân.

 

TÂM SỰ CÙNG TRĂNG


Gió đã nổi đưa trăng về với núi

Ngoài xa kia muôn sóng cứ gầm gào

Ta biết vì sao lòng lại tuôn trào

Bờ môi mọng chín dần mỗi tháng

Ngày chợt đến giữa nhòa nhạt nắng

Đêm đưa tiễn cứ vằng vặc sáng

Mải hôn đời quên hết những vầng mây

Trăng đến đó và trăng về đây

Đường vô tận chẳng gì ngăn cản được

Khi sắp lặn cũng là khi sắp mọc

Cứ soi vàng cho đông lại về tây

Còn ta bắt đầu từ đâu về đây

Dẫu sao cũng một lần dời đổi

Dù là quãng tuần hoàn ngắn ngủi

Cũng say lòng từ bao lâu nay

Ta uống rồi mà sao không say

Để đời cứ đợi chờ mòn mỏi

Đừng quá chậm với trăm ngàn câu hỏi

Khi ta còn vầng trăng trong tay

Trăng đến rồi và trăng ở đây

Chỉ với một vòm trời lòng chảo

Và ta biết trăng sẽ mờ sẽ ảo

Để tan dần vào trong ban mai

HÁT THUÊ

Đám cưới đang ăn

Người hát thì cứ hát

Áo tứ thân đỏ xanh nâu bắt mắt

Người hát người ăn cũng chẳng mấy phiền.

Chủ thuê bằng tiền

Còn nghệ sĩ làm người hát mướn

Thôi thì chuyện làm ăn

Có nơi có chốn… người cần.

Ngày xưa đã có lần

Vua chúa chia ra giống dòng con hát

Không cho bén mảng trường thi

Cả đời dốt dát

Cách mạng về đổi đời kép hát

Bao người thành nghệ sĩ tài ba

Cuộc đời từ ấy vươn xa.

Chiều nay đám cưới,

Áo the khăn đóng hài hoa

Ô lục soạn, nón ba tầm…réo rắt

Dù thế vẫn là gánh hát,

Nghệ sĩ theo trò hát thuê

 

RỜI THỤY KHUÊ

 

Rời quận Tây Hồ về Cầu Giấy

Đường Văn Cao gọi phải ra đi

Ba mươi sáu năm từng ở đấy

Dẫu quen rồi vẫn phải chia ly

 

Từ đồng ruộng lớn lên thành phố

Nhà cao tầng dần đã như nêm

Chiều chợ Bưởi thơm mùi cốm mới

Phủ Tây Hồ hương khói dầy thêm

 

Đường Cổ Ngư nhộn nhịp hằng đêm

Thơ Bà Chúa họ Hồ sắc xói

Gió im bặt để nghe sóng nói

Giữa đêm buồn sao nỡ rời em

 

Thụy Khuê ơi ta chẳng thể quên

Dù phố mới giơ khăn vẫy nón

Dù quê mới hân hoan chào đón

Chẳng bao giờ ta lại quên em.

 

Rời Hồ Tây, đành vậy thôi em

Con đường mới mở ra nhiều hướng mới

Để đất nước mỗi ngày thêm xốc tới

Chắc mai rồi hai ta sẽ dần quen

 

ĐẾN ĐÈO NGANG

 

Đến Đèo Ngang không lên đỉnh nữa

Lối đi vào, xuyên núi mà qua

Đến Đèo Ngang lại nhớ thơ thuở trước

Đau lòng ai tình nước, tình nhà.

 

Đến Đèo Ngang không lên đỉnh nữa

Đá đơn côi, hoa lá đơn côi

Dấu chân cũ có còn in lối cũ

Nước bên ghềnh không biết có còn sôi

 

Đèo ngang mới không lên đỉnh nữa

Bánh xe thời đại mở xuyên hầm

Câu thơ đã có mầu tươi mới

Bóng Đèo Ngang, sừng sững…xa dần

 

HOA THÔNG

(Rừng Thông 10/1975)

 

Chiều ấy về quê em sơ tán

Đồ nghề chất đống, chật sân kho

Anh làm bảo vệ trông sân bãi

Xã lại điều em đến gác cho

 

Em là cô gái bên hàng xóm

Ngày ngày trực chiến cuối rừng thông

Quen nhau từ buổi chung phiên gác

Đã để cho ai phải nặng lòng!

 

Bữa ấy bên thông anh khẽ hỏi

Qua tết năm nay… lập  gia đình?

Mắt cười: bom đạn còn chưa dứt,

Em nghĩ chửa nên… chuyện chúng mình!

 

Thế rồi xa cách nơi quân ngũ

Lần cuối chia tay để lên đường

Bao nhiêu yêu dấu anh để lại

Mang cả rừng thông đến chiến trường.

 

Những năm đánh giặc xa đất Bắc

Gặp thông càng thêm nhớ về thông

Có ai về lại quê Thanh Hoá

Phố Kết bây giờ có còn không?

 

Lá thư em viết đang còn đó

Từng chữ yêu thương vẫn chửa mờ

Mỗi dòng là mỗi niềm nhung nhớ

Nhỡ hẹn dài thêm những đợi chờ.

 

Tan giặc anh về nơi đất cũ

Đồi pháo ngày xưa đã vắng tanh

Hố bom sâu hoắm bên trận địa

Đám cỏ trên bờ mọc đã xanh...

 

Em ngã bên hào đêm trực chiến

Pháo nổ tung hoa đỏ rực trời

Có thêm tiếng súng em trong đó

Góp lửa giăng vây lũ giặc trời.

 

Thắp nén hương thơm trên nấm đất

Nỗi đau không cất nổi thành lời

Bao nhiêu đôi mắt cùng anh khóc

Đứng mãi bên em chẳng muốn rời.

 

Em cứ xinh tươi như ngày ấy

Trong anh em mãi mãi là thông

Tóc xanh như lá chiều hoang vắng

Soi xuống bên hồ nước trắng trong

 

Cành cũ chiều nay vi vút gió

Em đi như bóng nắng tan đi

Đồi thông vẫn dội từng sóng nổ

Qua biết bao mùa cuộc chia ly

 

Anh lại ra đi như ngày ấy

Trong anh còn mãi tiếng thông reo

Trong anh còn mãi lời em gọi

Còn mãi trong đời một dấu yêu.

 

MIỀN CÁT

(Đông Hà 15/7/2005)    


Miền cát chiều nay trắng quá

Mênh mông mãi tận chân trời

Nơi ấy gợi về ngày cũ

Đạn bom, mưa nắng tơi bời.

Đã xa lắm rồi

Những điều trong cổ tích

Cát thì trắng!

Cỏ thì xanh!

Còn máu thì rất đỏ!

Những bước chân hành quân

Mù trời đạn bom, mù trời bão gió

Kẻ thù trước mặt chúng ta

Trận địa bốn bề cát trắng

Mùa xuân năm ấy! Đông Hà!

Miền cát chiều nay trong cơn gió lốc

Tung bay, tung bay ngàn vạn hạt

Về những miền xa, thật xa

Dội vào ký ức

Một khoảng thời gian đã qua.

 

VỀ THĂM THÀNH CỔ

 (Thành Cổ 5/2005)

 

Ba mươi năm mới lại về đây

Dòng Thạch Hãn vẫn êm đềm xuôi chảy

Thành Cổ vẫn còn nguyên ở đấy

Bâng khuâng, một khoảng chiến trường.

 

Không đếm xuể những bông hoa cỏ trắng

Chiều mênh mang trong nắng tơ hồng

Ở đâu thế những hồn xa vắng

Ơi những người anh, người bạn, người chồng

 

Còn đây khối âm dương dựng đứng

Còn đây nữa bát cơm quả trứng[1]

Tự trăm miền trao gửi vào trong

Nắm hương chiều theo gió thổi tầng không.

 

Kìa ai đó đang đi trên cỏ

Quân phục xanh trên đất màu xanh

Bên bờ đá tả tơi sụp đổ

Một góc thành xưa, bom pháo tan tành.

 

Ai đi đó bàn chân hãy nhẹ

Đừng để tan đi giây phút thanh bình

Nơi mảnh đất đã bao lần cày xới

Thịt da anh đâu còn có nguyên hình.

 

Dẫu đến cả ngàn năm sau nữa

Thành kia, sông ấy vẫn còn

Bao kỷ vật là bấy nhiêu chứng tích

Tám mốt ngày trong khói lửa đạn bom.

 

Giữa chết chóc tan hoang đổ nát

Tiếng anh cười vang mãi đến chiều nay

Trong hữu hạn giữa hai vùng sống chết

Đã lên mầm xanh lại chính từ đây.

 

GẶP MẶT BẠN LÍNH GIÀ

(Tháng 8- 2005)

 

Tuổi tác đã không còn trẻ nữa

Sướng khổ buồn vui trong mỗi đời người

Quên hết cả để cùng trở lại

Như ngày nào mười tám, đôi mươi.

 

Tất cả lại là mình, là tớ

Cả mày tao, cả đấy, cả đây

Nâng chén rượu hát về quá khứ

Khúc quân hành hoà trong tỉnh, trong say.

 

Mỗi người một cuộc đời riêng biệt

Việc nước non xen công việc gia đình

Trong vất vả, gian nan, thiếu đủ

Vẫn vẹn nguyên, một tấm chân tình.

 

Mọi điều đã trở về quá khứ

Nghĩ làm chi nghèo túng, sang giầu

Những cao thấp cuộc đời sắp đặt

Có cần chi trong tình nghĩa, bạn bầu.

 

CHIA TAY

(Ga Thị Long 9/1970)

 

Em sẽ chẳng thể nào biết được

Có một người ra trận hôm nay

Nhìn em đợi  bên hàng cọc gỗ

Sân ga chiều bỏ lỡ cuộc chia tay

 

Đã hẹn thế sao anh không tới (!)

Cuộc chia ly bao nỗi tái tê

Đừng thêm nữa nỗi đau chờ đợi

Bao người đi mãi mãi không về.

 

Xin đừng có giận anh, em nhé

Đừng coi nhau như kẻ vô tình

Anh đã nhận những dòng nước mắt

Dẫu mai ngày anh phải hy sinh.

 

Em sẽ gặp những niềm vui mới

Quên ngày nay,  đến với ngày sau

Trong ký ức không còn anh nữa

Vết thương lòng sau một lần đau.

 

Chuyến tàu đã bắt đầu chuyển bánh

Để sân ga nằm lại đằng sau

Em đứng đó chập chờn trong bóng khói

Để lòng ai giằng xé dọc con tàu.

 

TẦU ĐÃ VỀ GA

(Đồng Tâm 25/9/2006)

 

Ba mươi sáu mùa thu vời vợi

Đâu chỉ là một sáng, chiều, trưa

Tưởng tất cả đã về quá khứ

Có đâu ngờ gặp lại ngày xưa.

 

Chiều thu ấy, người ra tiền tuyến

Khoảng trời xa, bom pháo chiến tranh

Những mùa nắng, mùa mưa tiếp nối

Có một chiều ga, theo bước quân hành.

 

Giờ ly biệt có gì để lại

Nghĩ về nhau, sao không đến cùng nhau (?)

Đừng tiếc nữa, những ngày tháng ấy

Một lần thôi, ga cũ bỏ con tàu.

 

Khóc một chút hay nên cười một chút

Về cái dở dang hay cái đã vuông tròn

Những trăn trở từ lâu chưa hết

Chia cách xưa, đau bởi mất còn.

 

Có thể mong gì hơn thế

Sự hiếm hoi, may rủi trong đời

Đã xui khiến cho ngày gặp lại

Nói làm sao trong chỉ một đôi lời.

 

Chuyện xưa vẫn, trong lòng vương vấn mãi

Để bây giờ tươi mới, chợt vui ra

Tay cầm bút viết vần thơ gặp lại

Có một con tầu dường như đã về ga.

 

CHỢ MẸT TÌNH YÊU

 

Không kịp trở về nơi ấy nữa

Lỡ hẹn rồi phiên chợ mùa xuân

Cây cầu Mẹt trúng bom sập đổ

Chợ quê thành trận địa dân quân

 

Vòng bạc vẫn trong, chỉ thêu vẫn thắm

Áo ngâm chàm tím giữa hàng quân

Nút vải cuộn tròn như bao chiếc nụ

Trên ngực anh cài chặt bao lần

 

Xa mãi, giữa đầu trời cuối đất

Khoảng chiến tranh cứ rộng dài thêm

Chưa kịp hẹn đến mùa làm cỗ

Nên chúng mình đâu đã thành duyên...

 

Chợ Mẹt mùa này sẵn dao thép cứng

Thớt nghiến tròn xoay vàng xuộm ánh chiều

Mùa xuân mới trôi qua một nửa

Đám cưới nhà ai nhắc lại một thời yêu.

 

CHÉP LẠI TRÊN XE BUÝT

 

Tôi đã cho đời tất cả đ­ược bao nhiêu (?)

M­ười hai tuổi, thành ng­ười lao động

Luống cải trong v­ườn, rạch ngô ngoài ruộng

Yêu những nơi gần, mơ những nơi xa.

 

M­ười tám tuổi, thành ng­ười chiến sĩ

Khoác súng trên vai, lên đư­ờng đánh Mỹ

Bàn chân qua muôn đất rộng, sông sâu

Phân nửa cuộc đời qua thật là mau.

 

Ba m­ươi tuổi về công trư­ờng xây dựng

Những nền móng nối nhau vô tận

Nắng, mư­a dầu dãi quanh năm

Vì đất, vì ngư­ời quên mọi gian truân.

 

Sáu m­ươi tuổi về làng cùng con cháu

Con lợn, con gà, bờ ao, thùng trấu

Miếng cơm bát thuốc trở trăn

Vẫn gắng đôi phần việc nư­ớc, việc dân.

 

Những khoảng nối thật bình dị quá

Có điều gì đáng kể ra đâu

Muôn cuộc khác cứ sinh sinh, hoá hoá

Cuộc đời nào trùng khít vào nhau.

 

Dù sao cũng một đời đầy đủ

Khẽ khàng, bình dị mà vui

Những mơ ư­ớc cao xa ngày ấy

Với bây giờ vẫn vậy mà thôi.

 

 

 

 

QUA ĐỀN LIỆT SĨ

(Đền liệt sĩ Nam Trực 23/2/2011)


Gió mang cơn rét về đâu

Để chiều xuân mãi cuộn sâu sóng ngầm

Cổng đền khép chặt lặng câm

Để ai đứng dưới mưa dầm lê thê

Tưởng đâu quên hết lối về

Tuần hương còn đỏ bên lề cỏ non.

Dẫu rằng ngực đỏ như son

Vẫn thương bao mảnh trăng tròn rụng rơi.

Mỗi người chỉ một cuộc đời

Dám quên đi để bao người tiếc thương.

Chờ mưa ghé lại bên đường

Đọc bao tên tuổi để vương lệ già

Thương bao nhiêu những mái nhà

Cô đơn vắng bóng... người xa không về.

 

QUA HUẾ NHỚ VỀ THÔN VỸ

Mong về thôn Vỹ từ lâu

Câu thơ Hàn gửi ở đâu chốn này (?)

Những bông hoa bắp gió lay

Bờ tường cao, lá trúc dày che ngang

Một màu ngọc biếc mênh mang

Chỉ còn có mỗi một hàng cau thôi

Em hoà vào với đất trời

Trắng trong sương khói để rồi tan đi…

Người về thôn Vỹ làm chi

Đợi khi trăng mọc, chờ khi trăng về

Khát đời, khát một vùng quê

Mà không còn dịp được về tận nơi

Bẩy mươi năm đã qua rồi

Câu thơ còn đó con người về đâu (?)

 

THĂM ĐỀN THẦY

(Văn An 1983)

Chiều nay con đến nhà thầy

Chơ vơ sỏi đá, cỏ cây rậm rì

Rẽ gai lấy lối con đi

Tìm xem Giếng Ngọc, Miết Trì[1] ở đâu.

Tr­ường xư­a nền đá dãi dầu

Một ngôi nhà nhỏ nhạt màu khói hư­ơng.

Phải vì Ng­ười giữ c­ương th­ường

Lấy điều giản dị nhún nh­ường vậy sao.

Hay vì thầy đã cất cao

Lời trung liệt để chạm vào thần oai

Sớ thầy động đến những ai

Mà nơi thờ cúng bỏ hoài gió sư­ơng.

Con xin thắp một tuần h­ương

Mong thầy đại xá thập ph­ương còn nghèo.

Mai sau non nư­ớc mạnh giầu

Đền thầy sẽ lại có lầu, có sân.

Mỗi năm con đến một lần

Dâng thầy một nén hư­ơng trầm lên mây.

Th­ưa thầy con nguyện theo thầy

Cho dù lở đất long cây không rời

Bâng khuâng một cảnh, một ngư­ời

Heo may lồng lộng thổi hoài chiều đông.

TẠ ƠN       

(Kính dâng vua Lý Chiêu Hoàng)

     Chuyển giao đất nước cho chồng

Nhẹ nhàng như chiếc lông hồng vậy thôi.

     Tám đời vua đã qua rồi

Nhiều đời vua nữa, đến hồi cũng qua.

     Phúc chúng sinh, phúc sơn hà

Không di luỵ, chẳng gươm pha máu hồng.

     Ai xoay thế nước khôn cùng

Ai dằn lòng để bằng lòng đổi trao

Để bao trăn trở về sau

Với bao suy ngẫm thật lâu trong đời

     Ngàn năm sắp sửa qua rồi

Câu thơ thắp đỏ những lời tạ ơn.

 

DẤU CHÂN LÔNG NGỖNG

         (Cổ Loa 9/2010)

Bốn bên tường gạch vữa vôi

Dấu chân phàm tục mấy hồi lại qua

Hanh hao màu đá gan gà

Hanh hao sắc lụa choàng qua hình người

Ai thương, ai giận, ai cười

Loa Thành xoáy cuộn mấy hồi quặn đau

Nỏ thần nào có thấy đâu

Lưỡi gươm oan nghiệt ngàn câu phẩm bình

Ai mê đắm giữa hư vinh

Để tan nát một mối tình ngây thơ

Bao giờ hay chính bây giờ

Dấu chân lông ngỗng lờ mờ đâu đây (?)

 

CHUYỆN ÔNG RỒNG ĐÁ

(Thăm đền Thái sư Lê Văn Thịnh)

Thao Giang để hận ngàn đời

Tiếc khoa thi ấy có người đỗ cao

Khéo khôn chi giữa ba đào

Giỏi giang chi giữa quần hào thế gian

Mải mê chi chữ minh quan

Để rồi mãi mãi hàm oan trọn đời.

Văn chương đành lẽ giết người

Cung tên, giáo mác ngạo cười thế gian.

Hình rồng còn mãi không tan

Tai lành tai điếc vô can đứng ngoài.

Cõi xa giờ đã êm trời

Cõi gần mưa gió tạnh rồi cần chi

Đời sau đau khúc phân ly

Buồn sao rồng đá nằm ì nơi đây

Sao không sáng tỏ ban ngày

Để bao ngờ vực đắng cay trong lòng

Để bao nhiêu những thẳng cong...

Chép câu thơ với ước mong hiểu người.

ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀ THỊ LỘ


Bỗng đâu lá rụng hoa rơi

Bỗng đâu ngọc đá một thời nát tan

Bỗng đâu dậy đất hàm oan

Bỗng đâu máu đỏ dương gian ngập đầy

Ơi người bán chiếu Hồ Tây

Câu thơ ướm hỏi chứa đầy vấn vương

Trách chi nguyệt thẹn hoa nhường

Thâm cung hẹp lối đành vương luỵ đời

Dạy bao nhân nghĩa cho người

Còn mình đành để đất trời ghét ghen

Trách chi phẩm đỏ, tay hèn

Làm sao tránh được trắng đen ẩn hình

Những là oan khuất phận mình

Một loài rắn trắng tuyệt tình đáng thương

Một tay thí nghịch bạo cường

Một thân mệnh phụ ví phường nguyệt hoa.

Mấy ai hiểu được cho bà

Đành gieo đôi vận kết hoa dâng người

Chiều Côn Sơn vạn tiếng cười

Mênh mông hoa nắng một trời gió đông..

 

MỘT THOÁNG HÁT GIANG

Thế rồi mọi lẽ đều qua

Chỉ còn đây với hai bà họ Trưng

Lời thề ai cũng đã từng

Lên ngôi cũng bởi có chừng ấy câu

Sử Nam ghi nhận công đầu

Thù chồng, nợ nước càng sầu trong tâm

Hát Giang lòng bỗng khôn cầm

Hồn thiêng muôn thuở biết nằm nơi đâu

Vết thương lòng mãi khắc sâu

Khăn nào thấm hết giọt sầu tuôn rơi

Hoa vàng dậy sắc bên trời

Thuyền vàng thấp thoáng

                             bóng người trên sông.

HUN KHÓI GIỮA RỪNG SÂU

 (Chùa Hun thờ Nguyễn Trãi)

Ai hun khói giữa rừng sâu

Những hầm than nguội lừ lâu bên rào

Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào

Cất vào đâu để đi vào tuyết sương

Câu thơ nhân ái, yêu thương

Hùng tâm tráng khí vô thường còn đây

Nghe đàn suối, uống rượu cây

Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi niềm

Bỏ đằng sau những tị hiềm

Để quay trở lại mà phiền lụy thân

Nỗi đau đâu chỉ một lần

Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng qua…

Oan khiên đâu dễ tìm ra

Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu

Ai hun khói giữa rừng sâu

Sáu trăm năm chửa nhạt mầu bi thương.

DẤU XƯA

(Côn Sơn 2008)

Đến Thạch Bàn của ngày xưa

Lắng âm thanh cũ nhặt thưa dội về

Suối mùa đông nước cạn khê

Lối mòn chen chúc đá kê đứng nằm

Đã qua gần sáu trăm năm

Vẫn vang vọng tiếng thơ ngâm não nề

Nền xưa hoang vắng tái tê

Đá xưa còn tỏ câu thề nước non

Trí nhân ơi một lối mòn

“Đã may đến thế rồi còn không may”

Giặc ngoài người trị thẳng tay

Giặc trong ai đó đứng ngây để nhìn

Thạch Bàn ơi hãy lặng im

Viết câu thơ mới đi tìm người xưa.

 

TA MƠ

(Quan Đình 9/2007)

     Rời xa xứ Bắc từ lâu

Gửi câu Quan họ qua cầu gió đưa

     Mảnh vườn thu của ngày xưa

Một mình mẹ với dư thừa đắng cay.

     Đôi tàu lá chuối lót tay

Một nùn rơm chắn heo may lọt vào.

     Ai mơ trời rộng mây cao

Ta mơ tìm thấy lối vào ngày xưa

     Ai mơ khăn áo đón đưa

Ta mơ ngửi chút hơi thừa mẹ thôi.

Mơ vòng tay mẹ làm nôi

Để con lần nữa được ngồi vào trong.

     Chợ chiều ai đợi, ai mong

Một chim cơm nắm trong lòng bàn tay

     Tiền công dài suốt một ngày

Không ăn dành lại chút này cho con.

     Mấy mươi năm tưởng lớn khôn

Lạ sao vẫn cứ trẻ con thuở nào

     Ai mơ muôn điệu thanh cao

Ta mơ tay mẹ vỗ vào sau lưng.

 

LẠI VỀ SÔNG LẤP

       (Tháng 9/2010)

Lại về sông Lấp[2] quê ta

Tìm câu thơ đã trôi xa thuở nào

Đâu rồi ngõ phố Hàng Thao

Xôn xao Máy Điện, ồn ào Máy Tơ.

Trống chầu ai để quay lơ

Mảnh trăng rơi giữa đôi bờ Đò Quan

Dốc cầu lên xuống ríu ran

Lỏng tay ga, ngắm cung đàn chăng dây[3]

Bâng khuâng gió cuốn, mây bay

Lối xưa sông Lấp ở đây đâu rồi.

 

VỢ MỜI UỐNG RƯỢU

Em nào có nghiện rượu đâu

Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.

Có say thì đã say rồi

Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.

Say từ mới nở hoa cau

Chẳng cần mặc cả trước sau thế nào.

Say từ rời chỏm trái đào

Đến nay lấm tấm bước vào tuyết sương.

Đã qua khắp các công trường

Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô

Giường ghép ván, gạo đựng xô

Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu

Mưa rơi chảy ướt trên đầu

Đành ngồi bó gối nhìn nhau mà cười.

Có say, lúc ấy say mười

Bữa nay chẳng biết uống rồi có say.

Rõ là những đắng cùng cay

Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.

Uống cùng em… một chén thôi

Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu

Nuốt vào hết mọi nỗi sầu

Để say như thuở ban đầu mới quen.

THĂM LẠI LỌC HÀ

    (Tháng 10 – 2003)

 

Trở lại quê ai đất Lọc Hà

Sông đào năm cũ vẫn vươn xa

Xanh om đất ruộng hai bờ lúa

Ngói đỏ ai kia mới cất nhà.

 

Tìm lại vuông sân cái Tý nằm

Ngôi nhà ốm yếu suốt quanh năm

Có bao người vợ nghèo năm ấy

Đã trải qua thời cuộc khó khăn.

 

Những nghị ngày xưa đã ở đâu

Một đời mưu mẹo, kế nông sâu

Gớm thay cho bọn người đen bạc

Vẫn cứ nhăm nhe định ngóc đầu.

 

Ai khóc cho đời những đắng cay

Bên đèn con chữ xót đau thay

Muôn sau vẫn nhớ ngày u tối

Đèn tắt, màn đêm bóng phủ dầy

 

Đất trũng năm nao đất lại đầy

Quê làng “Đông Xá”đã đổi thay

Vươn ra đã khắp trong làng nước

Phố Lọc chiều xuân ngây ngất say.

NGHĨ  VỀ TỪ THỨC

 

Thế rồi người ấy không trở lại

Động tiên bao đời vẫn còn đây

Đường ấy lên trời hay chui xuống đất

Mãi tận bây giờ ta vẫn chẳng hay…

 

Chẳng phải đã cuộc đời tiên, bụt

Sống muôn năm, sung sướng quanh năm

Cung điện nguy nga, vàng son rực rỡ

Đời tiên, người đẹp tuổi trăng rằm

 

Chẳng phải đã đến trời hạnh phúc

Chẳng còn gì đời phải lo toan

Vật lạ, của ngon có dư bao thức

Khác xa vời kiếp của trần gian

 

Câu chuyện cổ không ai không biết

Từ ngàn xưa còn đến bây giờ

Như nhắn gửi muôn đời sau nữa

Mối nhân sinh đâu dễ phai mờ

 

Ta chợt hiểu bên ta là đồng loại

Dẫu vui buồn no đói vẫn cùng nhau

Xin hãy để hoà cùng thời đại

Đừng bao giờ chia cắt để lòng đau

 

Ta chợt hiểu sau bao nhiêu trốn chạy

Một mai đây người sẽ quay về

Như Từ Thức trong câu chuyện cổ

Sẽ giật mình qua khỏi những vòng mê.

NHỮNG ĐIỀU DAY DỨT

(Đền thờ Nguyễn Trãi 2005)

 

Khi ném thẻ chém ba đời vị quan lớn ấy

Có ai nhắc một lần về Sách bình Ngô

Khi trố mắt nhìn dòng thơ rỏ máu

Có ai nhớ ngày xưa ngọn bút dựng cơ đồ

 

“Giá áo túi cơm” dẫu ở đời nào cũng có

“Tát nước theo mưa” nào ai đã nhận ra

Nên cái vận, người hiền không tránh nổi

Hiềm khích làm đau bao trang sử nước nhà

                                                    

May có một người cất công tìm kiếm

Chút tâm từ trong giữa đám sương sa

Hình sao ấy dù đã về chớp sáng

Còn có bao điều day dứt cuối trời xa.

PHƯỢNG HOÀNG GỌI NẮNG THU VỀ

 

Con đến nhà thầy  một chiều cuối hạ

Cỏ cây xanh nắng bên đường.

Gốc đá ngổn ngang ai vừa xếp lại

Bâng khuâng, nền cũ ngôi trường (!)

 

Sáu trăm năm khoảng cách chưa dài

Chuyện về Đầm Mực[4] còn đau

Sớ thất trảm, những dòng thẳng đứng

Hồn xưa, nay đi về đâu (?)

 

Ai chép lại những dòng thơ cũ

Mưa rơi trên sườn đá ngửa nghiêng

Câu chữ, tình đời vẫn còn nguyên đó

Năm tháng qua rồi dễ đâu lãng quên

 

Hoang vắng ngày nào, giờ đây đã khác

Đền mới vừa xây, hoa nở bên hè

Cháu con khắp vùng, nén hương ngày giỗ

Phượng Hoàng[5] gọi nắng thu về.

VẠN HOA

Từ nơi ấy những gì sót lại

Mái lầu cao nhòm sóng trùng khơi

Khoảng vương giả, cuối cùng thời đại

Gió mây còn lồng lộng chưa thôi.

Mảnh sân đá muốn rời đi mất

Khoảng hồ con, dở khúc đê ngăn

Con sóng đục, rợn màu của đất

Vỗ lên bờ đã mấy ngàn năm…

Ngoài xa kia, ngàn vạn xa xăm

Cõi sống ngấm ngầm những lời thủ thỉ

Mở ra bao ảnh, bao hình

Những trời lớn, trời con xây thành đắp luỹ

Một góc Vạn Hoa[6] sao có thể yên lành.

NHỚ NGOẠI THÀNH

 

Rời Hà Nội từ chiều thu ấy

Phút chia xa không nói câu gì

Những kỷ niệm tháng năm tuổi trẻ

Cứ âm thầm theo với người đi.

 

Hà Nội trong ta, cánh đồng xanh lúa

Nước sông Hồng đầy ắp lưng đê

Những con sóng trong mùa nước dữ

Bao lo toan từ  miền ngược đổ về.

 

Hà Nội trong ta, những xóm, những làng

Hòn đất ngoại thành nóng sôi mùa vụ

Hết lúa lại ngô, nối nhau chín rộ

Rau, củ tươi non, chăm bón quanh chiều.

 

Hà Nội trong ta, chất chứa bao điều

Có cái nhà quê của cha, của mẹ

Có dáng hình em dịu hiền, nhỏ nhẹ

Như hoa nở giữa đồng xanh.

 

Hà Nội trong ta, là xóm ngoại thành

Cây trái, ruộng đồng, bờ tre, bến nước

Phố rộng, nhà cao đâu có xa xôi

Cái riêng mình, chỉ một ngoại thành thôi.

CHI BỘ Ở QUÊ

(Thạch Thuỷ năm 2006)

 

Chi bộ ở quê toàn những người nhà

Cha, chú, cháu, con gọi nhau đồng chí

Nghị quyết đề ra…bao đêm suy nghĩ

Dẫu sao cũng vẫn phải xong.

 

Xóm dưới, năm nay nợ sản còn đông

Cánh trũng, nhiều nhà bỏ liền mấy vụ

Kinh tế làng ta cũng chưa đầy đủ

Người nghèo giờ vẫn đang còn (!)

 

Phương hướng mới, năm nay rất rộng

Việc làng, việc xã nhiều thêm

Chi uỷ giờ đây rất cần trẻ hoá

Miệng nói, tay làm công việc mới nên.

 

Đoàn thể mới rồi cũng vừa phát động

Hội người tuổi cao, hè của thiếu niên

Băn khoăn mãi chuyện Làng văn hoá

Đến bao giờ mới được ghi tên (?)

 

Mương máng nội đồng cũng cần làm mới

Rầy, nấm vụ này, chuột, sâu vụ tới

Cày bừa, giống mạ, tưới tiêu

Thời vụ tới rồi, muôn việc kéo theo.

 

Chi bộ ở quê toàn những người nhà

Nghị quyết đề ra bám vào đồng ruộng

Công việc mùa màng, quanh năm bận rộn

Đều là việc Đảng, việc dân.

BÀI THƠ VỀ HUẾ

 

Bông hoa đèn trôi mãi trên sông

Vẳng xa những câu Nam, câu Lý

Lời mời gọi vô tình hay hữu ý

Có ai về với Huế của em không (?)

 

Về với Huế từ lâu đã muốn

Ngắm vàng son để nhớ ngày xưa

Nghe câu hát thấy tình sông núi

Mấy trăm năm còn đó những triều vua

 

Những mảnh sứ nở hoa trên tường, trên cột                                                      

Mái ngói lưu ly cháy rực buổi hoàng hôn

Khuôn mặt đá sao im lặng thế

Dấu chân nào từng qua cửa Ngọ Môn (?)

 

Chào đây Huế quãng đường xa ngái

Câu thơ da diết gọi ta về

Vườn xưa vẫn “mướt xanh màu ngọc”[7]

Đỉnh đồng cao ươm nắng sau hè.

 

Ta đến Huế chợt thấy hồn đã Huế

Trái sầu riêng ai bán chợ Đông Ba

Bát cơm hến ai mời bên ghế

Ngụm chè sen ai rót dưới hiên nhà.

 

Về với Huế! Hôm nay về với Huế

Nước dòng Hương em hát đợi chờ

Chuông Thiên Mụ thắp niềm xao xuyến

Để cho lòng say hết một mùa thơ.

LÀNG MỊN, LÀNG CHỜ

Qua ba làng Mịn

Qua chín làng Chờ...[8]

Câu ca hò hẹn đâu ngờ... nhói đau

Anh đi về đâu

Em đi về đâu

Vòng chỉ nối dây, một lời ngày ấy

Để rồi tan nát lòng nhau.

Ngày hội xa rồi

Câu ca xa rồi

Sông vẫn chảy, đò vẫn trôi

Chỉ có lòng người chẳng trôi, chẳng chảy

Chờ hoài mấy chục mùa xuân.

Mỗi năm một lần mặc áo tứ thân

Mỗi năm một lần xuống đò đi hội

Vạt áo mưa dầm

Câu ca mời gọi

Dòng sông lững lờ...

Qua ba làng Mịn

Qua chín làng Chờ...

Mùa xuân! Xưa với bây giờ,,, Đã xa!

                                                         

NHỚ QUÊ HƯƠNG

(Châu Can 10-2007)

Trưa nay giữa mênh mông trời đất

Khát quê hương, nhớ về một miền thơ

Đường đất, ao bèo, nhà tranh trống vắng

Suốt trăm năm hình ảnh chửa xa mờ.

Hỏi khắp hết ruộng vườn, núi non, sông biển                                                        

Ai họ hàng, ai máu mủ ruột rà

Không… không hết!

Giữa trời trưa vắng!

Khói đồng lên trong xao xác tiếng gà...

Ngồi lại bên đê với bao điều ngao ngán

Trách ai… Ai trách?

Ngàn năm không thể trả lời

Để phải sống, phải còn trong năm, tháng

Biết bao tình, đành dứt áo để chia phôi.

Trở lại thăm nhau, tìm ai còn, ai mất?

Cuộc đời thường…

Đồng tiền, bát gạo đã đủ đâu!

Cái nghèo đã ngăn đường, chặn lối

Để lòng người đầy những buồn đau.

Trưa nay với bao điều được, mất

Về nhà đây…sao chẳng có nhà?

Trên bãi vắng mấy trăm ngàn nấm đất,

Nấm nào kia…tiên tổ, ông bà?

Ra đi!

Ra đi, đâu phải là tội lỗi!

Không về!

Không về, vì bao lẽ cản ngăn!

Mảnh đất còn nguyên mà đành từ chối

Gió bên trời xoa trắng một vành khăn.

Nén hương con!

Nén hương con, gửi vào trong gió

Câu khấn thầm ai nghe được mà nghe

Trời xa xứ, những ngày lo kiếm sống

Vẫn mơ hồ xao xác giục ngoài kia.

Ra đi!

Ra đi, để rồi ra đi mãi!

Nắm xương tàn rơi trắng một màu tro

Bay tơi tả, lạc loài nơi đất lạ

Cuối chân trời đau mãi một miền thơ.

CÔN SƠN CẢM TÁC

 

Lâu lắm, mới về chùa cũ

Hội qua rồi, khách vẫn còn đông

Núi mọc thêm cây, chùa thêm nhà mới

Lối xưa vi vút rừng thông.

 

Bên tai thoảng tiếng chuông, tiếng mõ

Nắng chiều, soi bậc đá hao gầy

Màu quỳ cháy ánh đèn rực rỡ

Khói hương cầu xoa mắt mãi còn cay.

 

Trên đá có bao điều giảng giải

Mấy ai đọc được chữ ngày xưa

Mẩu huyền thoại Huyền Trang, Điểm Bích

Mãi mơ hồ sau tấm mành thưa

 

Ai đã dựng giữa nơi hoang phế

Một vùng hư ảo huyền vi

Để trần thế thành nơi cực lạc

Để bao người ao ước đến rồi đi...

 

VỀ THANH MAI

(Tháng 5 năm 1997)

 

Thế rồi cũng một lần tìm đến

Cõi trần gian những nhận cùng cho

Vòng tràng hạt không đầu, không cuối

Cuộc luân hồi ai đó mãi giằng co.

 

Vũ trụ vốn chẳng hề bé nhỏ

Quãng đường xa, đi mãi càng xa

Ai tìm thấy nơi nào hạnh phúc

Dắt cho đời theo đó mà ra.

 

Người xưa cất chùa về nơi ấy

Giữa rừng già, dốc ngược lên cao

Miền quả phúc ai kia giấu kín

Áo cà sa vàng lối đi vào.

 

Khép lại một vòng, nơi danh thắng

Bâng khuâng, làng xóm xa mờ

Chiều tan loãng cuốn theo bóng nắng

Nhuộm hoàng hôn dần tím bên chùa.

ĐẾM THỜI GIAN

(8/2008)

Ta đếm thời gian lần lượt đi qua

Một ngày, lại một ngày tiếp nối

Thời gian giống như là tiếng nói

Nhắc ta về những gì đã xa.

Ta đếm thời gian lần lượt đi qua

Nhanh và chậm mỗi khi một khác

Dài vô tận, trong nỗi niềm khao khát

Ngắn vô cùng trong từ biệt người thương...

Ta đếm thời gian lặng lẽ trong gương

Ngơ ngác với mái đầu bạc trắng,

Im lặng với màu da xạm nắng

Giật mình, mau mắn vậy sao (?)

Ta đếm thời gian trong những cơn đau

Mòn mỏi với mùi cồn, mùi thuốc

Cây gậy chống, dựa nơi cửa trước

Khoảng qua rồi ngao ngán gửi về đâu.

Ta đếm thời gian trong hố mắt sâu

Bên dưới lớp thuỷ tinh dày cộp

Thời gian với bao ngày tan hợp

Nối nhau hoài trong những cơn say...

Ta đếm thời gian từ bấy lâu nay

Không nhớ nữa, những gì đã đến

Nửa thế kỷ mải mê tìm kiếm

Khoảng ngắn dài ai có giống ai

Ta đếm thời gian chờ những ngày mai.

 

GIẾNG TIÊN

 

Giếng Tiên sao lại ở trần gian

Giữa những mê tơi cỏ ngập tràn

D­ưới đáy khô rang không có n­ước

Chỉ thấy hơi lên nặng vữa bùn

 

Bao ngư­ời đến ngó nghiêng bỡ ngỡ

Giếng là Tiên hay giếng chẳng hề Tiên

Giếng là giếng như­ chính là giếng vậy

Có khó gì đâu cho một cái tên

 

Ta theo đời đến đó mà xem

Ôi giếng n­ước mà chẳng hề có nư­ớc

Điều duy nhất mà ta thấy đ­ược

Những mơ hồ ai đó nói về Tiên.

 

 

YÊU MÃI TRÀ XUYÊN

   (Tặng chị Thu Mùa)

 

Sáng xuân nay trở lại Trà Xuyên[11]

Tìm ng­ười của mấy m­ươi năm tr­ước

Câu quan họ tan trên mặt n­ước

Lối x­ưa dư­ờng vẫn ch­ưa quên...

 

Trà Xuyên ơi, mùa rau còn nguyên

Trăng m­ười bốn vẫn chư­a tròn hết

Vạt áo nâu non, mùi h­ương bồ kết

Vẫn còn thoang thoảng đâu đây...

 

Tôi đi tìm “em” trong hư­ơng r­ượu say

Dù biết chẳng bao giờ gặp lại

Dù mai sẽ càng xa vời vợi

Hết xuân rồi, ng­ười vẫn không quên.

Có một thời ...

                 Ta yêu mãi...

                                           Trà Xuyên (!)

 

 

 


 

[1]Những quần thể trong khu đề Chu Văn An

[2] SôngVị Hoàng trong thơ Trần Tế Xương

[3] Cáp cầu Đò Quan Nam Định

[4] Dựa theo truyện Học trò thủy thần

[5] Nơi có đền thờ Chu Văn An

[6] Nhà nghỉ của vua Bảo Đại ở Đồ Sơn Hải Phòng  

[7] Lấy ý từ thơ Hàn Mặc Tử

[8] Lấy ý qua câu cách ngôn của địa phương

[9] Nơi Huyền Trang vị tổ thứ 3 thiền phái Trúc Lâm trụ trì

[10] Nơi Pháp Loa vị tổ thứ 2 thiền phái Trúc Lâm trụ trì

[11] Một làng quê thuộc Yên Phong Bắc Ninh

 

 

Người đăng: lehoa4754blogger.com vào lúc 21:16 Không có nhận xét nào:  

Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên TwitterChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest

Th Sáu, 6 tháng 3, 2015

XUÂN ẤT MÙI (2015)

VẪN LÀ HOA CỎ MÙA XUÂN

 

Vẫn là hoa cỏ ấy thôi

Xuân sang, xuân cũ thế rồi lại xuân

Để cho ai đó tần ngần

Tiếc thời gian giữa bao lần xuân qua

Thơ đời mơ mộng phù hoa

Để rồi cứ thế tuổi già đơn côi.

Khóa thời gian sắp đóng rồi

Vẫn còn mê mải đôi hồi cùng xuân

Ta thương ta đến vô ngần

Bẩy mươi mấy chặng đường trần ruổi rong

Ai thương, ai đợi, ai mong

Ai chê, ai trách, ai chòng ghẹo đâu

Cuộc đời bãi bể nương dâu

Có là chi những sắc mầu viển vông

Thế rồi xuân lại sang đông

Vẫn hoa cỏ ấy mênh mông đất trời

Cho ta rót chén rượu mời

Câu thơ mộc mạc cất lời sang xuân.

.

HẸN TRONG MƠ

 

Ngày nào em của riêng anh

Bỗng dưng xa cách em thành của ai

Tôi đi chiến trận lâu dài

Thương em đợi mãi, đợi hoài ngày xanh

Tơ duyên mình khéo mong manh

Thế rồi anh chợt hóa thành người dưng

Bao lần… có gặp hay đừng (?)

Cứ phân vân cứ ngập ngừng rồi thôi

Biết đâu khi gặp mặt tôi

Thế rồi em phải chia phôi với chồng

Một tay con bế, con bồng

Thân cò, thân vạc giữa đồng cô đơn

Biết đâu tình mới sâu hơn

Lạnh lùng em dỗi, em hờn ngày xưa

Anh thành tro lạnh gió đưa

Mắt xanh hoang vắng như chưa bao giờ

Để anh thành kẻ dại khờ

Thấy sang tìm đến nhận hờ người ta.

Nhỡ ra... rồi lại nhỡ ra…

Thêm mười năm nữa đi qua cuộc đời

Hôm qua chết lặng giữa trời

Em buồn, em giận, nửa lời cũng không

Em đâu đã chịu lấy chồng

Cứ chờ anh để xuân hồng phôi pha

Thôi thì cũng tại trời già

Chúng mình có phận nhưng mà không duyên

Giờ đây ván đã đóng thuyền

Mong anh vẫn cứ y nguyên thuở nào

Xuân nay dưới bóng hoa đào

Cùng ai hò hẹn lại vào trong mơ.

 

XUÂN AI NGÀY ẤY BÂY GIỜ

 

Xuân buồn cứ lặng lẽ qua

Em là em của người ta mất rồi

Bến xưa ai đổi chỗ ngồi

Để bâng khuâng cả mặt đồi cỏ may

Bao giờ tay lại cầm tay

Mắt nhìn vào mắt mà say cả hồn

Bao giờ trăng đứng trăng tròn

Chẳng bao giờ nữa anh còn có em

Lửa tình ai đó vừa nhen

Câu sang thì đến, câu hèn thì không

Anh về tìm chốn chợ đông

Để em đứng lại mà trông mà chờ

Xuân ai ngày ấy bây giờ

Lối đi cỏ mọc nhạt mờ xa xăm

 

NGHE CÂU HÁT XẨM

 

Nghe câu hát xẩm ngày xưa

Những đôi mắt nhỏ cứ ừa ựa…rơi

Ai kia khéo kể chuyện đời

Làm cho muối xát những thời đã xa

Câu nào than mẹ, than cha

Câu nào than cửa, than nhà, than thân

Đôi tròng như cũng tối dần

Gợi ra muôn cảnh đường trần bi thương.

Bàn chân thập thững trên đường

Khúc tre khô cũng lật lường vặn cong

Tấm lưng còng lại thêm còng

Đôi quai bị cói lòng thòng đu đưa…

Ôi câu xẩm của ngày xưa

Từ đâu xa lắc lại vừa cất lên

Cô đơn vắng lặng trong đêm

Ai vừa buông đó héo mềm hồn ai

Bao giờ cho đến ngày mai

Để tan bao nỗi u hoài bơ vơ

Nối vào muôn điệu đường tơ

Câu ca từ thuở ngây thơ lại về

Đêm nay chuốt lại ngón nghề

Gửi vào câu hát tràn trề tin yêu

Mưa xuân như ghẹo như trêu

Tiếng đàn như dệt như thêu cảnh đời

 

VIẾNG XUÂN

 

Xuân này thêm nữa hai xuân

Tình yêu em đã tắt dần trong anh

Nỗi đau mười tám xuân xanh

Năm mươi năm lẻ, lá cành lạc nhau

Anh về giữa trận mưa mau

Biết tin đã nửa năm sau mất rồi

Đồng không gió giật tơi bời

Thắp tuần hương để nói lời tiễn đưa.

Ơi người yêu của ngày xưa

Chiều hoang một nấm trời mưa ướt đầm

Câu thơ tuôn chảy khôn cầm

Lặng im với một âm thầm chữ yêu.

Chiều nay như vạn buổi chiều

Xuân ai gửi gấm bao điều cho xuân

Dẫu chưa bể ái, nguồn ân

Dẫu chưa cưới hỏi, đã gần gũi nhau

Thói đời đắt lúa rẻ cau

Tơ duyên đành hẹn kiếp sau cùng người.

 

TẾT LẠI VỀ

Mỗi năm tết đến một lần

Năm nay tết chỉ đến gần mà thôi

Em vào nằm viện mất rồi

Chong chong dây nước, anh ngồi cả đêm

Đã gầy em lại gầy thêm

Một mình nằm đó, thân mềm như dưa.

Nhà mình sân vắng, đường thưa

Thiếu em, mọi thứ để thừa đấy thôi

Mọi ngày mâm đủ một đôi

Bữa nay cơm dọn mà rồi chẳng ăn.

Các con bối rối, băn khoăn

Cửa nhà bề bộn, áo khăn xuềnh xoàng.

Mình anh việc xóm, việc làng

Lại lo thu dọn chỉnh trang cửa nhà

Dọn cây, tảo mộ mẹ già

Đi thăm bè bạn, gọi là cuối năm.

Tết mình dần cứ xa xăm

Em còn nằm đó ai chăm bây giờ…

Hôm qua vui đến bất ngờ

Con về kể bệnh mẹ giờ bình yên

Thế là tết lại vui liền

Quất, đào anh lại lấy tiền mua ngay

Trái trăng hoa quả đã bầy

Rượu chè, bánh trái xếp đầy trên ban

Khói trầm hương đã tỏa lan

Bạn bè, con cháu hỏi han nói cười

Hôm nay tết lại về rồi

Cành đào trước cửa nảy chồi sang xuân

Ch Nht, 21 tháng 9, 2014

VIẾT VỀ CHÍ LINH BÁT CỔ

QUA BẾN NHẠN LOAN

(Nhớ về tướng quân Trần Khánh Dư)

Tiểu mãn đang về trắng cả sông

Nhạn Loan Cổ Độ rộng mênh mông

Bác tiều xếp gánh chờ lên bắc

Chú lái thu chèo đợi xuống đông

Nắng muộn vẫn vương trên bãi sậy

Sương chiều đã phủ mé đồi thông

Thuyền than ẩn hiện vừa đi khuất

Để lại đôi bờ nước trống không

 

HUYỀN THIÊN CỔ TỰ

Đến cửa Huyền Thiên nắng đã nhòa

Khói trầm ngào ngạt tỏa bay xa

Nền xưa nắng đốt phơi son đỏ

Đường mới mưa chan nổi đá già

Ngọc Đế mở đường nơi Cảnh Giới

Phật Hoàng dẫn lối chốn Ta Bà

Câu kinh nhật tụng vừa vang vọng

Ngàn ánh sao bay trắng Nguyệt Hà.


TÌM DẤU THÀNH PHAO

Vài đống gạch non xếp chẳng đầy

Thành Phao còn lại bấy nhiêu đây

Minh Hồ mấy bận tan bờ bãi

Lê Mạc từng phen nát cỏ cây

Sườn núi quanh co làn khói phủ 

Triền sông mờ mịt đám sương dầy

Cánh đồng làng Ngọc đang vào vụ

Rộn rã âm vang tiếng máy cầy

Th Tư, 3 tháng 9, 2014

THƠ THÁNG CHÍN

TÌM THƠ

 

Ta đã đi tìm, từ ấy chưa thôi

Mùa chim én bay hoài trong nắng

Từng qua hết bao mùa xa vắng

Tưởng bao lần rời rã để buông xuôi.

 

Ta vẫn đi tìm, từ bấy chưa nguôi

Mùa xuân mới qua từ lâu lắm

Mà chưa thấy đâu làn hơi ấm

Nắng trưa nghèo, vài sợi chăng tơ

 

Đã quen rồi mà sao vẫn bơ vơ

Tình trăng gió lấp đầy trên mặt giấy

Tình sông núi, tình em tìm không thấy

Để thơ buồn, buồn mãi những ban mai.

 

Ta đã yêu, muôn dặm hồn ai

Nghe trong đất, mùa khô ngàn cơn khát

Nghe trong gió, chiều hoang niềm xe xắt

Tiếng ru hoài man mác giữa cô liêu.

 

Ôi câu thơ, bao giằng xé trong yêu

Một hạt bụi, một tia trời rực rỡ

Như ta đó bao vết hằn rạn vỡ

Giữa muôn ngàn tia chói cuối chiều xa.

 

THÁNG CHÍN

 

Tháng chín này cả ba bố con chung

Ngày sinh nhật nối gần đôi con số

Hai cô bé cứ ở bên cạnh bố

Bánh kem mềm chan mật tiếng cười con

Bố luôn nghèo chẳng có thứ gì ngon

Một chút lương hưu chẳng bưa đôi bữa rượu

Nên quần áo cũng chẳng mơ hàng hiệu

Cứ chợ giời là đủ kín tay chân

Bố luôn nghèo bởi ít những người thân

Lại chẳng thể cận kề trong gặp gỡ

Đường xa quá vé tàu không đủ chỗ

Một chút quà gặp mặt lại càng khem.

Bố luôn nghèo vì thưa vắng anh em

Cha mẹ đói, để lạc từ khi trước

Vì như thế nên cứ thầm mơ ước

Cháu con nhiều cho vợi bớt cô đơn.

Có một điều muốn dặn các con hơn

Dù vất vả vẫn giữ lòng trong sạch

Làm thân gái quyết giữ gìn trinh bạch

Để gia đình luôn trong ấm ngoài êm

Còn một điều, bố muốn dặn thêm

Sự nghiệp gia đình mới là đáng kể

Phải chăm chút từ khi còn trẻ            

Để mai ngày gia cảnh tốt hơn lên…

Tháng chín rồi, các con nhớ hay quên

Mừng sinh nhật, hãy vui lên cùng bố.



MÙA THU

 

Hình như là tiếng mùa thu

Từ ngày hôm ấy mịt mù gió sương

Ngỡ là đứt mối tơ vương

Lại về lặng lẽ đánh đường tìm nhau

Lại về xới lại cơn đau

Làm cho khô héo cả cau, lẫn trầu

Đã tan, từ lúc ban đầu

Khơi làm chi nữa nỗi sầu mùa thu

Hình như vẳng tiếng ai ru

Chuyện tình năm ấy cho dù đã xa

Trái tim dường vẫn chưa già

Cứ luôn thổn thức để mà nhớ thương

Người đi xa mấy đoạn trường

Sao còn vương vấn đón đường tìm ta

Để rồi tình mãi không xa

Tiếng mùa thu lại bay qua gợi buồn.

 

UỐNG RƯỢU KHÔNG SAY

 

Chỉ mong uống để cho say

Xóa đi tất cả đắng cay trong lòng

Chén đời ai cứ xoay vòng

Trút bao quên nhớ vào trong chén này

Buồn vui bao tháng bao ngày

Theo mây theo gió mà bay lên trời

Thương ta bao chén chào mời

Uống bao nhiêu thế mà rồi chẳng say

 

BÀI THƠ VỀ MẸ

(Tặng các bà mẹ có con là liệt sĩ)

 

Khi tôi ra mặt trận mẹ không dám khóc

Sợ con buồn rồi mẹ lại buồn thêm

Mẹ khẽ vén lại tấm khăn buộc tóc

Có ai ngờ trắng hết chỉ một đêm

 

Mẹ dặn dò, rồi lại dặn dò thêm

Việc non nước với con là nghĩa vụ

Dù gian khó phải kiên gan bám trụ

Đánh quân thù cả nước đã không lui…

 

Hãy thương ta để cho mẹ ta vui

Bởi của mẹ cái gì cũng quý

Và hãy giữ, dù chỉ là một tý

Chút thịt xương mẹ gửi gấm vào ta

 

Đừng bao giờ tùy tiện xa hoa

Thịt xương mẹ mà ta đang giữ

Chín tháng hoài thai, một ngày ở cữ

Mẹ vui cùng con, mẹ sống cùng con

 

Ta biết ta còn nợ với nước non

Không thể vì mình, cân đong nặng nhẹ

Và như thế nỗi buồn của mẹ

Đã bao lần, các con đã từng quên

 

Ngày trở về da thịt chẳng còn nguyên

Mẹ chợt khóc, nắn sờ từng chỗ một

Trên gò má, nước mắt lăn từng giọt

Bao anh em trong xóm đã không về…

 

Khi con đi cũng chỉ một lời thề

Hiến xương máu để mong ngày độc lập

Coi cái chết sẽ vô cùng cao đẹp

Tặng cho đời bằng chính sự hy sinh

 

Con trở về, lòng vẫn đinh ninh

Xương thịt, tâm hồn đã dành cho đất nước

Ngày mai tới chẳng thể nào dừng bước

Mẹ có buồn … khi con mẹ đã hy sinh !

Th Ba, 2 tháng 9, 2014

THƠ ĐIỆN

THƠ ĐIỆN


Thơ điện nói gì cũng điện

Như đời ta điện mãi kề bên

Mùa đông rét bếp hồng hơi ấm

Lúc sang hè vòng quạt suốt ngày đêm

Mỗi cuộc đời đâu có dễ quên

Đĩa đầu thắp lờ mờ gác nhỏ

Giờ như giữa thiên hà trăng tỏ

Chính là ta xoay lưới điện soi vào

 


THƠ MÁY MÓC


Chớ bảo khô khan khó tỏ lời

Tình thơ máy móc chẳng hề vơi

Dù khi bụi khói vương đôi chỗ

Lại lúc than dầu đọng mấy nơi

Tường thép nóng ran cơn nắng dãi

Mái tôn lạnh ngắt trận mưa rơi

Mấy ai hiểu được bên trong đó

Đêm trắng canh tàn chẳng nghỉ ngơi.

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

HẢI DƯƠNG THI KHÚC

CÔN SƠN CẢM TÁC

Lâu lắm, mới về chùa cũ

Hội qua rồi, khách vẫn còn đông

Núi mọc thêm cây, chùa thêm nhà mới

Lối xưa vi vút rừng thông.

 

Bên tai thoảng tiếng chuông, tiếng mõ

Nắng chiều, soi bậc đá hao gầy

Màu quỳ cháy ánh đèn rực rỡ

Khói hương cầu xoa mắt mãi còn cay.

 

Trên đá có bao điều giảng giải

Mấy ai đọc được chữ ngày xưa

Mẩu huyền thoại Huyền Trang, Điểm Bích

Mãi mơ hồ sau tấm mành thưa

 

Ai đã dựng giữa nơi hoang phế

Một vùng hư ảo huyền vi

Cho trần thế thành nơi cực lạc

Để bao người khao khát đến rồi đi…

 

VỀ THANH MAI

(Thanh Mai tháng 5 năm 1997)

 

Thế rồi cũng một lần tìm đến

Cõi trần gian những nhận cùng cho

Vòng tràng hạt không đầu, không cuối

Cuộc luân hồi ai đó mãi giằng co.

 

Vũ trụ vốn chẳng hề bé nhỏ

Quãng đường xa, đi mãi càng xa

Ai tìm thấy nơi nào hạnh phúc

Dắt cho đời theo đó mà ra.

 

Người xưa cất chùa về nơi ấy

Giữa rừng già, dốc ngược lên cao

Miền quả phúc ai kia giấu kín

Áo cà sa vàng lối đi vào.

 

Khép lại một vòng, nơi danh thắng

Bâng khuâng, làng xóm xa mờ

Chiều tan loãng cuốn theo bóng nắng

Nhuộm hoàng hôn dần tím bên chùa.

 

DÂNG LỄ CHÙA LÀNG

(Hội chùa Thuỷ tháng 11 năm 2009)

 

Chùa làng chật những người đi lễ

Tam bảo nhoà h­­ương bao lớp vàng son

Bao kiếp đư­ờng tu ai đã trải

Mộng nào hơn khi quả phúc vuông tròn.

 

Nào đâu những trầm luân bể khổ

Những oan khiên, cơ nhỡ rối bời

Những khốn khó, giữa nơi trần thế

Hãy về đây cầu một đôi lời.

 

Muôn kiếp qua rồi nào ai biết đ­­ược

Giờ đây chỉ một kiếp này thôi

Cuộc trần thế tự do hạnh phúc

Phật từ bi độ đến cõi ta rồi.

 

Xin cho mỗi trẻ già, trai gái

Khắp trăm miền với những ­ước mơ

Cuộc sinh kế no cơm, ấm áo

Và đời riêng phận đẹp, duyên ư­­a.

 

Xin cho với quê hư­ơng, đất nư­ớc

Muôn năm sau nguyên vẹn, bình yên

Cuộc đổi mới càng thêm bền vững

Mỗi ngày qua giầu đẹp hơn lên.

 

Về đây với hội chùa, hội xóm

Một tuần h­ương thơm ngát bay xa

Nơi cửa Phật cúi đầu làm lễ

Giữa muôn ngư­ời, tĩnh lặng một hồn ta.

 

THƯƠNG NGƯỜI CHỊU MỆNH

(Đền Nguyễn Trãi tháng 8 năm 2013)

 

Vào đền tìm đất tìm trời

Mà sao chẳng thấy dáng người nơi đâu

Một anh hùng đủ tóc râu

Một thuyền quyên để bên lầu vắng không

Rửa oan là rửa cho chồng

Tấm thân bồ liễu thì không thấy gì

Câu thơ cái thuở xuân thì

Phải đâu truyền tụng chỉ vì mua vui

Đã không miếng ngọt miếng bùi

Cô đơn chịu mệnh ngậm ngùi ra đi

XUÂN THƠ

Ta đi trong bụi mưa xuân

Heo may sót lại lạnh dần sớm mai

Công trường, nhà máy nối dài

Cánh đồng quê, lúa bồi hồi bén chân

Mải tìm câu chữ cho xuân

Bỗng đâu chọn được đôi vần cho thơ

Chí Linh ơi, tự bao giờ

Đã trong xuân đã trong thơ ngàn đời...

Năm nay lên thị xã rồi

Phố phường đồng ruộng bồi hồi vào xuân (!)

 

VỀ PHẢ LẠI

(Ngấu hứng cùng bài Sông Lấp 9/2010)

 

Trở về Phả Lại quê ta

Tìm con phà đã trôi xa thuở nào

Đâu rồi lối ngược Đồi Cao

Bóng xanh áo thợ ồn ào vào ca.

Ánh đèn đêm thắp sáng loà

Mảnh trăng rơi xuống bên bờ Cảng Than

Phố quê cười nói ríu ran

Tầu xe rộn rã ngập tràn nơi đây

Dạt dào gió cuốn mây bay

Lối xưa Hoà Lạc* ở đây khác rồi.

__________________________

* Tên phố trước khi xây nhà máy điện

 

DẤU XƯA

(Côn Sơn 2008)

 

Đến Thạch Bàn của ngày xưa

Lắng âm thanh cũ nhặt thưa dội về

Suối mùa đông nước cạn khê

Lối mòn chen chúc đá kê đứng nằm

Đã qua gần sáu trăm năm

Vẫn vang vọng tiếng thơ ngâm não nề

Nền xưa hoang vắng tái tê

Đá xưa còn tỏ câu thề nước non

Trí nhân ơi một lối mòn

“Đã may đến thế rồi còn không may”

Giặc ngoài người trị thẳng tay

Giặc trong ai đó đứng ngây để nhìn

Thạch Bàn ơi hãy lặng im

Viết câu thơ mới đi tìm người xưa.

 

CẦU XIN

(Văn An tháng giêng năm 2006)

 

Năm nay con đến giỗ thầy

Đền đài vừa mới dựng xây lại rồi.

Ngẫm xưa lều cỏ bên đồi

Cô đơn giữ đạo cho đời mà đau.

Một ông vua... chẳng dễ đâu

Dám theo thầy, để đối đầu các quan.

Huống gì tàn ác gian tham

Có cam tâm để ngài làm thế không(?)

Thương thầy dâng sớ mất công

Một thầy xin, một trò không nhận lời.

Chắp tay con vái tạ Người

Mong thầy nghe thấu đôi lời cầu xin

Cầu cho giữ trọn niềm tin

Cầu cho non nước bình yên lâu dài.

 

THĂM ĐỀN THẦY

(Văn An tháng 12 năm 1983)

 

Chiều nay con đến nhà thầy

Trơ vơ sỏi đá, cỏ cây rậm rì

Rẽ gai lấy lối con đi

Tìm xem Giếng Ngọc, Miết Trì[1] ở đâu.

Trường xưa nền đá dãi dầu

Một ngôi nhà nhỏ nhạt màu khói hư­ơng.

Phải vì Người giữ cương thường

Lấy điều giản dị nhún nhường vậy sao.

Hay vì thầy đã cất cao

Lời trung liệt để chạm vào thần oai

Sớ thầy động đến những ai

Mà nơi thờ cúng bỏ hoài gió sương.

Con xin thắp một tuần hương

Mong thầy đại xá thập phương còn nghèo.

Mai sau non nước mạnh giầu

Đền thầy sẽ lại có lầu, có sân.

Mỗi năm con đến một lần

Dâng thầy một nén hương trầm lên mây.

Thưa thầy con nguyện theo thầy

Cho dù lở đất long cây không rời

Bâng khuâng một cảnh, một người

Heo may lồng lộng thổi hoài chiều đông.

 

GỐM

(Cổ Thành tháng 3 năm 2008)

 

Ai kia gươm giáo xông pha

Ngưòi trong lịch sử chỉ là áo cơm

Lặng thầm đi giữa củi rơm

Vẫn trung trinh vẫn thảo thơm đủ đầy

Bến Chiền trần trụi hao gầy

Tựa sườn đê một chút này nhỏ thôi

Khói hương ngào ngạt chơi vơi

Gói bên trong Gốm một thời đã qua.

 

ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀ THỊ LỘ

Bỗng đâu lá rụng hoa rơi

Bỗng đâu ngọc đá một thời nát tan

Bỗng đâu dậy đất hàm oan

Bỗng đâu máu đỏ dương gian ngập đầy

Ơi người bán chiếu Hồ Tây

Câu thơ ướm hỏi chứa đầy vấn vương

Trách chi nguyệt thẹn hoa nhường

Thâm cung hẹp lối đành vương luỵ đời

Dạy bao nhân nghĩa cho người

Còn mình đành để đất trời ghét ghen

Trách chi phẩm đỏ, tay hèn

Làm sao tránh được trắng đen ẩn hình

Những là oan khuất phận mình

Một loài rắn trắng tuyệt tình đáng thương

Một tay thí nghịch bạo cường

Một thân mệnh phụ ví phường nguyệt hoa.

Mấy ai hiểu được cho bà

Đành gieo đôi vận kết hoa dâng người

Chiều Côn Sơn vạn tiếng cười

Mênh mông hoa nắng một trời gió đông..

 

HUN KHÓI GIỮA RỪNG

(Chùa Hun Côn Sơn xuân 2011)

 

Ai hun khói giữa rừng sâu

Những hầm than nguội lừ lâu bên rào

Mũ cánh chuồn, áo cẩm bào

Cất vào đâu để đi vào tuyết sương

Câu thơ nhân ái, yêu thương

Hùng tâm tráng khí vô thường còn đây

Nghe đàn suối, uống rượu cây

Sân rêu, giường đá gượng khuây nỗi niềm

Bỏ đằng sau những tị hiềm

Để quay trở lại mà phiền lụy thân

Nỗi đau đâu chỉ một lần

Công cao lộc hậu, phúc phần chẳng qua…

Oan khiên đâu dễ tìm ra

Đời bưng mặt trống, lớp da công hầu

Ai hun khói giữa rừng sâu

Sáu trăm năm chửa nhạt mầu bi thương.

 

DÂNG HƯƠNG ĐỀN KIẾP BẠC

(Đền Kiếp Bạc tháng 2 năm 1986)

 

Đầu xuân con đến dâng hương

Xe đi suốt một quãng đường loanh quanh

Dốc lên, hố xuống gập ghềnh

Bờ đê con chạch chênh vênh hiểm nghèo

Rặng tre, bến nước lèo tèo

Tường vôi loang lổ, phong rêu lờ mờ

Dòng sông, bờ bãi vật vờ

Bụi đường ngập ngụa, con đò  ngửa nghiêng

Ngập chìm trong khí thiêng liêng

Chuyện xưa càng nặng sâu thêm nỗi niềm.

 

TRẨY HỘI

(Đền Kiếp Bạc tháng 9 năm 1986)

 

Con về trẩy hội đền người

Chang chang nắng đổ, một trời như nêm

Quán hàng áp sát hai bên

Phường chèo, gánh xiếc rền rền đinh tai

Khói hương mù mịt trong ngoài

Chen vai thích cánh người người vào ra

Miệng cầu tay vái  hít... hà..!

Đua nhau khấn khứa cùng là cầu xin

Giữa nơi cảnh phật, cảnh tiên

Lòng phàm nặng trĩu cơ duyên nhường này

 

BÀN CỜ TIÊN

(Côn Sơn tháng 2 năm 1985)

 

Bàn cờ xưa cất đâu rồi

Chỉ còn trơ lại mặt đồi bỏ hoang

Cỏ cây đất đá ngổn ngang

Tiên đâu chẳng thấy, cơ man là người

Bên tai rộn rã tiếng cười

Khói mây này có từ hồi nào đây

Ngước lên trời thấy gần thay

Dang tay ôm một đám mây vào lòng

Bóng xanh cao thấp chập chùng

Xa xa non nước hoà cùng vào thơ

 

BỮA CƠM TRƯA CỦA BÁC

Chiếc mâm gỗ cũ còn đây

Bữa trưa của Bác một ngày năm xưa[2]

Thương dân biết mấy cho vừa

Cái ăn cái mặc vẫn chưa đủ đầy

Nắm cơm mang sẵn trong ngày

Tấm lòng lãnh tụ thấm đầy nghĩa nhân

Năm mươi năm đã đến gần

Bức hình của Bác ân cần trên tay

Côn Sơn ơi tháng năm này

Vẫn nguyên kỷ niệm những ngày xa xôi

Nền xưa còn dấu Bác ngồi

Nắm cơm, mâm gỗ một thời còn đây.

 

TRỒNG CÂY BÁC HỒ

(Tặng Ngọc Sơn nhân tết trồng cây 2009)

 

Bác chưa kịp đến nơi đây

Mà như thấy Bác ươm cây bên đồi

Trồng cây cùng với trồng người[3]

Vẫn âm vang giữa đất trời quê ta

Có bao nhiêu những gốc đa

Bàn tay Bác tưới xoè ra muôn dòng

Hương xuân xanh đến khôn cùng

Chính là nhờ Bác bảo trồng thêm cây

Xa Người bốn chục năm nay

Ngọc Sơn vẫn nhớ trồng cây Bác Hồ.

 

SÁCH THƠM VIẾT Ở HẢI DƯƠNG

Bác Hồ về với Hải Dương

Sách thơm[4] ai chép thân thương thật nhiều.

Từ trên mảnh đất quê nghèo

Có bao việc đã làm theo lời Người.

Bàn chân guồng nước dưới trời[5]

Bàn tay xoa bụi đọc lời bia xưa

Nắm cơm giữa một bữa trưa

Hương thơm giống vải Người đưa về trồng.

Vết chân Người lội trên đồng

Một thân lúa cũng nặng lòng vì dân

Gặp Người chỉ thấy ân cần

Rõ là ruột thịt người thân trong nhà.

Sách thơm kể chuyện Cha già

Mỗi trang là một bài ca tình đời.

 

VỀ VỚI BÌNH GIANG

Lại về dự hội với Bình Giang

Chúc thọ xuân vui khắp cả làng

Đường xá giao thông giờ rộng rãi

Phố phường nhà cửa đã thênh thang

Đông thương lắm lúc chờ người đến

Đoài nhớ nhiều khi đợi bạn sang

Vui chuyện kể về nơi chốn cũ

Giờ đây quê mới đã khang trang

 

ĐỀN NGUYỄN TRÃI

Một dải đền thiêng giữa đại ngàn

Tế văn bài vị ngự trên ban

Một thiên tuyệt bút còn thơm mực

Muôn ngọn trầm hương khói tỏa lan

Bãi Đá tỏ mờ hình bóng hạc

Bàn Cờ ẩn hiện dáng thanh quan

Dẫu cho máu đỏ chan trên đất

Nước vẫn yên bình giặc đã tan

 

XUÂN PHẢ LẠI

Heo may đã tạnh cuối trời xa

Nắng mới soi lên vạn mái nhà

Thạch Thuỷ quất vàng mời khách tới

Thành Phao đào đỏ đón người qua

Trẻ thơ hăm hở đi chơi tết     

Phụ lão thong dong đến hội già

Phả Lại sang xuân vui rộn rã

Phố xưa đổi mới chẳng ai ngờ

 

TÌM DẤU NHẠN LOAN

(Nhân Huệ mùa nước mới)

 

Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè

Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe

Tinh kỳ chẳng thấy giăng trên bãi

Thuyền chiến không còn đậu dưới khe

Nhà cửa mới làm vôi trắng toát

Vườn cây vừa tạo quả xanh lè

Bến thuyền ngày ấy không còn nữa

Làng xóm yên bình dưới bóng tre

 

CHÍ LINH MÃI NGUYÊN XANH

Một vùng đồi núi đẹp như tranh

Tụ hội bao nhiêu chuyện tốt lành

Phả Lại Lục Đầu từng nức tiếng

Côn Sơn Kiếp Bạc đã vang danh

Muôn nơi tụ hội gom công đức

Khắp xứ chia nhau sức tạo thành

Nhân kiệt địa linh chừng đã mở

Một vùng hoa cỏ mãi nguyên xanh

 

GIÓ THƠM VƯƠNG

Chiều xuân đi hội với người thương

Khách đến xôn xao mọi nẻo đường

Vách đá Kỳ Lân mưa thấm lạnh

Rừng thông nảy lộc gió đưa hương

Đào hồng khép nụ phơi trong nắng

Cúc tím xòe hoa đọng dưới sương

Mắt biếc lướt sang vai áo mỏng

Tóc mây chợt xổ gió thơm vương

 

DU XUÂN QUÝ TỴ

Mặt hồ gợn sóng tím trong sương

Cây trái xum xuê kín phố phường

Rừng vải đơm hoa soi đáy nước

Vườn na nảy nụ khắp đồi nương

Vầng mây lờ lững xanh triền núi

Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường

Lữ khách du xuân vừa cập bến

Đào mai nở rộ ngát mùi hương

 

NHẮC LỜI HẸN CŨ

Ngư­ời về Phả Lại với ta chăng

Lầu gác giờ đây kín mặt bằng

Chợ đến Thành Phao hoa chặt lối

Phố về Thạch Thuỷ điện che trăng

Đồi xư­a đá sỏi xanh toàn vải

Làng cũ tranh tre đỏ những tầng

Lời hẹn năm nào ai có nhớ

Ng­ười về Phả Lại với ta chăng.

 

SÓNG LỤC ĐẦU

Một dải mênh mông sóng Lục Đầu

Sáu dòng trong đục chảy vào nhau

Lênh đênh dưới bến dăm thuyền cá

Thấp thoáng trên sông một nhịp cầu

Thuỷ trận năm xưa không thấy nữa

Chiến thuyền thuở ấy cất về đâu

Mấy ai biết được ngàn năm trước

Máu giặc loang trên sóng đỏ ngầu

 

BÌNH DƯƠNG VÀO HẠ

Vừa mới qua xuân đã hạ rồi

Khắp vùng nắng nóng tựa như sôi

Đôi con máy gặt vừa mới sắm

Mấy chiếc công nông đã sửa rồi

Lúa chín rải vàng trên mặt ruộng

Ngô già nhuộm đỏ cuối chân đồi

Mùa về cứ ngỡ như vào hội

Làng xóm hân hoan nở nụ cười

 

XUÂN CHIỀU

Từ chiều xuân ấy mãi tơ vương

Nào có xa chi nửa dặm trường

Xóm Lác người thưa mưa thấm áo

Sông Cầu bến vắng nắng soi gương

Bao cồn cát trắng phơi ngoài bãi

Mấy dãy keo xanh kín mặt đường

Làng cũ tranh tre không thấy nữa

Nhà tầng san sát dưới màn sương

 

CÓ CÒN AI ĐÓ ĐÓN TA

Gió chiều xô dạt lá sầu đông

Người cũ hình như đã lấy chồng

Bốn góc mái đình dường trĩu nặng

Một vành giếng đất cũng mênh mông

Nắng vàng ai rải đầy trên bãi

Mây trắng ai phơi kín cả đồng

Cúc dại trổ hoa bên cánh cổng

Có còn ai đó đón ta không

 

CẢM XÚC ĐỀN THIÊNG

Phượng lân giờ đã chẳng còn bay

Núi vẫn linh thiêng bởi đức thầy

Son Giếng đỏ tươi thành dựng đó

Miết Trì xanh mướt cỏ giăng đầy

Bia xưa hiện rõ lời trung liệt

Đền mới suy tôn đạo nghĩa dày

Thất trảm sớ văn trùm khí phách

Tưởng như còn vọng mãi nơi này

 

HUYỆN LÊN THỊ XÃ

Huyện cũ giờ lên thị xã rồi

Phố phường ngày một mới tinh khôi

Đâu trường đại học trao tri thức

Nọ viện đa khoa giúp cứu người

Phố xá mở mang đường rộng rãi

Xóm thôn đổi mới chợ vui tươi

Địa linh muôn thuở lưu danh tiếng

Nhân kiệt ngàn năm mãi rạng ngời

 

DÂNG LỄ ĐỀN CAO

Đền xưa yên lặng dưới vòm cây

Mái ngói rêu phong lá phủ dầy

Cỏ biếc lan quanh bờ đá mỏng

Cành lim phủ kín bậc hiên gầy

Đôi dòng lịch sử in trên bảng

Mấy cuốn văn thơ để trước quầy

Ngàn vạn gái trai về rước hội

Tưởng mùa xuân cũ lại về đây.

 

TRỞ LẠI VĂN AN

Vui chân trở lại với Văn An

Đồi đá năm xưa nắng ngập tràn

Trên đỉnh chòm thông reo lướt thướt

Dưới chân nước suối chảy lan man

Đền xây ngói mới tươi màu tía

Cầu đá lan can đứng xếp hàng

Muôn cảnh hiện ra ngay trước mắt

Đền thầy giờ cũng đã khang trang

 

CẢM XÚC SAO ĐỎ

(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)

Thị trấn thanh xuân mới buổi nào

Thời gian thấm thoắt có là bao

Bước chân đi tới đường thêm rộng

Ánh mắt nhìn sang phố đã cao

Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy

Trường vui trẻ đến sóng sôi ào

Ba mươi năm ấy miền quê núi

Rực cháy huy hoàng một ánh sao.

 

QUÊ LÚA THẮM SAO CỜ

Chúc cho Thanh Miện mãi tươi thơ

Truyền tụng danh thơm khắp bến bờ

Nam, Bắc* hai miền luôn rực sáng

Tùng, Giang* đôi xứ chẳng phai mờ

Đạo người nền nã luôn yêu quý

Thế đất thanh tao mãi phụng thờ

Tiếp bước người xưa luôn cố gắng

Dựng xây quê lúa thắm sao cờ.

 

MÙA SAU

Sớm nay nắng ấm đã về đây

Đồng đất miên man những sá cầy

Mạ rắc trong năm vừa đủ tuổi

Đất bừa giáp tết kịp trang lầy

Ruộng Phao nước xuống chan bờ thửa

Đồng Thuỷ mạ về đã mọc dầy

Chính phủ gửi cho nguồn giống mới

Mùa sau lúa tốt vạn kho đầy

 

MỞ TƯƠNG LAI

Qua thăm Thanh Miện giữa ban mai

Đồng lúa xanh tơ suốt dặm dài

Phù Tải gọi người se đất gốm

Ngũ Hùng* mời khách nối thừng quai

Đại vương Nguyễn Phục** danh càng tỏ

Bảng nhãn Đỗ Uông đạo chẳng phai

Đến hội vui thơ nâng chén chúc

Cùng nhau tiếp bước mở tương lai.

 

HÀO KHÍ ĐÔNG A

Hào khí Đông A rực lửa hồng

Một thời oanh liệt của cha ông

Bình Than khai hội bàn mưu kế

Vạn Kiếp dàn quân lập chiến công

Cự Nguyệt thây thù phơi kín đất

Bạch Đằng xác giặc nổi đầy sông

Ngàn năm danh tiếng còn vang mãi

Hào khí Đông A rực lửa hồng

 

ĐỀN GỐM

Tướng lĩnh thư­ơng nhân chỉ một ông

Nửa thì tư lợi nửa thì công

Bến Triền còn đó đền còn đó

Chứng cứ thì không án cũng không

Câu chuyện lưu truyền chưa chắc đúng

Đôi dòng chép lại khó mà thông

Quân lương, hàng hoá đâu là thực

Ai có tinh tường giảng hộ ông.

CẢM TÁC BÀN CỜ TIÊN

Trèo lên đỉnh núi lúc tinh mơ

Bậc đá quanh co suốt cả giờ

Lầu gác chông chênh chừng mới dựng

Đất bằng tĩnh tại vẫn nguyên sơ

Bàn cờ thời cuộc bia còn rõ

Câu chuyện trăm năm khói phủ mờ

Tích cũ gợi lòng vương vẫn mãi

Nỗi niềm tâm sự chép thành thơ.

 

ĐỨC THÁNH TRẦN

Kiếp Bạc chiều nay mở hội xuân

Đền Ngài rộn rã tiếng chuông ngân

Binh thư yếu lược bàn mưu kế

Hịch tướng sĩ văn giục tiến quân

Uy dũng ba phen truy đuổi giặc

Thuỷ chung một ý giúp an dân

Ngàn năm sáng mãi gương oanh liệt

Non nước tôn vinh Đức Thánh Trần.

 

HẢI DƯƠNG LỊCH SỬ

Đò Chanh nổi tiếng bánh gai

Thuý Lâm gốc vải nối dài muôn quê

Mao Điền mấy chục ông Nghè

Chí Linh bát cổ câu vè đã thông

Lục Đầu nối sáu nguồn sông

Một vùng lịch sử tỉnh Đông đẹp giầu

 

ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC

Núi Phượng chiều nay đỏ sắc cờ

Đền đài mới dựng giữa hoang sơ

Trường xưa hoa nở trò đang đợi

Điện mới thông reo khách vẫn chờ

Sửa đức can người lo vận hội

Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ

Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm

Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ

 

PHẢ LẠI ƠI CHAN CHỨA BAO TÌNH

Về đây với miền quê Phả Lại

Quãng thời gian có ngắn gì đâu

Ta chợt hiểu những điều thân thuộc

Có trong hồn ta đã từ lâu.

 

Mùa trăng mới nhớ về bến cũ

Chuyến phà đêm thao thiết đợi người

Vư­ờn vải mới đang dần khép tán

Khắp quê ta xanh đất, xanh trời.

 

Thành Cổ vẫn còn đang in dấu

Sáu dòng sông trong đục hoà chung

Chuông đền Khổng gõ ngàn năm cũ

Thái Bình ơi xanh đến vô cùng.

 

Câu hát ví dội vào tĩnh lặng

Xóm làng vui với những mùa về

Hạt no ấm chất đầy sân nắng

Mắt ai cười tươi rói chiều quê.

 

Bạt đồi đá ta xây nhà máy

Chặn dòng sâu ta dựng chân cầu

Mở công nghiệp cho ngày mai đến

Hẹn cùng ta đi trước đón đầu.

 

Đất đổi mới, cuộc đời cũng mới

Mở lòng ra đón buổi bình minh

Mơ muôn thủa bây giờ đã tới

Phả lại ơi chan chứa bao tình.

 

HẢI DƯƠNG

Nguồn sáng khắp một vùng duyên hải

Chiếu soi lên phường phố, xóm thôn

Hải Dương đó quê ta một dải

Đã thân thương như máu, như hồn

 

Đất quê ta ai qua không nhớ

Bánh đậu, bánh gai làm cỗ cầu duyên

Thơm hương giữa muôn màu ngô lúa

Một miền sông trên bến, dưới thuyền

 

Từ lâu đã vang danh tứ trấn

Chiếng chèo Đông bao lớp nối nhau

Gốc vải tổ chia cho muôn ngả

Trái tình yêu tươi đỏ sắc màu

 

Dòng văn hoá truyền lưu vẫn mở

Đất ngàn năm văn hiến rạng ngời

Làng tiến sĩ khởi từ nơi ấy

Mao Điền xưa, còn đến muôn đời

 

Ta về với Côn Sơn, Kiếp Bạc

Với ngàn năm hoa lá cỏ cây

Đất thượng võ con Hồng, cháu Lạc

Dấu anh hùng nay vẫn còn đây

 

Xưa đánh giặc hiên ngang dũng cảm

Ngàn vạn người ra trận lập công

Người ở lại giữ làng, giữ đất

Tiền tuyến, hậu phương son sắt một lòng

 

Đất mở hội, lòng người mở hội

Dẫu bao ngày giông bão nắng mưa

Nơi quê ấy bao nhiêu hứa hẹn

Những chiến công so mấy cho vừa

 

Hải Dương đó như người chiến sĩ

Khoác súng lên vai ra trận năm nào

Mở công nghiệp hôm nay đổi mới

Sáu nguồn sông hoà sóng dâng trào.

 

HỒI ỨC THÀNH XƯA

(Thành cổ Phao Sơn 6/2008)

 

Bờ thành cũ không còn gì nữa

Một cái tên truyền miệng thôi mà

Ai biết được thấp cao rộng hẹp

Giữa vô vàn thay đổi từng qua

Chỉ còn lại một vùng cằn cỗi

Đất bạc màu với những cành cây

Giữa gai góc đồi hoang cỏ rối

Nắng vô tình vứt lửa vào đây.

Dù không thể ngắm nhìn bằng mắt

Vẫn lắng sâu vào tận trong tim

Để sau trước thấy về xa tắp

Giữa mơ hồ và giữa lặng im.

Cho dẫu chẳng tìm ra thành nữa

Giữa muôn vàn thời đại chồng lên

Bờ thành cũ mãi không thể mất

Trong lòng ta thành vẫn còn nguyên

                                                        

TRỞ VỀ AN LẠC 

(Thăm đền vua Lê Đại Hành)

 

Mái đền mới, sắc tươi hồng

Uốn cong mũi ngói lượn vòng lên mây

Mặt đồi nằm dưới vòm cây

Còn in dấu của những ngày xa xưa.

Một làn mưa mỏng chăng tơ

Dấu xuân bất chợt ngẩn ngơ cõi lòng

Ngàn năm rồi bãi đất không

Bóng ai đi đó bên đồng lúa xanh.

Một trời sương khói mong manh

Bước chân du khách dạo quanh mé đồi

Hành Cung xưa lặn đâu rồi

Tiếng quân reo của một thời đã qua.

Một miền quê mới bao la

Tường xây, nhà gác trải ra khắp vùng

Đơn sơ một khối tượng đồng

Đôi dòng lược sử hào hùng mở ra

Một vương triều! Một sơn hà!

Từ bao năm cũ vậy mà vẫn đây…

Trở về An Lạc sớm nay

Tưởng ngàn năm cũ cũng quay trở về.

 

NGHE HÁT TRÊN ĐẤT NGỌC SƠN

(Tặng CLB NCT Ngọc Sơn 19/5/2009)

Ngọc Sơn có tự lâu rồi

Một vùng đất bãi xa bồi còn đây

Giọt mồ hôi ướt luống cày

Bát cơm vất vả bao ngày đầy vơi

Nắng mưa dài hết một đời

Thấm vào câu hát bồi hồi trong tim

Vẫn mơ quê một giầu lên

Vẫn mong làng xóm vẹn nguyên tình người

Mái tranh xưa đã hết rồi

Nhà xây vời vợi mây trời tầng cao

Câu cải lương tự thuở nào

Vẫn xanh tươi, vẫn ngọt ngào đắm say

Như tình ai mãi đong đầy

Bãi Bông xưa những hao gầy mỏi mong

Cho ta gửi chút tơ lòng

Vào lời ca ấy hoà cùng với ai

Cho tình quê mãi nối dài

Thắp lên ánh sáng muôn đời Ngọc Sơn.

 

[1]Những quần thể thuộc khu di tích đền Chu An

[2] .Chiếc mâm gỗ Bác dùng cơm trưa khi về Hải Dương

[3] Dựa theo lời Bác nói về Tết trồng cây

[4] Sách Bác Hồ với Hải Dương, Hải Dương với Bác Hồ

[5] Viết theo chuyện kể Bác Hồ về thăm Hải Dương

 

NHỮNG BÀI THƠ VỀ MẸ

 

THƠ VỀ MẸ

Thơ về mẹ viết hoài không đủ ý

Bao lời thương đời lấy cả rồi

Thơ về mẹ sáng ngời trang sách quý

Chỉ riêng mình con đọc được mà thôi.

 

Thơ về mẹ viết không có chữ

Giấy là tim, mực máu chảy vô hồi

Bao lời lẽ nối dài theo ý nghĩ

Đến khi nào cạn sạch thì thôi.

 

Thơ về mẹ không con nào viết nổi

Vì mẹ là thơ của muôn thơ

Bao nhiêu cũng chỉ là chẳng đủ

Mẹ đi rồi…con ước chỉ là mơ (!)

 

TÌM MỘ MẸ GIÀ

(Châu Phong, Giao Tác, Đại Vĩ)

Có ba làng Quậy ở Liên Hà

Thật khó tìm ra mộ mẹ già

Sông ấy, đường này, chừng có nhẽ...

Gò kia, ruộng nọ, dáng như là...

Bốn lăm mẹ trước đành về cõi (1945)

Lẻ tám con nay cũng đã già (2008)

Làng mạc, đất đai nhiều biến đổi

Mộ xưa không nấm hỏi đâu mà...?

 

NHỚ LỜI HEO MAY

Chỉ còn có gió heo may

Thổi vào góc bếp làm cay mắt già

Chiều nào một cháu một bà

Nửa niêu cơm độn với cà kho tương

Tưởng đâu đời lắm sắc hương

Các con quên cả góc giường chuối khô

Quên con đường nhỏ ngoại ô

Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn khênh

Một đời bà mãi lênh đênh

Nuốt vào tim những chông chênh ở đời

Mai sau con lớn nên người

Nhớ về quê để nghe lời heo may.

 

MẸ CHỒNG TÔI

Mẹ chồng tôi giống mẹ tôi,

Cũng lam làm, cũng thương rồi rất thương.

Chăm con từ bữa cơm thường             

Khi ở nhà, lúc ra đường cũng chăm.

Băn khoăn khi thấy kém ăn

Lo toan khi thấy bước chân rã rời.

Mẹ chồng tôi vốn ít lời

Bảo tôi rằng “giống mẹ, thời ngày xưa

Rồi đây trải những nắng mưa

Trăm công ngàn việc hết trưa đến chiều.

Lo nhà kinh tế hơi nghèo

Lo khi ít việc chẳng đều tiền công

Khi đò đầy, lúc chợ đông

Các con còn bé mà chồng ở xa.

Lo cha mẹ lúc tuổi già

Anh em thưa vắng thật là cô đơn.

Lo khi chưa rõ nguồn cơn

Không vừa lòng, để giận hờn lẫn nhau”.

Tôi nhìn ánh mắt lo âu

Tấm thân gầy guộc, dãi dầu thời gian.

Chợt nghe tiếng mẹ thở than:

“Kiếp đàn bà, thật gian nan nhiều bề”

Tôi nghe, lòng cũng tái tê

Thương mình, thương mẹ đêm khuya bồi hồi.

“Mẹ ơi con đã nghe rồi

Nỗi lòng mẹ, với những lời mẹ khuyên”

Mẹ chồng tôi vẫn dịu hiền:

“Con như con gái, ruột liền cắt ra

Mai đây con chính là ta

Hiểu lòng mình để hiểu ra lòng người...”

Mẹ chồng tôi khẽ mỉm cười

Nét thương chắp lại, trao lời cho con.

 

MẸ CŨNG VUI

Đất cũ mẹ cho chị bán rồi

Đành rằng chỗ ấy của mình thôi

Vẫn còn thấp thoáng tia nhòm ngó

Đã quyết chia đều đến mọi nơi

Ngẫm mẹ xưa răn cầu nghĩa cả

Xem mình nay học dám tình vơi

Chia chung lấy thảo cho đều hết

Chắc việc con làm mẹ cũng vui.

 

RU CUỘC ĐỜI CÒ

Tựa vào câu hát mẹ ru

Con đi suốt những mùa thu sang hè.

Tựa vào cánh võng bờ tre

Nghe câu ru mẹ, mà se cả lòng.

Dẫu rằng chết cũng nước trong

Thương con cò vẫn mỏi mong một đời.

Mẹ cho ta đến cõi người

Chỉ mong bén rễ để rồi tươi xanh

Dẫu không lớn gốc, rậm cành

Cũng là một hạt để dành mai sau.

Mẹ ta đi vắng đã lâu

Câu ru mẹ, mãi thấm sâu đời cò.

 

TA MƠ

(Quan Đình 9/2007)

Rời xa xứ Bắc từ lâu

Gửi câu Quan họ bên cầu gió đưa

Mảnh vườn thu của ngày xưa

Một mình mẹ với dư thừa đắng cay.

Đôi tàu lá chuối lót tay

Một nùn rơm chắn heo may lọt vào.

Ai mơ trời rộng mây cao

Ta mơ tìm thấy lối vào ngày xưa

Ai mơ khăn áo đón đưa

Ta mơ ngửi chút hơi thừa mẹ thôi.

Mơ vòng tay mẹ làm nôi

Để con lần nữa được ngồi vào trong.

Chợ chiều ai đợi, ai mong

Một chim cơm nắm trong lòng bàn tay

Tiền công dài suốt một ngày

Không ăn dành lại chút này cho con.

Mấy mươi năm tưởng lớn khôn

Lạ sao vẫn cứ trẻ con thuở nào

Ai mơ muôn điệu thanh cao

Ta mơ tay mẹ vỗ vào sau lưng.

 

MẸ

Mẹ như chiếc bóng bay qua

Trong cơn mưa giọt nước sa đuối tầm

Câu ca dao cũ ướt đầm

Bao lo toan cũng âm thầm theo đi

Trần gian đã chẳng là chi

Còn mong chăm chút được gì nữa đâu

Mai rồi trời lại mưa mau

Để mai rồi nữa càng đau, càng buồn

Mỗi lần nghe gió mưa tuôn

Tưởng như đôi cánh chuồn chuồn nặng thêm

Mẹ về tĩnh lặng trong đêm

Vỗ vào giấc ngủ bình yên mỗi ngày.

 

QUÊ MẸ

Tháng năm lần lữa nổi trôi

Tấm tình quê vẫn như sôi cõi lòng

Mẹ già tựa cửa ngóng trông

Nắng trưa trong vắt bên song lọt vào

Nhìn đôi mắc võng năm nào

Áo nâu non giữa ồn ào chợ đông

Nắm mồng tơi nấu cua đồng

Bát cơm gạo đỏ ai đong chợ chiều

Đất quê dù vẫn cứ nghèo

Đầu làng cuối xóm càng nhiều tình thân

Hôm nay mới được về gần

Lối xưa lá rụng bước chân bồi hồi

Quê hương của mẹ đây rồi

Bạc phơ mái rạ một đời mẹ xưa.

 

KHI MẸ RA ĐI

Mẹ ra đi giữa nắng trưa

Để lời ru, tiếng võng đưa lại nhà

Để đàn cháu nhỏ lệ nhoà

Cả cơ quan xuống đồng xa tiễn người.

Bát cơm, quả trứng ngậm ngùi

Mảnh khăn xô trắng sụt sùi, héo hon

Tháng năm xưa đã mỏi mòn

Con mơ mẹ, mẹ mơ con cả đời.

Đơn côi giữa đất giữa trời

Bâng khuâng tiếng võng với lời mẹ ru.

 

KHÚC THÁNG BA

Năm nay lại đến tháng ba

Thêm một lần nữa giỗ cha, mẹ rồi

Dòng sông bên lở, bên bồi

Chợt xanh hơn cả dưới trời mây xanh

Những chùm hoa gạo đỏ cành

Vỏ cây khô khốc bên thành cổ xưa

Nhớ thương biết mấy cho vừa

Khói hương trần trụi vẫn chưa kịp tàn

Chút quê xa nắng ngập tràn

Bước chân chầm chậm,tiếng đàn xa xôi

Tháng ba rồi cũng qua thôi

Ai ru tóc mẹ đêm người đi xa

Ai đun nước mới châm trà

Khẩu trầu xanh với cánh hoa màu hồng

Miếng vôi đủ mặn, đủ nồng

Để tươi đôi má giữa đồng lúa chiêm.

Đường về Tây Lạc xa thêm

Cả Châu Can cũng từng đêm gió lùa

Cũng cây gạo dưới sân chùa

Trổ hoa đỏ rực giữa mùa tháng ba.

 

NHỚ VỀ CỔ TÍCH

Lâu lắm chợt nhớ về cổ tích

Câu ru hời man mác đêm khuya

Vòng tay mẹ ôm trong giá lạnh

Giấc mơ dài xanh mãi chiều kia.

Vừa mới đó, đã nhoà bóng tối

Mẹ đi rồi còn lại cô đơn

Trải cực nhọc, khó khăn, vất vả

Những đêm dài nhớ mẹ nhiều hơn.

Rồi mai nữa ta thành cổ tích

Tán cây che râm một khoảng trời

Ta càng hiểu mẹ ta không mất

Vẫn vẹn nguyên ở lại trong đời.

Ôi cổ tích, lại chồng lên cổ tích

Luôn trong ta tình mẹ ngày xư­a

Mùa hạt mới tay ngư­ời gieo tiếp

Vòng tay nào ôm những đêm m­ưa.

 

HÀNG XÁO

(Tặng mẹ thân yêu)

 

Chợ gạo vẫn còn ở đó

Mẹ làm hàng xáo nuôi nhà.

Tối hết nửa đêm, sáng tờ mờ đất

Lẻ loi, một dáng thân già.

 

Hàng xáo bây giờ không xay giã

Máy quay phun hạt trắng ngần.

Dáng mẹ nghiêng theo giàng cối

Tóc mây ngày một trắng dần.

 

Hàng xáo bây giờ chẳng còn gồng gánh

Xe đầy bao trắng lao nhanh.

Đôi dép lốp xưa mòn vẹt gót

Bước chân già trên lối sỏi lạnh tanh.

 

Chợ còn đó, mẹ thì đã mất

Hạt tấm nuôi con, sàng sảy lựa ra

Cháo loãng, người non vực bát

Sớm hôm mẹ thức nuôi nhà.

                     Chợ Me,4/2001

 

TẤT CẢ ĐỀU CỦA MẸ

Mẹ nghèo đói như bao người khác

Tấm áo trên mình không có mà thay

Mảnh khăn đội đầu chồng bao miếng vá

Bữa cơm thường thay bằng rễ cỏ, cây

 

Mẹ nuôi ta từ mầm thai bé nhỏ

Bằng con trai, con hến bên sông

Lá rau dại lưa thưa ngoài bãi

Bòn nhặt từng ngày trong sương giá mùa đông

                                                

Mẹ nuôi ta bằng chút thức ăn ít ỏi

Trong mình mẹ ta, ta lớn dần lên

Những gân cốt, tóc tai, da thịt

Mọc ra từ bao cơn đói triền miên

 

Trong giây phút ta gặp trời, gặp đất

Gặp cả đắng cay của mẹ giữa đời

Ngày u ám và đêm lạnh ngắt

Cuộc xoay vần, mưa muôn giọt mồ hôi

 

Đời những tưởng mãi là tăm tối

Bỗng một ngày xóm dưới làng trên

Màu cờ đỏ đưa đường dẫn lối

Cách mạng về, bao người đã vùng lên.

 

Rồi ta gặp được bao điều lạ

Biết bao vui trong giây phút đổi đời

Bao buồn khổ từ nay rũ sạch

Để một lần trở lại mới tinh khôi

 

Dù chưa có thiên đường hạnh phúc

Mẹ ta xưa mong ước cả đời

Nhưng đã gặp những ngày no ấm

Ta đã là ta trong dáng một con người

 

Thời gian có nhoà đi dấu tích

Ngày xưa của mẹ cũng rời xa

Nhưng ta biết những gì có được

Tất cả đều của mẹ cho ta.

ĐI TÌM CÂU HÁT

Biết bao câu chữ ngọt ngào

Mẹ tôi đã hát ngày nào ru tôi

Tưởng như đã tắt lặn rồi

Bỗng đâu đêm ấy từng lời cất lên:

Hội làng vẫn mở tháng giêng

Để cho trai gái khắp miền tìm nhau

Vui sao câu hát mời trầu

Lạ sao câu ví mở đầu đêm xuân

Nặng lòng thay điệu trống quân

Sang câu cò lả nối vần giao duyên

Thế rồi giã hội xuống thuyền

Người về xứ Bắc người lên xứ Đoài.

Mẹ tôi đi suốt cuộc đời

Chẳng quên câu hát của thời ngày xưa.

Những chiều, trĩu nặng mây mưa

Băn khoăn mãi tự ngày xưa đến giờ

Hôm nay tôi mới trở về

Đi tìm câu hát hội hè năm nao

Giải lưng xanh, mảnh yếm đào

Người ơi câu hát ngày nào còn không?

Nén trầm theo ngọn gió đông

Người ơi câu hát bên sông đã về.

 

BÀI THƠ VỀ MẸ

(Tặng các bà mẹ có con là liệt sĩ)

Khi tôi ra mặt trận mẹ không dám khóc

Sợ con buồn rồi mẹ lại buồn thêm

Mẹ khẽ vén lại tấm khăn buộc tóc

Có ai ngờ trắng hết chỉ một đêm

 

Mẹ dặn dò, rồi lại dặn dò thêm

Việc non nước với con là nghĩa vụ

Dù gian khó phải kiên gan bám trụ

Đánh quân thù cả nước đã không lui…

 

Hãy thương ta để cho mẹ ta vui

Bởi của mẹ cái gì cũng quý

Và hãy giữ, dù chỉ là một tý

Chút thịt xương mẹ gửi gấm vào ta

 

Đừng bao giờ tùy tiện xa hoa

Thịt xương mẹ mà ta đang giữ

Chín tháng hoài thai, một ngày ở cữ

Mẹ vui cùng con, mẹ sống cùng con

Ta biết ta còn nợ với nước non

Không thể vì mình, cân đong nặng nhẹ

Và như thế nỗi buồn của mẹ

Đã bao lần, các con đã từng quên

 

Ngày trở về, da thịt chẳng vẹn nguyên

Mẹ chợt khóc, nắn sờ từng chỗ một

Trên gò má, nước mắt lăn từng giọt

Bao anh em trong xóm đã không về…

 

Khi con đi cũng chỉ một lời thề

Hiến xương máu để mong ngày độc lập

Đem cuộc sống vô cùng cao đẹp

Tặng cho đời bằng chính sự hy sinh

 

Con trở về, lòng vẫn đinh ninh

Xương thịt, tâm hồn đã dành cho đất nước

Ngày mai tới chẳng thể nào dừng bước

Mẹ có buồn … khi con mẹ đã hy sinh

 

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

MÁY CHỦ ĐI ĐÂU

Tự nhiên máy chủ đi đâu

Kiếm vài chục bận ngõ hầu vẫn không

Kiểu này có lúc mất công

Mấy năm rồi lại chẳng trông thấy gì

Mới hay mọi chuyện lạ kỳ

Xảy ra bất chợt lắm khi phiền lòng

 

Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

 

GỬI AN TUYÊN

(Nghe hát Bến Xưa của Lê An Tuyên)

Thêm một lần tôi gặp lại dòng sông

Từ câu hát của cô gái ấy

Khoảng lưu lạc dù xa biết mấy

Mà dòng sông vẫn cứ gọi em về.

Câu hát yêu thương, câu hát bộn bề

Làm tức tưởi bao lòng người xa xứ

Bao câu giặm nối nhau từ quá khứ

Cứ dịu dàng tuôn chảy với dòng sông.

Đã bao lần trên sóng mênh mông

Tôi ra trận trên dòng sông ấy

Tim yêu dấu đã cồn lên biết mấy

Khúc ru xa của mẹ đêm nào.

Tôi đã nghe bao câu hát ngọt ngào

Chỉ câu hát em ru tôi vào đời thực

Để thêm nữa bao yêu thương hết mực

Lại một lần đến với thơ tôi.

Ơi dòng sông, dòng sông cứ trôi

Lòng người mãi chẳng dời chẳng đổi

Như em đó, bao câu ca nóng hổi

Một tình yêu da diết gửi cho quê

Đêm tan rồi…câu hát mãi say mê

 

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

HOA VÀ THƠ XUÂN ẤT MÙI (2015)

 

Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2015

QUA NHỮNG MIỀN QUÊ

THƯ

(Họa thơ Nguyễn Thị Kim Tuyên)

Bất chợt nao lòng nhớ mẹ cha

Anh em cách trở bạn bè xa

Tàn đêm mòn mỏi chờ sao rụng

Trọn sáng âm thầm đợi nắng pha

Bến giác chập chờn trăng hạ sáng

Đường thơ khấp khểnh gió thu lòa

Cù lao chín chữ sao quên được

Ai đó vương tình trong mắt ta.

 

CHÍ LINH MÃI NGUYÊN XANH

Một vùng đồi núi đẹp như tranh

Tụ hội bao nhiêu chuyện tốt lành

Phả Lại, Lục Đầu từng nức tiếng

Côn Sơn, Kiếp Bạc đã vang danh

Muôn nơi tụ hội gom công đức

Khắp xứ chia nhau sức tạo thành

Nhân kiệt địa linh chừng đã mở

Chí Linh muôn thuở mãi nguyên xanh

 

KINH BẮC

Qua phà Đồng Việt một chiều xuân

Kinh Bắc thì ra cũng rất gần

Ruộng lúa trải dài liền một thửa

Vườn hoa san sát nối chung sân

Nhà xưa vời vợi vươn cao nữa

Ngõ cũ thênh thang mở rộng dần

Chắc hẳn mai đây còn đổi khác

Hơn nhau gấp đến bốn năm phần

BẮC GIANG

Trở lại Bắc Giang buổi sáng nay

Đất xưa có dịp được phô bày

Vành đai Như Nguyệt ngăn quân Bắc

Đồn cứ Phồn Xương chặn lính Tây

Tiếng súng Quan Đề rung chuyển núi

Bài thơ Thái Uý xé tan mây

Mới hay muôn ngả đường ta đến

Lịch sử cha ông rạng rỡ thay

 

TRỞ LẠI VĂN AN

Vui chân trở lại với Văn An

Đồi núi chen nhau nắng ngập tràn

Trên đỉnh thông tơ xanh biếc biếc

Dưới khe vải chín đỏ chan chan

Suối rêu cuồn cuộn sôi màu bạc

Cầu đá chon von hắt ánh vàng

Muôn cảnh hiện ra ngay trước mắt

Đền thầy giờ cũng đã khang trang

 

THĂM ĐỀN KHÚC THỪA DỤ

Nước non Đại Việt bốn ngàn năm

Ngoại thuộc đan xen với nội xâm

Mấy cuộc tồn vong chưa hết giận

Bao lần thành bại vẫn còn căm

Vua Bà quyết chí đòi trả hận

Khúc Chủ kiên gan gắng lập thân

Quyết nắm trong tay nền tự chủ

Quang vinh cho nước phúc cho dân

 

CẢM XÚC ĐỀN THIÊNG

Phượng Sơn xanh biếc ngất trời mây

Núi vẫn còn in bóng dáng thầy

Son Giếng lờ mờ sương phủ kín

Miết Trì rậm rạp cỏ giăng đầy

Bia xưa bày tỏ câu trung liệt

Đền mới suy tôn đạo nghĩa dày

Thất trảm sớ văn trùm khí phách

Tưởng như còn vọng mãi nơi này

 

ĐỔI THAY

Trở lại Quất Lâm buổi sáng nay

Tưởng đâu xa cách mấy ngàn ngày

Sau lưng đồng ruộng vừa gieo cấy

Trước mặt phố phường mới dựng xây

Mặt biển bao la vàng dưới cát

Bầu trời bát ngát biếc trong mây

Quê ta phấn khởi theo lời Đảng

Cảnh sắc giờ đây đã đổi thay.

 

THĂM LẠI THĂNG LONG

Đã lâu mới lại đến Thăng Long

Một chút thăm chơi chẳng thoả lòng

Tĩnh lặng đền xưa trong lá biếc

Bồng bềnh cầu cũ dưới gương trong

Hình rùa gửi lại gò thần tích

Kiếm báu gieo vào nước trắng bong

Đất thánh ngàn năm đang đổi mới

Đợi người về với hội non sông.

 

HỒ GƯƠM TỨC SỰ

Sợi liễu bên hồ lãng đãng rơi

Nền gương phẳng lặng nước chơi vơi

Trên gò tháp cũ thong dong đứng

Dưới nước thần quy lặng lẽ bơi

Ngọn bút giương lên nền tím biếc

Chân nghiên trụ lại giữa mặt đồi

Ngàn xưa muốn gửi vào thiên cổ

Khí phách cha ông động đất trời

 

TRỞ LẠI CỔ LOA

Mấy chục năm rồi mải đó đây

Xuân nay về lại với nơi này

Thành x­ưa chặn giặc đang còn dấu

Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy

Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín

Đền càng đầy chặt khói hương bay

Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất

Mặc những hòn tên cắm tại đây

 

THĂNG LONG NGÀN TUỔI

 (Hoạ bài Dấu ấn thời gian)

Khởi nghiệp Lý triều cũng đã an

Dời đô thảo chiếu gắng chu toàn

Nhờ sông nối mạch xây giang trấn 

Cậy núi khơi nguồn dựng ải quan  

Lập trận luỹ thành nhanh chốt chặt

Bán buôn đường xá dễ tuần hoàn

Thăng Long ngàn tuổi đang dần tới

Rực rỡ huy hoàng khắp thế gian.

TÌNH THƠ

Thăng Long rực rỡ dưới vầng dương

Nối mạch thi thư mở luật Đường

Người mến núi Nùng tâm rực sáng

Ta yêu sông Nhị chí ngoan cường

Khơi nguồn trí tuệ từ muôn hướng

Dẫn lối nhân văn đến bốn phương

Hà Nội ngàn năm hùng khí vượng

Tình thơ lai láng sáng như gương.

 

SÔNG CÁI NƯỚC CẠN

(Năm 2010 sông cạn còn 0,5m)

Sông Cái năm nay đã cạn rồi

Sắn quần nhón gót lội qua thôi

Dưới sâu mới biết nhiều bùn vữa

Trên mặt thì hay lắm cát bồi

Nước ít cá tôm càng khó ở

Dòng đầy rác rưởi dễ dàng trôi

Bao giờ mưa xuống qua cơn hạn

Bốn phía dâng tràn sóng cuộn sôi.

 

CHÍ LINH SÔNG ĐUỐNG

(Nhân về dự hội thơ Sông Đuống)

Lại nghe Sông Đuống sóng trào sôi

Khắp chốn quê hương đổi mới rồi

Đường phố xôn xao xe trẩy ngược

Dòng sông rộn rã chuyến tầu xuôi

Miền quê thanh lịch vươn tầm mới

Muôn khúc Đường thi lại nảy chồi

Một áng thơ vui mừng chúc bạn

Chí Linh Sông Đuống mãi chung đôi

 

NGÃ BA DÂU

Lại về ngắm cảnh ngã ba Dâu

Sông Đuống mênh mang sóng bạc đầu

Không dễ tìm ra miền rộng hẹp

Chẳng sao dò nổi chỗ nông sâu

Phù sa bồi đắp tươi cây trái

Nước mát tưới tiêu đẹp lúa mầu

Vườn ruộng được mùa vui mở hội

Quê hương từ khó đã nên giầu

 

TÌM DẤU NHẠN LOAN

(Nhân Huệ mùa nước mới)

Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè

Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe

Ruộng ngô cao sản chen trên bãi

Đàn cá mè hoa lượn dưới khe

Nhà cửa mới làm vôi trắng toát

Vườn cây vừa tạo quả xanh lè

Bến thuyền ngày ấy không còn nữa

Làng xóm yên bình dưới bóng tre

 

NGUYỆT HỒ

(Kính dâng nữ sĩ Hồ Xuân Hương)

Trở lại Mù Sương nhớ Nguyệt Hồ

Gió chiều lồng lộng sóng lô xô

Vui câu Quạt mát đùa quân tử

Xót khúc Tình đau khóc liễu bồ

Mượn cảnh đẩy đưa trò hý lộng

Thay hình bài bác thói dâm ô

Mấy ai hiểu được lời kiêu bạc

Mà cái tình chung vẫn khát khô.

 

VÀO HANG THÁNH HÓA

 (Nhớ thơ nứ sĩ Hồ Xuân Hương

Bà bảo vào hang Thánh Hoá coi

Xem xong chả hiểu sáng hay lòi

Đây hầm cổ tích hương dìu dịu

Kia ổ nguyên sơ vị mặn mòi

Rậm rạp bày ra ngăn quấy đảo

Lam nham khép lại cản săm soi

Dở hay cũng bởi trời sinh thế

Thiên hạ từng chê khéo hẹp hòi

 

VỀ VỚI CHỢ VIỀNG

(Viết ở Chợ Chùa Nam Trực)

Qua tết về quê xuống chợ Viềng

Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng

Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo

Vợ dặn tìm cho một cái kiềng

Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi

Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng

Cả năm mới có ngày thư giãn

Cũng phải khao mình tí cái riêng

 

CÁO LỖI VỚI QUÊ HƯƠNG

(Kính tặng quê hương Nam Trực)

Bươn trải bao năm ở chốn xa            

Về hưu cáo lỗi với quê nhà

Chưa cho Đồng Quỹ chuông rền tiếng

Chửa để Nam Giang thép trổ hoa

Đất Trạng thanh liêm còn nhắc trẻ

Quê Vua uy dũng vẫn khuyên già

Làm con xứ ấy nhiều danh giá

Càng phải vươn lên mới xứng là...

 

CỔ THÀNH

Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành

Một vùng khảo cứu uốn vòng quanh

Hoa văn tảng cũ còn nguyên vẹn

Nét khắc bia xưa vẫn rõ rành

Móng gạch nối nhau dăm bẩy lớp

Giếng xây chồng chận bốn năm vành

Mới hay quá khứ còn in đấu

Lịch sử nằm sâu dưới Cổ Thành

 

BÌNH DƯƠNG VÀO HẠ

Vừa mới qua xuân đã hạ rồi

Khắp vùng nắng nóng tựa như sôi

Đôi con máy gặt vừa mới sắm

Mấy chiếc công nông đã sửa rồi

Lúa chín rải vàng trên mặt ruộng

Ngô già nhuộm đỏ cuối chân đồi

Mùa về cứ ngỡ như vào hội

Làng xóm hân hoan nở nụ cười

 

HƯƠNG CỐM

(Tặng Phước Tảo tác giả Hương Cốm)

Hương Cốm bay xa ngát cả chiều

Quý nhau xin chắp mấy vần yêu

Hà Trung thuở ấy mầm tươi thắm

Thiệu Hóa hôm nay trái chín nhiều

Tính thợ chỉn chu lo mọi sự

Tình thơ trọn vẹn thấu bao điều

Mới hay vàng ngọc trong bao vải

Hương Cốm bay xa ngát cả chiều

 

ĐẾN TUẦN CHÂU

Lại về vãng cảnh đảo Tuần Châu

Bốn phía mênh mang sóng bạc đầu

Nhà nghỉ dập dìu người bốn biển

Cửa hàng tấp nập khách năm châu

Bầu trời cao tít tình thơ mộng

Mặt đất bao la cảnh đẹp giầu

Đất nước yên bình trong độc lập

Vui thơ đặt bút viết đôi câu

 

NGẪU HỨNG NGÀY HƯU

(Nhớ về một thuở làm nông)

Công việc hình như vẫn đợi mình

Về hưu còn bận kế mưu sinh

Sáng ra tưới đạm ngô Bờ Sẻ

Chiều đến phun sâu lúa Cửa Đình

Đường xá đắp bồi đà trọn vẹn

Máng mương nạo vét đã phân minh

Bên đầm bát ngát mùa sen nở

Mượn bút gieo thơ tỏ chút tình

 

ĐÈO NGANG TỨC SỰ

Xe tới đèo Ngang nắng chửa nhoà

Đường hầm mới mở gọi vào ra

Thênh thênh mặt nhựa xe lăn bánh

Bát ngát đồi xanh mía trổ hoa

Trước mặt xôn xao phường mới mở

Sau lưng nhộn nhịp xóm thêm nhà

Lối xưa vắng vẻ không còn nữa

Tức cảnh đôi câu tặng bạn già...

 

NHỚ VỀ PHỐ CŨ QUÊ NHÀ

(Nhớ về Hà Nội xuân 2008)

Đã trải phong trần khắp bốn phương

Vẫn không quên nổi những con đường

Nhạt nhòa cầu cũ vầng trăng rụng

Lấp loáng hồ xưa giọt nắng vương

Tháp Bút chọc trời che bóng nắng

Đài Nghiên trải rộng tỏa hơi sương

Một thời kỷ niệm bao nồng ấm

Để lại trong lòng vạn nhớ thương

 

THƯƠNG QUÊ GẶP NẠN

(Kính tặng quê hương Nam Định)

Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà

Bão liền mấy trận thảy đều qua

Vuông tôm mới đắp không còn vết

Chạt muối chưa thu đã chảy xoà

Sức vóc bao nhiêu giờ mất cả

Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà

Đành rằng hoạn nạn đâu không thế

Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà

 

QUA BÃI KHÁCH XƯA

Mỗi ngày một trạm đã đi qua

Rừng rậm toàn cây chẳng có nhà

Võng vải treo lên đu bổng tít

Hoàng Cầm bếp đỏ khói luồn xa

Gió Lào thốc xuống ròn lưng áo

Sương muối trùm lên trắng mặt ga

Bãi cũ chiều nay không có khách

Lờ mờ dọc suối lối chân qua

 

TRỞ LẠI CỔ LOA

Mấy chục năm rồi mải đó đây

Xuân nay về lại với nơi này

Thành x­ưa chặn giặc đang còn dấu

Giếng cũ gieo châu nước vẫn đầy

Chợ chẳng vơi đi mùa trám chín

Đền càng đầy chặt khói hương bay

Nỏ thần ngày ấy đi đâu mất

Mặc những hòn tên cắm tại đây

 

VỀ YÊN DŨNG

Núi chắn sông ngăn cũng cứ qua

Mưa dầm gió lạnh có chi là

Vui duyên các cháu om xòm cỗ

Mừng gặp anh em ríu rít quà

Phố núi quanh co đèo với dốc

Làng sông bịn rịn mảng cùng phà

Yêu nhau quý mãi câu tình nghĩa

Một tý gian nan chẳng đáng mà

 

NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN

Dạo bước đi quanh khắp mặt đồi

Từng hàng thẳng tắp trắng màu vôi

Những dòng tên tuổi im không nói

Năm tháng thời gian lặng lẽ trôi

Nhớ lúc xông pha nơi chiến trận

Mà lòng chẳng ngại máu xương rơi

Ngàn năm còn đó câu oanh liệt

Mãi vẫn xanh nguyên giữa cõi đời

 

DÂNG LỄ ĐỀN CAO

Đền xưa yên lặng dưới vòm cây

Mái ngói rêu phong lá phủ dầy

Cỏ biếc lan quanh bờ đá mỏng

Cành lim phủ kín bậc hiên gầy

Đôi dòng lịch sử in trên bảng

Mấy cuốn văn thơ để trước quầy

Ngàn vạn gái trai về rước hội

Tưởng mùa xuân cũ lại về đây.

 

THĂM AM MỴ CHÂU

Việc nước đau sang cả việc nhà

Chuyện ngàn năm cũ đã đi qua

Cô đơn gốc đá trên nền tối

Lạnh ngắt am con buổi nguyệt tà

Mấy kẻ gian tình đi mất cả

Còn đây nợ đá một thân bà

Hồn thiêng xin hãy kêu thành tiếng

Để nợ duyên xưa cháy trước nhà

 

QUA BẾN SONG HỒ

Bến cũ Song Hồ sắp trở qua

Lơ thơ mấy khách đứng chờ phà

Vẻ xanh đổ xuống làn sông vắng

Sắc điệp tô lên mảng ánh tà

Lất phất tranh sơn treo trước cửa

Chơ vơ bó giấy dựng cuối nhà

Băn khoăn ướm hỏi người năm cũ

Còn bán tranh xuân được mấy tờ  

           

VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

Vạn lý non sông dựng luỹ thành

Lên cao xuống thấp cuốn vòng quanh

Chon von đỉnh núi mây giăng đỏ

Bát ngát chân trời cỏ trải xanh

Thảng thốt lòng khe con nước chảy

Bâng khuâng bậc đá mái đồn canh

Mang mang khí trận dường chưa tạnh

Xe cá về kinh gió vẫn tanh

 

HỒ GƯƠM TỨC SỰ

Sợi liễu bên hồ lãng đãng rơi

Nền gương phẳng lặng nước chơi vơi

Trên gò tháp cũ thong dong đứng

Dưới nước thần quy lặng lẽ bơi

Ngọn bút giương lên nền tím biếc

Chân nghiên trụ lại giữa mặt đồi

Ngàn xưa muốn gửi vào thiên cổ

Khí phách cha ông động đất trời

SÓNG LỤC ĐẦU

Một dải mênh mông sóng Lục Đầu

Sáu dòng trong đục chảy vào nhau

Lênh đênh dưới bến dăm thuyền cá

Thấp thoáng trên sông một nhịp cầu

Thuỷ trận năm xưa không thấy nữa

Chiến thuyền thuở ấy đã về đâu

Còn ai biết được ngàn năm trước

Gươm giáo rơi đầy tận đáy sâu

 

ĐỀN CHU VĂN AN CẢM TÁC

Núi Phượng chiều nay đỏ sắc cờ

Đền đài mới dựng giữa hoang sơ

Trường xưa hoa nở trò đang đợi

Điện mới thông reo khách vẫn chờ

Sửa đức can người lo vận hội

Khơi nguồn dạy trẻ tạo duyên cơ

Bên tường vẫn đó dòng xuân cảm

Đạo thánh gieo mầm vạn tứ thơ

 

THĂM LẠI THĂNG LONG

Lâu nay mới lại đến Thăng Long

Một chút thăm chơi chẳng thoả lòng

Tĩnh lặng đền xưa trong lá biếc

Bồng bềnh cầu cũ dưới gương trong

Hình rùa gửi lại gò thần tích

Kiếm báu gieo vào nước trắng bong

Đất thánh ngàn năm đang đổi mới

Đợi người về với hội non sông.

 

THẠCH BÀN

Rạch đá xô nghiêng nửa mái đồi

Thạch Bàn tựa núi đứng chơi vơi

Hài hoa mấy dải treo ngang vách

Tiền giấy từng phên để dưới cơi

Tiếng đã từng quen danh tính phật

Lời nghe vẫn cứ dáng hình đời

Nước non dẫu chỉ nơi trần thế

Lặng lẽ nơi đây một cõi trời

 

PHONG NHA

Đất Quảng vang danh đã một thời

Phong Nha cổ tích luống đầy vơi

Sông Son khép lại ôm sườn núi

Cửa Tối chìa ra hứng mặt trời

Vách đá mơ hồ hình dáng phật

Lòng khe đầy chặt dấu chân người

Hồn thơ thăm thẳm bên bờ đá

Thánh thót trần hang giọt nhũ rơi

 

KINH BẮC

(Chợ Chờ tháng 7/2007)

Cảnh xưa có lẽ vẫn nguyên sơ

Vui bước chân quay trở lại Chờ

Cổ Nguyệt năm nao tằm chín mọng

Quan Đình bữa ấy r­ượu say mờ

Phủ Từ ngó thấy hàng đầy phố

Lục Ngạn nhìn ra vải kín bờ

Kinh Bắc ngày nào giờ đã khác

Đổi thay chừng ấy thật không ngờ

 

ĐẤT RƯỢU

Ai về thăm đất Đại Lâm đây

R­ượu sắn năm nao vẫn cất đầy

Lúc nhúc trong chuồng heo đứng chặt

Xanh om mặt ruộng lúa đan dầy

Lớp trai mạnh mẽ quên mư­a nắng

Lũ gái chăm ngoan mặc tháng ngày

Thiếu thốn đói nghèo giờ trốn biệt

Nghề xưa nuôi sống cả quê này

 

PHẢ LẠI

Một vùng sông núi rộng bao la

Phường phố vươn cao điện chói loà

Bạch Nhạn bãi xưa dù chẳng thấy

Phao Sơn thành cũ vẫn đây mà

Sáu đầu tách thuỷ chia nguồn nước

Ba tỉnh giao nhau góp vạn nhà

Phả Lại hôm nay vào cuộc mới

Lòng người rạo rực khúc xuân ca

 

PHẢ LẠI 2

Bạch Nhạn giờ đây chẳng nhận ra

Thành Phao có thấy nữa đâu mà

Nhà tầng ngất ngưởng bên sườn núi

Cầu mới nằm trên sóng Lục Hà

Đất cũ anh linh trùm mọi nẻo

Người nay tuấn kiệt hợp muôn nhà

Chung tay góp sức xây quê mới

Phả Lại vươn lên bước kịp đà

HÈ VỀ TRƯỜNG CŨ

Nắng sôi mặt nước dưới lòng khe

Có nhẽ hôm nay đã giữa hè

Cái cuốc nhặt khoan sau bãi mái

Con sầu rền rĩ cuối hàng me

Ra đi trước cổng sen hồng rực

Trở lại trên sân phượng đỏ loè

Bao đứa ngày xưa đâu thế nhỉ

Mình ta một bóng dưới hiên tre.

THĂM LỚP Ở NƠI ĐÌNH CŨ

 (Cổ Loa 10-2001)

Cây đa ngàn tuổi mất từ lâu

Mái ngói chùa xưa đã bạc màu

Bàn gỗ, ghế băng tìm chẳng thấy

Bảng đen, trống cái cất vào đâu

Mặt, mày thủa ấy còn măng sữa

Cằm miệng năm nay đã sẵn râu

Mới đó giờ thành già lão cả

Một đời xem thấy thật là mau.

 

PHỐ LỌC CẢM TÁC (1)

Chợ Lọc chiều nay hoá phố rồi

Nhà tầng san sát trắng màu vôi

Năm nào chốt chặn đồn giăng kín

Giờ đã thông đường chợ khắp nơi

Làng xóm từng thừa người đói rách

Sân đình chẳng hiếm bọn ăn hôi

Quê hương cụ Tố không buồn nữa

“Đông Xá” giờ đây đổi mới rồi.

 

PHỐ LỌC CẢM TÁC (2)

(Lấy ý từ Tắt đèn Ngô Tất Tố)

Phố Lọc chiều xuân lãng đãng say

Dòng sông uốn lượn dưới vòm cây

Năm nào đầy rẫy đời tăm tối

Giờ đã không còn kiếp đắng cay

“Nhà Dậu” chửa quên từ thủa ấy

“Đình làng” còn nhớ đến hôm nay

Tuần, Cai, Lý, Nghị “mùa sưu thuế”

Gió mới huy hoàng đã cuốn bay.

 

PHỐ LỌC CẢM TÁC (3)

(Lấy ý Tắt đèn Ngô Tất Tố)

Chợ Lọc chiều nay hoá phố rồi

Nhà tầng san sát trắng màu vôi

Sân đình ngày ấy đầy gông trói

Những Nghị hôm nay đã hết thời

Nhà Dậu từng thừa mùi đói rách

Huyện đường đâu thiếu vị tanh hôi

Quê hương cụ Tố không buồn nữa

“Đông Xá” giờ đây đổi mới rồi.

 

QUA CẦU ĐÒ QUAN

(Nam Định 6/2007)

Bến cũ làng xưa chẳng thấy đâu

Đoàn xe cuồn cuộn lướt qua cầu

Ra đi mười tám xanh con mắt

Trở lại năm mươi bạc mái đầu

Đất mẹ quanh năm hồn gọi nhớ 

Quê cha suốt tháng dạ kêu sầu

Giận người đi mãi nơi xa vắng

Mê mải bên trong vạn sắc màu.

 

ĐỀN GỐM

Tướng lĩnh thương nhân chỉ một ông

Nửa thì tư lợi nửa thì công

Bến Triều còn đó đền còn đó

Chứng cứ thì không án cũng không

Câu chuyện lưu truyền chưa chắc đúng

Đôi dòng chép lại khó mà thông

Quân lương, hàng hoá đâu là thực

Ai có tinh tường giảng hộ ông.

 

THĂM CHÙA SÙNG NGHIÊM

Sùng Nghiêm mới được sửa sang xong

Tượng phật uy nghiêm đủ các phòng

Hộ Pháp khổng lồ ngồi trấn cửa

Thích Ca nhỏ bé ngự bên trong

Như Lai phật tổ ôm thiền toạ

Tam Thế dăng hàng dõi mắt trông

Cực lạc kìa ai đang đợi đó

Mới tu một kiếp khó mà thông

 

ĐI HỘI LIM

Hội Lim vừa mở rõ là to

Quan khách đã đông lại lắm trò

Nón thúng quai thao đầy dưới bến

Áo the khăn xếp rợp trên đò

Người về dự hội vui câu hát

Kẻ đến chơi xuân thích giải cờ

Mỗi cảnh, mỗi tình tuỳ ý bạn

Riêng mình gửi lại một vần thơ

 

GỖ KHẢM LIÊN HÀ

Lưu truyền vốn cổ tự ông cha

Khảm tỉa soi châm vẫn nếp nhà

Rồng cuốn hổ nằm thâm sắc gụ

Công xoè phượng múa đỏ vân hoa

Mắt thầy khéo tạo hình muông thú

Tay thợ quen đ­ưa nét kỷ hà

Chợt thấy hồn thơ trong thớ gỗ

Lung linh huyền ảo xứ Liên Hà

MỪNG QUẢNG NINH

(Mừng hội thơ Quảng Ninh)

Đất Quảng thư hùng tự thuở xưa

Lời nào ca tụng để cho vừa

Biển thơm rồng xuống gieo linh khí

Đất quý than về thắp ước mơ

Trải cuộc kiếm tìm miền thắng tích

Dục thời mở cửa cõi hoang sơ

Giao lưu hội ngộ đôi lời xướng

Mừng bạn hôm nay mở hội thơ.

 

ĐẾN HỘI THU CHÍ LINH

Chí Linh thu đến mướt màu xanh

Muôn giọng đàn ca giữa đất lành

Phả Lại Lục Đầu từng nức tiếng

Côn Sơn Kiếp Bạc mãi vang danh

Cha ông kiến tạo dày công đức

Con cháu mở mang tỏ tấc thành

Nhân kiệt địa linh càng rực rỡ

Một vùng sông núi đẹp như tranh.

 

GỬI VỀ ĐẤT MỎ QUẢNG NINH

Đất thợ từng quen nói thật tình

Chẳng ưa phù phiếm với hư vinh

Câu thơ thấm thía gieo lòng bạn

Khúc hát say sưa tỏ chí mình

Lưỡi búa bổ vào nền đá rắn

Ngọn đèn rọi xuống máng than tinh

Một đời bận rộn vui cùng mỏ

Còn mãi muôn sau một dáng hình

 

CẢM TÁC ĐƯỜNG LÊN ĐẤT MỎ

Vòng xe cuồn cuộn lướt như bay

Một chặng đường vui sắp đến đây

Gặp bạn dạt dào câu chuyện kể

Tìm thơ rạo rực ngấm men say

Mây trời non nước còn nguyên vậy

Phố xá làng quê đã đổi thay

Đất mỏ than nồng  hương toả ấm

Biển xanh sóng dậy cánh thơ bay

 

CHIỀU VẮNG

(Sông Thái bình 9/2008)

Chiều như làn gió chảy sang đông

Đàn vịt theo sào đổ xuống sông

Lò đất  nhấp nhô un dưới khói

Bè tre lưng lửng cất trên không

Phải người năm trước vừa đi khuất

Để khách năm nay vẫn ngóng trông

Chiều vắng kìa ai còn đứng đó

Mắt nhìn muôn dặm tới mênh mông

 

CẢM XÚC SAO ĐỎ

(Hoạ thơ Nguyễn Tam Kỳ)

Thị trấn thanh xuân mới buổi nào

Thời gian thấm thoắt có là bao

Bước chân đi tới đường thêm rộng

Ánh mắt nhìn sang phố đã cao

Chợ mới hàng lên dòng cuộn chảy

Trường vui trẻ đến sóng sôi trào

Ba mươi năm ấy miền quê núi

Rực cháy huy hoàng một Ánh Sao.

GỬI VỀ NAM SÁCH

(Kính tặng PN thơ Đường Nam Sách)

Mười năm bền chí với thơ Đường

“Bóng nước Kinh Thầy” thắm sắc hương

Đạo cốt thanh tao lời thánh thiện

Ý tình nhuần nhã dáng phong sương

Nhân văn phẩm hạnh vừa khai mở

Trí lực tâm tư đã khác thường

Một áng thơ mừng đầy ngưỡng mộ

Gửi về Nam Sách vạn yêu thương.

 

QUÊ LÚA THẮM SAO CỜ

Chúc cho Thanh Miện mãi tươi thơ

Truyền tụng danh thơm khắp bến bờ

Nam, Bắc hai miền luôn rực sáng

Tùng, Giang đôi xứ chẳng phai mờ[1]

Đạo người nền nã luôn yêu quý

Thế đất thanh tao mãi phụng thờ

Tiếp bước người xưa luôn cố gắng

Dựng xây quê lúa thắm sao cờ.

 

HÀO KHÍ ĐÔNG A

Hào khí Đông A rực lửa hồng

Một thời oanh liệt của cha ông

Bình Than khai hội bàn mưu kế

Vạn Kiếp dàn quân lập chiến công

Cự Nguyệt thây thù phơi kín đất

Bạch Đằng xác giặc nổi đầy sông

Ngàn năm danh tiếng còn vang mãi

Hào khí Đông A rực lửa hồng

 

MÙA SAU

Sớm nay nắng ấm đã về đây

Đồng đất miên man những sá cầy

Mạ rắc trong năm vừa đủ tuổi

Đất bừa giáp tết kịp trang lầy

Ruộng Phao nước mát chan bờ thửa

Đồng Thuỷ mạ xuân đã mọc dầy

Chính phủ gửi cho nguồn giống mới

Mùa sau lúa tốt vạn kho đầy

 

VUI THƠ VỚI BẮC GIANG

Theo bạn vui thơ tới Bắc Giang

Sông Thương mời khách quý như vàng

Luật đường chặt túi ngâm kỳ thích

Thịt chó đầy mâm chén tới quang

Mở cuộc tao phùng cho lắm khách

Hẹn kỳ sinh nhật để thêm trang

Quý nhau đâu kể to hay bé

Xa mấy thì ta cũng cứ sang

 

VIẾT Ở CHÙA ĐỒNG 1

Mù trắng bao vây kín bốn bên

Đỉnh cao im lặng giữa thâm nghiêm

Mái đồng gội nắng xoa đen bóng

Mặt đá sương dầm cạnh sắc thêm

Cung điện ngoái đầu không thấy nữa

Biên cương trước mặt đã giăng lên

Ngàn năm sắp sửa trôi qua mất

Nhân thế dường như chửa láng quên

 

VIẾT Ở CHÙA ĐỒNG 2

Đỉnh cao vời vợi đứng uy nghiêm

Sương xuống giăng che kín bốn bên

Mặt đá dầm mưa càng thấy lạnh

Mái đồng gội nắng ngỡ thêm đen

Biên cương trước mặt đang gần tới

Cung điện sau lưng đã cách thêm

Dáng phật hiện về từ quá khứ

Bâng khuâng dừng bước ngắm chùa thiêng

 

NHỚ NHỮNG HỘI QUÊ

(10/12/2009)

Làng Diềm vào đám say quan họ[2]

Xứ Guột mừng mùa gọi ró lên[3]

Nỗi bạn khát khao câu hát ống

Tình ta chan chứa khúc giao duyên

Tưởng khi chung bước lên quan dốc

Nhớ lúc cầm tay cặp mạn thuyền

Mấy chục mùa xuân chưa trở lại

Hỏi người áo thắm nhớ hay quên

 

QUAN HỌ

Câu ca quan họ đã thân quen

Vào đám tìm nhau giữa đẩy chen

Nhặt nón gửi người che nắng giãi

Trao thơ tặng bạn đón trăng lên

Nhờ xuân nghĩa cũ may còn dịp

Cậy hội tình xưa mới có phen

Non nước đầy vơi ai biết hết

Bao miền yêu dấu vẫn còn nguyên

 

TAO PHÙNG KINH BẮC

Quê hương Kinh Bắc lắm tơ vương

Truyền tụng vang xa vạn dặm đường

Khúc hát mời trầu vang khắp chốn

Câu thơ gọi bạn vọng ngàn phương

Cha ông đánh giặc lừng danh tiếng

Con cháu dựng xây dậy sắc hương

Quý bạn tao phùng đôi vận chúc

Xin mời thi hữu hoạ vài chương.

  

ĐI THANH HOÁ

(Tháng 11/1966)

Con số mười ba đến xứ Thanh

Xa xôi, ta địch vẫn giao tranh

Máy bay lảng vảng thường lao xuống

Tầu chiến lăm le vẫn đứng rình

Máy điện giữ nguồn thề chiến thắng

Hàm Rồng nối nhịp quyết hy sinh

Bỗng dưng cánh thợ thành ra lính

Lũ giặc Huê Kỳ sợ khiếp kinh

 

THĂM HUẾ

Mới gặp mà sao đã thiết tha

Sông Hương dìu dặt tiếng đàn ca

Lầu xưa nắng rót xanh màu ngọc

Vườn mới sương buông  tím sắc hoa

Thái Miếu thong dong chờ khách đến

Tràng Tiền nhộn nhịp đón người qua

Mới vừa gặp gỡ chiều thu Huế

Cứ tiếc mai ngày đã phải xa

 

THĂM ĐỀN KHÚC THỪA DỤ

Nước non Đại Việt bốn ngàn năm

Ngoại thuộc đan xen với nội xâm

Mấy cuộc tồn vong chưa hết giận

Bao lần thành bại vẫn còn căm

Vua Bà vững chí đòi trả hận

Khúc Chủ kiên gan gắng lập thân

Quyết nắm trong tay nền tự chủ

Quang vinh cho nước phúc cho dân

 

BÊN SÔNG THƯƠNG

Bến xuân chiều lặng khói xanh lơ

Dòng nước sông Thương chảy lững lờ

Thuyền lưới buông chèo nương bến đá

Đàn chim sải cánh cuốn mây tơ

Quê hương thuở nhỏ xa lăng lắc

Bè bạn thanh xuân vắng lặng tờ

Chiều xuống sương rơi càng thấy lạnh

Một mình còn lại giữa chơ vơ

 

CẢM XÚC ĐỀN THIÊNG

Phượng Sơn xanh biếc ngất trời mây

Núi vẫn còn in bóng dáng thầy

Son Giếng lờ mờ sương phủ kín

Miết Trì rậm rạp cỏ giăng đầy

Bia xưa bày tỏ câu trung liệt

Đền mới suy tôn đạo nghĩa dày

Thất trảm sớ văn trùm khí phách

Tưởng như còn vọng mãi nơi này

 

ĐỔI THAY

Trở lại Quất Lâm buổi sáng nay

Tưởng đâu xa cách mấy ngàn ngày

Sau lưng đồng ruộng vừa gieo cấy

Trước mặt phố phường mới dựng xây

Mặt biển bao la vàng dưới cát

Bầu trời bát ngát biếc trong mây

Quê ta phấn khởi theo lời Đảng

Cảnh sắc giờ đây đã đổi thay.

 

TÌNH THƠ BỀN CHẶT

 (Thơ mời hoạ)

Bắc Ninh tha thiết, mến thương ơi

Nơi đã sinh ta thuở thiếu thời

Nhớ cũ xóm làng xanh cuối bãi

Mừng nay phường phố đỏ ven đồi

Câu ca Quan họ gieo muôn điệu

Khúc hoạ Đường thi chắp vạn lời

Nhân hội tao phùng đôi vận chúc

Tình thơ bền chặt đến muôn đời.

 

GỬI THƠ VỀ HOẰNG YẾN

(Họa thơ Hồ Văn Thiện)

Thanh Hóa trong ta mãi nặng tình

Xóm thôn đồng ruộng suốt năm xanh

Ríu ran Thịnh Liệt dòng tâm sự

Xao xác Ngu Giang cánh lục bình

"Đường luật" trước sau càng ý nhị

"Bóng chiều" sáng tối vẫn phân minh

Một mai trở lại thăm Hoằng Yến

Treo mấy vần thơ trước cửa đình.

 

CỔ THÀNH

Quá khứ nằm sâu dưới Cổ Thành

Một vùng khảo cứu uốn vòng quanh

Hoa văn tảng cũ coi còn rõ

Nét khắc bia xưa ngó vẫn rành

Móng gạch nối nhau dăm bẩy lớp

Giếng xây chồng chận mấy mươi vành

Mới hay lịch sử còn nguyên đấu

Quá khứ nằm sâu dưới Cổ Thành

 

BÌNH DƯƠNG VÀO HẠ

Vừa mới qua xuân đã hạ rồi

Khắp vùng nắng nóng tựa như sôi

Đôi con máy gặt vừa mới sắm

Mấy chiếc công nông đã sửa rồi

Lúa chín rải vàng trên mặt ruộng

Ngô già nhuộm đỏ cuối chân đồi

Mùa về cứ ngỡ như vào hội

Làng xóm hân hoan nở nụ cười

 

HƯƠNG CỐM

(Tặng tác giả Hương Cốm)

Hương Cốm bay xa ngát cả chiều

Quý nhau xin chắp mấy vần yêu

Hà Trung thuở ấy mầm tươi thắm

Thiệu Hóa hôm nay trái chín nhiều

Tính thợ chỉn chu lo mọi sự

Tình thơ trọn vẹn thấu bao điều

Mới hay vàng ngọc trong bao vải

Hương Cốm bay xa ngát cả chiều

 

ĐẾN TUẦN CHÂU

Lại về vãng cảnh đảo Tuần Châu

Bốn phía mênh mang sóng bạc đầu

Nhà nghỉ dập dìu người bốn biển

Cửa hàng tấp nập khách năm châu

Bầu trời cao tít tình thơ mộng

Mặt biển bao la cảnh đẹp giầu

Đất nước yên bình trong độc lập

Vui thơ đặt bút viết đôi câu

 

NHỚ VỀ HÀ NỘI

Đã trải phong trần khắp bốn phương

Vẫn không quên nổi một con đường

Nhớ về lối cũ vầng trăng rụng

Tưởng đến vườn xưa giọt nắng vương

Bút tháp chọc trời xuyên đáy nước

Đài nghiên mở rộng tỏa hơi sương

Tình quê muôn thuở bao nồng ấm

Để lại trong lòng vạn sắc hương

 

VỀ VỚI BÌNH GIANG

Lại về dự hội với Bình Giang

Chúc thọ xuân vui khắp cả làng

Đường xá giao thông càng rộng rãi

Phố phường nhà cửa vẫn thênh thang

Đông thương lắm lúc chờ người đến

Đoài nhớ nhiều khi đợi bạn sang

Vui chuyện kể về nơi chốn cũ

Giờ đây quê mới đã khang trang

 

MONG ĐÔI CÁNH

Vừa mới nghe tin gió bấc về

Lúa xuân gặp giá chết nhiều ghê

Đầu Din mới giặm loi thoi mọc

Cuối Cửa vừa gieo lốm đốm huê

Gội gió mặt cha thường vẫn tái

Dầm mưa chân mẹ lắm khi tê

Chỉ mong ai đó cho đôi cánh

Bay vút lên trời trở lại quê

 

ĐỀN NGUYỄN TRÃI

Một dải đền thiêng giữa đại ngàn

Tế văn bài vị ngự trên ban

Một thiên tuyệt bút còn thơm mực

Muôn ngọn trầm hương khói tỏa lan

Bãi Đá tỏ mờ hình bóng hạc

Bàn Cờ ẩn hiện dáng thanh quan

Dẫu cho máu đỏ chan trên đất

Nước vẫn yên bình giặc đã tan

 

MỘT KHOẢNG THỜI GIAN

Thanh Hóa giờ đây đã khác rồi

Phố phường làng xóm mới tinh khôi

Cánh đồng thẳng tắp xanh màu lúa

Xưởng máy vươn cao trắng sắc vôi

Thọ Hạc cửa hàng càng tấp nập

Đình Hương phố chợ đã đông vui

Bước chân du khách như vào hội

Một khoảng thời gian mải miết trôi

 

TRUYỀN THỐNG ANH HÙNG

Trở lại quê Thanh buổi sớm nay

Đồng quê mới cấy lúa đan dầy

Long Quang động cũ thơ còn đó

Hòn Ngọc núi xưa tích vẫn đây

Yên Vực quê nghèo vừa dựng lại

Hoàng Long phố lớn đã đang xây

Một thời đánh giặc gương ngời sáng

Lịch sử ngàn năm chẳng đổi thay

 

TRỐNG ĐỒNG

Trống đồng thuở trước xếp nơi đây

Từng lớp hoa văn nét vẫn đầy

Thoáng thấy kinh hồn quân xứ Bắc

Chợt nghe bạc tóc giặc đằng Tây

Kim quang tóa sáng bao trên mặt

Lạc việt vây quanh nối kết bầy

Chửa kịp chạm tay vào cổ vật

Âm ba xao động cả trời mây

 

ĐỔI NGHỀ

Lại trở về thăm đá Núi Nhồi

Nhớ từ ngày tháng đã xa xôi

Tiếng mìn phá đá đau hồn núi

Ngọn khói lò nung đắng vị vôi

Rời bỏ nghề xưa buồn mấy đận

Tìm công việc mới biết bao hồi

Nghe theo lời Đảng ươm nghề mới

Phố núi giờ đây đổi khác rồi

 

TRỞ LẠI HÀM RỒNG

Mấy chục năm nay mới trở về

Hàm Rồng vẫn nối giữa hai đê

Xôn xao Đông Tác tươi làng xóm

Rộn rã Hoàng Long đẹp phố quê

Đánh giặc một thời từng dũng cảm

Dựng xây mấy  thuở lắm say mê

Ước mơ từ ấy bao trăn trở

Mấy chục năm nay mới trở về

 

CẢM XÚC TÂY GIAI

Có bao giấy mực với từ chương

Về một Tây Giai lắm đoạn trường

Dẫu gắng vì đời nuôi nghiệp đế

Vẫn hằn di hận thoán ngôi vương

Dăng dăng muôn đá chồng lên đá

Cuồn cuộn ngàn sương đọng dưới sương

Du khách dời chân còn ngoảnh lại

Trời chiều dằng dặc mối sầu thương

 

XUÂN PHẢ LẠI

Heo may đã tạnh cuối trời xa

Nắng mới soi lên vạn mái nhà

Thạch Thuỷ quất vàng mời khách tới

Thành Phao đào đỏ đón người qua

Trẻ thơ hăm hở đi chơi tết 

Phụ lão thong dong đến hội già

Phả Lại sang xuân vui rộn rã

Phố xưa đổi mới chẳng ai ngờ

 

CHÍ LINH SÔNG ĐUỐNG

(Về Sông Đuống tháng 11/2013)

Mênh mang Thiên Đức sóng trào sôi

Muôn lớp phù sa đắp bãi bồi

Đường phố xôn xao xe trẩy ngược

Dòng sông rộn rã chuyến tầu xuôi

Miền quê thanh lịch vươn tầm mới

Muôn khúc Đường thi lại nảy chồi

Một áng thơ vui mừng chúc bạn

Chí Linh Sông Đuống mãi chung đôi

 

NGÃ BA DÂU

(Về Sông Đuống tháng 11/2013)

Lại về ngắm cảnh ngã ba Dâu

Sông Đuống mênh mang sóng bạc đầu

Không dễ tìm ra miền rộng hẹp

Chẳng sao dò nổi chỗ nông sâu

Phù sa bồi đắp tươi cây trái

Nước mát tưới tiêu đẹp lúa mầu

Vườn ruộng được mùa vui mở hội

Quê hương từ khó đã nên giầu

 

GỬI VỀ XỨ NGHỆ

Gửi về xứ Nghệ một tình yêu

Nói ít mong ai đó hiểu nhiều

Héo dạ khêu mưa khi chợn rợn

Mặc lòng thả lửa lúc phiêu diêu

Khơi tình ngắm nụ khi mờ sáng

Cạn lý xem hoa lúc xế chiều

Có gặp được đâu mà ước hẹn

Nên đành mượn bút thả lời yêu

 

VẬN THƠ  BÀ CHÚA

(Nhân nghe nói về quê bà chúa)

Bà Chúa Thơ Nôm đã mất rồi

Chỉ còn cái bóng ở đây thôi

Đời trai vất vả đau bao thuở

Kiếp gái truân chuyên cực mấy hồi

Chỉ ngại người quen đòi nợ khuyêt

Lại thương kẻ lạ vướng duyên bồi

Nét quê khéo vận hòa trong cảnh

Để những miền thơ lại nảy chồi

 

CHO RỒI CHƯA CHO LẠI CHO RỒI

(Vận theo cách nói của người xứ Nghệ)

Thư này chắc sẽ đến Quỳnh Đôi

Chẳng biết cây khô có nảy chồi

Câu chữ họa vần chưa kết một

Mối giây tình cảm vẫn hòa đôi

Đã từng nếm trải miền hy vọng

Còn tưởng chi đâu đoạn tái hồi

Một tiếng tơ lòng vương ngó ý

Cầu mong muôn sự trọn cho rồi

 

TÌM DẤU NHẠN LOAN

(Nhân Huệ mùa nước mới)

Tìm dấu Nhạn Loan dưới nắng hè

Dòng sông mùa lũ nước vàng hoe

Đàn trâu gặm cỏ chen trên bãi

Lũ vịt mò tôm lặn dưới khe

Nhà cửa mới làm vôi trắng toát

Vườn cây vừa tạo quả xanh lè

Bến thuyền ngày ấy không còn nữa

Làng xóm yên bình dưới bóng tre

 

CÁO LỖI VỚI QUÊ HƯƠNG

(Kính tặng quê hương Nam Trực)

Bươn trải bao năm ở nơi xa            

Về hưu cáo lỗi với quê nhà

Chưa cho Đồng Quỹ chuông rền tiếng

Chửa để Nam Giang thép trổ hoa

Đất Trạng thanh liêm còn nhắc trẻ

Quê Vua uy dũng vẫn khuyên già

Làm con xứ ấy nhiều danh giá

Càng phải vươn lên mới xứng mà...

 

XUÂN CHIỀU

Từ chiều xuân ấy mãi tơ vương

Nào có xa chi nửa dặm trường

Xóm Lác người thưa mưa thấm áo

Sông Cầu bến vắng nắng soi gương

Bao cồn cát trắng phơi ngoài bãi

Mấy dải đay xanh kín mặt đường

Làng cũ tranh tre không thấy nữa

Nhà tầng san sát dưới màn sương

 

CHÍ LINH MÃI NGUYÊN XANH

Một vùng đồi núi đẹp như tranh

Tụ hội bao nhiêu chuyện tốt lành

Phả Lại Lục Đầu từng nức tiếng

Côn Sơn Kiếp Bạc đã vang danh

Muôn nơi tụ hội gom công đức

Khắp xứ chia nhau sức tạo thành

Nhân kiệt địa linh chừng đã mở

Một vùng hoa cỏ mãi nguyên xanh

 

GIÓ THƠM VƯƠNG

Chiều xuân đi hội với người thương

Khách đến xôn xao mọi nẻo đường

Vách đá Kỳ Lân mưa thấm lạnh

Rừng thông nảy lộc gió đưa hương

Đào hồng khép nụ phơi trong nắng

Cúc tím xòe hoa đọng dưới sương

Mắt biếc lướt sang vai áo mỏng

Tóc mây chợt xổ gió thơm vương

 

DU XUÂN QUÝ TỴ

Mặt hồ gợn sóng tím trong sương

Cây trái xum xuê kín phố phường

Rừng vải đơm hoa soi đáy nước

Vườn na nảy nụ khắp đồi nương

Vầng mây lờ lững xanh triền núi

Bóng nắng chăng tơ tím mặt đường

Lữ khách du xuân vừa cập bến

Đào mai nở rộ ngát mùi hương

 

XUÂN GIÀ

(Xuân Canh Dần)

Năm nay gặp nhuận tháng dư ra

Tết cũng thong dong chẳng vội mà

Bánh trái vừa mua đầy gác bếp

Quất đào mới sắm chật hiên nhà

Gà nuôi thóc sạch đầy chuồng đợi

Rau tưới nước trong kín bãi chờ

Thêm cháu mới sinh về quấn quít

Thảnh thơi nâng bút vịnh xuân già

 

LÊN YÊN SƠN

(Hoạ nương vần thơ Trần Thị Yên)

Trở lại Yên Sơn viếng Phật Hoàng

Đơn sơ chỉ với một tuần nhang

Mái chùa tím nhạt trùm sương trắng

Đỉnh núi xanh mơ nhuộm nắng vàng

Rừng Đá Đường Tùng cây mọc kín

Giải Oan Cầm Thực cỏ dần quang

Bước chân du khách thêm hối hả

Trở lại Yên Sơn viếng Phật Hoàng.

 

ĐỢI BẠN VỊNH XUÂN

(Họa nương vần thơ Xuân Khôi)

Đợi mãi mà sao bạn chẳng sang

Chiều nay mưa tạnh nắng hoe vàng

Rượu cần đã ngấu treo trên bếp

Thịt thỏ còn tươi buộc dưới thang

Mặc khách xôn xao về ngắm chợ

Tao nhân tấp nập tới thăm làng

Thơ xuân hứa hẹn đang chờ vịnh

Đợi mãi mà sao bạn chẳng sang.

 

ĐÊM TRẮNG

(Hoạ thơ Nguyễn Xuân Nghiệp)

Đêm trắng như khơi vạn mối sầu

Một mình trăn trở suốt canh thâu

Chập chờn trước mặt bờ gai rậm

Thấp thỏm sau lưng lạch nước sâu

Quá khứ từng qua đầy ảo vọng

Tương lai sắp đến lắm thương đau

Tiếng chuông chùa sớm vừa vang động

Lại một ban mai sắp bắt đầu.

 

VUI CÙNG THI HỮU

(Họa thơ Nguyễn Văn Hội)

Tình thơ đồng điệu có xa đâu

Cảm tạ thi huynh đã bắc cầu

Dẫu chỉ đơn sơ từ bữa ấy

Mong rằng nồng đượm mãi về sau

Gửi tình Thanh Hóa trao đôi ý

Đáp nghĩa Hải Dương gửi mấy câu

Mong sớm có thơ về với bạn

Chong đèn ngồi họa suốt canh thâu

 

NHỚ XƯA MẸ VẪN ĂN TRẦU

Tết mẹ năm nao cũng có trầu

Bình vôi tôi sẵn cất từ lâu

Cau tươi nhà hái dăm ba quả

Rễ quạch con mua hẳn một đầu

Cối cũ quai đồng tươi sắc đỏ

Chày xưa cán thép bóng mầu nâu

Đêm nao mẹ cũng ngồi bên cửa

Đợi thuốc con đưa để thử trầu.

 

ĐẾN HOÀNG THÀNH

Những tán cây cao lá biếc xanh

Soi lên vàng ửng những thân cành

Đất trăm thập kỷ còn tươi mới

Nước bốn nghìn xuân vẫn ngọt lành

Mương rãnh nối nhau thông khắp ngả

Chân tường trải rộng uốn vòng quanh

Mới hay lịch sử còn lưu dấu

Bao lớp chồng lên dưới Cổ Thành

 

XUÂN QUAY

Xuân vừa qua đó đã xuân quay

Miếng vá thời gian nối những ngày

Nửa sáng nửa chiều qua nửa tối

Chén nưng chén vực chén hằng say

Danh chờ danh đợi danh không tới

Phận đến phận đi phận chẳng may

Mỗi cuộc trần ai muôn gánh nợ

Xuân vừa qua đó đã xuân quay

 

HỎI CHUYỆN CHÙA HƯƠNG

Bến Đục bây giờ có đục không

Hay là nước cũ đã thành trong

Thuyền chờ đón khách chen dăm lượt

Khách đợi du xuân chặn mấy vòng

Vãng cảnh ngày nào còn vất vả

Thăm chùa nay cũng đã thong dong

Người làng tìm đạo giờ sao vắng

Chỉ khách đường xa đến rõ đông

 

VỀ VỚI CHỢ VIỀNG

Qua tết về quê xuống chợ Viềng

Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng

Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo

Vợ dặn tìm cho một cái kiềng

Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi

Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng

Cả năm mới có ngày thư giãn

Cũng phải khao mình tí cái riêng

 

NHẮC LỜI HẸN CŨ

Người về Phả Lại với ta chăng

Lầu gác giờ đây kín mặt bằng

Chợ đến Thành Phao hoa chặt lối

Phố về Thạch Thuỷ điện che trăng

Đồi xưa đá sỏi xanh toàn vải

Làng cũ tranh tre đỏ những tầng

Lời hẹn năm nào ai có nhớ

Người về Phả Lại với ta chăng.

 

SÓNG LỤC ĐẦU

Một dải mênh mông sóng Lục Đầu

Sáu dòng trong đục chảy vào nhau

Lênh đênh dưới bến dăm thuyền cá

Thấp thoáng trên sông một nhịp cầu

Thuỷ trận năm xưa không thấy nữa

Chiến thuyền thuở ấy cất về đâu

Mấy ai biết được ngàn năm trước

Máu giặc loang trên sóng đỏ ngầu

 

CHUYỆN CÙNG HÒN NẸ

(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)

Hòn Nẹ từ xưa vẫn ở đây

Hoàng hôn nhuộm đỏ hắt lên mây

Tiền tiêu giữ biển từng xung trận

Điểm tựa canh trời đã dựng xây

Chiến hạm rình mò trôi mất xác

Tầu bay cắn trộm vỡ tan thây

Đất liền biển đảo luôn chờ sẵn

Giặc cướp xông vào quét sạch ngay

 

ĐỌC “NỬA VẦNG TRĂNG”

(Họa thơ Nguyễn Thị Nam TĐĐV)

Hoàng hôn nhuộm đỏ cuối trời xa

Ai đó gửi thư kể chuyện già

Sáng sáng hẹn hò cùng cổ luật

Chiều chiều tình tự với cầm ca

Gắng công nén lại quên mây gió

Rán sức co về trốn nguyệt hoa

Mỗi đọc một đau đời thiếu phụ

Chỉ mong có dịp đến thăm nhà

 

HỨNG DỪA

(Nhân xem tranh Hứng dừa)

Chợ tết năm nay rõ lắm tranh

Cổ dừa trĩu quả quấn vòng quanh

Trái tơ anh hái vừa mới rụng

Váy cũ em giăng chắc vẫn lành

Ngửa mặt nhìn trời trời đã đỏ

Cúi đầu ngắm đất đất càng xanh

Kìa ai vui thú trên khuôn gỗ

Còn mãi ngàn năm một bức tranh

 

THƠ XANH

Vườn cũ sương mờ khách vắng tanh

Trăng vàng phủ kín những thân cành

Đôi ba tiếng vạc kêu sầu muộn

Dăm bảy giọng trùng réo quẩn quanh

Kẻ đã thênh thang nơi gác tía

Người còn lận đận chốn lều tranh

Giọt sương nhè nhẹ rơi trên lá

Thơ viết ngàn trang tứ vẫn xanh

 

CHIỀU QUÊ

Ruộng mới bừa xong đất mịn màng

Đồng chiều xa tắp rộng mênh mang

Chòm mây lơ lửng buông rèm trắng

Vạt nắng lung linh rải nhiễu vàng

Lốm đốm áo hoa chen lối dọc

Rập rờn nón lá xếp hàng ngang

Chiều quê bình lặng như muôn thuở

Bất chợt trong ta cứ ngỡ ngàng

 

CỐ NHÂN

Còn đó bên trời tiếng sáo ngân

Đầm sen hoa trắng nở trong ngần

Sáng neo thuyền đợi mong nhìn trộm

Đêm thức chờ trăng muốn đứng gần

Mấy độ chia tay không ước hẹn

Bao lần gặp mặt chẳng cầu thân

Nào ai biết được lòng ai đó

Đành nhẽ đau buồn gọi cố nhân

 

CÓ CÒN AI ĐÓ NHỚ TA

Gió chiều xô dạt lá sầu đông

Người cũ hình như đã lấy chồng

Bốn góc mái đình dường trĩu nặng

Một vành giếng đất cũng mênh mông

Nắng vàng ai rải đầy trên bãi

Mây trắng ai phơi kín cả đồng

Cúc dại trổ hoa bên cánh cổng

Có còn ai đó nhớ ta không

 

CHỢ BÊN SÔNG

Chợ làng vẫn họp ở bên sông

Tia nắng ban mai rực ánh hồng

Kẻ đến xôn xao dồn xuống bắc

Người về hối hả kéo sang đông

Khách mua hỏi giá say sưa ngắm

Chủ bán hả hê dõi mắt trông

Cả chợ tưng bừng như mở hội

Chợ làng vẫn họp ở bên sông

 

NHỚ HUẾ

Phố Cổ chiều thu khói nhẹ vương

Nhớ sao một thuở Huế yêu thương

Hào ngăn chiến hạm giăng ngang bến

Chốt chặn xe tăng dựng dọc đường

Thành Nội tưng bừng hoa giữa nắng

Tràng Tiền nhộn nhịp khách trong sương

Gặp nhau có nhớ đêm truy kích

Cờ đỏ tung bay kín quảng trường

 

QUA CHỢ THÀNH PHAO

Rảnh việc đi thăm chợ ngắm hàng

Cổng vào rải nhựa rộng thênh thang

Vừa qua quán trước coi quỳ tím

Lại đến quầy sau ngắm cúc vàng

Tôm cá muối dưa đầy lối dọc

Áo quần dày dép kín đường ngang

Bao giờ nâng cấp lên thành phố

Siêu thị bung ra khắp cả làng

 

Th Tư, 14 tháng 9, 2016

HỘI THẢO TRẦN TẾ XƯƠNG VỚI THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Đôi lời phi lộ

         Trên cơ sở thư mời hội thảo khoa học của Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn Phát huy văn hóa dân tộc, Hội thơ Đường luật Việt Nam và Hội Văn hóa nghệ thuật Nam Định ngày 5/7/2016 với đề tài: Tú Xương với thơ Đường luật Việt Nam. Là một người con của Nam Định luôn mong mỏi được tri ân với quê hương và đáp ứng thịnh tình các tổ chức nêu trên. Tôi đã viết bài: Trần Tế Xương - Người hình thành thơ cách luật Việt Nam. Bài viết có thể còn sơ sài rất mong các bạn có dịp ghé qua Lehoablog thể tình cho người viết.

 

TRẦN TẾ XƯƠNG

NGƯỜI HÌNH THÀNH THƠ CÁCH LUẬT VIỆT NAM

 

 

PHẦN I

BẢN THÔNG ĐIỆP VỀ CON NGƯỜI

VÀ XÃ HỘI GỬI CHO HẬU THẾ

 

I. GIỚI THIỆU CHUNG

 

Từ xưa đến giờ những người làm văn, làm thơ không ai là không có những phản ảnh về bản thân và xã hội đương thời qua tác phẩm. Trong nhiều bài viết về Trần Tế Xương cũng đã từng nói về điều đó. Đây chính là những nhân định ban đầu chứng minh cho quan điểm coi tác phẩm của ông như một Thông điệp văn học sử, phản ảnh về con người và xã hội trong giai đoạn Thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trên đất nước ta.

Nhà thơ Trần Tế Xương, tên khai sinh là Trần Duy Uyên,  sinh năm 1870 tại Nam Định và mất năm 1907. Cuộc đời ông nằm gọn trong bước đầu cuộc xâm lược của thực dân Pháp và quá trình thực dân hóa của người Pháp trong nhiều năm sau đó. Đây là giai đoạn xã hội vô cùng bế tắc và nghiệt ngã trong thiết lập độc quyền của chế độ thực dân và cuộc vật lộn của chế độ phong kiến cố vớt vát chút quyền lợi trong sự tan rã tuyệt vọng.

Chứng minh cho điều này dường như chúng ta đã tìm thấy trong Trần Tế Xương tác phẩm. Chỉ cần mảng thơ luật Đường viết bằng chữ nôm của ông đã có thể dẫn ta đi tới sự tận cùng mọi tầng lớp con người và xã hội thời đó. Điều đặc biệt hơn đó là mỗi tác phẩm của ông đều chứa đựng sự phán xét cùng những kết luận sai, đúng giúp ta có những khái niệm đầu tiên về con người và xã hội đương thời. Những gì mà ông đề cập đến chính là sự thay đổi ghê gớm của các tầng lớp quan lại, thị dân đầu tiên dưới chế độ thực dân hóa ở chính nơi ông sinh ra và lớn lên. Bên cạnh đó là phản ảnh về sự dãy dụa của chế độ phong kiến thông qua hệ thống trường thi và tầng lớp sĩ tử trong đó có chính nhà thơ.

Cũng từ các nghiên cứu về Trần Tế Xương, đa số các tác giả đều cho rằng ông có trên 170 tác phẩm văn chương với nhiều thể loại. Trong đó có 123 bài thơ theo thể luật Đường viết bằng chữ nôm cùng với  83 bài dịch thơ Đường của các nhà thơ hàng đầu của Trung Quốc qua các thời kỳ. Trong số 123 bài thơ viết theo thể luật Đường, phần lớn các bài thơ đều là thơ trào phúng với giọng điệu phê phán đến nghiệt ngã nhưng vẫn luôn mang chất trữ tình trong thơ. Về nghệ thuật làm thơ của ông thật là điêu luyện trong cách dùng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ cùng với sự chọn lọc đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam cách xa lối thơ Đường luật từ các thời đại trước đó.

Về phía tác phẩm, cũng như đã nói trên đây, Trần Tế Xương là người có chính kiến rõ rệt trong nhận định tốt và xấu. Ông thẳng tay phê phán bất kể là ai cùng với những trò hề thay đen đổi trắng mong cầu lợi cho mình, cho dù là vài đồng tiền phân bạc, đến chức vị quan lại béo bở với các thủ đoạn bòn rút bóc lột dân lành. Ông đã trào lộng đến tầng lớp cao nhất trong bộ máy cai trị thực dân như Quan sứ và mụ đầm, vợ ông ta cho đến tầng lớp thị dân vừa xuất hiện từ khi Pháp đến xâm lược nước ta.

 

II. BỘ MẶT THỰC DÂN TÀN ÁC PHẢN ĐỘNG

 

Cùng với bút pháp điêu luyện của mình ông đã vẽ nên những hình ảnh vênh vang trơ tráo và lạc lõng của các quan thực dân

 

Cờ kéo rợp trời, quan sứ đến 
Váy lê quét đất, mụ đầm ra. 

 

Chẳng những thế, đến cả lính thực dân cũng ra oai người nhà nước hạch sách và làm tình, làm tội người dân đến mức quái dị và đê tiện:

 

Hà Nam danh giá nhất ông cò 
Trông thấy ai ai chẳng dám ho 
Hai mái trống toang đành chịu dột 
Tám giờ chuông đánh phải nằm co 
Người quên mất thẻ âu trời cãi 
Chó chạy ra đường có chủ lo 
Ngớ ngẩn đi xia may vớ được 
Phen này ắt hẳn kiếm ăn to

 

III. BỘ MẶT QUAN LẠI PHONG KIẾN HỦ BẠI

 

         Bên cạnh các thế lực ngoại bang là bè lũ quan lại người Nam vừa đớn hèn vửa trơ tráo giương mắt lên nhìn nỗi nhục mất nước. Đây cũng chính là cái tròng thứ hai thít chặt vào cổ người dân bằng mọi thủ đoạn thâm hiểm và ác độc.

 

Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét 
Giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh 
Cổ cong mặt lệnh, người đâu thế  
Cái cóc bôi vôi khéo dại hình

 

Nhà thơ cũng kể ra cho ta thấy bộ mặt thật của bọn quan lại thời đó cùng với tệ nạn bài bạc, ăn chơi trụy lạc:

 

Ông về đốc học đã bao lâu, 
Cờ bạc rong chơi rặt một màu 

          Ông kể rõ những hình ảnh về bè lũ quan lại phong kiến tham lam tàn ác luôn bày đặt mưu sâu, kế hiểm, đưa người dân vào cái bẫy của chúng để rồi tha hồ vơ vét bóp nặn:

 

An Sơn tông giống người keo thực 
Bồ Thủy xưa nay của kiết à 
Đất nhị dễ thường lươn rúc ở 
Lửa nồng nên phải chuột đùn ra. 

 

Càng nhiều những bọn quan tham bỏ mặc chức phận miễn là có tiền vào túi:

 

Tri phủ Xuân Trường được mấy niên
Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên
Chữ "thôi" chữ "cứu" không phê đến
Ông chỉ quen phê một chữ "tiền"

 

           Điều mà chúng ta thấy được càng tệ hại hơn đó là một nhà nước vô trách nhiệm trước các thiên tai lụt lội, hạn hán hết năm này qua năm khác. Ta những tưởng trong tình cảnh ấy có ai đó sẽ hợp mọi người lại để chung lo chống hạn. Nhưng rồi cũng chỉ có người dân hai tay trắng đứng ra lo cái không thể làm nổi.

 

Dạo này đá chảy với vàng trôi 
Thiên hạ mong mưa đứng lại ngồi 
Ngày trước biết gì, ăn với ngủ 
Bây giờ lo cả nước cùng nôi 

         Cùng với hạn hán là lụt lội mất mùa đói kém và rồi ốm đau, chết chóc, cũng từ đó là làm ghê sợ bao người:

 

Thử xem một tháng mấy lần mưa
Ruộng hoá ra sông cỏ vật vờ
Bát gạo Đồng Nai kinh chuyện cũ
Con thuyền Quý Tỵ nhớ năm xưa

Có lẽ ông mong lắm cái sự thay đổi của trời đất, nhưng trời đất nào có thể giúp được ông. Có chăng chỉ có thể là chính quyền nhà nước có can thiệp hay không mà thôi. Có một nghịch lý đó là cá kia cũng biết cách trốn chạy hạn hán “Cá sợ ao khô vượt cả rồi” và trâu kia cũng buồn vì lụt lội “Trâu bò buộc cẳng coi buồn nhỉ” còn con người lại chẳng thể tự liệu được cho mình. Thật là chua chát cho con người phải sống trong xã hội đầy đau khổ mà không thể thoát ra được.

 

IV. BỘ MẶT TẦNG LỚP THỊ DÂN

 

Cùng với những phản ảnh của nhà thơ về tầng lớp lãnh đạo xã hội bảo thủ và vô trách nhiệm. Bức thông điệp cũng cho ta thấy đây cũng chính là nguồn gốc sinh ra mọi băng hoại về đạo đức và lối sống của chế độ thực dân, nửa phong kiến lúc bấy giờ. Đây cũng chính là nguồn gốc đẩy tầng lớp thị dân đến chỗ sa đọa về đạo đức và lối sông mà nhà thơ đã điểm qua khắp lượt trong tác phẩm của ông. Đó là những người dân không còn vườn ruộng, cố gắng bám vào xã hội bằng cách mở nghiệp bán buôn và làm các dịch vụ phát sinh trong quá trình thực dân hóa. Cũng từ đây, tầng lớp những người sống bằng nghề buôn bán bắt đầu với những trò gian giảo, lừa đảo và giả dối:

 

Ai đấy ai ơi khéo hợm mình 
Giàu thì ai trọng, khó ai khinh 
Thằng Ngô mất gánh, say câu chuyện 
Chú lái nghiêng thoi mắc giọng tình 

         Cùng với những mánh lới ma mãnh sành sỏi nhằm tranh cướp khách hàng thu lợi cho mình bất chấp mọi thủ đoạn

         

Nước buôn như chị mới ăn người 
Chị thấy ai đâu chị cũng cười 
Chiều khách quá hơn nhà thổ ế 
Đắt hàng như thể mớ tôm tươi 


          Đặc trưng của nghề buôn bán cùng với những thủ đoạn đen tối dần hình thành để rồi mọi thứ đều được cân, đong, đo, đếm bằng tiền và có phải vì thế mà xã hội đã dùng tiền mua mọi thứ và đồng tiền đã khuynh đảo đến mức ghê gớm:

 

Giàu sang âu yếm tình quen thuộc 
Bần tiện thờ ơ dạ bạc đen 
Ví khiến trong tay tiền bạc có 
Nói dơi nói chuột chán người khen.

 

       Đến cái kết quả cuối cùng chính là cái miền quê thân mật ngày xưa không còn nữa. Những người cùng làng xóm, phố phường trở thành xa lạ. Cả đến những người thân trong nhà cũng biến thành thù, mất hết giá trị của nhân bản:


Nhà kia lỗi phép con khinh bố 
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng 
Keo cú người đâu như cứt sắt 
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng 

         Cũng giống như những người dấn thân vào nghề buôn bán, những người làm các công việc dịch vụ cũng buộc phải bước vào cõi sống nhơ nhớp, hy sinh nhân phẩm để có một công việc làm kiếm sống. Họ cũng học thói giả dối, lừa lọc không khác kẻ buôn bán:

 

Mình nghĩ cô mình thực gớm ghê, 
Lòng son vẫn giữ nước non thề. 
Ra tuồng gái hoá khi còn trẻ, 
Như chuyện chồng xa lúc chửa về.

 

          Cũng từ những bế tắc trong sinh kế, con người rất dễ buông trôi trượt dài trên con đường trụy lạc. Ngoài nạn cô đầu, đĩ điếm, buôn gian, bán lậu, tệ trộm cắp, lừa đảo đã trở thành phổ biến. Người ta luôn thay đổi bộ mặt của mình để lợi dụng, lửa đảo để tồn tại. Có bao nhiêu người đàn bà: 

 

Nói nói cười cười theo giọng tỉnh,

Khăn khăn áo áo giữ màu quê. 


Và cũng có bấy nhiêu người đàn ông lấy lừa đảo làm nghề kiếm sống:


Khi thì thầy số, lúc thầy lang. 
Công nợ bớp bơ hình chúa Chổm, 


           Ngay cả trong các gia đình, người đàn bà xưa từng được dạy dỗ“công dung ngôn hạnh” luôn thuộc lòng câu “tam tòng tứ đức” giờ đây cũng giả dối trác táng đâu còn hai chữ “chính chuyên":

 

Ra đường đáng giá người trinh thục 
Trong dạ sao mà những gió trăng 
Mới biết hồng nhan là thế thế 
Trăm năm trăm tuổi lại trăm thằng

 

V. BỘ MẶT TRƯỜNG THI VÀ ĐẠO HỌC.


            
Những bài thơ viết về trường thi và đạo học của nhà thơ Trần Tế Xương còn để lại đến nay đã cho chúng ta thấy được toàn cảnh chế độ thi cử đương thời  và chỉ rõ sự bế tắc của tầng lớp nho sĩ lúc bấy giờ. Với một bên là chế độ thực dân, cố gắng tiến hành thực dân hóa, một bên là chế độ phong kiến cố níu kéo lại phần quyền lợi của mình nên chế độ khoa cử cũng rối ren kéo theo nhiều hệ lụy. Họ làm sao biết mình sẽ phải học từ đâu và thi như thế nào mới đạt kết quả, trong khi:

 

Nghe nói khoa này sắp đổi thi 
Các thầy đồ cổ đỗ mau đi 
Dẫu không bia đá còn bia miệng 
Vứt bút lông đi, giắt bút chì

 

          Bên cạnh cái nền nếp thi nay thay, mai đổi, nhà thơ cũng chỉ ra sự hủ bại của chế độ thi cử đương thời. cùng với các hiện tượng tiêu cực trong dạy và học. Thật đáng ngại khi thầy chẳng ra thầy:

 

Hỏi thăm quê quán ở nơi mô  
Không học mà sao cũng gọi đồ  

..................................................
Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt 


Còn các quan lại có phận sự cai quản việc thi cử thì ngu dốt đến mức (sách như hũ nút chữ như mù) lại làm việc sơ khảo thử hỏi hay, dở rồi sẽ ra sao

 

Sơ khảo khoa này bác cử Nhu

Sách như hũ nút chữ như mù

 

      Và thật là không đáng, khi những người coi sóc chốn trường qui lại là kẻ không có học, không biết chữ gì:

 

Thánh cắt ông vào chủ việc thi 
Đêm ngày coi sóc chốn trường qui. 
Chẳng hay gian dối vì đâu vậy 
Bá ngọ thằng ông biết chữ gì

 

         Còn các sĩ tử thì lười học, dốt nát, lấy tiêu khiển ăn chơi là chính. Đây cũng chính là tệ nạn trong thi cử trong buổi nho học đang tàn tạ. Trách chi bao kẻ sĩ tử giả danh, chỉ là thi cơm rượu:

                  

Kể tuổi nhà min ngoại bốn mươi 
Văn min khấp khểnh, học min lười
Ba năm một hội thi cơm rượu 
Bốn bể nhiều anh góp nói cười 

Cũng chính từ điều này mà những người đỗ đạt thường chỉ là cậy có người thân giúp, hoặc do mua được bằng tiền:

 

Ông cử thứ năm, con cái ai  
Học trò quan đốc Tả Thanh Oai

...................................................

Thứ năm, ông cử ai làm nổi, 
Học trò quan đốc tỉnh Hà Nội 
 

Càng tệ hại hơn với bao kẻ đỗ đạt trong sự khuất tất khác trong cái sự tiêu cực nơi trường ốc rồi ra làm một thứ quan nấu rượu:

 

Hàn lâm tu soạn kém gì ai 
Đủ cả vung nồi cả cóng chai

Ví thử quyển thi ông được chấm
Đù cha đù mẹ đứa riêng ai

 

Và trớ trêu thay với những người chưa thi đã biết đỗ, họ đâu có phải thi chữ nghĩa văn chương:

 

Người ta thi chữ ông thi phúc

Dù dở dù hay ông cũng vào

 

             Từ những tiêu cực trong dạy, học và thi cử, nhà thơ Trần Tế Xương đã nhận định về sự chán chường của mọi người về đạo học mà từ bao lâu nay dân ta luôn coi trọng:                  

 

Đạo học ngày nay đã chán rồi 
Mười người đi học chín người thôi 
Cô hàng bán sách lim dim ngủ 
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi

 Sĩ khí rụt rè gà phải cáo 
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi 

 

Nhiều người cho rằng ông Tú nhiều khi cũng tự mâu thuẫn với chính mình, bởi những điều ông viết ra chứng tỏ là ông đã thấy rõ sự hủ bại của trường thi thời đó, vậy mà sao ông vẫn cố đi thi. Cái mà ta nhận thấy đây chính là cái bế tắc của tầng lớp sĩ phu thời đó. Đôi người có thể giả câm, giả điếc lựa theo chiều gió chấp nhận mất dần bản chất để đi theo. Số người có tài năng trí tuệ thực thụ thường khó chấp nhận sự đánh mất mình nên rất dễ bị đè nén bởi nguyên lý tự nhiên của thời đại. Điều này đã tác động vào chính nhà thơ Trần Tế Xương và rồi có lúc ông cũng muốn phó mặc:

 

Thôi có làm chi cái chữ nho

Ông nghè ông cống cúng nằm co

Chi bằng đi học làm thầy phán

Tối rượu sâm banh sáng sữa bò

 

          Tuy nhiên ông vẫn day dứt để rồi tiếp tục theo lối cũ. Có lẽ ông không muốn theo đuôi kẻ khác chống lại dân mình. Thôi thì đành gắng gượng giữ nguyên cái nghiệp thi cử do nhiều nguyên cớ. Một trong những nguyên cớ đó là ông mong thỏa mãn sự mong muốn của gia đình mà từ lâu rồi vẫn không có kết quả.

 

Mở mặt quyết cho vua chúa biết
Đua danh kẻo nữa mẹ cha già 



Cũng còn một việc là làm thế nào để có một chức sắc, được hưởng lương bổng sau khi thi đỗ để rồi có thêm những chi phí cho đời sống bản thân nhà thơ:

 

Cái khó theo nhau mãi thế thôi 
Có ai, hay chỉ một mình tôi
Bạc đâu ra miệng mà mong được 
Tiền chửa vào tay đã hết rồi

 

          Và điều cơ bản là làm sao có công việc làm, có tiền giúp cho gia đình vượt qua những khó khăn đến (mướt mồ hôi) và (tràn nước mắt):

 

Van nợ lắm khi tràn nước mắt 
Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi 

 

          Cũng chính từ đây ta hiểu số phận của cả tầng lớp sĩ tử thời đó sống ra sao và họ sẽ làm được gì để tự cứu lấy đời họ trong khi các tổ chức cách mạng chống xâm lược đòi quyền sống dường như đã bị tan rã do sự đàn áp của thực dân Pháp. và chính quyền phong kiến tay sai.

 

VI. KẾT LUẬN

          Trên đây chỉ là một số dẫn chứng chọn lọc nhằm khảng định công lao to lớn của nhà thơ Trần Tế Xương trong bức tranh về con người và xã hội Việt Nam trong giai đoạn thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Thực dân Pháp xâm lược và chính quyền tay sai bán nước gây ra. Người ta cũng có thể gửi lại lịch sử của một thời đại qua nhiều nguồn như nhiếp ảnh nhưng dù có nhiều hình ảnh đến đâu thì cũng chỉ cho những vẻ ngoài khô cứng, nói làm sao cho được tâm tư cảm xúc của cả một xã hội đang trong thời kỳ biến động cùng với những khủng hoảng tăm tối nhất, chơi vơi nhất mà mỗi con người phải chịu đựng. Điều muốn đề cập đến trong bài viết đó là thêm một lần khảng định các bài thơ luật Đường nằm trong tác phẩm văn học sử của nhà thơ Trần tế Xương chính là bản Thông điệp hiện thực và phong phú nhất về con người và xã hội đương thời gửi lại cho hậu thế.

 

PHẦN II

VIỆT HÓA THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

I. GIỚI THIỆU MỞ ĐẦU

 

Viết về Việt hóa thơ Đường luật đã có hàng ngàn người tham gia và có thể cũng có đến hàng ngàn tác phẩm với nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên trong hội thảo lần này của Hội Thơ Đường luật lại đặc biệt nhấn mạnh đến ảnh hưởng của nhà thơ Trần Tế Xương đối với thơ Đường luật Việt Nam. Đây là một chủ đề rất mới và có ý nghĩa vô cùng to lớn khi mà phong trào làm thơ Đường luật với phong cách Việt Nam đã thực sự trỗi dậy sau nhiều thập kỷ im hơi lặng tiếng trước các thể thơ khác đã và vẫn đang thịnh hành trên thi đàn Việt Nam.

Đặc biệt hơn là số lượng tác giả đã và đang sáng tác thơ “Đường luật” càng lúc càng đông. Chỉ cần thống kê 12 tập thơ của Hội thơ Đường luật thì đủ thấy điều đó. Chưa nói đến các thi đàn thơ Đường luật hiện đang thu hút khá nhiều tác giả trong các trang báo điện tử và trên các CLB của hàng vạn thôn bản trên đất nước này. Điều mà chúng ta cần nhắc lại đó là những lời ca thán đến mức ái ngại của nhiều nhà thơ về cái khó của thể thơ này từ nhiều năm trước. Điều này hoàn toàn không sai vì sự thực là thế, khi mà những niêm cùng luật, những vần với đối và nhất là khối lượng từ ngữ thật khó để chuyển tải các trạng thái nhân vật cùng với các hoạt động hết sức sôi động trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.

Tuy nhiên nếu đặt vấn đề cho thật đầy đủ thì phải nói từ lâu rồi các nhà thơ thời trước đã cố gắng tìm ra phong cách mới nhằm Việt hóa thể thơ này.  Những gì văn học Việt Nam nhận được đó là sự cách tân của Hàn Thuyên và Nguyến Trãi trong khá nhiều sáng tác bằng chữ nôm của người Việt. Đặc biệt chúng ta còn có Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khuyến và nhiều nhà thơ khác trong rải rác các tác phẩm thơ nôm luật Đường vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Để có thể đánh giá đúng và đầy đủ nhất phải nói đến Trần Tế Xương mới là người đưa thơ Đường luật chữ Hán thành thơ Đường luật theo phong cách Việt toàn diện và phong phú nhất trong mọi thời đại.

 

II. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC BÀI THƠ

 

           Để có thể nói về công lao của Trần Tế Xương trong Việt hóa thơ Đường luật, không thể không nói đến việc sử dụng ngôn từ tiếng Việt trong thơ ông. Người ta có thể nói các nhà thơ đều ngại dùng các từ ngữ quá gợi hoặc tục. Đến như Hồ Xuân Hương cũng chỉ bóng gió hoặc nói lái là cùng. Tuy nhiên Trần Tế Xương đã có sử dụng mạnh bạo hơn nhiều. Bên cạnh cái (tôi) dám chịu trách nhiệm, ông dùng khá nhiều các câu từ nhiếc móc, thậm chí là chửi rủa nhưng đọc lên vẫn thấy không đáng ngại. Cho đến bây giờ nhiều người còn rất ngạc nhiên vì những câu chữ ông dùng trong thơ quả là một nghệ thuật cao siêu và hoàn toàn có mặt trong ngữ pháp tiếng Việt hiện đại.

 

1. Nghệ thuật dùng từ trong thơ

  Một đặc điểm quan trọng đó là những câu thơ ông viết cứ như là kể chuyện thường ngày giữa người này với người nọ; nôm na đấy nhưng không hề tầm thường, dễ dãi.

 

Nhà nước ba năm mở một khoa,

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa

 

Hầu hết các bài thơ của ông đều sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ. Nhiều nhất vẫn là các câu ca dao, tục ngữ và các thành ngữ như: (Học đã sôi cơm, Thi không ăn ớt) hoặc các thành ngữ(Lặn lội thân cò, Một duyên, hai nợ, Năm nắng, mười mưa) trong bài Thương vợ. Đây cũng là những cụm từ quen thuộc trong giao tiếp của người Việt. Với cách này nhiều khi không cần chú thích người nghe, người đọc cũng đã hiểu ý tác giả:


Lặn lội thân cò khi quãng vắng, 
Eo sèo mặt nước lúc đò đông. 
Một duyên hai nợ âu đành phận, 
Năm nắng mười mưa dám quản công. 



Về nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ Trần Tế Xương dường như được đi qua hầu hết các biện pháp tu từ. Trước tiên là cách sử dụng ca dao tục ngữ và các thành ngữ trong thơ ví dụ như cách sử dụng từ láy: (Ngao ngán, Nhạt nhèo, khăn khăn áo áo, Bút bút nghiên nghiên) trong bài Đêm buồn. Với cách sử dụng này quả thật đã phá vỡ Ngũ độ thanh trong thơ Đường luật thời trước. Điều này cũng cắt nghĩa cho việc Việt hóa thơ Đường luật của ông.

 

Ngao ngán tình chung cơn gió thoảng 
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông 
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện 
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng 


Cách ông dùng ẩn dụ thực sự đã đạt đến sự điêu luyện trong sử dụng ngữ pháp tiếng Việt. Đương thời dường như có rất ít người làm được như ông. Như hàng loạt các câu thơ trong bài Đạo đức giả:

 

Lắng tai non nước nghe chừng nặng

Chớp mắt trăng hoa giả cách nhèm

Cũng đã sư mô cùng đứa trẻ

Lại còn tấp tểnh với đàn em

 

Nếu như thơ Đường luật Trung Quốc vận dụng sự tích và điển cố để mở rộng các ý tứ trong thơ, thì Trần Tế Xương lại dùng ca dao, tục ngữ và nhiều thành ngữ tiếng Việt để mở rộng ý thơ. Đặc biệt là phép đối ông dùng càng nhuần nhuyễn. Chúng ta có thể kể ra một số thành ngữ trong tiếng Việt mà ông đã sử dụng. Với cách dùng thành ngữ như thế này dường như đã mở ra những mẫu câu cho những người làm thơ thời nay vận dụng.

Chúng ta còn tìm thấy ở ông cách dùng từ hết sức gợi cảm nhưng cũng thật gần gũi trong giao tiếp hàng ngày như: (ngoi,  ngỏng):

 

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng

 

Những động từ (ngoi) dường như gợi cho ta thấy cái động tác cố di chuyển bộ mông ngồn ngộn của bà đầm. Hay như động từ (ngỏng) khéo nói về sự cố cất cao cái đầu của ông cử đang phải cúi gục trước các quan lại bề trên. Chính cái sự đối chọi giữa cái nơi khá “tục” của kẻ này với cái chỗ “thanh” của kẻ kia đã bật ra cái sự nhạo báng sâu cay đến độ.

 

2. Kết cấu các bài thơ

Chúng ta có thể thấy thơ Trần Tế Xương có sự khai thác rất chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối và nhất là kết cấu đề, thực, luận, kết theo quy định của trường thi trong thời phong kiến. Trong hơn một trăm bài thơ cũng có đôi chỗ trái luật (có thể do sao chép). Số các bài còn lại thực sự hoàn hảo với ba yếu tố vần, luật, đối. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là các tác phẩm của ông hoàn toàn được viết bằng chữ nôm của người Việt phù hợp với tiếng Việt giầu hài âm, nhạc tính.

 

a. Luật thơ chuẩn mực

        Về luật thơ ông luôn tôn trọng những quy tắc cơ bản của thể thơ với những bộ phận đề, thực, luận kết bao giờ cũng rõ ràng mạch lạc, không hề công thức và khiên cưỡng. Từng phần một chắp vào nhau mà không hề thấy có sự phân cách. Có thể lấy ví dụ qua bài Thiếu nữ đi tu để dẫn chứng cho kết cấu của luật.

 

Con gái nhà ai dáng thị thành 
Cớ chi nỡ phụ cái xuân xanh  
Nhạt màu son phấn, say màu đạo
Mở cánh từ bi khép cánh tình. 
Miệng đọc nam vô quên chín chữ 
Tay lần tràng hạt phụ ba sinh 
Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế
Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh


          Ngay từ đầu đề bài (Thiếu nữ đi tu) đã rất ngắn gọn đủ khái quát chủ đề bài thơ. Các câu phá đề, thừa đề đã hoàn tất việc giới thiệu về nhân vật (con gái nhà ai) cả về hoàn cảnh (dáng thị thành) và sự việc muốn nói đến (nỡ phụ cái xuân xanh).

           Với cặp thực: (Nhạt màu son phấn, say màu đạo, Mở cánh từ bi, khép cánh tình). Hoàn toàn đủ để xong phần thựccùng với phép đối ngẫu chuẩn mực bao hàm cả thực và trạng (Nhạt màu son phấn/ Mở cánh từ bi); (say màu đạo/ khép cánh tình). Chỉ cần hai từ: (say và khép) đã nói lên tất cả.

           Với cặp luận: (Miệng đọc nam vô quên chín chữ/ Tay lần tràng hạt phụ ba sinh) đã nói rõ những đúng, sai về hành vi của nhân vật trong thơ. Đây cũng là một cặp đối hết sức hoàn thiện tỏ hết được cái ý của tác giả. Cũng như cặp thực, ở cặp luận cũng chỉ với hai từ: (quên và phụ) đã đủ để kết tội người trong cuộc.

          Đến với cặp kết: (Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế, Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh) thì bài thơ đã hoàn thiện với một cái kết rất rõ ràng mạch lạc, đủ làm mẫu mực cho thể thơ này.

 

b. Các bộ vần đẹp

Về các bộ vần nhà thơ Trần Tế Xương dường như chỉ dùng vần bằng mà ít dùng vần trắc. Đây là bộ vần truyền thống của thơ Đường luật viết bằng tiếng Việt. Điểm quan trọng thứ hai là các bộ vần thường là chính vận, có rất ít các bài dùng vần gần đúng (bàng vận) hoặc các vần thông. Chính vì thế mà cả trăm bài thơ của ông đọc lên đều thấy êm ái nhẹ nhàng, gợi cảm và rất dễ thuộc.

 

Có thể lấy bộ vần trong bài Đau mắt làm ví dụ:

Bộ vần trong bài Đau mắt với các vần (inh) để có các từ: Mình, thinh, sinh,  đinh, tình. Đây là bộ vần bằng truyền thống của thơ Đường luật. Kết cấu hài thanh với đầu và kết lấy thanh huyền (trầm bình thanh). Các vần của các câu giữa đều thanh không (phù bình thanh). Đây là bộ vần giúp cho hơi thơ dàn trải, man mác hợp với cách kể lể về nỗi buồn của con người

 

Vui chẳng riêng ai, ốm một mình 
Hỏi ai, ai cũng chỉ mần thinh 
Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán 
Lại mấy hào con chú Ích Sinh 
Hỏi vợ, vợ còn đi chạy gạo 
Gọi con, con mải đứng chơi đinh 
Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ 
Gương mắt trông chi buổi bạc tình

 

Có thể lấy thêm bộ vần nữa trong bài Thề với người ăn xin làm ví dụ:

Bộ vần trong bài Thề với người ăn xin với các vần (o) để có các từ: no, cho, trò, gio, vò. Đây cũng là bộ vần bằng truyền thống với kết cấu hài thanh: vần đầu là thanh không (phù bình thanh). Vần thư 3 và vần cuối là thanh huyền (trầm bình thanh). Đây là bộ vần có vần đầu tiên giúp cho hơi thơ ban đầu rất nhẹ, hợp với cách của người muốn thanh minh một điều gì đó. Sang phần cuối với các vần là thanh huyền (trầm bình thanh) tựa như nhấn xuống hợp với ý muốn khảng định những điều trước đó đã nói:

 

Người đói thì ta cũng chẳng no
Cha thằng nào có tiếc không cho
Họ đày đoạ mãi dân cày cuốc
Ai xét soi cho cảnh học trò
Mong được cơm no cùng áo ấm
Gặp toàn nắng lửa với mưa gio
Miếng ăn đến miệng là thưa kiện
Lúa rũ chân đê chửa được vò

         

c. Phép đối hoàn chỉnh

           Tất cả những người làm thơ đều nhận rõ bản thân cặp đối đứng độc lập đã đủ để hoàn chỉnh chủ đề của nó. Nhưng với thơ Đường luật rất cần có nó bởi từ phép đối ngẫu bật ra câu thứ ba (do người viết đề xuất) để tả được nhiều hơn trong phần thực và tỏ nhiều hơn trong phần luận. Điều muốn nói là trong thơ Trần Tế Xương chưa bao giờ khoan đối và không đối. Đặc tưng của thơ Trần Tế Xương lại tập trung hầu hết là thơ trào phúng nên đối trong thơ ông quả là hữu dụng. Dưới đây là một số cặp đối trong thơ Trần Tế Xương.

 

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng

 

Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện

Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng

 

Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán

Lại mấy hào con chú Ích Sinh

 

Bánh chưng sắp gói e nồm chảy

Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

 

III. KẾT LUẬN

 

          Về phong cách thơ Trần Tế Xương có đủ ba yếu tố hiện thực, trào lộng và trữ tình. Toàn bộ tác phẩm là bức thông điệp đứng đầu hệ thống văn học sử của thời đại với bút pháp trữ tình và trào lộng có một không hai trong lịch sử. Tuy nhiên điều muốn nói đó là tác phẩm của ông được tạo ra chính bởi chữ viết và tiếng nói của dân tộc Việt. Đặc trưng trong đó là sự tiếp thu của thơ Đường luật Trung Hoa; một trong những tinh hoa văn hóa thế giới mà dân tộc nào trên thế giới cũng có thể tiếp nhận, biến cải thành văn hóa của chính dân tộc mình.

                  

PHẦN III

VIỆT HÓA TRONG DỊCH THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

I. GIỚI THIỆU CHUNG

Ngoài các tác phẩm thơ nôm của nhà thơ Trần Tế Xương mà chúng ta đã xác định đó là thể thơ Đường luật theo phong cách Việt, chúng ta còn có một kho tàng thơ dịch của ông cũng mang âm hưởng và ngôn ngữ Việt. Trong số tám mươi ba bài thơ dịch, tương truyền là của ông đã được các học giả giới thiệu khá kỹ trong Tú Xương toàn tập”. Điều mà ta nhận thấy là đa số các bài thơ ngũ ngôn đã được ông dịch thành thất ngôn, chính từ đó mà độc giả dễ hiểu và dễ cảm. Nhưng đáng kể nhất phải nói đến là đó là phương pháp dịch thơ của ông có nhiều nét cách tân khác với nhiều người dịch trong thời điểm đó.

Cho dù phải tôn trọng nội dung của bài thơ gốc nhưng nhiều bản dịch ông đã bỏ qua “hình thức ước lệ, tượng trưng, công thức, quy phạm”trong phản ảnh con người và xã hội vốn đã ngự trị trong thơ Đường luật Trung Hoa bằng cách sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt hết sức phong phú và đa dạng giống như cách sáng tác thơ nôm luật Đường của ông. Đây cũng là những nét chính trong Việt hóa thơ Đường luật.

 

II. MỘT SỐ BÀI THƠ DỊCH

 

             1. Trích dẫn tóm tắt một số bản dịch

 

Để nói rõ hơn về quá trình Việt hóa thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trong dịch thuật thơ Đường luật chúng ta không thể không nhắc đến tám mươi ba bài thơ dịch trong:Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm. Trong mảng thơ dịch của ông đều giữ nguyên đầu đề của nguyên tác (nghĩa là các bản dịch của ông không có đầu đề). Nhiều nghiên cứu của các học giả đã nói về phương pháp dịch thơ của ông khác hẳn với nhiều người. Điều đáng nói là những cảnh, những tình trong nguyên tác đã được khắc họa sâu sắc hơn, rõ nét hơn về mọi mặt. Riêng về nghệ thuật các bản dịch luôn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt cùng với nghệ thuật tu từ, đặt câu của văn hóa Việt. Từ đó cho thấy những bài thơ dịch có một sắc thái riêng mang đậm nét văn hóa của dân tộc ViệtNam. Đây cũng chính là đóng góp đặc sắc của ông trong dịch thuật thi ca và trong Việt hóa thơ Đường luật qua các tác phẩm gốc thơ Đường. Dưới đây xin trích dẫn một số bản dịch thơ của ông:

 

        Thất thập dạ đối nguyệt

(Đỗ Phủ)

Thu nguyệt nhưng viên dạ
Giang thôn độc lão thân
Quyển liêm hoàn chiếu khách
Ỷ trượng cách tùy nhân
Quang xạ tiềm cầu động
Minh phiên túc điểu tần
Mao trai y quất dữu
Thanh thiết lộ hoa tân

 

Dịch nghĩa:

 

Ngắm trăng đêm mười bẩy

Trăng thu đêm nay vẫn tròn
Chỉ có một mình lão già ở thôn bên sông
Cuốn rèm lên trăng đã chiếu vào ta
Chống gậy đi đâu trăng cũng theo
Ánh sáng rọi làm con cầu long cựa mình
Bóng sáng soi vào khiến con chim ngủ xoay mình
Lều tranh dựa bên cây quýt, cây bưởi
Hạt móc đọng như hoa mới nở

 

Bản dịch

(Trần Tế Xương)

Vành vạnh đêm rằm chút chửa sai
Giang thôn lụ khụ một mình ai
Mở rèm trông thấy như chào tớ
Chống gậy ra chơi lại đón người
Trong suốt rồng nằm dòng nước chảy
Sáng choang chim ngủ bóng cành phơi
Nhà tranh ngồi tựa bên chồi quýt
Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời.

                  

Bài thơ của Đỗ Phủ tỏ rằng chỉ có một mình lão già này ở xóm bên sông với trăng làm bạn. Hình như trăng vẫn tròn mà chưa tàn khuyết. Chỉ mới mở rèm ra trăng đã soi vào người. Ta chống gậy đi đâu trăng cũng theo đi cùng, trăng soi xuống nước làm rồng thức, soi vào chim trên cây làm cho nó phải xoay mình. Dưới trăng cả ngôi nhà bên cây quýt cũng lay động, giọt sương cũng ánh lên trên cánh hoa mới nở.

Với ông Tú thì ngoài việc giữ cái ý của nguyên tác còn có thêm những nét tinh tế khác. Đó chính là ông coi trăng thực sự là người bạn. Vửa mở rèm trăng đã “chào tớ” và rồi khi ông đi trăng lại cùng đi “ra chơi lại đón” chứ không phải đi theo như nguyên tác. Điều thú vị là ông Tú nói không cần úp mở rằng có trăng mà ta không cô đơn, có trăng mà ta hòa đồng được với cảnh vật tới mức “Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời”

Về nghệ thuật rõ ràng bản dịch theo thể thất ngôn, âm điệu dịu dàng và có tính nhạc hơn. Tuy nhiên điều chúng ta muốn tìm là phong cách Việt trong thơ dịch của ông. Điều đó rất rõ trong cách dùng ngôn từ của bài thơ dịch với hàng loạt các từ láy.

Chỉ là “vành vạnh thôi đã đủ để nói cái sự tròn, chỉ với “lụ khụ” đã rõ cái sự già nua tuổi tác. Hoặc với các từ ghép “trong suốt, sáng choang” đã đủ nói về hình ảnh một không gian sống động. Cùng với việc sử dụng các từ ngữ điêu luyện là các cấu trúc ngữ pháp trong các câu thơ chỉ có trong tiếng Việt hiện đạiNgày nay các tác phẩm vận dụng theo nghệ thuật dùng từ đặt câu của ông Tú thật là đắc dụng.

Một ví dụ khác nữa là bài thơ “Đối tuyết” thể ngũ ngôn của Đỗ Phủ cũng được dịch theo thể thất ngôn.

 

Đối tuyết

(Đỗ Phủ)

Bắc tuyết phạm Trường Sa

Hỗ vân lãnh vạn gia

Tùy phong thả nhàn diệp

Đới vũ bất thành hoa

Kim thác nang thùy chỉnh

Ngân hổ tửu dị xa

Vô nhân kiệt phù nghĩ

Hữu đãi chí hôn nha

 

Dịch nghĩa

Tuyết miền bắc đã đến Trường Sa 
Mây xứ Hồ gieo lạnh đến muôn nhà. 
Lá rơi từ từ theo làn gió, 
Hoa không nở được dưới cơn mưa. 
Hễ tiền trong túi đã xóc xách, 
Thì rượu dễ đầy bình bạc. 
Không ai uống hết rượu phù nghị, 
Xin cứ đợi đến lúc quạ chiều

 

Bản dịch

(Trận Tế Xương)

Nam bắc phôi pha mấy dặm khơi

Tuyết mây dan díu một phương trời

Gặp cơn ghen gió màu tha thiết

Sáu cánh trêu mưa dáng tả tơi

Một túi càn khôn dầu nhẹ nhẹ

Lưng bầu phong nguyệt chẳng vơi vơi

Biết ai cạn chén tri âm tá

Thơ thẩn chiều hôm những đứng ngồi

 

Bài Đối tuyêt của Đỗ Phủ nhằm cái ý trước cảnh tuyết rơi, khắp nơi giá lạnh lá cây rơi rụng, hoa không nở được vì mưa, có tiền trong túi không lo hết rượu. Cứ uống đợi đến lúc chiều về

Còn với Trần Tế Xương thì bài thơ có sự thay đổi đáng kể. Ông nói về sự phôi pha giữa nơi xa vắng. Mây tuyết mưa gió tàn phá gợi bao nỗi niềm. Túi càn khôn kia dù nhẹ bớt, cái bầu phong nguyệt vẫn không vơi. Chẳng biết ai sẽ là bạn tri âm, nên lòng mãi bồn chồn đứng ngồi không yên.

Về nghệ thuật ông phối hợp ước lệ theo lối cổ của Đường luật Trung Hoa “Một túi càn khôn” hay “Lưng bầu phong nguyệt” và trộn vào đó vốn ngôn ngữ thuần Việt “dầu nhè nhẹ” hay “chẳng vơi vơi” một cách tài tình. Vì thế nên nhiều học giả đương thời và cả những người đời sau đã nhận xét nhà thơ là “thần thơ thánh chữ”.

Điều cần nhấn mạnh là hầu như bài thơ dịch nào của ông cũng đều dùng ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại. Nghĩa là từ ngày đó (một trăm năm trước) thơ Đường luật đã được Việt hóa đến độ sâu sắc trong bút pháp của Tú Xương. Thêm một lần nữa ghi nhận công lao của ông trong văn học Việt Nam nói chung và trong Việt hóa thơ Đường luật nói riêng.

 

2. Một số bài thơ dịch

 

Dưới đây là một số bản dịch thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trích từ tác phẩm Tú Xương toàn tập do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2010 (các bản dịch không có đầu đề nên viết theo đề của nguyên tác - sách đã dẫn)

 

Mừng mưa đêm xuân

(Đỗ Phủ)

Khen thay con tạo khéo chia mùa
Hoa sớm mưa xuân những hẹn hò
Đưa nhẹ một cơn bừng giấc thắm 
Rơi ra từng sợi thấm cành khô
Đồng không lối tắt mây nghi ngút
Sông vắng thuyền ai lửa thập thò
Phơi phới thành xuân ban sáng tạo
Chồi sương nặng trĩu mặt hoa đưa.

 

Dã vọng 

(Vương Tích)

Bóng lộn ngàn cao buổi tối mòng

Một mình chưa dễ đứng ngồi xong

Cây lồng sắc chiếu màu thu tía

Non ánh tà dương lộng vẻ hồng

Trẻ mục giục trâu lùa cái nghé

Người săn cưỡi ngựa xách con hồng

Cùng trông lại biết ai hay tá?

Tưởng hái rau vi những ngại ngùng

 

Sơ nguyệt 

(Đỗ Phủ)

Nửa vành vừa hé mái cung lên

Một bánh xe trông chửa vẹn tuyền

Thấp thoáng đầu cành trên bể ló

Lô nhô ban tối áng mây ken

Chắn ngang luống để sông Ngân trắng

Hiu hắt vì ai mặt ải đen

Trăm mối bên lòng càng áy náy

Dãy thềm chòm cúc giọt sương hoen

 

Đăng Nhạc Dương lâu 

Đỗ Phủ

Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn

Lầu đây hồ đấy trải bao còn

Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc

Chốt lại càn khôn thỏa nước non

Một chữ thân bằng tin nhạn vắng

Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền con

Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa

Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn

 

Thánh Tuyền yến 

(Vương Bột)

Phất phơ tràng áo bước lên non

Ngoảnh lại bên đình lạch suối con

Bầu sánh cúc pha ba chén cạn

Vần lơi tùng thét mấy cung dồn

Lơ thơ bóng rủ ngoài cành lọn

Ngào ngạt hoa bay trước gió tuôn

Rừng vắng tà tà say ngắm cảnh

Lô xô len đá khói đùn đùn

 

III. THƠ CÁCH LUẬT VIỆT NAM

 

Cũng như các nhà thơ Hàn Thuyên, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, nhà thơ Trần Tế Xương đã góp công lao to lớn hơn hết cho việc hình thành thơ Đường luật theo phong cách Việt, Chúng ta có thể khảng định toàn diện về một thể thơ khác đó là “Thơ cách luật Việt Nam” trong quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa của thế giới. Về ý kiến này chúng tôi còn muốn có nhiều ý kiến của các học giả có kiến thức sâu rộng hơn cùng góp sức như đã làm với “Thơ mới” vốn cũng có sự kết hơp giữa thi ca Việt Nam với thơ Nga, thơ Pháp và thơ của nhiều nước khác. Cho đến nay chỉ còn lại với cái tên: “Thơ tự do”; “Thơ Mới” hoàn toàn của Việt Nam ta vậy.

 

Lê Trọng Hồng

Bút danh Lê Hoa

Chi hội thơ ĐL Lục Đầu Giang tỉnh Hải Dương

                    Số điện thoại: 0987133083

Địa chỉ: Thạch Thủy, Phả Lại, Chí Linh, Hải Dương

 

Th By, 13 tháng 8, 2016

THƠ 2016 II

CÁT BÀ MÃI NGUYÊN XANH


Lại ra thăm đảo “Các Bà”[1]

Để tìm lần nữa đâu là “Các Ông”

Cầu tầu sóng nước mênh mông

Một trời sao sáng ngỡ sông Ngân Hà

Cát Cò trong ánh chiều tà

Để tình ai đó mặn mà cùng ai

Vẫn còn kia “Cát Gái Trai”

Cát Dừa, Đảo Khỉ nối dài Đường Danh[2]

Hùng Sơn cây cỏ biếc xanh

Pháo đài Chiến Thắng lừng danh thuở nào

Trung Trang động cũ em vào

Đợi anh từ ấy với bao nhiêu tình

Đền Hà mở hội thăng bình

Dấu chân Bác vẫn in hình nơi đây

Nắng vương trên những tầng cây

Rừng nguyên sinh vẫn mọc dầy khắp nơi

Cát Gia, Lan Hạ chơi vơi

Uốn cong bờ vịnh chào mời đón em

Dạt dào con sóng từng đêm

Thuyền trôi xuôi giữa êm đềm biển xanh

Ngày mai em lại gặp anh

Đất liền ơi…vấn nguyên trinh đợi người

Dẫu cho cuối đất cùng trời

Bước chân Ông Gióng ngàn đời còn đây

Mặc ai giăng lưới bủa vây

Đảo tiền tiêu vẫn đêm ngày đứng canh

Cát Bà tươi đẹp như tranh

Để ta yêu mãi biển xanh Cát Bà


[1] Tên trong ngoặc kép là tên đầu tiên của Cát Bà

[2] Các chữ viết hoa là tên các bãi tắm, vịnh, đảo cà các động

TRẢ NỢ CHO ĐỜI

Cũng là trả nợ cho đời

Đã là duyên kiếp chẳng vời cũng qua

Ta làm đâu phải cho ta

Ta làm trả nợ gọi là kiếp xưa

Thấp tho giữa nắng cùng mưa

Luân hồi vốn dĩ chẳng chừa ai đâu

Trái ngang muôn lẽ nhiệm mầu

Dở hay kín hở mặc dầu thế thôi

Giấu người hồ dễ buông trôi

Giấu sao cho được trời ngồi trên cao

Giấu sao nổi chính ta nào

Một ngày kia lại lặn vào đời ta

 

CHỌN MỘT CHỮ LƯỜI


Ai ai cũng nhận là già

Việc đời việc họ việc nhà còn đây

Tề gia trị quốc đã đầy

Cần gì quét mỡ, dắt dây lằng nhằng

Lao tam khổ tứ sao bằng

Nay đền mai phủ tằng tằng nghỉ ngơi

Vui vào ta nói một hơi

Nói xong rồi lại rong chơi cả ngày

Ai khen thì gọi bằng thày

Ai chê cứ bảo lão này dở hơi

Tiền tài danh vị ngời ngời

Già rồi xin với cụ trời tha cho

Nợ nần dấu bé cùng to

Một mai rũ sạch nằm co mà cười

Một, hai, ba, bốn, năm, mười

Chữ nhàn hòa với chữ lười mà hay.

 

ĐỢI NHỮNG MÙA VÀNG

Đêm đêm ngồi ngắm trời cao

Sông Ngân chẳng biết khi nào xoay ngang

Bao giờ cho đến mùa vàng

Mùi rơm thơm cả đường làng cũng thơm

Ngày nào thiếu gạo thiếu cơm

Các con đông quá mẹ đơm chẳng đầy

Mong sao những tháng những ngày

Không còn cái đói lắt lay cả làng

Khắp nơi vàng những mùa vàng

Sông Ngân Hà lại xoay ngang giữa trời.

 

THƯƠNG MẸ CHỢ XA

 

Sắp rổi trận gió trẩy cà

Sắp rồi những trận mưa qua rửa đền

Vừa thôi có loạt sấm rền

Mẹ kêu con hãy đến bên mẹ ngồi.

Sấm này là sấm của trời

Mình không làm ác cả đời chẳng lo

Ngày mai cà rẻ như cho

Mẹ mua về muối để kho ăn dần

Mõi năm hội Gióng một lần

Chỉ thương cho mẹ chân trần chợ xa.

 

HOA XOAN

Tháng hai mấy bận qua rồi

Hoa xoan mấy độ bồi hồi tỏa hương

Cái mùi ngai ngái ương ương

Cứ như vây bủa dọc đường đợi ta.

Đã bao năm tháng đi qua

Mùi hoa xoan của quê nhà vẫn đây…

Sáng mai mắc ách trâu cầy

Long lanh ngọn cỏ bám đầy sương đêm.

Mặt người như cũng tròn thêm

Mùi hoa xoan cứ êm đềm lướt qua

Mấy mươi năm sống xa nhà

Mùi hoa xoan vẫn theo ta mỗi ngày

 

LỤC BÁT ĂN KEM

Một lần tôi đến mời em

Giữa mùa đông đến ăn kem Bờ Hồ

Bạn chê hai kẻ điên rồ

Rét như cắt ruột thấy mồ vẫn ăn

Thế rồi chung chiếu chung chăn

Trải bao nhiêu chuyện khó khăn ở đời

Hôm nay đều đã già rồi

Chẳng còn răng để mà ngồi ăn kem

Mở trang nhật ký ra xem

Lại mời nhau đến hiệu kem Bờ Hồ

 

TIẾNG RU ĐÊM TRỞ GIÓ

Mẹ ru ta thuở ấu thơ

Mấy mươi năm có bao giờ nghỉ đâu

Con cò, con vạc, con trâu

Hoa sen, hoa cúc, hoa ngâu, hoa đào

Bánh đa bánh đúc ngọt ngào

Cả trăm ngàn thứ mà nào thấy đâu

Chỉ là ao ước bấy lâu

Mẹ không tiền biết tìm đâu bây giờ

Đêm sâu trăng lặn, sao mờ

Mẹ ru, ru mãi, bơ phờ vì con.

Mẹ đi ba chục năm tròn

Vẫn nguyên vẹn ở trong con từng ngày

Đêm qua gió động, mây dầy

Lại nghe xa thẳm vơi đầy tiếng ru.

 

THƠ TỪ QUÁ KHỨ

Quá khứ năm nào, lâu đã thật lâu

Ta đã làm thơ từ khi rất bé

Những con chó, con mèo

Những cây dâu, cây khế

Chua lòe trong thơ

Cho đến một ngày kia

Bao hoài bão mộng mơ

Bao câu chữ giống y như khẩu hiệu

Tìm cả buổi chẳng thấy vần thấy điệu

Lẽ nào đây cũng là thơ

Ta làm thơ từ lúc trẻ thơ

Bắt chước từ ca dao cò lả

Lời ngọng nghịu chẳng vẻ gì thơ cả

Cha khẽ cười, trang viết cũng cười theo.

 

GIÓ THỔI GIAO MÙA

Đêm đang tan, trong gió thổi giao mùa

Nghe xao xác một trời cách biệt

Em như chiếc lá vàng mỏi mệt

Rời cành cao gõ nhẹ trước hiên nhà

Bao năm qua anh chẳng dám già

Thân trai tráng ấm nồng trong chờ đợi

Ôi thương thế một tình yêu rất vội

Lúc ta vừa mười tám, đôi mươi

Có cuộc tình nào chỉ một lần thôi

Như em đó và như anh đó

Chiếc lá rụng thoáng qua trong gió

Đêm đang tan, trong gió thổi giao mùa 

 

ƯỚC AO

Đã thưa những hạt mưa xuân

Những cành đào cũng hóa thân sang hè

Bâng khuâng nghe nhịp đàn ve

Thấp tho hoa phượng đỏ hoe đến rồi

Em ngồi ghế đá bồi hồi

Nhớ tình yêu đã lâu rồi của anh

Tháng năm trôi nổi mong manh

Bao nhiêu hư thực vây quanh cuộc đời

Ai kia trách đất than trời

Còn em chỉ muốn làm người của anh

Bao giờ trở lại ngày xanh

Để em gặp lại tình anh đêm nào

Mưa sao trút xuống rào rào

Má kề bên má thì thào lời yêu

Th Ba, 22 tháng 3, 2016

 

LẠI VỀ SÔNG LẤP

Tháng 9/2010

Lại về sông Lấp[1] quê ta

Tìm câu thơ đã trôi xa thuở nào

Đâu rồi ngõ phố Hàng Thao

Xôn xao máy điện, ồn ào máy tơ.

Trống chầu ai để quay lơ

Mảnh trăng rơi giữa đôi bờ Đò Quan

Dốc cầu lên xuống ríu ran

Lỏng tay ga, ngắm cung đàn chăng dây[2]

Bâng khuâng gió cuốn, mây bay

Lối xưa sông Lấp ở đây đâu rồi.

 

CHIẾC XE CỦA VỢ

Vợ tôi, chỉ chiếc xe tàng

Là chân chạy, để cho nàng chợ thôi

Hôm qua lốp bị nổ rồi

Vợ tôi đi chợ bằng đôi chân trần.

Chợ quê thật chẳng có gần

Con đường đá hộc bao lần ướt khô.

Người ta mua sắm ô tô

Vợ tôi, chỉ chiếc xe thồ ngày xưa.

Thôi thì tiện cứ để bừa

Bỏ quên từ sáng đến trưa vẫn còn…

Chỉ mong có mớ rau non

Bữa trưa, bữa tối, chồng con mát lòng

Thơ tôi viết mãi chưa xong

Định đem tặng vợ, nói sòng mấy câu.

Tiếc rằng anh số không giầu

Thành ra em cũng dãi dầu nắng sương.

Ai về rút lại quãng đường

Để cho ta khỏi vấn vương lẽ đời

 

QUÊ HƯƠNG TÂY LẠC

(Qua hội chùa Như 25/1/Tân Mão)

Ta về với hội chùa Như

Đông như đã tạnh, xuân như ấm dần

Ta về đây với người thân

Quê cha còn đó, dấu chân chưa mờ

Xôn xao kỷ niệm tuổi thơ

Một thời cha mẹ...bây giờ đã xa

Ta về nhớ cửa, nhớ nhà

Nhớ từ đồng trũng, nhớ ra đồng màu

Thương quê để bạc mái đầu

Để mờ mắt lệ, để sầu giọt tim

Mấy mươi năm vẫn dõi tìm

Dù trong chiến trận muôn nghìn hy sinh.

Khi đang tiếp nối công trình

Công trường, nhà máy hết mình dựng xây

Khi trong giông bão bủa vây

Một thân lúa trổ thấm đầy mồ hôi

Một tầng cao sáng màu vôi

Phố phường, đồng ruộng khác hồi xa xưa.

Trách chi bao cuộc gió mưa

Miếng cơm Ất Dậu đẩy đưa rời làng

Mảnh gai đầu chợ bẽ bàng

Bâng khuâng chân bước đi sang quê người.

Bẩy mươi năm sắp qua rồi

Vẫn như đứa trẻ bồi hồi về quê.

Làng vui tình nghĩa tràn trề

Đồng Thông, Đồng Bái cận kề Đồng Huy

Qua Đồng Bình đến Đồng Chi

Quê hương Tây Lạc thầm thì trong ta

Tay đưa ấm ngọt hương trà

Người quê vẫn vậy thật thà hỏi han

Ai đi ra Bắc, vào Nam

Ai đang bận rộn, gian nan quê nhà.

Còn đây con, cháu, ông, bà

Nắm tay chào hỏi, trẻ già thân thương

Ngày mai, trên mọi ngả đường

Bờ tre, đồng lúa, quê hương xa dần

Bâng khuâng hơi ấm người thân

Quê hương Tây Lạc mãi gần bên ta.

 

QUA ĐỀN LIỆT SĨ

(Qua đền liệt sĩ Nam Trực 23/2/2011)

Gió mang cơn rét về đâu

Để chiều xuân mãi cuộn sâu sóng ngầm

Cổng đền khép chặt lặng câm

Để ai đứng dưới mưa dầm lê thê

Tưởng đâu quên hết lối về

Tuần hương còn đỏ bên lề cỏ non.

Dẫu rằng ngực đỏ như son

Vẫn thương bao mảnh trăng tròn rụng rơi.

Mỗi người chỉ một cuộc đời

Dám quên đi để bao người tiếc thương.

Chờ mưa ghé lại bên đường

Đọc bao tên tuổi để vương lệ già

Thương bao nhiêu những mái nhà

Cô đơn vắng bóng...người xa không về.

 

TẾ NỮ QUAN

(Hội làng Tây Lạc 26/1/Tân Mão)

Áo khăn đỏ thắm sân chùa

Làng vui vào hội giữa mùa cấy chiêm

Nhẹ nhàng chân bước hai bên

Áo choàng kim tuyến tươi trên nắng hồng

Cổ, chinh, bầu, trúc hoà đồng

Hài hoa, khăn đóng, áo rồng nhẹ bay

Mắt ngời lóng lánh hương say

Nửa đông xướng để nửa tây đợi chờ

Khói hương lan toả xanh mờ

Giọng văn thánh thót, đèn thờ lung linh

Tam tuần bái tạ phân minh

Càng sâu, càng nặng ân tình tổ tiên.

 

AO THƠ

(Ao đình làng Tây Lạc)

Ao xưa bèo đặc mấy tầng

Những chùm hoa tím, chín dần hoàng hôn

Ánh sao sáng dọc đường thôn

Chông chênh bậc đá, gió nồm thổi qua

Mùi hoa khoai nước tan ra

Thoảng nghe tiếng cá ngoài xa đớp mồi

Mặt ao sóng sánh bồi hồi

Ngàn sao xích lại để rồi giãn ra

Bâng khuâng bến nước ao nhà

Tuổi thơ kỷ niệm nhạt nhoà trong đêm.

 

EM THEO VỀ HỘI

(Đồng làng Tây Lạc năm 2011)

Bao mùa mê mải nơi xa

Nghỉ hưu rồi mới về nhà quê xưa

Dạo qua Đồng Cửa, Vườn Rừa

Nắng xanh Đồng Xác, khói mờ Đồng Din.

Ai đang lạ lẫm đứng nhìn

Người làng ta cả, em tin vậy mà.

Mạ sân vừa đến độ già

Chỉ vài bữa nữa ruộng nhà cấy xong

Hội làng vừa đến độ đông

Theo ai về hội, bỏ không người chờ.

 

THĂM MỘ MẸ GIÀ

(Qua khu mộ họ Lê ở Tây Lạc)

Con về thăm mẹ chiều nay

Bâng khuâng hoa nắng chất đầy nghĩa trang.

Tường vôi đọng dấu sơn vàng

Búp xanh cỏ mới đã đang nảy mầm.

Tấm bia đá vẫn yên nằm

Dấu tay xoa nhắn vết hằn thời gian

Sáu mươi năm, nắng mưa chan

Cô đơn một nắm xương tàn xa xôi.

Giờ đây mẹ đã về rồi

Quê hương thay đổi khác hồi ngày xưa

Bồi hồi thân quyến đón đưa

Làng trên, xóm dưới cũng vừa sang chơi.

Bát cơm, quả trứng rước mời

Hẳn rằng mẹ biết những người ngồi đây.

Nén vàng hoá giữa trưa nay

Gửi theo người những tháng ngày xa xăm.

Mỗi người rồi cũng trăm năm

Dù ai rồi cũng về nằm nơi đây

Nắng vàng thắp lửa lung lay

Phải chăng bóng mẹ đang bay về trời.

Nén hương cháy đã cạn rồi

Cháu con thành kính, bao lời tri ân.

 

TÌNH CÔ THỢ CẤY

(Vụ cấy đầu năm 2011)

Mạ sân ai cuộn từng phên

Để bao rảnh nhỏ thả trên ruộng bùn

Bàn tay con gái rét run

Lại chia đều những chấm tròn biếc xanh.

Tóc mây ai cuốn vòng quanh

Mắt đen ai thoáng long lanh rạng ngời

Môi hồng ai chúm chím cười

Bâng khuâng mặt ruộng một trời xuân quê

Sao em chưa chịu ra về

Bóng chiều đã xuống bên đê đầu làng.

 

NHỚ LỜI HEO MAY

Chỉ còn có gió heo may

Thổi vào góc bếp làm cay mắt già

Chiều nào một cháu một bà

Nửa niêu cơm độn với cà kho tương

Tưởng đâu đời lắm sắc hương

Để quên đi cả góc giường chuối khô

Quên con đường nhỏ ngoại ô

Mái nhà tranh đứng bên hồ cạn khênh

Một đời bà mãi lênh đênh

Nuốt vào tim những chông chênh ở đời

Mai sau cháu có nên người

Nhớ về quê để nghe lời heo may.

 

KHÓC ANH

Tây Lạc 15/3/2011

Thế là em chịu thua rồi

Bao nhiêu cầu khấn mà trời không cho

Đôi tay gầy guộc, héo khô

Anh đi như mặt nước hồ nhẹ tênh

Lá vàng rơi giữa mông mênh

Để bao lòng mãi chông chênh cõi buồn.

Giữa chiều gió thổi mưa tuôn

Bánh xe lăn giữa cội nguồn đắng cay.

Chưa ba vạn sáu ngàn ngày

Đã đau đớn đã đoạ đầy bao cơn.

Chẳng so bì chuyện thiệt hơn

Chẳng chê bai chẳng oán hờn chi ai

Một mình vượt những chặng dài

Đói cơm, rách áo theo hoài khắp nơi.

Miếng cơm cha mẹ đã vơi

Miếng cơm chú thím cũng rơi rụng dần

Vui buồn theo bạn đầu quân

Đạn bom, giặc giã bao lần xông pha.

Rời quân binh trở về nhà

Gian nan đời thợ để mà nuôi con

Nợ nần thiếu, đủ hao mòn

Sớm khuya lưu động chẳng còn là bao

Lương ba cọc mấy đồng hào

Tháng chưa hết đã sờ vào túi không.

Quê xa, vợ yếu, con đông

Thắt lưng, buộc bụng vẫn không đủ đầy.

Một căn nhà nhỏ vừa xây

Ăn dè hạt tiện bao ngày mới nên

Các con từng đứa có duyên

Đã thành gia thất ổn yên cửa nhà.

Đến ngày vợ phải đi xa

Một mình còn lại mái nhà cô đơn

Đau đời càng lúc nhiều hơn

Bến xưa vắng khách trống trơn giữa đời.

Ngàn sao vằng vặc trên trời

Hiểu đâu cho hết cõi người đắng cay

Bệnh theo người nặng từng ngày

Mười năm gìn giữ hao gầy ăn kiêng.

Bảy mươi chín trái sầu riêng

Anh đi về với tổ tiên, ông bà

Anh đi về với mẹ cha

Để em ở lại xót xa ruột tằm.

Đêm đêm nhìn dấu anh nằm

Nắm xương khô héo lệ đầm trên mi...

Lặng im chờ phút chia ly

Ước như anh vắng những khi thường ngày

Ngó theo cột khói hương gầy

Giật mình chợt hiểu, từ rầy mất anh

Một vòng khăn trắng quấn quanh

Thêm bao sợi nữa bạc nhanh trên đầu

Mỗi dòng là một giọt sầu

Nhỏ trên mặt giấy đỏ ngầu khóc anh!

 

VỢ MỜI UỐNG RƯỢU

Em nào có nghiện rượu đâu

Chỉ mời anh một chén đầu bữa thôi.

Có say thì đã say rồi

Cần chi mượn rượu mà mời mọc nhau.

Theo từ mới nở hoa cau

Chẳng cần mặc cả trước sau thế nào.

Theo từ rời chỏm trái đào

Đến nay lấm tấm bước vào tuyết sương.

Tha lôi khắp các công trường

Bát cơm gạo sổ, cân đường cắt ô

Giường ghép ván, gạo đựng xô

Áo quần túi dết, ba lô nát nhàu

Mưa rơi chảy ướt trên đầu

Đành ngồi bó gối nhìn nhau mà cười.

Có say, lúc ấy say mười

Bữa nay chẳng biết uống rồi có say.

Rõ là những đắng cùng cay

Gian nan vất vả, trả vay hết rồi.

Uống cùng em…một chén thôi

Để quên, để nhớ, để ngồi rõ lâu

Nuốt vào hết mọi nỗi sầu

Để say như thuở ban đầu mới quen.

 

VỀ VỚI CHỢ VIỀNG

Qua tết về quê xuống chợ Viềng

Vui xuân cầu lộc chẳng cần kiêng

Cháu đòi kiếm hộ đôi con sáo

Vợ dặn tìm cho một cái kiềng

Mê ngắm đào hoa rơi nhẵn túi

Thèm say rượu cẩm đổ lăn chiêng

Cả năm mới có ngày thư giãn

Cũng phải khao mình tí cái riêng

 

CÁO LỖI VỚI QUÊ HƯƠNG

(Kính tặng quê hương Nam Trực)

Bươn trải bao năm ở chốn xa             

Về hưu mới nhớ tới quê nhà

Chưa cho Đồng Quỹ chuông rền tiếng

Chửa để Nam Giang thép trổ hoa

Đất Trạng thanh liêm còn nhắc trẻ

Quê Vua uy dũng vẫn khuyên già

Làm con xứ ấy nhiều danh giá

Càng phải vươn lên mới xứng là...

 

MONG ĐÔI CÁNH

(Gửi về Nam Định quê nhà)

Vừa mới nghe tin gió bấc về

Lúa xuân gặp giá chết nhiều ghê

Đầu Din mới giặm loi thoi mọc

Cuối Cửa vừa gieo lốm đốm huê

Gội gió mặt cha thường vẫn tái

Dầm mưa chân mẹ lắm khi tê

Chỉ mong ai đó cho đôi cánh

Bay vút lên trời trở lại quê

 

THƯƠNG QUÊ GẶP NẠN

(Kính tặng quê hương Nam Định)

Nghe vỡ bao đê ở tỉnh nhà

Bão liền mấy trận thảy đều qua

Vuông tôm mới đắp không còn vết

Chạt muối chưa thu đã chảy xoà

Sức vóc bao nhiêu giờ mất cả

Công lênh ngần ấy cũng thôi hoà

Đành rằng hoạn nạn đâu không thế

Vẫn cứ đau riêng nỗi tỉnh nhà

 

QUA CẦU ĐÒ QUAN

(Nam Định 6/2007)

Bến cũ làng xưa chẳng thấy đâu

Đoàn xe cuồn cuộn lướt qua cầu

Ra đi mười tám xanh con mắt

Trở lại năm mươi bạc mái đầu

Đất mẹ quanh năm hồn gọi nhớ  

Quê cha suốt tháng dạ kêu sầu 

Giận người đi mãi nơi xa vắng

Mê mải bên trong vạn sắc màu.

 

TRỞ LẠI AO XƯA

Tìm về với những ngày thơ

Lá mùa thu rụng kín bờ ao xanh

Con chim chích nhỏ trên cành

Chợt bay lên lượn vòng quanh mé đồi.

Chiếc cầu tre cũ đâu rồi

Để đôi cọc gẫy một thời đứng trơ

Vòm trời sâu thẳm mộng mơ

Mỏng manh một tiếng cá trưa đớp mồi

Mặt ao loang sóng bồi hồi

Nhoà đi khuôn mặt những người ngày xưa.

Nhẹ tênh cái bấc thân dừa

Bờ tre trước mặt gió lùa lao sao

Ngày xưa cất ở nơi nào

Để bâng khuâng giữa mặt ao lặng tờ (!)

 

KHI MẸ RA ĐI

Mẹ ra đi giữa nắng trưa

Để lời ru, tiếng võng đưa lại nhà

     Để đàn cháu nhỏ lệ nhoà

Cả cơ quan xuống đồng xa tiễn người.

     Bát cơm, quả trứng ngậm ngùi

Mảnh khăn xô trắng sụt sùi, héo hon

     Tháng năm xưa đã mỏi mòn

Con mơ mẹ, mẹ mơ con cả đời.

     Đơn côi giữa đất giữa trời

Bâng khuâng tiếng võng với lời mẹ ru.

 

[1] SôngVị Hoàng trong thơ Trần Tế Xương

[2] Cáp cầu Đò Quan Nam Định

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

MỘT SỐ BÀI CŨ

 

NHỚ QUỐC KHÁNH

(Kemerovo 2/9/1982)

Một chai rượu đế Bình Tây

Chia cho mấy chục chén đầy chén vơi

Cách xa một nửa khoảng trời

Nhớ về quốc khánh ở nơi quê nhà.

 

THƯƠNG MẠ

(Iscôi 2/10/1982)

Sớm nay tuyết đã rơi rồi

Iscôi trắng cả đất trời mênh mông

Quê nhà ta có lạnh không?

Mạ chiêm giữa giá, trời đông xót lòng

 

BẾN GIÁC

Bến Giác hình như chỉ để mơ

Nào ai đã gặp được bao giờ

Có không, không có nào ai biết

Nên nỗi trần gian vẫn cứ chờ.

 

THIÊN CHỨC

Thiên chức trời ban khéo tự nhiên

Kẻ cao người thấp chẳng ưu phiền

Trăm năm chỉ một lần dương giới

Chớ có loanh quanh với bạc tiền.

 

QUA BẾN NHẠN LOAN

(Nhớ về tướng quân Trần Khánh Dư)

Tiểu mãn đang về trắng cả sông

Nhạn Loan Cổ Độ rộng mênh mông

Xà lan ngược nước chờ lên bắc

Bè vó xuôi dòng đợi xuống đông

Nắng muộn vẫn vương trên bãi sậy

Sương chiều đã phủ mé đồi thông

Thuyền ai ẩn hiện vừa đi khuất

Để lại đôi bờ nước trống không

 

HUYỀN THIÊN CỔ TỰ

Đến cửa Huyền Thiên nắng đã nhòa

Khói trầm ngào ngạt tỏa bay xa

Nền xưa nắng đốt phơi son đỏ

Đường mới mưa chan nổi đá già

Ngọc Đế mở đường nơi Cảnh Giới

Phật Hoàng dẫn lối chốn Ta Bà

Câu kinh nhật tụng còn vang vọng

Ngàn ánh sao bay trắng Nguyệt Hà.

 

TÌM DẤU THÀNH PHAO

 

Vài đống gạch non xếp chẳng đầy

Thành Phao còn lại bấy nhiêu đây

Minh Hồ mấy bận tan bờ bãi

Lê Mạc từng phen nát cỏ cây

Sườn núi quanh co làn khói phủ

Triền sông mờ mịt đám sương dầy

Cánh đồng làng Ngọc đang vào vụ

Rộn rã âm vang tiếng máy cầy

 

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

 

NHỚ KỶ NIỆM XƯA

Ngập chìm trong ánh hoàng hôn

Kỷ niệm xưa cứ bồn chồn trong tim

Mấy mươi năm cứ đi tìm

Quê hương ơi mãi đắm chìm nơi xa

Hãy cho ta một mái nhà

Dẫu tranh tre cũng nhạt nhòa vàng tơ

Hãy cho ta một tuổi thơ

Những trưa ngóng mẹ mà mơ đợi quà

Cho ta một gốc đa già

Một bờ giếng đất để mà thương yêu

Hãy cho ta những buổi chiều

Nghe vi vu tiếng sáo diều của cha

 

CUA ĐỒNG

Ngày xưa mình ở ngoại thành

Có chân trong đám học hành được khen

Một lần ra phố làm quen

Mấy tay bảo “tẩm” í en í ờ

Đến hôm khảo thí giờ tờ

Lại nghe họ bảo “gà mờ” gặp may

Cho dù cũng cứ cầm tay

Vẫn nham nhảm gọi: vào đây “cua đồng”

Chén qua, chén lại lòng vòng

Mấy ông bạn phố “đỏ còng” lăn quay…

Bẩy mươi năm trở về đây

Vẫn vi vu chất “dân cầy” vậy thôi

Mấy ông “phó” mấy ông  “bồi”

Bắt tay mừng quá ôi ôi: “cua đồng”

Mắt nhìn đã hết lạnh lùng:

Văn chương hội thảo, cũng “khùng” vậy sao

Bên ngoài khối kẻ ước ao

Bên trong đâu biết sẹo “đào khắp lưng”

Da cam, mụn nhọt đang mưng

“Chiếu soi” mấy bận xem chừng chẳng xong

Chắc là sắp sửa “đi tong”

Vẫn cười, cười đủ mấy vòng … bắt tay

“Cua đồng” vừa mới về đây

Bố nào có dám cùng say thì vào

 

THƠ NHỮNG NGÀY THƯỜNG

Em ơi thơ những ngày thường

Cứ chân thành cứ yêu thương nối lời

Núi non sông biển đất trời

Quê hương tổ quốc ngàn đời mến yêu

Thơ như làn gió trong chiều

Nâng hồn ta với cánh diều bay cao

Cất lên khúc hát xuân trào

Cất lên muôn tiếng đồng bào mến thương

Chép từ muôn vạn dặm đường

Chép từ muôn nẻo chiến trường gian lao

Chép từ đồng lúa xôn xao

Chép từ giàn giáo tầng cao công trường

Em ơi thơ những ngày thường

Ấm lòng nhau bởi tình thương những chiều

 

TRẦN QUỐC CHẨN

Chẳng tìm thấy miếu đền

Nhà xưa không còn nữa

Đôi trang ghi sự tích

Hỏi thăm càng thêm phiền

 

Họ đổi nhờ ban phúc

Vợ gán theo lệnh truyền

Của tiền đâu đến nỗi

Gia môn đâu có hèn

 

Chẳng hiểu vì sao cả

Toàn là chuyện chép thôi

Muốn tìm ra sự thực

Chỉ thấy thời gian trôi

Lấy vợ vua làm vợ

Lại đẻ ra vợ vua

Chẳng thể nào hiểu nổi

Ngài là được hay thua

 

EM KHÔNG CÒN BÉ NỮA ĐÂU

Nhà em ở cạnh nhà anh

Tuổi thơ tôi cứ quẩn quanh đợi chờ

Anh đi bộ đội bao giờ

Làm tôi sưng đỏ hai bờ mi cong

Một ngày tôi cũng vào trong

Thành người chiến sĩ xung phong đắp đường

Hỏi thăm khắp hết chiến trường

Vẫn không tìm thấy người thương của mình

Bỗng đâu tin đến thình lình

Anh ra Đường Chín hy sinh mất rồi

Tưởng đâu sập cả bầu trời

Tưởng đâu tan hết cuộc đời thanh xuân

Thế rồi em được ra quân

Đứng bên mé cổng bao lần lặng im

Anh cười như cứa vào tim

Chào cô gái bé: con chim sẻ đồng

Sao không thấy má em hồng

Vài câu trêu ghẹo lòng vòng rồi ra

Giờ đây còn mỗi mẹ già

Vẫn trêu em nhận em là con dâu

Mười năm lâu đã thật lâu

Tự nhiên như gió từ đâu anh về

Bước chân sao thấy nặng nề

Cánh tay quân phục giắt về một bên

Chỉ còn đôi mắt thân quen

Nét tinh nghịch vẫn còn nguyên thuở nào

Đỡ anh từng bước đi vào

Ôi cô bé của năm nao …. vẫn còn

 

NGƯỜI YÊU CỦA LÍNH

 

Lại sang tháng bẩy mưa ngâu

Cánh đồng giờ đã trải mầu biếc xanh

Em ngồi bên mái nhà gianh

Ngắm về xa vắng tình anh năm nào

Em chưa được cưới lần nào

Người yêu của lính có bao chuyện buồn

Đợi chờ thật đã héo mòn

Giờ em thành gái không con không chồng

Sớm mai vác cuốc ra đồng

Đêm đêm lững thững ra sông đợi đò

Nhớ năm nào cũng câu hò

“Anh ra tiền tuyến em chờ được không

Cho dù hết hạ sang đông

Người yêu của lính em không sợ gì”

 

THƠ VIẾT TRONG ĐÊM

 

Anh đã viết như ngày nào đã viết

Để vì em và cũng để vì anh

Đời từng trải với nhiều chua chát

Những câu từ chợt cũng mong manh.

Đã lâu rồi em có nhớ về anh

Đêm đông lạnh khói lò lên trắng xóa

Anh tha thiết má kề bên má

Cái hôn đầu em trao rõ là nhanh.

Có niềm vui nào sau cuộc chiến tranh

Người lính trở về quê hương yêu dấu

Quên mất mát, hy sinh xương máu

Nhờ một tình em bên mái nhà gianh.

Bốn chục năm rồi em có nhớ về anh

Buồn day dứt, chia ly năm ấy

Chỉ gặp được nhau từ trên trang giấy

Với đau buồn đôi mắt lệ vòng quanh.

Đêm nay đây em có nhớ về anh

Câu thơ viết thấm đầy chua chát

Ôi đôi mắt cứ như còn khao khát

Bao câu từ bay vút tận trời xanh.

 

TÔI GỬI EM VỀ

(Trêu bà xã xệ)

 

Tôi gửi em về với mẹ em

Tóc thưa, răng rụng, mắt kèm nhem

Chẳng cần bao gói, hay chằng buộc

Chẳng có bao bì, chẳng có tem.

Tôi gửi em về với mẹ em

Lưng còng, chân trẹo, dáng hom hem

Không tiền, không bạc, không khăn áo

Lời nói thì khem, giấy cũng khem.

Tôi gửi em về với mẹ em

Tiễn đưa lạnh giá tựa như kem

Chỉ cho vừa đủ ba ngày chẵn

Đã nhớ chưa nào… nhắc lại xem (!)

BÂNG KHUÂNG TAM ĐẢO

Ai đi “Tam Đảo Ngũ Hồ”

Câu ca xưa cũ đâu ngờ vẫn đây

Bần thần mây vướng trong mây

Áo em ướt đẫm bàn tay của chàng

Ta nghe hơi ấm bên nàng

Hương quê ứa ngọt tràn sang môi hồng

Em trao hết cả nỗi lòng

Trắng đêm nay với một vòng tay ai

Mai rồi, mai những ngày mai

Bâng khuâng Tam Đảo cùng ai hẹn hò.

 

TÌNH YÊU TAM ĐẢO

Ta đi muôn bậc lên cao

Dáng ai thanh tú khuất vào trong mây

Ta nghe văng vẳng đâu đây

Tiếng chuông đền mẫu thắp đầy khói mơ

Chập chùng sao giữa hoang sơ

Núi non trải rộng vàng tơ nắng chiều.

Mắt ai thăm thẳm bao điều

Để cho anh phải đánh liều làm quen

Ngập ngừng anh nắm tay em

Môi ai thoang thoảng như men rượu nồng

Rừng xanh ai cấy, ai trồng

Bao la Tam Đảo ấm nồng hương quê

Chỉ mong đón được em về

Trái tim yêu mãi cận kề cùng nhau.

 

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

 

KÉN CHỒNG

(Cụ già đã tám mươi tư

Ngồi bên cửa sổ viết thư kén chồng)

 

Sắp tám mươi tư mới kén chồng

Hỏi người năm ấy có còn không

Da mồi đánh phấn thành ra trắng

Má nám thoa son cũng phải hồng

Vóc hạc chẳng qua vì nắng hạ

Mình gầy cũng bởi tại mưa đông

Mấy lần hò hẹn sao chưa tới

Nên nỗi bơ phờ mỏi mắt trông

 

QUÉT THÓC RƠI

Mẹ cầm cây chổi rễ tre

Quét đi quét lại từng khe đất đồng

Hạt rơi, hạt vãi chất chồng

Theo bàn tay mẹ vào trong lá buồm

Đơn côi một ngọn gió nồm

Chẳng làm khô nổi lưng còm mồ hôi

Nhà ta hết gạo lâu rồi

Thiếu ăn chạy bữa từ hồi tháng năm

Kiếp thuê cơm đứng, cơm nằm

Mẹ lo nghèo túng cả năm, cả đời…

Nhìn con mẹ chỉ khẽ cười

Quê mình còn có bao người cháo rau

Khem vụ trước thiếu vụ sau

Xót xa hạt rụng mà đau những ngày

Giữa chiều nắng hạ chầy chầy

Rễ tre, buồm cói vơi đầy tình thương

Một thưng gạo giữa đời thường

Trút sang bị cói người đương đói lòng

Lặng im như thóc trên đồng

Rưng rưng khóe mắt, mẹ không cất lời…

Bốn mươi năm đã xa rồi

Rễ tre, buồm cói bồi hồi lòng con.

 

EM KHÔNG VỀ GIỖ MẸ

Em không về trong ngày giỗ mẹ

Núi sông xa ngăn lối ngăn đường

Dẫu trăm lớp triều dâng sóng bể

Suốt trăm năm vần vũ vô thường.

Em không về trong ngày giỗ mẹ

Cuộc chia ly đôi ngả đôi đường

Muôn thế hệ phải đơm hoa kết trái

Lẽ tự nhiên trong cuộc đời thường.

Mẹ gả em đi khi má chợt hường

Tóc chợt xanh và môi chợt thắm

Một lễ tơ hồng bao người mê đắm

Em thành con của người ta.

Một núm ruột gần, một núm ruột xa

Lần lượt cuốn đi theo muôn chiều gió

Em lặng lẽ với đàn con nhỏ

Việc nhà chồng ai đếm nổi từng năm.

Giỗ mẹ đến rồi em có về thăm

Nén hương nhỏ thay em dâng trước án

Ngọn khói tựa như tơ xanh cuốn

Cứ bay bay trên mâm lễ chiều nay

Em không về mắt lệ cứ càng cay.

 

CHỮA BỆNH BẰNG THƠ

Bệnh mấy tuần qua mặt võ vàng

Thơ từ văn sách vẫn đa mang

Đôi dòng tự vấn càng chua chát

Một khúc ly hương khéo bẽ bàng

“Lục bát” vừa xơi xong mấy chén

“Thất ngôn” đã uống tới dăm thang

Thế mà mọi thứ còn chưa chuyển

Có phải căn nguyên chửa rõ ràng

 

CHỮA BỆNH BẰNG THƠ

Bệnh mấy tuần qua mặt võ vàng

Thế mà thi phú vẫn đa mang

Đôi dòng cật vấn dường chua chát

Một khúc ly hương khéo bẽ bàng

Lục bát mới coi vài bốn khổ

Thất ngôn vừa đọc một đôi trang

Thế mà đầu óc chừng hơi tỉnh

Thơ thuốc may mà có mấy thang

 

KỂ CHUYỆN CÂY XOAN

Thân thẳng vươn cao đến tận trời

Chẳng lo mối mọt đến thăm chơi

Bờ rào chật hẹp không sợ cỗi

Gò bãi cheo leo cũng cứ tươi

Nhà cửa gắng tìm từ khắp chốn

Ghế bàn cố kiếm đến trăm nơi

Có người dưới xóm vui câu chuyện

Nhà gỗ xoan ta được mấy đời

 

MẸ VẪN LÀM TƯƠNG

Về thăm nhà mẹ chiều qua

Nhớ cơm rau muống với cà giầm tương

Chum sành vẫn đứng phơi sương

Dấu tay của mẹ trên tường vẫn đây

Một nia cơm nếp chật đầy

Mốc hoa cau cứ từng ngày hiện ra

Đậu rang thơm nức khắp nhà

Mẹ cho một dúm rồi mà vẫn xin

Nắng trưa muôn hạt đã chìm

Mốc tương mẹ ngả im lìm lên men

Bữa cơm chiều đã đỏ đèn

Đũa rau muống luộc, mẹ khen ngọt rồi…

Trăm năm lẻ, một kiếp người

Chum tương còn đó mẹ thời đã xa

Con đi công tác vắng nhà

Cả năm mới được về ba bốn ngày

Chum tương vẫn ở chỗ này

Ai như dáng mẹ những ngày năm xưa…

Một đời tương mắm muối dưa

Nuôi con, nuôi cháu nắng mưa nhọc nhằn.

Thương sao đời mẹ tảo tần

Mốc tương hiển hiện bao lần trong con

 

GIẤC MƠ THỜI CHIẾN

Chỉ khi nào giấc ngủ đến kề bên

Trang thời chiến mới chập chờn trở lại

Đêm dài thế một chặng dài vời vợi

Cứ mơ hồ như bao giấc mơ trôi

 

NƯỚC ÔM THUYỀN

Anh như em từ ấy gần nhau

Đời dằng dặc nối từ muôn kiếp trước

Tình thắm thiết tựa như thuyền với nước

Nước ôm thuyền trôi khắp vạn trùng khơi

 

TIẾNG THỜI GIAN

Ngồi bên cửa sổ ngắm trời

Nghe dòng sông ở bên đời chảy xuôi

Tưởng đâu con sóng xa vời

Thì ra là tiếng của thời gian trôi

Ướt đầm tóc trắng, mồ hôi

Bẩy mươi xuân đã đến rồi... lướt qua

 

TIẾNG SÚNG DẪN ĐƯỜNG

Lạc đường dài suốt ba ngày

Lại thêm cơn sốt nó dày vò ta

Chợt nghe tiếng súng xa xa

Mừng vui khấp khởi nhận ra đường về

 

VỀ CÙNG ĐỒNG ĐỘI

Nương ai những sắn cùng khoai

Nhắc ta cơn đói đã vài ngày qua

Nhìn quanh bốn phía không nhà

Thôi đành vun lá nằm ra đợi chờ...

Ai ru cánh võng dật dờ

Mơ màng mở mắt bất ngờ ...thân quen (!)

 

RA MẶT TRẬN

(Ga Thị Long 9/1970)

 

Vẫn là em đứng trên ga

Đêm chia tay để đi ra chiến trường

Con tàu lăn bánh trên đường

Chở bao nhiêu, những vấn vương cuộc đời

Dứt lòng ta để xa rời

Chỉ đêm nay nữa một đời xa em.

 

SỐT RÉT TRONG RỪNG

(Công Tum 1972)

Rét từ trong ruột rét ra

Nhớ cơn “ngã nước” của cha thuở nào

Rừng đêm cây lá ồn ào

Chỉ mong một trận mưa rào rõ to

Mơ ngày xưa mới tập bò

Tỉnh ra, trên võng nằm co một mình.

 

VIẾT Ở VIỆN 2

(Gia Lai 6/1974)

Bạn bè đều bị đói cơm

Mình ta cứ ngỡ nhai rơm của bò

Sốt rừng sao mãi dở trò

Ngày mai ra trận, còn dò vào lưng

Thương bao cái dốc của rừng

Thương cây đòn cáng cứa từng lằn vai

Đường đi vào trận còn dài

Ta không đến được, đau hoài là đau.

 

HÀN NỒI CẤT

(Gia Lai 7/1974)

Mày xuyên thủng đáy của tao

Tao thề quyết phải đem dao chặt mày

Nhét mày vào lỗ thủng này

Tối nay, lại cất hấp đầy bông băng

 

LÀM CA

(Gia Lai 7/1972)

Ống này mày đựng bom bi

Thả ra để chặn ta đi trên đường

Cắt vài khoanh gối đầu giường

Lắp quai, lắp đáy ngày thường làm ca

Tặng gần rồi lại tặng xa

Bom bị cũng chẳng làm ta sợ mày.

 

ĐỐT THAN

(Gia Lai 7/1974)

Xưa ông phải tội đốt than*

Chắc rằng có lúc cũng tan nát lòng

Tôi nay tình lý trắng trong

Cấp trên giao việc lòng vòng đốt than

Liềm dao cuốc xẻng lan man

Suốt ngày rèn dập gò hàn rừng sâu

Rời xa mặt trận đã lâu

Vẳng nghe tiếng súng ở đâu vọng về

Mùa mưa cả tháng dầm dề

Xót tình ai giữa bộn bề củi than.

________________________

*Về cụ Trần Khánh Dư tướng của triều Trần

 

NUÔI GÀ

(Gia Lai 7/1972)

 

Mối rừng đóng cục đóng hòn

Đào lên lấy hết mối con nuôi gà

Dao này mài sắc sáng lòa

Coi chừng quấn quýt rồi mà vào chân

Thịt rừng vài bữa đi săn

Vẫn còn khô quắt, khô quăn trên giàn

Ta nuôi làm cảnh dăm đàn

Để nơi đây hóa vô vàn chiều quê

 

CHẤT ĐỘC HÓA HỌC

(Gia Lai 11/1972)

Những vệt khói kéo dài vô tận

Nối đuôi nhau đi mãi về đâu

Rừng xa xót những chùm khói trắng

Lá khô dần rơi xuống vực sâu

Chất hóa học phủ mờ cả núi

Cháy hết rừng, hết suối quê ta

Mầu xanh lá hết dần sau những khói

Chúng đốt cây rừng hay đốt chính lòng ta

 

Ở CHÙA

(Về những ngày ở chùa Đồng Đầu 1955-1965)

Ta là đứa trẻ không nhà

Bỏ nhà cải cách đi ra ở chùa

Mười năm hương khói gió lùa

Mười năm cùng với bốn mùa lặng im

Mười năm mòn mỏi kiếm tìm

Cô đơn như thể cánh chim giữa trời.

 

DỜI CHÙA

(Về những ngày ở chùa Đồng Đầu 1955-1965)

Mẹ chiều con đã dời chùa

Giữa ngày đổi gió giao mùa tháng ba

Nén hương thắp dưới hiên nhà

Cầu xin đức phật rời xa nơi này

Một đời no đói hao gầy

Một đời lưu lạc chất đầy gian truân

Không nhà không bếp không sân

Ăn nhờ ở đậu bao lần trải qua

Dẫu cho vẫn cứ không nhà

Lặng im không nói rời xa cửa chùa

 

TIẾNG RU ĐÊM TRỞ GIÓ

Đêm qua nghe tiếng gió lùa

Bâng khuâng lại nhớ bao mùa heo may

Một manh áo mỏng cộc tay

Cái trai cái hến lắt lay chợ chiều

Mẹ ta gánh cả gánh nghèo

Ngược xuôi vất vả bọt bèo nổi trôi

Mấy mươi năm đã qua rồi

Tiếng ru vẫn cứ bồi hồi trong con

 

TÂM SỰ TÌNH YÊU

(Đêm 15/10/2014)

Cũng là muôn một mầu xanh

Lá mùa đông chỉ hanh hanh sắc vàng

Chồi xuân dù có cũ càng

Vẫn trong veo đến ngỡ ngàng dưới mưa

Còn đây một chút hương xưa

Để dành từ lúc mình vừa làm quen

Mai về trao hết cho em

Để em đóng cửa cài then giữ gìn

Để em cất để làm tin

Khắc vào tim óc muôn nghìn mai sau.

 

AI KHÉO GỢI TÌNH

(Đêm 15/10/2014)

Câu thơ ai khéo gợi tình

Gió mùa đông cũng tự mình hò reo

Đã như thân bấc thân bèo

Cố gom một chút bùn theo làm gì

 

SÔNG QUÊ

(Sông Ngũ Huyện 10/2006)

Qua bao nhiêu những nhịp cầu

Sông quê vẫn cứ đỏ ngầu phù sa

Ta về sông của nhà ta

Gieo mình xuống tắm cho da mỡ màng

Bùn non ơi, cố sẽ sàng

Xin đừng vẩn đục cho vàng tóc em

Sông quê xa mấy vẫn quen

Nước như muốn thở, muốn chen vào lòng

Cha xưa ôm giữ tập vòng

Mẹ xưa cọ mãi chẳng xong dấu bùn

Người xưa đợi đến mỏi mòn

Bờ sông vẫn đó hương còn trong ta.

Bao nhiêu bến nước đã qua

Giờ đây mới được về nhà thăm sông

Có cần chi những đục trong

Hồn quê là chốn ta mong, ta về

 

HÀNH KHẤT

(Chợ Yên Thường 10/2006)

Chẳng là ông chủ cũng không quan

Kiết xác dân quê một chữ hàn

Cơm độn muối rang còn thấy hiếm

Tiền nong của cải lại càng khan

Quần đùi ống vá như mo cuốn

Áo cộc vai xơ tựa vải màn

Vác bị lang thang nơi cổng chợ

Người về lều bãi tự nhiên tan

 

VỐN TỪ TIM

(Sao Đỏ 10/2006)

Tưởng là lối cổ hóa ra kim

Bao kẻ khổ công cố kiếm tìm

Chữ thánh thuở nào vô ý mất

Câu thần độ ấy tự nhiên im

Cố công lấy ngải treo chân ngựa

Gắng sức đem bùa buộc cổ chim

Đâu biết mọi điều mình có được

Đều do chắt lọc bởi con tim

 

THƠ VIẾT KHÔNG ĐÈN

(Thạch Thủy 5/2006)

Mất điện ra sân hóng gió trời

Đành ngồi trong tối đọc thơ chơi

Ông xanh thừa nắng mầm không nứt

Bà đất khan mưa đất chẳng tơi

Thiếu thốn kéo dài chưa chịu dứt

Khó khăn chồng chất chửa cho vơi

Câu thơ phát nóng ngay trên ghế

Mực trộn mồ hôi để bốc hơi

 

NHÂN TẠO

Khách đã dời đi hết cả rồi

Bàn Cờ còn lại một mình thôi

Đá xưa ai đẽo cho thành cuội

Cỏ mới ai gieo để nảy chồi

Tích cũ giăng ra tràn đỉnh núi

Cảnh nay dựng lại kín lưng đồi

Nếu mà biết trước vừa xây lại

Ngồi ngắm ti vi khỏi mệt người

 

TÒ HE

(Cổ Loa 2/2001)

Tò he ông mới nặn ra

Đâu là tôm tép đâu là cá cua

Đâu là quan trạng là vua

Để cho trẻ nhỏ chúng mua về vầy

Nhâng nhâng nháo nháo ta đây

Đồ chơi thiên hạ mặc thây sự đời

 

XÚC XẮC

(Thạch Thủy 7/2006)

Sáu mặt mà sao chẳng có đầu

Người dăm ba tiếng kẻ vài câu

Chầu ba bốn cửa thua càng tiếc

Đặt một hai canh thắng vẫn đau

Được của ra hàng xài những thịt

Hết tiền về bếp chén toàn rau

Mấy trò đen đỏ từ xưa đã

Lấy cớ chơi bời móc túi nhau

 

ĐỒNG ĐIỆU

Chắc người chẳng nhớ ta đâu

Câu thơ bữa ấy đã lâu quá rồi

Mỗi năm có một lần thôi

Chỉ toàn công việc thế rồi chia xa

Người về phố của hào hoa

Còn ta về với rừng già núi cao

Mỗi đêm lại thức đếm sao

Mỗi ngày lại đợi…hôm nào đến chơi

Cho ta ngỏ một đôi lời

Để trang thơ cũ không vời vợi xa

Để cùng nhớ mẹ nhớ cha

Kéo thời xưa lại cho ta được gần

Tình ta lại nở trắng ngần

Tiếng chuông thức tỉnh đường trần đốt thiêu

Cho người thêm một lần yêu

Cho ta thêm một lần khêu lửa tình

Để cho bóng dựa bên hình

Câu thơ đồng điệu ta mình bấy nay

 

VỀ NHỮNG CON ĐƯỜNG

Có những con đường ta đã từng qua

Dù rộng hẹp vẫn tỏa về muôn ngả

Dù dài ngắn vẫn rõ ràng sáng tỏ

Khoảng đi về bao nhiêu lá cùng hoa

Có những con đường thật xa thật xa

Để ta nhớ lối về quê mẹ

Dù gạch lát đã bao lần sứt mẻ

Và ta biết con đường mãi trẻ

Vẫn soi hồng muôn bước những người qua

Có những con đường hằn trong tim ta

Một khoảng chiến tranh lát bằng xương máu

Để non nước sau bao mùa tranh đấu

Lại tưng bừng tươi mới những mùa hoa

Ta đã từng đi trong đêm bao la

Giữa mờ ảo với bao lối rẽ

Trong tâm thức thấy mình mạnh mẽ

Đặt chân lên dọc những con đường

Ôi những bàn chân dũng cảm ngoan cường

Từng đã tập đi trong ngày tuổi nhỏ

Và ta biết chính màu men gạch đỏ

Thắp trong ta hình bóng quê hương

 

BỘ QUÂN PHỤC

Bốn mươi năm rời khỏi hàng quân

Bộ quân phục cởi ra gấp vội

Vừa mặc lại khi về đại hội

Những bài ca xanh sắc áo màu xanh.

Đất nước mình vừa qua khỏi chiến tranh

Người chiến sĩ thành người xây dựng

Bao vất vả gian lao chịu đựng

Có đáng gì sau những hy sinh.

Ôi những tháng năm chiến thắng quang vinh

Đồng đội mất còn gợi bao thương nhớ

Chúng tôi còn đây các anh nằm đó

Những gương chiến đấu kiên cường.

Hôm nay đây về với đời thường

Bộ quân phục cởi ra gấp lại

Từ biên giới nếu mai đây có gọi

Quân phục ơi, ta sẽ lại lên đường.

 

TẶNG CỤ VIỆN

Đã khéo bon sai lại giỏi thơ

Tấm gương cần mẫn khó phai mờ

Tám mươi năm lẻ còn xây mộng

Bát thập niên dư vẫn ước mơ

Sĩ khí thu vào muôn dáng thế

Tâm tình gợi mở vạn duyên tơ

Họ hàng con cháu đều trân trọng

Bạn hữu trăm miền đón đọc thơ

 

CẢM HỨNG ĐƯỜNG CHIỀU

Ai bảo trần gian chẳng hữu tình

Đủ mùi yêu ghét với xem khinh

Người ưa tục lụy tìm danh phận

Kẻ thích tham thiền với kệ kinh

Quá khứ bên tai còn rõ tiếng

Tương lai trước mắt chửa ra hình

Kiếp người rồi sẽ ra sao nhỉ

Ai đó đong hoài cháo chúng sinh

 

MUÔN ĐỜI MÃI MÃI XUÂN

Chẳng biết hôm nao mới lại xuân

Để ta nâng bút chắp thêm vần

Qua miền Thanh Nghệ tìm tri kỷ

Đến đất Thần Kinh gặp cố nhân

Họa ảnh nàng thơ soi bể ái

Chép tình thi sĩ tỏ nguồn ân

Nối dài thêm nữa bao tình cảm

Mong ước muôn đời chỉ những xuân

 

MÃI MÃI XUÂN

Họ bảo ông nay chẳng thích tiền

Chắc là đầu óc có hơi điên

Ra đường túi rỗng môi đành khát

Xuống chợ tay không bụng đói liền

Áo cũ kẻ chê không lịch sự

Chân không đứa bảo kẻ nghèo hèn

Ông rằng mọi thứ ông đều trọng

Cái gốc nhân văn ấy phải hiền

MONG MƯA

Mấy tháng không mưa lúa héo gầy

Đòng đòng trổ nghẹn giữa lưng cây

Tiếc khi cày vỡ run đầu gối

Buồn lúc be bờ vẹo cánh tay

Những ước đầu bông đầy kín hạt

Từng mong cả ruộng ánh vàng rây

Sớm hôm vất vả không ngơi nghỉ

Để khắp muôn nơi sống đủ đầy

 

BÀN CỜ TIÊN

Khách đã rời đi hết cả rồi

Bàn cờ còn lại một mình thôi

Đá xưa nắng đẽo cho thành cuội

Cỏ mới mưa gieo để nẩy chồi

Tích cũ dàn ra trên đỉnh núi

Cảnh nay tụ lại dưới chân đồi

Phải chăng trời cũng đang dần tối

Thoáng tiếng chuông xa đã đổ hồi

 

CHỈ CÓ THỜI

Danh giá vinh quang chỉ có thời

Trên phường chẳng biết có cho ngơi

Lúc xin vào Đảng ai từng hứa

Phục vụ nhân dân đến trọn đời

Sự nghiệp nào ai nhờ gánh đổi

Công danh đâu kẻ đến khuyên mời

Mười năm sừng sững bao gian khó

Để lại mai sau được mấy lời

 

CẢM XÚC HẢI DƯƠNG

Hãy cho ta ở lại Hải Dương

Nơi miền quê trên bến dưới thuyền

Đã gắn bó bao mùa mưa nắng

Nối tình yêu xa đến trăm miền

 

Nhớ khi xưa đầu sóng quân reo

Cờ mao tiết in hình non nước

Còn vang mãi câu thề Sát Thát

Gió cồn lên trong tiếng loa truyền.

 

Hãy cho ta gửi lại Hải Dương

Một tình yêu vô bến vô bờ

Một tên xóm tên làng tên phố

Cũng thành bao thương mến mong chờ

Hãy cho ta về lại Đò Chanh

Một màu gai xanh biếc xa mờ

Nào ai đó trong lòng xao xuyến

Tự ngàn xưa cho đến bây giờ

 

Hải Dương ơi người nhớ hay không

Đêm ra trận Bình Than dậy sóng

Và Kiếp Bạc gươm thần vang bóng

Cứ ngời lên trong ánh sao cờ

 

Ta ra đi chưa trở lại bao giờ

Trận đánh bốn ngàn năm còn đó

Và lịch sử cứ vang rền trong gió

Vẫn hằn sâu trong trái tim ta

 

Hải Dương ơi sông nước bao la

Có phải thế bến bờ mãi sóng

Để Đọ Xá búa liềm khơi sức nóng

Cách mạng về trong muôn lớp súng gươm

 

Anh biết Lục Đầu càng lắm yêu thương

Cả Hưng Đạo đôi mùa vào hội

Để thông trúc Côn Sơn vẫy gọi

Biết bao tình hòa trộn mãi trong ta

 

Một mảnh chiến bào ngời sáng sông xa

Một mảng tường in dáu hài nhẹ lướt

Để sông núi nhớ về câu hát

Cứ xanh ngời trong ánh sao sa

 

Ta hát về Hải Dương hôm nay

Ngàn sao sáng bốn bề sông nước

Tình yêu gắn bao niềm mơ ước

Đã tươi màu từ muôn đôi tay

 

PHẬN GÁI

Mấy chục năm qua bỏ cửa nhà

Theo chồng đi tới tận nơi xa

Chưa quên mỗi sáng ôm lưng mẹ

Mãi nhớ bao ngày bám cổ cha

Gốc bưởi sau vườn bao lứa quả

Cành hồng trước cổng mấy mùa hoa

Hằng đêm thao thức về quê cũ

Bố mẹ năm nay chắc đã già

 

CẢM HỨNG SÔNG HỒNG

Xe lăn chầm chậm lướt qua cầu

Nhìn xuống bao la cát một mầu

Cỏ dại đang lên từng bãi rộng

Lòng sông hẹp lại một khe sâu

Đâu ngờ có lúc sông khô cạn

Lại nhớ hôm nao sóng đục ngầu

Trời đất bày ra muôn sự lạ

Để ta cảm nhận những ưu sầu

 

TRĂNG QUÊ

Ánh trăng vào tận đầu giường

Đêm sâu tĩnh lặng hạt sương la đà

Ngẩng đầu ngắm ánh trăng ngà

Chắc nơi quê cũ cũng hòa vào trăng

Để bao nỗi nhớ bâng khuâng

Cùng nhau ký gửi lên vầng trăng trong

Cúi đầu thổn thức tiếng lòng

Quê xa muôn ánh trăng trong vẫn đầy

Từ nơi ấy đến nơi này

Theo trăng ta gửi bấy chầy nhớ thương

Cô đơn một bóng trên giường

Càng thương càng nhớ cố hương xa mờ

 

NHỮNG CÂU HỎI CỦA ĐỜI

Hỏi ta, ta biết hỏi ai

Giữa bao la, giữa rộng dài thế gian

Bao điều chưa hợp đã tan

Bao điều vừa trút đã tràn hết ra

Bao điều chợt đến chợt qua

Bao đièu chưa hiểu đã sa chân vào

Bao điều ngỡ rộng ngỡ cao

Bao điều ngỡ trắng nhìn vào lại đen

Bao điều ngỡ lạ mà quen

Bao điều sang chính là hèn mà nên

Bao điều ngỡ nhớ mà quên

Bao điều méo mó mà viên cho tròn

Bao điều từng chịu xói mòn

Bao điều đành ngậm bồ hòn mà trông

Bao điều nói có thành không

Bao điều sâu thẳm chẳng trông thấy gì

Bao điều nói đến mà đi

Bao điều dối trá chẳng vì cho ai

Hỏi chi cho lắm cho dài

Hỏi ta, ta biết hỏi ai bây giờ

NHỮNG DÒNG SÔNG

Đã bao lần đến với Thương

Và bao lần đã vấn vương với Cầu

Bâng khuâng với một Lục Đầu

Để bao nhung nhớ ưu sầu đi theo

Giữa nơi chỉ thấy trong veo

Nước cuồn cuộn chảy gió vèo vèo bay

Cánh buồm ôm gió căng đầy

Con đò cuốn cả hàng cây đôi bờ

Quê ai một dải xa mờ

Khói sương bao lớp bơ phờ con tim

Cho ta làm một cánh chim

Khát khao muôn lẽ nổi chìm trong mây

Cho tình ta mãi đong đầy

Xứ Đông xứ Bắc thêm dầy nghĩa ân

Cho ta có được một lần

Cất câu quan họ ân cần đón nhau

 

SAU NHỮNG CÂU KIỀU

Bâng khuâng với một câu Kiều

Ai thương ai giận giữa chiều đang tan

Nào ai đau đớn oán than

Với bao đen bạc bao oan trái tình

Để rồi chìm đắm hư vinh

Tự mình chẳng thể vì mình được đâu

Mua vui dù viết đã lâu

Mà sao cứ xót từng câu từng lời

 

NHỚ QUÊ

Giật mình tỉnh giấc nhớ quê xa

Mười mấy năm chưa trở lại nhà

Bến Đám thuyền ai vừa ghé đến

Đền Trầm bụi đỏ mới tìm qua

Trà dư tấm tắc vài câu hát

Tửu hậu xôn xao mấy khúc ca

Thiên hạ nào ai từng trải mộng

Giật mình tỉnh giấc nhớ quê xa

 

NGẪU HỨNG BẨY MƯƠI

Hoa đào nở rộ đón tân xuân

Mừng thọ năm nay đủ thất tuần

Một thuở cơ quan toàn đóng lính

Có thời bộ đội chỉ làm quân

Thơ văn nhếu nháo cho rèn não

Cầu bóng nhớn nhơ để luyện gân

Ai đó hỏi han đành chiếu lệ

Có gì đáng để bắc đồng cân

 

TÌM XUÂN

Tìm mãi mà sao chửa thấy vần

Gửi vào tâm sự để chào xuân

Con vàng lửng thửng men bờ giếng

Cái mướp vòng vo lượn cuối sân

Luống cải lên ngồng cao tới gối

Đám rau bồ ngót vướng bàn chân

Thì ra thơ tết như bày sẵn

Chỉ đợi gom vào xếp thật cân

 

TẶNG THƠ

Chắc em chẳng nhớ anh đâu

Gặp nhau từ thuở đã lâu quá rồi

Mỗi năm có một lần thôi

Chỉ toàn công việc thế rồi chia xa

Em về phố của hào hoa

Còn anh về với rừng già núi cao

Mỗi đêm lại thức đếm sao

Hẹn cô gái ấy hôm nào đến chơi

Để cho anh ngỏ đôi lời

Để trang thơ cũ khỏi vời vợi xa

Để cùng nhớ mẹ nhớ cha

Kéo thời xưa lại cho ta được gần

Để tình ta mãi trong ngần

Trái tim thêm nữa một lần đốt thiêu

Cho em thêm một lần yêu

Cho anh thêm một lần khêu lửa tình

Để cho bóng dựa bên hình

Câu thơ đồng điệu ta mình với nhau

 

NHỮNG CUỘC GẶP NHAU

Trái đất này năm sáu tỉ sinh linh

Ai đã gặp ai phải chăng là định mệnh

Trên một công viên hay trên giường bệnh

Những vui buồn hồ dễ biết được đâu

Có cuộc gặp rồi rất dễ quên mau

Có cuộc gặp để rôi nhớ mãi

Những cuộc gặp nên nghì nên ngãi

Cả trăm năm quện chặt ta mình

Còn có bao nhiêu cuộc gặp vô tình

Chỉ bất chợt trong phút giây quá ngắn

Rồi sau đó không hề may mắn

Đến rồi đi trong mỗi sớm mỗi chiều

 

THÔI LÀM BÁO CÁO CÔNG VĂN

Báo cáo công văn viết đủ rồi

Chỉ còn đêm trắng nữa này thôi

Ngàn trang thắp được bao đèn sáng

Vạn cuốn đun chừng mấy ấm sôi

Chữ mượn của trời đen tựa mực

Giấy xin của đất trắng như vôi

Mấy ai hiểu được muôn tri thức

Để lại mai sau được mấy hồi

 

THÔI LÀM LÃNH ĐẠO

Công cán bao năm đã vẹn rồi

Khóa này dứt khoát phải xin thôi

Sớm ra ngắm nắng trùm trên bãi

Chiều đến coi mây cuốn đỉnh đồi

Lớp trẻ cứ khen tình cũng khá

Cánh già vẫn bảo lý không tồi

Thư nhàn cầm bút gieo đôi vận

Đợi cá ao sâu đến đớp mồi

 

 

NGƯỜI HƯU MỌI THỨ ĐỀU HƯU

Xếp lại công văn với giấy tờ

Mấy chồng báo cáo mấy chồng thơ

Thùng tôn méo mó han còn đợi

Hộp giấy lem nhem mốc vẫn chờ

Đốt bếp khói xông khê mũi ngửi

Gói đồ hoen mực lấm tay sờ

Dẫu sao cũng tốn bao công sức

Cần giữ hay thôi…nghĩ mệt phờ

 

Thứ Ba, 29 tháng 8, 2017


TẾT GÀ

(Thơ đón tết gà 2017)

 

Thơ phú nơi đâu cũng góp phần

Cả năm chơi nhởi chẳng dừng chân

Giật mình mới đó gần qua cựu

Chớp mắt dường như đã sắp tân

Hối hả khai mào chào đón tết

Vội vàng chuốt cựa đợi chờ xuân

Năm nay gà qué bay xa nhé

Ai có chung vui họa mấy vần

 

NỐI VẦN

(Tự họa bài Tết gà)

Trà rượu nơi đâu cũng có phần

Cờ gian bạc lận gánh vài chân

Xuống quê hỉ hả phô ta cựu

Lên phố hò reo ấy chú tân

Bày vẽ lớp lang người đón tết

Chơi trò kiểu cách kẻ chơi xuân

Tết gà luẩn quần xung quanh cối

Góp bút cùng ai để chắp vần

 

CHUYỆN TÌNH CỦA BẬU

(Kỷ niệm 40 năm ngày cưới)

Quá bước đường xa lạc đến đây

Thấy cô gái bé dáng hơi gầy

Môi như đào thắm rung rinh nở

Mắt tựa hồ thu sóng sánh đầy

Mấy kẻ sang giầu chờ phía bắc

Vài tay quyền thế đón đằng tây

Vẫn nhờ bà mối sang xin cưới

Xé rách bao vòng lưới bủa vây

 

Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018

CÒN MÃI TRONG THƠ

(Thân tặng quê hương Cổ Thành)

Đi đâu vẫn nhớ về nơi ấy

Đồng quê thơm hương lúa ngọt lành

Dẫu muôn xóm muôn làng tôi đã thấy

Vẫn thương riêng nơi ấy Cổ Thành.

Tôi biết nơi đây đầy ắp chân tình

Những mùa vụ nối dài ngày tháng

Và ai đó với bàn tay trắng

Đã xây nên làng xóm quê mình.

Những An Ninh, Cải Cách, Hòa Bình

Với Thông Lộc, Phao Tân, Thành Lập

Miền quê với ngàn năm văn vật

Tự bao đời hòa trộn nước sông Kinh.

Đâu Lý Dương và đâu nữa Tu Ninh

Nam Đông, Nam Đoài, Đồng Tâm thân thiết

Đâu Ninh Giàng, Cổ Châu xanh biếc

Ấm tình người trong ngào ngạt hương say.

Về Cổ Thành trong sớm hôm nay

Câu chào hỏi thân thương quen thuộc

Bè bạn bên nhau bàn tay nắm chặt

Bao lâu rồi đâu dễ đổi thay.

Cổ Thành ơi tôi đã về đây

Câu hát lung linh hòa trong ánh mắt

Câu thơ viết những gì đẹp nhất

Cổ Thành Thơ, còn mãi trong thơ.

 

CỔ TÍCH THỜI CHIẾN TRANH

Tôi ra đi chỉ có một mình

Không làng xóm, người thân đưa tiễn

Cơ quan đang làm, không thể đến

Một tôi, lặng lẽ lên đường

Thiêng liêng sao, đường tới chiến trường

Xin hãy để cho lòng thanh thản

Đừng ai đó buồn đau, ngăn cản

Để rồi đây mãi mãi cô đơn.

Tôi ra đi, ai đó chắc buồn hơn

Năm tháng thời gian sẽ thành kỷ niệm

Thành cổ tích cho bao câu chuyện

Để từng đêm cha mẹ kể con nghe

 

CHUYỆN CỦA TRĂNG TRÒN

Có phải bao giờ trăng cũng tròn đâu

Ôi thương thế những ngày trăng khuyết

Từng chờ đợi mới thấy lòng da diết

Có bao người quên hết những mùa trăng

Những tháng năm, rực rỡ tháng năm

Không còn nữa giữa đời con gái

Xin hãy để trong lòng thư thái

Ngắm trăng tròn cho hết những tròn trăng.

 

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017

NGƯỜI TA VỀ TRƯỚC MẤT RỒI

(Nhớ Song Kim)

 

Người về giữa đắng cùng cay

Ta đi giữa những tỉnh say nỗi lòng

Người về nước mắt lưng tròng

Ta đi giông bão lở long đất trời…

 

Người ta về trước mất rồi

Để người ở lại bao lời quặn đau.

Mong sao gặp lại lần sau

Lễ tơ hồng giữa muôn màu sắc vui

 

Khăn xưa khẽ giở ra chùi

Mắt xưa ướt lệ đứng lùi phía xa

Chiều đông cái nắng nhạt nhòa

Mới vừa mới đó đã ba năm rồi.

 

Ta là chi đó của người (!)

Đành lòng nuốt lệ ngậm ngùi làm thơ…

 

TẾT VỀ NHỚ CHỊ

 

THẾ LÀ CHỊ ĐÃ ĐI XA

(Viết trong ngày tang chị 22/12/Ất Mùi)

Thế là chị đã đi xa

Dọc đường về, nước mắt nhòa chị ơi

Chỉ là chị với em thôi

Bát cơm xin, thấm mưa rơi chợ chiều

Mẹ đi làm mướn rõ nhiều

Một môi bã đậu lều bều chẳng no

Nửa chinh này mẹ dặn dò

Phòng khi vắng mẹ lỡ đò, ở xa

Nắm rau héo nắm măng già

Cho qua một bữa, cho qua một ngày.

Mười năm vấn nạn đã đầy

Chị đi làm lẽ chẳng tầy nghiệp duyên

Nhà chồng hiếm của, hiếm tiền

Lo con, lo mẹ đủ phiền, đủ đau

Nưng cơm gạo đỏ với rau

Vẫn còn thiếu thốn đằng sau mỗi mùa

Một vài mớ tép, mớ cua

Đôi thưng gạo tấm bán mua mỗi chiều

Bốn cô con gái một lèo

Càng thêm vất vả gieo neo hàng ngày

Góp trâu, góp ruộng, góp cày

Tháng ba giáp hạt vẫn vay đợi mùa

Cửa nhà mưa dột, gió lùa

Những cơn ấm lạnh có thừa trải qua

Hôm nay chị đã đi xa

Nén hương em thắp gọi là nhớ thương

Mẹ nuôi chị một chặng đường

Cũng như con ruột bình thường vậy thôi

Ngày mai tết Táo mất rồi

Xuân nay vắng chị bồi hồi xót xa…

Ngày mai em sẽ về nhà

Càng thương các cháu thế là mồ côi.

 

Thứ Hai, 9 tháng 4, 2018

 

MỘT SỐ BÀI THƠ VỀ THIỀN

 

CẢM ỨNG LONG HOA

(Họa thơ trụ trì chùa Long Hoa)

Xem thơ mộ đạo mới tìm sang

Cảnh trí Long Hoa thật ngỡ ngàng

Tam bảo mới xây càng rộng rãi

Thiền môn vừa mở thật khang trang

Câu kinh Bát nhã gieo lời ngọc

Bản chú Đà la thắp ý vàng

Bao lớp chân tu về giảng pháp

Kim cương vô trụ mãi còn vang

 

VÔ NGÃ

(Họa thơ trụ trì chùa Long Hoa)

Đã trải bao mùa nắng lại mưa

Long Hoa còn đó dấu ngàn xưa

Tâm tâm ngũ uẩn dâng lời trọng  

Tánh tánh giai không nguyện nét ưa

Tổ tổ khai kinh đâu thể thiếu

Người người trì tụng cớ sao thừa

Thiền tông mặc chiếu nhân vô ngã

Quả kiếp luân hồi đã thấu chưa

 

TÙY DUYÊN

Tâm kinh Bát nhã tụng hằng đêm

Đạo pháp tu trì chẳng tiến thêm

Có phải tư tâm còn phó chấp

Hay là tánh dục khó răn kềm

Chân tu cảnh giới đè chưa cứng

Bản ngã trần ai nén vẫn mềm

Mới biết trầm luân kia giải thoát

Đời người có được cũng tùy duyên

 

CƠ DUYÊN

Tòng tâm sở dục tự hoàng thiên

Nhân quả phân ưu thật ảo huyền

Có phải tư tình còn phó chấp

Hay là bản ngã ít căn nguyên

Mười đời giữ đạo còn chưa vẹn

Một kiếp câu lưu thật khó tuyền

Mới biết luân hồi mong tránh được

Đời người có được mấy cơ duyên

 

PHÓ CHÚC

Bát nhã tâm kinh đọc đã làu

Vẫn không tránh nổi cảnh đời đau

Bởi chưng quả kiếp từ khi trước

Gánh nợ luân hồi đã đến sau

Tuệ nhãn chân truyền luôn tới chậm

Nhân duyên giải kết khéo qua mau

Tìm thiền ai đó đang huyền mộng

Phó chúc đôi điều để tặng nhau

 

BỄN GIÁC

Bến giác đi tìm đã thấy chưa

Mà mong gột rửa tấm thân thừa

Một đời chay tịnh đong không đủ

Muôn kiếp trầm luân xếp chẳng vừa

Chốn phật nhương kinh đâu trễ nải

Sân thiền trì tụng chẳng hề thưa

Tại gia phân phó đời cam chịu

Duyên kiếp trần ai khéo đón đưa

 

KHẨU NGHIỆP

Khẩu nghiệp xui ta mắc nạn này

Chân kinh Thập Thiện bảo cho hay

Vọng ngôn trá ngụy thêm chua chát

Lưỡng thiệt lật lường lắm đắng cay

Ác ngữ cục cằn gieo thói độc

Ý ngôn thêu dệt chuốc trò say

Họa tòng ngôn xuất người xưa nói

Gánh nợ trần gian khó trả vay

 

NGŨ CĂN

Gốc ngũ căn xưa sớm luận bàn

Đức tin sinh tử chẳng lìa tan

Pháp lành tinh tấn xoay sông biển

Chánh niệm chân ngôn chuyển núi ngàn

Giá trụ tâm hành năng quán sát

Tuệ tâm thành tựu sớm đăng đàn

Mới hay mọi nhẽ người tu tập

Gốc ngũ căn xưa sớm luận bàn

 

TRẠCH GIÁC

Trạch giác thường khi lục vấn tâm

Tiêu tan vọng niệm bớt sai nhầm

Mở đường tinh tấn qua mê lộ

Tạo lối hân hoan vượt cát lầm

Hóa giải não phiền nâng trí huệ

Rọi soi chân giả hiểu cao thâm

Lấy điều buông xả mà tu tạo

Vun đắp thiền môn tới vạn tầm

 

VÔ ĐỀ

Bát nhã khai kinh khéo dị thường

Một đời tu tập mới nên chương

Trì tâm quán chiếu soi ngàn lối

Mẫn ý căn duyên chỉ một đường

Thân pháp cấu thành đâu nhược yểu

Chân tâm tùy hiện rõ khang cường

Nhân quần ai chẳng mong tri túc

Đạo pháp tùy duyên mới tỏ tường

 

Thứ Năm, 22 tháng 2, 2018

 

VIẾT ĐỢI GIAO THỪA

(Đón xuân 2018)

 

Tranh thủ giao thừa đón chúa xuân

Ngồi bên bàn phím gõ đôi vần

Đào hồng mới nở hồng hồng thắm

Dơn trắng vừa bung trắng trắng ngần

Chè mạn thử qua vài bốn bận

Rượu tăm nếm tạm một hai lần

Bỗng đâu điện thoại reo không ngớt

Chờ nhé ai ai cũng có phần

 

Ch Nht, 14 tháng 4, 2019

 

NẶN TƯỢNG

Nặn tượng cho đời đến ngắm chơi

Cần chi công sức lỗ hay lời

Người khen mặt mũi trông xinh xắn

Kẻ bảo hình dong ngó tuyệt vời

Thổi óc nào hay thành óc chuột

Xông tim đâu biết hóa tim dơi

Mới hay mọi sự không cầu được

Xấu đẹp xem ra phải hỏi trời

 

NĂM THẮNG BỘN BỀ

Lâu lắm không về nơi đấy

Trường xưa lặng lẽ trong hè

Bao bạn cũ chia tay thuở ấy

Chiều nay ai sẽ quay về.

Một đời nắng mưa gượng ghẹ

Trường xưa năm tháng bộn bề

 

THƠ ĐÙA

Muôn cánh chim bay lượn dưới trời

Tìm nơi vui thú để rong chơi

Tình ta đằm thắm càng tươi trẻ

Nghĩa bạn thân thương mãi rạng ngời

Sao sáng lung linh thêm gắn bó

Trăng vàng vành vạnh chẳng xa rời

Hôm nào cũng cứ tươi rói rói

Hò hẹn qua thăm để đón mời

 

LỚN KHÔN

Con trai đưa tiền mua quà tặng mẹ

Nhớ ra “phụ nữ” tháng mười

Mình nghỉ hưu lâu rồi

Cũng quen chiếu lệ

Già rồi dễ quên

Không biết tự bao giờ

Mình đã ở trong tầm mắt của con

Chăm sóc dưỡng nuôi bảo vệ

Cứ tưởng chúng mải vui, mặc kệ

Thì ra chúng đã lớn khôn

Có lẽ không cần nhắc đến gia môn

 

BIẾT HỎI AI

Bão bắt đầu từ đâu

Thầy và cô đã nói

Ta bắt đầu từ đâu

Tối tăm và sáng chói

Có cả ngàn câu hỏi

Ai trả lời cho ta

Lẽ đời thường ba hoa

Lẽ đời thường nghiêm khắc

Tất cả đều xa lắc

Biết hỏi ai bây giờ

 

GIỞ TỪNG TRANG

Không phải tự dưng đâu

Họ viết câu chuyện cổ

Ta đọc mãi đọc hoài

Sao vẫn là trẻ nhỏ

Giở từng trang từng trang

 

XIN HÃY CƯỜI

Ta thương đời như chính cuộc đời ta

Càng thất bại càng không biết sợ

Và ai đó nói đời là nợ

Có hề chi khi vỡ nợ trong đời

Ta lại thương ta gấp chín gấp mười

Ta ơi ta và xin hãy mỉm cười

 

NÂNG NIU

Chẳng bao giờ ta nhìn thấy sau lưng

Quá khứ vinh quang cần gì nhắc tới

Vì như thế nên cái gì rất mới

Là cái ta cần trân trọng nâng niu

 

THẤY NHÃN TIỀN

Đến cõi Sa Bà mấy chục niên

Ngổn ngang trăm mối những ưu phiền

Ngày mong sinh kế làm cho đủ

Đêm ước bình tâm nghỉ được yên

Khéo sợ chạm vào loài quỷ ác

Thêm lo vướng phải lũ cường quyền

Sa chân bám dính miền danh lợi

Hoạn nạn bày ra thấy nhãn tiền

 

ĐƠN CÔI

Thương mình phải ở nơi xa

Nén hương thắp giỗ mẹ cha cũng nghèo

Ai đi trăm núi ngàn đèo

Để lòng nhức buốt những chiều đơn côi

 

SỬA MỘ PHẦN ÔNG BÀ

Nắng mưa ai trút vào tôi

Để đời lưu lạc và rồi cứ xa

Mỗi đêm nằm nhớ về nhà

Cha nằm nơi đó, mẹ già nằm đây

Mắt buồn bóng tối giăng đầy

Cả đời cha mẹ héo gầy vì con.

Vẫn mong miếng ngọt miếng giòn

Nâng niu sớm tối cho tròn nghĩa ân

Mỗi năm có được một lần

Tự tay đắp điếm giữ phần cốt xương.

Câu kinh gõ nhịp đêm trường

Ta nghe thấy đủ mười phương đất trời

Nhẩm theo lấy một đôi lời

Khéo là bắt chước sự đời hay ho

Những ai cách bến xa đò

Nén tâm hương thắp cả cho cõi người

 

MỘT MÌNH

Hạ nắng dường như sắp hết rồi

Suốt ngày rả rích rặt mưa thôi

Muốn lên cô tám lo thuyền vỡ

Định xuống mợ ba sợ bến trôi

Đặt bút kiếm hoài không thấy giấy

Mở chai tìm mãi chẳng ra mồi

Một mình một chén ngồi gà gật

Không bát không mâm cũng chẳng nồi

 

LẠI NHỚ MÙA THU

Bứt rứt làm sao nóng cuối hè

Những chùm lửa đỏ kín bờ tre

Trái hồng Đà Lạt vừa ưng ửng

Quả bưởi Năm Doi cũng đỏ hoe

Trên phố thoáng thơm mùi bánh cốm

Dưới quê dịu ngọt vị xôi chè

Sân đình năm ấy giờ sao vắng

Bứt rứt làm sao nóng cuối hè

 

NƯƠNG VẦN THƠ BẠN

(Họa thơ Nguyễn Tiến Ích)

Mở kính coi thư trước cửa nhà

Nửa sân vàng rực ráng chiều sa

Bên vườn ríu rít vài con ngỗng

Dưới bếp lao xao mấy mái gà

Tám quãng thấp cao ngời giấy điệp

Năm cung trầm bổng cất lời ca

Thì ra bạn ở bên Kinh Bắc

Mừng hội yêu thơ gửi đó mà

 

CHÚ MƯỚP

Chú mướp hôm nào bé tí teo

Suốt ngày chạy nhảy với leo trèo

Xù lông xoa mặt cô nồi thủng

Giở vuốt cào lưng bác cột oeo

Chạy trước bám hờ nằm chỏng gọng

Vờn sau vồ hụt ngã lăn queo

Bây giờ đã lớn to hơn trước

Nửa bát con cơm chén hết veo

 

NHỚ ĐÓN TA

Đã hẹn gặp nhau tại Cổ Loa

Trường xưa chửa thấy có ai qua

Nhớ ngày thu đến vang rền trống

Nhớ buổi hè sang đỏ thắm hoa

Yêu bạn giúp nhau khi gắn bó

Quý thầy dạy bảo lúc chia xa

Năm nhăm năm chẵn như vừa đó

Bạn có về không nhớ đón ta

 

THẾ SỰ PHIỀN

Khối thứ xem ra phải tảng lờ

Giả câm giả điếc giả làm ngơ

Vào miền cực lạc ông ừ ứ

Đến xứ phù hoa lão ớ ờ

Dại cái đòng đong hay lọc lõi

Khôn con mài mại chỉ gà mờ

Thế mà vẫn cứ cho là giỏi

Từ lúc thơ ngây đến tận giờ

 

VỀ QUÊ TRẠNG

Đọc sấm trạng mấy mươi năm trước

Hôm nay mới đến quê ông

Đồng đất đơn sơ núi non thưa thớt

Nhà xưa để đó trống không

 

Giai thoại vẫn chỉ là giai thoại

Ai thêu, ai dệt mặc ai

Câu chữ triền miên nối bao thế hệ

Cứ tin, tin mãi, tin hoài.

 

Chúa Trịnh phải phò Lê

Nhà Mạc lên phía Bắc

Chúa Nguyễn phải vào Nam

Ông nói lúc nào, nào ai có biết

 

Dẫu có “tam sao thất bản”

Mỗi câu, mỗi chữ thần minh

Người đời tôn ông là thánh

Ngàn năm, vạn thuở oai limh.

 

Từ trong căn nhà tranh

Những đồ vật lặng im không nói

Những đồ vật nào ông từng dùng tới

Xin chạm tay lấy dấu thần nhân.

 

Mượn cớ kéo nhau cầu đạo du xuân

Đám học trò bẩy mươi về thăm quê trạng

Ngồi dưới chân Người cảm nhận

Ông xoa đầu... sự học vẫn mong manh (!)

 

DỊCH LÝ

(Họa bài Kinh vô tự của PKU)

Dịch lý càn khôn khéo lạ kỳ

Từng trang chứa đựng lẽ huyền vi

Bẩy mươi năm lẻ chưa tìm nổi

Hai sáu ngàn đêm chửa biết gì

Tải đạo bao người dò bến đỗ

Tầm nhân mấy kẻ rắp tâm qui

Sáu mươi bốn quẻ từng nung nấu

Chọn mãi chưa ra được một thì[1]


[1] Là thời khắc tốt cho một việc nào đó

 

SẮC KHÔNG

Sắc không hồ dễ hiểu  

Nên nỗi căn cơ cúng dường

Vô trụ[1]

Quỷ nào đến được nơi đây (?)

Sao vẫn cần bát bộ kim cương

Hộ pháp

Lấy uy vũ trấn truy loài ác

Mới mong giữ vẹn đạo này đạo khác

Kỳ khôi

Tìm đâu ra tuyệt đỉnh quyền năng

Bao giờ hết cung thương giáo mác

Cửa chùa

Bao giờ mới hoài thai trạch giác

Chúng sinh không mắc tội a dua

Vô ngã

Hay là hữu ngã, thật khó theo

Ai trả lời các đấng Tỳ kheo[2]

Tự vấn

Ai đàm luận đúng sai

Để mỗi sinh linh hiểu được

Dẫu cho chẳng có ai bắt buộc

Sao lại cố nghe, cố thuộc

Văn ngôn của người đời

Vô ngôn

Mà sao vẫn có lời

Ngàn vạn câu tụng niệm

Và... lời tán[3] luôn vẫn mở đầu

Những lời viện dẫn lạ lùng

Thành giáo lý cao xa

Thành kinh, thành kệ

Đọc muôn ngàn lần Sắc không

Ta vẫn là ta

Tự nơi nào A la hán[4] mọc ra (?)


[1] Một cách nói về chữ không trong đạo phật

[2] Tên gọi của các tu sĩ đệ tử nhà phật

[3] Phần mở đầu mõi khi đọc kinh phật

[4] Là kết quả cao nhất mà người chân tu có thể đạt được


VÀO CHÙA

Vào chùa gặp ông hộ pháp

Cao to chạm tới nóc nhà

Bên ngọc lưu li sáng quắc

Bên đao chém xuống tà tà

Trừ gian đã hẳn là nên có

Khuyến thiện dù sao thiếu được đâu

Mới hay nhân thế còn đau khổ

Đến được Tây Phương chắc cũng lâu

 

Gặp lại Liên Phan năm 2018

 

GẶP LẠI

Vừa đó hôm nào

Bốn ba năm chẵn

Mới lại gặp nhau

Em có đón đâu

Sao anh lại đến (?)

 

GẶP LẠI NGƯỜI XƯA

Thế là đã bốn ba năm

Người đi từ xứ xa xăm trở về

Gặp nhau giữa những bộn bề

Tiếng chim khách cũng não nề cất lên

Bao năm đã cố tình quên

Sao người trở lại khơi nên dạ sầu

Ai xây nên quán nên cầu

Ai đưa tay quấy đục ngầu bến sông

Để rồi không cứ hoàn không

Một đời đơn độc mênh mông những buồn...

 

ĐÊM MƯA

Vắng em giữa một đêm mưa

Cành na gõ nhịp đu đưa trước nhà.

Em đi một buổi thôi mà

Vắng sao, vắng tựa như là chợ tan

Mâm cơm bỏ dở trên bàn

Đợi chờ ai giữa muôn ngàn cô đơn (?)

Ba tầng nhà để trống trơn

Các con cũng vắng... còn hơn một mình

Ngoài hiên giọt giọt giăng mành

Câu thơ viết mãi không thành câu thơ

Mệt nhoài giữa một cơn mơ

Tiếng ai gọi cửa lờ mờ bên tai

Ngoài sân mưa vẫn mưa hoài

Mình anh ngồi đó nối dài đêm mưa.

 

MẮT LẠC

Đồng làng ta năm nào cũng lạc

Tháng một cày bừa làm luống

Tháng chạp mang hạt ra gieo

Tháng giêng nảy mầm ra lá

Những hoa vàng nở ra nhanh quá

Những tia quả trên cành cong queo.

Em đi tiễn anh, một ngày sau tết

Đứng bên đồng lạc nhìn theo.

Mười năm đánh giặc xa nhà

Từng đêm, từng đêm mơ về đồng lạc.

Những đốm lá tròn nửa xanh, nửa bạc

Tìm nhau suốt những năm qua.

Không gặp được nhau sau những cách xa

Những mắt lá tròn, vẫn xanh, vẫn bạc

Cuộc hội ngộ muộn mằn bất chợt

Bâng khuâng “mắt lạc” thuở nào.

 

Viết nhân ngày giỗ mẹ 18/3/Ất sửu (1985-2019)

 

ĐÊM MƠ THẤY MẸ

Con đi giữa trận mưa rào

Bước chân lạ lẫm lối vào ngõ xưa

Chẳng còn nghe tiếng võng đưa

Chẳng còn nghe thấy giữa trưa tiếng gà.

Dẫu ai cũng phải về già

Vẫn mong sao để mẹ ta mãi còn

Nắng xưa đốt áo khô giòn

Mưa xưa rã đất cho mòn lối quê...

Chập chờn trong tỉnh trong mê

Bỗng nghe tiếng mẹ gần kề gọi ta

Mẹ ơi con đã về nhà (!)

Bước chân vội vã như là ngày xưa

Khẽ chao cánh võng đu đưa

Câu ru man mác đêm mưa thuở nào

Gió qua khe cửa lọt vào

Giật mình nhìn khắp mà nào thấy đâu.

Đêm quê sầu lại thêm sầu

Vầng trăng cuối tháng bạc mầu tóc ai.

 

ĐÒ NAN

(Tình Quang ngày lụt năm 1971)

Lại nghe tin lũ đổ về

Khắp trời vần vụ mưa dầm dề mưa

Nhớ ngày đê vỡ năm xưa

Làng ta ngập hết vẫn chưa quên nào

Mái tranh trôi giữa sóng trào

Tiếng con gọi mẹ như bào ruột gan

Bao người nước mắt chan chan

Bao năm rồi, vẫn cứ tan nát lòng. 

Con từ mặt trận miền trong

Được về thăm mẹ mà không lối vào

Mẹ ơi, mẹ ở nơi nào (?)

Từng con sóng lớn, xoáy cào mặt đê

Lũy tre xanh tốt xưa kia

Chỉ còn đôi nhánh đứt lìa đang trôi

Làng xưa đi mất đâu rồi

Chẳng còn ai để cho tôi hỏi dò.

Gậy tre quờ quạng lần mò

Bỗng đâu có một con đò lướt qua

Anh vừa từ chiến trường ra?

Em đi tìm mẹ, tìm nhà cho anh!

Tháng năm trôi thật là nhanh

Quê mình đã hết chiến tranh lâu rồi

Anh đi tìm đã bao hồi  

Con đò nan ấy đâu rồi... đò nan?

Ch Nht, 30 tháng 12, 2018

THƠ NGẮN

 

CHÁN MƯA

Mưa gần nửa tháng rồi

Ngày đêm đều rỉ rả

Mọi người cứ kêu trời

Trời chẳng nghe gì cả

 

KHÁCH CƯỜI

Cô bảo rau rất xanh

Khách hàng cười nhe nanh

Anh chỉ thích em trắng

Để lên xe cùng anh

 

CÓ HOA

Xuân trước cũng đào quất

Xuân nay cũng quất đào

Em bảo hoa gì nhỉ

Anh chẳng cần thứ nào

 

LÀM DÂU

Năm ngoái còn nhìn thấy

Năm nay chẳng thấy đâu

Hỏi mãi rồi mới biết

Em vừa đi làm dâu

 

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

 

HỘI THẢO KHOA HỌC

* NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

QUA BÀI THƠ “BÁN LỘ THUẬN THỦY PHÓ UNG” VIẾT TRONG TÁC PHẨM NGỤC TRUNG NHẬT KÝ

Lê Trọng Hồng

(Chi hội thơ ĐL Lục Đầu Giang tỉnh Hải Dương)

 

Viết về thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hàng ngàn tác giả và hàng ngàn bài viết. Nhiều bài viết nhấn mạnh đến ý chí cách mạng của Người và càng nhiều bài viết về nghệ thuật làm thơ chữ Hán của Người. Trong bài viết ngắn này chỉ xin cảm nhận về nhân văn của Người qua một bài thơ trong  Ngục trung nhật ký.

Cũng như nhiều người đã nói nhật ký vốn là những ghi chép của tác giả và chỉ dành riêng cho tác giả có quyền đọc nó. Tuy nhiên Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được công bố rộng rãi trước tất cả mọi người trong và ngoài nước. Điều này lẽ ra là trái với quan niệm của cộng đồng, bởi một khi đã là nhật ký thì người viết có thể nói ra những điều tâm sự kín đáo hợp lẽ và sẽ có cả những tâm sự bức xúc đến mức cao độ dễ đưa đến những manh động về một khía cạnh nào đó làm cho hình ảnh của tác giả xấu đi trước những người được biết về nội dung của nhật ký. Phải nói rằng đây là một trường hợp khá đặc biêt. Nó đặc biệt ở chỗ không những đã được công bố rộng rãi, còn được nhiều người dịch giảng, coi như một ấn phẩm quý giá vừa có thể thưởng thức về mặt nghệ thuật vừa có thể học hỏi về mặt tư tưởng của tác giả.

Đánh giá về tập nhật ký ta đều nhận ra rằng toàn bộ các bài viết đều có một chủ đề riêng rẽ và càng nhiều hơn các bài đan xen quện chặt vào nhau giữa nội dung và nghệ thuật. Tuy nhiên chúng ta cũng rút ra được một số chủ đề chính đó là những bài tự nói với mình, những bài cảm thông cho một hoàn cảnh nào đó và khá nhiều bài phê phán, cáo buộc một hành vi nào đó của tầng lớp thống trị và sau hết là loạt bài thống kê lại được những gì mình đã trải qua cùng với những cảm nhận của riêng mình trong từng hoàn cảnh.

Một đặc điểm rất quen thuộc của tác giả đó là mượn cảnh để tỏ tình và phần nhiều các bài thơ chỉ toàn là cảnh và chẳng tỏ rõ bất kỳ một nhận định nào, nhưng khi đọc xong bài thơ người đọc tự thấy như mở ra trước mắt nhân văn cao đẹp của tác giả. Đây cũng chính là những gì tôi muốn được một lần bày tỏ cảm xúc trước một văn phong trác tuyệt của Người qua tác phẩm Bán lộ thuận thủy phó Ung viết trong Ngục trung nhật ký với nguyên văn chữ Hán và phần phiên âm dưới đây

 

     

乘舟順水往邕寧,

脛吊船欄似絞刑。

兩岸鄉村稠密甚,

江心漁父釣船輕。

Phiên âm

Bán lộ đáp thuyền phó Ung

Thừa chu thuận thủy vãng Ung Ninh

Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình

Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm

Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.

 

Dịch nghĩa

Đáp thuyền xuôi dòng đi Ung Ninh,

Chân bị treo lên giàn thuyền như tội hình treo cổ;

Làng xóm hai bên sông thật là đông đúc,

Giữa lòng sông, thuyền câu của ông chài lướt nhẹ.

 

Nguồn:

Hồ Chí Minh toàn tập (T3) - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

 

Bản dịch của Nam Trân

Đáp thuyền thẳng xuống huyện Ung Ninh,

Lủng lẳng chân treo tựa giảo hình;

Làng xóm ven sông đông đúc thế,

Thuyền câu rẽ sóng nhẹ thênh thênh.

 

Trước hết bài thơ hoàn toàn nằm trong cách viết nhật ký đó là việc kể ra sự việc bị nhà tù của chính quyền đương thời giải đi Ung Ninh bằng phương tiện giao thông đường thủy thuận theo chiều dòng chảy.

Thừa chu thuận thủy vãng Ung Ninh

Trong đó kể rõ bản thân bị buộc chân treo trên cao, còn đầu thì hướng xuống dưới tựa như người thắt cổ.

Hĩnh điếu thuyền lan tự giảo hình

Một chi tiết khác mà người viết nhật ký đã nhìn thấy từ phía xa hai bên bờ sông, nơi con thuyền đi qua thật là đông đúc và trù phú.

Lưỡng ngạn hương thôn trù mật thậm

Gần hơn nữa là từ giữa dòng sông có một ngư phủ ngồi trên chiếc thuyền câu nhỏ nhẹ.

Giang tâm ngư phủ điếu thuyền khinh.

Phía sau của lối kể chuyện ta nhận thấy tác giả dùng phép tả chân để thâu tóm toàn bộ cảnh vật. Về cách tả cảnh tác giả đã rất tinh tế nhìn từ xa đến gần. Đây chính là cách nhìn phù hợp của người đang di chuyển đối với những hình ảnh cố định, vì cho dù tốc độ trôi thuận dòng có nhanh đến mấy thì quang cảnh làng xóm vẫn dường như đứng nguyên tại chố.

Tuy nhiên toàn cảnh dòng sông với đôi bờ vốn chưa đủ để có một bức tranh hoàn chỉnh và khéo thay với một chiếc thuyền câu cùng với sự chuyển động đã tạo ra bóng dáng sự hoạt động của con người, điểm thêm trong bức tranh thủy mạc mà tác giả đã phác họa trong thơ.

Những cái gửi gấm trong thơ lại dần được mở ra qua từng chi tiết đó chính là những điều không xuất hiện mà rất có thể có trong thực tế của hoàn cảnh. Đó chính là sự đau đớn của những vòng dây trói ngày càng thít lại do trọng lượng của cơ thể cứ ghì xuống tạo ra những cơn đau về da thịt. Đó chính là trạng thái xuống máu của cơ thể sống, trái ngược với cấu tạo vốn có của con người làm đầu óc càng ngày càng trĩu xuống bắt ta phải phân tâm vì đau đớn, huống chi từng con sóng vỗ nhao lên hạ xuống tạo ra những rung giật cơ học với gia tốc rơi mới được hình thành. Ta hiểu vì sao không một tiếng kêu đau đớn, không một lời phẫn uất mảy may xuất hiện trước sự đối xử vô nhân tính của các quan chức chính quyền mà cụ thể là những cai tù của họ.

Ngoài ý nghĩa tinh tế và toàn bích về văn học nghệ thuật của một tác phẩm ta như thấy ở đâu đó một nhân sinh quan khác thường của tác giả. Với một tâm niệm nào đó (mà ta chưa biết) đã làm cho tác giả quên đi hoặc nữa là không quan tâm đến nỗi đau xác thịt mà người đó đang phải gánh chịu.

Một lối viết pha trò hài hước mà ta quen gặp trong nhiều bài thơ khác cũng đã được phát hiện trong tác phẩm với một từ “vãng” (được dịch là đi) hoàn toàn không nói gì đến sự ép buộc mà chính nhà thơ đang phải chịu đựng. Có cái gì đó tỏ ra rằng đây chỉ như một cuộc đi lại thông thường, hoàn toàn khác với sự thật đó là một cuộc dẫn giải tù nhân cùng với mọi sự khắc nghiệt thường thấy.

Điều gì đã tạo ra cho Hồ Chí Minh một thói quen hài hước trước mọi bạo ngược, từng xuất hiện trong nhiều bài thơ viết trong Ngục trung nhật ký nếu không phải là biểu hiện của sự lạc quan, sự tự tin vào mục đích chân chính mà bản thân hướng tới và sau cùng là một ý chí vĩ đại vốn đã được thấy trong những tấm gương lãnh tụ của nhiều cuộc cách mạng từng được khắc họa trong văn chương trong nước và trên thế giới từ trước đến nay.

Trong một luận điểm khác ta có thể nghĩ đến đó là cái gì đã làm cho con người ấy có một tâm hồn lạc quan và một ý chí gang thép đến vậy. Đây chính là việc mà chúng ta phải tìm thấy trong bài thơ. Sự chịu đựng vì không có cách nào khác? Đây cũng là một cái lý, tuy nhiên nếu chúng ta lại đọc ở trong đó được những chi tiết mà nhà thơ nói đến đó là: làng xóm ven sông đông đúc thế (viết theo ý của người dịch khá sát với nội dung). Bằng một câu hỏi đầy sự ngỡ ngàng, ta ngộ ra rằng tác giả đã vui vì sự tốt lành của một miền quê mà dường như trên đường đời tác giả ít có dịp được thấy sau bao năm bôn ba khắp thế giới. Cái mừng vui của một vĩ nhân khi nhận thấy ở đây những người dân, dường như có được một chút yên bình, không có sự tàn phá của chiến tranh tàn khốc.

Chúng ta biết hai bên bờ sông ở đây là của Trung Quốc. Nhưng với Hồ Chí Minh thì người Trung Quốc hay người Việt Nam và tất cả các dân tộc trên thế giới đều là những con người và đều cần được sống cho ra sống. Có lẽ chính vì thế mà nhiều năm sau, trong Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Người đã vận dụng lời lẽ đúng đắn trong bản tuyên ngôn của các nước khác mà khảng định: mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng…

Cũng trong bức tranh mà nhà thơ đã cấu tạo nên còn có thêm một chi tiết khác hẳn với quang cảnh hai bờ sông, đó là một chiếc thuyền câu với người ngư phủ đang ở giữa dòng sông. Đây cũng chính là sự hoạt động đặc trưng cho sự tự do của một cá thể trong sinh cơ lập nghiệp. Có gì đó gợi cho người đọc nghĩ đến mục đích mà người làm thơ hướng đến đã từng lúc chi phối toàn bộ tâm hồn và thể xác, khiến cho mọi sự đau đớn mọi sự bó buộc dường như không tồn tại.

Những điều vừa nhận định trên đây sẽ có thể chỉ là sự võ đoán vô căn cứ nếu như bài thơ chỉ là của một nhà thơ bình thường khác. Tuy nhiên chúng ta lại hoàn toàn có thể nghĩ tới vì nhiều năm qua đi, nhà thơ, nhà cách mạng Hô Chí Minh đã toàn tâm, toàn ý và biểu lộ qua những trang di chúc với một câu nói hết sức cảm động:  “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc đó là đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…” Đây cũng chính là sự lôi cuốn của bậc vĩ nhân khi nghĩ đến khát vọng của mình là làm sao để giải phóng cho họ, làm sao để họ có cuộc sống yên vui và cao hơn nữa là tự do cho con người, tự do cho các dân tộc và tự do cho toàn nhân loại.

Cũng xin mạnh dạn đề cập thêm về sự xuất hiện của con thuyền câu giữa dòng sông khi ấy với một ý tưởng khác dường như tác giả đã ngụ vào đó và tự ví mình với con thuyền câu đó luôn ở giữa dòng và luôn được tự do. Những gì mà thể xác trải qua vốn chẳng là gì cả và không cần phải nói đến trong sự cảm nhận của tác giả trước hoàn cảnh hiện tại. Từ đó bài thơ có cái tự nhiên của một bức tranh phong cảnh vốn được cho là đẹp trên một vùng quê và cảnh đó không có sự bó buộc nào về những nhận định vốn không cần bày tỏ. Điều này cho thấy ý thơ (có thể khác với nhận định của người viết) hoàn toàn nằm ngoài văn bản phù hợp với những gì là tinh tế của thơ chữ Hán đó là Ý tại ngôn ngoại, được sử dụng nhiều hơn so với thể thơ khác.

Điều mà chúng ta nhận ra văn chương của Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thực là văn chương tuyệt phẩm mang tính nghệ thuật cao và nhất là không thiếu tích cách mạng mà Người luôn gửi gấm trong mỗi câu mỗi chữ trong thơ chữ Hán nói chung và trong Ngục trung nhật ký nói riêng. Thêm một lần khảng định những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trước hết là thơ của một nhà thơ uyên bác cùng với sự khảng định đồng nhất về một nhà cách mạng Hồ Chí Minh với ý chí kiên định cách mạng vĩ đại nhất trong mọi thời đại. Đây cũng chính là nhân văn của nhà thơ, nhà cách mạng Hồ Chí Minh mà người viết mong muốn tìm được trong Ngục trung nhật ký.

 

 

 

TRẦN TẾ XƯƠNG

NGƯỜI GÓP PHẦN HÌNH THÀNH

THƠ CÁCH LUẬT VIỆT NAM

 

PHẦN I:

BẢN THÔNG ĐIỆP GỬI CHO HẬU THẾ

 

I. Giới thiệu chung

Từ xưa đến giờ những người làm văn, làm thơ không ai là không có những phản ảnh về bản thân và xã hội đương thời qua tác phẩm. Trong nhiều bài viết về Trần Tế Xương cũng đã từng nói về điều đó. Đây chính là những nhân định ban đầu chứng minh cho quan điểm coi tác phẩm của ông như một Thông điệp văn học sử, phản ảnh về con người và xã hội trong giai đoạn Thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trên đất nước ta.

Nhà thơ Trần Tế Xương, tên khai sinh là Trần Duy Uyên,  sinh năm 1870 tại Nam Định và mất năm 1907. Cuộc đời ông nằm gọn trong bước đầu cuộc xâm lược của thực dân Pháp và quá trình thực dân hóa của người Pháp trong nhiều năm sau đó. Đây là giai đoạn xã hội vô cùng bế tắc và nghiệt ngã trong thiết lập độc quyền của chế độ thực dân và cuộc vật lộn của chế độ phong kiến cố vớt vát chút quyền lợi trong sự tan rã tuyệt vọng.

Chứng minh cho điều này dường như chúng ta đã tìm thấy trong Trần Tế Xương tác phẩm. Chỉ cần mảng thơ luật Đường viết bằng chữ nôm của ông đã có thể dẫn ta đi tới sự tận cùng mọi tầng lớp con người và xã hội thời đó. Điều đặc biệt hơn đó là mỗi tác phẩm của ông đều chứa đựng sự phán xét cùng những kết luận sai, đúng giúp ta có những khái niệm đầu tiên về con người và xã hội đương thời. Những gì mà ông đề cập đến chính là sự thay đổi ghê gớm của các tầng lớp quan lại, thị dân đầu tiên dưới chế độ thực dân hóa ở chính nơi ông sinh ra và lớn lên. Bên cạnh đó là phản ảnh về sự dãy dụa của chế độ phong kiến thông qua hệ thống trường thi và tầng lớp sĩ tử trong đó có chính nhà thơ.

Cũng từ các nghiên cứu về Trần Tế Xương, đa số các tác giả đều cho rằng ông có trên 170 tác phẩm văn chương với nhiều thể loại. Trong đó có 123 bài thơ theo thể luật Đường viết bằng chữ nôm cùng với  83 bài dịch thơ Đường của các nhà thơ hàng đầu của Trung Quốc qua các thời kỳ. Trong số 123 bài thơ viết theo thể luật Đường, phần lớn các bài thơ đều là thơ trào phúng với giọng điệu phê phán đến nghiệt ngã nhưng vẫn luôn mang chất trữ tình trong thơ. Về nghệ thuật làm thơ của ông thật là điêu luyện trong cách dùng ngôn ngữ thơ và hình ảnh thơ cùng với sự chọn lọc đặc trưng của văn hóa dân tộc Việt Nam cách xa lối thơ Đường luật từ các thời đại trước đó.

Về phía tác phẩm, cũng như đã nói trên đây, Trần Tế Xương là người có chính kiến rõ rệt trong nhận định tốt và xấu. Ông thẳng tay phê phán bất kể là ai cùng với những trò hề thay đen đổi trắng mong cầu lợi cho mình, cho dù là vài đồng tiền phân bạc, đến chức vị quan lại béo bở với các thủ đoạn bòn rút bóc lột dân lành. Ông đã trào lộng đến tầng lớp cao nhất trong bộ máy cai trị thực dân như Quan sứ và mụ đầm, vợ ông ta cho đến tầng lớp thị dân vừa xuất hiện từ khi Pháp đến xâm lược nước ta.

 

II. Bộ mặt thực dân tàn ác phản động

Cùng với bút pháp điêu luyện của mình ông đã vẽ nên những hình ảnh vênh vang trơ tráo và lạc lõng của các quan thực dân

 

Cờ kéo rợp trời, quan sứ đến

Váy lê quét đất, mụ đầm ra.

 

Chẳng những thế, đến cả lính thực dân cũng ra oai người nhà nước hạch sách và làm tình, làm tội người dân đến mức quái dị và đê tiện:

 

Hà Nam danh giá nhất ông cò

Trông thấy ai ai chẳng dám ho

Hai mái trống toang đành chịu dột

Tám giờ chuông đánh phải nằm co

Người quên mất thẻ âu trời cãi

Chó chạy ra đường có chủ lo

Ngớ ngẩn đi xia may vớ được

Phen này ắt hẳn kiếm ăn to

 

III. Bộ mặt quan lại phong kiến hủ bại

Bên cạnh các thế lực ngoại bang là bè lũ quan lại người Nam vừa đớn hèn vửa trơ tráo giương mắt lên nhìn nỗi nhục mất nước. Đây cũng chính là cái tròng thứ hai thít chặt vào cổ người dân bằng mọi thủ đoạn thâm hiểm và ác độc.

 

Tơ tóc nỗi riêng thì xét nét

Giang sơn nghĩa cả nỡ mần thinh

Cổ cong mặt lệnh, người đâu thế 

Cái cóc bôi vôi khéo dại hình

 

Nhà thơ cũng kể ra cho ta thấy bộ mặt thật của bọn quan lại thời đó cùng với tệ nạn bài bạc, ăn chơi trụy lạc:

 

Ông về đốc học đã bao lâu,

Cờ bạc rong chơi rặt một màu

 

Ông kể rõ những hình ảnh về bè lũ quan lại phong kiến tham lam tàn ác luôn bày đặt mưu sâu, kế hiểm, đưa người dân vào cái bẫy của chúng để rồi tha hồ vơ vét bóp nặn:

 

An Sơn tông giống người keo thực

Bồ Thủy xưa nay của kiết à

Đất nhị dễ thường lươn rúc ở

Lửa nồng nên phải chuột đùn ra.

 

Càng nhiều những bọn quan tham bỏ mặc chức phận miễn là có tiền vào túi:

 

Tri phủ Xuân Trường được mấy niên

Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên

Chữ "thôi" chữ "cứu" không phê đến

Ông chỉ quen phê một chữ "tiền"

 

Điều mà chúng ta thấy được càng tệ hại hơn đó là một nhà nước vô trách nhiệm trước các thiên tai lụt lội, hạn hán hết năm này qua năm khác. Ta những tưởng trong tình cảnh ấy có ai đó sẽ hợp mọi người lại để chung lo chống hạn. Nhưng rồi cũng chỉ có người dân hai tay trắng đứng ra lo cái không thể làm nổi.

 

Dạo này đá chảy với vàng trôi

Thiên hạ mong mưa đứng lại ngồi

Ngày trước biết gì, ăn với ngủ

Bây giờ lo cả nước cùng nôi

 

Cùng với hạn hán là lụt lội mất mùa đói kém và rồi ốm đau, chết chóc, cũng từ đó là làm ghê sợ bao người:

 

Thử xem một tháng mấy lần mưa

Ruộng hoá ra sông cỏ vật vờ

Bát gạo Đồng Nai kinh chuyện cũ

Con thuyền Quý Tỵ nhớ năm xưa

 

Có lẽ ông mong lắm cái sự thay đổi của trời đất, nhưng trời đất nào có thể giúp được ông. Có chăng chỉ có thể là chính quyền nhà nước có can thiệp hay không mà thôi. Có một nghịch lý đó là cá kia cũng biết cách trốn chạy hạn hán “Cá sợ ao khô vượt cả rồi” và trâu kia cũng buồn vì lụt lội “Trâu bò buộc cẳng coi buồn nhỉ” còn con người lại chẳng thể tự liệu được cho mình. Thật là chua chát cho con người phải sống trong xã hội đầy đau khổ mà không thể thoát ra được.

 

IV. Bộ mặt tầng lớp thị dân

Cùng với những phản ảnh của nhà thơ về tầng lớp lãnh đạo xã hội bảo thủ và vô trách nhiệm. Bức thông điệp cũng cho ta thấy đây cũng chính là nguồn gốc sinh ra mọi băng hoại về đạo đức và lối sống của chế độ thực dân, nửa phong kiến lúc bấy giờ. Đây cũng chính là nguồn gốc đẩy tầng lớp thị dân đến chỗ sa đọa về đạo đức và lối sông mà nhà thơ đã điểm qua khắp lượt trong tác phẩm của ông. Đó là những người dân không còn vườn ruộng, cố gắng bám vào xã hội bằng cách mở nghiệp bán buôn và làm các dịch vụ phát sinh trong quá trình thực dân hóa. Cũng từ đây, tầng lớp những người sống bằng nghề buôn bán bắt đầu với những trò gian giảo, lừa đảo và giả dối:

 

Ai đấy ai ơi khéo hợm mình

Giàu thì ai trọng, khó ai khinh

Thằng Ngô mất gánh, say câu chuyện

Chú lái nghiêng thoi mắc giọng tình

 

Cùng với những mánh lới ma mãnh sành sỏi nhằm tranh cướp khách hàng thu lợi cho mình bất chấp mọi thủ đoạn

 

Nước buôn như chị mới ăn người

Chị thấy ai đâu chị cũng cười

Chiều khách quá hơn nhà thổ ế

Đắt hàng như thể mớ tôm tươi

 

             Đặc trưng của nghề buôn bán cùng với những thủ đoạn đen tối dần hình thành để rồi mọi thứ đều được cân, đong, đo, đếm bằng tiền và có phải vì thế mà xã hội đã dùng tiền mua mọi thứ và đồng tiền đã khuynh đảo đến mức ghê gớm:

 

Giàu sang âu yếm tình quen thuộc

Bần tiện thờ ơ dạ bạc đen

Ví khiến trong tay tiền bạc có

Nói dơi nói chuột chán người khen.

 

Đến cái kết quả cuối cùng chính là cái miền quê thân mật ngày xưa không còn nữa. Những người cùng làng xóm, phố phường trở thành xa lạ. Cả đến những người thân trong nhà cũng biến thành thù, mất hết giá trị của nhân bản:

 

Nhà kia lỗi phép con khinh bố

Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

Keo cú người đâu như cứt sắt

Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng

 

Cũng giống như những người dấn thân vào nghề buôn bán, những người làm các công việc dịch vụ cũng buộc phải bước vào cõi sống nhơ nhớp, hy sinh nhân phẩm để có một công việc làm kiếm sống. Họ cũng học thói giả dối, lừa lọc không khác kẻ buôn bán:

 

Mình nghĩ cô mình thực gớm ghê,

Lòng son vẫn giữ nước non thề.

Ra tuồng gái hoá khi còn trẻ,

Như chuyện chồng xa lúc chửa về.

 

Cũng từ những bế tắc trong sinh kế, con người rất dễ buông trôi trượt dài trên con đường trụy lạc. Ngoài nạn cô đầu, đĩ điếm, buôn gian, bán lậu, tệ trộm cắp, lừa đảo đã trở thành phổ biến. Người ta luôn thay đổi bộ mặt của mình để lợi dụng, lửa đảo để tồn tại. Có bao nhiêu người đàn bà và cũng có bấy nhiêu người đàn ông  lấy lừa đảo làm nghề kiếm sống:

 

Nói nói cười cười theo giọng tỉnh,

Khăn khăn áo áo giữ màu quê.

 

Hoặc:

 

Khi thì thầy số, lúc thầy lang.

Công nợ bớp bơ hình chúa Chổm,

 

              Ngay cả trong các gia đình, người đàn bà xưa từng được dạy dỗ “công dung ngôn hạnh” luôn thuộc lòng câu “tam tòng tứ đức” giờ đây cũng giả dối trác táng đâu còn hai chữ “chính chuyên":

 

Ra đường đáng giá người trinh thục

Trong dạ sao mà những gió trăng

Mới biết hồng nhan là thế thế

Trăm năm trăm tuổi lại trăm thằng

 

V. Bộ mặt trường thi và đạo học.

 Những bài thơ viết về trường thi và đạo học của nhà thơ Trần Tế Xương còn để lại đến nay đã cho chúng ta thấy được toàn cảnh chế độ thi cử đương thời  và chỉ rõ sự bế tắc của tầng lớp nho sĩ lúc bấy giờ. Với một bên là chế độ thực dân, cố gắng tiến hành thực dân hóa, một bên là chế độ phong kiến cố níu kéo lại phần quyền lợi của mình nên chế độ khoa cử cũng rối ren kéo theo nhiều hệ lụy. Họ làm sao biết mình sẽ phải học từ đâu và thi như thế nào mới đạt kết quả, trong khi:

 

Nghe nói khoa này sắp đổi thi

Các thầy đồ cổ đỗ mau đi

Dẫu không bia đá còn bia miệng

Vứt bút lông đi, giắt bút chì

 

 Bên cạnh cái nền nếp thi nay thay, mai đổi, nhà thơ cũng chỉ ra sự hủ bại của chế độ thi cử đương thời. cùng với các hiện tượng tiêu cực trong dạy và học. Thật đáng ngại khi thầy chẳng ra thầy:

 

Hỏi thăm quê quán ở nơi mô 

Không học mà sao cũng gọi đồ 

....

Hỏi mãi mới ra thằng bán sắt

 

Còn các quan lại có phận sự cai quản việc thi cử thì ngu dốt đến mức (sách như hũ nút chữ như mù) lại làm việc sơ khảo thử hỏi hay, dở rồi sẽ ra sao

 

Sơ khảo khoa này bác cử Nhu

Sách như hũ nút chữ như mù

 

Và thật là không đáng khi những người coi sóc chốn trường qui lại là kẻ không có học, không biết chữ gì:

 

Thánh cắt ông vào chủ việc thi

Đêm ngày coi sóc chốn trường qui.

Chẳng hay gian dối vì đâu vậy

Bá ngọ thằng ông biết chữ gì

 

Còn các sĩ tử thì lười học, dốt nát, lấy tiêu khiển ăn chơi là chính. Đây cũng chính là tệ nạn trong thi cử trong buổi nho học đang tàn tạ. Trách chi bao kẻ sĩ tử giả danh, chỉ là thi cơm rượu:

         

Kể tuổi nhà min ngoại bốn mươi

Văn min khấp khểnh, học min lười

Ba năm một hội thi cơm rượu

Bốn bể nhiều anh góp nói cười

 

Cũng chính từ điều này mà những người đỗ đạt thường chỉ là cậy có người thân giúp, hoặc do mua được bằng tiền:

 

Ông cử thứ năm, con cái ai 

Học trò quan đốc Tả Thanh Oai

Thứ năm, ông cử ai làm nổi,

Học trò quan đốc tỉnh Hà Nội

 

Càng tệ hại hơn với bao kẻ đỗ đạt trong sự khuất tất khác trong cái sự tiêu cực nơi trường ốc rồi ra làm một thứ quan nấu rượu:

 

Hàn lâm tu soạn kém gì ai

Đủ cả vung nồi cả cóng chai

Ví thử quyển thi ông được chấm

Đù cha đù mẹ đứa riêng ai

 

Và trớ trêu thay với những người chưa thi đã biết đỗ, họ đâu có phải thi chữ nghĩa văn chương:

 

Người ta thi chữ ông thi phúc

Dù dở dù hay ông cũng vào

 

  Từ những tiêu cực trong dạy, học và thi cử, nhà thơ Trần Tế Xương đã nhận định về sự chán chường của mọi người về đạo học mà từ bao lâu nay dân ta luôn coi trọng:            

 

Đạo học ngày nay đã chán rồi

Mười người đi học chín người thôi

Cô hàng bán sách lim dim ngủ

Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi

Sĩ khí rụt rè gà phải cáo

Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi

 

Nhiều người cho rằng ông Tú nhiều khi cũng tự mâu thuẫn với chính mình, bởi những điều ông viết ra chứng tỏ là ông đã thấy rõ sự hủ bại của trường thi thời đó, vậy mà sao ông vẫn cố đi thi. Cái mà ta nhận thấy đây chính là cái bế tắc của tầng lớp sĩ phu thời đó. Đôi người có thể giả câm, giả điếc lựa theo chiều gió chấp nhận mất dần bản chất để đi theo. Số người có tài năng trí tuệ thực thụ thường khó chấp nhận sự đánh mất mình nên rất dễ bị đè nén bởi nguyên lý tự nhiên của thời đại. Điều này đã tác động vào chính nhà thơ Trần Tế Xương và rồi có lúc ông cũng muốn phó mặc:

 

Thôi có làm chi cái chữ nho

Ông nghè ông cống cúng nằm co

Chi bằng đi học làm thầy phán

Tối rượu sâm banh sáng sữa bò

 

Tuy nhiên ông vẫn day dứt để rồi tiếp tục theo lối cũ. Có lẽ ông không muốn theo đuôi kẻ khác chống lại dân mình. Thôi thì đành gắng gượng giữ nguyên cái nghiệp thi cử do nhiều nguyên cớ. Một trong những nguyên cớ đó là ông mong thỏa mãn sự mong muốn của gia đình mà từ lâu rồi vẫn không có kết quả.

 

Mở mặt quyết cho vua chúa biết

Đua danh kẻo nữa mẹ cha già

 

Cũng còn một việc là làm thế nào để có một chức sắc, được hưởng lương bổng sau khi thi đỗ để rồi có thêm những chi phí cho đời sống bản thân nhà thơ:

 

Cái khó theo nhau mãi thế thôi

Có ai, hay chỉ một mình tôi

Bạc đâu ra miệng mà mong được

Tiền chửa vào tay đã hết rồi

 

 Và điều cơ bản là làm sao có công việc làm, có tiền giúp cho gia đình vượt qua những khó khăn đến (mướt mồ hôi) và (tràn nước mắt):

 

Van nợ lắm khi tràn nước mắt

Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi

 

Cũng chính từ đây ta hiểu số phận của cả tầng lớp sĩ tử thời đó sống ra sao và họ sẽ làm được gì để tự cứu lấy đời họ trong khi các tổ chức cách mạng chống xâm lược đòi quyền sống dường như đã bị tan rã do sự đàn áp của thực dân Pháp. và chính quyền phong kiến tay sai.

 

VI. Kết luận

Trên đây chỉ là một số dẫn chứng chọn lọc nhằm khảng định công lao to lớn của nhà thơ Trần Tế Xương trong bức tranh về con người và xã hội Việt Nam trong giai đoạn thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX do Thực dân Pháp xâm lược và chính quyền tay sai bán nước gây ra. Người ta cũng có thể gửi lại lịch sử của một thời đại qua nhiều nguồn như nhiếp ảnh nhưng dù có nhiều hình ảnh đến đâu thì cũng chỉ cho những vẻ ngoài khô cứng, nói làm sao cho được tâm tư cảm xúc của cả một xã hội đang trong thời kỳ biến động cùng với những khủng hoảng tăm tối nhất, chơi vơi nhất mà mỗi con người phải chịu đựng. Điều muốn đề cập đến trong bài viết đó là thêm một lần khảng định các bài thơ luật Đường nằm trong tác phẩm văn học sử của nhà thơ Trần tế Xương chính là bản Thông điệp hiện thực và phong phú nhất về con người và xã hội đương thời gửi lại cho hậu thế.

PHẦN II:

VIỆT HÓA THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

I. Giới thiệu mở đầu

Viết về Việt hóa thơ Đường luật đã có hàng ngàn người tham gia và có thể cũng có đến hàng ngàn tác phẩm với nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên trong hội thảo lần này của Hội Thơ Đường luật lại đặc biệt nhấn mạnh đến ảnh hưởng của nhà thơ Trần Tế Xương đối với thơ Đường luật Việt Nam. Đây là một chủ đề rất mới và có ý nghĩa vô cùng to lớn khi mà phong trào làm thơ Đường luật với phong cách Việt Nam đã thực sự trỗi dậy sau nhiều thập kỷ im hơi lặng tiếng trước các thể thơ khác đã và vẫn đang thịnh hành trên thi đàn Việt Nam.

Đặc biệt hơn là số lượng tác giả đã và đang sáng tác thơ “Đường luật” càng lúc càng đông. Chỉ cần thống kê 12 tập thơ của Hội thơ Đường luật thì đủ thấy điều đó. Chưa nói đến các thi đàn thơ Đường luật hiện đang thu hút khá nhiều tác giả trong các trang báo điện tử và trên các CLB của hàng vạn thôn bản trên đất nước này. Điều mà chúng ta cần nhắc lại đó là những lời ca thán đến mức ái ngại của nhiều nhà thơ về cái khó của thể thơ này từ nhiều năm trước. Điều này hoàn toàn không sai vì sự thực là thế, khi mà những niêm cùng luật, những vần với đối và nhất là khối lượng từ ngữ thật khó để chuyển tải các trạng thái nhân vật cùng với các hoạt động hết sức sôi động trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ.

Tuy nhiên nếu đặt vấn đề cho thật đầy đủ thì phải nói từ lâu rồi các nhà thơ thời trước đã cố gắng tìm ra phong cách mới nhằm Việt hóa thể thơ này.  Những gì văn học Việt Nam nhận được đó là sự cách tân của Hàn Thuyên và Nguyến Trãi trong khá nhiều sáng tác bằng chữ nôm của người Việt. Đặc biệt chúng ta còn có Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Khuyến và nhiều nhà thơ khác trong rải rác các tác phẩm thơ nôm luật Đường vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Để có thể đánh giá đúng và đầy đủ nhất phải nói đến Trần Tế Xương mới là người đưa thơ Đường luật chữ Hán thành thơ Đường luật theo phong cách Việt toàn diện và phong phú nhất trong mọi thời đại.

 

II. Giới thiệu chung về các bài thơ

Để có thể nói về công lao của Trần Tế Xương trong Việt hóa thơ Đường luật, không thể không nói đến việc sử dụng ngôn từ tiếng Việt trong thơ ông. Người ta có thể nói các nhà thơ đều ngại dùng các từ ngữ quá gợi hoặc tục. Đến như Hồ Xuân Hương cũng chỉ bóng gió hoặc nói lái là cùng. Tuy nhiên Trần Tế Xương đã có sử dụng mạnh bạo hơn nhiều. Bên cạnh cái (tôi) dám chịu trách nhiệm, ông dùng khá nhiều các câu từ nhiếc móc, thậm chí là chửi rủa nhưng đọc lên vẫn thấy không đáng ngại. Cho đến bây giờ nhiều người còn rất ngạc nhiên vì những câu chữ ông dùng trong thơ quả là một nghệ thuật cao siêu và hoàn toàn có mặt trong ngữ pháp tiếng Việt hiện đại.

 

1. Nghệ thuật dùng từ trong thơ

Một đặc điểm quan trọng đó là những câu thơ ông viết cứ như là kể chuyện thường ngày giữa người này với người nọ; nôm na đấy nhưng không hề tầm thường, dễ dãi.

 

Nhà nước ba năm mở một khoa,

Trường Nam thi lẫn với trường Hà

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ

Ậm ọe quan trường miệng thét loa

 

Hầu hết các bài thơ của ông đều sử dụng rất nhiều các biện pháp tu từ. Nhiều nhất vẫn là các câu ca dao, tục ngữ và các thành ngữ như: (Học đã sôi cơm, Thi không ăn ớt) hoặc các thành ngữ: (Lặn lội thân cò, Một duyên, hai nợ, Năm nắng, mười mưa) trong bài Thương vợ. Đây cũng là những cụm từ quen thuộc trong giao tiếp của người Việt. Với cách này nhiều khi không cần chú thích người nghe, người đọc cũng đã hiểu ý tác giả:

 

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước lúc đò đông.

Một duyên hai nợ âu đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

 

Về nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ Trần Tế Xương dường như được đi qua hầu hết các biện pháp tu từ. Trước tiên là cách sử dụng ca dao tục ngữ và các thành ngữ trong thơ ví dụ như cách sử dụng từ láy: (Ngao ngán, Nhạt nhèo, khăn khăn áo áo, Bút bút nghiên nghiên) trong bài Đêm buồn. Với cách sử dụng này quả thật đã phá vỡ Ngũ độ thanh trong thơ Đường luật thời trước. Điều này cũng cắt nghĩa cho việc Việt hóa thơ Đường luật của ông.

 

Ngao ngán tình chung cơn gió thoảng

Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông

Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện

Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng

 

Cách ông dùng ẩn dụ thực sự đã đạt đến sự điêu luyện trong sử dụng ngữ pháp tiếng Việt. Đương thời dường như có rất ít người làm được như ông. Như hàng loạt các câu thơ trong bài Đạo đức giả:

 

Lắng tai non nước nghe chừng nặng

Chớp mắt trăng hoa giả cách nhèm

Cũng đã sư mô cùng đứa trẻ

Lại còn tấp tểnh với đàn em

 

Nếu như thơ Đường luật Trung Quốc vận dụng sự tích và điển cố để mở rộng các ý tứ trong thơ, thì Trần Tế Xương lại dùng ca dao, tục ngữ và nhiều thành ngữ tiếng Việt để mở rộng ý thơ. Đặc biệt là phép đối ông dùng càng nhuần nhuyễn. Chúng ta có thể kể ra một số thành ngữ trong tiếng Việt mà ông đã sử dụng. Với cách dùng thành ngữ như thế này dường như đã mở ra những mẫu câu cho những người làm thơ thời nay vận dụng.

Chúng ta còn tìm thấy ở ông cách dùng từ hết sức gợi cảm nhưng cũng thật gần gũi trong giao tiếp hàng ngày như: (ngoi,  ngỏng):

 

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng

 

Những động từ (ngoi) dường như gợi cho ta thấy cái động tác cố di chuyển bộ mông ngồn ngộn của bà đầm. Hay như động từ (ngỏng) khéo nói về sự cố cất cao cái đầu của ông cử đang phải cúi gục trước các quan lại bề trên. Chính cái sự đối chọi giữa cái nơi khá “tục” của kẻ này với cái chỗ “thanh” của kẻ kia đã bật ra cái sự nhạo báng sâu cay đến độ.

 

2. Kết cấu các bài thơ

Chúng ta có thể thấy thơ Trần Tế Xương có sự khai thác rất chặt chẽ về niêm, luật, vần, đối và nhất là kết cấu đề, thực, luận, kết theo quy định của trường thi trong thời phong kiến. Trong hơn một trăm bài thơ cũng có đôi chỗ trái luật (có thể do sao chép). Số các bài còn lại thực sự hoàn hảo với ba yếu tố vần, luật, đối. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn cả là các tác phẩm của ông hoàn toàn được viết bằng chữ nôm của người Việt phù hợp với tiếng Việt giầu hài âm, nhạc tính.

 

a. Luật thơ chuẩn mực

Về luật thơ ông luôn tôn trọng những quy tắc cơ bản của thể thơ với những bộ phận đề, thực, luận kết bao giờ cũng rõ ràng mạch lạc, không hề công thức và khiên cưỡng. Từng phần một chắp vào nhau mà không hề thấy có sự phân cách. Có thể lấy ví dụ qua bài Thiếu nữ đi tu để dẫn chứng cho kết cấu của luật.

 

Con gái nhà ai dáng thị thành

Cớ chi nỡ phụ cái xuân xanh 

Nhạt màu son phấn, say màu đạ,

Mở cánh từ bi khép cánh tình.

Miệng đọc nam vô quên chín chữ

Tay lần tràng hạt phụ ba sinh

Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế

Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh

 

Ngay từ đầu đề bài (Thiếu nữ đi tu) đã rất ngắn gọn đủ khái quát chủ đề bài thơ. Các câu phá đề, thừa đề đã hoàn tất việc giới thiệu về nhân vật (con gái nhà ai) cả về hoàn cảnh (dáng thị thành) và sự việc muốn nói đến (nỡ phụ cái xuân xanh).

Với cặp thực: (Nhạt màu son phấn, say màu đạo, Mở cánh từ bi, khép cánh tình). Hoàn toàn đủ để xong phần thực, cùng với phép đối ngẫu chuẩn mực bao hàm cả thực và trạng (Nhạt màu son phấn/ Mở cánh từ bi); (say màu đạo/ khép cánh tình). Chỉ cần hai từ: (say và khép) đã nói lên tất cả.

Với cặp luận: (Miệng đọc nam vô quên chín chữ/ Tay lần tràng hạt phụ ba sinh) đã nói rõ những đúng, sai về hành vi của nhân vật trong thơ. Đây cũng là một cặp đối hết sức hoàn thiện tỏ hết được cái ý của tác giả. Cũng như cặp thực, ở cặp luận cũng chỉ với hai từ: (quên và phụ) đã đủ để kết tội người trong cuộc.

Đến với cặp kết: (Tiếc thay thục nữ hồng nhan thế, Nỡ cạo đầu thề với quyển kinh) thì bài thơ đã hoàn thiện với một cái kết rất rõ ràng mạch lạc, đủ làm mẫu mực cho thể thơ này.

b. Các bộ vần đẹp

Về các bộ vần nhà thơ Trần Tế Xương dường như chỉ dùng vần bằng mà ít dùng vần trắc. Đây là bộ vần truyền thống của thơ Đường luật viết bằng tiếng Việt. Điểm quan trọng thứ hai là các bộ vần thường là chính vận, có rất ít các bài dùng vần gần đúng (bàng vận) hoặc các vần thông. Chính vì thế mà cả trăm bài thơ của ông đọc lên đều thấy êm ái nhẹ nhàng, gợi cảm và rất dễ thuộc. Có thể lấy bộ vần trong bài Đau mắt làm ví dụ:

Bộ vần trong bài Đau mắt với các vần (inh) để có các từ: Mình, thinh, sinh, đinh, tình. Đây là bộ vần bằng truyền thống của thơ Đường luật. Kết cấu hài thanh với đầu và kết lấy thanh huyền (trầm bình thanh). Các vần của các câu giữa đều thanh không (phù bình thanh). Đây là bộ vần giúp cho hơi thơ dàn trải, man mác hợp với cách kể lể về nỗi buồn của con người

 

Vui chẳng riêng ai, ốm một mình

Hỏi ai, ai cũng chỉ mần thinh

Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán

Lại mấy hào con chú Ích Sinh

Hỏi vợ, vợ còn đi chạy gạo

Gọi con, con mải đứng chơi đinh

Muốn mù trời chẳng cho mù nhỉ

Gương mắt trông chi buổi bạc tình

 

Có thể lấy thêm bộ vần nữa trong bài Thề với người ăn xin làm ví dụ:

Bộ vần trong bài Thề với người ăn xin với các vần (o) để có các từ: no, cho, trò, gio, vò. Đây cũng là bộ vần bằng truyền thống với kết cấu hài thanh: vần đầu là thanh không (phù bình thanh). Vần thư 3 và vần cuối là thanh huyền (trầm bình thanh). Đây là bộ vần có vần đầu tiên giúp cho hơi thơ ban dầu rất nhẹ, hợp với cách của người muốn thanh minh một điều gì đó. Sang phần cuối với các vần là thanh huyền (trầm bình thanh) tựa như nhấn xuống hợp với ý muốn khảng định những điều trước đó đã nói:

 

Người đói thì ta cũng chẳng no

Cha thằng nào có tiếc không cho

Họ đày đoạ mãi dân cày cuốc

Ai xét soi cho cảnh học trò

Mong được cơm no cùng áo ấm

Gặp toàn nắng lửa với mưa gio

Miếng ăn đến miệng là thưa kiện

Lúa rũ chân đê chửa được vò

 

c. Phép đối hoàn chỉnh

Tất cả những người làm thơ đều nhận rõ bản thân cặp đối đứng độc lập đã đủ để hoàn chỉnh chủ đề của nó. Nhưng với thơ Đường luật rất cần có nó bởi từ phép đối ngẫu bật ra câu thứ ba (do người viết đề xuất) để tả được nhiều hơn trong phần thực và tỏ nhiều hơn trong phần luận. Điều muốn nói là trong thơ Trần Tế Xương chưa bao giờ khoan đối và không đối. Đặc tưng của thơ Trần Tế Xương lại tập trung hầu hết là thơ trào phúng nên đối trong thơ ông quả là hữu dụng. Dưới đây là một số cặp đối trong thơ Trần Tế Xương.

 

Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng

 

Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện

Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng

 

Vừa đồng bạc lớn ông Lang Xán

Lại mấy hào con chú Ích Sinh

 

Bánh chưng sắp gói e nồm chảy

Giò lụa toan làm sợ nắng thiu

 

III. Kết luận

Về phong cách thơ Trần Tế Xương có đủ ba yếu tố hiện thực, trào lộng và trữ tình. Toàn bộ tác phẩm là bức thông điệp đứng đầu hệ thống văn học sử của thời đại với bút pháp trữ tình và trào lộng có một không hai trong lịch sử. Tuy nhiên điều muốn nói đó là tác phẩm của ông được tạo ra chính bởi chữ viết và tiếng nói của dân tộc Việt. Đặc trưng trong đó là sự tiếp thu của thơ Đường luật Trung Hoa; một trong những tinh hoa văn hóa thế giới mà mỗi dân tộc nào trên thế giới cũng có thể tiếp nhận, biến cải thành văn hóa của chính dân tộc mình.

         

 


PHẦN III:

VIỆT HÓA TRONG DỊCH THƠ ĐƯỜNG LUẬT

 

I. Giới thiệu chung

Ngoài các tác phẩm thơ nôm của nhà thơ Trần Tế Xương mà chúng ta đã xác định đó là thể thơ Đường luật theo phong cách Việt, chúng ta còn có một kho tàng thơ dịch của ông cũng mang âm hưởng và ngôn ngữ Việt. Trong số tám mươi ba bài thơ dịch, tương truyền là của ông đã được các học giả giới thiệu khá kỹ trong Tú Xương toàn tập”. Điều mà ta nhận thấy là đa số các bài thơ ngũ ngôn đã được ông dịch thành thất ngôn, chính từ đó mà độc giả dễ hiểu và dễ cảm. Nhưng đáng kể nhất phải nói đến là đó là phương pháp dịch thơ của ông có nhiều nét cách tân khác với nhiều người dịch trong thời điểm đó.

Cho dù phải tôn trọng nội dung của bài thơ gốc nhưng nhiều bản dịch ông đã bỏ qua “hình thức ước lệ, tượng trưng, công thức, quy phạm” trong phản ảnh con người và xã hội vốn đã ngự trị trong thơ Đường luật Trung Hoa bằng cách sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt hết sức phong phú và đa dạng giống như cách sáng tác thơ nôm luật Đường của ông. Đây cũng là những nét chính trong Việt hóa thơ Đường luật.

 

II. Một số bài thơ dịch

1. Trích dẫn tóm tắt một số bản dịch

Để nói rõ hơn về quá trình Việt hóa thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trong dịch thuật thơ Đường luật chúng ta không thể không nhắc đến tám mươi ba bài thơ dịch trong:Đường thi hợp tuyển ngũ ngôn luật giải âm. Trong mảng thơ dịch của ông đều giữ nguyên đầu đề của nguyên tác (nghĩa là các bản dịch của ông không có đầu đề). Nhiều nghiên cứu của các học giả đã nói về phương pháp dịch thơ của ông khác hẳn với nhiều người. Điều đáng nói là những cảnh, những tình trong nguyên tác đã được khắc họa sâu sắc hơn, rõ nét hơn về mọi mặt. Riêng về nghệ thuật các bản dịch luôn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt cùng với nghệ thuật tu từ, đặt câu của văn hóa Việt. Từ đó cho thấy những bài thơ dịch có một sắc thái riêng mang đậm nét văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đây cũng chính là đóng góp đặc sắc của ông trong dịch thuật thi ca và trong Việt hóa thơ Đường luật qua các tác phẩm gốc thơ Đường. Dưới đây xin trích dẫn một số bản dịch thơ của ông:

 

Thất thập dạ đối nguyệt
(Đỗ Phủ)

Thu nguyệt nhưng viên dạ
Giang thôn độc lão thân
Quyển liêm hoàn chiếu khách
Ỷ trượng cách tùy nhân
Quang xạ tiềm cầu động
Minh phiên túc điểu tần
Mao trai y quất dữu
Thanh thiết lộ hoa tân

Dịch nghĩa:

Ngắm trăng đêm mười bẩy

Trăng thu đêm nay vẫn tròn
Chỉ có một mình lão già ở thôn bên sông
Cuốn rèm lên trăng đã chiếu vào ta
Chống gậy đi đâu trăng cũng theo
Ánh sáng rọi làm con cầu long cựa mình
Bóng sáng soi vào khiến con chim ngủ xoay mình
Lều tranh dựa bên cây quýt, cây bưởi
Hạt móc đọng như hoa mới nở

Bản dịch

(Trần Tế Xương)

Vành vạnh đêm rằm chút chửa sai
Giang thôn lụ khụ một mình ai
Mở rèm trông thấy như chào tớ
Chống gậy ra chơi lại đón người
Trong suốt rồng nằm dòng nước chảy
Sáng choang chim ngủ bóng cành phơi
Nhà tranh ngồi tựa bên chồi quýt
Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời.

          

Bài thơ của Đỗ Phủ tỏ rằng chỉ có một mình lão già này ở xóm bên sông với  trăng làm bạn. Hình như trăng vẫn tròn mà chưa tàn khuyết. Chỉ mới mở rèm ra trăng đã soi vào người. Ta chống gậy đi đâu trăng cũng theo đi cùng, trăng soi xuống nước làm rồng thức, soi vào chim trên cây làm cho nó phải xoay mình.  Dưới trăng cả ngôi nhà bên cây quýt cũng lay động, giọt sương cũng ánh lên trên cánh hoa mới nở.

Với ông Tú thì ngoài việc giữ cái ý của nguyên tác còn có thêm những nét tinh tế khác. Đó chính là ông coi trăng thực sự là người bạn. Vửa mở rèm trăng đã “chào tớ” và rồi khi ông đi trăng lại cùng đi “ra chơi lại đón” chứ không phải đi theo như nguyên tác. Điều thú vị là ông Tú nói không cần úp mở rằng có trăng mà ta không cô đơn, có trăng mà ta hòa đồng được với cảnh vật tới mức “Móc trắng lòng ta cũng trắng ngời”

Về nghệ thuật rõ ràng bản dịch theo thể thất ngôn, âm điệu dịu dàng và có tính nhạc hơn. Tuy nhiên điều chúng ta muốn tìm là phong cách Việt trong thơ dịch của ông. Điều đó rất rõ trong cách dùng ngôn từ của bài thơ dịch với hàng loạt các từ láy.

Chỉ là “vành vạnh thôi đã đủ để nói cái sự tròn, chỉ với “lụ khụ” đã rõ cái sự già nua tuổi tác. Hoặc với các từ ghép “trong suốt, sáng choang” đã đủ nói về hình ảnh một không gian sống động. Cùng với việc sử dụng các từ ngữ điêu luyện là các cấu trúc ngữ pháp trong các câu thơ chỉ có trong tiếng Việt hiện đại.Ngày nay các tác phẩm vận dụng theo nghệ thuật dùng từ đặt câu của ông Tú thật là đắc dụng.

Một ví dụ khác nữa là bài thơ “Đối tuyết” thể ngũ ngôn của Đỗ Phủ cũng được dịch theo thể thất ngôn.

 

Đối tuyết

(Đỗ Phủ)

Bắc tuyết phạm Trường Sa

Hỗ vân lãnh vạn gia

Tùy phong thả nhàn diệp

Đới vũ bất thành hoa

Kim thác nang thùy chỉnh

Ngân hổ tửu dị xa

Vô nhân kiệt phù nghĩ

Hữu đãi chí hôn nha

 

Dịch nghĩa

Tuyết miền bắc đã đến Trường Sa 
Mây xứ Hồ gieo lạnh đến muôn nhà. 
Lá rơi từ từ theo làn gió, 
Hoa không nở được dưới cơn mưa. 
Hễ tiền trong túi đã xóc xách, 
Thì rượu dễ đầy bình bạc. 
Không ai uống hết rượu phù nghị, 
Xin cứ đợi đến lúc quạ chiều

 

Bản dịch

(Trận Tế Xương)

Nam bắc phôi pha mấy dặm khơi

Tuyết mây dan díu một phương trời

Gặp cơn ghen gió màu tha thiết

Sáu cánh trêu mưa dáng tả tơi

Một túi càn khôn dầu nhẹ nhẹ

Lưng bầu phong nguyệt chẳng vơi vơi

Biết ai cạn chén tri âm tá

Thơ thẩn chiều hôm những đứng ngồi

 

Bài Đối tuyêt của Đỗ Phủ nhằm cái ý trước cảnh tuyết rơi, khắp nơi giá lạnh lá cây rơi rụng, hoa không nở được vì mưa, có tiền trong túi không lo hết rượu. Cứ uống đợi đến lúc chiều về

Còn với Trần Tế Xương thì bài thơ có sự thay đổi đáng kể. Ông nói về sự phôi pha giữa nơi xa vắng. Mây tuyết mưa gió tàn phá gợi bao nỗi niềm. Túi càn khôn kia dù nhẹ bớt, cái bầu phong nguyệt vẫn không vơi. Chẳng biết ai sẽ là bạn tri âm, nên lòng mãi bồn chồn đứng ngồi không yên.

Về nghệ thuật ông phối hợp ước lệ theo lối cổ của Đường luật Trung Hoa“Một túi càn khôn” hay “Lưng bầu phong nguyệt” và trộn vào đó vốn ngôn ngữ thuần Việt “dầu nhè nhẹ” hay “chẳng vơi vơi” một cách tài tình. Vì thế nên nhiều học giả đương thời và cả những người đời sau đã nhận xét nhà thơ là “thần thơ thánh chữ”.

Điều cần nhấn mạnh là hầu như bài thơ dịch nào của ông cũng đều dùng ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại. Nghĩa là từ ngày đó (một trăm năm trước) thơ Đường luật đã được Việt hóa đến độ sâu sắc trong bút pháp của Tú Xương. Thêm một lần nữa ghi nhận công lao của ông trong văn học Việt Nam nói chung và trong Việt hóa thơ Đường luật nói riêng.

2. Một số bài thơ dịch

Dưới đây là một số bản dịch thơ Đường luật của nhà thơ Trần Tế Xương trích từ tác phẩm Tú Xương toàn tập do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2010 (các bản dịch không có đầu đề nên viết theo đề của nguyên tác - sách đã dẫn)

 

Mừng mưa đêm xuân

(Đỗ Phủ)

Khen thay con tạo khéo chia mùa
Hoa sớm mưa xuân những hẹn hò
Đưa nhẹ một cơn bừng giấc thắm 
Rơi ra từng sợi thấm cành khô
Đồng không lối tắt mây nghi ngút
Sông vắng thuyền ai lửa thập thò
Phơi phới thành xuân ban sáng tạo
Chồi sương nặng trĩu mặt hoa đưa.

 

Dã vọng 

(Vương Tích)

Bóng lộn ngàn cao buổi tối mòng

Một mình chưa dễ đứng ngồi xong

Cây lồng sắc chiếu màu thu tía

Non ánh tà dương lộng vẻ hồng

Trẻ mục giục trâu lùa cái nghé

Người săn cưỡi ngựa xách con hồng

Cùng trông lại biết ai hay tá?

Tưởng hái rau vi những ngại ngùng

 

Sơ nguyệt 

(Đỗ Phủ)

Nửa vành vừa hé mái cung lên

Một bánh xe trông chửa vẹn tuyền

Thấp thoáng đầu cành trên bể ló

Lô nhô ban tối áng mây ken

Chắn ngang luống để sông Ngân trắng

Hiu hắt vì ai mặt ải đen

Trăm mối bên lòng càng áy náy

Dãy thềm chòm cúc giọt sương hoen

 

Đăng Nhạc Dương lâu 

Đỗ Phủ

Mấy cảnh Tiêu Tương vẫn tiếng đồn

Lầu đây hồ đấy trải bao còn

Chia ra Ngô Sở chiều ngang dọc

Chốt lại càn khôn thỏa nước non

Một chữ thân bằng tin nhạn vắng

Nghìn trùng quan tái chiếc thuyền con

Xa xa cõi bắc lầm phong hỏa

Thăm thẳm Trường An mắt đã mòn

 

Thánh Tuyền yến 

(Vương Bột)

Phất phơ tràng áo bước lên non

Ngoảnh lại bên đình lạch suối con

Bầu sánh cúc pha ba chén cạn

Vần lơi tùng thét mấy cung dồn

Lơ thơ bóng rủ ngoài cành lọn

Ngào ngạt hoa bay trước gió tuôn

Rừng vắng tà tà say ngắm cảnh

Lô xô len đá khói đùn đùn

 

III. Thơ cách luật Việt Nam

Cũng như các nhà thơ Hàn Thuyên, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, nhà thơ Trần Tế Xương đã góp công lao to lớn hơn hết cho việc hình thành thơ Đường luật theo phong cách Việt, Chúng ta có thể khảng định toàn diện về một thể thơ khác đó là “Thơ luật Việt Nam” trong quá trình tiếp thu tinh hoa văn hóa của thế giới. Về ý kiến này chúng tôi còn muốn có nhiều ý kiến của các học giả có kiến thức sâu rộng hơn cùng góp sức như đã làm với “Thơ mới” vốn cũng có sự kết hơp giữa thi ca Việt Nam với thơ Nga, thơ Pháp và thơ của nhiều nước khác. Cho đến nay chỉ còn lại với cái tên: “Thơ tự do”; “Thơ Mới” hoàn toàn của Việt Nam ta vậy.

                                                               (LTH)

                                                 

 

MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT

VỀ THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM TRONG DÒNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

 

                                Lê Trọng Hồng

CLB thơ ĐL Lục Đầu Giang tỉnh Hải Dương

 

 

I. Xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

Sau hàng ngàn năm dân tộc Việt đương đầu với những cuộc xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc và lần nào cũng đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi. Tuy nhiên lần này dân tộc ta gặp phải một kẻ thù xâm lược mạnh mẽ và nham hiểm hơn nhiều. Đó chính là cuộc xâm lược của Thực dân Pháp cùng với vũ khí hiện đại và đầu óc thực dân nhiều tham vọng tìm kiếm nguyên liệu và chiếm đoạt thị trường của giai cấp tư sản ở châu Âu.

Giai đoạn đầu thế kỷ XX cũng là giai đoạn Thực dân Pháp đã thôn tính xong đất nước ta, bắt đầu cuộc thực dân hóa của chúng bằng mọi thủ đoạn, cùng với sự giúp sức của bè lũ vua quan phong kiến, tay sai bán nước, đến các quan lại ở phủ huyện và các cấp thấp hơn đó là các hào lý ở thôn xóm. Đây chính là giai đoạn những chính sách độc quyền của thực dân Pháp trong cai trị và vơ vét kinh tế, tài nguyên đem về chính quốc. Cùng với chính sách về kinh tế, chính quyền thực dân tiếp tục tổ chức bộ máy quân đội đàn áp các phong trào cách mạng của các tầng lớp sĩ phu yêu nước, đàn áp các cuộc khởi nghĩa binh biến của cai đội, binh lính cùng với dân lao động. Cho đến khi chính quyền thực dân đè bẹp tất cả các phong trào Cần vương, Duy tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, và nhiều phong trào khác. Tàn sát, bắt bớ, giam cầm những người đứng đầu trong các nhà tù của chúng. Đất nước ta hoàn toàn trong đau thương, chết chóc dường như bị tê liệt cho đến khi các phong trào vô sản bắt đầu hoạt động.

Tuy nhiên với những giai đoạn xã hội khi ở cao trào lúc lại thoái trào như vậy, nhưng từ bên trong lòng của nó vẫn như được ủ nóng và sẵn sàng bốc cháy khi thời cơ đến. Điều này được phát hiện chính là nhờ các ghi chép thông qua các tác phẩm văn học thời đó và một trong những thể loại văn học đó là thơ Đường luật Việt Nam

 

II. Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Thơ Đường luật trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX này hầu hết là của của các sĩ phu và và các học giả biết chữ Hán, chữ Nôm và sau này là chữ quốc ngữ. Trong số này phần đông lại đang sống trong sự kiềm tỏa của chính quyền thực dân và phong kiến tay sai nên phần lớn những bài thơ đều luôn kín đáo gửi gấm nỗi niềm trong sự hoài cổ về sự huy hoàng của lịch sử cha ông và non sông đất nước.

 

1. Thơ Đường luật diễn đạt nỗi niềm trong hoài cổ

Những bài thơ Đường luật hoài cổ xuất hiện trong thời gian này đa phần là nhắc đến truyền thống yêu nước đánh giặc của cha ông, nhân đấy đánh thức ý chí vươn lên đấu tranh giành lại non sông đất nước. Cũng trong thời thơ ca hoài cổ này đã có đến hàng trăm tác giả với nhiều bài thơ viết bằng chữ Nôm, chữ Hán của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Thượng Hiền vv…  Điển hình trong sự hoài cổ ấy là bài thơ Thăng Long thành hoài cổ của Phan Trọng Mưu xuất hiện trong khi Pháp tổ chức khánh thành cầu Long Biên năm 1902. Bài thơ nhắc về dấu ấn lịch sử quang vinh qua bao triều đại của miền đất Thăng Long xưa. Cùng với những trận chiến oanh liệt “Cầm hồ đoạt sáo” vẻ vang một thời trong truyền thống của người xưa giờ đâu không thấy nữa

 

Ngưu Hồ dĩ biến tam triều cuộc, 

Long, Đỗ không dư bách chiến thành

Cầm hồ đoạt sáo nhân hà tại.

Ưng vị giang sơn tẩy bất bình

 

Ngoài ra còn rất nhiều các bài thơ khác luôn nhắc nhớ đến lịch sử quang vinh oanh liệt của cha ông, khêu gợi niềm trắc ẩn trong lòng mọi người. Từ đó nêu cao lòng yêu nước và ý chí đấu tranh cách mạng kêu gọi họp nhau lại đứng lên đánh đuổi quân xâm lược. Trong số đó có khá nhiều các bài thơ như: Cổ Loa hoài cảm, Với sơn hà và Đề đền vua Hùng Vương của nhà chí sĩ Á Nam Trần Tuấn Khải:

 

Cám cảnh cháu con hăm mấy triệu! 

Tưởng công tôn tổ bốn nghìn năm. 

Chắp tay vái lạy mây trời thẳm, 

Phù hộ muôn dân buổi cát lầm...

(Đề đền vua Hùng Vương) 

 

Hay như nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng cũng gửi vào thơ Đường luật với nói về một “Cành chim làm tổ. Ngờ đâu muôn dặm hạc xa vời...” giờ đây tan tác và những lời nhắn gửi cần thiết về một sự trùng phùng đoàn kết lại. Những câu hỏi người xưa và những câu trả lời về người nay. Sao không noi theo đó mà lại để non sông chìm đắm, dân tộc lầm than.

 

Non sông trơ đó, Thầy đâu vắng? 
Con cháu còn đây, giống vẫn cường 
Công đức miệng người ghi tạc mãi 
Ngàn thu mấy kẻ biết trông gương!

Nhớ lại trước đó nhiều nhà chí sĩ đã viết những bài thơ kể rõ sự hèn hạ của triều đình phong kiến từng bước để đất nước ta rơi vào tay giặc như bài Nhượng địa của Phan Văn Trị dưới đây:

 

Tò te kèn thổi tiếng năm ba, 
Nghe lọt vào tai dạ xót xa. 
Uốn khúc sông Rồng mù mịt khói, 
Vắng hoe thành Phụng ủ sầu hoa.(3) 
Tan nhà căm nỗi câu li hận, 
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa. 
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ, 
Ngậm ngùi hết nói nỗi quan ta.

 

2. Thơ Đường luật làm vũ khí châm biếm

Một trong những đặc điểm quan trọng nhất trong nửa đầu thế kỷ XX là việc thơ Đường luật Việt Nam được viết với phong cách trào phúng. Đây là vũ khí sắc bén châm biếm bọn thực dân xâm lược và bè lũ tay. Từ đó làm cho dân chúng thấy rõ bộ mặt thật bọn xâm lược và bè lũ tay sai bán nước. Điển hình với thơ Đường luật trào phúng giai đoạn này là những bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khuyến và nhà thơ Trần Tế Xương. Thơ của hai nhà thơ này đặc biệt nhằm vào bè lũ xâm lược và bọn tay sai bán nước.

Những nội dung chính trong các bài thơ trào phúng của các nhà thơ là phơi bầy cái đời sống cực khổ của nhân dân. Trong đó có hàng trăm các bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khuyến viết về khu vực thôn quê ở Hà Nam trong cảnh nghèo túng, cùng quẫn:

Năm nay cầy cấy gặp chân thua

Chiêm mất đàng chiêm mùa mất mùa

Phần thuế quan Tây phần trả nợ.

Nửa công đứa ở nửa công bò

 

Trong bài thơ Hội Tây của Nguyễn Khuyến viết về cái chính sách ru ngủ người dân trong các trò hội hè để quên mất nỗi nhục mất nước:

 

Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo

Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo.

     …

Khen ai khéo vẽ cho vui thế

Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu

 

Cũng như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương cũng đã viết hàng trăm bài thơ trào phúng về tầng lớp thị dân ở vùng Nam Định với các tệ nạn xã hội buôn bán bài bạc lừa đảo. Con người dở quê dở tỉnh, tha hóa đến mức chẳng còn coi lễ nghĩa là gì nữa trong bài Đất Vị Hoàng:

 

Nhà kia lỗi phép con khinh bố 
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng 
Keo cú người đâu như cứt sắt 
Tham lam chuyện thở những hơi đồng 

 

Đặc biệt hơn đó là các bài thơ trào phúng viết về trường thi và đạo học thật sự chán chường với cảnh nay thay mai đổi, cùng với các trò gian lận nơi trường ốc.

 

Đạo học ngày nay đã chán rồi 
Mười người đi học chín người thôi 
Cô hàng bán sách lim dim ngủ 
Thầy khoá tư lương nhấp nhổm ngồi 
Sĩ khí rụt rè gà phải cáo 
Văn trường liều lĩnh đấm ăn xôi 

 

3. Thơ Đường luật tuyên truyền vận động

Tiếp theo thời gian của sự hoài cổ tác động một cách khiêm tốn đến phong trào yêu nước và cách mạng đó là những bài thơ tuyên truyền và vận động đứng lên cứu nước ngày càng sôi sục. Do tính chất vận động với nhiều nội dung cần nói tới mà những bài thơ theo thể lục bát, song thất lục bát xuất hiện nhiều hơn như “Lưu cầu huyết lệ tâm thư”của Phan Bội Châu. Nhưng cũng không thiều các bài thơ Đường luật vượt qua sự man mác buồn thời trước để sang trang mới tố cáo bọn thực dân phong kiến và kêu gọi đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm.

Trước hết là những bài thơ nói về cái chí của người cách mạng cả trong cách sống sao cho xứng đáng đừng để:

 

Sống tủi làm chi đứng chật trời

Sống làm nô lệ cho người khiến.

                          (Sống - Phan Bội Châu)

 

Chẳng những là cách sống mà ngay cả cái chết cũng phải chết sao cho oanh liệt vì nước vì dân làm sao cho xứng đáng:

 

Chết mà vì nước, chết vì dân,

Chết đấng nam nhi trả nợ trần.

                          (Chết - Phan Bội Châu)

4. Thơ Đường luật của nhà cách mạng trong lúc bị cầm tù

Bằng những cuộc đàn áp đẫm máu của chính quyền thực dân Pháp, đối với các phong trào cách mạng, số đông các nhà cách mạng đều bị bắt giam trong các nhà lao. Với hoàn cảnh eo hẹp và bức bối của nhà tù thực dân, người tù chỉ còn biết giãi bầy lòng mình bằng cách sáng tác thơ. Chính trong lúc này thơ Đường luật thực sự là công cụ có ích cho họ.

Không phải ngẫu nhiên mà sau những vần thơ bốc lửa của nhiều thể thơ của người Việt, cụ Phan Sào Nam vẫn dành một phần cho thơ Đường luật, nhất là sau khi cụ bị kẻ thù bắt bớ giam cầm. Chính trong lúc này cụ lại dùng những bài thơ Đường luật với nhiều nội dung tranh đấu. Khi cụ ở nước người mà vẫn nghĩ về nước mình và cái hận nước dường như lúc nào cũng nằm đâu đó trong tim trong óc như những câu thơ trong bài Hữu cảm của cụ:

 

Tam niên Lĩnh Hải tác thi tù, 

Thân thế gia bang lệ bính lưu.

 

Hay như bài thơ Cảm tác vào nhà ngục ở Quảng Đông của cụ:

 

Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu 

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù 

 

Một nhà chí sĩ nữa trong thời gian ấy là cụ Phan Châu Trinh cũng từng viết thơ Đường luật trong khi ở tù. Một trong những bài thơ nổi tiếng của cụ là bài thơ Đập đá ở Côn Lôn

 

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, 
Lừng lẫy làm cho lở núi non. 
Xách búa đánh tan năm bảy đống, 
Ra tay đập bể mấy trăm hòn. 
Tháng ngày bao quản thân sành sỏi, 
Mưa nắng càng bền dạ sắt son. 
Những kẻ vá trời khi lỡ bước, 
Gian nan chi kể sự con con.

 

5. Thơ Đường luật của nhà thơ cách mạng vô sản

Trong dòng văn học yêu nước và cách mạng, thơ Đường luật của các nhà thơ“cách mạng vô sản” đến có muộn hơn, so với sự xuất hiện của các “phong trào duy tân và bạo động” nhưng lại phong phú và rõ nét nhất. Cũng như đã nói ở phần đầu về hoàn cảnh xã hội đã tạo nên những dòng văn học của dân tộc. Trong tiến trình hình thành các tổ chức cách mạng vô sản thì cũng cũng hình thành hệ thống văn học của cách mạng vô sản. Các nhà thơ cách mạng vô sản vào giai đoạn ấy ngoài việc nhằm vào mục đích tuyên truyền, vận động còn có cả những bài viết về những hành động đấu tranh cụ thể. Để tự nhắc nhở mình và nói cùng đồng chí về niềm tin vào cách mạng. Nhà thơ Trường Chinh viết trong thời gian ở Hỏa Lò bài thơNiềm tin:

 

Bình minh bừng sáng ở phương đông

Xé toạc màn sương phủ cánh đồng

Đêm sẽ qua đi, ngày sẽ lại

Trời quang, mây tạnh, ánh dương hồng.

 

Nhà thơ cách mạng Trần Cung cũng đã viết bài thơ Đề lao năm 1939 khi ông đang ở tù. Những câu thơ phóng khoáng đến mức coi nhà tù thực dân chỉ như chỗ dừng chân trên đường tranh đấu:

 

Cuộc đời chiến sĩ thật ba đào, 
Thấm thoắt năm lần bị tống lao.

Nhốt chặt con người tầng cửa sắt, 

Vây riêng cõi đất bức tường cao. 

Cá mục, cơm hôi, xiềng xích sắt, 

"Văn minh khai hoá" gớm ghê sao?

 

Thậm chí trong khi ở tù, các nhà thơ cách mạng cũng tìm cách liên hệ với nhau để tổ chức thi thơ Đường luật và tặng giải cho thơ. Nhà thơ cách mạng Trần Cung đã được giải nhất trong đợt thi thơ năm 1933 ở Hỏa Lò Hà Nội với bài Tết nhà pha

 

Năm mới sang rồi, năm cũ qua, 
Đời tù mới, cũ khéo phôi pha. 
Nghinh tân lễ mễ khiêng ty nét, 
Bái tuế lom khom bế lập là. 
Mặt trái đời kia toàn mặt quỷ, 
Trò chơi xuân đó thiếu trò ma. 
Mùi đời nếm trải ai sành sỏi? 
Có biết mùi này... mặn nhạt a?

 

Thơ Đường luật cũng là công cụ cho các nhà thơ cách mạng vô sản phản ảnh tình yêu nước và ý chí cách mạng của bản thân và cả thế hệ của họ trong nhân sinh quan mới của thời đại. Một trong những bài thơ đã phản ảnh đến cái sự hy sinh cao cả của nhà thơ vô sản đó là bài “Thư cho vợ” của Trần Cung viết ở Côn Đảo năm 1934:

 

Đồng chí của tôi, em của anh, 
Hai ta cùng nhất trí hy sinh. 
Ái ân đúc lại hồn non nước, 
Hạnh phúc tìm trong cuộc đấu tranh. 
Kiếm chốn nương thân nuôi lũ trẻ, 
Cho anh yên dạ vượt xà lim. 
Thuỷ chung theo nghĩa cao xa ấy, 
Đó mới là chân chính tiết trinh.

 

Đặc biệt hơn cả đó là những bài thơ Đường luật cũng trở thành công cụ cho nhà thơ cách mạng Hồ Chí Minh viết tác phẩm Nhật ký trong tù vào những năm 30 của thế kỷ XX, như một khúc tráng ca của các nhà thơ cách mạng vô sản.

 

Thân thể tại ngục trung

Tinh thần tại ngục ngoại

Dục thành đại sự nghiệp

Tinh thần cánh yếu đại.

            

III. Kết luận

Để có thể kết luận bài viết cũng nên nói thêm một chút về hoàn cảnh của thể thơ Đường luật Việt Nam vào những năm 20 của thế kỷ XX. Đây là khoảng thời gian rộ lên một nhận định khá độc đoán (trong một chừng mực nào đó): Thơ Đường luật bị coi là “cũ” là khó sáng tác, là bó buộc tâm hồn thơ. Nhưng thực tế cho thấy thể loại thơ này đã qua nhiều lần Việt hóa và đã trở thành thơ Đường luật Việt Nam như phần trên đã nói đến. Hầu hết các nhà thơ thời đó đều đã từng làm thơ Đường luật và những bài thơ Đường luật đã chiếm lĩnh tất cả các đề tài về cuộc sống và hơn hết đó là mảng đề tài về yêu nước và cách mạng.

Với một số nét khái quát trên đây đã đánh dấu sự đóng góp to lớn của thơ Đường luật Việt Nam trong dòng văn học yêu nước và cách mạng nửa đầu thế kỷ XX như các thể loại văn học khác của Việt Nam

(LTH)



VĂN HỌC CHỨC NĂNG

TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT THỜI LÝ

 

                                 LÊ TRỌNG HỒNG

Chi hội TĐL Lục Đầu Giang tỉnh Hải Dương

 

Lịch sử văn học viết của nước ta chính thức xuất hiện vào thế kỷ thứ X. Có nhiều giả thuyết cho rằng đây là thời kỳ văn học mở đầu, tuy nhiên cho đến những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi chúng ta mới đặt tên thời đại văn học theo cách sắp xếp của thế giới. Từ đó chúng ta có hệ thống nghiên cứu các thời kỳ văn học đồng nhất với quốc tế. Đối chiếu với thời gian trên thì thời kỳ xuất hiện văn học viết của nước ta được xếp vào thời kỳ văn học trung đại. Đây cũng chính là thời kỳ hình thành và phát triển của Lý triều kéo dài 216 năm từ 1009 đến năm 1225. Những nét đặc trưng của văn học trung đại nước ta là loại hình văn học chức năng và loại hình văn học nghệ thuật. Tuy nhiên không loại trừ sự đan xen giữa hai loại hình văn học cùng xuất hiện trong từng tác phẩm.

Trong quá trình khảo sát văn học cũng có nhiều khái niệm khác nhau về các tác phầm thơ thời Lý. Nhiều người cho rằng những sáng tác của các nhà sư mang tính thiền nên thường cho đó là các bài thơ thiền. Một dạng sáng tác cô đọng hơn để truyền tải những triết lý nhà phật lại được gọi là kệ. Để giúp cho việc tìm hiểu chúng tôi xin được gọi chung các tác phẩm là thơ Đường luật thời Lý.

I. Những bài thơ Đường luật thời Lý thuộc thể loại văn học chức năng.

Nói đến loại hình văn học chức năng với cái đích chính là sự ảnh hưởng của văn học đến đời sống xã hội. Trên tinh thần đó chúng tôi xếp các bài thơ theo từng chức năng cụ thể. Đó là các bài thơ sấm có nội dung định hướng xã hội; các bài thơ truyền giảng về tôn giáo; các bài thơ vấn đáp về lẽ đời, lẽ đạo và cả các bài thơ cảm hứng, tự tình của các tác giả cũng hướng đến các hoạt động xã hội. Dưới đây là một số nét khái quát về văn học chức năng trong thơ Đường luật thời Lý.

 

a. Những bài thơ mang chức năng định hướng xã hội

Những bài thơ mang chức năng định hướng xã hội là những bài thơ sấm xuất hiện khá nhiều trong văn học thời Lý, thậm chí còn xuất hiện trước nữa vào thời Đinh, Lê. Đây chính là các bài thơ được viết ra với ý đồ hướng mọi người đến một mục đích nào đó. Cụ thể hơn đó là các bài thơ cổ súy cho việc đưa ai lên làm vua và từ đây có một dòng tộc thay nhau lãnh đạo đất nước. Trong Thơ văn Lý Trần thống kê nhiều lần xuất hiện thơ sấm, đó là giai đoạn nhà Lê thay nhà Đinh tiếp đến là nhà Lý thay nhà Lê. Những bài thơ dạng này thường là khuyết danh vì đây được ví với sự phán bảo của trời. Nếu nói về nguồn gốc thì có chăng là do người nào đó nghe được, nhìn thấy được ở một nơi nào đó. Về nội dung các bài thơ thường đượm màu huyền bí, mượn quang cảnh, hiện tượng tự nhiên mà diễn giải. Đó chính là những bài thơ sấm chuẩn bị cho sự ra đời triều Lê, triều Lý... Có thể lấy bài thơ sấm Quốc tự mà Vạn Hạnh đọc được ở cây gạo chỉ rõ Thân vệ (Lý Công Uẩn) sẽ lên ngôi trong ba tháng nữa.


Cái tam nguyệt chi nội

Thân vệ đăng trụ xã tắc
Lạc trà ấn quốc tự
Thập khẩu thủy thổ khứ
Ngộ thánh hiệu Thiên Đức

 

Hoặc bài Yết bảng thị chúng: nói về cây tật lê (ám chỉ triều đại Lê Hoàn) chìm sâu ở mạn Bắc và Lý tử (chỉ Lý Công Uẩn) ở Nam thiên sẽ thay thế. Tứ phương sẽ hết can qua và đất nước sẽ thanh bình


Tật lê trầm Bắc thủy

Lý tử thủ Nam thiên
Tứ phương qua can tĩnh
Bát biểu hạ bình yên

 

Đặc biệt hơn là bài thơ Đại Sơn khuyết danh, tiếp cái ý của bài thơ mà Từ Đạo Hạnh đọc được ở gốc gạo, nhưng lại nói rõ ràng rằng trong ba tháng thỏ, gà, chuột sự sẽ thành

Đại sơn long đầu khởi
Cù vĩ ẩn chu minh
Thập bát tử định thành
Miên thụ hiện long hình
Thố kê thử nguyệt nội
Định kiến nhất xuất thanh

 

Tước bỏ đi những khái niệm duy tâm trong các bài thơ, ta vẫn nhận ra rằng tầng lớp sĩ phu và các nhà sư quả đã nắm bắt đầy đủ các hoạt động xã hội đương thời và triệt để khai thác nó phục vụ cho các sách lược lớn lao của đất nước.

 

b. Những bài thơ truyền giảng về đời và đạo

Một dạng văn bản thi pháp ngắn gọn, hàm súc được gọi là kệ xuất hiện nhiều trong các tác phẩm thời Lý. Thường các bài kệ đã được nung nấu qua sự từng trải, chiêm nghiệm của tác giả, nó huyền bí và khó hiểu chỉ có thể suy ngẫm kỹ mới có thể ngộ được. Người ta cũng từng xếp thể loại văn học này với hình thức văn học “vô ngôn” nó có phần nào giống như khái niệm “Ý tại ngôn ngoại” mà nghệ thuật thơ Đường luật thường đề cập đến. Về thực chất kệ cũng là loại hình văn học chức năng nhằm chỉ bảo hoặc nhắn gửi một nội dung nào đó cho mọi người. Nó có thể viết với nhiều ẩn ý mang tính tôn giáo nhưng nó cũng bộc lộ rõ như những câu chữ thông thường trong giao tiếp hàng ngày. Có thể lấy bài nói về Sinh, lão, bệnh, tử của nhà thơ nữ Lý Ngọc Kiều làm ví dụ:


Sinh lão bệnh tử

Tự cổ thường nhiên
Dục cầu xuất ly
Giải phọc thiêm triền
Mê chi cầu phật
Hoặc chi cầu thiền
Thiền phật bất cầu
Đỗ khẩu vơ nghiên

 

Điều mà tác giả muốn nói: Sinh, lão, bệnh, tử vốn là tự nhiên, cái sự cầu siêu thoát thực chẳng hóa ra là cột chặt thêm và tỏ ra không hiểu biết. Tốt nhất là ngậm miệng lại, không nói gì cả.

 

Ở một số bài lại được viết ra với sự ẩn chữa những triết lý huyền bí, chỉ có thể hiểu sau nhiều suy ngẫm. Có thể lấy ví dụ qua bài Thị đệ tử bản tịch của Đào Thuần Chân:


Chân tính thường vô tính

Hà tằng hữu sinh diệt
Thân thị sinh diệt pháp
Pháp tính thị tằng diệt

 

Bài kệ nói về khái niệm chân tính thực chất chỉ là vô tính. Thân người luôn có sự sinh diệt, còn với pháp tính thì chưa bao giờ sinh và cũng chưa bao giờ diệt. Bài thơ chính là lời dặn học trò về cái sinh diệt của bản ngã nên đừng bao giờ chấp ngã.

 

Một bài kệ khác nữa mang chức năng truyền thụ đạo pháp cũng xuất hiện giữa những người đồng đạo ví như bài Đáp Từ Đạo Hạnh chân tâm chi vấn của Kiều Trí Huyền:


Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm

Cá trung mãn mục lộ thiền tâm
Hà sa cảnh thị bồ đề đạo
Nghĩ hướng bồ đề cách vạn tầm

 

Bài viết mang tính trao đổi giữa hai người về một triết lý: phật ở khắp mọi nơi, vì thế chớ nên cho rằng phật ở quá xa không với được. Nói một cách khác đó là phật luôn ở cạnh ta, thậm chí là luôn ở trong ta vậy.

 

Một trong những cao tăng đắc đạo như Từ Đạo Hạnh với nhiều bài kệ, nhất là những triết lý mà ông thu lượm được qua bài 

Hữu Không:


Tác hữu trần sa hữu
Vi không nhất thiết không
Hữu không như thủy nguyệt
Vật trước hữu không không

 

Một sự ví von khá hình tượng về hiện trạng trăng soi đáy nước. Nhìn thấy đó mà không thể vớt được, nên mọi thứ thấy có mà thực sự lại là không.

 

c. Những bài thơ vấn đáp về đời và đạo

Một phong cách thơ khác cũng được xếp vào loại hình văn học chức năng đó là các bài thơ vấn đáp với các nội dung hỏi và trả lời về một điều gì đó. Thơ Đường thời Lý trong Thơ văn Lý Trần tập 1 có đến 11 bài thơ vấn đáp. Nội dung vấn đáp có thể là một triết lý về đời, về đạo, về xử thế, về sách lược về thời vận của con người và của đất nước. Đây là những bài thơ vấn đáp giữa vua tôi, thầy trò, phụ tử và cả những người đồng triều, đồng đạo. Hầu hết nội dung đều rất cụ thể cho từng đề tài gắn bó chặt chẽ với sinh hoạt đời sống của xã hội đương thời. Bài thơ vấn đáp điển hình chính là bài thơ Đáp Quốc vương Quốc tộ chi vấn của Đỗ Pháp Thuận:


Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh

 

Đây là chính là tác phẩm văn học viết xuất hiện đầu tiên trên đất nước Việt Nam với nội chính là một câu hỏi của nhà vua về thế nước hiện nay đã được nhà sư thi sĩ trả lời mạch lạc tựa như nung nấu trong lòng đã từ lâu. Thế nước ở đây được nói đến đó là lòng người bám chặt vào nhau sống trong cảnh thái bình, ví như sự quấn quýt dây leo chằng chịt. Chỉ cần làm cho triều chính bớt đi những mưu toan ích lợi nhỏ nhặt thì chẳng còn “đao binh” loạn lạc.

 

Có thể kể thêm bài: Thị chư thiền lão tham vấn chỉ thiền của nhà vua Lý Phật Mã (Thái Tông).


Bát nhã chân vô tông

Nhân không ngã diệc không
Quá hiện vị lai phật
Pháp tính bản tương đồng

 

Bài viết nói về cái gốc sắc không và nhấn mạnh bản ngã của ta, của người tất cả đều không vậy. Từ đó khảng định cho dù là quá khứ, hiện tại hay vị lai thì tính phật vẫn giống nhau.

 

Một ví dụ khác đó là bài: Đáp Lý Thái Tông tâm nguyện chi vấncủa Lâm Khu. Đây là bài vấn đáp giữa vua tôi về một triết lý phật pháp:


Pháp bản như vô pháp

Phi hữu diệc phi không
Nhược nhân tri thử pháp
Chúng sinh dữ phật đồng

 

Nội dung căn bản đã chỉ ra rằng “bản pháp” thực ra cũng là “vô pháp”.  không phải có mà cũng chẳng phải là không. Nếu mà hiểu được điều đó thì chúng sinh cũng đồng nhất với phật.

 

Bên cạnh các bài vấn đáp về đời về đạo là loạt bài viết về quốc gia dân tộc được thể hiện bởi nhiều câu hỏi và những câu trả lời về đất nước. Những gì mà ta tiếp thu được đó là sự quan tâm thường trực của các vị quân chủ và các quan lại đồng thời là các nhà thơ về sự tồn vong của đất nước, cùng với cách làm thế nào để thế nước bền vững lâu dài, như bài Đáp Quốc vương quốc tộ chi vấn của Đỗ Pháp Thuận đã dẫn ở phần trên.

 

Một trong những bài thơ đặc biệt nhất vừa có chức năng tuyên cáo trước quốc gia dân tộc, vừa có chức năng phán bảo về sự sai trái của quân xâm lược được sử dụng trong thời Lý đó là bài Thơ Thần vang lên trên trận chiến sông Như Nguyệt.


Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lại xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

 

 Bài thơ được cho là sáng tác của Lý Thường Kiệt. Mỗi câu, mỗi chữ làm sáng tỏ một chân lý, đó là khảng định sự tồn tại của đất nước, dân tộc và chủ nhân trên đất ấy. Đồng thời mỗi câu mỗi chữ cũng tỏ rõ khí phách oai hùng của một dân tộc đối diện với ngoại bang. Bài thơ được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước Việt. Rõ ràng bài thơ mang chức năng là vũ khí văn hóa trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Về bài Thơ Thần, nhiều bài nghiên cứu cho rằng bài thơ có thể đã xuất hiện từ triều đại trước đó, và không có tác giả cụ thể, tuy nhiên ảnh hưởng của nó đặc biệt to lớn hơn khi sử dụng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của triều Lý. Đây cũng chính là dấu ấn rõ nét nhất trong công cuộc bảo vệ đất nước vô cùng vĩ đại của dân tộc.

 

d. Những bài thơ cảm hứng, tự tình

Những bài thơ cảm hứng, tự tình đa số cũng luôn hướng về đời về đạo và về quốc gia dân tộc. Mặc dù đó là cảm hứng của cá nhân các nhà thơ nhưng có lẽ bản thân nhà thơ mang nặng chức trách của mình trong guồng máy hoạt động của xã hội nên ngoài những thăng hoa trong sự giác ngộ về đạo vẫn bám chặt vào thời cuộc. Điển hình là hàng loạt các bài thơ vịnh cảnh hoặc ca tụng các nhân vật qua cảm tình của tác giả. Tuy nhiên cái sự ngỏ cái ý sau cùng cho học trò, cho bè bạn, cho dân chúng trước lúc rời xa cõi sống của các vị quân chủ, của các tăng lữ chính là cái cảm xúc lớn nhất của đời người. Điều mong muốn để lại những chứng nghiệm, cùng với sự giác ngộ cho đời sau chính là khái niệm văn học chức năng phổ biến giáo dục trong thơ Đường thời Lý.

Thống kê trong Thơ văn Lý Trần và cụ thể là thơ thời Lý có 9 bài kệ thị tịch và nhiều bài thơ dưới dạng thơ cảm hứng. Với dạng thơ cảm hứng xin dẫn bài Cáo tật thị chúng của Mãn Giác để luận về điều này.


Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

 

Đây là bài thơ cảm hứng trong lúc có bệnh. Ngoài sự đối vần đối ý của hai liên thơ trên với thể ngũ ngôn, bài thơ được tiếp nối với liên thơ dưới với thể thất ngôn, tựa như dòng chảy trong sông chợt òa ra biển. Sự phiền muộn bi quan, tiếc nuối đã mất đi để mở ra một niềm tin của sự sinh sôi nảy nở. Có thể dẫn thêm bài thơ của Hoàng đế Lý Công Uẩn trong lúc thiếu thời:


Thiên vi khâm chẩm địa vi thiên

Nhật nguyệt đồng phong đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm trường thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên

 

Bỏ qua những nhận định cho rằng ngài tự đánh giá quá cao về mình thì cái ý “duỗi thẳng thân thể ra mà lo đất nước nghiêng đổ” cho thấy cái nghệ thuật ví von phóng đại cũng chỉ có một ngài mà thôi. Điều quan trọng hơn muốn nói đến ở đây chính là dù là thơ cảm hứng nhưng vẫn hướng đến sơn hà xã tắc.

 

Cảm hứng dành cho một nhân vật cũng là đề tài của các nhà thơ. Có thể lấy bài thơ Truy tán Vạn Hạnh thiền sư của vua Lý Nhân Tông làm ví dụ:


Vạn Hạnh dung tam tế
Chân phù cổ sấm thi
Hương quan danh Cổ Pháp
Quải tích trấn vương kỳ

 

Nhà vua đã ca tụng Thiền sư Vạn hạnh là người thông hiểu ba cõi, thơ của ông là lời sấm khí. Từ quê nhà cổ Pháp, treo gậy trấn giữ kinh kỳ cho vua. Đây cũng là một cách khen tặng biểu dương những người có công với nước.

 

Cảm hứng trước cảnh thiên nhiên và con người tự do tự tại là những đề tài quen thuộc. Xin dẫn bài Ngư nhàn của Thiền sư Không Lộ làm ví dụ:


Vạn lý thanh giang vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thụy trước vô nhân hoán
Quá Ngọ tinh lai tuyết mãn thuyền

 

Tuy nhiên nếu không có đời sống khoan hòa yên vui hạnh phúc mà xã hội đương thời tạo dựng, hẳn ông chài đâu có niềm sung sướng tự do tự tại đến thế. Điều nhấn mạnh ở đây vẫn là sự ca ngợi một xã hội tươi đẹp đương thời. 

Ngoài những bài thơ cảm hứng nêu trên có thể kể đến hàng loạt các bài thơ tự tình trong thơ Đường thời Lý, mà điển hình là 9 bài kệ viết trước khi mất của các nhà thơ. Xin dẫn bài Kệ thị tịch của Thiền sư Vạn Hạnh làm ví dụ:

 

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh  thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

 

Bài thơ nói về sự biến động vô thường của mọi sự vật, bản thân con người cũng không nằm ngoài quy luật này. Một người khi đã tu hành hoà đồng được với tự nhiên sẽ không cần băn khoăn, buồn đau cho sự ra đi của kiếp người. Đây chính là triết lý nhân sinh gửi lại cho mọi người vậy.


Có thể dẫn thêm bài Thị tịch kệ của thiền sư Viên Chiếu:


Thân như tường bích di đồi thì

Cử thế thông thông thục bất bi
Nhược đạt tâm không, vô sắc tướng
Sắc không ẩn hiển nhậm suy di

 

Bài thơ nói về thân người già nua yếu ớt tựa bức tường long. Đây cũng là lẽ thường từ từ đến chẳng nên buồn khổ làm gì. Nếu đã nhận thức được tâm không, vô sắc tướng thì cứ mặc cho mọi sự xoay vòng.

 

2. Những yếu tố hình thành văn học chức năng của thơ Đường luật thời Lý

Thơ Đường luật thời Lý mang nặng hình thức văn học chức năng cũng thật dễ hiểu vì hầu hết các tác giả đều là người có chức trách trong xã hội. Ở nhóm thứ nhất là các quan lại trong hệ thống lãnh đạo của nhà nước phong kiến, thậm chí là cả các vị quân chủ và các quan đầu triều. Bài viết của họ thường chỉ ra những nội dung quan trọng của bộ máy nhà nước trước cộng đồng xã hội.

Nhóm tác giả thứ hai là các tăng lữ đã từng được tu học với sức hiểu biết phi thường, về chính trị, xã hội và triết lý tôn giáo. Họ từng là các cố vấn cho các vị vua trong quá trình chấp chính. Thậm chí chính họ cũng là bà đỡ cho các triều đại phong kiến ra đời. Bài viết của họ luôn thấm nhuần về đời, về đạo và nhiều nội dung bộc lộ chính kiến của họ trước những yêu cầu xã hội và cả những hoạch định quan trọng của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ.

Nhóm tác giả thứ ba là các nhà quý tộc, các nhân sĩ có chung quyền lợi với bộ máy lãnh đạo xã hội. Bài viết của họ thường là ca ngợi chính trị xã hội và các vị vua chúa cùng với những gì tốt đẹp nhất. Đặc biệt là ca tụng những chiến tích đánh giặc giữ nước và quá trình dựng nghiệp của triều đại phong kiến đương thời.

Cũng từ các dẫn chứng trên đây ta nhận thấy hầu hết các bài thơ đều gắn bó với đời sống xã hội. Ngay cả những tăng lữ vốn được coi là những người “xuất thế” vậy mà thơ của họ cứ bám dính với mọi mặt đời sống. Từ đây ta có thể xác định Thơ Đường thời Lý về mặt nội dung thực sự là loại hình văn học chức năng gắn bó chặt chẽ với đời sống xã hội.

 

3. Kết luận

Trên đây là một số nét khái quát về văn học chức năng trong thơ Đường luật  thời Lý. Sự gắn bó của các tác giả và các tác phẩm trong chức năng xây dựng xã hội đương thời đưa đến một nhận định hết sức độc đáo đó là sự gắn bó sâu sắc của văn học với đời sống xã hội. Đây chính là thành công to lớn không gì sánh nổi của Lý triều cùng với 216 năm liên tục. Một chứng minh sâu sắc về ảnh hưởng văn học đối với một thời đại, làm tiền đề cho sự bền vững của một quốc gia dân tộc.

Ngày nay dưới ánh sáng của văn hóa thế giới và sự trưởng thành của văn học Việt Nam qua nhiều thời kỳ, chúng ta có thể rút ra những bài học sâu sắc về một nền văn hóa mới lấy sự tiến bộ của xã hội làm kim chỉ nam cho các sáng tác. Đồng thời cũng xác định chức trách của người sáng tác văn học trước nhiệm vụ xây dựng quốc gia dân tộc.

                                                                                 (LTH)

 

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

 

VẮNG DẦN

Co-víd sổng ra đã mấy tuần

Năm nay chống dịch cả toàn dân

Người đi lễ lạt thưa hơn nửa

Kẻ đến tham quan giảm mấy phần

Bè bạn đang mong về chúc tụng

Cháu con cũng muốn tới quây quần

Chỉ lo lây nhiễm không cho gặp

Chưa đến mười tư đã vắng dần

 

CẢ NƯỚC ANH HÙNG

Co vit sổng ra hại gớm sao

Khắp nơi mở trận tiến quân vào

Sơn Lôi dũng cảm thành công lớn

Trúc Bạch kiên cường kết quả cao

Sản xuất giao thương vừa phát động

Học hành trực tuyến đã khơi mào

Theo lời Đảng chỉ luôn bền chí

Cả nước anh hùng đẹp biết bao

 

QUYẾT CHẲNG THA

Đại dịch từ khi mới nổ ra

Tự nhiên gắn kết khắp muôn nhà

Kiên cường Âu Mỹ luôn vươn tới

Dũng cảm Á Phi gắng vượt qua

Nguy khốn mới hay càng gắn bó

Gian truân càng tỏ sự chan hòa

Từ nay nhân loại cùng chung sức

Tiêu diệt co-vi quyết chẳng tha

 

THƠ VUI NGÀY DỊCH

Muốn ra đường phố ngắm hoa tươi

Dịch bệnh đang cao chớ nói cười

Che miệng chống lây cần phải kín

Rửa tay sát khuẩn quyết không lười

Chào nhau gắng nhớ trên hai mét

Gặp gỡ đừng quên quá một người

Yêu nước yêu dân thì phải thế

Trên vừa thông báo rõ mười mươi

 

KÝ TẾ PHỒN SINH

(Phiếm đoán đại dịch)

Thoạt đầu gắn kết lại cùng nhau

Thủy hỏa đồng sinh thật khác màu

Vẫn biết khởi nguồn liên kết lại

Càng e về cuối loạn thêm mau

Biết điều chắn vén lo gìn giữ

Hiểu sự thu gom quét sạch làu

Có biết nghiệp đời khôn chối bỏ

Phồn sinh huyền hoặc chớ vo nhàu

 

DỊCH NHẤT ĐỊNH TAN

Đại dịch lên cao hại thế gian

Khắp nơi nhiễm bệnh đã lan tràn

Hơn hai trăm nước đang nguy kịch

Gần bốn vạn dân chết dã man

Thế giới cách lý càng vững chí

Toàn cầu chữa trị vẫn kiên gan

Một ngày nào đó không xa nữa

Bốn biển năm châu dịch phải tan

 

ĐỢI BẠN

(Họa thơ Thanh Tình)

Đã hẹn khi nào lựu trổ hoa

Mà nay đã đỏ trước sân nhà

Chơi vơi đầu ngõ làn sương phủ

Thánh thót ngoài hiên hạt móc sa

Vườn cũ cây cao chim chụm tổ

Ao xưa nước mát ếch khui mà

Mỗi ngày càng thấy thêm mòn mỏi

Đợi mãi mà sao bạn chẳng qua

THÀNH PHỐ MỚI

(Họa thơ Trần Phao)

Chí Linh rộn rã tiếng ca vang

Đồng ruộng núi non nắng trải vàng

Kiếp Bạc oai linh ngời kiếm khí

Côn Sơn huyền diệu tỏa hào quang

Xóm thôn mở rộng trông càng đẹp

Phường phố điểm tô ngắm thật sang

Mong mỏi bạn bè về họp mặt

Quê mình đổi mới thật khang trang

 

MỪNG TỪ ĐƯỜNG BÙI TỘC

Thủy tổ Bùi công lập xóm làng

Sắc phong còn đó tỏ từng trang

Năm Cành nảy nở đơm hoa ngọc

Ba Cội sinh sôi kết trái vàng

Nền móng tổ tiên xây vững chãi

Miếu đền con cháu dựng phong quang

Chúc cho họ tộc thêm đông đúc

Chúc các gia đình phú thọ khang

 

MỪNG BÙI TỘC

Bùi tộc vang danh tại xứ này

Nối dài nguồn cội bấy lâu nay

Kim Lâu rạng rỡ huy hoàng vậy

Cổ Đẳng uy nghi tốt đẹp thay

Phúc Nhuận công cha càng rộng lớn

Từ Nhân nghĩa mẹ thật cao dày

Hai trăm sáu chục năm xây nghiệp

Đền miếu muôn nơi khó sánh tày

 

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2020

 

KHAI BÚT CHÀO XUÂN

(01/01/2020)

Mừng Đảng xuân nay chín chục tròn

Giấy thơm trải rộng sáng mầu son

Thảo đôi câu đối mừng dân tộc

Viết mấy vần thơ tặng nước non

Khúc nhạc dựng xây thêm rộn rã

Bài ca chiến đấu mãi vang giòn

Ghi sâu lời Bác từng căn dặn

Độc lập tự do chí chẳng mòn.

 

VỊNH ĐÀO

(18/1/2020)

Đào thế bạt phong mới rước về

Chung vui cảnh tết ở làng quê

Chồi xanh mới nhú vài ba búp

Nụ đỏ vừa bung sáu bẩy huê

Rắn rỏi sinh sôi nơi bão tố

Dẻo dai nảy nở chốn sơn khê

Xuân sang góp nhặt đôi câu vịnh

Thơ phú bình dân lắm khách mê

 

VỊNH QUẤT

(23/01/2020)

Chậu quất năm nay nặng trĩu cành

Trái vàng chen lẫn lá màu xanh

Phía trên đèn nháy vòng dăm lớp

Bên dưới dây hoa cuộn mấy vành

Bắt chước xóm thôn cho hợp mốt

Học theo phường phố tỏ chơi sành

Đến thăm ai cũng cho là đẹp

Xuân mới vui tươi vạn sự thành.

 

BẨY NHĂM

(24/01/2020)

Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu

Dẫu có hoa râm nửa mái đầu

Thơ phú sẻ chia ra cả nước

Văn chương gửi đến khắp năm châu

Chào xuân phấn khởi gieo đôi vận

Đón tết mừng vui thảo mấy câu

Tự chúc cho mình thêm tuổi mới

Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu

 

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020

 

CÁO LỖI CÙNG QUÊ

(Viết khi về Hội thảo: Tú Xương

với thơ Đường luật Việt Nam)

 

Quê hương mình, chỉ của mình thôi

Dù xấu đẹp cũng có đầy kỷ niệm

Yêu mến, nhớ nhung, bao nhiêu câu chuyện

Cứ nối dài chắp cánh cho thơ…

 

Ta thương ta từng trải những bơ vơ

Bụng đói lả, không còn muốn bước

Nắm cơm nhỏ, ấy là mơ ước

Ai cho ta trong lúc khó khăn…

 

Đã có bao lần ta tự ăn năn

Nhớ và nhớ chỉ là cửa miệng

Tự thêu dệt ra bao câu chuyện

Để mà thơ, mà thơ…

 

Ôi quê hương, ta vẫn từng mơ

Trong máu thịt chất đầy mộng tưởng

Chỉ chua chát ngấm ngầm thụ hưởng:

Bao mồ hôi xương máu cha ông.

 

Sáng nay đây trời đất mênh mông

Hội thảo cho ta về đất tổ

Ta bất chợt hóa thành trẻ nhỏ

Tung tăng trong buổi tựu trường

 

Một chút ước ao rất đỗi bình thường

Một lần nói trên lễ đài: cáo lỗi

Một lần đã cả gan quá đỗi

Dám tự mình kể hết mọi tâm tư…

 

LỚP HỌC NGÀY XƯA

(Đình Cổ Loa hè 2004)

Xa gần sáu chục năm rồi

Trường xưa bao lớp đã ngồi nơi đây

Sân đình thu nắng hao gầy

Vẫn nghe văng vẳng tiếng thầy, tiếng cô

Ghế bàn nghiêng ngửa lô xô

Bạn bè đùa nghịch hét khô cả mồm…

Thoáng qua trong ngọn gió nồm

Mắt ai hoen lệ cái hôm rời trường

Người đi công tác trên mường

Người đi chiến đấu chiến trường nơi xa

Người vào nhà máy thay ca

Người về phường phố cờ hoa vui vầy

Người về đồng ruộng cấy cầy

Người thành cán bộ đêm ngày xa quê

Hôm nay tất cả đã về

Để ta ngồi tựa bên hè làm thơ

Nhớ về lớp học ngày xưa...

 

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

 

CHÙA NGỌC

(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)

Chùa Ngọc xây cao đẹp tuyệt vời

Mái cong rực rỡ ánh vàng phơi

Rễ cây chằng chịt ôm ngang núi

Đồi đá lênh khênh trụ giữa trời

Niệm chú vãng sinh qua vạn kiếp

Khấn cầu tế độ đến muôn đời

Hương trầm thơm nức tan trong gió

Thân pháp Như Lai tỏa sáng ngời

 

TRỤ KINH

(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)

Ba hai trụ đá dựng nơi đây

Kinh phật ban ra chép rất dầy

Vô lượng soi đường qua mỗi sáng

Kim cang mở lối suốt canh chầy

Dược sư cứu khắp hồn đau đớn

Tịnh độ tan bao kiếp đọa đầy

Nhân quả luân hồi nay giũ sạch

Chúng sinh hết thảy sống vui vầy

 

NGẪU HỨNG MÙA THU

(Thu 2018)

Mới đó hôm qua

Lá vàng đã rụng

Hình như thu đến

Lòng cứ chông chênh.

 

Thu ơi năm nào

Mình xa nơi ấy

Bóng mẹ thân yêu

Bóng em dịu dàng.

 

Bầu trời xanh biếc

Đầm nước mênh mang

Cổng làng tươi nắng

Vàng hoe cúc vàng.

 

Một mình em tôi

Nhìn về xa lắc

Đường cây khô khốc

Lòng càng chơi vơi.

 

Thu ơi, thu ơi

Giờ không ai đến

Lòng ta thương mến

Gửi buồn cho thu.

 

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2019

 

THẾ SỰ

(Họa thơ Tạ Anh Ngôi)

Trời cao dìu dịu bóng mây phơi

Thả bước bên sông nghĩ sự đời

Khó đợi vườn quang cho nắng đổ

Khôn chờ ngõ sạch để mưa rơi

Lũ tràn chẳng thể chằng cho đất

Bão khắp làm sao buộc được trời

Đâu chỉ mình ta riêng một cõi

Phong trần ai đó luống đầy vơi

 

NHỚ THỜI ĐÃ QUA

(Họa thơ Tạ Anh Ngôi)

Vừa mới bình minh đã xế tà

Bao nhiêu ngày tháng đã đi qua

Nhớ khi loạn lạc ra tiền tuyến

Nhớ lúc bình yên trở lại nhà

Nhớ buổi tiễn đưa mời chén rượu

Nhớ hôm hội ngộ tiếp chung trà

Đêm nay trăng sáng nơi quê cũ

Cầm bút gieo thơ tả cảnh già

 

CẢM XUÂN

(Họa thơ Trần Phao thuận thể)

Nàng xuân vừa dạo gót qua nhà

Rét mướt mùa đông đã vội qua

Đỉnh núi sau lưng xanh tán vải

Dòng sông trước mặt đỏ phù sa

Ra đi ngày ấy bao đàn trẻ

Trở lại hôm nay một lớp già

Ký ức năm nao vừa chợt thức

Mênh mang trước mặt ráng chiều pha

 

CẢM THU

(Họa thơ Trần Phao nghịch thể)

Mới thấy hương thu tỏa khắp nhà

Nắng hè ngột ngạt đã đi qua

Mấy chòm Ngũ Nhạc sương còn ủ

Một dải Kinh Thầy nước mới sa

Viết tiếp sử xanh nhờ sức trẻ

Giữ gìn truyền thống cậy tâm già

Nhớ sao ngày ấy ra tiền tuyến

Mái tóc giờ đây đã tuyết pha

 

CHÚC XUÂN

(Ngẫu hứng thơ Hoài Linh)

Mở cửa tao đàn để đón xuân

Nhớ bao công đức của tiền nhân

Đào hồng khoe sắc chờ gieo tứ

Cúc tím tỏa hương đợi ghép vần

Đỉnh núi nắng vàng cao tít tắp

Dòng sông mây trắng rộng vô ngần

Nhẹ nhàng mở quyển tay nâng bút

Nghe tiếng chim cu gáy rất gần

 

QUÊ SINH

(Kỉ niệm ngày về Quan Đình)

Mẹ sinh ta ở Bắc Ninh

Nên câu quan họ cố tình bám theo

Đi qua trăm núi ngàn đèo

Vẫn không quên được quê nghèo Bắc Ninh.

 

NGẪU HỨNG MÙA THU

(Thu 2018)

Mới đó hôm qua

Lá vàng đã rụng

Hình như thu đến

Lòng cứ chông chênh.

 

Thu ơi năm nào

Mình xa nơi ấy

Bóng mẹ thân yêu

Bóng em dịu dàng.

 

Bầu trời xanh biếc

Đầm nước trong xanh

Cổng làng tươi nắng

Vàng hoe cúc vàng.

 

Một mình em tôi

Mái tóc buông rơi

Nhìn về xa lắc

Đường cây khô khốc

Lòng càng chơi vơi.

 

Thu ơi thu ơi

Giờ không ai đến

Lòng ta thương mến

Gửi buồn cho thu.

 

THƠ EM

(Tặng thơ Hương Thơm)

Em gặp anh khi đã có đôi

Sao vẫn bâng khuâng xao xuyến

Thơ em viết, bao lời thương mến

Chỉ dành riêng cho một anh thôi.

Đoạn đường sang đâu có xa xôi

Em ước muốn cất lời hò hẹn

Bao câu chữ vẫn không trọn vẹn

Thương sao khó nói thành lời.

Ở nơi xa anh đã ngủ rồi

Người đâu biết em từng thức trắng

Để mơ đến một miền xa vắng

Em thành thơ kề cận ở bên anh.

 

HOA LÝ

(Tặng thơ Hoa Lý)

Thương cha thương mẹ cất công

Tìm nơi đất sạch để trồng giàn hoa

Chỉ mong đến lúc về già

Có hoa có trái để mà cậy trông.

Quý người cha mẹ cho không

Thế mà người bỏ chợ đông chẳng về

Giàn hoa vẫn nở bộn bề

Mà sao không được cận kề bón chăm.

Qua bao lần bóng trăng rằm

Vẫn nghe thấy tiếng thì thầm của hoa

Muốn cho làm của người ta

Lại lo giàn gẫy để hoa úa tàn.

Thương sao thương đến vô vàn

Chùm hoa nhỏ bé giữa ngàn mây xanh

Hương đưa vời vợi quẩn quanh

Từng đêm lan tỏa ru thành giấc mơ.

Bâng khuâng gieo một vần thơ

Cậy ai trao gửi bây giờ cho hoa.

 

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

 

KỂ CHUYỆN ĐẤT NƯỚC TÔI

 

Đất nước tôi từ một mẹ sinh ra

Mọi xứ sở là anh em thân thiết

Những trang sử hòa vào truyền thuyết

Thật hào hùng từ muôn thuở ông cha.

 

Đất nước tôi từ một bọc sinh ra

Mọi dân tộc đều là ruột thịt

Dù ai đó xa xôi cách biệt

Vẫn tự hào với nước Việt thân thương.

 

Đất nước tôi từng gặp lắm tai ương

Chưa lúc nào ngơi tay cày, tay súng

Giữa chiến trận vẫn nuôi mầm sống

Để ngàn năm dài mãi gốc Tiên Rồng

 

Đất nước tôi luôn nghĩ đến cộng đồng

Dẫu ở quê nhà hay đi xuất ngoại

Tổ quốc bảo không bao giờ bỏ lại

Gian khó, hiểm nguy cả nước chịu cùng.

 

Đất nước tôi dựng nghiệp tự vua Hùng

Mỗi miền đất biết bao nhiêu làng xã

Trăm trận đánh chẳng bao giờ gục ngã

Mãi vững tin trong trận đánh sau cùng.

 

Đất nước tôi hết thảy những anh hùng

Thời đại Bác Hồ kết tinh bao thế hệ

Ôi tất cả những đứa con một mẹ

Thắm tình yêu máu thịt đồng bào.

 

Đất nước tôi đại dịch đã xông vào

Tất cả vững lòng nghĩ suy nung nấu

Phát hiện, ngăn ngừa qua từng trận đấu

Chiến thắng, thành công vui sưóng tự hào.

 

Sáng nay đây đứng dưới ngọn cờ đào

Đảng bảo phải kết đoàn chiến đấu

Mỗi sinh mệnh đều thiết tha yêu dấu

Khắp muôn dân cùng một chiến hào.

 

Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2020

 

KỂ CHUYỆN LÀM THƠ

Tập tọng làm thơ cũng đã lâu

Mỗi lần ngồi viết lại đau đầu

Đổi đi đổi lại lời chưa đẹp

Lựa mãi lựa hoài ý chửa sâu

Vét túi mấy ngày không thấy chữ

Lục rương cả tháng chẳng ra câu

Cũng may thấy khó nên dừng lại

Viết mãi rồi ra biết quẳng đâu

 

CHUYỆN CỦA NGƯỜI GIÀ

Mấy lão thi nhân ở phố Bần

Khoe rằng chúng tớ vẫn săn gân

Vài ba cái núi chưa chùng cẳng

Mấy chục con ngòi vẫn dẻo chân

Chạy bộ chiều chiều càng cố gắng

Đạp xe tối tối rất chuyên cần

Đêm nào cũng thức ngồi cầm bút

Mở quyển coi thơ soạn mấy vần

 

THƠ RƯỢU

Xé lịch tiện tay hạ mấy dòng

Hết bằng đến trắc rối bòng bong

Đã cầm dao quắm quơ vài nhát

Lại rút dây mây cột mấy vòng

Xén mãi câu kia sao vẫn méo

Buộc hoài tứ ấy cứ còn cong

Vội vàng ghé mắt vào ngăn tủ

Lấy rượu ra rồi viết mới xong

 

CẤP NƯỚC CHO DÂN

Biển mặn tràn vô hại chúng ta

Khắp nơi nước ngọt kiếm không ra

Cây khô thêm sợ vàng cành lá

Người khát càng lo xám thịt da

Đường ống nối qua vui bụng trẻ

Xà lan kéo tới sướng lòng già

Khắp nơi phấn khởi vui câu chuyện

Đảng đã chăm lo cứu mọi nhà

 

CHUYỆN VỀ CHIẾC LƯỢC

Chiếc lược đuya-ra lại thấy đây

Từng răng chia cách có hơi dầy

Sống lưng dựng đứng cưa làn sóng

Bên má nằm ngang khắc cuốn dây

Mưa núi rơi hoài đường đứt hết

Lũ rừng đổ mãi suối chan đầy

Ngồi buồn xẻ thịt tầu bay Mỹ

Chặt đẽo gia công mấy thứ nầy

 

THƠ TRONG MÙA DỊCH

 

VẮNG DẦN

Co-víd sổng ra đã mấy tuần

Năm nay chống dịch cả toàn dân

Người đi lễ lạt thưa hơn nửa

Kẻ đến tham quan giảm mấy phần

Bè bạn đang mong về chúc tụng

Cháu con cũng muốn tới quây quần

Chỉ lo lây nhiễm không cho gặp

Chưa đến mười tư đã vắng dần

 

CẢ NƯỚC ANH HÙNG

Co vit sổng ra hại gớm sao

Khắp nơi mở trận tiến quân vào

Sơn Lôi dũng cảm thành công lớn

Trúc Bạch kiên cường kết quả cao

Sản xuất giao thương vừa phát động

Học hành trực tuyến đã khơi mào

Theo lời Đảng chỉ luôn bền chí

Cả nước anh hùng đẹp biết bao

 

QUYẾT CHẲNG THA

Đại dịch từ khi mới nổ ra

Tự nhiên gắn kết khắp muôn nhà

Kiên cường Âu Mỹ luôn vươn tới

Dũng cảm Á Phi gắng vượt qua

Nguy khốn mới hay càng gắn bó

Gian truân càng tỏ sự chan hòa

Từ nay nhân loại cùng chung sức

Tiêu diệt co-vi quyết chẳng tha

 

THƠ VUI NGÀY DỊCH

Muốn ra đường phố ngắm hoa tươi

Dịch bệnh đang cao chớ nói cười

Che miệng chống lây cần phải kín

Rửa tay sát khuẩn quyết không lười

Chào nhau gắng nhớ trên hai mét

Gặp gỡ đừng quên quá một người

Yêu nước yêu dân thì phải thế

Trên vừa thông báo rõ mười mươi

 

KÝ TẾ PHỒN SINH

(Phiếm đoán đại dịch)

Thoạt đầu gắn kết lại cùng nhau

Thủy hỏa đồng sinh thật khác màu

Vẫn biết khởi nguồn liên kết lại

Càng e về cuối loạn thêm mau

Biết điều chắn vén lo gìn giữ

Hiểu sự thu gom quét sạch làu

Có biết nghiệp đời khôn chối bỏ

Phồn sinh huyền hoặc chớ vo nhàu

 

DỊCH NHẤT ĐỊNH TAN

Đại dịch lên cao hại thế gian

Khắp nơi nhiễm bệnh đã lan tràn

Hơn hai trăm nước đang nguy kịch

Gần bốn vạn dân chết dã man

Thế giới cách lý càng vững chí

Toàn cầu chữa trị vẫn kiên gan

Một ngày nào đó không xa nữa

Bốn biển năm châu dịch phải tan

 

ĐỢI BẠN

(Họa thơ Thanh Tình)

Đã hẹn khi nào lựu trổ hoa

Mà nay đã đỏ trước sân nhà

Chơi vơi đầu ngõ làn sương phủ

Thánh thót ngoài hiên hạt móc sa

Vườn cũ cây cao chim chụm tổ

Ao xưa nước mát ếch khui mà

Mỗi ngày càng thấy thêm mòn mỏi

Đợi mãi mà sao bạn chẳng qua

 

THÀNH PHỐ MỚI

(Họa thơ Trần Phao)

Chí Linh rộn rã tiếng ca vang

Đồng ruộng núi non nắng trải vàng

Kiếp Bạc oai linh ngời kiếm khí

Côn Sơn huyền diệu tỏa hào quang

Xóm thôn mở rộng trông càng đẹp

Phường phố điểm tô ngắm thật sang

Mong mỏi bạn bè về họp mặt

Quê mình đổi mới thật khang trang

 

MỪNG TỪ ĐƯỜNG BÙI TỘC

Thủy tổ Bùi công lập xóm làng

Sắc phong còn đó tỏ từng trang

Năm Cành nảy nở đơm hoa ngọc

Ba Cội sinh sôi kết trái vàng

Nền móng tổ tiên xây vững chãi

Miếu đền con cháu dựng phong quang

Chúc cho họ tộc thêm đông đúc

Chúc các gia đình phú thọ khang

 

MỪNG BÙI TỘC

Bùi tộc vang danh tại xứ này

Nối dài nguồn cội bấy lâu nay

Kim Lâu rạng rỡ huy hoàng vậy

Cổ Đẳng uy nghi tốt đẹp thay

Phúc Nhuận công cha càng rộng lớn

Từ Nhân nghĩa mẹ thật cao dày

Hai trăm sáu chục năm xây nghiệp

Đền miếu muôn nơi khó sánh tày

 

Thứ Hai, 27 tháng 1, 2020

 

KHAI BÚT CHÀO XUÂN

(01/01/2020)

Mừng Đảng xuân nay chín chục tròn

Giấy thơm trải rộng sáng mầu son

Thảo đôi câu đối mừng dân tộc

Viết mấy vần thơ tặng nước non

Khúc nhạc dựng xây thêm rộn rã

Bài ca chiến đấu mãi vang giòn

Ghi sâu lời Bác từng căn dặn

Độc lập tự do chí chẳng mòn.

 

VỊNH ĐÀO

(18/1/2020)

Đào thế bạt phong mới rước về

Chung vui cảnh tết ở làng quê

Chồi xanh mới nhú vài ba búp

Nụ đỏ vừa bung sáu bẩy huê

Rắn rỏi sinh sôi nơi bão tố

Dẻo dai nảy nở chốn sơn khê

Xuân sang góp nhặt đôi câu vịnh

Thơ phú bình dân lắm khách mê

 

VỊNH QUẤT

(23/01/2020)

Chậu quất năm nay nặng trĩu cành

Trái vàng chen lẫn lá màu xanh

Phía trên đèn nháy vòng dăm lớp

Bên dưới dây hoa cuộn mấy vành

Bắt chước xóm thôn cho hợp mốt

Học theo phường phố tỏ chơi sành

Đến thăm ai cũng cho là đẹp

Xuân mới vui tươi vạn sự thành.

 

BẨY NHĂM

(24/01/2020)

Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu

Dẫu có hoa râm nửa mái đầu

Thơ phú sẻ chia ra cả nước

Văn chương gửi đến khắp năm châu

Chào xuân phấn khởi gieo đôi vận

Đón tết mừng vui thảo mấy câu

Tự chúc cho mình thêm tuổi mới

Bẩy nhăm họ bảo chửa già đâu

 

Thứ Ba, 21 tháng 1, 2020

 

CÁO LỖI CÙNG QUÊ

(Viết khi về Hội thảo: Tú Xương

với thơ Đường luật Việt Nam)

 

Quê hương mình, chỉ của mình thôi

Dù xấu đẹp cũng có đầy kỷ niệm

Yêu mến, nhớ nhung, bao nhiêu câu chuyện

Cứ nối dài chắp cánh cho thơ…

 

Ta thương ta từng trải những bơ vơ

Bụng đói lả, không còn muốn bước

Nắm cơm nhỏ, ấy là mơ ước

Ai cho ta trong lúc khó khăn…

 

Đã có bao lần ta tự ăn năn

Nhớ và nhớ chỉ là cửa miệng

Tự thêu dệt ra bao câu chuyện

Để mà thơ, mà thơ…

 

Ôi quê hương, ta vẫn từng mơ

Trong máu thịt chất đầy mộng tưởng

Chỉ chua chát ngấm ngầm thụ hưởng:

Bao mồ hôi xương máu cha ông.

 

Sáng nay đây trời đất mênh mông

Hội thảo cho ta về đất tổ

Ta bất chợt hóa thành trẻ nhỏ

Tung tăng trong buổi tựu trường

 

Một chút ước ao rất đỗi bình thường

Một lần nói trên lễ đài: cáo lỗi

Một lần đã cả gan quá đỗi

Dám tự mình kể hết mọi tâm tư…

 

LỚP HỌC NGÀY XƯA

(Đình Cổ Loa hè 2004)

Xa gần sáu chục năm rồi

Trường xưa bao lớp đã ngồi nơi đây

Sân đình thu nắng hao gầy

Vẫn nghe văng vẳng tiếng thầy, tiếng cô

Ghế bàn nghiêng ngửa lô xô

Bạn bè đùa nghịch hét khô cả mồm…

Thoáng qua trong ngọn gió nồm

Mắt ai hoen lệ cái hôm rời trường

Người đi công tác trên mường

Người đi chiến đấu chiến trường nơi xa

Người vào nhà máy thay ca

Người về phường phố cờ hoa vui vầy

Người về đồng ruộng cấy cầy

Người thành cán bộ đêm ngày xa quê

Hôm nay tất cả đã về

Để ta ngồi tựa bên hè làm thơ

Nhớ về lớp học ngày xưa...

 

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

 

CHÙA NGỌC

(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)

Chùa Ngọc xây cao đẹp tuyệt vời

Mái cong rực rỡ ánh vàng phơi

Rễ cây chằng chịt ôm ngang núi

Đồi đá lênh khênh trụ giữa trời

Niệm chú vãng sinh qua vạn kiếp

Khấn cầu tế độ đến muôn đời

Hương trầm thơm nức tan trong gió

Thân pháp Như Lai tỏa sáng ngời

 

TRỤ KINH

(Thuộc quần thể chùa Tam Chúc)

Ba hai trụ đá dựng nơi đây

Kinh phật ban ra chép rất dầy

Vô lượng soi đường qua mỗi sáng

Kim cang mở lối suốt canh chầy

Dược sư cứu khắp hồn đau đớn

Tịnh độ tan bao kiếp đọa đầy

Nhân quả luân hồi nay giũ sạch

Chúng sinh hết thảy sống vui vầy

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  NGÀY PHỤ NỮ   Ngày phụ nữ năm nay trở lại Cả thế gian căm giận đau thương Lũ quỷ ác đang tay hủy diệt Khu dân cư và những ngôi trường Một ...